VĂN MẪU LỚP 11
HÃY LÀM RÕ Ý KIẾN SAU: “BÀI THƠ CÂU MÙA THU THẺ
HIỆN SỰ CẢM NHẬN VÀ NGHỆ THUẬT GỢI TẢ TINH TẾ CỦA
NGUYỄN KHUYẾN VỀ CẢNH SẮC MÙA THU ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ,
ĐỒNG THỜI CHO THẤY TÌNH YÊU THIÊN NHIÊN, ĐẤT NƯỚC, TÂM
TRẠNG THỜI THẾ CỦA TÁC GIẢ
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thiên nhiên đề tài muôn thuở của thơ ca. Biết bao thi nhân đã gửi lòng mình
vào những trang thơ viết về thiên nhiên.
Nguyễn Khuyến một trong những nhà thơ đã dành nhiều trang viết cho thiên
nhiên. Tiêu biểu nhất cm thơ gồm ba bài viết về mùa thu: Thu vịnh (Vịnh mùa thu),
Thu điếu (Câu mùa thu) Thu ẩm (Uống rượu mùa thu). Chùm thơ thu của Nguyễn
Khuyến là hiện tượng độc đáo và là cống hiến xuất sắc của nhà thơ.
Câu mùa thu nằm trong cm ba bài thơ thu của Nguyễn Khụyến vẻ đẹp của
cảnh thu trong bài thơ vẻ đẹp điển hình của làng quê Việt Nam vùng đồng bằng Bắc
Bộ. Phân tích bài thơ, ta không chĩ thấy vẻ đẹp đến nao lòng của thiên nhiên làng quê
Việt Nam mà còn hiểu được tâm trạng thời thế của nhà thơ.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên ng quê Việt Nam vào mùa thu vùng
đồng bằng Bắc Bộ
a) Điểm nhìn để cảm nhận cảnh thu của tác giả
Nếu ở bài Vịnh mùa thu, cảnh thu được đón nhận từ cao xa đến gần rồi từ gần đến
cao xa thì bài Câu mùa thu, cảnh thu được đón nhận tgần đến cao xa rồi từ cao xa
trở lại gần: từ chiếc thuyền câu nhìn ra mặt ao, nhìn lên bầu trời, nhìn tới ntrúc rồi lại
trở về với ao thu, với thuyền câu. Với sự quan sát này, ta thấy bức tranh thiên nhiên hiện
lên từ một khung ao thu hẹp, không gian mùa thu, cảnh sắc mùa thu đã m ra nhiều
hướng thật sinh động, hấp dẫn.
b) Cảnh thu
Vẻ đẹp của mùa thu trước hết thhiện không khí mùa thu dịu nhẹ, thanh
của cảnh vật. Cảnh vật có sắc màu sắc, đường nét thật hài hoà: nước trong veo, sóng biếc
còn trời thì xanh ngắt. Đường nét “ntrúc quanh co”. Không những vậy, sự chuyển
động thật nhẹ nhàng: sóng, “hơi gợn tí”, lá vàng khẽ đưa vèo”. Nhà thơ Xuân Diệu đã
từng viết sau khi đọc bài Câu mùa thu: “Cái thú vcủa bài thu điếu các điệu xanh,
xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, màu vàng đâm ngang của
chiếc vàng rơi”. Ao thu nhỏ, chiếc thuyền câu theo đó cùng tẻo teo dáng người
cũng như thu lại. Nét đẹp riêng của làng quê Bắc Bộ, cái hồn dân tộc đã được gợi lên t
khung ao hẹp, từ cánh bèo, từ ngõ trúc quanh co.
Cảnh trong bài thơ Câu mùa thu cảnh đẹp nhưng tĩnh lặng đượm buồn.
Không gian trong Câu mùa thu không gian yên tĩnh, vắng người, vắng tiếng: “Ngõ
trúc quanh co khách vắng teo”. Những chuyển động rất nhẹ, rất khẽ, không đủ tạo thành
âm thanh: sóng hơi gợn, mây lơ lửng, lá khẽ đưa. Tiếng cá đớp mồi càng làm tăng sự yên
áng, tĩnh mịch của cảnh vật. Tác giả lấy động để nói tĩnh, lấy âm thanh quá nhỏ của tiếng
đớp mồi đâu đó trong ao để nói lên cái tĩnh lặng của không gian làng quê Việt Nam
vào mùa thu. Trời thăm thẳm một màu xanh, vài đám mây lững lờ trôi như tôn thêm độ
cao xa của không gian “Tầng mây lửng trời xanh ngắt”. Đường đi lối lại trong thôn
viền rặng trúc không ồn ào “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”. Tóm lại, bài Câu cá mùa
thu là bài thơ đin hình hơn ccho mùa thu của làng cảnh Việt Nam. Một loạt tláy lạnh
lẽo, tẻo leo kết hợp với vần eo cuối các dòng thơ c dụng gợi tả vẻ đẹp dịu nhẹ
tĩnh lặng rất đặc trưng của mùa thu làng quê Bắc Bộ. Mọi chi tiết đều được chắt lọc sao
cho mỗi cảnh sắc chỉ cần điểm một nét, cộng hưởng thành màu sắc thu đích thực độc
đáo. Ông kết hợp tuyệt diệu hình ảnh từ ngữ. Cả bức tranh vẻ tĩnh lặng nhưng từng
chi tiết thì động và gợi cảm.
2. Tâm trạng của nhà thơ
Bài thơ nói về chuyện u mùa thu nhưng thực ra không chú ý vào việc u
cá. Nói câu cá nhưng là để đón nhận trời thu, cảnh thu vào cõi lòng. Cõi lòng nhà thơ n
tĩnh, vắng lặng. Tĩnh lặng trong cảm nhận độ trong veo của nước, cái “hơi gợn tí” của
sóng, độ rơi khe khẽ của lá. Đặc biệt sự tĩnh lặng trong m hồn thi nhân được gợi lên
một cách sâu sắc tâm thanh tiếng đớp mồi dưới chân bèo. Cái động rất nhỏ ngoại
cảnh gây ấn tượng đậm đến thế, là bởi tâm cảnh đang đang trong sự tĩnh lặng tuyệt đối.
– Không gian tĩnh lặng đem đến sự cảm nhận về một nỗi cô qụanh, uẩn khúc trong
tâm hồn nhà thơ. Cái se lạnh của cảnh thu, của ao thu, trời thu thấm vào tâm hồn nhà thơ
hay chính cái lạnh từ m hồn nhà thơ lan tỏa ra cảnh vật? Cảnh vật êm đềm mà u tịch.
Nhà thơ “tựa gối ôm cần” chìm đắm vào cảnh vật tựa sống trong mơ. Đó tư thế ngồi
của người u uẩn trong nỗi lo âu triền miên, chìm đắm. Chỉ đến khi tiếng đâu đớp
động dưới chân bèo”, nhà thơ như bừng tỉnh mới trở về cõi thực thôi. Tại sao nhà
thơ lại tâm trạng quạnh, uẩn khúc như vậy? Phải chăng người tài cao học rộng
nhưng thời thế loạn lạc, chốn quan trường thì phức tạp nên Nguyễn Khuyến có nỗi tâm sự
riêng. Đó là tâm sự của người tài năng, có cốt cách thanh cao.
Qua bài Câu mùa thu, người đọc cảm nhận được Nguyễn Khuyến một m
hồn gắn tha thiết với thiên nhiên đất nước, một tấm lòng yêu nước thầm kín nhưng
không kém phần sâu sắc. Nếu không yêu thiên nhiên tha thiết, không gắn bó, hoà mình
vào thiên nhiên thì chắc chắn Nguyễn Khuyến không thể có được bức tranh mùa thu bằng
thơ rất đẹp, rất có hồn và rất tiêu biểu cho mùa thu của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Qua tình
cảm của nhà thơ đối với thiên nhiên, ta khẳng định một điều, cái tình của Nguyễn
Khuyến đối với đất nước, với non sông thật da diết và sâu sắc.
III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
– Cảnh thu trong bài thơ Câu cá mùa thu mang vẻ đẹp điển hình cho mùa thu làng
cảnh Việt Nam. Cảnh đẹp nhưng phảng phất buồn, vừa phản ánh tình yêu thiên nhiên đất
nước, vừa cho thấy tâm trạng thời thế của tác giả.
Câu mùa thu thể hiện một trong những nét nghệ thuật đặc sắc của phương
Đông: lấy động nói tĩnh. Để gợi cái yên ắng của cảnh vật, cái tĩnh lặng của tâm trạng, tác
giả đã xen vào bức tranh thu một nét động duy nhất: “Cá đâu đớp động dưới chân bèo”.
– Ngôn từ trong Câu mùa thu giản dị, trong sáng đến kì lạ,khả năng diễn đạt
những biểu hiện tinh tế của svật, những uẩn khúc thầm kín rất kgiãi bày của m
trạng. Đặc biệt, tác giả đã sử dụng một cách tài tình vần “eo”, vần “eo” tác dụng góp
phần diễn tả một không gian vắng lặng, thu nhỏ dần, phù hợp với tâm trạng đầy uẩn khúc
của thi nhân.