
1
VIỆN DINH DƯỠNG
KHOA DINH DƯỠNG ỨNG DỤNG VÀ GIÁM SÁT DINH DƯỠNG
*************
BÁO CÁO ĐỀ TÀI
THỰC HÀNH ĂN BỔ SUNG VÀ CÁC YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG
Ở TRẺ 6-23 THÁNG TẠI 3 XÃ NÔNG THÔN
HUYỆN CẨM KHÊ - PHÚ THỌ
Chủ nhiệm đề tài: TS. TỪ NG
Ữ
6486
27/8/200
7
Hà nội, 2007

2
T×m hiÓu vÒ thùc hµnh ¨n bæ sung vµ c¸c yÕu tè ¶nh h−ëng
®Õn t×nh tr¹ng suy dinh d−ìng ë trÎ 6 - 23 th¸ng t¹i 3 x∙
n«ng th«n phó thä
Từ Ngữ, Huỳnh Nam Phương, Hoàng Thu Nga – Khoa DDƯD và GSDD
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Dinh dưỡng trẻ nhỏ vô cùng quan trọng trong việc giúp trẻ có thể phát triển
được hết tiềm năng của cơ thể. Nhiều nghiên cứu đã xác định hai năm đầu đời của trẻ
là hai năm cơ hội, là "cửa sổ quan trọng" để trẻ phát triển tối đa về thể chất và hành vi.
Đây cũng là giai đoạn cao điểm của hiện tượng chậm tăng trưởng, thiếu các vi chất
dinh dưỡng và các bệnh nhiễm khuẩn. Chậm tăng trưởng về cân nặng tập trung vào
giai đoạn 3 đến 12 tháng tuổi trong khi chậm tăng trưởng về chiều cao thường rõ ở 18
tháng và kéo dài đến 40 tháng tuổi (1). Theo theo dõi của hệ thống giám sát của Viện
Dinh dưỡng từ 1994 đến 2004 ở Việt Nam cho thấy sau 6 tháng tuổi tỷ lệ suy dinh
dưỡng tăng nhanh chóng và đạt cao nhất vào khoảng 13 đến 24 tháng tuổi (tỷ lệ nhẹ
cân 30.6% năm 2004 so với tỷ lệ suy dinh dưỡng chung của trẻ dưới 5 tuổi là 26.6%)
(2). Tỷ lệ thiếu Vitamin A tiền lâm sàng và thiếu máu cao (đến 60%) thường do thiếu
tích lũy từ thời kỳ bào thai kết hợp với chế độ ăn nghèo nàn (3).
Nguyên nhân của tỷ lệ suy dinh dưỡng cao ở nhóm tuổi này có liên quan đến cả
hành vi và nguồn lực. Việc nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung chưa hợp lý, kết hợp
với tỷ lệ mắc bệnh nhiễm khuẩn cao là những nguyên nhân trực tiếp. Đói nghèo ở hộ
gia đình, điều kiện vệ sinh và chăm sóc sức khỏe là các nguyên nhân tiềm tàng (1, 4).
Nhằm tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng cao ở nhóm
tuổi ăn bổ sung (6 đến 23 tháng), nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã được tiến
hành, các công trình tổng quan và tổng kết đã được thực hiện. Các chỉ tiêu quan tâm
thường có liên quan đến lượng giá nguồn lực (sự sẵn có và khả năng tiếp cận lương
thực thực phẩm, điều kiện vệ sinh, đói nghèo...) và hành vi (kiến thức, thái độ và thực
hành chăm sóc trẻ).
Điểm lại các nghiên cứu trên thể giới về chế độ ăn uống ở trẻ em, hầu hết tập
trung vào tìm hiểu các yếu tố liên quan đến thực hành ăn bổ sung ở trẻ nhỏ (thời điểm,
năng lượng tiêu thụ, các yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp, phân bổ và đưa khẩu phần
đến cho trẻ). Tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ thay đổi theo khu vực, quốc gia và theo thời
gian. Ở Đông Nam Á, tỷ lệ này cao đến 73- 94%. Ở nông thôn nhìn chung cao hơn
thành thị (5). Tại Indonesia, 85% trẻ được bú sữa non, 75-85% trẻ được bú kéo dài đến

3
18 tháng nhưng chỉ 27-42% trẻ dưới 2 tháng được bú mẹ hoàn toàn (6). Theo một tổng
kết của WHO năm 1996 thì tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu biến
thiên từ 19% ở châu Phi đến 49% ở Đông Nam Á .Thời gian cai sữa của trẻ cũng biến
thiên từ 9 tháng ở châu Mỹ La tinh đến trung bình 25 tháng ở Đông Nam Á (7). Về
khẩu phần ăn bổ sung, nghiên cứu ở nông thôn Bangladesh cho thấy năng lượng tiêu
thụ của trẻ 6-8 tháng và 9-12 tháng chỉ chiếm 88% và 86% nhu cầu năng lượng
khuyến nghị (kJ/ngày), nhưng nếu tính nhu cầu theo cân nặng cơ thể thì đạt được 106
và 105%. Sữa mẹ đóng góp 78% và 75% năng lượng được tiêu thụ ở trẻ 6-8 tháng và
9-12 tháng (8). Cũng theo nghiên cứu tại Bangladesh, số lượng bữa ăn và đậm độ năng
lượng tuân theo các khuyến nghị của WHO cho các độ tuổi nhưng lượng thực phẩm
cho mỗi bữa thường ít và chỉ có 72% được trẻ ăn hết. Tổng năng lượng tiêu thụ liên
quan đồng biến đến tần suất ăn, chất lượng từng bữa ăn và năng lượng tiêu thụ từ sữa
mẹ. Bên cạnh việc có khả năng cung cấp những thực phẩm ăn bổ sung đáp ứng đủ nhu
cầu của trẻ, hành vi của người chăm sóc đóng vai trò quan trọng trong việc trẻ có nhận
được đầy đủ thực phẩm ấy hay không. Ngoài những yếu tố về kinh tế xã hội chung có
khả năng ảnh hưởng đến hành vi người chăm sóc (ví dụ: nghèo đói), thì một số yếu tố
trực tiếp đã được nghiên cứu và tổng kết là trình độ văn hóa, kiến thức, niềm tin,
những cản trở về thời gian và công việc, tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng, tâm lý,
khả năng kiểm soát/ quyền lực và sự phân chia nguồn lực trong gia đình, sự ủng hộ và
hỗ trợ từ cộng đồng và gia đình của người chăm sóc (5).
Theo tổng kết của Lutter (1), có 3 nhóm yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến kết
quả của thực hành ăn bổ sung ở trẻ nhỏ độc lập và có tác động lẫn nhau: đó là đặc
điểm của khẩu phần, hành vi của người chăm sóc và khẩu vị của trẻ - trong đó 2 nhóm
đầu đã có nhiều nghiên cứu còn khẩu vị của trẻ thì do đặc tính của yếu tố này nên chưa
thấy có nghiên cứu nào đề cập đến. Khẩu vị này phụ thuộc vào tình trạng sinh lý, sức
khỏe và dinh dưỡng của từng cá thể.
Tổng quan các nghiên cứu trong nước thì thấy thực hành về nuôi con bằng sữa
mẹ là khá tốt, ít nhất là trong giai đoạn trẻ mới chào đời. Cụ thế có 75.2% bà mẹ cho
trẻ bú sớm, 82% bà mẹ cho trẻ bú sữa non, chỉ có 7% cai sữa khi trẻ dưới 12 tháng
tuổi. Tuy nhiên việc duy trì nguồn sữa mẹ cần lưu ý khi tỷ lệ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn
đến hết tháng thứ 4 và thứ 6 tương ứng chỉ có 18.9% và 12.4%. Thực tế đó đồng nghĩa
với việc bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung sớm, nhiều nhất là từ tháng thứ 4 (33.6%), từ 4 đến
6 tháng tuổi chiếm 74.3%. Chất lượng bữa ăn bổ sung còn kém với bột gạo là thức ăn
chính (69.4%). Các thực phẩm giàu chất dinh dưỡng chỉ được coi là cho thêm vào bột

4
(như thức ăn động vật và rau) với tỷ lệ 22.3% bà mẹ có thực hành như vậy. Tần suất
ăn của trẻ tương đối thấp (trung bình 3 bữa/ngày) (2).
Số liệu thống kê trên được thu thập từ hệ thống giám sát của toàn quốc. Trên
các địa bàn cụ thể, các chỉ tiêu tuy có biến thiên nhưng vẫn mô tả một khuynh hướng
chung của việc thực hành ăn bổ sung còn chưa hợp lý về cả thời điểm, số lượng và
chất lượng mặc dù đã có cải thiện so với trước như tỷ lệ bú mẹ cao hơn, thực hành bú
sớm và bú sữa non tốt, thời điểm ăn bổ sung cũng muộn hơn (3, 9, 10, 11, 12, 13, 14) .
Những cải thiện đó là do kết quả của công tác phòng chống suy dinh dưỡng được triển
khai trên toàn quốc, cụ thể tác động vào nâng cao kiến thức của người dân trong chăm
sóc trẻ. Tuy nhiên, xét một cách toàn diện thì nâng cao kiến thức không đồng nghĩa là
thay đổi được hành vi. Những hành vi thay đổi được là do sự tập trung đầu tư của các
can thiệp và đơn giản là những hành vi dễ thực hiện trên cộng đồng thì dễ có thể cải
thiện hơn.
Tổng kết lại các nghiên cứu có liên quan đến chế độ ăn của trẻ nhỏ, hầu hết là
nghiên cứu rộng hơn về tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố liên quan (nguy cơ) trong
đó có chế độ ăn (bú mẹ, ăn bổ sung) mà ít có nghiên cứu tập trung phân tích thực hành
về chế độ ăn này có sự khác biệt giữa nhóm trẻ suy dinh dưỡng và trẻ bình thường,
cũng như chưa tìm hiểu sâu về những cản trở khiến cho người chăm sóc trẻ chưa thực
hành được đúng những kiến thức mà họ đã có (chưa thay đổi được hành vi mặc dù
nhận thức đã được cải thiện). Đồng thời, chủ yếu các nghiên cứu sử dụng phương pháp
định lượng dựa trên bộ câu hỏi, trong khi một số yếu tố liên quan đến hành vi chăm
sóc và những cản trở có tính xã hội cần được tìm hiểu sâu và đó là ưu thế của phương
pháp định tính thì dường như ít được sử dụng.
Nhằm bổ sung vào những thiếu sót như đã nêu trên, đồng thời góp phần mang
lại những bằng chứng thuyết phục về thực hành ăn bổ sung để trên cơ sở đó xây dựng
những chính sách và can thiệp phù hợp, đáp ứng yêu cầu của Kế hoạch hành động về
nuôi dưỡng trẻ nhỏ giai đoạn 2006-2010 của Việt Nam vừa được Bộ Y tế phê duyệt
(hưởng ứng Chiến lược toàn cầu về nuôi dưỡng trẻ nhỏ - Global Strategy for Infant
and Young Child Feeding (15) của Tổ chức Y tế thế giới), một nghiên cứu định lượng
kết hợp với định tính đã được tiến hành để tìm hiểu thực hành ăn bổ sung ở trẻ nhỏ và
các yếu tố liên quan, tập trung vào những cản trở sâu sắc mang tính hành vi và xã hội
ảnh hưởng đến thực hành đó.

5
II. MỤC TIÊU CỦA NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chung:
Nghiên cứu về tình hình ăn bổ sung ở trẻ em để đưa ra các khuyến nghị phù hợp.
Mục tiêu cụ thể:
• Đánh giá thực trạng về khẩu phần ăn của trẻ em 6 đến 23 tháng tuổi
• Tìm hiểu thực hành dinh dưỡng ở trẻ em 6 đến 23 tháng tuổi.
• Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành ăn bổ sung
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
• Thiết kế nghiên cứu: điều tra cắt ngang mô tả kết hợp với hồi cứu trên quần thể
trẻ em 6-23 tháng
• Địa điểm: 3 xã thuộc huyện Cẩm Khê - tỉnh Phú Thọ
• Chọn mẫu:
• Cỡ mẫu:
Dựa vào công thức chọn mẫu mô tả để ước lượng trung bình khẩu phần
của trẻ 6 – 23 tháng (độ chính xác 95%, x là giá trị trung bình của khẩu
phần = 800 Kcal và độ lệch chuẩn s = 250 Kcal từ các nghiên cứu
trước)
Z2 1-α/2 . s2 (1,96)2 x 250 2
N =
(0,05. x )2
=
(0,05 x 800) 2
Từ đó tính ra cỡ mẫu cần thiết là 150 trẻ.
Trên thực tế, lấy toàn bộ số trẻ từ 6 – 23 tháng tuổi ở 3 xã để cân đo
nhân trắc (170 trẻ) và hỏi ghi 150 bà mẹ.
• Phương pháp thu thập số liệu:
• Đối tượng: trẻ 6 đến 23 tháng tuổi
• Người cung cấp thông tin: mẹ hoặc người chăm sóc trực tiếp.

