
BÁO CÁO KHẢO SÁT NHU CẦU ĐÀO TẠO
HỆTHỐNG THƯVIỆN CÔNG CỘNGVÀ ĐIỂM BƯU ĐIỆN VĂN
HOÁ XÃ TẠI 3 TỈNH THÁI NGUYÊN, NGHỆAN VÀ TRÀ VINH
DỰÁN NÂNG CAO NĂNG LỰC CHO HỆTHỐNG THƯVIỆN CÔNG CỘNG
NHẰM HỖTRỢTRUY CẬP INTERNET CÔNG CỘNG ỞVIỆT NAM
NGUồN TÀI TRỢ: THE BILL & MELINDA GATES FOUNDATION

BÁO CÁO KHẢO SÁT NHU CẦU ĐÀO TẠO
HỆ THỐNG THƯ VIỆN CÔNG CỘNG
VÀ ĐIỂM BƯU ĐIỆN VĂN HOÁ XÃ
TẠI 3 TỈNH THÁI NGUYÊN, NGHỆ AN VÀ TRÀ VINH
DỰ ÁN "NÂNG CAO NĂNG LỰC CHO HỆ THỐNG THƯ VIỆN CÔNG CỘNG
NHẰM HỖ TRỢ TRUY CẬP INTERNET CÔNG CỘNG Ở VIỆT NAM"
NGUỒN TÀI TRỢ: BILL & MELINDA GATES FOUNDATION
Hà Nội, Tháng 4 năm 2009
Thư viện Quốc gia Việt Nam

i
Chữ viết tắt
BĐVH
Bưu điện văn hoá
TVQGVN
Thư viện Quốc gia Việt Nam
TVCC
Thư viện công cộng
TV
Thư viện
CNTT
IT
ICT
Công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin
OPAC
Online public access cataloguing (tra cứu mục
lục công cộng trực tuyến)
CĐ/TH
Cao đẳng/trung học
TAF
Quỹ Châu Á
PTTH
Phổ thông trung học
Bộ VHTT&DL
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
OPAC
Tra cứu mục lục trực tuyến
CSDL
Cơ sở dữ liệu
VNPT
Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam

ii
TÓM TẮT BÁO CÁO
Đánh giá nhu cầu đào tạo
Từ ngày 23 tháng 2 đến hết ngày 22 tháng 3 năm 2009, Quỹ Châu Á kết hợp với Thư viện
Quốc gia Việt Nam (TVQG) và các đối tác địa phương khác tiến hành khảo sát nhu cầu
đào tạo ở 90 điểm dự án, tập trung vào các thư viện công cộng và bưu điện văn hoá xã ở
ba tỉnh Thái Nguyên, Nghệ An và Trà Vinh để đánh giá nhu cầu đào tạo ở cấp tỉnh, cấp
huyện và cấp xã. Việc đánh giá nhu cầu đào tạo bao gồm: (i) phân tích hiệu quả phục vụ
ngay tại các thư viện công cộng và xác định nhu cầu đào tạo; (ii) phân tích nhiệm vụ của
các cán bộ thư viện công cộng về cả kiến thức, kỹ năng, thái độ và năng lực cần có để tiến
hành các dịch vụ trong một thư viện công cộng; và (iii) phỏng vấn trực tiếp các cán bộ và
độc giả tại các thư viện công cộng nhằm xác định nhu cầu và mục tiêu đào tạo.
Phương pháp khảo sát và thành phần tham gia
Bên cạnh phương pháp thu thập và nghiên cứu tài liệu có sẵn, nhóm nghiên cứu đã xây
dựng bảng câu hỏi để gửi cho cơ quan tổ chức và cán bộ thư viện/BĐVH xã, xây dựng
nội dung phỏng vấn để tiến hành phỏng vấn trực tiếp các đối tượng: cán bộ lãnh đạo về
năng lực của thư viện/BĐVH xã, nhóm thủ thư, bạn đọc và bạn đọc tiềm năng. Khảo sát
thực địa đã được tiến hành tại ba tỉnh từ ngày 23 tháng 2 đến hết ngày 22 tháng 3 năm
2009, bắt đầu với Thái Nguyên ở miền Bắc, rồi đến Nghệ An ở miền Trung, và cuối cùng
là Trà Vinh ở miền Nam. Đoàn khảo sát bao gồm bốn cán bộ trung ương (hai cán bộ của
Quỹ Châu Á, một cán bộ của Thư viện Quốc gia, và một chuyên gia về đánh giá nhu cầu
đào tạo), và sáu cán bộ do thư viện tỉnh lựa chọn có kiến thức tốt về chuyên môn thư viện,
công nghệ thông tin, và quan hệ tốt với địa phương để tham gia cùng đoàn khảo sát tại
tỉnh.
Ngày đầu tiên được dành để làm việc tại thư viện tỉnh, trong đó các cán bộ trung ương
phỏng vấn các đối tượng tại tỉnh và đào tạo kỹ năng phỏng vấn cho các cán bộ địa
phương. Từ ngày thứ hai, đoàn chia thành ba nhóm đi ba khu vực khác nhau của tỉnh.
Mỗi nhóm bao gồm một cán bộ trung ương làm trưởng nhóm và hai cán bộ địa phương.
Một cán bộ của Quỹ Châu Á đi theo một nhóm để làm nhiệm vụ theo dõi tiến độ chung,
chất lượng khảo sát, và chụp ảnh tư liệu. Sự kết hợp giữa chuyên môn, kinh nghiệm và
thông thuộc địa hình của các thành viên đã tạo cho các nhóm làm việc một tinh thần làm
việc năng động và hiệu quả. Trách nhiệm của các thành viên trong nhóm cũng được phân
chia rõ ràng, cụ thể trưởng nhóm luôn đảm trách việc phỏng vấn các cán bộ lãnh đạo và
cán bộ thư viện/BĐVHX, một cán bộ địa phương chuyên phỏng vấn đối tượng bạn đọc đã
sử dụng và một cán bộ địa phương còn lại chuyên phỏng vấn đối tượng bạn đọc tiềm
năng, vì vậy chất lượng phỏng vấn được bảo đảm.
Ngày cuối cùng, ba nhóm họp tổng kết để rút kinh nghiệm và đưa ra nhận xét chung về
kết quả khảo sát cũng như góp ý để chỉnh sửa bộ câu hỏi và nội dung phỏng vấn. Tổng
cộng đoàn đã phỏng vấn 89 cán bộ phụ trách thư viện/BĐVH xã, 43 cán bộ thủ thư và
nghiệp vụ của 3 TV tỉnh và 15 TV huyện, và 532 bạn đọc và bạn đọc tiềm năng tại ba
tỉnh. Các đối tượng bạn đọc đã sử dụng và bạn đọc tiềm năng thuộc mọi tầng lớp, giới
tính và độ tuổi trong xã hội, như công chức nhà nước, cán bộ hưu trí, nông dân, cựu chiến
binh, sinh viên đại học, học sinh phổ thông, chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc tiểu
thương, vì vậy thông tin thu được rất đa dạng.

iii
Kết quả
Kết quả đánh giá khẳng định những thông tin đã được dự đoán trước và cũng cung cấp
một số thông tin mới hữu ích cho hoạt động tiếp theo của dự án là “Thiết kế tài liệu và tổ
chức đào tạo nhằm nâng cao năng lực cho các thư viện công cộng”. Dưới đây là một số
kết quả đáng chú ý:
Về cơ sở hạ tầng thông tin và dịch vụ Internet
Trong khi các thư viện huyện không có máy tính, thư viện tỉnh chỉ được trang bị máy
tính trung bình khoảng 10 máy/thư viện, cả 3 thư viện tỉnh đã kết nối Internet nhưng
chỉ dành riêng cho cán bộ thư viện làm việc, có trung bình 4 máy/thư viện dành cho
tra cứu OPAC, chưa có dịch vụ Internet cung cấp cho bạn đọc, một số máy tính được
cung cấp từ năm 2003-2004 trong tình trạng xuống cấp hoặc hỏng hoàn toàn.
BĐVH xã trong diện khảo sát nhận được sự quan tâm và đầu tư về hạ tầng thông tin
tương đối lớn từ phía ngành Bưu chính Viễn thông với 46% (33/72) điểm BĐVH xã
đã được trang bị 155 máy tính kết nối Internet nhưng chỉ có 57% (19/33) điểm khảo
sát hiện đang còn cung cấp dịch vụ truy cập Internet. Tuy nhiên, chỉ 62% (96/155) số
lượng máy tính còn hoạt động cho dịch vụ Internet, và hoạt động trong tình trạng
không hiệu quả do chất lượng đường truyền quá kém, chỉ có 9 điểm kết nối ADSL
hoạt động tốt hơn. Số máy còn lại đã quá cũ và hỏng.
Về năng lực cán bộ và nhu cầu đào tạo
70,6% cán bộ thư viện tỉnh tự đánh giá trình độ năng lực công nghệ thông tin ở mức
độ yếu và trung bình; các tỷ lệ tương ứng với cán bộ thư viện huyện và cán bộ BĐVH
xã là 87,9% và 90,7%. Các kiến thức thông thường về công nghệ thông tin như sử
dụng chuột, in ấn và sử dụng các phần mềm văn phòng cơ bản chưa được phổ biến
rộng rãi và vận dụng thành thục.
46% nhân viên BĐVH xã nơi đã có dịch vụ Internet còn quá yếu về sử dụng những
tiện ích cơ bản của Internet như xem tin tức, gửi thư điện tử, chat, v.v. Nhân viên
những nơi chưa có dịch vụ Internet hầu như chưa biết sử dụng máy tính.
Đa số cán bộ thư viện vẫn còn lạ lẫm với nhiệm vụ mới đặt ra cho họ trong thời đại
bùng nổ công nghệ thông tin với danh nghĩa là người tạo lập, thu thập, bảo quản, và
truyền thông thông tin.
Thứ tự ưu tiên trong lựa chọn nội dung đào tạo kỹ năng công nghệ thông tin từ phía
các cán bộ của thư viện công cộng và BĐVH xã có sự khác biệt. Cụ thể, cán bộ thư
viện tỉnh và huyện ưu tiên như sau: Kiến thức sử dụng phần mềm thư viện (80,5%);
Kỹ năng tìm kiếm thông tin trên mạng (77,9%); Kiến thức về CNTT cơ bản (74,9%);
Kiến thức sử dụng CSDL online (70,7%); Kiến thức về quản trị mạng (54,3%). Trong
khi đó, thứ tự ưu tiên của cán bộ BĐVH xã lại là: Kỹ năng tìm kiếm thông tin trên
mạng (91,6%); Kiến thức về CNTT cơ bản (90,2%); Kiến thức về hệ điều hành
(74,7%); Kiến thức về phần cứng máy tính (73,2%); Kiến thức về quản trị mạng
(57,8%).
72% cán bộ thư viện tỉnh tự đánh giá năng lực phục vụ bạn đọc ở mức độ yếu và trung
bình; các tỷ lệ tương ứng với cán bộ thư viện huyện và cán bộ BĐVH xã là 48,4% và
68,7%.
Đối với nhu cầu đào tạo năng lực phục vụ bạn đọc, trung bình hơn 66% cán bộ thư
viện/BĐVH xã có nhu cầu đào tạo về hai nội dung: kỹ năng giao tiếp với bạn đọc và
kỹ năng quảng bá, tiếp thị dịch vụ thư viện/Internet.
Cũng trong khảo sát về nhu cầu đào tạo, các cán bộ thư viện và nhân viên BĐVH xã
cho rằng nên bố trí các khoá học riêng biệt cho những cán bộ còn quá yếu kém để họ
có thể tiếp cận với những kỹ năng CNTT cơ bản trước khi bước vào tiếp thu các kỹ
năng chuyên sâu khác.

