Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

2

Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam lần thứ 2

Báo cáo chuyêN đề Dậy thì – Sức khỏe tìNh Dục – Sức khỏe SiNh SảN ở thaNh thiếu NiêN Việt Nam

BS. Đào Xuân Dũng

chuyên gia độc lập

1

hà Nội 2010

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

Lời nói đầu

Sự phát triển của vị thành niên và thanh niên luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. đây là thế hệ quyết định đến tương lai và vận mệnh của đất nước. Ở Việt Nam, vị thành niên và thanh niên tuổi từ 14 – 25 là nhóm dân cư đông nhất, chiếm gần một phần tư dân số cả nước (khoảng trên 20 triệu người – Tổng cục Thống kê, điều tra dân số và nhà ở năm 2009). Việc nắm bắt được những đặc điểm cơ bản liên quan đến đời sống xã hội, thái độ, nguyện vọng, những thách thức trong sự phát triển của nhóm dân số này là điều hết sức quan trọng.

Trong khuôn khổ Dự án phòng chống hIV/AIDS cho Thanh niên, Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (TcDS-KhhGđ) và Tổng cục Thống kê đã thực hiện cuộc điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam (Survey Assessment of Vietnamese youth- gọi tắt là SAVy) lần thứ 2.

điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên (lần 1 và 2) là cuộc điều tra lớn và toàn diện nhất về thanh thiếu niên Việt Nam. cuộc điều tra lần 2 có sự phối hợp giữa nhiều cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế, từ trung ương đến địa phương, với sự tham gia của 10.044 thanh thiếu niên từ 14 - 25 tuổi tại 63 tỉnh/thành phố, từ đô thị tới nông thôn và miền núi xa xôi hẻo lánh. Kết quả SAVy 2 mang lại một bức tranh khá toàn diện về giới trẻ Việt Nam hiện nay cũng như những thay đổi của họ so với những người cùng lứa 5 năm trước đây. SAVy2 giúp chúng ta thấy được các vấn đề liên quan đến sự phát triển của vị thành niên và thanh niên như giáo dục, việc làm, tình trạng sức khoẻ - sức khoẻ sinh sản, hIV/AIDS, sử dụng các chất kích thích, tai nạn thương tích, bạo lực. Bên cạnh những mặt tích cực, SAVy2 cũng cho thấy thanh thiếu niên hiện đang phải đối mặt với những thách thức nhằm thích ứng với môi trường kinh tế xã hội đang ngày càng biến chuyển sâu rộng. Nhóm thanh thiếu niên các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa còn phải đương đầu với những khó khăn về điều kiện vật chất, học tập và việc làm. cuộc điều tra giúp chúng ta hiểu sâu sắc thêm suy nghĩ, thái độ, mong ước và hoài bão của giới trẻ Việt Nam trong cuộc sống hiện tại và hướng đến tương lai. Kết quả chung của SAVy2 được công bố vào tháng 6/2010.

3

Trên cơ sở dữ liệu của cuộc điều tra, được sự hỗ trợ về tài chính của Ngân hàng phát triển châu á và hỗ trợ kỹ thuật của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (uNFPA), Tổng cục DS-KhhGđ đã phối hợp với các nghiên cứu viên trong nước biên soạn 9 báo cáo phân tích sâu theo chủ đề và 9 tài liệu tóm tắt chính sách. các chủ đề bao gồm:

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

1.Giáo dục

2.Việc làm của thanh thiếu niên Việt Nam

3.Dậy thì-Sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

4. Sức khỏe tâm thần của vị thành niên và thanh niên Việt Nam

5.Thanh thiếu niên Việt Nam với việc tiếp cận và sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng

6. Thái độ của thanh thiếu niên Việt Nam về một số vấn đề xã hội

7. chấn thương và bạo lực ở thanh thiếu niên Việt Nam

8. Sử dụng rượu bia và thuốc lá trong thanh thiếu niên Việt Nam.

9. Kiến thức và thái độ của thanh thiếu niên Việt Nam về hIV/AIDS và những người có hIV/AIDS.

chúng tôi hi vọng rằng những phát hiện về cuộc sống xã hội, thái độ, hoài bão của vị thành niên và thanh niên Việt Nam và những khuyến nghị về chính sách trong 9 báo cáo này sẽ góp phần hữu ích trong việc hoạch định và thực thi các chính sách và chương trình nâng cao sức khỏe và phát triển toàn diện của thanh thiếu niên nước nhà.

Tổng cục DS-KhhGđ trân trọng cảm ơn Ngân hàng phát triển châu á đã tài trợ cho cuuộc điều tra. chúng tôi xin trân trọng cám ơn Quỹ Dân số Liên hợp quốc (uNFPA) đã hỗ trợ kỹ thuật cho việc xây dựng các báo cáo chuyên đề và tóm tắt chính sách SAVy2; cảm ơn giáo sư Robert Blum, đại học Johns hopkins (Mỹ) và các chuyên gia Việt Nam đã hỗ trợ kỹ thuật và đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình phân tích số liệu và hoàn thiện các báo cáo.

4

chúng tôi đánh giá cao sự tận tâm và say mê của các tác giả của 9 báo cáo là Ts.Vũ Mạnh Lợi (Viện Xã hội học); Ts.Nguyễn hữu Minh, Ths.Trần Thị hồng (Viện Gia đình và Giới); Ts.Nguyễn Thanh hương, Ts.Lê cự Linh (đại học y tế công cộng); Ts.Bùi Phương Nga (chuyên gia độc lập); Ths. Nguyễn Thị Mai hương (Trung tâm Nghiên cứu phát triển y tế cộng đồng), Ths. Nguyễn đình Anh (Vụ Truyền thông và giáo dục- Tổng cục Dân số- KhhGđ), Ths. Ngô Quỳnh An (đại học Kinh tế quốc dân), Ths.Nguyễn Thanh Liêm, Ths. Nguyễn hạnh Nguyên, Ths.Vũ công Nguyên (Viện Xã hội học), Bs. đào Xuân Dũng (chuyên gia độc lập).

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

Dù đã có nhiều cố gắng song các báo cáo phân tích sâu theo chủ đề này không tránh khỏi những thiếu sót. Tổng cục DS-KhhGđ rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các cá nhân, các tổ chức trong và ngoài nước quan tâm đến thế hệ trẻ Việt Nam để các báo cáo được hoàn thiện hơn.

chúng tôi hân hạnh giới thiệu các báo cáo phân tích sâu theo chủ đề và khuyến nghị chính sách tới tất cả các nhà quản lý, các nhà khoa học, các tổ chức trong nước và quốc tế quan tâm đến sự nghiệp chăm sóc sức khỏe và phát triển toàn diện của vị thành niên và thanh niên Việt Nam.

5

ts. Dương Quốc trọng Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

DaNh Sách BaN Điều hàNh Điều tra Quốc gia Về Vị thàNh NiêN Và thaNh NiêN Việt Nam lầN thứ 2

6

ts.Nguyễn Bá thuỷ, Thứ trưởng Bộ y tế, Trưởng ban ts.Dương Quốc trọng, Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình, Phó trưởng ban Ông Ngô khang cường, Nguyên Vụ trưởng Vụ Truyền thông và Giáo dục, Tổng cục Dân số- Kế hoạch hoá gia đình, Phó trưởng ban Bà trần thị thanh mai, Vụ trưởng Vụ Truyền thông và Giáo dục, Tổng cục Dân số- Kế hoạch hoá gia đình Ông Nguyễn Duy khê, Vụ trưởng Vụ bảo vệ Bà mẹ Trẻ em, Bộ y tế. Bà Nguyễn thị hoà Bình, uỷ viên đoàn chủ tịch, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ phụ nữ phòng chống hIV/AIDS và chăm sóc sức khoẻ sinh sản - hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Ông Phùng khánh tài, uỷ viên Thường vụ Trung ương đoàn Thanh niên cộng sản hồ chí Minh Ông Nguyễn Văn kính, Nguyên Phó cục trưởng cục Phòng chống hIV/AIDS, Viện trưởng Viện y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới, Bộ y tế Bà lê thị hà, Phó cục trưởng cục phòng chống tệ nạn xã hội - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Ông Nguyễn Đình chung, Phó Vụ trưởng Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường, Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch - đầu tư Ông lã Quý Đôn, Phó Vụ trưởng Vụ công tác học sinh - sinh viên, Bộ Giáo dục và đào tạo

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

Nhóm tác giả Viết Báo cáo chuyêN Đề Và tóm tắt chíNh Sách Điều tra Quốc gia Về Vị thàNh NiêN Và thaNh NiêN Việt Nam

ths. Ngô Quỳnh an, đại học Kinh tế Quốc dân

ths. Nguyễn Đình anh, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông và Giáo dục, Tổng cục Dân số- Kế hoạch hoá gia đình

Bs. Đào Xuân Dũng, chuyên gia độc lập

ths. trần thị hồng, Viện Gia đình và Giới

ts. Nguyễn thanh hương, đại học y tế công cộng

ths. Nguyễn mai hương, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển y tế cộng đồng (ccRD)

Pgs.ts. Vũ mạnh lợi, Trưởng phòng Xã hội học Gia đình, Viện Xã hội học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

Pgs. ts.lê cự linh, đại học y tế công cộng

ths. Nguyễn thanh liêm, Viện Dân số, Sức khỏe và Phát triển

ts. Nguyễn hữu minh, Viện trưởng Viện Gia đình và Giới

ts. Bùi Phương Nga, chuyên gia độc lập

ths. Nguyễn hạnh Nguyên, Viện Dân số, Sức khỏe và Phát triển

ths. Vũ công Nguyên, Viện Dân số, Sức khỏe và Phát triển

chuyên gia quốc tế:

7

Giáo sư robert Blum, chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật, đại học Johns hopkins

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

mục lục

1. giới thiệu chuNg .....................................................................................9

2. Dậy thì .............................................................................................9

2.1. có kinh /Xuất tinh lần đầu không phải là bắt đầu tuổi dậy thì ........9

2.2 Nguồn và sự chia sẻ thông tin ................................................................11

3. hàNh Vi Và thái Độ Với tìNh Dục ......................................12

3.1 Tuổi quan hệ tình dục lần đầu ...............................................................12

3.2 Nơi quan hệ tình dục lần đầu................................................................14

3.3 Quan hệ tình dục trước hôn nhân........................................................15

3.4 Thay đổi ở quan hệ tình dục trước hôn nhân từ SAVy1- 2 .............18

3.5 Bạn tình .....................................................................................................19

3.6 Sống thử, nên hay không nên ? .............................................................20

3.7 Mại dâm.....................................................................................................21

3.8 Tình dục đồng giới và rối loạn bản sắc giới.........................................23

3.9 Bạo hành tình dục ....................................................................................24

4. Sức khỏe SiNh SảN ...................................................................25

4.1 hiểu biết về bệnh lây truyền theo đường tình dục ...........................25

4.2 hiểu biết và thái độ đối với các biện pháp tránh thai.......................27

4.3 hiểu biết và thái độ đối với sử dụng bao cao su ................................28

4.4 Nhận thức về sinh lý thụ thai ................................................................32

4.5 Nạo phá thai .............................................................................................35

4.6 Tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS .........................................................35

8

tài liệu tham khảo ...................................................................................37

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

1. Giới thiệu chung

điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam (tên viết tắt tiếng Anh là SAVy) là cuộc điều tra lớn nhất và toàn diện nhất về thanh thiếu niên Việt Nam. SAVy 1 đã được tiến hành vào năm 2003 và SAVy2 được thực hiện năm 2008. Mẫu điều tra của SAVy 2 bao phủ 63 tỉnh, với 10.044 thanh thiếu niên tham gia cuộc điều tra. các câu hỏi điều tra trong SAVy2 được thiết kế để đảm bảo khả năng so sánh giữa SAVy2 với SAVy 1, bao gồm nhiều chủ đề khác nhau, trong đó có Dậy thì - Sức khoẻ tình dục - Sức khỏe sinh sản.

Những dữ liệu thu thập được từ 2 cuộc khảo sát lớn chưa từng có ở nước ta là SAVy 1 và 2 về Dậy thì, Sức khoẻ tình dục (SKTD) và Sức khoẻ sinh sản (SKSS) sẽ là nguồn thông tin rất có ích để đánh giá một giai đoạn phát triển quan trọng của đời người là tuổi vị thành niên và thanh niên - nguồn nhân lực tiềm năng của đất nước. Khoảng cách giữa 2 cuộc điều tra là 5 năm (2003 và 2008) rất thích hợp để có thể so sánh những dữ liệu, nhận định những tiến bộ cũng như phát hiện những vấn đề còn tồn tại, nhất là khi xã hội ta cũng đang diễn ra những biến đổi lớn ở thập kỷ thứ 2 của công cuộc đổi Mới.

Mặc dầu bộ câu hỏi của SAVy 1 và 2 đã được thiết kế để thu thập một lượng lớn thông tin liên quan đến Dậy thì – Sức khoẻ tình dục – Sức khoẻ sinh sản nhưng vẫn nằm trong khung cảnh một cuộc điều tra toàn diện chứ không phải chuyên đề, vì vậy có những vấn đề chưa thể khai thác sâu (tuổi bắt đầu dậy thì, bản sắc giới…).

Dựa trên kết quả khảo sát của SAVy 2, báo cáo này trình bày nhiều vấn đề về SKSS và SKTD mà thanh thiếu niên Việt Nam đang đối diện. Tuổi dậy thì và sự trưởng thành thể chất chỉ được đề cập đến một cách ngắn gọn, trọng tâm của báo cáo tập trung đánh giá sự hiểu biết, thái độ và hành vi liên quan đến SKSS, SKTD nhằm đề xuất được những chính sách và chương trình can thiệp. Vì thế, báo cao tuân thủ những hướng dẫn sau:

1) Tôn trọng những thông tin quan trọng dựa trên kết quả của 2 cuộc khảo sát đem lại.

2) So sánh kết quả khảo sát của SAVy1 và 2 khi có thể.

2. Dậy thì

2.1. Chứng minh tuổi có kinh lần đầu/Xuất tinh lần đầu không phải là bắt đầu tuổi dậy thì.

3) Người viết báo cáo đưa ra những nhận xét/ bình luận với các chủ đề nêu ra.

9

Tuổi dậy thì là thời điểm đánh dấu những thay đổi về thể chất và tâm lý ở nam và nữ. Dấu hiệu quan trọng của tuổi dậy thì là thời điểm có kinh nguyệt lần đầu ở nữ, và mộng tinh hay xuất tinh lần đầu ở nam nhưng có thể căn cứ vào đó để xác định thời điểm bắt đầu dậy thì không ?

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

2 dấu hiệu này chỉ chứng tỏ nam nữ đã có khả năng sinh sản hơn là thời điểm bắt đầu dậy thì vì có nhiều dấu hiệu khác còn xuất hiện trước cả 2 dấu hiệu nói trên mà vẫn được coi là những dấu hiệu đặc trưng của giai đoạn dậy thì . Theo y văn, tuổi dậy thì (thường kéo dài vài năm) diễn ra theo 5 giai đoạn (phân loại Tanner) và thường bắt đầu khoảng tuổi 8 – 13 cho nữ và 9 – 14 cho nam, ví dụ với nữ lớn phổng, cấu hình cơ thể thay đổi, mông đùi đã nở nang và vì thế vóc dáng đã có đường cong. Vú hình chũm cau rồi to dần, nhạy cảm đau nhận thấy sớm hơn nhiều so với sự ra kinh lần đầu - dấu hiệu xuất hiện muộn của cả giai đoạn dậy thì.

Theo phân loại của Tanner, tỷ lệ (incidence) có kinh lần đầu ở các giai đoạn dậy thì như sau:

Giai đoạn I : 0%

Giai đoạn II : 0%

Giai đoạn III: 25%

Giai đoạn IV: 65%

Giai đoạn V : 10%

(Kulig JW. Adolescent menstrual disorders. In: Strasburger Vc, ed. Adolescent

Gynecology: an office guide. Baltimore: urban & Schwarzenberg; 1990).

Với nam giới cũng vậy, mộng tinh/xuất tinh lần đầu cũng diễn ra muộn ở giai đoạn dậy thì. Xác định các giai đoạn dậy thì của thiếu niên Việt Nam xứng đáng để có một nghiên cứu toàn diện và sâu hơn: Những biểu hiện tuổi dậy thì ở thanh thiếu niên nước ta bắt đầu từ tuổi nào ? Dấu hiệu nào xuất hiện sớm nhất để từ đó có những khuyến cáo về những gì bất thường.

Phù hợp với văn liệu trên thế giới, các em gái sống ở thành thị bắt đầu hành kinh sớm hơn các em gái ở nông thôn, nhất là các em gái dân tộc thiểu số, phần lớn số này cũng sống ở khu vực nông thôn. Trên thực tế, các em gái sống ở thành thị hành kinh lần đầu sớm hơn gần 1 năm so với các em gái người dân tộc thiểu số.

BảNg 1. Tuổi có kinh/xuất tinh lần đầu

trung bình SaVy2 trung bình SaVy1

Nam 15.52 15.61

Nông thôn 15.58 15.67

Thành thị 15.31 15.45

Kinh/hoa 15.56 15.6

Dân tộc thiểu số 15.33 15.67

Nữ 14.21 14.46

Nông thôn 14.35 14.63

Thành thị 13.81 13.97

Kinh/hoa 14.15 14.4

10

Dân tộc thiểu số 14.57 14.86

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

2.2 Nguồn và sự chia sẻ thông tin

Sự khác biệt giữa các em nam thành thị và nông thôn cũng tương tự tuy nhiên không lớn như giữa các em gái.

Nguồn thông tin liên quan đến tuổi dậy thì, tính chung cả nước, Tivi (TV) chiếm tỷ lệ cao nhất (58,5%) ở SAVy2 ; với các em gái, mẹ là nguồn thông tin quan trọng trong việc cung cấp thông tin về tuổi dậy thì nhưng đối với các em nam thì cả cha mẹ đều không phải là nguồn tin chính. TV và tiếp theo là thầy cô giáo, sách báo là những nguồn thông tin quan trọng khác đối với các em gái và là nguồn thông tin có ý nghĩa nhất đối với các em trai (bảng 2).

TV Sách, báo, tạp chí Bạn bè cha Mẹ Thầy cô

66,7 Nam 12,3 34,3 4,5 3,2 21.9

Nữ 50,05 5,4 36,6 3,2 60,8 22.9

Khi thanh thiếu niên được hỏi có chia sẻ với người khác về nhiều vấn đề của tuổi dậy thì không (bảng 3) thì 3/ 4 trong số họ đều thừa nhận “có nói” với cả tình yêu và dậy thì. Tuy nhiên, với các chủ đề khác như thai nghén, kế hoạch hoá gia đình (KhhGđ), các phương pháp tránh thai, tình dục, hôn nhân thì dữ liệu thu được lại thể hiện sự dè dặt, kín đáo (bảng dưới đây).Và cán bộ y tế cũng không phải là nguồn tin cậy của họ.Tại sao ? có thể lý giải rằng những vấn đề thai nghén, tránh thai (các phương pháp KhhGđ), hôn nhân đã trở thành riêng tư và số đông đã có thể đủ hiểu biết để tự tìm kiếm giải pháp/sự lựa chọn cho mình, không cần đến sự giúp đỡ/tư vấn của người khác. Ðiều này có cơ sở vì những dữ liệu về nguồn thông tin mà thanh thiếu niên tiếp cận nhiều nhất và đã nâng cao được hiểu biết là TV, ấn phẩm (gồm sách, báo, tạp chí, sách nhỏ), tiếp theo mới là cha mẹ hay bạn bè.

Tình dục Tình yêu hôn nhân

Ðã từng nói với ai về

Dậy thì/Kinh lần đầu/ Xuất tinh lần đầu

Thai nghén/Kế hoạch hoá gia đình

Trả lời có 70,6% 41,8% 41,5% 74,02% 45,9%

Trả lời không 29,3% 58,1% 58,4% 25,9% 54,9%

1 Sách do chương trình cung cấp (SAVY2), Việt Nam, bảng 5.2.1

11

cha mẹ là những người đầu tiên thanh thiếu niên chia sẻ, chiếm tỷ lệ cao nhất (45%), tiếp theo là bạn bè (12,8%), anh chị (4,39%). Những dữ liệu này chứng minh mối quan hệ gần gũi và tin cậy giữa cha mẹ và con cái. Từ lâu, các chuyên gia về giáo dục giới tính (GDGT) đã coi gia đình là môi trường có ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách theo kỳ vọng của xã hội và cung cấp

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

những hiểu biết về sinh lý sinh sản cho vị thành niên. Không ai có thể làm tốt hơn người mẹ trong việc giúp con gái hiểu biết về sự phát triển thể chất, cơ chế kinh nguyệt và cả những vấn đề về văn hoá ứng xử, giao tiếp. Và người bố cũng có thuận lợi hơn người mẹ khi con trai đến tuổi dậy thì và gặp những vấn đề về giới tính. Mối quan hệ bố - con như “2 người đàn ông” được vun trồng từ nhỏ đặt nền móng thuận lợi để đến tuổi vị thành niên (VTN), trẻ dễ dàng chấp nhận chia sẻ với bố những vấn đề về tình bạn, tình yêu hay lựa chọn nghề nghiệp.

Ở SAVy2, tỷ lệ chia sẻ với cha mẹ về tuổi dậy thì ở các em gái cao hơn nhiều so với các em nam (80,4% và 6,47%)2 nhưng tỷ lệ nam chia sẻ với bạn bè lại cao hơn các em nữ ( 17,7% và 4,2%). Ở 3 nhóm tuổi, cha mẹ vẫn là sự hỗ trợ cho con cái khi các em gặp khó khăn ở tuổi dậy thì (43,4% ; 42,9% và 41,3%). điều tương tự cũng nhận thấy ở vị thành niên dân tộc Kinh/hoa so với các em thuộc dân tộc khác, tương ứng là 44,2% và 34,5%. Tỷ lệ các em vị thành niên không chia sẻ với ai tính trên cả nước là 1/3 (29,4%), điều này đáng được các nhà giáo dục và các bậc cha mẹ lưu ý. Nguyên nhân gì có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái (ví dụ các gia đình bất hòa hay cha mẹ quá bận bịu vì công việc làm ăn …).Tỷ lệ nam không chia sẻ với ai cao vượt trội so với nữ (tương ứng là 54,5% và 3,4%) cho thấy điều khác thường, chính VTN nam lại “kín đáo” hơn nữ khi đối diện với những vấn đề của lứa tuổi.

Ở SAVy1, nữ cũng chia sẻ với cha mẹ nhiều hơn hẳn so với nam (80,6% so với 14,9%). Tỷ lệ nữ nói chuyện với một người nào đó trong gia đình cũng nhiều hơn so với nam (91,1% so với 24,2%). có nhiều cách lý giải: Nữ coi sự ra kinh lần đầu là bất ngờ, đáng lo và cần giúp đỡ hơn hoặc mối quan hệ mẹ - con gái gần gũi hơn?

3. hành vi và thái độ với tình dục

3.1 Tuổi quan hệ tình dục lần đầu

Số liệu nêu trên cho thấy các nguồn thông tin có ý nghĩa nhất với tuổi vị thành niên. Nâng cao hiểu biết cho con gái về các vấn đề SKSS có vai trò đáng kể của người mẹ và bạn bè. Thầy cô giáo cũng giúp nhiều cho cả VTN nam và nữ (tương ứng là 22,9% và 21,9%), điều này càng chứng tỏ giáo dục giới tính có điều kiện thuận lợi để đưa vào nhà trường.

Những dữ liệu thu thập được từ SAVy 2 củng cố thêm nhận định rằng thanh thiếu niên có xu hướng hoạt động tình dục sớm. Ở SAVy 2, trong số những người nói đã từng có quan hệ tình dục, tuổi trung bình của quan hệ tình dục lần đầu là 18,1 (18,2 với nam và 18 với nữ), giảm 1,5 năm so với SAVy 1 (19,6 tuổi). Số liệu cho nam là 18,2 (giảm 1,8 năm so với SAVy 1) và nữ 18 (giảm 1,4 năm so với SAVy 1).

2 Theo sách và dữ liệu do chương trình PMU cung cấp: SAVY2 Việt Nam, Bảng 3.1.2.1, 3.1.2.2 và 3.1.2.3

12

Tuổi quan hệ tình dục lần đầu của thanh thiếu niên nông thôn là 18,0 hơi sớm hơn so với thanh thiếu niên thành thị (tuổi quan hệ tình dục lần đầu của thanh thiếu niên thành thị là 18,4).

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

Tuổi có quan hệ tình dục của người trẻ dân tộc thiểu số còn sớm hơn nữa so với người trẻ Kinh/hoa (tức là 17,9 so với 18,1, chỉ là 0,2 năm).

Khi nói về hoạt động tình dục, ta thường nghĩ rằng đó là quan hệ tình dục. Ngoài hành vi này, thanh thiếu niên còn có nhiều hành vi khác như hôn (khoảng 70%, n= 1880) hay sờ mó cơ quan sinh dục của nhau (30%). Những hành vi này không được đè cập nhiều ở cả 2 cuộc khảo sát nhưng sự hiểu biết nhiều hơn về các kiểu hành vi tình dục ngoài giao hợp có thể giúp các nhà hoạt động y tế tư vấn hiệu quả hơn cho thanh thiếu niên về phòng tránh thai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc những hành vi không được pháp luật và đạo đức cho phép như có nhiều bạn tình, cưỡng ép tình dục…Trong số những người có sờ mó khu vực kín của bạn tình và đã từng có quan hệ tình dục (n=396) và những người cho biết đã từng có quan hệ tình dục thì một nửa (n=185) đã nói rằng họ có dùng bao cao su ở lần quan hệ tình dục đầu tiên. Bảng sau đây mô tả những hành vi tình dục đã phát hiện được ở SAVy 2 và tần suất của mỗi kiểu hành vi ở những người trẻ chưa bao giờ kết hôn (Bảng 4 dưới đây).

QHTD - Hành vi Người chưa bao giờ QHTD - Đã kết hôn

N = 8341

Đã từng có bạn trai/bạn gái

Chưa bao giờ có bạn trai/bạn gái

33% (2803)

66% (5532)

Chưa bao giờ hôn 30%

(1880)

Đã hôn 68%

Không biết 2% (72)

(851)

Chưa bao giờ sờ mó vào bộ phận kín 58%

(803)

Đã sờ mó vào bộ phận kín 42%

Đã sờ mó vào bộ (17) phận kín 2%

Chưa bao giờ sờ mó vào bộ phận kín 98% (832)

(1076)

QHTD 49%

Chưa QHTD 51%

QHTD 3% (25)

(396)

Chưa QHTD 97% (1051)

(406)

Không biết 5 %

(21)

Có dùng BCS ở lần QHTD lần đầu 48%

Không dùng BCS 46 % (190)

(185)

Trong số những người trẻ đã từng có quan hệ tình dục đặt ra cho toàn bộ số người trong diện khảo sát thì SAVy 2 cho tỷ lệ cao hơn SAVy 1 nhưng không nhiều. Ở SAVy 1 với nam là 9,4% và với nữ là 1,3%; trong khi ở SAVy 2 con số tương ứng là 10,3% và 1,4%.

13

Những người chưa lập gia đình và đã có quan hệ tình dục lần đầu, tỷ lệ ở SAVy 1 là 71,9% với người yêu, 10% với bạn và 9,1% với gái mại dâm. Trong khi ở SAVy 2: với người yêu là 24%, với bạn là 3,7%, với gái mại dâm là 0,8%. Nếu tỷ lệ quan hệ tình dục lần đầu với gái mại dâm ở thanh niên chưa kết hôn đã giảm đi ở SAVy 2 thì đó là dấu hiệu thực sự đáng mừng, chứng tỏ giới trẻ đã

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

có ý thức về tình dục an toàn. càng đáng tin hơn khi có đến 87% số người ở SAVy 2 đã trả lời chỉ có 1 bạn tình khi được hỏi ”đã có bao nhiêu bạn tình trong 12 tháng vừa qua?” (ở SAVy 1 là 85%). có 2 bạn tình chỉ chiếm tỷ lệ 3,2%.

Qua các số liệu đã nêu, thấy rõ từ SAVy 1 đến SAVy 2, tỷ lệ quan hệ tình dục với gái mại dâm đã giảm đi và tỷ lệ chỉ quan hệ tình dục với 1 bạn tình đã tăng lên. có thể những nỗ lực tổng hợp của xã hội trong những năm qua đã đem đến kết quả này và cần được phân tích kỹ để có thể phát triển những gì hiệu quả, bổ sung những gì còn khiếm khuyết.

BảNg 5. Tỷ lệ phần trăm những người đã từng có QHTD hiện chưa có vợ/chồng

SaVy 2 (N=8366) SaVy 1 (N=6389)

Nam Nữ Nam Nữ

Thành thị 16.1% 3.0% 12.4% 1.4%

Nông thôn 8.8% 0.9% 6.8% 1.0%

Kinh/hoa 10.2% 1.6% 8.5% 0.9%

Dân tộc thiểu số 13.0% 1.1% 5.8% 2.6%

Nhóm tuổi 14 – 17 2.2% 0.5% 1.1% 0.2%

Nhóm tuổi 18 – 21 14.8% 2.1% 9.9% 1.8%

Nhóm tuổi 22 – 25 29.8% 6.1% 28.5% 3.4%

3.2 Nơi quan hệ tình dục lần đầu

Bảng 5 nêu trên cho thấy, sau 5 năm, tỷ lệ phần trăm những người chưa kết hôn nhưng đã có quan hệ tình dục ở đô thị và nông thôn đã tăng lên rõ rệt, nhất là với nam. Tỷ lệ phần trăm quan hệ tình dục theo nhóm tuổi cũng thay đổi theo số tuổi.

Với nhóm chưa lập gia đình, ở SAVy 1, quan hệ tình dục lần đầu ở nhà họ hoặc nhà bạn tình chiếm tỷ lệ 28%, trong khi ở SAVy 2 là 76,1%. Sự chênh lệch về tỷ lệ phần trăm khá lớn, có thể cho rằng sau 5 năm, mức sống nâng cao, thanh thiếu niên phần lớn đã có không gian riêng để học và tiếp đón bạn, từ đó có điều kiện thuận lợi hơn để dẫn đến quan hệ tình dục. Quan hệ tình dục lần đầu tại khách sạn (kể cả nhà nghỉ) hay công viên ở SAVy 1 chiếm tỷ lệ tương ứng là 39,4% và 8% trong khi ở SAVy 2 tỷ lệ tương ứng 17,5% và 0,8% - cũng có thể giải thích rằng do đã có không gian riêng nên thanh thiếu niên không cần lui tới khách sạn, càng không cần ra công viên.

14

Xét theo giới thì quan hệ tình dục lần đầu tại nhà của mình và nhà bạn tình cũng chiếm tỷ lệ cao nhất, tương ứng là 42,1% và 15,8% cho nam và 33,4% và 59,2% cho nữ. Quan hệ tình dục lần đầu ở nữ xảy ra ở nhà bạn tình có tỷ lệ cao rõ rệt, điều này có thể là sự nhắc nhở có ích cho các bậc

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

cha mẹ để đặt ra những giới hạn cho con gái. (hộp thoại: Năm 1994 ở Mỹ đã có cuộc phỏng vấn qua điện thoại với học sinh lớp 9 đến 12 (503 người) và đã biết rằng có đến 3/ 4 học sinh nói có quan hệ tình dục ở nhà bố mẹ, nơi các em sống chung3).

Trong điều kiện hiện nay, hầu hết các bậc cha mẹ không thể kiểm soát chặt chẽ con cái, lại vắng nhà thường xuyên (ít nhất cũng là 8 giờ hành chính), đồng thời cũng tôn trọng sự riêng tư của con cho nên ngay cả khi có nhà cũng không tự động vào buồng con cái mà không đánh tiếng trước, vì thế nhà riêng lại là nơi an toàn nhất đối với thanh thiếu niên, trong khi ra nhà nghỉ lại không tránh khỏi những con mắt dòm ngó của cộng đồng.

3.3 Quan hệ tình dục trước hôn nhân

Ở SAVy 1, phần lớn thanh thiếu niên tiếp tục có quan hệ tình dục sau lần đầu tiên, tỷ lệ là 70% (nhóm còn độc thân), ở SAVy 2 là 83%. Suy ra, số không tiếp tục có quan hệ tình dục ở SAVy 1 là 30% và chỉ còn là 15,4% ở SAVy 2 - sự cách biệt này cho thấy hành vi tình dục lần đầu ở thanh thiếu niên có xu hướng trở thành sự mở màn đời sống tình dục chứ không phải là hành vi ngẫu hứng. Thừa nhận thực tế này là căn cứ quan trọng để có kế hoạch xây dựng hành trang hiểu biết về SKSS cho thanh thiếu niên tốt hơn ngay từ trước tuổi 18. Mà một trong những việc cần hoàn thành sớm là thiết kế chương trình giáo dục giới tính (bao gồm cả kiến thức về SKSS) cho các bậc cha mẹ và nhà trường từ cấp 1.

3 Roper Starch Worldwise, Inc. Nói chuyện với vị thành niên về tình dục: Tình dục tuổi vị thành niên vào thập kỷ 90. New York:

SIECUS 1994.

15

cuộc khảo sát SAVy 2 khám phá những thái độ tình dục để tạo cơ hội so sánh với những khác biệt so với SAVy 1 từ 5 năm trước. Khởi đầu với những thái độ với tình dục trước hôn nhân, có 5 câu hỏi đặt ra để tìm hiểu về sự chấp nhận với quan hệ tình dục trước hôn nhân. các câu hỏi chỉ yêu cầu trả lời đơn giản có hay Không và dựa trên số người trả lời có mà chia ra 2 thái độ: Thoáng (nếu trả lời có ở 4 hay 5 câu hỏi) và Bảo thủ (nếu trả lời không thoáng ở 3 câu hỏi trở xuống). Bảng 6 tóm tắt kết quả trả lời các câu hỏi.

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

BảNg 6. Thái độ với tình dục trước hôn nhân phân theo dân tộc, vùng địa lý và giới

38 DTTS 49

35 Kinh/Hoa 43

34 Nông thôn 42

40 Thành thị 53

Nữ 23 30

48 Nam 58

0 50 60 30 10 20 40

SAVY 2 SAVY 1

hiên nay, thanh thiếu niên có vẻ như thoáng hơn với vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân. Bảng 7 dưới đây cho thấy tỷ lệ phần trăm số người được hỏi ở SAVy 1 và SAVy 2 đồng ý rằng quan hệ tình dục trước hôn nhân có thể chấp nhận được ở 5 tình huống. Ở những tình huống này, tỷ lệ đồng ý với quan hệ tình dục trước hôn nhân ở SAVy 2 cao hơn ở SAVy 1. điều này cho thấy xu thế chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân đang nổi lên ở giới trẻ.

SaVy 2

tình dục trước hôn nhân chấp nhận không chấp nhận

Khi 2 người tự nguyện 37% 47%

Khi 2 người yêu nhau 27% 56%

Khi 2 người sắp kết hôn 34% 47%

Khi 2 người đã trưởng thành, có hiểu biết về hậu quả 36% 45%

Khi người phụ nữ được bảo vệ 32% 48%

Mặc dù có sự thay đổi về nhận thức với quan hệ tình dục trước hôn nhân so với SAVy 1 (sau

5 năm) nhưng tới nay vẫn còn số đông chưa chấp nhận.

16

Từ thang đo tổng hợp về mức độ chấp nhận tình dục trước hôn nhân đối với SAVy2 và SAVy1 Vũ Mạnh Lợi đã phát hiện 2 thái độ: Thiên về truyền thống (gọi tắt là thái độ truyền thống) và thái độ hiện đại hơn. Kết quả: ở SAVy 2 có 44% thanh thiếu niên có “Thái độ hiện đại” trong khi ở SAVy 1 chỉ có 36%. Như vậy, số thanh thiếu niên có “thái độ hiện đại” đã tăng từ khoảng 1/3 vào

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

cuối năm 2003 (năm tiến hành SAVy 1) đến gần một nửa vào khoảng cuối năm 2008, đầu năm 2009 (thời gian tiến hành SAVy 2).

Tuy nhiên, xét riêng SAVy 2, xu thế không chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân ở cả 5 tình huống cho tỷ lệ cao hơn so với số người chấp nhận.

Trong khi giữa dân thành tộc và thị/nông thôn sự khác biệt là không nhiều về thái độ với tình dục trước hôn nhân thì sự khác biệt giới với vấn đề này là 30% ở nữ có thái độ ”thoáng” (so sánh với 23% ở SAVy1) so với 58% ở nam (ở SAVy 1 là 48%). Sự thay đổi lớn nhất về thái độ là theo tuổi tác, bảng 8 cho thấy thái độ thoáng của thanh thiếu niên với tình dục trước hôn nhân tăng dần theo tuổi.

60%

54%

51%

50%

43%

33%

40%

36%

31%

BảNg 8. Mối liên quan giữa tuổi và thái độ với quan hệ tình dục trước hôn nhân

30%

20%

10%

0%

Tuổi 14 - 17 (xanh) Tuổi 18 - 21 (nâu) Tuổi 22 - 25 (vàng)

SaVy 2

SaVy 1

17

Một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến thái độ là cảm nhận của những người xung quanh về những người có quan hệ tình dục trước hôn nhân; giống như SAVy 1, SAVy 2 đã tìm hiểu vấn đề này. điều nhận thấy là có sự gia tăng về nhận thức (có thể hoặc không phản ánh sự thay đổi về

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

hành vi) rằng thanh thiếu niên trong cộng đồng có xu hướng quan hệ tình dục trước hôn nhân, tuy nhiên có tỷ lệ phần trăm tương đối lớn thanh thiếu niên ở SAVy 2 đã trả lời không biết về những người có quan hệ tình dục trước hôn nhân (38%), điều đó có nghĩa là kết quả khảo sát cần được lý giải một cách thận trọng.

BảNg 9. Tỷ lệ phần trăm ý kiến cho biết ở cộng đồng nơi họ sống nam/nữ thanh niên

chưa lập gia đình đã có quan hệ tình dục

SAVy2 (N=10044) Biết nam Biết nữ có QhTD có QhTD SAVy1 (N=7584) Biết nam Biết nữ có QhTD có QhTD

Không có ai 13% 16% 25% 29%

Rất ít 19 % 21% 26% 27%

Vài người 17% 15% 17% 16%

Nhiều người 12% 8% 8% 5%

hầu hết 1% 0,4% 1% 0,3%

38% Không biết 41% 24% 24%

3.4 Những thay đổi ở quan hệ tình dục trước hôn nhân từ SAVY 1 đến SAVY 2.

Bảng trên cho thấy nhận xét của thanh thiếu niên về quan hệ tình dục trước hôn nhân ở nơi mình cư trú là không nặng nề (số người trả lời là nhiều hoặc hầu hết có tỷ lệ thấp) hoặc tỏ ra ít quan tâm tới chuyện riêng tư của những người cùng độ tuổi trong cộng đồng (SAVy 2 có tỷ lệ trả lời “không biết” cao nhất và hơn khá nhiều so với SAVy 1); những nhận định đó cũng giống như ở SAVy 1. Và cảm nhận về mức độ phổ biến của tình dục trước hôn nhân trong nam/nữ thanh niên chưa lập gia đình ở cả 2 cuộc điều tra về cơ bản không khác nhau nhiều lắm kể cả giữa nông thôn và thành thị, giữa người Kinh/hoa và người dân tộc.

Khi xem xét những thay đổi ở hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân sau 5 năm, kể từ SAVy 1, ta thấy có tăng về tỷ lệ phần trăm ở cả nam và nữ (bảng 10). Tuy nhiên, khi so sánh những số liệu này với các nước khác trong khu vực đông Nam á thì thấy vẫn thấp hơn nhiều. hơn nữa, trong số những người có quan hệ tình dục trước hôn nhân, 3 / 4 nói rằng họ đã có quan hệ tình dục với người vợ chưa cưới.

18

Lưu ý, SAVy 1 nhận định về quan hệ tình dục trước hôn nhân (mục 4.6, sách điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam, tr. 42,) tỏ ra khắc nghiệt hơn, cho rằng các phương tiện thông tin đại chúng cộng với tư tưởng hay hoang mang của người lớn có thể là những tác nhân góp phần thổi phồng sự thực (về thanh thiếu niên có hoạt động tình dục và các hành vi nguy cơ cao hơn nhiều so với các số liệu chính thức của cuộc điều tra) và cần có bằng chứng xác thực để bác bỏ các thông tin sai lệch.

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

BảNg 10. Thay đổi về tỷ lệ phần trăm ở những người chưa kết hôn nhưng đã từng có quan

hệ tình dục ở SAVY 2 và 1.

SaVy 2 (N=8366) SaVy 1 (N=6389)

Nam Nữ Nam Nữ

Thành thị 16.1% 3.0% 12.4% 1.4%

Nông thôn 8.8% 0.9% 6.8% 1.0%

Kinh/hoa 10.2% 1.6% 8.5% 0.9%

Dân tộc thiểu số 13.0% 1.1% 5.8% 2.6%

Nhóm tuổi 14 – 17 2.2% 0.5% 1.1% 0.2%

Nhóm tuổi 18 – 21 14.8% 2.1% 9.9% 1.8%

Nhóm tuổi 22 – 25 29.8% 6.1% 28.5% 3.4%

Tuy nhiên, không cần tìm đâu xa, chỉ cần lướt qua các website trong nước cũng thấy khá nhiều thông tin trái ngược với nhận định nêu trên và những thông tin ấy lại từ nhiều nguồn có uy tín (đoàn Thanh niên, Who, uNIcEF…).

cũng không phải không có cơ sở thực tế khi chiến lược quốc gia về SKSS của Việt Nam, giai đoạn 2001 – 2010, Bộ y tế, đã chú trọng đến việc thông tin và tư vấn về phát triển tình dục an toàn, cung cấp dịch vụ có chất lượng để phòng ngừa thai nghén không mong muốn, nạo phá thai không an toàn và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

3.5 Bạn tình

SAVy 1 và 2 là hai cuộc điều tra lớn về thanh thiếu niên, những dữ liệu thu được là đáng tin cậy nhưng dù sao cũng cần xem xét những nhận định từ những nghiên cứu khác, nhất là khi có nhận định trái ngược vì có thể làm cho chiến lược sức khoẻ cho thanh thiếu niên bị lạc hướng. đưa ra những nhận định đúng trong một số vấn đề luôn có tính thách thức, cần có sự hợp tác của nhiều nhà khoa học, cũng cần cả những khảo sát sâu rộng hơn trong tương lai.

19

Tỷ lệ có bạn tình không khác biệt nhiều giữa SAVy 1 và 2 hay chỉ tăng ít nhưng điều đó cũng phù hợp với xu thế toàn cầu là người trẻ có bạn tình sớm, do đó cũng sớm có hoạt động tình dục. Ở SAVy 1: Tỷ lệ có bạn tình ở nam là 31,8%, nữ 30,2%; ở SAVy 2, tỷ lệ tương ứng là 35,7% và 31,3%.

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

3.6 Sống thử, nên hay không nên ?

Tính trên toàn mẫu của SAVy 2, 34% số người được hỏi đã trả lời có bạn tình nhưng số người sống chung với nhau chỉ có 16%; 92% đã từng hẹn hò. Tuổi có bạn tình của thanh thiếu niên hay tuổi hẹn hò chưa được xác định ở cả 2 cuộc khảo sát. Vấn đề sống chung hay sống thử sẽ bàn luận thêm ngay sau đây.

Vấn đề này đã có một số khảo sát và bàn luận. Ví dụ: Tọa đàm “Sức khỏe sinh sản – hành trang của giới trẻ” do T.Ư hội sinh viên Việt Nam phối hợp với Bộ y tế tổ chức những ngày giữa tháng 6 tại đại học y Dược TP.hcM, thu hút sự quan tâm của sinh viên các trường đại học cần Thơ, đà Nẵng, Tây Nguyên, y Dược TP.hcM.

Nhóm điều tra đề tài “Sống thử và quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên” cho biết trong năm 2008 đã khảo sát hơn hơn 8.000 sinh viên tại Trường đại học cần Thơ và hơn 4.000 sinh viên ở các trường đại học khác tại TP.hcM và các tỉnh Tây Nguyên.

Kết quả cho thấy, tỷ lệ sinh viên đồng ý với việc sống thử và quan hệ tình dục trước hôn nhân ngày càng cao, có xu hướng tăng lên ở một số khu vực nội thành đô thị lớn. Với câu hỏi “Bạn có muốn sống thử?”, 73% bạn nam được hỏi trả lời có, hơn 61% bạn nữ cùng quan điểm muốn sống thử trước hôn nhân.

Theo một khảo sát khác của Viện Khoa học Xã hội TP.hcM và T.Ư đoàn TNcS hcM tại 5 trường đh tại TP.hcM và 3 trường đh tại hà Nội, (thực hiện năm 2007), chỉ có khoảng gần 30% sinh viên phản đối quan hệ tình dục trước hôn nhân. Số còn lại chấp nhận, coi đó là việc bình thường hoặc đánh giá đó là việc không tốt, nhưng cũng không phản đối.

Tại sao những cặp yêu nhau muốn "sống chung trước hôn nhân"?

Lý do kinh tế: Giải pháp "góp gạo thổi chung" giảm được nhiều chi phí (hẹn hò, đưa đón...). Lí do trốn hẹn hò cũng chỉ nhằm mục đích kinh tế: điều này thực tế và quan trọng... mà không thấy các nhà nghiên cứu xã hội học nói đến. Vào quán, đến nhà nghỉ mãi thì tốn kém, ra công viên thì nhiều bất tiện…

Lý do tình cảm: được "bên nhau" mỗi ngày, động cơ "sống chung trước khi cưới" mạnh nhất phía con trai. đây là thời gian Test để xem có hợp nhau không. Vậy trong thời gian này, tình yêu sẽ nảy nở từ cuộc sống chung và từ sự hòa hợp tình dục hay ngược lại, phải

"Sống thử"... được gì và mất gì?

Thực tế cho thấy, con trai chẳng mất gì cả. họ được rất nhiều... Nếu nói, phần lớn con trai muốn sống chung để được "yêu" thoải mái khi có nhu cầu, được "cơm canh" ngon miệng... thì đúng là họ chẳng mất gì cả. Nếu có thể đem ra cân đo, đong đếm cho và Nhận... thì con trai vẫn được hơn nhiều.

20

còn với con gái: Thương hiệu bị "giảm giá"... vì là hàng "second-hand". Nếu chàng trai đến sau mà biết chuyện... thì lại thành "vấn đề" cho cả hai khi họ không tán thành chuyện "sống chung". Nguy cơ đổ vỡ một lần nữa...Nếu lỡ có thai ngoài ý muốn, rồi nạo phá thai thì... hệ lụy vô cùng.

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

đã có nhiều ý kiến trái chiều về vấn để sống thử và vẫn chưa đến hồi kết, vậy rõ ràng đã trở

3.7 Mại dâm

nên cần thiết và xứng đáng cho một nghiên cứu nghiêm túc khác đầy đủ, toàn diện hơn.

Nhận định chung: Trong mẫu SAVy 2 có 16,7% thanh niên đã lập gia đình (SAVy 1 là 15,8%). Trong những thanh niên chưa lập gia đình chỉ có 5,5% cho biết đã từng có hoạt động tình dục (SAVy 1 là 4,9%). Như vậy, số người đã từng có hoạt động tình dục ở SAVy 2 chỉ là 22%, nhiều hơn đôi chút so với SAVy 1 là 20% và trong số những người đã từng có hoạt động tình dục thì số người có quan hệ tình dục với người bán dâm ở cả 2 cuộc khảo sát khá hiếm, chỉ có 3,2% (70 người) ở SAVy 2 cho biết họ đã từng trả tiền hay hiện vật cho ai đó để quan hệ tình dục với người đó (ở SAVy 1 là 79 người, chiếm 5,2%). hầu hết những người này là nam (69 nam, chỉ có 1 nữ), ở SAVy 1, 79 người đều là nam.

Trong số những người đã từng có hoạt động tình dục với gái mại dâm, tỷ lệ sống ở đô thị cao hơn ở nông thôn (6 % so với 3%); tỷ lệ ở người Kinh/hoa cao hơn dân tộc thiểu số (tương ứng là 3,7% /71 người so với 1,5% /11 người) và tỷ lệ có trình độ cao học/đại học là 8.5%, cao hơn các nhóm học vấn khác như trung học phổ thông, trung học cơ sở và tiểu học ( tương ứng là 4.5%, 2.1% và 1.7%).

Ở SAVy 2, tỷ lệ những người đã từng quan hệ tình dục với người bán dâm cũng rất nhỏ, chỉ 3,7% (82 người), ở SAVy 1 tỷ lệ này là 5,3%. Tuyệt đại đa số họ là nam (81 người) và số đông (72 người) cho biết có sử dụng BcS trong lần quan hệ tình dục gần đây nhất với người bán dâm. Trong 9 người không sử dụng BcS, có 2 nam cho biết vì không chuẩn bị sẵn, 3 nam cho biết vì không thích dùng BcS, 1 nam cho biết vì ngượng không dám đi mua BcS, số còn lại có lý do khác.

Một số câu hỏi liên quan đến thái độ chấp nhận với hành vi bán dâm (bảng 11 và 12) phản ánh sự thay đổi thái độ ở những người trẻ. Khoảng 1 / 3 số người trẻ tin rằng có thể có những hoàn cảnh mà việc bán dâm có thể chấp nhận được

Khi tìm hiểu xem những người trẻ nào có thái độ thoáng hơn về hành vi bán dâm, ta thấy có sự khác biệt giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa học sinh trung học và đại học nhưng nhìn chung không có khác biệt lớn.

Nhìn chung, thái độ nhìn nhận về hành vi bán dâm thay đổi rất ít sau 5 năm kể từ SAVy1 đến SAVy 2.

Ở SAVy 1, tỷ lệ những người trẻ lên án hành vi bán dâm (coi bán dâm là vô đạo đức) là 57%

với nam và 58% với nữ, ở SAVy 2 tỷ lệ tương ứng là 56% và 57%.

Tỷ lệ những người có thái độ thoáng với hành vi bán dâm là 19,8% (xem bảng 11) trong số

người tỏ ra có thái độ nghiêm khắc với hành vi này là hơn một nửa (cả SAVy 1 và 2).

21

Ở cả 2 cuộc khảo sát, không phải tất cả những người trẻ đều nghĩ rằng bán dâm là “vô đạo đức”, điều này phản ánh sự thay đổi cách suy nghĩ của những người trẻ về vấn đề phức tạp này. Ở SAVy 2, 23% số người trẻ cảm thấy không chắc chắn khi kết luận như vậy, 20% còn lại không đồng ý với nhận định khắt khe đó, có thể theo họ bán dâm có thể thông cảm được trong một số hoàn cảnh nhất định.

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

BảNg 11. Những yếu tố đi kèm với thái độ đối với hành vi bán dâm.

Bảo thủ trung gian Thoáng tổng

18% (1744) 63% (5784) 19% (1892) 9420 tổng số (9740)

Trình độ học vấn

cấp 1 trở xuống 33% 63% 4%

Trung học cơ sở 38% 59% 3%

Trung học phổ thông 39% 56% 4%

đại học 31% 59% 10%

Khu vực

Thành thị 31% 61% 8%

Nông thôn 39% 57% 3%

Nhóm tuổi

14 – 18 43% 53% 4%

18 – 21 33% 62% 5%

22 – 25 31% 63% 6%

Dân tộc

Kinh 37% 58% 5%

Dân tộc thiểu số 40% 57% 3%

BảNg 12. Sự thay đổi thái độ đối với hành vi bán dâm

SaVy 2 SaVy 1

tỷ lệ những người trả lời đồng ý với các câu hỏi dưới đây Nam Nữ Nam Nữ

Bán dâm chấp nhận được trong một số hoàn cảnh 33% 32% 45% 42%

34% 33% 40% 38% Bán dâm xấu hay không xấu có tuỳ thuộc vào quan điểm của mỗi người

Bán dâm là vô đạo đức 56% 57% 57% 58%

Tổng số 5109 4928 3795 3789

22

Kết quả phân tích nhiều khía cạnh khác nhau của hành vi bán dâm ở 2 cuộc khảo sát cho thấy mức độ chấp nhận và độ lượng phụ thuộc vào hoàn cảnh của từng trường hợp cụ thể chứ không phải mọi hành động bán dâm đều được đánh giá giống nhau. Liệu có thể nói rằng giới trẻ nhìn nhận hành vi này nghiêm khắc hơn sau 5 năm? các nhà xã hội học có thể làm rõ hơn khía cạnh này, đồng thời cũng có thể dự đoán rằng quan điểm này còn có thể thay đổi theo sự phát triển văn hoá-kinh tế của xã hội, bằng chứng là ở nhiều nước công nghiệp phát triển quan điểm về mại dâm khác với nước ta hiện nay.

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

3.8 Tình dục đồng giới và rối loạn bản sắc giới

Không biết về tình dục đồng giới (TDđG) tương tự ở cả 2 cuộc khảo sát, tính chung cả nước thì ở SAVy 1 là 40%, ở SAVy 2 là 36,6% - không thay đổi mấy, điều đó chứng tỏ nhận thức của cộng đồng về xu hướng tính dục này không được cải thiện bao nhiêu.

Ở SAVy 1 tỷ lệ nam trả lời không biết về TDđG là 35,7%, nữ là 37,7%; trong khi ở SAVy 2 tỷ

lệ tương ứng là 37,7% và 35,4%.

có hiểu biết về TDđG ở thanh thiếu niên chiếm tỷ lệ 59% ở SAVy 1 (62% nam và 56% nữ); tỷ lệ này tăng lên chút ít ở SAVy 2: 63% (62% nam và 65% nữ), khoảng 2 / 3 số người được hỏi.

Người sống ở thành thị biết về TDđG nhiều hơn người sống ở nông thôn (72% ở thành thị và 61% ở nông thôn), và người Kinh/hoa biết về TDđG nhiều hơn người DTTS (67% ở người Kinh/hoa và 44% ở người DTTS).

có hiểu biết về TDđG cũng tăng theo tuổi nhưng không nhiều, khoảng 60% ở nhóm tuổi

14 - 17 tăng lên 65% ở nhóm tuổi 18 - 21 và tăng đến 68% ở nhóm tuổi 22 - 25

Sự khác biệt trong hiểu biết về TDđG thể hiện rõ hơn ở trình độ học vấn. Những người chưa bao giờ đi học chỉ có 12% biết về TDđG so với nhóm có trình độ đại học là 86% Ở trình độ tiểu học số người có hiểu biết về TDđG là 37%, ở trung học cơ sở là 55%, ở trung học phổ thông là 73%.

Khi được hỏi về xu hướng tính dục, chỉ có một phần ba số người trên 18 tuổi trả lời, khoảng 6% (6,5% là nam và 6,2% là nữ) cho biết có hấp dẫn tính dục với người cùng giới. Xu hướng tình dục đồng giới nam có tỷ lệ xem ra phù hợp với các khảo sát khác trên thế giới tức khoảng 1% nhưng với các xu hướng tính dục khác chỉ có tính chất tham khảo vì Tính dục người (human sexuality) không phải là trọng tâm khảo sát của SAVy 2.

Tỷ lệ biết về TDđG tương đối hạn chế nhưng sự kỳ thị hay không chấp nhận hành vi tình dục này cũng cao ở cả 2 cuộc khảo sát. cụ thể là trên 4 /5 số người trẻ được khảo sát ở cả 2 cuộc khảo sát đều phản đối hành vi này (SAVy 1 là 80,2% và ở SAVy 2 là 84,1%). Ở SAVy 2 có tới 92,1% cho biết Không có bạn là người có xu hướng TDđG (SAVy 1 cũng cao tương tự). Tất cả những dữ liệu đó cung cấp bằng chứng về sự kỳ thị của cộng đồng với xu hướng TDđG, trở thành lí do để nhóm dân số này không dám lộ diện và như vậy không được hưởng sự quan tâm của xã hội về mặt tiếp cận hiểu biết để phòng tránh các nguy cơ lây nhiễm hIV.

Thái độ kỳ thị với người TDđG xem ra không phù hợp với xu thế chung toàn cầu vì ngày nay do hiểu rõ hơn về xu hướng TDđG, một thực thể có nguồn gốc sinh học chứ không phải sự suy đồi về đạo đức hay sự lựa chọn của cá thể cho nên nhiều nước phát triển trên thế giới đã có thái độ dung nạp hơn, coi đó là xu hướng của một số người hạn chế, là nạn nhân của một cấu trúc sinh học chứ không phải là xu hướng bệnh hoạn, phi đạo đức và họ hoàn toàn không có hại cho cộng đồng.

23

Về xu hướng TDđG, cần có cách nhìn rộng trên phạm vi toàn cầu cũng như xuyên suốt chiều dài lịch sử của nhân loại để hiểu thái độ của cộng đồng với các xu hướng tình dục khác nhau, cụ thể là đối với xu hướng tình dục đồng giới – một xu hướng gây rất nhiều bàn cãi từ xưa đến nay. có thể

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

thấy các cộng đồng ở các châu lục có sự nhìn nhận rất khác nhau về TDđG nhưng thái độ của các nền văn hoá với xu hướng tính dục này đã cởi mở hơn nhiều theo thời gian và theo sự tiến bộ của xã hội; có thể nói, càng văn minh thì xã hội loài người càng tỏ ra dung nạp hơn với mọi xu hướng tính dục và như vậy càng tiếp cận hơn với quyền con người.

Trong tương lai, cũng cần có một khảo sát rộng và sâu hơn về chủ đề bản sắc giới và tình dục như nhiều nước phát triển đã làm từ lâu (Kinsey report…) để có những khám phá toàn diện hơn về con người. Ví dụ năm 2002, cơ quan thống kê y tế quốc gia ở Mỹ đã tiến hành cuộc khảo sát và phát hiện có 1,8% nam giới độ tuổi 18-22 tự coi mình là người lưỡng tính dục, 2,3% tự coi có xu hướng tình dục đồng giới và 3,9% thấy mình “có cái gì đó khang khác” (something else). cũng ở cuộc khảo sát này, 2,8 phụ nữ độ tuổi 18 - 44 tự coi mình là lưỡng tính dục, 1,3 % tự coi là tình dục đồng giới và 3,8% tự thấy “khang khác”. (Nguồn Wikipedia, Bisexuality). Nước ta còn chưa có nhiều những khảo sát về nguy cơ sức khỏe và nhu cầu của những người có xu hướng tình dục đồng giới, lưỡng tính dục hay có vấn đề về bản sắc giới - những người cảm thấy mình thuộc giới đối lập (là nam/nữ về sinh học nhưng lại thích mình là giới đối lập đến mức nhiều người có nguyện vọng được chuyển giới, thể cực đoan nhất của rối loạn bản sắc giới. y học đã thừa nhận trạng thái này và nhiều nước đã cho phép chuyển giới. Những người thấy mình thuộc giới khác (transgender) có biểu hiện đa dạng về xu hướng tính dục, có thể khác giới, đồng giới, lưỡng tính dục hay không có hấp dẫn với giới nào cả (asexual). Tuy nhiên, Nghị định 88/2008/ND-cP (có tên là nghị định về xác định lại giới tính), trong đó điều 4 nghiêm cấm quyền chính đáng của một bộ phận dân số không nhỏ nên cần xem xét về tính khoa học và chính đáng của nghị định này.

hành vi nghiêm cấm đầu tiên của Nghị định (điều 4) là không được thực hiện việc chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính. câu này có nghĩa là những người đã có đủ các yếu tố để coi là nam hay nữ (có giới gien học là XX hoặc Xy; có cơ quan sinh dục ngoài và trong thuộc nam hay nữ) không thuộc diện được xác định lại giới tính. điều này mới là đáng bàn nhất vì trong thực tế không thể bỏ qua được một hình thái bệnh lý của một bộ phận dân số hoàn toàn bình thường về giới gien học, được khai sinh ngay khi đẻ ra là trai hay gái, cơ thể hoàn chỉnh cả trong lẫn ngoài, chỉ có bản sắc giới là không bình thường và có tên y học là rối loạn bản sắc giới (gender identity disorder). chính bộ phận dân số này mới là đối tượng chủ yếu của quyết định chuyển giới. Nhiều người trong số những người bị khuyết tật bẩm sinh về giới tính nếu có biểu hiện rối loạn bản sắc giới cũng có nhu cầu chuyển giới và tất nhiên cần tạo hình lại cơ quan sinh dục.

Vậy quyền chính đáng của một bộ phận dân số nếu không được xã hội công nhận là sự bạo

3.9 Bạo hành tình dục

hành tinh thần với họ.

Bạo hành gia đình đã được bàn luận ở phần Thương tích cố ý trong báo cáo chung nhưng thông

tin về bạo hành tình dục lại rất ít ở SAVy 1 và 2.

24

Ở SAVy 2, chỉ có 21 trong số người được hỏi (0,9%) đã trả lời “có bị ép buộc quan hệ tình dục”, trong số này 9 người là nam và 12 người là nữ, 6 người ở thành thị và 15 người ở nông thôn;

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

và đa số trên 18 tuổi (20 người). Những phát hiện này có phần gây ngạc nhiên vì trên văn liệu nạn nhân bị bạo hành tình dục chủ yếu là nữ.

Một số dữ liệu liên quan đến bạo hành giữa vợ chồng xảy ra trong 12 tháng trước cuộc khảo sát đã được nêu và phân tích nhưng không thể xác định được trong số bạo hành đó có tỷ lệ phần trăm nào liên quan đến bạo hành tình dục.

Ví dụ, trong số 1678 trường hợp đã từng kết hôn, 4,1% trả lời đã từng bị chồng/vợ đánh. Nạn nhân chủ yếu là nữ, với tỷ lệ 5,8%, nam bị vợ đánh, tỷ lệ chỉ là 1,0%. So với SAVy1 thì tỷ lệ nữ bị chồng đánh không giảm (cũng là 5,8%).

4. Sức khỏe sinh sản

4.1 Hiểu biết về bệnh lây truyền theo đường tình dục (LTTD)

Khu vực thành thị, tỷ lệ vợ từng bị chồng đánh cao hơn ở nông thôn (SAVy 2: 8,4% so với 5,3%), thậm chí cao hơn so với SAVy 1 (6,8% ở khu vực thành thị). chỉ báo này cho thấy vấn đề bạo lực gia đình vẫn còn rất cần được quan tâm, dù Luật phòng chống bạo lực gia đình ban hành từ 12/2007 và đến thời điểm khảo sát của SAVy 2 đã có hiệu lực.

có thể cho rằng sự hiểu biết về các bệnh LTTD không thay đổi sau 2 lần điều tra và còn cần nhiều nỗ lực để nâng cao nhận thức trong cộng đồng về các bệnh LTTD. điều tra ở Việt Nam về nhận thức với các bệnh LTTD cũng có nhận định rằng “kiến thức của VTN/TN về các bệnh LTTD vẫn còn chưa sâu vầ đầy đủ, mới là những kiến thức bề mặt. Nếu không có kiến thức thì cũng không phòng tránh được cũng như không không khắc phục được những hậu quả dù là với những bệnh có mức độ nguy hiểm không cao…”.

Ở SAVy 2 đã có một số câu hỏi để tìm hiểu những người trẻ đã có hiểu biết về các bệnh LTTD

· Nói chung, những người trẻ có ít hiểu biết về các bệnh LTTD.

·

như thế nào và nhìn nhận chung là những người trẻ có hiểu biết ít về các bệnh LTTD. cụ thể là:

· Những người trả lời đã nghe nói đến các bệnh LTTD sau: Viêm gan virus B (71%), giang mai (64%), Lậu (62%).

25

Sự hiểu biết có tăng theo nhóm tuổi nhưng nhìn chung vẫn còn thấp.

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

· Không đến 1/ 3 số người trả lời đã nghe nói đến các bệnh LTTD sau: Viêm âm đạo do nấm

và chlamydia (24%), hạ cam (7.6%), u sùi (11%) và viêm âm đạo do trichomonas (28%).

Viêm gan B là bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTTD) được nghe đến nhiều nhất ở SAVy 2, tỷ lệ chung toàn mẫu là 69,4%, nhóm tuổi 22-25 có tỷ lệ cao nhất là 71,3%; nhóm tuổi 18-21: 69,9%; nhóm tuổi 14-17: 68,2%. SAVy 1 cũng có số liệu tương tự, tỷ lệ chung nghe nói về bệnh này là 72,2%, nhóm nam nữ thành thị cao hơn cả (81%).

Nấm và chlamydia là 2 loại bệnh khác nhau, một do nấm và một do vi khuẩn, SAVy 2 đã gộp chung 2 bệnh và có tỷ lệ được nghe nói đến là 24%. cần tách ra để biết bệnh nào phổ biến hơn. Thật ra người hỏi cũng khó trả lời chính xác nếu như không có xét nghiệm xác định nguyên nhân gây bệnh (thường là viêm âm đạo ở nữ) trong khi không phải bệnh viện nào cũng làm được xét nghiệm tìm chlamydia.

SAVy1 SAVy2

Nghe nói về Giang mai 61,9% 62,5%

Lậu 62,8% 61,2%

Trùng doi 24,5% 27,5%

Mụn giộp 20,4% 24,6%

Sùi mào gà 21,8% 26,6%

để biết rõ hơn những người trẻ nào có ít hiểu biết về các bệnh LTTD, những người này được chia thành 3 nhóm: có hiểu biết ít (từ 2 bệnh trở xuống), có hiểu biết trung bình (3-4 bệnh) và có hiểu biết cao (từ 5 bệnh trở lên). Khi so sánh nhóm có hiểu biết thấp với các nhóm khác, ta thấy học vấn cao hơn thì tỷ lệ kém hiểu biết về các bệnh LTTD cũng giảm đi. Thanh thiếu niên thành thị có hiểu biết về các bệnh LTTD cao hơn thanh thiếu niên nông thôn nhưng không có sự khác biệt về dân tộc hay giới (bảng 13).

Khi tìm hiểu mối quan hệ giữa những người được GDGT ở nhà trường và sự hiểu biết về các bệnh LTTD, ta thấy có mối tương quan mạnh và dương tính (bảng 14). Rõ ràng là việc GDGT ít nhất cũng tạo ra sự khác biệt về nhận thức đối với các bệnh LTTD. Nhìn chung, 61% số người trẻ đã được cung cấp hiểu biết về SKSS (38% không được học). Những người trẻ sống ở thành thị có cơ hội nhận được thông tin nhiều hơn về SKSS hơn những người trẻ ở nông thôn (68,7% so với 58,9%). Nữ cũng có cơ hội nhiều hơn nam được giáo dục về SKSS hơn nam (65,9% so với 57,1%).

26

Trên thực tế, điều cần lưu ý các thầy thuốc thực hành là bệnh phụ khoa thường gặp nhất lại chính là viêm âm đạo (do nấm chiếm tỷ lệ cao nhất) và sự dễ tái diễn của bệnh này, có nguyên nhân từ hiểu biết hạn chế về vệ sinh phụ nữ và đời sống tình dục vợ chồng. cũng cần có chương trình tầm soát bệnh viêm âm đạo do virut gây u sui (hPV) ở phụ nữ trẻ vì là nguyên nhân dẫn đến ung thư cổ tử cung sau này.

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

BảNg 13. Đặc điểm ở những người trả lời có hiểu biết về các bệnh LTTD.

tổng

100% (N) tỷ lệ hiểu biết ít về các bệnh lTTD (trả lời đúng 0 -2) tỷ lệ hiểu biết trung bình (trả lời đúng 3 – 4 ) hoặc cao (trả lời đúng 5 – 6)

học vấn

Không được học 88% (17) 12% 100% (16)

Tiểu học (cấp 1) 71% (912) 29% 912

cấp 2 cơ sở 52% (3585) 48% 3585

cấp 3 trung học 28% (680) 72% 4102

đại học 10% (137) 90% 1414

Dân tộc

Kinh 33% (2679) 79% 8021

Dân tộc thiểu số 34% (895) 66% 2022

Khu vực

Thành thị 27% (591) 73% 2236

Nông thôn 37% (2983) 63% 7808

Giới

Nam 36% (1839) 64% 5063

Nữ 35% (1735) 65% 4981

BảNg 14. Hiểu biết về các bệnh LTTD và giáo dục về SKSS

hiểu biết ít về các bệnh lTTD hiểu biết trung bình về các bệnh lTTD hiểu biết cao về các bệnh lTTD

50% 64% 73% được giáo dục về SKSS ở nhà trường

50% 36% 27% Không được giáo dục về SKSS ở nhà trường

4.2 Hiểu biết và thái độ đối với các biện pháp tránh thai.

Tổng số (9804) 3378 4022 2404

27

Tính chung cả nước hay xét theo giới, theo nhóm tuổi, theo dân tộc thì tỷ lệ biết về các biện pháp tránh thai đều rất cao, trung bình từ 4 biện pháp trở lên (bảng 9.2.1, sách SAVy2 Việt Nam), sự hiểu biết về các biện pháp tránh thai cũng tăng lên theo nhóm tuổi. hầu như mọi người được

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

hỏi đều biết một biện pháp tránh thai nào đó (trên 97%). Tuy nhiên, sử dụng hiểu biết về tránh thai trong trong thực tế như thế nào và các biện pháp tránh thai có đáp ứng nhu cầu không mới là điều quan trọng nhất. Một số biện pháp tránh thai thường được VTN và người trẻ sử dụng vì thích hợp với đặc thù về hoạt động tình dục của họ (ngẫu hứng, không chuẩn bị).

Biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên: Bao cao su (BcS) vẫn là hỗ trợ hàng đầu cho nam (72,7%) nhưng viên tránh thai khẩn cấp cho nữ lại có tỷ lệ sử dụng không cao (chỉ 4,5%).

Ngoài ra, trong lần quan hệ tình dục đầu tiên, xuất tinh ngoài âm đạo có tỷ lệ 10,7%, tính vòng kinh 2,3%. Thuốc tiêm tránh thai, que cấy tránh thai dưới da xem như không có vai trò trong lần đầu quan hệ tình dục.

Biện pháp tránh thai hiện tại được sử dụng nhiều nhất: Tính chung cả nước BcS vẫn đứng hàng đầu với 42,9%, tiếp theo là DcTc 26,5%, thuốc uống tránh thai 18,8%, xuất tinh ngoài âm đạo 7,7%, tính vòng kinh 2,0%, viên tránh thai khẩn cấp 1,8%.

Nguồn thông tin về các biện pháp tránh thai: hầu hết thanh thiếu niên trong SAVy 2 đã nghe nói về mang thai hay KhhGđ qua các nguồn thông tin khác nhau. chỉ có 7% người được hỏi trong SAVy 2 cho biết họ chưa nghe về chủ đề này từ nguồn nào.

BảNg 15. Tỷ lệ phần trăm các nguồn thông tin về mang thai/KHHGĐ (SAVY 2)

TV: 65%. Nhân viên y tế, dân số: 14%

Sách báo, tạp chí: 47% Bạn bè hay người yêu: 12%

Vợ/chồng: 30% Internet: 8%

Radio: 27% Không nghe từ bất cứ nguồn nào: 7%

Loa truyền thanh: 21% Bố: 3%

Thầy cô giáo: 19% Trung tâm tư vấn: 3%

Mẹ: 15% các câu lạc bộ: 1%

4.3 Hiểu biết và thái độ đối với sử dụng bao cao su

Bảng trên cho thấy những nguồn thông tin cần phát triển để nâng cao hiểu biết về các biện pháp tránh thai. Kết quả điều tra ở SAVy 1 cho thấy hầu hết thanh thiếu niên (97%) biết ít nhất một biện pháp và trung bình biết đến 5,6/10 biện pháp tránh thai (ở SAVy 2 trung bình biết 4/8 biện pháp). Ở SAVy 2 cũng vậy, tuyệt đại đa số người được hỏi biết về thuốc uống tránh thai (92%) và bao cao su (95%).

28

SAVy 2 khảo sát sự hiểu biết về BcS thông qua nhiều câu hỏi, đồng thời phát hiện các thái độ đối với việc tiếp cận sử dụng BcS (những lí do sử dụng và không sử dụng). Ý nghĩa của những thái độ này giúp khám phá những cản trở trong nỗ lực giảm tỷ lệ thai nghén không mong muốn và các

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

BảNg 16. Tỷ lệ % biết về các biện pháp tránh thai

Biện pháp tránh thai SaVy2 SaVy 1

Nam Nữ Nam Nữ

Tính vòng kinh 30% 47% 29% 52%

Xuất tinh ngoài 59% 68% 35% 33%

Tránh thai khẩn cấp 56% 52% 28% 32%

Bao cao su 95% 94% 96% 92%

Thuốc uống tránh thai 89% 94% 78% 82%

Dụng cụ tử cung 64% 78% 79% 87%

bệnh LTTD. có thể thấy 3 lí do chính ở bảng 17 khiến những người trẻ không chịu dùng BcS: cảm thấy xấu hổ khi hỏi mua – Sợ bị người quen nhìn thấy – Bao cao su không sẵn có.

BảNg 17. Cản trở ảnh hưởng đến sử dụng BCS phân chia theo giới

Nam Nữ

cản trở chính Xấu hổ 68% 51% Sợ bị nhìn thấy như đang làm một việc xấu

cản trở thứ 2 49% Xấu hổ 55% Sợ bị nhìn thấy như đang làm một việc xấu

cản trở thứ 3 BcS không sẵn có 32% BcS không sẵn có 38%

Tiếp cận BcS

100%

80%

60% 40%

20%

0%

Chợ

Hiệu thuốc

Khách sạn

Bạn bè

Cơ sở Y tế

Cán bộ Y tế

Quầy thuốc đường phố

Tuyên truyền viên đồng đẳng

29

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

So với SAVy 1, VTN và những người trẻ ở SAVy 2 nói chung có hiểu biết và thái độ tích cực

hơn về sử dụng BcS. Bảng 18 tóm tắt hiểu biết và thái độ sử dụng BcS.

Tìm kiếm BcS ở đâu? Những người trẻ cho biết hiệu thuốc, cơ sở y tế và cán bộ y tế là những nguồn chính để có BcS. Không có sự khác nhau lớn giữa nam và nữ (82% ở hiệu thuốc, 85% ở cơ sở y tế và 69% ở cán bộ y tế). Xem bảng dưới đây.

BảNg 18. Hiểu biết và thái độ sử dụng BCS

SaVy 2 SaVy 1

Nam Nữ Nam Nữ

45% 31% 76% 64% BcS giảm khoái cảm

Tốn kém khi sử dụng thường xuyên BcS 18% 24% 26% 33%

BcS có thể phòng ngừa thai nghén 95% 95% 99% 98%

BcS có thể phòng ngừa bệnh LTTD 95% 93% 98% 97%

BcS có thể phòng ngừa hIV 95% 92% 98% 96%

34% 25% 61% 47% Nếu nữ mang theo BcS có thể bị cho là có quan hệ không đứng đắn.

30% 28% 55% 51% Nếu nam mang theo BcS có thể bị cho là có quan hệ không đứng đắn

BcS chỉ dùng cho người mua dâm hay không chung thủy 17% 15% 34% 34%

5115 4928 3475 3471

Nhìn chung, tỷ lệ hiểu biết về BcS rất cao, ở nhóm trẻ nhất, tỷ lệ ít hiểu biết về BcS là 6% nhưng ở nhóm tuổi 22-25 tỷ lệ ít hiểu biết về BcS đã giảm, còn 3%. Không có sự khác biệt nhiều giữa các dân tộc, một lần nữa lại thấy có sự khác biệt lớn theo trình độ học vấn. càng có học vấn thì càng hiểu hiểu biết hơn về BcS.

Bảng 19 sau đây tìm hiểu về những

người trẻ có hiểu biết ít về BcS.

P <0.05

30

Bảng 20 cho thấy lí do không sử dụng BcS ở lần quan hệ tình dục đầu tiên.

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

BảNg 19. Đặc điểm ở những người trả lời có hiểu biết về các bệnh LTTD.

có hiểu biết ít về BcS có hiểu biết nhiều về BcS

tổng số100% (N)

học vấn

Không đi học 45% (8) 55% 16

Tiểu học (cấp 1) 17% (188) 83% 912

cấp 2 trung học cơ sở 6% (220) 94% 3585

cấp 3 trung học 3% (101) 97% 4102

đại học 1% (17) 99% 1414

Dân tộc

Kinh 4% (326) 96% 8021

các dân tộc 9% (211) 91% 2022

Khu vực

Thành thị 3% (74) 97% 2236

Nông thôn 5% (463) 95% 7808

Giới

Nam 4% (210) 96% 5063

Nam 36% (1839) 64% 5063

Nhóm tuổi

14 – 17 6% (298) 94% 4863

18 – 21 4% (152) 96% 2919

22 – 25 3% (87) 97% 2262

BảNg 20. Lí do không sử dụng BCS ở lần quan hệ tình dục đầu tiên

Nam Nữ

Không muốn sử dụng 38% 54%

Khi đó không có ý định quan hệ tình dục 26% 12%

Không biết sử dụng như thế nào 9% 7%

có thể nhận xét gì về các biện pháp tránh thai, kể cả BcS ?

Bảng 17 nêu trên cho thấy có sự tiến bộ hơn về hiểu biết các biện pháp tránh thai ở SAVy 2 và

điều này có thể phát huy tác dụng tích cực trong thực tế.

31

Tóm lại, hiểu biết và thái độ với các biện pháp tránh thai, có một số nhận xét đáng chú ý sau:

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

1) hiểu biết về DcTT giảm đi ở SAVy 2 nhưng biện pháp này không khuyến khích sử dụng ở

VTN, nhất là khi chưa kết hôn.

2) hiểu biết về thuốc tránh thai khẩn cấp gia tăng đáng kể ở SAVy 2 so với SAVy 1 là dấu hiệu đáng mừng vì đây là biện pháp giúp VTN tránh được nạo thai và mang thai ngoài ý muốn. Vì hành vi tình dục ở VTN có tính ngẫu hứng, không chuẩn bị trước nên càng cần sự hiểu biết.

3) hiểu biết về thuốc uống tránh thai cũng tăng ở SAVy 2, nhất là ở nữ, đó là xu thế phù hợp với trào lưu thế giới vì là biện pháp được giới trẻ sử dụng nhiều ở các nước phát triển nhằm chủ động tránh thai. hiểu biết về bao cao su luôn duy trì được ở mức cao ở cả 2 cuộc khảo sát, góp phần phát triển thực hành tình dục an toàn.

4) hiểu biết về xuất tinh ngoài cũng tăng ở SAVy 2, chứng tỏ có sự tiến bộ hơn về thực hành

tránh thai bằng phương pháp tự nhiên.

5) hiểu biết về phương pháp tính vòng kinh vẫn thấp ở cả 2 cuộc khảo sát, phù hợp với nhận

thức về không cao của số người trẻ được hỏi về sinh lý sinh sản (phân tích ở phần sau).

6) Sử dụng thuốc tránh thai ở lần quan hệ tình dục lần đầu có tỷ lệ 31,4%. Số liệu này gây sự nghi ngờ vì tại sao ở lần quan hệ tình dục đầu tiên các em gái lại đã sử dụng viên thuốc tránh thai thường xuyên? Phải chăng các em gái đã biết trước sẽ dẫn đến quan hệ tình dục cho nên đã dùng thuốc tránh thai từ nhiều ngày trước? Sử dụng vòng tránh thai (nay gọi là dụng cụ tử cung – DcTc) trong lần quan hệ tình dục đầu tiên còn gây sự ngờ vực lớn hơn nữa, thậm chí là điều không thể (tỷ lệ 6,7%): Nếu đã gọi là quan hệ tình dục đầu tiên thì các em chưa kết hôn hoặc mới kết hôn và không cơ sở y tế nào đặt DcTc cho những trường hợp đó (những chuyên gia thống kê của cuộc điều tra nên làm rõ hơn điều này. (Xem bảng 9.1.2, sách SAVy2 Việt Nam do chương trình cung cấp).

7) Những người đồng ý về việc dùng BcS là có ý thức trách nhiệm với bạn tình/vợ ở SAVy2 ( nam 83%, nữ 82%) đã nói lên sự nâng cao nhận thức về ý nghĩa của thực hành tình dục an toàn của thanh thiếu niên.

4.4 Nhận thức về sinh lý thụ thai

Nhiệm vụ trước mặt (và còn lâu dài) của các cơ quan và cá nhân có liên quan đến sức khoẻ và dân số là cần giáo dục tốt hơn nữa về sức khoẻ sinh sản và các biện pháp tránh thai - một thách thức vì có thể gặp những rào cản về văn hoá, tâm lý hiện còn tồn tại trong cộng đồng, ví dụ chưa có sự đồng thuận cao về việc cung cấp hiểu biết về các phương pháp tránh thai cho cả học sinh trung học, vị thành niên. Thuốc tránh thai đã được biết đến nhiều hơn ở SAVy 2 nhưng sự đa dạng của loại thuốc tránh thai có hormon cũng như các biện pháp tránh thai khác (màng ngăn âm đạo, thuốc diệt tinh trùng...) cũng cần phong phú hơn nữa để đáp ứng nhu cầu kiểm soát sinh đẻ ở người trẻ và các cặp vợ chồng.

32

Nhận thức về sinh lý sinh sản là cơ sở để có thể thực hành các phương pháp tránh thai tự nhiên. Vì thế SAVy 2 đã đưa ra 3 câu hỏi chính để đánh giá sự hiểu biết về việc vì sao có thể có thai. Không có dữ liệu của SAVy 1 để xem có tiến bộ nào về nhận thức với sinh lý thụ thai nhưng những phát

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

hiện ở câu hỏi “Liệu một bạn gái có thể mang thai sau lần quan hệ tình dục đầu tiên?” đã có 71% trả lời “có”(nam 67% và nữ 74%) cho thấy điều quan trọng là có đến gần 2/3 thanh thiếu niên đã biết đánh giá cao nguy cơ mang thai sau lần quan hệ tình dục đầu tiên. điều này có ý nghĩa thực tiễn ở chỗ cần thiết phát triển hơn nữa việc giáo dục sức khoẻ sinh sản cho thanh thiếu niên để biết tự bảo vệ.

có 82% thanh niên (83% nam và 81% nữ) chọn phương án trả lời “Sử dụng các biện pháp tránh thai” khi được hỏi “Nếu không muốn mang thai, người ta nên làm gì , chứng tỏ số đông thanh thiếu niên đã biết đến và có niềm tin vào các biện pháp tránh thai.

Phụ nữ dễ có thai nhất vào thời điểm nào trong chu kỳ kinh ? Nhìn chung ở cả 2 cuộc điều tra,

kiến thức của thanh thiếu niên về khía cạnh này của sinh lý sinh sản còn rất hạn chế.

Tỷ lệ phần trăm nam nữ thanh niên trả lời đúng câu hỏi về thời điểm dễ có thai trong chu kỳ kinh khá thấp. Ở SAVy 2, chỉ có 13% (7% nam và 18% nữ) trả lời đúng câu hỏi này (thời điểm”giữa 2 kỳ kinh”). Ở SAVy 1, có 17% (11% nam và 22% nữ) trả lời đúng.

Ở tất cả các nhóm xã hội theo nơi cư trú (đô thị/nông thôn) hay theo dân tộc, nhóm tuổi,

trình độ văn hoá, nữ đều có tỷ lệ trả lời đúng câu này cao hơn nam.

33

đối với mỗi giới nam hay nữ, những người sống ở đô thị có tỷ lệ trả lời đúng câu này cao hơn những người sống ở nông thôn, có lẽ vì tiếp cận thông tin về sức khoẻ sinh sản dễ dàng hơn. Tỷ lệ trả lời đúng câu hỏi này tăng theo tuổi và trình độ học vấn (xem bảng 21).

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

Về thời điểm có thể mang thai trong chu kỳ kinh, điều tra ban đầu của chương trình sáng kiến SKSS thanh thiếu niên Việt Nam (RhIyVN) cũng cho thấy chỉ có 12,9% (nữ 13,7%, nam 12%) vị thành niên và thanh niên hiểu biết đúng về chu kỳ kinh nguyệt và thời điểm có thể có thai (Ngọc và Thụ, 2008).

BảNg 21. Tỷ lệ phần trăm trả lời đúng về thời điểm dễ có thai trong chu kỳ kinh

SaVy 2 SaVy 1

Nam Nữ Nữ Nam

đô thị 13% 28% 23% 9%

Nông thôn 11% 20% 17% 7%

Kinh/hoa 11% 23% 19% 7%

DTTS 11% 17% 12% 6%

Nhóm 14-17 tuổi 9% 18% 11% 4%

Nhóm 18-21 tuổi 12% 22% 21% 8%

Nhóm 22-25 tuổi 16% 29% 31% 14%

Không đi học 10% 15% 6% 3%

Tiểu học 10% 19% 14% 4%

Trung học cơ sở 14% 30% 12% 6%

Trung học phổ thông 19% 7%

Sơ/trung cấp 29% 51% 33% 13%

cao đẳng/đại học 37% 17%

Xem xét kỹ bảng trên thì tỷ lệ trả lời đúng ở SAVy 2 của nam và nữ còn giảm đi so với SAVy 1

ở hầu hết các khu vực. Liệu có thể cho rằng việc nâng cao nhận thức về sinh lý sinh sản trong cộng

đồng (nhất là trong giới trẻ) đã không tích cực và vì thế đã dẫn đến sư sa sút về số lượng người có

hiểu biết đúng. Nhà trường đã góp phần nâng cao hiểu biết về mảng này cho học sinh như thế nào

(sách khoa Sinh học dạy ở cấp 3 có đề cập đến sinh lý sinh sản người?). có sự hợp tác nào giữa

34

những nhà soạn thảo sách giáo khoa với Tổng cục Dân số - KhhGđ không?

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

4.5 Nạo phá thai

Ở nhóm tuổi 15 - 24, 9% (82 trong số 977) phụ nữ đã có hoạt động tình dục cho biết đã từng nạo phá thai. Ta thấy tỷ lệ đã từng nạo phá thai tăng theo tuổi, ví dụ trong nhóm tuổi 18 – 21, 7% đã từng nạo phá thai trong khi ở nhóm tuổi 22 – 25 thì cứ 10 người có 1 người nạo phá thai. hầu hết phụ nữ đã từng nạo phá thai là những người đã kết hôn (98%).

Tình hình nạo phá thai của nữ VTN và thanh niên ở Việt Nam vẫn luôn là một thực trạng nhức nhối cho gia đình và xã hội: Năm 2008, hơn 116.087 trường hợp phá thai tại các cơ sở y tế công lập ở TP. hcM, tăng 5% so với năm 2007. Tình trạng nạo phá thai trong lứa tuổi VTN tiếp tục tăng cao với 2.499 ca (hội nghị tổng kết chương trình SKSS năm 2008 tại TP. hcM, 16/1/2009).

Việt Nam là một trong 3 nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trong đó 20% là ở lứa tuổi VTN, trên cả nước có 5% em gái sinh con trước tuổi 18, 15% sinh con trước tuổi 20…(hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam). Nguồn: http://www.tin247.com/.

Nạo hút thai/phá thai ở Việt Nam là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu, các ngành chức năng và dư luận xã hội. Không chỉ bởi Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ nạo hút thai cao nhất thế giới mà còn bởi những tác động của nó đến chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực trẻ, cũng như đến những vấn đề liên quan đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của nền văn hoá Việt Nam. Một số vấn đề sức khoẻ sau nạo hút thai đã được DhS 1997 (bảng 4.24) và DhS 2002 (bảng 4.22) đề cập đến: 1/3 số phụ nữ có vấn đề về sức khoẻ sau nạo hút thai và có 16,8% nhận được lời khuyên hoặc cách điều trị (chỉ 50% tổng số phụ nữ có vấn đề về sức khoẻ) và 2,4% (bằng 1/15 số phụ nữ có vấn đề sức khoẻ) được điều trị tại các cơ sở y tế, với thời gian trung bình là 10 ngày. Phụ nữ nạo thai có vấn đề về sức khoẻ nhiều hơn phụ nữ hút điều hoà kinh nguyệt (20,4% và 14,4%).

Sự phổ biến của nạo phá thai còn liên quan đến quyền sinh sản, quyền tình dục và sức khoẻ phụ nữ. Nhiều trường hợp nạo phá thai vì lí do lựa chọn giới tính thai, một điều trái với luật pháp Việt Nam và có nguy cơ dẫn đến mất cân bằng giới tính. Nạo phá thai nhiều hay ít còn là thước đo về khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng các biện pháp tránh thai, chất lượng dịch vụ kế koạch hoá gia đình (Theo nghiên cứu của Nguyễn đức Vy và Vương Tiến hoà 2007: với nhóm phụ nữ đã có gia đình thì tỷ lệ vỡ kế hoạch/sử dụng biện pháp tránh thai thất bại đến 55%).

4.6 Tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS

Trong chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010 có đoạn nhấn mạnh “Việc mang thai ngoài ý muốn và tình trạng nạo phá thai là đáng lo ngại” (uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em, 2003:220). còn trong chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2001-2010 cũng đề ra mục tiêu “Giảm có thai ngoài ý muốn và các tai biến nạo hút thai” (uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, 2003:255).

35

Ở SAVy 1, số nữ thanh thiếu niên chưa lập gia đình đã từng có thai rất thấp (n=11) nên không đưa ra một bình luận nào nhưng cho rằng nhóm này ít đi khám thai (4 /11 nguời cho biết có đi khám thai 1 lần).

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

Ở SAVy 2, có đến 68% (64% nam và 73% nữ) cho biết dịch vụ tư vấn về SKSS luôn sẵn có đối với họ. Tỷ lệ này ở đô thị cao hơn ở nông thôn (74% ở đô thị và 67% ở nông thôn), và cao hơn ở người Kinh/hoa (70%) so với người dân tộc thiểu số (62%).

65% nam nữ thanh niên cho biết dịch vụ tư vấn và xét nghiệm hIV/AIDS tự nguyện là sẵn có đối với họ (66% nam và 64% nữ). có khác biệt đáng kể giữa nông thôn và đô thị, giữa người Kinh/hoa và người DTTS (73% ở đô thị và 62% ở nông thôn; 67% người Kinh/hoa và 53% người DTTS), song ngay cả đối với nhóm có tỷ lệ thấp nhất cũng quá nửa.

Tỷ lệ thanh thiếu niên nam nữ cho biết họ dễ dàng sử dụng dịch vụ khám và điều trị SKSS cho thanh niên ở tất cả các nhóm thanh thiếu niên cũng ở mức trên 60% (69% cho nữ, 62% cho nam; 64% ở nông thôn, 70% ở đô thị; và 61% cho người DTTS và 66% cho người Kinh/hoa). Như vậy, khoảng 2/3 thanh thiếu niên dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ tư vấn và chăm sóc SKSS: Tỷ lệ đến nạo hút thai ở cơ sở y tế nhà nước là 55% (không có số liệu tương đương ở SAVy 1). Trong tháng qua ở thời điểm điều tra, khi có vấn đề về sức khoẻ thì thanh thiếu niên đến cơ sở y tế nhà nước vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn, trên 60% trong khi đến cơ sở y tế tư nhân chỉ khoảng 30%). Lí do: cơ sở y tế nhà nước có uy tín hơn? đến y tế tư nhân tốn kém hơn?

36

Vẫn còn khoảng 1/3 thanh thiếu niên chưa dễ dàng tiếp cận các dịch vụ tư vấn và chăm sóc SKSS. Khoảng trống này cần được lấp đầy trong các năm tới và đó là trách nhiệm của nhiều ngành (y tế, Dân số), các cơ quan, đoàn thể có liên quan, các tổ chức phi chính phủ...

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

37

Một trong những nguyên nhân làm cho thanh thiếu niên (độ tuổi 10-24 được coi là thế hệ thanh thiếu niên lớn nhất từ trước đến nay, chiếm tỷ lệ 29,6% trong dân số 851 triệu người - Tổng cục DS-KhhGđ, 2009) không tiếp cận thuận lợi với dịch vụ tư vấn và chăm sóc SKSS là do nhóm thanh thiếu niên chưa được quan tâm đúng mức cần thiết. Ion howie, trưởng đại diện uNFPA tại Việt Nam, phát biểu nhân dịp kỷ niệm ngày dân số thế giới 11/7/2008 cho thấy hạn chế của dịch vụ DS-KhhGđ với thanh thiếu niên: “hệ thống chăm sóc sức khoẻ ở Việt Nam hiện nay chỉ tập trung cung cấp thông tin và dịch vụ SKSS và KhhGđ cho người đã có gia đình mà chưa quan tâm nhiều đến nam nữ thanh niên đã có quan hệ tình dục” (Tạp chí Dân số và Phát triển số 8/2008, tr.22).

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

Tài liệu tham khảo

1. Kulig JW. Adolescent menstrual disorders. In: Strasburger Vc, ed. Adolescent Gynecology:

an office guide. Baltimore: urban & Schwarzenberg; 1990.

2. Anh D.Ngo, Michael W. Ross & Eric A. Ratliff. Internet influences on sexual practices among young people in hanoi. Vietnam. culture, health & Sexuality, June 2008; 10 (Supplement); S158- S159 (conclusion).

3. cGFED. “Nâng cao nhận thức về quyền SKSS, quyền về SKTD”. NXB Lao động-xã hội, tr. 16. Thuộc dự án “ Nâng cao kiến thức Giới và các vấn đề SKSS cho các gia đình nông thôn Việt Nam” thực hiện tại 4 địa bàn thuộc 4 tỉnh/thành phố Bắc, Trung, Nam của Việt Nam (từ 2003 – 2011), với sự hợp tác của hội kế hoạch hoá gia đình đan Mạch.

4. Roper Starch Worldwise, Inc. Teens talk about sex: Adolescent sexuality in the 90’s. New

york: SIEcuS 1994.

5. The underground Guide to teenage sexuality

6. uNFPA, The state of World Population 1998

7. Jennifer catino. Meeting the cairo challege - Progress in sexual and Reproductive health -

Family care international ocT/1999.

8. Sách tư liệu do chương trình PMu cung cấp: SAVy2 Việt nam.

9. Một số đại chỉ website:

Wikipedia – the free encyclopedia: Bisexuality.

http://www.google.com.vn/search?hl=vi&q=tinh+duc+v%E1%BB%8B+th%c3%A0nh+ni%

c3%AAn&start=30&sa=N

http://www.laodong.com.vn/EventList.aspx?EventID=66

38

http://www.dantri.com.vn/nhipsongtre/2005/6/60901.vip

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

Ban biên tập:

TS. Dương Quốc Trọng - Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số - KhhGđ (chủ biên)

Bà Trần Thị Thanh Mai, Vụ trưởng Vụ Truyền thông và giáo dục, Tổng cục DS - KhhGđ

Ths. Nguyễn đình Anh, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông và giáo dục, Tổng cục DS - KhhGđ

Ths. Vũ Thúy Nga, Dự án Phòng chống hIV/AIDS cho Thanh niên, Tổng cục DS - KhhGđ

Bà Lê yến oanh, Dự án Phòng chống hIV/AIDS cho Thanh niên, Tổng cục DS - KhhGđ

39

Bà Lê Song Lê, chuyên viên Vụ truyền thông và giáo dục, Tổng cục DS-KhhGđ

Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

các quan điểm được trình bày trong báo cáo này là của nghiên cứu viên và không nhất thiết phản ánh quan điểm và chính sách của Tổng cục Dân số - KhhGđ

40