intTypePromotion=1

Bài thảo luận: Đánh giá cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng nhà nước Việt Nam từ năm 1995 đến nay

Chia sẻ: Tăng Anh Thu | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:21

0
65
lượt xem
4
download

Bài thảo luận: Đánh giá cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng nhà nước Việt Nam từ năm 1995 đến nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài thảo luận "Đánh giá cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng nhà nước Việt Nam từ năm 1995 đến nay" trình bày các nội dung sau: Lí luận chung về lãi suất và thực trạng điều hành lãi suất, quá trình điều chỉnh cơ chế điều hành lãi suất và đánh giá thành tựu, tồn tại của cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam hiện nay. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài thảo luận: Đánh giá cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng nhà nước Việt Nam từ năm 1995 đến nay

  1. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 MỤC LỤC          TRANG LỜI MỞ ĐẦU   .......................................................................................2      A. LÍ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT VÀ THỰC TRẠNG ĐIỀU  HÀNH LÃI SUẤT...................................................................................3 I. Tổng quan về lãi suất .......................................................................3 1. Khái niệm lãi suất:................................................................................. 3 2. Phân loại lãi suất  .................................................................................. 3 3. Vai trò của lãi suất...........................................................................4 II. Thực trạng điều hành lãi suất ở Việt Nam........................................6 1.Điểm lại chặng đường 10 năm đổi mới.........................................4 2.Chính sách lãi suất của Việt Nam hiện nay...................................8 B. QUÁ TRÌNH ĐIỀU CHỈNH CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT VÀ  ĐÁNH GIÁ THÀNH TỰU, TỒN TẠI CỦA CƠ  CHẾ  ĐIỀU HÀNH  LÃI SUẤT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY....................................................9 I. Quá trình .............................................................................................9 II. Đánh giá thành tựu tồn tại của quá trình điều hành lãi suất  ở  Việt  Nam từ năm 1995 đến nay .................................................................13 1. Thành tựu............................................................................................... 13 2. Hạn chế ................................................................................................. 14 III. Giải pháp định hướng về điều hành lãi suất ở Việt Nam................13 1
  2. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 KẾT LUẬN............................................................................................... LỜI MỞ ĐẦU Trong nền kinh tế  thị trường lãi suất  là một đòn bẩy kinh tế  hữu   hiệu. Nó là công cụ  để  đo lường “sức khỏe” của nền kinh tế. Căn cứ  vào sự  biến động của lãi suất người ta có thể  dự  báo được các yếu tố  của nền kinh tế như: tính sinh lời của các cơ hội đầu tư, mức lạm phát  dự tính, mức thiếu hụt ngân sách. Dựa vào lãi suất trong một thời kì để  dự báo tình hình kinh tế trong tương lai. Vậy vai trò của lãi suất thể hiện   trên cả tầm vĩ mô và vi mô.  Vấn  đề đặt  ra là làm  thế nào để “sức khỏe” của nền kinh tế luôn   được đảm bảo? Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới “sức khỏe” của kinh   tế  nhưng có thể  khẳng định rằng Ngân hàng nhà nước chiếm một vị  trí  không hề  nhỏ. Vì Ngân hàng nhà nước là cơ  quan tham mưu các chính  sách liên quan đến tiền tệ, trong đó có các chính sách về  cơ  chế  điều   hành lãi suất. Vậy   Ngân   hàng   nhà   nước   đã   điều   hành   lãi   suất   như   thế   nào?  Những chính sách đã áp dụng có những thành tựu và còn tồn tại hạn chế  gì? Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay Ngân hàng nhà nước có thay đổi  nào để phù hợp không? Để trả lời cho những câu hỏi này nhóm 9 đã cùng  nhau thảo luận về đề  tài” Đánh giá cơ  chế điều hành lãi suất của Ngân  hàng nhà nước Việt Nam từ  năm 1995 đến nay” 2
  3. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên bài tiểu luận còn nhiều  thiếu sót mong thầy và các bạn đóng góp ý kiến để nhóm 9 chúng em có  cái nhìn sâu sắc hơn về đề tài này. A.LÍ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT VÀ THỰC  TRẠNG ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT I. Tổng quan về lãi suất:  1. Khái niệm: Lãi suất là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan chặt chẽ đến các phạm   trù kinh tế khác, phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể sử dụng vốn (người vay vốn)   với chủ  thể sở  hữu vốn (người cho vay) theo nguyên tắc hoàn trả  có kỳ  hạn kèm  theo lãi ở thị trường vốn  ở một thời điểm nhất định. Nói cách khác, lãi suất là giá  cả của quyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định mà người sử  dụng  trả cho người sở  hữu nó. Lãi suất được sinh ra là bởi lẽ  người đi vay đã sử  dụng   vốn đó để phục vụ  các nhu cầu sinh lợi của mình (trong hoạt động sản xuất kinh  doanh hay tiêu dùng) trong khi người cho vay đã hi sinh quyền đó. Đánh đổi cho sự  hi sinh quyền được sử  dụng tiền tệ  ngày hôm nay của người cho vay chính là lãi   suất.  2. Phân loại lãi suất a. Theo nghiệp vụ tín dụng của các tổ chức tín dụng: Lãi suất huy động : Là lãi suất quy định tỷ  lệ  lãi phải trả  cho các hình thức   nhận tiền gửi của khách hàng  Lãi suất tiền gửi không kỳ  hạn :Là loại lãi suất áp dụng với những khoản   tiền gửi không  xác định cụ  thể  thời hạn gửi tiền và thông thường lãi suất  này thấp hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn  Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn : Là loại lãi suất áp dụng với những khoản tiền   gửi có xác định rõ thời hạn gửi tiền (3 tháng,6 tháng,12 tháng...) 3
  4. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 Lãi suất cho vay (LSCV): Là lãi suất quy định tỷ lệ lãi mà người đi vay phải trả  cho người cho vay ( về nguyên tắc trong điều kiện bình thường lãi suất cho vay  không được nhỏ hơn lãi suất huy động để đảm bảo cho tổ chức kinh doanh tín  dụng có lãi )  Lãi suất cho vay thông thường :Là loại lãi suất áp dụng với những khoản tín   dụng thông thường (vay để  phục vụ  cho nhu cầu tiêu dùng ,bổ  sung vốn   sản xuất...)  Lãi suất cho vay ưu đãi :Là loại lãi suất áp dụng đối với một số đối tượng   hoặc các dự án nằm trong kế hoạch ưu tiên của chính phủ   Lãi suất nợ quá hạn :Là loại lãi suất áp dụng đối với những khoản nợ vượt  quá thời hạn nợ  theo thỏa thuận song người này chưa có khả  năng thanh  toán Lãi suất chiết khấu: Là lãi suất cho vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại  (NHTM) đối với khách hàng dưới hình thức triết khấu các giấy tờ có giá chưa  đến thời hạn thanh toán Lãi suất tái chiết khấu: Là lãi suất cho vay ngắn hạn của ngân hàng Trung   ương (NHTƯ)  ấn định cho từng thời kỳ, căn cứ  vào mục tiêu chính sách tiền  tệ  (CSTT) (Lãi  này dùng để  kiểm soát và điều tiết sự  biến động lãi suất trên  thị trường) Lãi suất thị trường liên ngân hàng: Là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho   vay vốn trên thị trường liên ngân hàng  b. Theo cơ chế điều hành của nhà nước: Lãi suất trần(lãi suất sàn) : Là mức lãi suất cao nhất (thấp nhất)trong một   khung lãi suất nào đó mà NHTƯ quy định để can thiệp vào hoạt động tín dụng   nhằm bảo vệ quyền của người cho vay và người đi vay. Lãi suất cơ bản : Là lãi suất do  NHTƯ công bố làm cơ sở cho  các NHTM và   tổ chức tín dụng (TCTD) khác ấn định lãi suất kinh doanh. c. Theo ảnh hưởng của lạm phát: Lãi suất danh nghĩa : Là mức lãi suất được công bố trên bảng niêm yết lãi suất,   trên các hợp đồng tín dụng và các công cụ nợ 4
  5. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 Lãi suất thực: Là lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của giá trị tiền tệ 3. Vai trò của lãi suất:  Là công cụ khuyến khích tiết kiệm đầu tư.   Lãi suất là công cụ  khuyến khích lợi ích vật chất để  thu hút các kho ản tiết  kiệm của chủ thể kinh tế, tạo nên quỹ cho vay đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Theo   lý   thuyết   tài   chính   chúng   ta   có   thể   đưa   ra   phương   trình   thu   nhập  sau:Thu nhập = tiêu dùng + tiết kiệm Phương  trình trên  không những  đúng với   đặc  điểm của hộ  gia  đình, các  doanh nghiệp mà còn đúng với cả nền kinh tế quốc gia. Giả sử trong điều kiện của một nền kinh tế bình thường, tỉ lệ giữa tiêu dùng   và tiết kiệm là hợp lý để  tăng tỷ  lệ tiết kiệm cho nền kinh tế quốc dân thì biện  pháp hiệu quả là tăng lãi suất huy động vốn. Khi lãi suất vốn tăng lên, thì trước   hết các hộ gia đình phải xem xét các khoản chi cho tiêu dùng thường xuyên có thể  giảm chi hoặc hoãn một số khoản chi để tăng thêm khoản tiết kiệm cho tổng thu   nhập. Sau từ  khoản tiết kiệm này họ  sẽ  hướng đầu tư  gửi vào ngân hàng, vào   quỹ bảo hiểm hay đầu tư vào chứng khoán khi thấy có lợi hơn. Như vậy, lãi suất là công cụ có hiệu lực để phân chia tỉ lệ giữa tiêu dùng và  tiết kiệm. Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chính sách lãi suất là một bộ  phận trong tiền tệ  của nhà nước nhằm điều  tiết lưu thông tiền tệ  kích thích điều tiết và hướng hoạt động sản xuất kinh  doanh của các đơn vị kinh tế. Lãi suất phải trả  cho khoản vay là các khoản chi phí của doanh nghiệp. Do  vậy, lãi suất sẽ  khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn đầu tư  phát triển sản   xuất kinh doanh. Ngược lại lãi suất cho vay cao sẽ  thu hẹp đầu tư  của doanh   nghiệp. Lãi suất là công cụ buộc các doanh nghiệp phải sử dụng hiệu quả các ưu đãi  về  lãi suất, về  điều kiện cung cấp tín dụng và thanh toán, là công cụ  của nhà  nước khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư  vào các ngành, các sản phẩm cần   ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế. 5
  6. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 Lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô. Lãi suất tạo chi phí của người đi vay, vì vậy sự biến động của lãi suất có tác  động đến đầu tư, đến tiêu dùng qua đó tác động đến các mục tiêu của kinh tế vĩ   mô biểu hiện trong các trường hợp:  Lãi suất thấp    kích thích đầu tư, kích thích tiêu dùng  tăng tổng cầu  sản lượng tăng, giá tăng, thất nghiệp giảm  nội tệ có xu hướng giảm giá  so với ngoại tệ.  Lãi suất cao  hạn chế đầu tư, hạn chế tiêu dùng  giảm tổng cầu  sản  lượng giảm  giảm giá  thất nghiệp tăng  nội tệ có xu hướng tăng giá  so với ngoại tệ. Như vậy bằng cách giảm lãi suất, NHNN có thể  tạo điều kiện cho các hoạt   động kinh tế  phát triển.Tương tự  ngân hàng có thể  tăng lãi suất khi muốn thực   hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, giảm bớt lương, khối lượng tiền cần thi ết cho   việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và chi tiêu của người tiêu dùng. Lãi suất là công cụ phân phối có hiệu quả  nhằm khai thác và sử  dụng triệt   để các nguồn lực của nền kinh tế. Lãi suất có tác dụng trong việc phân phối vốn. Đối với các dự án có mức độ  rủi ro như  nhau, dự  án nào có lãi cao hơn thường thu hút được vốn nhanh hơn,   nhiều hơn. Còn những dự án nào chứa đựng nhiều rủi ro thì phải trả lãi suất cao  mới có khả  năng thu hút được vốn. Như  vậy bằng cách đưa ra những mức lãi   suất khác nhau có thể tạo được sự phân phối các luồng vốn theo mục đích mong   muốn. Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng của nền kinh tế. Lãi suất là biến cố thường xuyên biến động trong nền kinh tế. Căn cứ vào sự  biến động đó của lãi suất, người ta có thể dự báo được các yếu tố khác cùa nền  kinh tế, như tính sinh lời của các cơ hội đầu tư, mức lạm phát dự tính, mức thiếu   hụt của ngân sách, người ta có thể dựa vào lãi suất trong một thời kỳ để  dự  báo  tình hình kinh tế trong tương lai. II. Thực trạng điều hành lãi suất ở Việt Nam: 6
  7. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 1. Điểm lại chặng đường 10 năm đổi mới: 2. Chính sách lãi suất của Việt Nam hiện nay: Lãi suất là giá cả  của vốn tiền tệ, là  một chỉ  số  kinh tế  tổng hợp, chịu tác  động bởi nhiều nhân tố  kinh tế  vĩ mô, tài chính­ tiền tệ   ở  trong nước và ngoài  nước. Các ngân hàng thương mại (NHTM)  ấn định lãi suất kinh doanh (huy động  và cho vay vốn) dựa trên cơ sở cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng trung ương   (NHTW), xu hướng cung – cầu vốn thị trường, lạm phát, mức độ rủi ro và lãi suất  thị trường quốc tế. Đối với nước ta, cơ chế điều hành lãi suất có sự  thay đổi qua  nhiều giai đoạn; giai đoạn chuyển từ lãi suất âm sang lãi suất thực dương,  Giai đoạn Ngân hàng nhà nước quy định lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay và  lãi suất thoả thuận, giai đoạn thực hiện trần lãi suất cho vay. Từ  giữa tháng 5/2008 đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) áp  dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản: ­ Thực hiện cơ  chế  điều hành lãi suất cơ  bản, mà theo đó, các NHTM  ấn định lãi   suất cho vay tối đa bằng 150% lãi suất cơ  bản do NHNN công bố  trong từng thời   kỳ  (cho đến ngày 31/10/2010 là 8%­Quyết định số  2281/QĐ­NHNN về  mức lãi  suất cơ bản bằng đồng Việt Nam). Đây là công cụ trực tiếp để  kiểm soát lãi suất  kinh doanh của NHTM; đồng thời, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt các mức lãi  suất nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu để điều tiết lãi  suất thị  trường tiền tệ. Lãi suất cơ  bản được xác định và công bố  trên cơ  sở  xu  hướng biến động cung – cầu vốn thị trường, mục tiêu của chính sách tiền tệ và các  nhân tố tác động khác của thị trường tiền tệ, ngoại hối ở trong và ngoài nước.  ­ Thiết lập một hành lang lãi suất thị trường liên ngân hàng với biên độ chênh lệch   khoảng 2% để điều tiết lãi suất thị trường: (i) “Trần” là lãi suất tái cấp vốn, “sàn”  là lãi suất tái chiết khấu (hiện nay là  8% –  6%/năm); lãi suất cơ  bản và lãi suất  nghiệp vụ  thị  trường mở  biến động trong phạm vi hành lang này; (ii) Lãi suất   nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò định hướng và thực hiện việc “bơm” tiền ra   hoặc “hút” tiền về, từ đó tác động đến cung – cầu vốn, lãi suất thị trường liên ngân  hàng và lãi suất huy động, cho vay của NHTM. Tuy nhiên không phải lúc nào NHNN cũng có thể duy trì được vai trò lãi suât   7
  8. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 trần­sàn của lãi suất tái cấp vốn­lãi suất chiết khấu.   Số liệu www.sbv.gov.vn ngày 26/10/2010: (%/năm) Lãi suất cơ bản 8% Lãi suất tái chiết khấu 6% Lãi suất tái cấp vốn 8%       Lãi suất QB liên ngân hàng Thời hạn %/ năm Qua đêm 8.38 1 tuần 9.60 2 tuần 9.84 1 tháng 10.09 3 tháng 11.08 6 tháng 11.07 12 tháng 11.33 Có thể thấy, việc áp dụng cơ chế điểu hành lãi suất lãi suất cơ bản mang lại  các mặt tích cực; đó là: (1) ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và  mất khả năng thanh toán của các NHTM trong những tháng đầu năm 2008, nhất là  đối với NHTM cổ phần quy mô nhỏ chuyển đổi mô hình từ nông thôn lên; an toàn  hệ  thống ngân hàng được đảm bảo, củng cố  lòng tin của các nhà đầu tư, doanh   nghiệp và người dân đối với hệ  thống ngân hàng, (2) cơ  chế  truyền dẫn của các  biện pháp điều hành lãi suất đã có hiệu lực và hiệu quả  đối với hoạt động kinh   doanh của NHTM và lãi suất thị  trường, (3)  thể  hiện được vai trò và những tác  động tích cực của chính sách tiền tệ  đối với việc kiềm chế  lạm phát và điều tiết   kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, đánh giá một cách tổng quát ta có thể rút ra một số nhận xét sau:   (1)LSCB do NHNN công bố có tính hành chính, nó được làm cơ sỏ để xác định trần   lãi suất cho vay, nhưng NHNN không có công cụ bảo vệ hữu hiệu cho mức lãi suất   đã công bố nên trên thực tế khi thị trường khan hiếm vốn, các NHTM tìm cách lách  trần lãi suất. (2)Trong suốt 2 năm qua, việc điều chỉnh LSCB ngay lập tức tác động   trực tiếp đến dân chúng và DN bởi nó tác động trực tiếp đến lãi suất cho vay chứ  không tác động gián tiếp như  cách điều hành lãi suất của một số nước phát triển.  (3)LSCB do NHNN công bố chưa thật sự phù hợp với diễn biến thị trường. (4)Về  8
  9. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 nguyên tắc có thể thấy NHNN đang sủ  dụng lãi suất tái cấp vốn làm lãi suất trần   và lãi suất tái chiết khấu làm lãi suất sàn, qua đó điều tiết lãi suất liên ngân hàng  nằm trong biên độ  trần sàn, tù đó gián tiếp tác động đến lãi suất cho vay của  NHTM. Tuy nhiên do việc xác định quy mô tổng hạn mức chiết khấu và tái cấp   vốn chưa thật sự linh hoạt theo diễn biến thị trường, đòng thời công cụ  thị trường   mở  chưa thật sự  phát huy hết vai trò của nó, nên hai công cụ  lãi suất này không   hiếm lần trở nên lạc long, mất vai trò sàn/trần của mình khi nhiều lần lãi suất liên  ngân hàng liên tục vượt trần; hay nói cách khác  NHNN không hoàn thành đầy đủ  vai trò người cho vay cuối cùng thông qua công cụ lãi suất. B. B. QUÁ TRÌNH ĐIỀU CHỈNH CƠ CHẾ ĐIỀU  HÀNH LÃI SUẤT VÀ ĐÁNH GIÁ THÀNH TỰU,  TỒN TẠI CỦA CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT  Ở VIỆT NAM HIỆN NAY I. Quá trình:  1. Cải cách trong chính sách lãi suất từ giữa năm 2000 trở về trước Giai đoạn từ năm 1995 đến tháng 7/2000( cơ chế điều hành lãi suất trần)   Nét cơ  bản của cơ  chế  điều hành trần lãi suất, đó là Ngân hàng Nhà nước đã  thay đổi căn bản cơ  chế  điều hành linh hoạt trần lãi suất  bước đầu đã thực  hiện tự do hóa lãi suất huy động (lãi suất đầu vào của ngân hàng thương mại)   và linh hoạt trần lãi suất cho vay (lãi suất đầu ra). Cơ  chế  lãi suất này đã góp   phần duy trì sự  tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát,  ổn định sức mua của  VND trong sự tương quan của các đồng tiền trong khu vực do có khủng hoảng  tiền tệ năm 1997­1998 ở các nước Đông Nam Á.   NHNN tiếp tục ấn định mức lãi suất tái cấp vốn và có những đổi mới căn bản   về điều hành lãi suất: Thay vì qui định khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi, lãi  suất tối đa về  tiền vay, NHNN chỉ  qui định các mức lãi suất “trần” theo thời   hạn cho vay và khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động  vốn bình quân là 0,35%/tháng (4,2%/năm) để khắc phục tình trạng hầu hết các  9
  10. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 ngân hàng thương mại đều có mức lợi nhuận cao trong khi các doanh nghiệp  lại gặp khó khăn về  tài chính (khi thực hiện cơ chế  lãi suất thoả  thuận ở giai   đoạn trước).   Trong năm1997, NHNN đã thay đổi hình thức qui định lãi suất tái cấp vốn,   chuyển sang qui định mức lãi suất cụ thể. Mức lãi suất tái cấp vốn cũng được   điều   chỉnh   giảm   xuống   trong   thời   gian   này   (từ   1,1%   năm   1997   xuống   0,7%/tháng từ 4/9/ 99) để phù hợp với chỉ số lạm phát, quan hệ cung­ cầu vốn   trên thị trường và thực hiện giải pháp kích cầu về đầu tư của Chính phủ.  Đến cuối tháng 1/1998, NHNN xoá bỏ qui định chênh lệch lãi suất, chỉ còn qui  định trần lãi suất cho vay. Cùng với nới lỏng sự kiểm soát lãi suất, NHNN liên  tục điều chỉnh trần lãi suất cho vay theo hướng giảm cơ  cấu trần và mức  khống chế, đặc biệt trong năm các năm 1998, 1999.   Để bổ sung thêm công cụ điều hành lãi suất, tháng 11/1999 NHNN đưa vào sử  dụng nghiệp vụ  chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ  có giá cho các NHTM, lãi   suất tái chiết khấu được qui định  ở  mức thấp hơn 0,05%/tháng so lãi suất tái  cấp vốn.   Tháng 7/2000, NHNN đưa vào sử  dụng nghiệp vụ  thị  trường mở, lãi suất thị  trường mở  được hình thành qua các phiên giao dịch. (Việc điều chỉnh chính  sách lãi suất như trên nhằm tiến tới việc duy trì một trần lãi suất cho vay, tạo  điều kiện để áp dụng mức lãi suất cơ bản và từng bước tự do hoá lãi suất, mặt  khác nhằm mục đích kích cầu thúc đẩy đầu tư  và tiêu dùng). Tuy nhiên  ảnh   hưởng của lãi suất đối với tổng cầu của nền kinh tế Việt Nam rất hạn chế. Có   hai lý do: trước hết, việc giảm phát trong thời gian từ 1996 xuất phát từ sự suy   giảm các yếu tố sản xuất liên quan đến tổng cung nhiều hơn tổng cầu, vì thế  các chính sách vĩ mô tác động vào tổng cầu sẽ  chỉ đem lại hiệu quả  hạn chế;   thứ hai, sự điều chỉnh lãi suất thường là chậm so với thị trường, nên mất đi lợi   thế  bất ngờ của sự  thay đổi lãi suất. Hơn nữa việc sử  dụng các công cụ  gián   tiếp khác chưa thực sự  có hiệu quả; việc điều hành trần lãi suất vẫn là một  biện pháp can thiệp hành chính của Nhà nước do vậy đã hạn chế  tính chủ  động, linh hoạt trong kinh doanh của các TCTD, hạn chế  việc hình thành và  phát triển của các công cụ tài chính, có nguy cơ làm suy yếu năng lực tài chính  10
  11. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 của TCTD. 2. Tự do hóa lãi suất từng bước từ giữa năm 2000 đến nay Giai đoạn từ  tháng 8/2000 đến 5/2002(cơ  chế  điều hành lãi suất cơ  bản kèm   biên độ)  Nội dung của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ  là Ngân hàng Nhà  nước đã điều hành cơ  chế lãi suất theo luật ngân hàng để thay thế  cho cơ  chế  lãi suất trần. Lãi suất cơ  bản và biên độ  được công bố  định kỳ  hàng tháng,  trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ công bố điều chỉnh kịp thời.  Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản các ngân hàng thương mại,  các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường   quốc tế  và cung cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ. Theo cơ chế lãi  suất này cho thấy Ngân hàng Nhà nước VN đã quyết tâm đổi mới chính sách lãi   suất theo hướng tự do hóa và từng bước gắn lãi suất trong nước vào thị trường   khu vực và thế giới.    tháng 8 năm 2000, NHNN đưa ra một cơ chế lãi suất mới trong đó lãi suất cho   vay nội tệ của ngân hàng được điều chỉnh theo lãi suất cơ bản do NHNN. Tuy   nhiên, các ngân hàng không được tính lãi suất cho vay vượt quá lãi suất cơ bản   0,3%/tháng đối với vốn ngắn hạn và 0,5%/tháng đối với vốn trung, dài hạn. Cơ chế giới hạn biên độ lãi suất so với lãi suất cơ bản về bản chất không khác   gì so với trần lãi suất áp dụng trước đây. Tuy nhiên, trên thực tế mức trần (lãi   suất cơ bản cộng biên độ) được định ở mức cao hơn trần lãi suất theo cơ chế  cũ rất nhiều.  Trước thời điểm áp dụng lãi suất cơ  bản, lãi suất cho vay bình   quân của bốn ngân hàng thương mại quốc doanh đã kịch trần (0,85%/tháng).  Thực tế là trong năm 1999, các NHTM không theo kịp 5 đợt hạ trần lãi suất của  NHNN, LSCV ngắn hạn bình quân vượt trên trần lãi suất  Từ  tháng 8/2000, lãi suất cơ  bản được đặt  ở  mức mà khi cộng với biên độ  0,3%/tháng đã cao hơn hẳn lãi suất cho vay thực tế. Như vậy, từ khi có cơ chế  lãi suất cơ bản, các ngân hàng đã bắt đầu ấn định lãi suất trên cơ sở thỏa thuận  với khách hàng. 11
  12. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 Một điểm đáng chú ý nữa là LSCV của các NHTM, mặc dù luôn cao hơn lãi  suất cơ bản, nhưng thay đổi theo lãi suất cơ bản. Trong năm 2000 và 2001, cả  hai mức lãi suất này đều giảm. Nhưng trong thời gian đó, lãi suất tiền gửi lại  tăng lên. Cạnh tranh giữa các ngân hàng đã dẫn tới gia tăng lãi suất huy động  vốn, nhưng LSCV vẫn không tăng và nằm trong biên độ lãi suất cơ bản. Chênh  lệch lãi suất, do vậy, đã giảm đi rõ rệt. Vào tháng 11/2001, trần lãi suất cho vay ngoại tệ được xóa bỏ, từ đó cho phép  những người vay ngoại tệ  trong nước có thể  thương lượng lãi suất với các  ngân hàng nội địa và ngân hàng nước ngoài. Vào tháng 6/2002, lãi suất được tự  do hóa hoàn toàn với việc các ngân hàng được phép xác định lãi suất cho vay  trên cơ sở tự thẩm định và thương lượng với khách hàng.  Như  đã trình bày, các ngân hàng đã chủ  động xác định LSTG và LSCV từ thời  điểm áp dụng lãi suất cơ bản. Với việc chính thức tự do hóa lãi suất thì lãi suất   cơ bản do NHNN công bố chỉ còn tính chất tham khảo. LSTG tiếp tục gia tăng.  Đồng thời, ngay sau khi ra quyết định tự  do hóa, lãi suất cho vay của các ngân  hàng đã lập tức nhích lên. Quan điểm hoài nghi về tự do hóa lãi suất cho rằng,   cạnh tranh giữa các ngân hàng khi không còn kiểm soát lãi suất sẽ dẫn tới tình  trạng “cá lớn nuốt cá bé”. Các ngân hàng nhỏ  khó có khả  năng cho vay với lãi  suất thấp để  cạnh tranh với các ngân hàng lớn. Đặc biệt, các NHTM cổ  phần  dường như không thể giảm LSTG để  giảm LSCV vì sẽ  ngay lập tức bị người   tiết kiệm rút tiền. Ngược lại, khi không còn trần về  lãi suất hay giới hạn lãi   suất cơ bản + biên độ, họ có thể có xu hướng tăng lãi suất huy động rồi đầu tư  rủi ro cao (do tác động của lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại) trước sức ép cạnh   tranh. Trong khi đó, những người ủng hộ đưa ra các lập luận tương tự như các  lý lẽ ủng hộ cơ chế  lãi suất cơ  bản trước đây. Các nhà hoạch định chính sách   hy vọng rằng lãi suất giờ  đây sẽ  phản ánh cung cầu trên thị  trường vốn vay.   Hơn thế nữa, khi lãi suất cơ bản chỉ còn tính chất tham khảo thì các ngân hàng   hoàn toàn có thể  cho các đối tượng kinh doanh nhỏ  hay nông dân vay với lãi   suất phản ánh các chí phí cho vay và rủi ro.  Đây là giai đoạn sử  dụng lãi suất cơ  bản cùng với lãi suất tái chiết khấu, lãi   suất tái cấp vốn trong điều hành chính sách tiền tệ. TCTD ấn định lãi suất cho  12
  13. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 vay đối với khách hàng trên cơ  sở  lãi suất cơ  bản do NHNN công bố  theo   nguyên tắc lãi suất cho vay không được vượt quá mức lãi suất cơ  bản cộng   biên độ do Thống đốc NHNN quy định từng thời kỳ. Giai đoạn từ 6/2002 đến năm 2006 (cơ chế lãi suất thỏa thuận)  Trong thực tế, cơ chế lãi suất này được Ngân hàng Nhà nước chuyển đổi từng   bước bắt đầu từ  tháng 5.2001 áp dụng cho hình thức vay bằng ngoại tệ, tiếp   theo 5.2002 là áp dụng cơ  chế  lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng   trong nước. Nhìn một cách tổng quát thì quá trình thực thi cơ chế tự do hóa lãi   suất ở VN bước đầu đã có kết quả nhất định.   NHNN tiếp tục công bố lãi suất cơ bản trên cơ sở tham khảo mức lãi suất cho   vay thương mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các TCTD để  làm tham  khảo và định hướng lãi suất thị trường.   Theo Thống đốc NHNN Lê Đức Thúy, đây là một bước chuyển căn bản của   VN trong việc điều hành lãi suất, tạo điều kiện cho các TCTD mở rộng mạng   lưới để huy động, cho vay vốn với mức lãi suất phù hợp với quan hệ cung cầu   vốn thị trường, đồng thời nâng cao năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh, các   tiêu chuẩn an toàn và khả năng hội nhập với thị trường tài chính tiền tệ quốc tế  của các TCTD VN.    Với cơ  chế  này, Nhà nước chính thức không can thiệp vào hoạt động điều   hành lãi suất bằng việc  ấn định lãi suất cho vay mà chỉ  gián tiếp điều tiết lãi  suất nhằm có lợi nhất cho nền kinh tế. Cơ chế này cũng giúp giảm thiểu rủi ro  trong hoạt động tín dụng và giúp các ngân hàng nới lỏng các biện pháp bảo   đảm tiền vay (thế chấp) đối với khách hàng.  Ngày 30 tháng 5 năm 2002, NHNN đưa ra Quyết định số  546/2002/QĐ­NHNN  về việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương   mại bằng đồng Việt Nam của tổ  chức tín dụng đối với khách hàng  áp dụng  từ 1­6­2002là 0,60%/tháng (7,2%/năm).  Năm 2003,mức chênh lệch giữa lãi suất trần và lãi suất sàn đã được nới rộng   từ  0,05%/tháng tức là 0,6%/năm (tháng 3/2003) lên 2,4%/năm(tháng 6/2003) và  tháng 9/2003 là 2%/năm.  Năm 2004,mức lãi suất cơ bản là 0,625%/tháng và 7,5%/năm. 13
  14. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9  Năm 2005,mức lãi suất cơ bản là 0,65%/tháng và 7,8%/năm  Năm 2006,mức lãi suất cơ bản là 0,6875%/tháng và 8,25%/năm Giai đoạn từ 2007 đến nay ( cơ chế lãi suất tự do)  Năm 2007 NHNN điều hành chính sách tiền tệ  theo hướng thắt chặt để  rút  mạnh tiền từ  lưu thông về, giảm tốc độ  tăng tổng phương tiện thanh toán và  tín dụng nhằm kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:  ­Mức lãi suất cơ bản: 8,25%/năm  ­Lãi suất tái cấp vốn là 6,5%/năm  ­Lãi suất chiết khấu là 4,5%/năm.  1/3/2007 NHNN bỏ  quy định trần lãi suất tiền gửi bằng USD  đối với pháp   nhân.  Đầu năm 2008NHNN đưa ra quyết định số  187/2008/QĐ­NHNN tăng tỷ  lệ  dự  trữ  bắt buộc nhằm rút bớt tiền trong lưu thông để  kiềm dẫn đến NHTM đối  mặt với khó khăn thiếu nguồn cung tiền đồng do đó lãi suất huy động vốn tăng   cao.  26/2/2008   NHNN   ra   công   văn   số   02/CĐ­NHNN   quy   định   trần   lãi   suất   là  12%/năm.17/5/2008 quyết đinh số 16/2008/QĐ­NHNN về cơ chế điều hành lãi  suất cơ bản bằng đồng việt nam được ban hành.  Trong năm 2008 đã có 8 lần điều chỉnh lãi suất cơ bản ,lãi suất tái cấp vốn , lãi  suất tái chiết khấu, 5 lần điều chỉnh dự trữ bắt buộc và lãi suất tiền gửi dự trữ  bắt buộc.  23/1/2009 chính phủ đã công bố gói kích thích kinh tế với mức lãi suất 4% đối  với các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng trong thời gian tối đa là 8 tháng kết  thúc vào 31/12/2009.  31/12/2009 chính phủ dừng hỗ trợ lãi suất ngắn hạn tăng lãi suất cơ bản bằng   Việt Nam đồng từ 7% lên 8%/năm  Trong năm 2010 NHNN đã ban hành thông tư  số  03/2010/TT­NHNN thông tư  07/2010/TT­NHNN thông tư  12/2010 /TT­NHNN cho phép tổ  chức tín dụng  được thực hiện cho vay bằng đồng việt nam đồng theo cơ  chế  lãi suất thỏa   thuận. 10 tháng đầu năm mức lãi suất cơ bản là 8% còn 2 tháng cuối năm là 9%   nhằm kiềm chế lạm phát. 14
  15. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 II. Đánh giá thành tựu tồn tại của quá trình điều hành lãi suất  ở  Việt Nam từ năm 1995 đến nay  1. Thành tựu: Tiến hành cải cách, điều chỉnh chính sách lãi suất làm cho lãi suất trong nền  kinh tế đã trở thành công cụ quan trọng của Nhà nước nhằm thực thi chính sách  tiền tệ, ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, kiềm chế được lạm phát.  Lãi suất góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nói chung, kích thích sự  tiết kiệm và khuyến khích đầu tư. Việc xóa dần chính sách ưu đãi về  lãi suất  đã dần dần tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại thực hiện tốt công tác  hạch toán kinh tế và kinh doanh của mình được chủ động và thuận lợi.  Chính sách lãi suất qua các lần biến đổi đã tiến dần đến tự  do hóa lãi suất,  chuẩn bị cho sự hội nhập về lãi suất với nền kinh tế thế giới. Những phản ứng   tích cực của thị trường là cơ sở khẳng định tính đúng đắn của Thông tư 07, 13.  Và những phản  ứng này là một tín hiệu tốt để  NHNN thực hiện những bước   tiếp theo nhằm tự do hóa hoàn toàn lãi suất. 2. Hạn chế: Hiệu lực, hiệu quả của các cơ chế điều hành LS chưa cao - Nguyên nhân: Năng lực tài chính, năng lực quản trị, khả  năng cạnh tranh của  các thành viên trên thị  trường tài chính không đồng đều, tính bền vững trong   phát triển chưa cao. - Trên thị trường có sự  cạnh tranh không lành mạnh. Biểu hiện là tình trạng đua  nhau tăng lãi suất cho vay và lãi suất huy động của các NHTM. Khi NHNN thực  hiện cơ  chế  lãi suất thỏa thuận đối với cho vay trung hạn, các NHTM đã đẩy  mức lãi suất cho vay rất cao, khoảng 18%. Những  động thái tiêu cực đó là   nguyên nhân gây ra sự  bất  ổn trong hệ  thống tài chính. Các dự  án trung và dài   hạn gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tìm kiếm các nguồn vốn từ Ngân hàng.  Điều này là 1 trở ngại đối việc phát huy hiệu lực, hiệu quả của các chính sách  15
  16. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 do NHNN đưa ra. - Bên cạnh đó, đối với nhóm ngân hàng lớn, thông qua vị  thế  mạnh của mình   trong hệ thống, những hành vi chi phối thị trường của các ngân hàng này có thể  gây ảnh hưởng tới tác động tổng thể của chính sách NHNN nói chung và chính  sách lãi suất nói riêng. Mức độ tự do của LS còn hạn chế:   Một trong những lý do là thị phần tín dụng áp dụng mức lãi suất chính sách là  không nhỏ.  Ngoài các khoản vay áp dụng cơ  chế  hỗ trợ lãi suất trong thời gian   qua, thì chúng ta cũng có không ít các dự án, các lĩnh vực sản xuất được áp dụng  lãi suất ưu đãi được thực hiện thông qua Ngân hàng Phát triển, Ngân hàng Chính   sách xã hội, các dự  án đầu tư  phát triển được sử  dụng các nguồn vốn  ưu đãi   ODA khác nữa...  Ở chừng mực nào đó nó làm giảm hiệu quả  của chính sách tự  do hóa lãi suất, vì khi đó lãi suất hình thành trên thị  trường chưa phản ánh đúng   cung cầu vốn nên việc phân bổ nguồn vốn qua công cụ lãi suất cũng bị méo mó. Việc điều chỉnh cơ  chế điều hành lãi suất rất dễ gây ra mất ổn định trong nền   kinh tế và khó có thể đảm bảo các mục tiêu của CSTT.  Các nhà đầu tư  nắm bắt thông tin thị  trường không đầy đủ, dẫn đến phản   ứng theo “bầy đàn” ­ là đặc điểm nổi bật của thị trường tài chính của Việt Nam  hiện nay. Đặc điểm này dễ  gây nên những kỳ  vọng về  lạm phát trước bất cứ  một động thái chính sách kinh tế vĩ mô nào tạo tín hiệu áp lực lạm phát, nhất là  chính sách tiền tệ ­ một chính sách theo đuổi mục tiêu lạm phát là trụ cột.  Những tác động không mong muốn trong cơ chế truyền dẫn - Lãi suất thực dương là 1 tất yếu trong cơ chế tự do hóa lãi suất. Nhìn vào thực   tế của Việt Nam, hiện tại, mức lãi suất thực mà người gửi tiền nhận được là  mức lãi suất thực dương, trung bình trong 3 tháng đầu năm 2010  khoảng 2,8% ­  chưa kể  đến các hình thức khuyến mại khác. Tuy nhiên, lãi suất thực đang có  xu hướng giảm xuống bắt đầu từ  tháng 2 do  ảnh hưởng của tốc độ  gia tăng   CPI. Để  thu hút nguồn vốn, các ngân hàng có thể  bước vào 1 cuộc chạy đua  tăng lãi suất huy động khi NHNN dỡ bỏ trần lãi suất huy động. Với xu hướng  này, một tín hiệu nâng lãi suất chính sách có thể tạo ra kỳ vọng về lạm phát. - Xét về góc độ lãi suất thực tác động đến tăng trưởng kinh tế, thì hiện nay, các   16
  17. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 nhà đầu tư vay vốn ngân hàng đang chịu một mức lãi suất thực tương đối cao.  Đánh giá tác động của lãi suất thực đến tăng trưởng kinh tế, theo kết quả  ước   lượng mô hình đánh giá tác động của lãi suất thực lên tăng trưởng kinh tế theo   phương pháp OLS (41 quan sát từ quý I/2000 đến tháng 3/2010 với mức ý nghĩa  10%) cho thấy khi lãi suất thực cho vay ngắn hạn tăng 1% sẽ  làm tăng trưởng  kinh tế giảm 0,04% so với quý trước. Tuy nhiên, ngoài lãi suất thực còn nhiều  yếu tố khác tác động lên tăng trưởng kinh tế, vì vậy, mức độ biến động của lãi  suất thực mới chỉ giải thích được 12,3% biến động của tăng trưởng kinh tế. Tính kỷ  luật trong hoạch định các chính sách vĩ mô chưa cao, tình trạng mâu   thuẫn của các mục tiêu của các chính sách vẫn thường xảy ra. Là một nền kinh tế đôla hóa, lãi suất đồng nội tệ, lãi suất ngoại tệ và tỷ  giá  có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, với mức chênh lệch quá lớn giữa lãi suất nội   tệ  với  lãi suất đồng ngoại tệ  cộng với mức kỳ  vọng về  tỷ  giá sẽ  làm dịch  chuyển sự nắm giữ giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ  của các thành viên trong  thị trường, điều này sẽ gây ra những rối loạn thị trường, tạo áp lực lên tỷ giá. Do  vậy, chính sách lãi suất tiền đồng cũng phải giải quyết hài hòa mối quan hệ này.  Trong năm 2009, vấn đề tỷ giá nổi lên như một điểm nhấn của sự ổn định, chính   sách lãi suất của NHNN cùng hàng loạt các chính sách khác ( như  yêu cầu các  tổng công ty lớn bán ngoại tệ cho NHNN, điều chỉnh tỷ giá công bố, điều chỉnh  dự  trữ  bắt buộc bằng ngoại tệ, qui định trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ  của các   doanh nghiệp...) đã  phải hướng tới sự ổn định này.  III. Giải pháp định hướng về điều hành lãi suất ở Việt Nam Để tháo gỡ khó khăn,đòi hỏi rất nhiều chính sách không chỉ là việc giảm lãi  suất của hệ thống ngân hàng.Các bộ,Nghành chức năng khác cũng cần tích cực đưa  ra các giải pháp đòng bộ  và thiết thực hơn để  tháo gỡ  đúng những khó khăn của  DN đang gặp phải,bao gồm chính sách thuế,chính sách tiêu thụ hàng tồn kho   Kiểm soát lạm phát luôn là mục tiêu kiên định của NHNN,nên NHNN xác  định không thể  chủ  quan trong  điều hành chính sách tiền tệ.Do vậy,trong điều  hành,NHNN hết sức thận trọng,sử dụng đồng bộ các công cụ bên cạnh công cụ lãi  17
  18. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 suất để điều hành lượng cung ứng tiền một cách linh hoạt qua các kênh,đảm bảo  kiểm soát các chỉ tiêu tiền tệ,tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và mục   tiêu chính sách tiền tệ đề ra từ đầu năm Tiếp tục đổi mới cơ chế  điều hành cơ  chế  lãi suất: Chính sách lãisuất phải  đảm bảo Ngân hàng Nhà nước thống nhất quản lý một cách ổn định theo cơ  chế  định hướng còn các lãi suất cụ  thể  phải đi cơ  chế  thị  trường trong cơ  chế  định  hướng ấy. Tuy nhiên, nền kinh tế có định hướng xã hội chủ nghĩa.Nhà nước mà cụ  thể  là Ngân hàng Nhà nước nên làm rõ phần chính sách lãi suất để  thực hiện các   mục tiêu xã hội như chính sách đối với dân tộc vùng sâu vùng xa, chính sách xoá đói  giảm nghèo xong việc đầu tư  phải được rạch ròi cũng đã đến lúc phải giao cho   Ngân hàng chính sách làm việc này được Ngân hàng xử lý cụ thể, chỉ như là các tổ  chức tín dụng mới hoạt động tốt được mà cũng đúng với cơ  chế  lãi suất thực có  của nước ta   Công cụ lãi suất có hai mặt rất nhạy cảm. Tăng lãi  suất tiền gửi có lợi cho tiết kiệm bất lợi cho đầu tư và ngược lại. Các nước công  nghiệp mới châu Á điều hành công cụ lãi suất trong phát triển kinh tế với các chính  sách không giống nhau thậm chí trái ngược nhau. Nhiều nước thực hiện chính sách  tự do hoá lãi suất, các nước khác chính phủ lại can thiệp mạnh vào khung lãi suất   có nước lại sử dụng chính sách lãi suất thấp như Hàn Quốc, có nước lại thực hiện  một chính sách lãi suất cao như  Đài Loan. Một chính sách lãi suất cao có sự  can   thiệp mạnh mẽ  của Nhà nước, trong đó Nhà nước  ổn định trần lãi suất cho vay.  Chính sách lãi suất này về  cơ  bản được đánh giá tích cực có đóng góp nhất định  vào việc kiềm chế làm phát và huy động tiết kiệm cho đầu tư phát triển trong giai  đoạn vừa qua.  Nên hạ  mức lãi suất xuống cho  ngang bằng với mức trung bình quốc tế, thực hiện chính sách tự do hoá lãi suất để  cho cung cầu thị  trường tự  thiết lập. Thực tế trong những năm vừa qua cho thấy  tại giai đoạn phát triển của VN hiện nay vẫn rất cần có sự  can thiệp từ  phía Nhà  nước và việc hình thành lãi suất vẫn cần duy trì lãi suất tiền gửi ở mức cao hơn so   với mức trung bình trên thị trường quốc tế. Tiếp tục giảm lãi suất cho  vay: Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiện nay rất cần vay vốn để  đầu tư  chiều sâu phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm tăng sức  mạnh   cạnh   tranh   của   hàng   hoá   trên   thị   trường   trong   nước   và   xuất   khẩu.   Thế  18
  19. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 nhưng, yêu cầu đó gặp khó khăn là lãi suất quá cao so với tỷ suất lợi nhuận trong  sản xuất kinh doanh. Vốn nhàn rỗi trong dân cư  còn nhiều nhưng chưa huy động  được hết. Muốn tăng sức hấp dẫn đối với dân cư  ngoài lãi suất chưa hợp lý còn  phải đảm bảo tính ổn định và an toàn của giá trị đồng tiền. Để đạt yêu cầu đó, vấn   đề quan trọng nhất là sản xuất kinh doanh phát triển thu chi ngân sách cân đối, tài  chính quốc gia lành mạnh và hoạt động của ngân hàng phải có hiệu quả. Xu hướng  giảm lãi suất cho vay, lãi suất huy động có tính tích cực nhiều hơn và suy cho cùng   hạn chế được rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại đồng thời  tạo được tâm lý ổn định của khách hàng bao gồm cả người gửi và người vay Nâng cao tính ổn định của lãi suất tín dụng: tiềm lực kinh tế và dự trữ ngoại  tệ chưa đạt đến trìnhđộ  phát triển nên vấn đề  ổn định lãi suất càng chỉ  nên đặt ra   trong một khoảng thời gian nhất định ít nhất là một năm. Lý do là: sau một năm tỷ  lệ lạm phát đã thay đổi đó là căn cứ để điều chỉnh lãi suất tín dụng. Hơn thế giảm   bớt khối lượng hạch toán của các ngân hàng thương mại và các tổ  chức tín dụng   ổn định tâm lý khách hàng. Phân định rõ hơn nữa chức năng xã hội trong hoạt động  của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng theo hướng xoá bỏ triệt để  một số chính sách biểu hiện bao cấp qua lãi suất tín dụng: Các ngân hàng thương  mại và các tổ  chức tín dụng chỉ  làm chức năng kinh doanh tiền tệ  theo luật ngân  hàng. Chuyên chức xã hội cho các tổ  chức tài chính khác nhau, Ngân hàng Đầu tư  và Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn… Muốn vậy, cần  phải hạn chế  và tiến tới xoá bỏ  bao cấp của Nhà nước qua lãi suất tín dụng của  ngân hàng thương mại và tổ  chức tín dụng của Nhà nước. Chừng nào còn tồn tại  bao cấp của Nhà nước qua tín dụng thì các ngân hàng thương mại chưa thể  thực   hiện chức năng tiền tệ  theo đúng Luật Ngân hàng. Tính chủ  động trong sản xuất  kinh doanh của các chủ  nhà băng vẫn còn hạn chế  hiệu quả  hoạt động của ngân  hàng không thể hoạch toán rõ được về kinh tế và xã hội. Cần nhanh chóng tạo sân  chơi  bình đẳng giữa các ngân hàng thương mại quốc doanh với các ngân hàng   thương mại cổ phần và ngân hàng thương mại liên doanh với nước ngoài. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục áp dụng cơ  chế  điều hành lãi suất cơ  bản là  một giải pháp thích hợp, phù hợp với các mục tiêu kinh tế  vĩ mô, cung – cầu vốn  thị  trường. Việc điều tiết lãi suất thị  trường theo hướng  ổn định, được thực hiện  19
  20. Bài thảo luận Nhập môn Tài chính ­ Tiền tệ Nhóm 9 kết hợp giữa điều tiết khối lượng tiền thông qua các công cụ  gián tiếp, điều hành  linh hoạt các mức lãi suất chủ đạo và làm tốt công tác truyền thông. Sự thay đổi cơ  chế điều hành lãi suất theo hướng tự do hoá phải trên cơ sở đánh giá một cách khoa   học và thực tiễn các điều kiện kinh tế, thị  trường tài chính – tiền tệ   ở  trong và  ngoài nước, cũng như các rủi ro có thể xảy ra và các biện pháp xử lý để đảm bảo   ổn định kinh tế vĩ mô, sự an toàn và phát triển của hệ thống tài chính Bên cạnh việc điều hành có hiệu quả thị trường liên ngân hàng, NHNN cũng  cần mạnh dạn mở  rộng thêm kênh tái cấp vốn trực tiếp đến những ngân hàng   thương mại đáp ứng được các tiêu chí an toàn, cạnh tranh lành mạnh, kinh doanh có  hiệu quả  và có trách nhiệm với cộng đồng, thông qua đó góp phần động viên các  nỗ lực tham gia bình ổn thị trường vốn và lãi suất KẾT LUẬN  Qua việc phân tích và nghiên cứu đề tài ta đã thấy rõ được vai trò của  lãi suất trong nền kinh tế thị trường. Nó là công cụ điều tiết vĩ  mô chính   sách tiền tệ quốc gia, điều chỉnh cơ cấu, điều tiết tăng trưởng thông qua  điều tiết tổng đầu tư. Nó thu hút ngoại tệ  và đầu tư  nước ngoài, giúp   phát triển thị  trường tài chính chứng khoán. Đề  tài còn mang lại cho ta   cái nhìn tổng quan về  vai trò của ngân hàng nhà nước trong quá trình  điều hành lãi suất. Trong quá trình điều hành đó ngân hàng nhà  nước đã  đạt được nhiều thành tựu tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều bất cập cần  giải quyết. Và trong bối cảnh nền kinh tế nhiều biến động như hiện nay   đòi hỏi nhà nước phải có các chính sách, cơ chế điều hành lãi suất hợp lí  và có hiệu quả hơn nữa để góp phần giúp  Việt Nam phát triển theo kịp  20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2