
Báo cáo tài chính: ngôn ngữ của
thế giới kinh tế
Thông tin tài chính trên báo cáo tài chính (BCTC) ch
ỉ thực sự hữu
ích khi BCTC được lập đúng quy định, chuẩn mực k
ế toán. BCTC
được sử dụng để công bố hoạt động kinh doanh (HĐKD) của
doanh nghiệp (DN) không chỉ trong hiện tại mà còn cả dự báo
trong tương lai của doanh nghiệp; đồng thời, cũng có thể là công
cụ được các DN sử dụng để che giấu và đánh lừa các NĐT Song

không phải bất cứ bản BCTC bị phù phép nào cũng gây ảnh
hưởng tiêu cực mà có những BCTC bị phù phép khi sử dụng với
động cơ tích cực thì lại là lựa chọn tối ưu cho các nhà lãnh đạo.
Phù phép tài chính thực ra là việc sử dụng một số kỹ thuật nhằm
thay đổi số liẹu BCTC để đạt được một số mục tiêu nhất định.
Phù phép BCTC - Từ góc độ tích cực.
Phù phép BCTC là hiện tượng khá phổ biến trong các DN của
nước ta hiện nay và có nhiều nguyên nhân. Sự nóng lên một
cách nhanh chóng của thị trường chứng khoán nước ta hiện nay
là một trong những nguyên nhân chính của việc nhiều DN phù
phép cho BCTC của mình. Việc đánh giá quá cao cổ phiếu của
một số công ty khiến các nhà lãnh đạo công ty phải tạo ra một
khoản lợi nhuận ảo tương ứng với kì vọng từ phía các NĐT về

khả năng sinh lời của công ty nếu như không muốn phản ứng ti
êu
cực từ phía thị trường và kéo theo s
ự giảm sút về giá trị cổ phiếu.
Điều này không chỉ ảnh hưởng về phía NĐT mà còn ảnh hưởng
trực tiếp đến các nhà lãnh đạo bởi bản thân họ cũng nắm giữ
phần lớn cổ phiếu của công ty.
Đứng về góc độ tác động tích cực, những bản BCTC bị phù phép
với động cơ tích cực, thực sự phát huy tác dụng của mình cho
DN khi nh
ằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty, nâng cao
lợi nhuận theo kế hoạch, đảm bảo một số hệ tài chính m
à công ty
đặt ra. Như vậy, việc phù phép tài chính lúc này trở thành công
cụ can thiệp hữu hiệu vào các số liệu tài chính không chỉ cho các
nhà lãnh đạo và các NĐT. Điều này được minh chứng qua ví dụ
sau:

Công ty A có khả năng sinh lời hàng năm là 1.000 tỷ đồng và có
chính sách phân phối lợi nhuận dưới dạng cổ tức, khả năng sinh
lời là vô thời hạn, có tỷ lệ chiết khấu là 10%. Như vậy, tính theo
quy mô chiết khấu cổ tức, giá trị của công ty A là 1000/0,1 =
10.000 tỷ đồng. Nhưng trong năm 2007, công ty A đầu tư vào m
ột
dự án với lợi nhuận dự kiến hàng năm sẽ tăng 100 tỷ là vô thời
hạn. Song, do công ty tập trung nhiều nguồn lực vào dự án nên
hoạt động của công ty trong năm bị giảm sút và kết quả công ty
chỉ đạt 900 tỷ đồng, thấp hơn so với dự kiến là 200 tỷ đồng mà lẽ
ra công ty phải đạt được là 1.100 tỷ đồng. Theo dự tính, mức giá
trị này sẽ đạt được vào năm 2008. Điều này đặt các nhà lãnh đ
ạo
đứng trước sự lựa chọn giữa một bên là đảm bảo tính trụng thực
của BCTC hoặc sử dụng thủ thuật phù phép tài chính và điều n
ày
chỉ các nhà lãnh đạo trong công ty được biết. Bảng sau đây thể

hiện sự lựa chọn của nhà lãnh đạo DN:
Lựa chọn Giá tr
ị công ty A theo
đánh giá của nhà
đầu tư
Nhận xét
Không phù phép báo
cái lãi 900 tỷ đồng
900/0,1 = 9.000 tỷ
đồng
Công ty b
ị đánh giá trị
thực thấp hơn 200 tỷ
đồng
Phù phép báo cáo lãi
1.100 tỷ đồng
1.100/0,1 = 11.000 t
ỷ
đồng
Công ty A được đánh
giá đúng giá trị thực
Từ bảng lựa chọn trên, nếu chọn phương án phù phép BCTC thì
không ảnh hưởng gì đến lợi nhuận về sau của công ty. Lúc này,
lợi nhuận thực mà công ty đạt được 1.100 tỷ đồng bắt đầu năm
2008 và hoạt động kinh doanh được diễn ra bình thường mà

