C«ng ty V¾cxin vµ Sinh phÈm sè 1 B¸o c¸o tæng kÕt ®Ò tµi: Nghiªn cøu x©y dùng quy tr×nh c«ng nghÖ s¶n xuÊt v¾cxin d¹i trªn nu«i cÊy tÕ bµo Vero ë quy m« phßng ThÝ nghiÖm Cn®t: §ç TuÊn §¹t
8514
Hµ néi – 2010
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Lyssavirus dơi Úc (Australian Bat Lyssavirus) ABLV
Β-propiolactone BPL
Chủng virút thử thách (Challenge Virus Standard) CVS
Lyssavirus dơi châu Âu (European Bat Lyssavirus) EBLV
Dược điển châu Âu (European Pharmacopoeia) EP
Đơn vị quốc tế (International unit) IU
LAL
Thử nghiệm xác định nội độc tố theo phương pháp LAL (Limulus amoebocyte lysate)
Liều lượng gây chết 50% (Lethal Dose)
Môi trường dinh dưỡng tối thiểu (Minimum Essential medium) LD50 MEM
MNA
Tế bào nguyên bào thần kinh chuột (Murine Neuroblastoma cell)
Multiplicity of Infection MOI
Chủng vi rút giống gốc (Master seed virus) MSV
Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ (National Institute of Health) NIH
Cộng hưởng từ hạt nhân (Nuclear magnetic resonance) NMR
Chủng Pitman-Moore PM
Pleuropneumonia - like organism PPLO
Chủng Pasteur Virus PV
RFFIT
Thử nghiệm ức chế điểm huỳnh quang nhanh (Rapid fluorescent focus inhibition test)
SDS-PAGE
Điện di trên gel acrylamide (Sodium dodecyl sulfate polyacrylamide gel electrophoresis)
TCYTTG Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
VABIOTECH Công ty Vắcxin và sinh phẩm số 1
VVSDT Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương
Ngân hàng tế bào sản xuất (Working cell bank) WCB
Chủng vi rút giống sản xuất (Working seed virus)
WSV
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng Trang Bảng số
1.1. Các loại vắcxin dại thế hệ thứ nhất được sử dụng cho người
và thú y 14
1.2. Các loại vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào và quy trình sản xuất 21
2.1. Số lượng tế bào Vero thu được qua các đời cấy chuyển trong
quá trình nhân nuôi trên chai nuôi cấy một lớp 49
2.2. Kết quả nuôi cấy virút dại với các liều gây nhiễm khác nhau 51
2.3. Kết quả nuôi cấy virút dại theo ngày sau gây nhiễm virút vào 66
tế bào
2.4. Kết quả nuôi cấy virút dại theo thời điểm thay môi trường duy 69 trì tế bào khác nhau
2.5. Kết quả nuôi cấy virút dại trên các dạng chai nuôi cấy khác 72 nhau
2.6. Kết quả tinh sạch hỗn dịch virút bằng các loại màng lọc khác 75 nhau
2.7. Kết quả bất hoạt virút dại bằng các phương pháp bất hoạt 76 khác nhau
78 2.8. Kết quả cô đặc hỗn dịch virút dại theo các tỷ lệ khác nhau
2.9. Kết quả kiểm tra chất gây sốt trong bán thành phẩm vắcxin 91 dại
3.1. Kết quả nhân nuôi tế bào Vero của các loạt sản xuất thử
95 nghiệm
96 3.2. Kết quả gây nhiễm virút dại của các loạt sản xuất thử nghiệm
3.3. Kết quả nuôi cấy virút dại và thu hoạch nước nổi loạt 0109 97
3.4. Kết quả nuôi cấy virút dại và thu hoạch nước nổi loạt 0209 98
3.5. Kết quả nuôi cấy virút dại và thu hoạch nước nổi loạt 0309 99
3.6. Kết quả tinh sạch hỗn dịch virút của các loạt sản xuất thử
nghiệm 100
3.7. Kết quả bất hoạt virút của các loạt sản xuất thử nghiệm 101
3.8. Kết quả cô đặc hỗn dịch virút của các loạt sản xuất thử 101 nghiệm
3.9. Kết quả tinh chế virút của các loạt sản xuất thử nghiệm 102
3.10. Kết quả pha bán thành phẩm cuối cùng của các loạt sản xuất 105 thử nghiệm
3.11. Kết quả sản xuất vắcxin thành phẩm của các loạt sản xuất thử 105 nghiệm
106 3.12. Kết quả kiểm tra chất lượng vắcxin thành phẩm tại cơ sở của các loạt sản xuất thử nghiệm vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero dạng đông khô (VERAPVAX)
107 3.13. Kết quả kiểm tra chất lượng vắcxin thành phẩm tại cơ sở của các loạt sản xuất thử nghiệm vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero dạng lỏng (VERALVAX)
4.1. Tiêu chuẩn cơ sở cho vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero 141 (dạng lỏng hấp phụ nhôm)
4.2. Tiêu chuẩn cơ sở cho vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero 142
(dạng đông khô)
5.1. Kết quả kiểm tra an toàn đặc hiệu của vắcxin dại trên nuôi 153 cấy tế bào Vero
5.2. Kết quả kiểm tra tính an toàn chung của vắcxin dại trên nuôi 153 cấy tế bào Vero
5.3. Kết quả kiểm tra chất gây sốt của vắcxin dại trên nuôi cấy tế 154 bào Vero dạng lỏng (VERALVAX)
5.4. So sánh đáp ứng miễn dịch của vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero do VABIOTECH sản xuất với vắcxin Verorab 155
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình số Trang Tên hình
1.1. Cấu trúc hạt virút dại
1.2. Nguồn gốc của các chủng dại cố định được sử dụng trong sản 6 18 xuất vắcxin trên nuôi cấy tế bào
2.1. Tóm tắt quy trình công nghệ sản xuất vắcxin dại trên nuôi cấy 39 tế bào Vero
2.2. Hình ảnh tế bào Vero qua các đời cấy chuyển 41
2.3. Hình ảnh chuột liệt do chủng virút dại cố định PV
2.4. Hình ảnh nhiễm virút dại vào tế bào Vero dưới kính hiển vi 56 60 huỳnh quang
2.5. Kết quả siêu ly tâm phân vùng bằng rotor zonal tinh chế virút 85 dại
2.6. Hình ảnh điện di sản phẩm sau khi tinh chế virút dại theo 86 phương pháp siêu ly tâm phân cùng bằng rotor zonal
2.7. Hình ảnh siêu ly tâm phân vùng bằng rotor góc cố định tinh 86 chế virút dại
87 2.8. Hình ảnh điện di các phân đoạn sau khi tinh chế virút dại theo phương pháp siêu ly tâm phân cùng bằng rotor góc cố định
2.9. Phương pháp lai điểm xác định hàm lượng ADN tế bào tồn dư 88 trong các sản phẩm của quá trình sản xuất vắcxin dại
3.1. Xác định hàm lượng ADN tế bào tồn dư trong các sản phẩm 102 của loạt sản xuất vắcxin dại 0209
3.2. Xác định hàm lượng ADN tế bào tồn dư trong các sản phẩm
của loạt sản xuất vắcxin dại 0109 và 0309 103
3.3. Hình ảnh chạy điện di trên gel SDS-PAGE các sản phẩm của
loạt sản xuất vắcxin dại 0109 103
3.4. Hình ảnh chạy điện di trên gel SDS-PAGE các sản phẩm của
loạt sản xuất vắcxin dại 0209 và 0309 104
5.1. Sơ đồ gây miễn dịch và lấy máu chuột 146
MỤC LỤC
NỘI DUNG Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1-TỔNG QUAN 5
1.1. TỔNG QUAN VỀ BỆNH DẠI 5
1.1.1. Tác nhân gây bệnh và đặc điểm bệnh lý 5
1.1.2. Đáp ứng miễn dịch với virút dại 7
1.1.3. Tác động của bệnh dại đối với sức khỏe cộng đồng 8
1.1.4. Các khuyến cáo về tiêm phòng bệnh dại hiện nay 9
1.2. TỔNG QUAN VỀ VẮCXIN DẠI 13
1.2.1. Các vắcxin thế hệ thứ nhất 13
1.2.2. Các vắcxin thế hệ thứ hai 17
1.3. QUY TRÌNH SẢN XUẤT VÀ KIỂM TRA CHẤT LƢỢNG
VẮCXIN DẠI TRÊN NUÔI CẤY TẾ BÀO 20
1.3.1. Quy trình sản xuất vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào 20
1.3.2. Kiểm tra chất lƣợng vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào 24
1.4. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC, TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
SẢN XUẤT VẮCXIN DẠI TẠI VIỆT NAM 31
36 CHƯƠNG 2-XÂY DỰNG QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT VẮCXIN DẠI TRÊN NUÔI CẤY TẾ BÀO Ở QUY MÔ PHÒNG THÍ NGHIỆM
2.1. QUY TRÌNH NUÔI CẤY VÀ CHUẨN BỊ TẾ BÀO VERO 39
2.1.1. Các thử nghiệm kiểm tra nƣớc nổi nuôi cấy tế bào 43
2.1.2. Thử nghiệm kiểm tra các virút hấp phụ hồng cầu 47
2.1.3. Kết quả quy trình nuôi cấy tế bào Vero trên chai tế bào một lớp 48
2.2. QUY TRÌNH GÂY NHIỄM VIRÚT DẠI VÀO TẾ BÀO VERO 49
2.3. QUY TRÌNH NUÔI CẤY VIRÚT VÀ THU HOẠCH NƢỚC NỔI 53
2.3.1. Các phƣơng pháp xác định hiệu giá virút dại
2.3.2. Kết quả nuôi cấy virút dại theo các điều kiện nhân nuôi khác 54 65 nhau
2.4. QUY TRÌNH TINH SẠCH HỖN DỊCH VIRÚT 74
2.5. QUY TRÌNH BẤT HOẠT VIRÚT 76
2.6. QUY TRÌNH CÔ ĐẶC HỖN DỊCH VIRÚT 77
2.7. QUY TRÌNH TINH CHẾ VIRÚT
79 79 2.7.1. Thử nghiệm phát hiện ADN tế bào Vero tồn dƣ trong các sản phẩm của quy trình tinh chế vắcxin dại bằng phƣơng pháp lai điểm
84 2.7.2. Các phƣơng pháp tinh chế virút dại
2.8. QUY TRÌNH PHA BÁN THÀNH PHẨM CUỐI CÙNG 89
2.9. QUY TRÌNH SẢN XUẤT VẮCXIN THÀNH PHẨM 92
CHƯƠNG 3-SẢN XUẤT THỬ NGHIỆM VẮCXIN DẠI Ở QUY
MÔ PHÒNG THÍ NGHIỆM 94
3.1. KẾT QUẢ NUÔI CẤY VÀ CHUẨN BỊ TẾ BÀO VERO 94
3.2. KẾT QUẢ GÂY NHIỄM VIRÚT DẠI VÀO TẾ BÀO VERO 95
3.3. KẾT QUẢ NUÔI CẤY VIRÚT VÀ THU HOẠCH NƢỚC NỔI 96
3.4. KẾT QUẢ TINH SẠCH HỖN DỊCH VIRÚT 100
3.5. KẾT QUẢ BẤT HOẠT VIRÚT 100
3.6. KẾT QUẢ CÔ ĐẶC HỖN DỊCH VIRÚT 101
3.7. KẾT QUẢ TINH CHẾ VIRÚT 101
3.8. KẾT QUẢ PHA BÁN THÀNH PHẨM CUỐI CÙNG 104
3.9. KẾT QUẢ SẢN XUẤT VẮCXIN THÀNH PHẨM 105
3.10. KẾT QUẢ KIỂM TRA CHẤT LƢỢNG VẮCXIN THÀNH PHẨM
TẠI CƠ SỞ 105
CHƯƠNG 4 - XÂY DỰNG QUY TRÌNH KIỂM TRA CHẤT
109 LƯỢNG VÀ TIÊU CHUẨN CƠ SỞ CHO VẮCXIN VẮCXIN DẠI TRÊN NUÔI CẤY TẾ BÀO
4.1. CÁC PHƢƠNG PHÁP KIỂM TRA SINH HỌC 110
110 4.1.1. Phƣơng pháp kiểm tra vô khuẩn
113 4.1.2. Phƣơng pháp kiểm tra an toàn chung
116 4.1.3. Phƣơng pháp kiểm tra chất gây sốt
119 4.1.4. Phƣơng pháp kiểm tra an toàn đặc hiệu
121 4.1.5. Phƣơng pháp kiểm tra công hiệu
4.1.6. Thử nghiệm nhận dạng 125
4.2. CÁC PHƢƠNG PHÁP KIỂM TRA HÓA LÝ 126
4.2.1. Phƣơng pháp xác định hàm lƣợng protein tổng số 126
4.2.2. Xác định pH trong vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero 130
4.2.3. Định lƣợng thimerosal trong vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào 131
Vero
4.2.4. Định lƣợng nhôm trong vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero 134 dạng lỏng
4.2.5. Xác định độ ẩm tồn dƣ trong vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào 136 Vero dạng đông khô
139 4.2.6. Kiểm tra tính chất vật lý vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero
5.3. XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN CƠ SỞ CHO VẮCXIN DẠI TRÊN
NUÔI CẤY TẾ BÀO VERO 140
CHƯƠNG 5- ĐÁNH GIÁ TÍNH AN TOÀN VÀ HIỆU LỰC
VẮCXIN TRÊN ĐỘNG VẬT THÍ NGHIỆM 143
5.1. CÁC PHƢƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH AN TOÀN VÀ ĐÁP
144 ỨNG MIỄN DỊCH CỦA VẮCXIN TRÊN ĐỘNG VẬT THÍ NGHIỆM
5.1.1. Các phƣơng pháp đánh giá tính an toàn của vắcxin trên động 144 vật thí nghiệm
5.1.2. Các phƣơng pháp đánh giá đáp ứng miễn dịch của vắcxin trên 144 chuột
5.2. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TÍNH AN TOÀN VÀ HIỆU LỰC CỦA
VẮCXIN TRÊN ĐỘNG VẬT THÍ NGHIỆM
5.2.1. Tính an toàn của vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào trên động vật 152 152 thí nghiệm
5.2.2. Đáp ứng miễn dịch của vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero
154 trên động vật thí nghiệm
157 KẾT LUẬN
160 KIẾN NGHỊ
161 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
Tại trên 100 nước và vùng lãnh thổ, dại là một bệnh gây dịch trên động
vật. Bệnh dại ở chó là nguồn lây nhiễm chiếm đến 99% sang cho người và là
nguy cơ đe dọa tính mạng trên 3,3 tỷ người, chủ yếu tại các nước châu Á và
châu Phi. Cùng với chó nuôi tại nhà, nhiều giống thú ăn thịt và dơi cũng có
thể làm lây truyền bệnh dại sang cho người. Khi đã có biểu hiện trên lâm
sàng, phần lớn các ca bệnh dại đều tử vong do vậy việc tiêm phòng là biện
pháp phòng bệnh cũng như điều trị bệnh dại cho hiệu quả cao nhất. Gần 10
triệu người được tiêm phòng sau khi phơi nhiễm hàng năm chủ yếu tại các
nước châu Á. Tiêm phòng dại sau khi phơi nhiễm đã tránh được trên 300.000
ca tử vong hàng năm tại châu Á và châu Phi. Chi phí toàn cầu hàng năm cho
phòng bệnh dại ước tính khoảng trên 1 tỷ đô la Mỹ. Chi phí này cũng như tỷ
lệ đi tiêm phòng sau khi phơi nhiễm dự tính sẽ tăng lên một cách đáng kể khi
tất cả các nước thay thế vắcxin sản xuất từ mô thần kinh bằng vắcxin trên
nuôi cấy tế bào.
Trên 100 năm trước đây, Louis Pasteur và cộng sự đã phát triển vắcxin
dại thô đầu tiên để tiêm phòng sau khi phơi nhiễm dựa trên việc bất hoạt virút
trên mô thần kinh. Từ đó trở đi một số loại vắcxin đã được phát triển và sử
dụng trên thế giới. Các vắcxin thế hệ thứ nhất đều sử dụng mô động vật để có
được hỗn dịch chứa virút. Các vắcxin này đã được sử dụng rộng rãi để phòng
bệnh cho cả người và động vật. Tuy nhiên, các vắcxin này có rất nhiều nhược
điểm như còn virút sống tồn dư, hay gặp các phản ứng não tủy sau khi tiêm
vắcxin và hàm lượng kháng nguyên cho một liều tiêm thấp đòi hỏi phải có
một liệu trình điều trị kéo dài với một số lượng lớn các mũi tiêm. Dù đã có
1
những cải tiến bằng cách nhân nuôi virút trên não các động vật sơ sinh trước
khi myelin phát triển, các vắcxin bất hoạt sản xuất trên não động vật chưa dứt
sữa vẫn có thể gây ra các phản ứng thần kinh không mong muốn. Do vậy, các
vắcxin thế hệ thứ hai sản xuất trên nuôi cấy tế bào đã ra đời nhằm khắc phục
các nhược điểm của các dạng vắcxin cổ điển. Vắcxin này có tính an toàn và
công hiệu cao do đó được các nước phát triển lựa chọn để tiêm phòng cho
người trước và sau khi phơi nhiễm với virút. Đáp ứng miễn dịch và hiệu lực
của vắcxin trên nuôi cấy tế bào đã được chứng minh trên động vật thí nghiệm
và thực địa lâm sàng trên người. Ở cả phương pháp tiêm phòng trước và sau
khi phơi nhiễm, các vắcxin này đều tạo được đáp ứng kháng thể ở trên 99%
người được tiêm. Sử dụng các vắcxin thế hệ mới kết hợp với xử lý vết cắn
đúng cách và tiêm phòng globulin miễn dịch kháng dại đã tạo ra hiệu quả
phòng bệnh dại là 100% thậm chí cả với những trường hợp bị cắn có nguy cơ
mắc bệnh cao. Do vậy việc nghiên cứu, phát triển, sản xuất và tiến tới đưa ra
sử dụng rộng rãi vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào là cần thiết. Các quốc gia trên
thế giới cần sớm có các chiến lược để sử dụng và triển khai rộng khắp loại
vắcxin tiên tiến và cho hiệu quả cao này.
Tại Việt Nam, trong những năm 1991-1995, bệnh dại là vấn đề y tế
nghiêm trọng gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, tính mạng và kinh tế của
người dân. Bệnh xảy ra quanh năm, lưu hành ở hầu hết các tỉnh, thành phố
trên cả nước. Nếu tính một người tiêm vắcxin dại phí tổn 300.000 đồng (gồm
tiền thuốc, công lao động, tiền đi lại…) thì trong năm 1995 cả nước tốn gần
100 tỷ đồng. Thêm vào đó, mỗi năm có trên dưới 500 người thiệt mạng do
bệnh dại. Trước tình hình nghiêm trọng của bệnh dại, năm 1996, Chính phủ
đã ban hành chỉ thị về việc tăng cường phòng chống bệnh dại và Bộ Y tế đã
thành lập ban chỉ đạo Phòng chống bệnh dại Quốc gia. Thành công của
Chương trình là đến năm 2006 số ca tử vong do bệnh dại đã giảm 81% so với
2
năm 1995. Tuy nhiên, trong năm 2007, số ca tử vong do bệnh dại đã lại tăng
lên đến trên 100 trường hợp. Nguyên nhân có thể là do việc kiểm soát nguồn
gây bệnh mà chủ yếu là chó - nguồn gây bệnh chính tại Việt Nam còn nhiều
hạn chế. Bên cạnh đó, việc thay đổi chính sách sử dụng vắcxin, ngừng sử
dụng vắcxin thế hệ cũ rẻ tiền thay thế bằng vắcxin nhập ngoại sản xuất trên
nuôi cấy tế bào đắt tiền hơn, làm giảm khả năng được tiếp cận với vắcxin
phòng bệnh của các bệnh nhân nghèo, đặc biệt tại các vùng nông thôn, vùng
sâu, vùng xa.
Ở Việt Nam, trước năm 1974, vắcxin phòng bệnh dại cho người chủ
yếu là vắcxin sản xuất từ não cừu, dê (Fermi, Semple). Các vắcxin này có
chứa một lượng virút chưa bất hoạt và tính sinh miễn dịch thấp nên phải tiêm
nhiều mũi cùng với liều tiêm lớn. Từ năm 1974, Viện Vệ sinh dịch tễ học Hà
Nội đã nghiên cứu sản xuất vắcxin dại trên não chuột ổ theo phương pháp của
Fuenzalida-Palacios được chuyển giao kỹ thuật từ Viện Pasteur Paris (Pháp).
Ưu điểm chính của vắcxin này là không chứa hoặc chứa rất ít myelin của não
nên ít gây các tai biến thần kinh hơn. Hiệu giá virút thu hoạch từ não chuột ổ
cao hơn do đó tính sinh miễn dịch tốt hơn do vậy làm giảm số liều tiêm. Việc
sử dụng vắcxin dại trên não chuột ổ trong hơn 30 năm qua đã góp phần hạn
chế nguy cơ tử vong do bệnh dại. Theo kết quả báo cáo từ các Trung tâm Y tế
Dự phòng trên cả nước, trên 80% các trường hợp sau khi tiêm vắcxin
Fuenzalida có các phản ứng không mong muốn, các phản ứng không mong
muốn nghiêm trọng như viêm não tủy gây liệt vĩnh viễn và tử vong gặp với tỷ
lệ 1-2 trường hợp/10.000 mũi tiêm. Do các phản ứng không mong muốn
nghiêm trọng này, nên từ năm 2007, Bộ Y tế đã ra quyết định ngừng việc sử
dụng vắcxin dại Fuenzalida trên toàn quốc thay thế bằng các vắcxin nhập
ngoại sản xuất trên nuôi cấy tế bào trong đó chủ yếu là vắcxin Verorab của
Hãng Aventis Pasteur. Tỷ lệ bệnh nhân được tiêm phòng bằng vắcxin trên
3
nuôi cấy tế bào được nhập ngoại trước đây chỉ chiếm 15% số người được tiêm
vắcxin dại và giá thành cho một liệu trình tiêm loại vắcxin này rất đắt (gần
800.000 đồng) do đó cơ hội để các bệnh nhân nghèo, vùng sâu, vùng xa được
tiêm loại vắcxin này là rất hạn chế.
Đứng trước yêu cầu cần sớm có được vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào
được sản xuất trong nước nhằm làm giảm chi phí tiêm phòng cho bệnh nhân,
để nhiều người có cơ hội được tiêm phòng vắcxin dại từ đó giảm tỷ lệ tử vong
do bệnh dại, từ năm 2005 nhóm nghiên cứu của Công ty Vắcxin và sinh phẩm
số 1 (VABIOTECH) đã hướng đến việc nghiên cứu và phát triển vắcxin dại
trên nuôi cấy tế bào Vero tại Việt Nam. Nhận được sự hợp tác và giúp đỡ của
của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật và Dự phòng Hoa kỳ (CDC) trong việc
cung cấp các chủng giống sản xuất vắcxin dại, nhóm nghiên cứu đã tiến hành
các nghiên cứu ở cấp cơ sở và lựa chọn ra được chủng virút PV (Pasteur
Virus) và môi trường nuôi cấy không huyết thanh đạt các yêu cầu cho sản
xuất vắcxin. Từ những thành công này, nhóm nghiên cứu bắt đầu tiến hành
xây dựng quy trình công nghệ sản xuất vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero ở
quy mô phòng thí nghiệm. Với kinh nghiệm trên 30 năm sản xuất và kiểm
định chất lượng vắcxin dại sản xuất trên não chuột ổ, cùng với những kinh
nghiệm và thành công trong việc phát triển các vắcxin mới, VABIOTECH
đưa ra các mục tiêu và nội dung trong Đề tài nghiên cứu này với mong muốn
sớm có được sản phẩm vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào đạt tiêu chuẩn được
sản xuất tại Việt Nam.
Các mục tiêu nghiên cứu của Đề tài
1. Xây dựng được qui trình công nghệ ổn định sản xuất vắcxin dại trên
nuôi cấy tế bào Vero ở qui mô phòng thí nghiệm.
2. Sản xuất được các loạt vắcxin dại có chất lượng đạt yêu cầu của Tổ
chức Y tế thế giới và tương đương với các vắcxin cùng loại của nước
4
ngoài như vắcxin Verorab của Aventis Pasteur.
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN VỀ BỆNH DẠI
1.1.1. Tác nhân gây bệnh và đặc điểm bệnh lý
Virút dại thuộc nhóm Rhabdoviridae, họ Lyssavirus. Trong họ
Lyssavirus, virút dại cổ điển (các chủng virút hoang dại ở chó, mèo… và các
chủng virút dại cố định) thuộc genotype đầu tiên trong 7 genotype của nhóm.
Các virút thuộc các genotype còn lại thường gây bệnh ở động vật, tuy nhiên
đã có những trường hợp tử vong do nhiễm các virút này ở người như nhiễm
Lyssavirus dơi Úc (ABLV) hay nhiễm Lyssavirus dơi châu Âu (EBLV). Hạt
virút dại có hình viên đạn với chiều dài trung bình là 180 nm và đường kính là
75nm. Mỗi hạt virút có chứa nucleocapsid xoắn bao quanh bởi lớp một vỏ
lipid kép (Hình 1.1). Hệ gen là một ARN chuỗi đơn âm không phân đoạn có
chiều dài 11,9 kb. Bề mặt ngoài bao phủ bởi các gai có chiều dài khoảng 10
nm gắn vào lớp lipid. Virút dại có 5 protein cấu trúc chính. Phức hợp
ribonucleoprotein hạt nhân xoắn chứa ARN hệ gen liên kết với 3 protein bên
ngoài là enzyme ARN polymerase phụ thuộc ARN (L) (190kd), nucleoprotein
(N) (55 Kd) và phosphoprotein (NS) (38 KD). Các protein này cùng với ARN
tạo thành phức hợp ARN hoạt động kiểm soát cả quá trình phiên mã và nhân
lên của virút. Các protein cấu trúc khác là protein phức hợp (M) (26 kD) nằm
ở mặt trong vỏ của virút tạo thành cấu trúc ống và glycoprotein (G) (67K) tạo
thành các gai trên bề mặt virút [46], [52].
Bệnh dại bản chất là bệnh thú y và lây nhiễm sang người qua vết cắn và
vết cào xuyên da của động vật nhiễm. Lây truyền cũng có thể xảy ra khi chất
5
lây nhiễm thường là nước bọt xâm nhập trực tiếp vào niêm mạc hoặc tổn
thương da mới của nạn nhân. Bệnh dại rất hiếm xảy ra do hít phải các chất tiết
Protein phức hợp
Hệ gen ARN cuộn xoắn
Nucleoprotein
Màng lipid từ vật chủ
Phức hợp ribonucleoprotein hoặc nucleocapsid
Vỏ bao ngoài
Phosphoprotein
Glycoprotein
ARN polymerase
có chứa virút hoặc cấy ghép phủ tạng nhiễm bệnh.
Hình 1.1. Cấu trúc hạt virút dại
Đối với các ca bệnh ở người, giai đoạn ủ bệnh thường từ vài tuần đến
vài tháng nhưng cũng có thể thay đổi từ dưới 1 tuần đến trên 1 năm. Thời gian
ủ bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lượng virút lây nhiễm, mức độ tổn
thương và vị trí gần với thần kinh trung ương không của nơi virút xâm nhập
[13], [55].
Virút lây nhiễm di chuyển vào hệ thống thần kinh trung ương qua các
dây thần kinh ngoại vi, khi đến não bộ vi rút nhân lên và phát tán ngược trở ra
hệ thống thần kinh và nhiều phủ tạng khác nhau như tuyến nước bọt. Virút dại
lan truyền đến toàn bộ cơ thể thì bắt đầu các triệu chứng khởi phát tuy nhiên
lúc đó cơ thể không có được đáp ứng miễn dịch với vi rút [52].
Hiện chưa có thử nghiệm nào được sử dụng để chẩn đoán bệnh dại ở
người trước khi bệnh khởi phát trên lâm sàng. Do vậy, chẩn đoán bệnh sẽ chỉ
6
dựa trên tiền sử bệnh, các biểu hiện và triệu chứng có liên quan đến tình hình
dịch tễ của bệnh trên động vật. Biểu hiện đầu tiên của bệnh dại thường là sốt
nhẹ, đau và dị cảm tại vết thương. Khi virút lan truyền vào hệ thần kinh trung
ương, viêm não tiến triển sẽ xuất hiện có các đặc trưng là sợ nước hoặc sợ
gió, tăng động và mất ngủ, co giật toàn thân, sau đó một vài ngày sẽ ngừng
thở ngừng tim. Bệnh dại gây liệt có thể xảy ra ở 30% ca bệnh ở người, tiến
triển ít trầm trọng hơn tuy nhiên kết cục cuối cùng cũng là tử vong. Dạng
bệnh dại này thường bị chẩn đoán nhầm là bệnh lý khác [55].
Các chất kháng virút, interferon và liều lượng cao huyết thanh kháng dại
được sử dụng trong điều trị các ca bệnh ở người nhưng thường không tránh
được nguy cơ tử vong. Cho dù hiện đã có 1 trường hợp bệnh dại lây truyền từ
dơi được cứu sống sau khi dùng các thuốc gây ức chế thần kinh và thuốc
kháng virút nhưng liệu trình điều trị tích cực này lại gặp thất bại khi áp dụng
trên một số bệnh nhân khác cũng bị nhiễm dại do dơi [52].
1.1.2. Đáp ứng miễn dịch với vi rút dại
Sau khi nhiễm, virút dại chủ yếu xâm nhập vào hệ thần kinh do dó
kháng nguyên thường bị tách biệt ra khỏi hệ thống miễn dịch. Đáp ứng kháng
thể thường không được phát hiện ở người nhiễm trước 2 tuần đầu tiên của
bệnh. Các vắcxin trên nuôi cấy tế bào hiện nay cho kháng thể trung hòa virút
với protein G cao và sớm [46].
Với vắcxin dại, không thể tiến hành các thử nghiệm lâm sàng ngẫu
nhiên có nhóm chứng và theo dõi dọc ở các nhóm so sánh không điều trị. Do
vậy, thông tin về hiệu quả vắcxin sẽ chủ yếu dựa trên các kết quả thực địa
tiêm phòng sau phơi nhiễm ở người đã bị phơi nhiễm với chó có chẩn đoán
chắc chắn mắc dại trong phòng thí nghiệm. Đánh giá gián tiếp hiệu quả
vắcxin có thể được tiến hành qua các nghiên cứu về tính sinh miễn dịch so
7
sánh giữa hiệu giá kháng thể trung hòa virút sau khi tiêm vắcxin thử nghiệm
với kháng thể có được khi tiêm vắcxin đối chứng đã biết hiệu quả bảo vệ.
Thêm vào đó, mô hình động vật sẽ được sử dụng để chứng minh lợi ích của
tiêm phòng vắcxin. Tuy hiệu giá kháng thể trung hòa virút bảo vệ ở người
chưa được thiết lập nhưng nồng độ tối thiểu là 0,5 IU/ml được coi là tương
đương với khả năng bảo vệ. Ở người khỏe mạnh sau khi tiêm vắcxin, nồng độ
kháng thể có thể đạt được vào ngày thứ 14 của liệu trình tiêm sau phơi nhiễm
không phụ thuộc vào độ tuổi [46], [55].
1.1.3. Tác động của bệnh dại đối với sức khỏe cộng đồng
Tại trên 100 nước và vùng lãnh thổ, dại là một bệnh gây dịch trên động
vật. Bệnh dại ở chó là nguồn lây nhiễm chiếm đến 99% sang cho người và là
nguy cơ đe dọa tính mạng trên 3,3 tỷ người, chủ yếu tại các nước châu Á và
châu Phi. Cùng với chó nuôi tại nhà, nhiều giống thú ăn thịt và dơi cũng có
thể làm lây truyền bệnh dại sang cho người [55].
Khi đã có biểu hiện trên lâm sàng, phần lớn các ca bệnh dại đều tử vong.
Tuy nhiên, các ca tử vong do bệnh dại còn ít được báo cáo tại một số nước có
bệnh dại lưu hành đặc biệt ở nhóm tuổi nhỏ. Số ca tử vong hàng năm ước tính
là 55.000 có thể là thấp hơn so với con số thực. Châu Á và châu Phi chiếm
phần lớn các ca tử vong do bệnh dại. Tính riêng tại Ấn Độ, ước tính có
khoảng 20.000 ca chết mỗi năm với tỷ lệ là 2 /100.000 dân; tại châu Phi con
số này cũng tương đương là 24.000 ca (hoặc 4 ca /100.000 dân). Cho dù tất cả
các lứa tuổi đều có thể mắc bệnh nhưng trẻ dưới 15 tuổi là đối tượng thường
mắc nhất với 30-50% số trường hợp được tiêm phòng sau khi bị cắn là trẻ từ
5-14 tuổi và phần lớn là con trai [55].
Khoảng 98% trường hợp bệnh dại ở người xảy ra tại những vùng nuôi
nhiều chó mà đa phần được thả rông. Bệnh dại ở người là một bệnh hiếm gặp
8
tại các nước công nghiệp phát triển và ở phần lớn các nước Mỹ La tinh nơi
bệnh dại trên chó đã gần được loại trừ do giảm thiểu số lượng chó thả rông và
tiêm phòng cho chó nuôi tại nhà. Tại các nước như Thái Lan, việc triển khai
tiêm phòng rộng rãi cho chó và tăng cường tiêm phòng sau khi bị cắn đã làm
giảm đáng kể số ca chết do bệnh dại ở người.
Gần 10 triệu người được tiêm phòng sau khi bị cắn hàng năm chủ yếu là
tại Trung Quốc và Ấn Độ. Tiêm phòng dại sau khi bị cắn đã tránh được
330.304 ca tử vong hàng năm tại châu Á và châu Phi. Chi phí toàn cầu hàng
năm cho phòng bệnh dại ước tính khoảng trên 1 tỷ đô la Mỹ. Chi phí này
cũng như tỷ lệ đi tiêm phòng sau khi bị cắn dự tính sẽ tăng lên một cách đáng
kể khi tất cả các nước thay thế vắcxin sản xuất từ mô thần kinh bằng vắcxin
trên nuôi cấy tế bào hiện đại, an toàn và có hiệu lực cao [55].
1.1.4. Các khuyến cáo về tiêm phòng bệnh dại hiện nay
1.1.4.1. Tiêm phòng trước khi phơi nhiễm
Tiêm phòng trước phơi nhiễm được chỉ định cho những người có nguy
cơ phơi nhiễm cao với virút dại. Những đối tượng này bao gồm nhân viên
phòng thí nghiệm, nhân viên thú y, người nuôi giữ động vật, nhân viên bảo vệ
động vật hoang dại thường xuyên phải tiếp xúc với những động vật có khả
năng lây nhiễm cao cũng như các khách du lịch đến các khu vực có nguy cơ
mắc bệnh dại cao. Tuy nhiên, theo các nghiên cứu về độ tuổi mắc bệnh, nguy
cơ nhiễm bệnh cao nhất là trẻ em sống trong vùng động vật nhiễm bệnh dại
tại các nước đang phát triển [13], [55].
Chỉ định tiêm bắp
Tiêm phòng vắcxin dại trước phơi nhiễm cần liều tiêm bắp 1 ml hoặc
0,5 ml tùy thuộc vào loại vắcxin, tiêm theo lịch 0, 7, 28 ngày (ngày thứ 28
9
được lựa chọn nhưng có thể tiêm sớm hơn vào ngày 21 nếu có giới hạn về
mặt thời gian).
Chỉ định tiêm trong da
Tiêm trong da 0,1 ml vào ngày 0, 7, 28 (ngày thứ 28 được lựa chọn
nhưng có thể tiêm sớm hơn vào ngày 21 nếu có giới hạn về mặt thời gian) là
một liệu pháp được lựa chọn thay thể đường tiêm bắp. Tuy nhiên, tiêm trong
da đòi hỏi phải thực hành đúng kỹ thuật, cán bộ tiêm cần được đào tạo và
đượcgiám sát tốt.
Tiêm nhắc lại
Tiêm nhắc lại định kỳ chỉ dành cho các đối tượng thường xuyên và liên
tục tiếp xúc với virút dại. Trong các trường hợp này, liều nhắc cần được tiêm
với khoảng cách phù hợp được dự tính tùy theo kết quả xét nghiệm kháng thể.
Các nhân viên phòng thí nghiệm có nguy cơ lây nhiễm vỉ rút dại cao cần được
xét nghiệm 6 tháng một lần. Hiệu giá kháng thể trung hòa virút ít nhất là 0,5
IU/ml được cho là có khả năng bảo vệ. Ở những nơi không có điều kiện xét
nghiệm huyết thanh học, tiêm phòng nhắc lại được tiến hành 5 năm một lần.
1.1.4.2. Tiêm phòng sau khi phơi nhiễm
Chỉ định tiêm phòng sau phơi nhiễm kết hợp hoặc không kết hợp với
huyết thanh kháng dại tùy thuộc vào mức độ tiếp xúc với động vật nghi dại:
Độ I - Sờ hoặc cho động vật ăn, liếm trên bề mặt da (không tiếp xúc)
Độ II - Ngậm, cắn trên da không tổn thương, các vết sây xướt hoặc trợt
nhẹ không gây chảy máu.
Độ III - Một hoặc nhiều vết cắn hoặc vết cào trên da, liếm trên da tổn
10
thương, lây nhiễm niêm mạc với nước bọt, tiếp xúc với dơi.
Đối với độ I không cần tiêm phòng, độ II tiêm vắcxin ngay lập tức, độ
II tiêm vắcxin kết hợp với huyết thanh. Đối với độ II và độ III, rửa và sát xà
phòng (trong khoảng 15 phút) toàn bộ vết thương và vết cắn ngay lập tức
hoặc càng sớm càng tốt.
Không tiếp tục tiêm phòng sau phơi nhiễm nữa nếu động vật nghi dại
đã được khằng định bằng các xét nghiệm là không nhiễm dại hoặc chó hoặc
mèo nuôi vẫn khỏe mạnh sau 10 ngày theo dõi.
Các yếu tố để quyết định xem có bắt đầu tiêm phòng sau phơi nhiễm
hay không là mức độ nghi ngờ động vật mắc dại, mức độ tiếp xúc (độ I-III),
đặc điểm lâm sàng của động vật cũng như khả năng xét nghiệm của phòng thí
nghiệm. Trong phần lớn các trường hợp tại các nước đang phát triển, tình
trạng tiêm phòng vắcxin của động vật cũng là một trong những yếu tố cần
được quan tâm đến [55].
Chỉ định tiêm bắp
Lịch tiêm phòng sau phơi nhiễm với liều tiêm bắp là 1 hoặc 0,5 ml tùy
thuộc vào nhà sản xuất. Liệu trình tiêm khuyến cáo bao gồm 4 hoặc 5 liều
tiêm.
- Liệu trình tiêm 5 liều là tiêm bắp 1 liều vào các ngày 0, 3, 7, 14, 28.
- Liệu trình tiêm 4 liều là tiêm bắp 2 liều vào ngày 0 tiếp theo tiêm 1 liều
vào ngày 7 và 21
Chỉ định tiêm trong da
Có thể tiêm theo liệu trình 2 vị trí hoặc 8 vị trí tùy thuộc theo khuyến
11
cáo của nhà sản xuất
- Liệu trình tiêm trong da 8 vị trí là vào ngày 0, tiêm 8 vị trí (1 mũi vào
mỗi bên cánh tay, 1 mũi vào mỗi bên đùi, 1 mũi vào mỗi bên vùng thượng
đòn và 1 mũi vào mỗi bên vùng bụng dưới); vào ngày thứ 7, tiêm 1 mũi
vào mỗi bên cánh tay và mỗi bên đùi và vào ngày 30 và 90, tiêm 1 mũi vào
một bên cánh tay. Một liều tiêm vào ngày 90 có thể thay thế bằng 2 liều
tiêm ngày thứ 30.
- Liệu trình tiêm trong da 2 vị trí là tiêm 1 mũi 0,1 ml tại 2 vị trí vào
ngày 0, 3, 7 và 28.
Đối với những đối tượng đã tiêm phòng đầy đủ trước phơi nhiễm hoặc
đã từng tiêm phòng sau phơi nhiễm với vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào hoặc
hiện có hiệu giá kháng thể trung hòa virút ít nhất là 0,5 IU/ml, chỉ cần tiêm 2
liều tiêm bắp hoặc dưới da vào ngày 0 và 3 là đủ.
1.1.4.3. Tiêm kháng huyết thanh phòng dại
Huyết thanh phòng dại được chỉ định cho phơi nhiễm độ III và phơi
nhiễm độ II ở người suy giảm miễn dịch. Do mức độ thải trừ tương đối chậm,
globulin miễn dịch kháng dại ở người (HRIG) thường được lựa chọn đặc biệt
trong trường hợp bị phơi nhiễm nghiêm trọng và đa vị trí. Tuy nhiên, dạng
HRIG rất hiếm, chỉ đủ sử dụng tại các nước công nghiệp phát triển. Globulin
miễn dịch ngựa tinh chế (ERIG) hoặc sản phẩm F(ab’) của ERIG cũng có thể
được sử dụng. Phần lớn các chế phẩm ERIG mới đều tốt, có độ tinh khiết cao,
an toàn và rẻ hơn so với HRIG. Tuy nhiên, do có nguồn gốc khác loài nên khi
tiêm ERIG sẽ có nguy cơ gặp phải các phản ứng quá mẫn.
Huyết thanh kháng dại không được tiêm muộn quá 7 ngày sau khi bắt
đầu tiêm phòng sau phơi nhiễm. Liều lượng của HRIG là 20IU/kg cân nặng
12
còn đối với ERIG và sản phẩn F(ab’) là 40IU/kg cân nặng. Toàn bộ các sản
phẩm huyết thanh kháng dại cần được tiêm vào trong hoặc xung quanh vết
thương. Phần còn lại của huyết thanh phải được tiêm bắp vào vị trí xa chỗ
tiêm vắcxin [55].
1.2. TỔNG QUAN VỀ VẮC XIN DẠI
Trên 100 năm trước đây, Louis Pasteur và cộng sự đã phát triển vắcxin
dại thô đầu tiên để tiêm phòng sau khi bị cắn dựa trên việc bất hoạt virút trên
mô thần kinh. Từ đây trở đi một số loại vắcxin đã được phát triển và sử dụng
trên thế giới.
1.2.1. Các vắcxin thế hệ thứ nhất
Các vắcxin thế hệ thứ nhất đều sử dụng mô động vật để có được hỗn
dịch chứa virút. Các vắcxin này đều đã được sử dụng rộng rãi cho cả người và
động vật. Các loại vắcxin dại chủ yếu thuộc thế hệ thứ nhất được sử dụng cho
13
người và thú y được trình bày trong Bảng 1.1 [27], [36].
Bảng 1.1. Các loại vắc xin dại thế hệ thứ nhất
đƣợc sử dụng cho ngƣời và thú y
Mô đƣợc sử dụng
Chủng virút
Loại vắcxin
Phƣơng pháp bất hoạt
Sử dụng cho ngƣời
Dạng vắcxin
Mô thần kinh: Cừu, dê
Pasteur
Bất hoạt
Dung dịch
Pasteur
Bất hoạt
Phenol (1 ngày) Có Phenol, 300C
Có
Dung dịch
Mô thần kinh: Thỏ, cừu, dê
Mô thần kinh: Cừu
Pasteur
Bất hoạt
Ether-Phenol
Có
Dung dịch
Mô thần kinh: Cừu
Pasteur
Bất hoạt
Phenol (14 ngày) Có
Đông khô
Mô thần kinh: Cừu
PV11
Bất hoạt
Đông khô
-propiolactone Có
Bất hoạt
Tia cực tím
Có
Dung dịch
Não chuột nhắt chưa dứt sữa
CVS, 51, 91
Não thỏ chưa dứt sữa
PV
Bất hoạt
Tia cực tím
Có
Đông khô
Não chuột chưa dứt sữa PV
Bất hoạt
Phenol (14 ngày) Có
Đông khô
Bất hoạt
Phôi vịt
PM
Đông khô
-propiolactone Có
Phôi gà
-
Đông khô
Flury LEP
Giảm độc lực
Không (chỉ sử dụng cho chó)
Phôi gà
Kelev
-
Đông khô
Giảm độc lực
Không (chỉ sử dụng cho chó)
Phôi gà
-
Đông khô
Flury HEP
Giảm độc lực
Không (sử dụng cho gia súc, mèo)
Dựa trên các loại mô được sử dụng để sản xuất khác nhau, các vắcxin
thế hệ thứ nhất có thể được xếp loại theo:
Vắcxin sản xuất từ mô thần kinh động vật trưởng thành
Các vắcxin này có rất nhiều các nhược điểm như:
- Còn virút sống tồn dư: các vắcxin như vắcxin Fermi thường có chứa virút
14
sống do chưa được bất hoạt hoàn toàn bởi phenol nên được coi như là
vắcxin hỗn hợp có cả virút sống tồn dư và virút đã bất hoạt, do vậy vắcxin
này nguy hiểm khi sử dụng.
- Phản ứng não tủy sau khi tiêm vắcxin: một số vắcxin thuộc nhóm này
như vắcxin Semple và vắcxin Hempt tuy đã được bất hoạt hoàn toàn và
đáp ứng được yêu cầu về mặt công hiệu nhưng những phản ứng não tủy
nghiêm trọng do tiêm vắcxin vẫn xảy ra trong hoặc sau khi tiêm phòng.
Phản ứng do yếu tố gây phản ứng trong não (một protein cơ bản liên quan
đến myelin) tăng cao khi sử dụng các mô thần kinh động vật trưởng thành.
Những phản ứng này là các tai biến liệt thần kinh từ liệt nhẹ thoáng qua
đến các thương tổn thần kinh vĩnh viễn và thậm chí là tử vong.
- Hàm lượng kháng nguyên cho một liều tiêm thấp: đặc tính này đòi hỏi
phải có một liệu trình điều trị kéo dài với một số lượng lớn các mũi tiêm.
Các vắcxin này thường được đóng dưới dạng dung dịch nên có tính ổn
định thấp chỉ trong vòng gần 6 tháng [27].
Vắcxin sản xuất trên trứng có phôi
Thích ứng các chủng vắcxin dại trên trứng có phôi (chủng Pitman
Moore) đã phát triển được các vắcxin dại sử dụng cho người an toàn hơn,
giảm thiểu các phản ứng não tủy sau tiêm vắcxin. Tỷ lệ có các phản ứng thần
kinh thấp hơn (dưới 3/100.000 mũi tiêm) ở các vắcxin dùng cho người được
sản xuất trên phôi vịt so với các vắcxin được sản xuất trên mô thần kinh. Tuy
nhiên các phản ứng tại chỗ lại rất hay gặp như có đến 70% gặp ở các liệu
trình tiêm vắcxin dự phòng và 100% ở các liệu trình tiêm điều trị với 14 liều
tiêm. Tính sinh miễn dịch của loại vắcxin này cần được xem xét thêm do
trong một số trường hợp lượng kháng thể đạt được rất thấp. Các chủng virút
cố định Flury và Kelev đã thích ứng trên phôi gà được cấy chuyển nhiều đời
15
(180 đối với Flury và 70 đối với Kelev) tạo ra các chủng virút giảm độc lực.
Các vắcxin sản xuất với các chủng giảm độc lực trên phôi gà đã được sử dụng
cho chó, mèo và bò.
Trứng có phôi sử dụng trong sản xuất vắcxin đòi hỏi một chất lượng rất
cao, phải đảm bảo loại trừ được tất cả virút ngoại lai (bệnh đốm trắng ở gia
cầm) và vi khuẩn (Salmonella) [27], [36].
Vắcxin sản xuất từ não động vật chưa dứt sữa
Yếu tố gây phản ứng trong não là nguyên nhân của các tai biến thần kinh
sau tiêm vắcxin có trong mô thần kinh động vật trưởng thành nhưng có không
đáng kể hoặc không có ở trong các mô thần kinh của một số động vật chưa
dứt sữa. Thêm vào đó, một lượng lớn hơn virút có được khi nhân nuôi trên
các mô thần kinh của động vật sơ sinh, do đó vắcxin dại đã được phát triển
trên những động vật này. Vắcxin đầu tiên thuộc loại này được phát triển bởi
Fuenzalida và Palacios trên não chuột ổ với việc sử dụng 3 chủng virút dại cố
định (CVS, 51 và 91). Dù đã có những cải tiến bằng cách nhân nuôi virút trên
não các động vật sơ sinh trước khi myelin phát triển, các vắcxin bất hoạt sản
xuất trên não động vật chưa dứt sữa vẫn có thể có các phản ứng thần kinh
không mong muốn. Khoảng 0,3 - 0,8 trên 1.000 cá thể được tiêm vắcxin có
biểu hiện viêm não tủy nặng do trong vắcxin vẫn tồn dư các protein thần
kinh. Thêm vào đó, các vắcxin trên mô thần kinh có hiệu lực thấp hơn so với
vắcxin trên nuôi cấy tế bào nên đòi hỏi một liệu trình tiêm phòng dài hơn.
Trong những năm gần đây, Ấn Độ và Nepal đã dần thành công trong việc
ngừng sản xuất và sử dụng vắcxin trên mô thần kinh. Tuy nhiên, với giá thành
rẻ và điều kiện kinh tế còn khó khăn, vắcxin trên mô thần kinh hiện vẫn được
16
sử dụng tại một số nước chủ yếu là tại vùng Đông Nam châu Á [36], [55].
1.2.2. Các vắcxin thế hệ thứ hai
Đây là các vắcxin được sản xuất trên nuôi cấy tế bào. Vắcxin chứa virút
bất hoạt sau khi nhân nuôi trên các dòng tế bào như tế bào lưỡng bội người, tế
bào thận khỉ phôi thai, tế bào thận chuột đất vàng tiên phát, tế bào Vero, tế
bào phôi gà… Các vắcxin này sử dụng tiêm phòng trước và sau phơi nhiễm
[22], [34].
Vắcxin sản xuất trên tế bào lưỡng bội người là vắcxin được đưa vào sử
dụng đầu tiên vào năm 1967. Vắcxin này có tính an toàn và công hiệu cao do
đó được các nước phát triển lựa chọn để tiêm phòng cho người trước và sau
khi phơi nhiễm với virút [11]. Với cố gắng tìm ra các vắcxin có giá thành thấp
hơn và nhưng đặc tính lại tương đương với vắcxin sản xuất trên tế bào lưỡng
bội người, trong những năm gần đây vắcxin tinh khiết trên tế bào phôi gà và
vắcxin tinh khiết trên tế bào Vero đã được phát triển [30]. Các vắcxin trên
nuôi cấy tế bào đều sử dụng các virút cố định thuộc genotype 1 [36]. Nguồn
gốc của các chủng virút dại cố định chính được sử dụng để sản xuất vắcxin
trên nuôi cấy tế bào được trình bày trong Hình 1.2.
Đáp ứng miễn dịch và hiệu quả cả vắcxin trên nuôi cấy tế bào được
chứng minh qua các nghiên cứu trên động vật thí nghiệm và các đánh giá lâm
sàng trên người. Đối với cả phòng trước và sau khi phơi nhiễm, vắcxin cho
đáp ứng kháng thể ở trên 99% người được tiêm. Sử dụng đúng thời điểm
vắcxin mới kết hợp với việc xử trí vết thương đúng cách và tiêm huyết thanh
kháng dại cho hiệu quả phòng dại gần 100% thậm chí đối với cả các trường
hợp phơi nhiễm nguy cơ cao. Tuy nhiên, việc tiêm phòng muộn hoặc không
tiêm phòng đủ mũi đặc biệt với các tổn thương ở đầu, cổ, tay hoặc đa vết cắn
có thể vẫn bị tử vong do mắc bệnh dại [55].
17
Các vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào cũng được cho là các vắcxin có độ
an toàn cao. Sau khi tiêm bắp vắcxin trên nuôi cấy tế bào lưỡng bội người,
các phản ứng tại chỗ nhẹ và tự khỏi như đau, sưng tấy, đỏ tại chỗ tiêm xảy ra
ở 21-74% số người được tiêm. Các phản ứng toàn thân nhẹ như sốt, đau đầu,
chóng mặt, rối loạn tiêu hóa gặp ở 5-40% trường hợp. Phản ứng quá mẫn xảy
ra ở 6% người được tiêm liều nhắc lại và rất ít gặp ở tiêm liều ban đầu [43].
Khi thêm bước tinh chế, các phản ứng toàn thân đã hiếm gặp hơn. Với vắcxin
trên nuôi cấy tế bào Vero và tế bào phôi gà, tỷ lệ gặp các phản ứng tại chỗ và
toàn thân nhẹ tương đương với vắcxin sử dụng tế bào lưỡng bội người, tuy
nhiên không gặp các phản ứng quá mẫn hệ thống [34], [55].
Pháp (Paris) 1882
Mỹ (Georgia) 1939
Trung Quốc 1931
Mỹ (Alabama) 1935
Dại ở bò
Dại ở chó
Dại ở người
Dại ở chó
Não gà
Não thỏ
Não chuột
> 1500 lần cấy chuyển Não thỏ
Argentina
Tế bào thận chuột đất vàng
Mỹ - K.Habel 1940
Phôi gà
Não thỏ
Phôi gà
Nuôi cấy tế bào phôi gà
Nuôi cấy tế bào thận chuột đất vàng
Nuôi cấy tế bào Vero
Pháp (Paris) 1965 Não thỏ
Nuôi cấy tế bào Vero
SAD
Flury HEP/LEP
Beijing-31
PM
Vnukovo-32
PV
Hình 1.2. Nguồn gốc của các chủng dại cố định đƣợc sử dụng để sản xuất
18
vắcxin trên nuôi cấy tế bào
Kinh nghiệm 20 năm (1985-2005) sử dụng một trong các vắcxin dại trên
nuôi cấy tế bào, vắcxin Verorab, đã cho thấy vắcxin an toàn và cho hiệu quả
phòng bệnh dại cao [45]. Trên 40 triệu liều vắcxin Verorab đã được tiêm tại
trên 100 quốc gia. Không có phản ứng không mong muốn nghiêm trọng nào
do vắcxin Verorab được báo cáo trong thử nghiệm lâm sàng trên 3937 đối
tượng và vắcxin này được cho là dung nạp tốt hơn so với vắcxin sản xuất trên
tế bào lưỡng bội người. Tiêm phòng sau phơi nhiễm đã khẳng định khả năng
sinh miễn dịch trên 1437 đối tượng bằng tất cả các đường tiêm với đáp ứng
sớm sau liều nhắc lại; Verorab cho đáp ứng nhắc lại có hiệu quả ở các đối
tượng đã được tiêm trước với vắcxin sản xuất trên tế bào lưỡng bộ người.
Không như dạng vắcxin sử dụng tế bào lưỡng bội người, Verorab không gây
ra các phản ứng quá mẫn huyết thanh ở người được tiêm nhắc lại. 2183 đối
tượng tại nhiều quốc gia ở châu Âu và châu Á trong đó có 874 đối tượng có
nguy cơ cao đã được tiêm phòng sau phơi nhiễm và cho hiệu quả bảo vệ.
Verorab đã được tiêm phòng sau phơi nhiễm có hiệu quả và an toàn cho 251
phụ nữ có thai không làm tăng các dị tật bẩm sinh hoặc sảy thai tự nhiên. Đối
với trẻ em, tính an toàn và hiệu quả cũng được thấy trên 759 trẻ (từ 0-15 tuổi)
[45]. Liệu trình sử dụng Verorab tiêm trong da sau phơi nhiễm cho hiệu quả
tốt và giảm giá thành tại các nước đang phát triển. Từ các kết quả nghiên cứu
lâm sàng sử dụng Verorab tiêm bắp và tiêm trong da trước và sau phơi nhiễm
cho thấy vắcxin có hiệu quả bảo vệ tốt và an toàn trên người [3].
Với việc cho ra đời và sử dụng vắcxin trên nuôi cấy tế bào đã làm giảm
đáng kể số các trường hợp tử vong ở người trên toàn thế giới mà phần lớn là
tại các nước mà bệnh dại trên chó vẫn còn lưu hành phổ biến. Một ví dụ điển
hình nhất là tại Thái Lan, việc triển khai tiêm phòng vắcxin trên nuôi cấy tế
bào cùng với việc giảm liều lượng tiêm bằng liệu trình tiêm trong da đã làm
19
cho tỷ lệ mắc dại mới ở người giảm đến 80% trong vòng 15 năm. Các kết quả
tương tự cũng được báo cáo tại nhiều nước khác khi vắcxin trên mô thần kinh
được thay thế bằng vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào. Do vậy việc nghiên cứu,
phát triển, sản xuất và tiến tới đưa ra sử dụng rộng rãi vắcxin dại trên nuôi cấy
tế bào là cần thiết, các nước cần sớm có các chiến lược để sử dụng và triển
khai rộng khắp để tiêm phòng loại vắcxin tiên tiến và có hiệu quả cao này
[22], [55].
1.3. QUY TRÌNH SẢN XUẤT VÀ KIỂM TRA CHẤT LƢỢNG VẮC
XIN DẠI TRÊN NUÔI CẤY TẾ BÀO
1.3.1. Quy trình sản xuất vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào
Hiện nay, các vắcxin trên nuôi cấy tế bào được chia thành 3 nhóm chính
tùy thuộc vào hệ thống tế bào được sử dụng trong sản xuất [36]:
- Nhóm 1: Nhóm này gồm các vắcxin sử dụng các dòng tế bào động vật có
vú nguyên phát như thận chuột đất vàng, thận chó, thận bê bào thai hoặc
các nuôi cấy tế bào của gia cầm như phôi gà, phôi chim cút dựa theo
phương pháp của Kissling.
- Nhóm 2: Nhóm này gồm các vắcxin được sản xuất trên các dòng tế bào
lưỡng bội chủ yếu có nguồn gốc từ người (W138, MRC5) và một số có
nguồn gốc động vật như bào thai khỉ Rhesus.
- Nhóm 3: Nhóm này gồm các vắcxin được sản xuất trên các dòng tế bào
thường trực như tế bào Vero.
Các loại tế bào, các quy trình được sử dụng trong sản xuất và các phác
20
đồ tiêm phòng đối với từng loại vắcxin được trình bày trong Bảng 1.2.
Hình 1.2. Các loại vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào và quy trình sản xuất
Tá dƣợc
Loại tế bào
Chủng virút
Phƣơng pháp cô đặc
Phƣơng pháp bất hoạt
Tiêm phòng trƣớc khi bị cắn
Tiêm phòng sau khi bị cắn
WI 38
PM 1503
Siêu ly tâm
TNBP/tween-80
-
0, 7, 21, 28
0, 3, 7, 14, 30, 90
MRC-5 PM 1503
Siêu ly tâm
0, 28
-
-propiolactone
0, 3, 7, 14, 30, 90
MRC-5 PM 1503
0, 30, 60
-
-propiolactone
0, 3, 7, 14, 30, 90
Ly tâm phân vùng
MRC-5 SAD-60
Siêu ly tâm
Thử nghiệm Thử nghiệm
-
-propiolactone
VERO
PM 1503
0, 7, 28
-
-propiolactone
0, 3, 7, 14, 30, 90
Siêu ly tâm - Ly tâm phân vùng
HKC
Ly tâm
Tia cực tím
0, 3, 7, 28
-
0, 3, 7, 14, 30, 90
Vnukovo- 32
HKC
Beijing-31 Ly tâm
Formol/Phenol Al(OH)3 0, 3, 7. 28
0, 3, 7, 14, 30, 90
DKC
PM 1503
0, 28, 180
-propiolactone AlPO4
0, 3, 5, 7, 14, 30, 90
Siêu ly tâm – Sepharose 6B
FBKC
0, 21
Thử nghiệm
-
-propiolactone
PV11/RV 31
Siêu ly tâm - Ly tâm phân vùng
PCEC
0, 28, 180
-
Flury HEP Siêu ly tâm - Ly tâm
0, 2, 4, 6, 8, 14, 28
-propiolactone hoặc tia cực tím
PCEC
0, 28, 180
-
-propiolactone
Flury LEP Siêu ly tâm - Ly tâm
0, 2, 4, 6, 8, 14, 28
HKC: Tế bào thận chuột đất vàng nguyên phát; DKC: Tế bào thận chó nguyên phát;
FBKC: Tế bào thận bào thai bê nguyên phát; PCEC: Tế bào phôi gà nguyên phát; TNBP:
Tri(n)-butyl-phosphate.
Các bước chính của quy trình sản xuất vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào
bao gồm:
- Nhân nuôi tế bào: Chai nuôi cấy tế bào một lớp hoặc hệ thống lăn chai
(roller bottle) là một trong những giải pháp được sử dụng để nhân nuôi tế
21
bào. Để tăng hiệu suất và mở rộng quy mô sản xuất, các chai khuấy
(spinner flask) hoặc hệ thống nuôi cấy sinh khối (bioreactor) được sử
dụng. Các tiểu giá thể (microcarrier) trong hệ thống nuôi cấy sinh khối là
một giải pháp tiên tiến cho phép tăng diện tích bề mặt bám dính của tế bào
từ đó làm tăng số lượng tế bào lên nhiều lần. Đánh giá chính xác các chỉ số
động học thông qua lượng các chất dinh dưỡng được tiêu thụ và lượng các
chất gây độc sản sinh ra do quá trình chuyển hóa sẽ cho phép tìm ra các
giải pháp làm tăng số lượng tế bào lên đến mức cần thiết để tạo ra một
lượng kháng nguyên virút tối ưu [47], [48].
- Gây nhiễm và nhân nuôi virút: Gây nhiễm virút vào tế bào được tiến
hành đối với hỗn dịch tế bào hoặc trên tế bào đã được nuôi cấy một lớp.
Để đạt được hiệu suất virút cao nhất cần lưu ý một số yếu tố liên quan đến
việc kết hợp giữa tế bào và virút như nhiệt độ nuôi cấy, liều lượng virút
gây nhiễm, thời gian và số lần thu hoạch. Mối tương quan giữa mật độ tế
bào và nồng độ kháng nguyên đạt được sau khi gây nhiễm là một vấn đề
rất phức tạp. Về mặt lý thuyết, khi điều kiện gây nhiễm đã được tối ưu, số
lượng tế bào càng nhiều thì lượng virút được sản xuất ra càng cao. Tuy
nhiên, điều này không hoàn toàn đúng trong mọi trường hợp do tính không
đồng nhất về tình trạng chuyển hóa đối với tất cả các tế bào.
- Cô đặc và tinh khiết: Đối với các vắcxin sản xuất trên nuôi cấy tế bào, cô
đặc và tính khiết kháng nguyên virút là những quy trình thường xuyên
được tiến hành. Một vài phương pháp hiện được nhiều nhà sản xuất sử
dụng là siêu ly tâm, ly tâm phân vùng và sắc ký lỏng. Ở quy mô sản xuất
lớn, các kỹ thuật thường được áp dụng là siêu ly tâm và ly tâm trong
gradient tỷ trọng.
- Bất hoạt virút: Quy trình bất hoạt là bắt buộc đối với các vắcxin sử dụng
22
cho người. Nếu bất hoạt bằng các chất hóa học thì nhiệt độ và thời gian bất
hoạt cần được xác định đối với mỗi loại vắcxin. Một trong những chất
được sử dụng có hiệu quả đối với vắcxin trên nuôi cấy tế bào là -
propiolactone do bất hoạt tốt virút dại và giảm lượng ADN tồn dư từ tế
bào. Nhược điểm của phương pháp này là giá thành còn cao và khá độc
trước khi được xử lý nhiệt. Tia cực tím cũng được sử dụng để bất hoạt
virút. Trong trường hợp này liều lượng và thời gian chiếu nên được xem
xét kỹ để toàn bộ virút đều được bất hoạt mà không làm giảm đi lượng
kháng nguyên.
- Ổn định và đông khô: Phần lớn các vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào được
giữ ở dạng đông khô để có được tính ổn định cao. Do vậy, thời hạn sử
dụng của vắcxin dạng này kéo dài hơn nhiều so với vắcxin được giữ ở
dạng dung dịch.
Vắcxin sử dụng cho người thường được tiêm với mục đích điều trị sau
khi đã phơi nhiễm với virút dại (5 liều tiêm hoặc nhiều hơn tùy thuộc vào loại
vắcxin) hoặc là dự phòng do đó các vắcxin này phải đáp ứng được các yêu
cầu nghiêm ngặt trong phát triển sản phẩm như:
- Virút phải được bất hoạt hoàn toàn.
- Các dòng tế bào lưỡng bội hoặc thường trực được sử dụng để nhân
nuôi virút không được có các chất gây ung thư hoặc bị chuyển dạng. Do
vậy, các dòng tế bào sử dụng trong sản xuất và hàm lượng ADN trong
một liều tiêm cho người phải đáp ứng được yêu cầu của Tổ chức Y tế
thế giới (TCYTTG) đối với các vắcxin sản xuất trên nuôi cấy tế bào
dùng để tiêm cho người [36].
Xu hướng phát triển các vắcxin dại mới hiện nay là tìm kiếm các công
23
nghệ có giá thành rẻ nhưng vẫn có hiệu quả tốt. Một trong những xu hướng
được nhiều nhà sản xuất áp dụng là tiến hành nuôi cấy virút trên hệ thống
nuôi cấy sinh khối với các tiểu giá thể nuôi cấy tế bào và sử dụng các môi
trường không chứa huyết thanh (serum-free medium) [19], [59]. Môi trường
không chứa huyết thanh đã hạn chế được các nhược điểm của các môi trường
có huyết thanh như dễ gây ra các phản ứng quá mẫn ở người được tiêm,
không có tính đồng nhất giữa các mẻ huyết thanh, dễ bị nhiễm bởi các tác
nhân vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, mycoplasma, virút ở động vật…) và giá
thành cao hơn. Bên cạnh đó, một số xu hướng áp dụng các công nghệ sinh
học tiên tiến như phát triển vắcxin tái tổ hợp của protein G, vắcxin ADN cũng
đã được nghiên cứu, tuy nhiên hiện các nghiên cứu này chỉ được tiến hành với
mục đích phát triển các vắcxin sử dụng cho động vật chứ không phải là các
vắcxin để sử dụng cho người [22].
1.3.2. Kiểm tra chất lƣợng vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào
Kiểm tra chất lượng nguyên vật liệu gốc
Điều kiện cho nhân nuôi virút
Sử dụng tế bào lưỡng bội hoặc tế bào thường trực để sản xuất vắcxin
dại cần dựa trên hệ thống tế bào giống. Giống tế bào cũng như số lần cấy
chuyển tối đa cần đạt các yêu cầu của TCYTTG và của kiểm định Quốc gia
[54].
Thử nghiệm nhận dạng tế bào được tiến hành chủ yếu với ngân hàng tế
bào giống gốc. Các thử nghiệm được tiến hành bao gồm thử nghiệm sinh hóa
(phân tích isoenzyme), miễn dịch và gen tế bào.
Môi trường nuôi cấy tế bào:
24
- Huyết thanh sử dụng để nhân nuôi tế bào phải được thử nghiệm để xác
định không nhiễm vi khuẩn, nấm, mycoplasma và các virút lây nhiễm từ
động vật. Bất kỳ thành phẩn nào có nguồn gốc từ bò, cừu hoặc dê sử dụng
cho nuôi cấy tế bào cần đạt các yêu cầu của TCYTTG và của kiểm định
Quốc gia. Các thành phần này phải đáp ứng được các hướng dẫn hiện tại
của TCYTTG liên quan đến spongiform gây bệnh lý não lây truyền ở động
vật. Huyết thanh người được sử dụng cũng phải kiểm soát về chất lượng
và quy trình sản xuất.
- Các kháng sinh penicillin và thuộc họ beta-lactam khác không được sử
dụng ở bất kỳ giai đoạn sản xuất nào. Nồng độ tối thiểu của các kháng sinh
như kanamycin hay neomycin cũng phải đạt theo các yêu cầu của
TCYTTG và của kiểm định Quốc gia.
- Trypsin có nguồn gốc động vật sử dụng để chuẩn bị nuôi cấy tế bào
cũng cần phải thử nghiệm và không được có vi khuẩn, nấm, mycoplasma
và các virút lây nhiễm khác.
Chủng virút
Chủng virút dại sử dụng trong sản xuất các loạt giống cần được xác
định đặc tính. Chủng cần có hồ sơ lý lịch ghi chép các thông tin và nguồn gốc
đáp ứng được yêu cầu đối với việc sản xuất vắcxin bất hoạt an toàn và có hiệu
quả miễn dịch. Chủng giống virút sản xuất không được cấy chuyển quá 5 đời
từ chủng giống gốc. Vắcxin cần được sản xuất từ loạt giống sản xuất mà
không cấy chuyển thêm. Chủng giống virút cần được bảo quản âm hoặc đông
khô [54]. Các thử nghiệm đối với chủng giống virút bao gồm:
- Thử nghiệm về vi khuẩn, nấm và mycoplasma
- Thử nghiệm về tác nhân ngoại lai trên chuột sữa, chuột trưởng thành và
25
nuôi cấy tế bào.
- Xác định hàm lượng virút bằng phương pháp gây nhiễm vào não chuột.
Hiệu giá tối thiểu của chủng giống được xác định tùy theo nhà sản xuất tùy
thuộc vào sản phẩm, tế bào và chủng virút.
Kiểm tra chất lượng quá trình sản xuất vắcxin
Kiểm tra nuôi cấy tế bào
Các thử nghiệm kiểm tra nuôi cấy tế bào bao gồm:
- Thử nghiệm về virút hấp phụ hồng cầu
- Thử nghiệm về tác nhân ngoại lai trong dung dịch nuôi cấy tế bào
- Thử nghiệm nhận dạng (dòng tế bào)
Kiểm tra mẻ gặt virút đơn và bán thành phẩm tinh chế
- Thử nghiệm vô khuẩn trên các mẻ gặt virút đơn
- Nhận dạng: mẻ gặt đơn chứa virút cần được xác định là virút bằng cách
sử dụng kháng thể đặc hiệu.
- Hiệu giá virút: mỗi mẻ gặt đơn cần được xác định đặc tính lây nhiễm
bằng thử nghiệm có độ nhạy cao. Nhà sản xuất cần đưa ra các tiêu chuẩn
đối với hiệu giá của các mẻ gặt đơn.
- Xác định hàm lượng kháng nguyên: thử nghiệm xác định kháng nguyên
glycoprotein được thiết lập để xác định lượng kháng nguyên trong bán
thành phẩm cuối cùng. Thử nghiệm này được sử dụng để theo dõi tính ổn
định của sản xuất. Các thử nghiệm được tiến hành theo phương pháp
26
khuếch tán miễn dịch đơn (SRID) hoặc miễn dịch gắn men (EIA).
- Thử nghiệm về ADN tế bào tồn dư: đối với virút phát triển trên dòng tế
bào thường trực, bán thành phẩm tinh khiết cần được thử nghiệm về ADN
tế bào tồn dư. Quá trình tinh chế cần làm giảm được lượng ADN tế bào
của vật chủ. Theo quy định, lượng ADN tế bào tồn dư cần phải đạt dưới 10
ng cho 1 liều tiêm cho người [21], [56].
- Thử nghiệm về huyết thanh động vật tồn dư: nếu huyết thanh động vật
được sử dụng trong quá trình sản xuất, nồng độ albumin huyết thanh bò
(BSA) được sử dụng làm chỉ số đối với huyết thanh động vật trong bán
thành phẩm tinh khiết và giá trị này không được vượt quá 50 ng cho một
liều tiêm cho người [54].
- Thử nghiệm về các nguyên vật liệu tồn dư: nhà sản xuất phải cho thấy
các nguyên vật liệu tồn dư khác sử dụng trong sản xuất phải giảm qua quá
trình tinh chế đến mức có thể chấp nhận được theo yêu cầu của kiểm định
Quốc gia [54].
Kiểm tra quá trình bất hoạt
Mỗi bán thành phẩm tinh khiết cần phải thử nghiệm theo những phương
pháp thích hợp để đánh giá hiệu quả bất hoạt virút trước khi cho thêm chất
bảo quản và các chất khác. Độ nhạy của các thử nghiệm cần được xác định
tùy theo chủng virút dại được sử dụng trong sản xuất và thử nghiệm có độ
nhạy cao nhất sẽ được áp dụng. Thử nghiệm cần tiến hành ngay sau khi kết
thúc quá trình bất hoạt. Các thử nghiệm được tiến hành để đánh giá sự có mặt
của virút sống bao gồm thử nghiệm tiêm gây nhiễm trực tiếp vào não chuột và
thử nghiệm nhân bội virút dại (amplification test) trên nuôi cấy tế bào [28].
Bán thành phẩn đạt kết quả về bất hoạt nếu đáp ứng được yêu cầu không có
27
các virút sống tồn lưu [54].
Kiểm tra bán thành phẩm cuối cùng
- Hàm lượng kháng nguyên của bán thành phẩm cuối cùng: thử nghiệm
xác định kháng nguyên glycoprotein trong bán thành phẩm cuối cùng được
tiến hành theo phương pháp khuếch tán miễn dịch đơn (SRID) hoặc miễn
dịch gắn men (EIA).
- Thử nghiệm vô khuẩn
Kiểm tra chất lượng vắcxin thành phẩm
- Thử nghiệm nhận dạng: thử nghiệm nhận dạng được thực hiện với ít
nhất 1 lọ cho mỗi loạt sản xuất. Thử nghiệm công hiệu có thể được coi là
một thử nghiệm nhận dạng.
- Thử nghiệm vô khuẩn: thành phẩm cuối cùng cần được thử nghiệm vô
khuẩn đối với nấm và vi khuẩn.
- Thử nghiệm an toàn chung: mỗi loạt thành phẩm cần được thử nghiệm
về độc tính không mong muốn (độc tính bất thường) sử dụng các thử
nghiệm an toàn chung theo yêu cầu của kiểm định Quốc gia.
- Hàm lượng kháng nguyên: nếu không chưa được làm đối với bán thành
phẩm cuối cùng, hàm lượng kháng nguyên cần được xác định và giá trị
nằm trong giới hạn yêu cầu.
- Thử nghiệm công hiệu vắcxin thành phẩm
Công hiệu của các loạt vắcxin thành phẩm cần được xác định. Trước
khi tiến hành thử nghiệm, vắcxin đông khô cần được hồi chỉnh dưới dạng có
thể sử dụng được cho người.
28
Thử nghiệm NIH được trình bày trong tài liệu Kỹ thuật phòng thí
nghiệm chẩn đoán dại [58], sử dụng để đánh giá độ ổn định sản xuất của
vắcxin thử nghiệm. Thử nghiệm này cũng được sử dụng để đánh giá mức độ
ổn định sản phẩm với mục đích xác định hạn sử dụng cũng như hiệu chỉnh
chế phẩm chuẩn.
Trong thử nghiệm này, chuột được tiêm miễn dịch sau đó thử thách
với virút dại. Thử nghiệm được tiến hành bởi các nhóm chuột tiêm 2 mũi
vắcxin cách nhau 7 ngày với độ pha loãng thích hợp của vật liệu chuẩn đã
được hiệu chỉnh với mẫu vắcxin dại chuẩn quốc tế và vắcxin thử nghiệm. 7
ngày sau liều tiêm cuối, chuột được tiêm miễn dịch và nhóm chuột chứng
được thử thách theo được tiêm não với > 5 LD50 chuẩn virút thử thách (CVS).
Hiệu giá của virút thử thách cũng cần được khẳng định bằng cách gây nhiễm
ít nhất ở 3 độ pha loãng 10 lần trên chuột. Chuột được theo dõi 14 ngày và
liều hiệu quả 50% (ED50) của mẫu chuẩn và mẫu thử được xác định dựa trên
tỷ lệ chuột sống sót.
Công hiệu của vắcxin thử nghiệm tính theo IU được xác định bằng cách
so sánh ED50 của mẫu vắcxin thử so với mẫu vắcxin chuẩn đã được hiệu
chỉnh tính theo IU với mẫu vắcxin dại chuẩn quốc tế sử dụng phương pháp
thống kê thích hợp.
Thử nghiệm với tiêu chuẩn được xác định cho quy trình thử nghiệm và
thẩm định, phương pháp thống kê cùng với số lượng tối thiểu các thử nghiệm
được tiến hành để phân tích kết quả và xác định độ tin cậy của thử nghiệm
(25-400%) đạt theo yêu cầu của kiểm định Quốc gia. Đặc biệt, hiệu chỉnh
mẫu chuẩn vắcxin theo chuẩn quốc tế cũng như việc sử dụng, bảo quản và
vận chuyển CVS cũng cần được xác định trong quy trình thử nghiệm.
Số lượng thử nghiệm đối với mỗi mẻ sản xuất phụ thuộc vào độ ổn
29
định của thử nghiệm tại mỗi phòng thí nghiệm. Nếu độ ổn định của thử
nghiệm trong phòng thí nghiệm tốt, chỉ cần một thử nghiệm là đủ. Tuy nhiên,
thử nghiệm bổ sung có thể làm tăng tính chính xác của công hiệu ước tính.
Công hiệu cần đạt ít nhất là 2,5 IU cho một liều tiêm ở người.
Nhà sản xuất cần đưa ra các dữ liệu hỗ trợ cho thử nghiệm công hiệu
NIH qua các thử nghiệm in vitro xác định hàm lượng kháng nguyên để đảm
bảo độ ổn định chắc chắn của quá trình sản xuất.
- Độ ẩm tồn dư trong vắcxin đông khô: độ ẩm tồn dư trong mẫu của mỗi
loạt vắcxin đông khô cần được xác định theo các phương pháp thích hợp.
Nói chung, lượng độ ẩm tồn dư cần thấp dưới 3%.
- Thử nghiệm chất gây sốt: mỗi loạt thành phẩm cần thử nghiệm về chất
gây sốt. Thử nghiệm này cần được chấp thuận bởi kiểm định Quốc gia.
- Thử nghiệm về protein huyết thanh động vật: mẫu của loạt thành phẩm
được thử nghiệm về albumin huyết thanh bò trong vắcxin hồi chỉnh cuối
cùng với lượng dưới 50 ng cho một liều tiêm cho người.
- Chất bổ trợ: nếu một chất bổ trợ được cho vào vắcxin, hàm lượng chất
này cần được xác định bằng phương pháp thích hợp. Nếu các phức hợp
nhôm được sử dụng thì nồng độ nhôm không được vượt quá 1,25 mg cho
một liều tiêm ở người. Nếu các chất khác được sử dụng như chất bổ trợ
hoặc có tác dụng như chất bổ trợ, tiêu chuẩn về hàm lượng cần được đưa
ra. Khi nhôm hydroxide được sử dụng làm chất bổ trợ, lượng hấp phụ
trong bán thành phẩm cuối cùng không được ít hơn 95%.
- Chất bảo quản: nếu chất bảo quản được cho vào vắcxin, hàm lượng
chất này cần được xác định bằng phương pháp thích hợp. Lượng chất bảo
30
quản cho vào vắcxin không được làm mất đi hiệu quả của kháng nguyên
hoặc không làm giảm tính an toàn của vắcxin.
- Kiểm tra cảm quan: mỗi lọ trong các loạt văc xin sau khi đóng lọ cần
được kiểm tra cảm quan để loại bỏ các lọ bất thường.
- Thử nghiệm đối với ADN tế bào tồn dư: thử nghiệm ADN tế bào tồn
dư được tiến hành với thành phẩm vắcxin nếu thử nghiệm này chưa được
làm với bán thành phẩm cuối cùng.
1.4. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC, TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
SẢN XUẤT VẮC XIN DẠI TẠI VIỆT NAM
Tại Việt Nam, trong những năm 1991-1995, bệnh dại là vấn đề y tế
nghiêm trọng gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, tính mạng và kinh tế của
người dân. Bệnh xảy ra quanh năm, lưu hành ở hầu hết các tỉnh, thành phố
trên cả nước. Theo thống kê chưa đầy đủ tại các Trung tâm Y tế dự phòng
trên toàn quốc, trung bình mỗi năm có từ 300.000 đến gần 600.000 người bị
súc vật cắn phải đi tiêm vắcxin phòng dại. Nếu tính một người tiêm vắcxin
dại phí tổn 300.000 đồng (gồm tiền thuốc, công lao động, tiền đi lại…) thì
trong năm 1995 cả nước tốn gần 100 tỷ đồng. Thêm vào đó, mỗi năm có trên
dưới 500 người thiệt mạng do bệnh dại. Trước tình hình nghiêm trọng của
bệnh dại, năm 1996, Chính phủ đã ban hành chỉ thị về việc tăng cường phòng
chống bệnh dại và Bô Y tế đã thành lập ban chỉ đạo Phòng chống bệnh dại
Quốc gia.Theo thống kê của khoa Dịch tễ, Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương,
trong vòng 11 năm (từ 1996 đến 2006) vẫn có trên 6 triệu người được tiêm
vắcxin phòng dại sau khi bị súc vật cắn với tỷ lệ tiêm phòng là 652,6 /100.000
dân vào năm 1996 và 670,8/100.000 dân vào năm 2006. Cũng trong 11 năm
31
này có tổng số 1116 trường hợp người chết vì bệnh dại (0,35/100.000 dân vào
năm 1996 và 0,09/100.000 dân vào năm 2006). Như vậy, số ca tử vong do
bệnh dại vào năm 2006 đã giảm 81% so với năm 1995. Tuy nhiên, trong năm
2007, số ca tử vong do bệnh dại đã lại tăng lên đến trên 100 trường hợp.
Nguyên nhân có thể là do việc kiểm soát nguồn gây bệnh mà chủ yếu là chó -
nguồn gây bệnh chính tại Việt Nam còn nhiều hạn chế. Với số lượng ước tính
từ 6-8 triệu con chó, trong đó phần lớn là nuôi thả rông tại các vùng nông
thôn, không được giám sát và tiêm phòng đầy đủ, sẽ là một nguy cơ làm gia
tăng số ca bệnh dại. Bên cạnh đó, việc thay đổi chính sách sử dụng vắcxin,
ngừng sử dụng vắcxin thế hệ cũ rẻ tiền thay thế bằng vắcxin nhập ngoại sản
xuất trên nuôi cấy tế bào đắt tiền hơn, làm giảm khả năng được tiếp cận với
vắcxin phòng bệnh của các bệnh nhân nghèo, đặc biệt tại các vùng nông thôn,
vùng sâu, vùng xa [4].
Ở Việt Nam, trước năm 1974, vắcxin phòng bệnh dại cho người chủ yếu
là vắcxin sản xuất từ não cừu, dê (Fermi, Semple). Các vắcxin này có chứa
một lượng virút chưa bất họa và tính sinh miễn dịch thấp nên phải tiêm nhiều
mũi (18-21 mũi) cùng với liều tiêm lớn (1,5-2,5 ml/mũi). Do vậy khi tiêm
vắcxin dại không chỉ đưa vào 1 lượng kháng nguyên cần thiết mà còn đưa cả
protein - myelin vào cơ thể. Đây chính là nguyên nhân gây ra các tai biến
viêm não tủy có thể dẫn tới liệt và tử vong [4].
Từ năm 1974, Viện Vệ sinh dịch tễ học Hà Nội đã nghiên cứu sản xuất
vắcxin dại trên não chuột ổ theo phương pháp của Fuenzalida-Palacios được
chuyển giao kỹ thuật từ Viện Pasteur Paris (Pháp). Sau khi đất nước thống
nhất, nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của nhân dân, việc sản xuất vắcxin dại
đã được triển khai tại cả Viện Vắcxin Nha Trang và Viện Pasteur Thành phố
Hồ Chí Minh. Chủng giống sản xuất là chủng VP-13 (Pasteur Virút) do cơ
quan kiểm định quốc gia cung cấp. Chủng sản xuất được gây nhiễm trên não
32
chuột nhắt trắng 1-4 ngày tuổi, bất hoạt bằng -propiolactone, bảo quản bằng
merthiolate. Ưu điểm chính của vắcxin này là không chứa hoặc chứa rất ít
myelin của não nên ít gây các tai biến thần kinh hơn. Hiệu giá virút thu hoạch
từ não chuột ổ cao hơn do đó tính sinh miễn dịch tốt hơn do vậy số liều tiêm
giảm còn từ 6-8 mũi tiêm. Việc sử dụng vắcxin dại trên não chuột ổ trong hơn
30 năm qua đã góp phần hạn chế nguy cơ tử vong do bệnh dại. Hàng năm, có
từ 3,5 đến 4 triệu liều vắcxin Fuenzalida được sản xuất và 150.000 liều vắcxin
Verorab được nhập để tiêm phòng cho người. Theo kết quả nghiên cứu về
nguyên nhân tử vong, tác giả Đinh Kim Xuyến, Trần Văn Tiến cho thấy 87-
90% số trường hợp tử vong là do không được điều trị bằng vắcxin và huyết
thanh kháng dại sau khi bị súc vật dại cắn; tuy nhiên 10-13% trường hợp tử
vong được ghi nhận ở các bệnh nhân đã được tiêm phòng vắcxin Fuenzalida
đầy đủ, nguyên nhân có thể là do vết cắn quá nặng và đi tiêm muộn. Theo tác
giả Hoàng Minh Hiền, 78% người được tiêm có các phản ứng phụ như sưng
đỏ, ngứa tại chỗ tiêm, mệt mỏi, nhức đầu. Kết quả báo cáo từ các Trung tâm
Y tế Dự phòng trên cả nước cũng cho thấy trên 80% các trường hợp có các
phản ứng không mong muốn sau khi tiêm vắcxin Fuenzalida, các phản ứng
không mong muốn nghiêm trọng như viêm não tủy gây liệt vĩnh viễn và tử
vong gặp với tỷ lệ 1-2 trường hợp/10.000 mũi tiêm. Do các phản ứng không
mong muốn nghiêm trọng này, nên từ năm 2007, Bộ Y tế đã ra quyết định
ngừng việc sử dụng vắcxin dại Fuenzalida trên toàn quốc. Do tỷ lệ bệnh nhân
được tiêm phòng bằng vắcxin trên nuôi cấy tế bào được nhập ngoại trước đây
chỉ chiếm 15% số người được tiêm vắcxin dại và giá thành cho một liệu trình
tiêm loại vắcxin này rất đắt (gần 800.000 đồng) nên cơ hội để các bệnh nhân
nghèo, vùng sâu, vùng xa được tiêm loại vắcxin này là rất ít. Điều này phần
nào lý giải tại sao số ca tử vong do bệnh dại đã tăng lên trong năm 2007. Từ
năm 2004, Việt Nam cũng đã bắt đầu áp dụng phác đồ tiêm trong da đối với
vắcxin Verorab - một vắcxin trên nuôi cấy tế bào nhập ngoại được dùng phổ
33
biến tại Việt Nam để làm giảm bớt chi phí cho tiêm phòng vắcxin dại [3].
Theo phác đồ này giá thành của liệu trình đã giảm xuống khoảng 300.000
đồng cho 8 mũi tiêm, tuy nhiên vấn đề kỹ thuật tiêm và chi phí vẫn là một
thách thức đối với các vùng kinh tế còn kém phát triển.
Đứng trước yêu cầu cần sớm có được vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào
được sản xuất trong nước nhằm làm giảm chi phí tiêm phòng cho bệnh nhân,
để nhiều người có cơ hội được tiêm phòng vắcxin dại từ đó giảm tỷ lệ tử vong
do bệnh dại, nhiều cơ quan nghiên cứu tại Việt Nam đã tiến hành các nghiên
cứu phát triển vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào. Viện Vệ sinh dịch tễ Trung
ương đã có những thành công bước đầu trong việc nghiên cứu vắcxin dại trên
nuôi cấy tế bào thận chuột đất vàng nguyên phát. Chủng Vnukovo-32 dùng
trong sản xuất và công nghệ được tiếp thu từ Liên bang Nga. Tuy nhiên, hạn
chế của công nghệ này là nguồn cung cấp động vật (chuột đất vàng) có chất
lượng và số lượng đảm bảo cho sản xuất vắcxin. Do vậy, việc phát triển
vắcxin theo công nghệ này hiện chưa được triển khai trên quy mô lớn hơn để
có được sản phẩm hoàn chỉnh. Để khắc phục hạn chế về nguồn tế bào nguyên
phát cho sản xuất vắcxin, các nghiên cứu sử dụng dòng tế bào thường trực mà
đặc biệt là tế bào Vero đã được các nhà khoa học đề cập đến. Cũng từ chủng
Vnukovo-32, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương đã gây thích ứng trên dòng tế
bào Vero với mong muốn có được chủng virút đạt được yêu cầu để sử dụng
trong sản xuất vắcxin dại. Hiện nghiên cứu này đang tiếp tục được tiến hành.
Nhóm nghiên cứu của Công ty Vắcxin và sinh phẩm số 1
(VABIOTECH) đã bắt tay vào nghiên cứu và phát triển vắc xin dại trên nuôi
cấy tế bào Vero từ năm 2005 với mục đích chọn lựa được chủng virút, điều
kiện nuôi cấy và quy trình sản xuất phù hợp trong điều kiện Việt Nam. Với
các chùng vi rút dại cố định nhận được từ Trung tâm Kiểm soát bệnh tật và
Dự phòng Hoa kỳ (CDC) đã thích ứng trên dòng tế bào Vero - Pasteur virút
34
(PV) và Pitman-Moore (PM) cùng với dòng tế bào Vero loạt gốc của
TCYTTG, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn được chủng PV và môi trường nuôi
cấy không chứa huyết thanh để tiếp tục nghiên cứu xây dựng quy trình công
nghệ sản xuất vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero tại Việt Nam. Quy trình
này cần được tiếp tục nghiên cứu về tính ổn định các thông số và hiệu suất
của từng bước của quy trình. Đồng thời, sau khi có được quy trình công nghệ
ổn định, sản phẩm của quá trình sản xuất thử nghiệm phải đạt được chất
lượng theo yêu cầu của kiểm định Quốc gia và tương đương với các vắcxin
35
nhập ngoại như vắcxin Verorab.
CHƢƠNG 2
XÂY DỰNG QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT
VẮCXIN DẠI TRÊN NUÔI CẤY TẾ BÀO VERO
Ở QUY MÔ PHÒNG THÍ NGHIỆM
Quy trình công nghệ sản xuất vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào được
nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam là quy trình nhân nuôi chủng virút dại
cố định trên dòng tế bào Vero. Đây là công nghệ đã được nhiều Hãng sản
xuất vắcxin lớn tại Pháp, Trung Quốc, Ấn Độ… sử dụng. So với các công
nghệ sản xuất vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào lưỡng bội người, quy trình này
sản xuất ra vắcxin có giá thành rẻ hơn đồng thời lại có tính an toàn và tính
sinh miễn dịch cao [34].
Lựa chọn dòng tế bào Vero để sản xuất vắcxin dại, nhóm nghiên cứu của
Công ty Vắcxin và sinh phẩm số 1 (VABIOTECH) đã tiến hành các đề tài
nghiên cứu cấp cơ sở từ năm 2005 để lựa chọn chủng virút, điều kiện nuôi
cấy và quy trình sản xuất phù hợp. Nghiên cứu đầu tiên là nghiên cứu lựa
chọn chủng có khả năng tạo được hiệu giá virút cao nhất trong số hai chủng
virút dại cố định nhận được từ Trung tâm Kiểm soát bệnh tật và Dự phòng
Hoa kỳ (CDC) đều đã thích ứng trên dòng tế bào Vero - Pasteur virút-PV và
Pitman-Moore. Cùng một điều kiện là được gây nhiễm vào tế bào Vero loạt
gốc của TCYTTG và duy trì nhân nuôi virút trong môi trường tối ưu - MEM
có chứa 0,3% albumin huyết thanh người, chủng PV luôn cho hiệu giá virút
36
cao trong tất cả các mẻ gặt đơn từ ngày nuôi cấy thứ 6 đến ngày nuôi cấy thứ 21 (từ 10-6 LD50/ml đến 10-7 LD50/ml) so với chủng PM (chỉ từ <10-4,5 LD50/ml cho tới 10-6 LD50/ml). Từ kết quả này, chủng PV được lựa chọn là
chủng để tiếp tục nghiên cứu và phát triển vắcxin tại Việt Nam do có hiệu giá
virút cao kéo dài, duy trì được nhiều mẻ gặt đơn đáp ứng được yêu cầu về
hiệu giá virút và thể tích đầu vào cho quá trình sản xuất vắcxin. Từ chủng
virút PV được lựa chọn, nhóm nghiên cứu đã xây dựng hệ thống chủng virút
dại giống gốc (Master seed virus-MSV) và chủng virút dại giống sản xuất
(Working seed virus-WSV) đủ để nghiên cứu và sản xuất vắcxin dại trong
vòng nhiều năm tiếp theo tại VABIOTECH. Toàn bộ quá trình nhân chủng và
chuẩn độ hiệu giá của chủng virút đều được thực hiện và ghi chép lại thành hồ
sơ chủng theo đúng khuyến cáo của TCYTTG cho vắcxin dại bất hoạt sử
dụng cho người được sản xuất trên nuôi cấy tế bào [54] (xem phần Phụ lục).
Đồng thời, dòng tế bào Vero loạt gốc của TCYTTG cũng được nhóm nghiên
cứu nhân nuôi và xây dựng thành ngân hàng tế bào Vero sản xuất của
VABIOTECH (Working cell bank - WCB) - Tế bào giống gốc của TCYTTG
CCL 81 đời 134 được nhân nuôi và tiếp tục cấy chuyển đến đời 137, sau đó
được đóng ống và bảo quản trong dung dịch bảo quản tế bào. Các ống tế bào
được làm đông băng và bảo quản trong nitrogen lỏng. Toàn bộ quá trình nhân
nuôi tế bào và pha các môi trường để nhân nuôi cũng như bảo quản tế bào đều
được ghi chép lại để xây dựng thành hồ sơ tế bào Vero sản xuất theo đúng
quy định của TCYTTG về việc sử dụng các tế bào động vật cho sản xuất các
sản phẩm sinh học [53] và khuyến cáo của TCYTTG cho vắcxin dại bất hoạt
sử dụng cho người được sản xuất trên nuôi cấy tế bào [29], [54] (xem phần
Phụ lục).
Nghiên cứu tiếp theo được tiến hành là lựa chọn môi trường nhân nuôi
virút tối ưu nhất trong số các môi trường dinh dưỡng được chấp nhận cho sản
xuất vắcxin. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy hiệu giá virút dại của toàn bộ
37
các mẻ gặt đơn sau khi thu hoạch đối với từng môi trường nuôi cấy lần lượt là 10-6 LD50/ml cho môi trường chứa albumin huyết thanh người, 10-6,33 LD50/ml
cho môi trường không chứa huyết thanh của VABIOTECH, 10-5,34 LD50/ml cho môi trường MEM không chứa huyết thanh, 10-5,66 LD50/ml cho môi trường không chứa huyết thanh SFM của Gibco và <10-3 LD50/ml cho môi
trường M199 không chứa huyết thanh. Với hiệu giá virút cao, môi trường
không chứa huyết thanh của VABIOTECH được lựa chọn để tiếp tục nghiên
cứu sản xuất vắcxin. Đặc biệt môi trường này sẽ có giá thành thấp hơn, dễ
tinh khiết virút hơn và hạn chế được các nguy cơ lây nhiễm bởi các tác nhân
vi sinh vật so với các môi trường dinh dưỡng có chứa huyết thanh.
Sau khi có được tế bào Vero, chủng virút PV và môi trường nuôi cấy
không huyết thanh đạt các yêu cầu cho sản xuất, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục
nghiên cứu xây dựng một quy trình công nghệ sản xuất vắcxin dại trên nuôi
cấy tế bào ở quy mô phòng thí nghiệm. Quy trình này cần có sự ổn định về
các thông số và hiệu suất của từng bước sản xuất, đồng thời tiến hành các quá
trình sản xuất thử nghiệm để có được sản phẩm đạt được chất lượng theo yêu
cầu của TCYTTG và tương đương với các vắcxin nhập ngoại như vắcxin
Verorab.
Quy trình công nghệ sản xuất vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero bao
38
gồm các bước chính sau đây (Hình 2.1):
Nuôi cấy và chuẩn bị tế bào Vero
Gây nhiễm virút dại vào tế bào Vero
Nuôi cấy virút và thu hoạch nƣớc nổi
Tinh sạch hỗn dịch virút
Bất hoạt virút
Cô đặc hỗn dịch virút
Tinh chế virút
Pha bán thành phẩm cuối cùng
Sản xuất vắcxin thành phẩm
Hình 2.1. Tóm tắt quy trình công nghệ sản xuất vắcxin dại
trên nuôi cấy tế bào Vero
2.1. QUY TRÌNH NUÔI CẤY VÀ CHUẨN BỊ TẾ BÀO VERO
- Mục đích: Tìm ra các điều kiện tối ưu để cho hiệu suất tế bào cao. Tính
ổn định và chất lượng của tế bào là một trong những yếu tố quyết định đến
hiệu giá thu hoạch virút sau gây nhiễm.
- Các tham số về điều kiện nuôi cấy tế bào bao gồm: môi trường, nhiệt
39
độ, thời gian, số đời cấy chuyển và loại chai nuôi cấy tế bào. Kết quả của quá
trình nuôi cấy tế bào được đánh giá bằng các phương pháp theo dõi và kiểm
tra chất lượng tế bào trong quá trình nuôi cấy.
+ Môi trường nuôi cấy: môi trường nhân nuôi tế bào Vero trước khi gây
nhiễm virút là môi trường MEM có bổ sung huyết thanh động vật. Huyết
thanh được sử dụng là huyết thanh bào thai bê (FBS) hoặc huyết thanh bò
(BS). Các huyết thanh này đều phải đảm bảo yêu cầu về chất lượng sử dụng
trong quá trình sản xuất các chế phẩm sinh học sử dụng cho người [53], [54].
+ Nhiệt độ nuôi cấy: trong các nghiên cứu sản xuất vắcxin dại, nhiệt độ
nuôi cấy của tế bào Vero thường giao động trong khoảng tương đối rộng từ 34oC [14], 36,5 oC [18] đến 37oC [26], [48], [59]. Trong nghiên cứu này, nhiệt độ để nhân nuôi tế bào trước cũng như sau khi gây nhiễm virút đều là 37oC
theo đúng hướng dẫn của về nhân nuôi tế bào của cơ sở cung cấp tế bào Vero
loạt gốc CCL 81.
+ Thời gian nuôi cấy: thời gian nuôi cấy tùy thuộc vào nồng độ tế bào đưa
vào nuôi cấy ban đầu. Thời gian nuôi cấy giao động từ 3 ngày đến 7 ngày.
Thời gian nuôi cấy sẽ kết thúc khi tế bào kín một lớp trên chai nuôi cấy và số
lượng tế bào đạt được theo yêu cầu trên mỗi loại chai nuôi cấy khác nhau.
+ Số đời cấy chuyển tế bào: loạt tế bào Vero giống sản xuất của
VABIOTECH ở đời cấy chuyển 137 (xem phần phụ lục). Theo kinh nghiệm
của các chuyên gia sản xuất vắcxin của Hãng Pasteur Merieux, nơi hiện đang
sử dụng hệ thống nuôi cấy tế bào Vero trong sản xuất vắcxin bại liệt bất hoạt
và vắcxin dại, đời cấy chuyển cuối cùng của tế bào Vero trong sản xuất là đời
142 [29], [32]. Nghiên cứu của nhóm các tác giả này không thấy nguy cơ gây
ung thư khi tiêm tế bào Vero ở các đời cấy chuyển dưới 169 trên chuột đã bị
ức chế miễn dịch. Từ đời cấy chuyển 191, các nốt u xuất hiện với nghi ngờ là
ung thư giống với khi tiêm cho chuột dòng tế bào HeLa gây ung thư [32]. Do
40
vậy để chất lượng hóa các ngân hàng tế bào sản xuất, bên cạnh việc giám sát
chất lượng về tế bào thì việc quy định đời cất giữ tế bào tối đa cũng được các
nhà sản xuất đề cập đến [51]. Hình ảnh tế bào Vero CCL 81 của TCYTTG từ
đời cấy chuyển 135 - đời ra chai nuôi cấy đầu tiên sau khi nhận dòng tế bào
loạt gốc cho đến đời nuôi cấy cuối cùng (đời 142) sử dụng trong sản xuất
vắcxin được trình bày trong hình 2.2. Các hình ảnh này đã cho thấy tính đồng
nhất về hình thái của tế bào Vero qua các đời cấy chuyển.
Đời cấy chuyển Hình ảnh tế bào
Đời cấy chuyển Hình ảnh tế bào
Đời 135 Đời 136
Đời 137 Đời 138
(Ngân hàng tế
bào sản xuất)
Đời 139 Đời 140
Đời 142 Đời 141
(Đời nuôi cấy
sản xuất)
41
Hình 2.2. Hình ảnh tế bào Vero qua các đời cấy chuyển
+ Loại chai nuôi cấy tế bào: Tế bào Vero được nuôi cấy trên các chai
một lớp có diện tích nuôi cấy khác nhau. Các dạng chai thường được sử dụng trong nghiên cứu này là các chai nuôi cấy loại 75cm2 và 150 cm2. Ngoài ra
sau khi gây nhiễm virút có sử dụng thêm các chai nuôi cấy nhiều tầng (3 tầng
hoặc 10 tầng) nhằm đánh giá tính khả dụng của các chai nuôi cấy này trong
việc làm tăng hiệu suất của hỗn dịch virút thu hoạch và làm giảm nguy cơ lây
nhiễm trong quá trình gặt cũng như thay môi trường cho các mẻ gặt đơn virút.
Kết quả duy trì tế bào cũng như nuôi cấy virút đối với các dạng chai nuôi cấy
tế bào một lớp khác nhau được trình bày trong Phần 2.3- Quy trình nuôi cấy
virút và thu hoạch nước nổi.
Theo dõi các chai nuôi cấy tế bào trước khi gây nhiễm virút được tiến
hành hàng ngày bằng phương pháp cảm quan (màu và độ trong của môi
trường nuôi cấy) và kiểm tra dưới kính hiển vi soi tế bào. Soi tế bào nhằm
đánh giá về hình thái tế bào, mức độ mọc kín một lớp và các bất thường của
quá trình phát triển của tế bào như có hay không sự hủy hoại của tế bào
(CPE). Lượng tế bào thu được trong các chai nuôi cấy được xác định bằng
cách tách tế bào và nhuộm đếm số lượng bằng buồng đếm. Chất lượng tế bào
được đánh giá bằng các phương pháp kiểm tra chất lượng trong quá trình nuôi
cấy. Các phương pháp này không những giúp kiểm tra chất lượng của tế bào
trước khi đưa vào gây nhiễm virút sản xuất mà còn giúp theo dõi toàn bộ quá
trình duy trì tế bào trong quá trình nhân nuôi virút thông qua các chai tế bào
chứng không gây nhiễm virút. Các thử nghiệm kiểm tra chất lượng tế bào
trong quá trình nuôi cấy bao gồm:
2.1.1. Các thử nghiệm kiểm tra nƣớc nổi nuôi cấy tế bào
2.1.1.1. Thử nghiệm kiểm tra vô khuẩn - xem phần 4.1.1: Phương pháp kiểm
42
tra vô khuẩn
2.1.1.2. Kiểm tra Mycoplasma
Nguyên vật liệu
Sinh phẩm và môi trường
- Mẫu thử: Hộn nước nổi nuôi cấy tế bào
- Môi trường PPLO lỏng
- Môi trường PPLO thạch
Dụng cụ
- Pipét 1ml, 2ml, 5ml, 10 ml vô trùng
- Pipet aid
- Đèn cồn, cồn 700.
- Quần áo, mũ, khẩu trang và găng tay vô trùng.
Trang thiết bị
- Hốt vô trùng
- Tủ ấm 37 ± 10C
- Kính hiển vi
Các bước tiến hành
Mẫu thử
* Môi trường lỏng: cấy trực tiếp 0,2ml mẫu thử vào mỗi ống môi trường. Mỗi
loạt mẫu thử cấy trên 5 ống môi trường lỏng.
- Thể tích cấy: 0,2ml mẫu thử/ 1 ống môi trường.
* Môi trường đặc: 0,2 ml mẫu thử/ 1 đĩa thạch. Mỗi loạt mẫu thử cấy trên 5
đĩa thạch. Dùng giấy parafilm bao quanh rìa đĩa thạch để tránh khô mặt thạch.
43
Chứng môi trường
- Chứng âm: để nguyên ống hoặc đĩa môi trường, không mở.
- Chứng dưng: Lấy kết quả kiểm tra chất lượng môi trường làm chứng
dương.
Thời gian và nhiệt độ nuôi cấy
- Nuôi cấy ở nhiệt độ 37 ± 10C trong 21 ngày.
Cấy chuyển
- Đến ngày thứ 7, cấy chuyển từ ống môi trường lỏng sang môi trường thạch:
Hút 0,2 ml môi trường lỏng cấy vào 1 đĩa thạch.
- Nuôi cấy ở nhiệt độ 37 ± 10C / 21 ngày.
Theo dõi sau cấy
- Môi trường PPLO (môi trường lỏng và thạch) sau cấy được theo dõi và ghi
kết quả vào Nhật ký kiểm định vào các ngày 3, 5, 7, 14 và 21.
- Đọc kết quả vào ngày thứ 21.
+ Môi trường lỏng: Quan sát sự đổi màu của môi trường. Nếu ống nào có sự
chuyển màu (từ màu hồng nhạt chuyển sang màu vàng cam): cấy chuyển ra
thạch để kiểm tra khuẩn lạc.
+ Môi trường đặc: Quan sát khuẩn lạc Mycoplasma mọc trên các đĩa thạch
dưới kính hiển vi: khuẩn lạc nhỏ, vùng trung tâm khuẩn lạc có màu sẫm và
dày, rìa khuẩn lạc mỏng và bẹt trông như quả trứng ốplết.
Kết quả
Giá trị của thử nghiệm
- Loạt môi trường PPLO (lỏng và thạch) dùng cho thử nghiệm Mycoplasma
phi đạt yêu cầu về kiểm tra chất lượng môi trường.
44
Tiêu chuẩn chấp thuận
- Mẫu thử: không có sự phát triển của Mycoplasma sau 21 ngày theo dõi trên
cả 2 loại môi trường (lỏng và đặc).
- Đối với ống chứng:
. Chứng (-): Không có sự phát triển của Mycoplasma sau 21 ngày theo dõi.
. Chứng (+): Có sự phát triển của Mycoplasma sau 21 ngày theo dõi.
2.1.1.3. Thử nghiệm kiểm tra các virút ngoại lai
Nguyên vật liệu
Dụng cụ
- Chai nuôi cấy tế bào (25cm2)
- Pipet 2ml, 5ml, 10ml
Trang thiết bị
- Kính hiển vi soi tế bào
- Tủ ấm
- Pipet Aid
Hóa chất và môi trường
- Tế bàoVERO
- Tế bào HEp 2
- Tế bào thận thỏ
- Môi trường nuôi cấy tế bào - MEM
- Huyết thanh bào thai bê (FBS)
- PBS (-)
45
Các bước tiến hành
Chuẩn bị môi trường nuôi cấy: Môi trường MEM chứa 2% FBS
Chuẩn bị tế bào
- Mỗi loại tế bào (HEp2, tế bào thận thỏ, tế bào VERO khác loạt với sản xuất) được nuôi cấy trong các chai nuôi cấy tế bào 25cm2, mỗi mẫu thử dùng
4 chai, mẫu chứng âm là 2 chai.
Thử nghiệm phát hiện các tác nhân ngoại lai trên các dòng tế bào khác nhau
* Mẫu thử: Hộn nước nổi nuôi cấy tế bào chứng.
- Loại bỏ hết môi trường nuôi cấy trong các chai tế bào. Rửa tế bào 2 lần bằng
PBS(-).
- Cấy vào mỗi chai tế bào 3ml hộn nước nổi nuôi cấy tế bào. Cho thêm 9ml
môi trường MEM 2% FBS vào mỗi chai.
* Mẫu chứng âm:
- Loại bỏ hết môi trường nuôi cấy trong các chai tế bào. Rửa tế bào 2 lần bằng
PBS(-).
- Cho vào mỗi chai 12ml môi trường nuôi cấy MEM 2% FBS.
* Nuôi cấy:
- Các chai tế bào đã gây nhiễm được nuôi cấy ở nhiệt độ 36OC±1OC trong 14
ngày, hàng ngày theo dõi tế bào và ghi kết quả vào Nhật ký kiểm định.
Kết quả
- Các chai tế bào chứng (mẫu chứng âm) phát triển bình thường, tế bào mọc
kín một lớp, không có hiện tượng hủy hoại tế bào (CPE).
- Không có CPE trong tất cả các chai tế bào đã gây nhiễm với hộn nước nổi
46
nuôi cấy tế bào chứng.
2.1.2. Thử nghiệm kiểm tra các virút hấp phụ hồng cầu
Nguyên vật liệu
Dụng cụ
- Pipet 10ml, 25ml
Trang thiết bị
- Kính hiển vi soi tế bào
- Tủ lạnh
- Pipet Aid
Hóa chất và môi trường
- Môi trường Hank
- Dung dịch hồng cầu chuột lang 0,5%
- Các chai tế bào chứng (75cm2)
Các bước tiến hành
Mẫu thử
- Hút bỏ hết môi trường nuôi cấy trong các chai nuôi cấy tế bào chứng.
- Cho 20ml dung dịch hồng cầu chuột lang 0,5% vào chai tế bào, láng đều.
Mẫu chứng
- Hút bỏ hết môi trường nuôi cấy trong các chai nuôi cấy tế bào chứng.
- Cho 20ml môi trường Hank vào mỗi chai tế bào, láng đều.
Nhiệt độ ủ
- Ủ ở 2 nhiệt độ: 0- 4OC và 20 - 25OC. Thời gian ủ: 30 phút/khoảng nhiệt độ.
47
Quan sát tế bào
- Rửa tế bào 3 lần bằng môi trường Hank .
- Quan sát tế bào dưới kính hiển vi soi tế bào.
Kết quả
Đọc kết quả
- Dương tính: có hiện tượng hấp phụ hồng cầu: dưới kính hiển vi soi tế bào
thấy các tế bào hồng cầu chuột lang bám vào lớp tế bào.
- Âm tính: không có hiện tượng hấp phụ hồng cầu: dưới kính hiển vi soi tế
bào không thấy các tế bào hồng cầu chuột lang bám vào lớp tế bào.
Tiêu chuẩn chấp thuận
- Không có hiện tượng hấp phụ hồng cầu trong các chai tế bào: Không có
virút hấp phụ hồng cầu.
2.1.3. Kết quả quy trình nuôi cấy tế bào Vero trên chai tế bào một lớp
Kết quả về tổng lượng tế bào thu được sau quá trình nhân nuôi tế bào
Vero từ đời cấy chuyển 138 (cấy chuyển từ tế bào giống sản xuất đời 137)
đến đời cấy chuyển 141 (cấy chuyển trước khi gây nhiễm virút) được trình
bày trong Bảng 2.1.
Bảng 2.1. Số lƣợng tế bào Vero thu đƣợc qua các đời cấy chuyển trong
quá trình nhân nuôi trên chai nuôi cấy một lớp
Đời cấy chuyển Số lƣợng tế bào
Đời 138 1,4 x 107
Đời 139 9x107
Đời 140 5,5x108
48
Đời 141 3,5x109
Theo kết quả trong Bảng 2.1, lượng tế bào tăng dần qua các đời nuôi
cấy. Ở các đời cấy chuyển sau, lượng tế bào thường tăng gấp khoảng 6 lần so
với đời nuôi cấy trước đó. Đây là lượng nhân nuôi tối đa đạt được đối với hầu
hết các dòng tế bào thường trực [29], [32]. Quy trình này sẽ được áp dụng
trong quá trình sản xuất thử nghiệm các loạt vắcxin ở quy mô phòng thí
nghiệm.
2.2. QUY TRÌNH GÂY NHIỄM VIRÚT DẠI VÀO TẾ BÀO VERO
Tế bào Vero đời 141 được tách và gây nhiễm với chủng virút dại trên
các dạng chai nuôi cấy tế bào tế bào một lớp khác nhau. Phương pháp gây
nhiễm là hấp phụ virút dại vào các tế bào Vero ở dạng hỗn dịch sau đó cấy
chuyển vào các chai nuôi cấy tế bào và virút sẽ nhân lên cùng với quá trình
nhân lên của tế bào. Do vậy, môi trường nuôi cấy tế bào được sử dụng trong
quy trình này vẫn là môi trường phát triển của tế bào (MEM có chứa huyết
thanh bào thai bê - FBS).
Chủng giống virút dùng để gây nhiễm vào tế bào là loạt chủng giống sản xuất WS-PV-010805. Chủng giống này có hiệu giá virút là 10-7,19 LD50/ml
do vậy đạt được yêu cầu đối với chủng giống cho gây nhiễm sản xuất vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero (không được thấp dưới 10-6,7 LD50/ml [30].
Trong quy trình gây nhiễm này, liều lượng virút gây nhiễm sẽ được
khảo sát để tìm ra liều gây nhiễm (MOI) tối ưu cho hiệu giá virút cao đồng
thời duy trì được sự phát triển của tế bào với mục tiêu thu hoạch được nhiều
mẻ gặt đơn nhằm tiết kiệm tối đa môi trường, tế bào, virút và nhân công. Dựa
vào đặc tính gây hủy hoại tế bào chậm của virút dại, các nhà sản xuất thường
49
nghiên cứu tìm ra các điều kiện để kéo dài tối đa quá trình phát triển của tế
bào với mong muốn có được số mẻ gặt đơn có hiệu giá virút đạt yêu cầu cho
sản xuất cao nhất [30], [31]. Kết quả nghiên cứu về liều lượng gây nhiễm của
virút dại trên nuôi cấy tế bào Vero được trình bày trong Bảng 2.2. Nghiên cứu
này khảo sát 3 liều gây nhiễm (MOI) khác nhau là 0,1; 0,01 và 0,001. Liều
lượng này được tính theo số đơn vị hiệu giá LD50 của virút dại trên một tế
bào. Tế bào và nước nổi nuôi cấy sẽ được theo dõi và đánh giá trong vòng 9
ngày sau gây nhiễm để tìm ra đỉnh hiệu giá virút và mức độ duy trì của tế bào.
Trong 6 ngày đầu tiên với mục đích tìm hiểu đỉnh hiệu giá virút nên môi
trường được sử dụng sẽ là môi trường nuôi cấy có huyết thanh để đảm bảo
cho tế bào luôn có được điều kiện dinh dưỡng tốt. Từ ngày thứ 6 trở đi,
chuyển sang môi trường không có huyết thanh (môi trường sẽ được sử dụng
để nhân nuôi và thu hoạch virút) để đánh giá mức độ duy trì của tế bào trong
môi trường này. Tế bào Vero nuôi cấy được theo dõi hàng ngày bằng kính soi
tế bào và hiệu giá virút trong nước nổi nuôi cấy được xác định bằng thử
nghiệm miễn dịch huỳnh quang phát hiện nucleocapsit của virút dại tính theo
số đơn vị FFD50/0,05 ml(xem Phần 2.3 - Quy trình nuôi cấy virút và thu
hoạch nước nổi) .
Bảng 2.2. Kết quả nuôi cấy virút dại với các liều gây nhiễm khác nhau
Liều gây nhiễm
Ngày sau gây nhiễm
0,1 MOI
0,01 MOI
0,001 MOI
Ngày 1
10-1,5
-
-
50
Ngày 2
10-2,3
-
-
Ngày 3
10-3,58
10-1,25
-
Ngày 4
10-3,27
10-2,58
10-1,55
Ngày 5
10-3,16
10-3,82
10-2,15
Ngày 6
(thay môi trƣờng)
10-3,02
10-4,02
10-2,67
Ngày 7
10-1,05
10-2,32
10-2,02
51
Ngày 8
10-1,15
10-3,12
10-2,65
Ngày 9
10-1,08
10-3,85
10-3,01
Kết quả trong Bảng 2.2 cho thấy ở liều gây nhiễm cao nhất (0,1 MOI), tế
bào bị hủy hoại sớm từ ngày thứ 3 sau gây nhiễm và hiệu giá virút đã đạt đỉnh
ngay vào thời điểm này. Vào những ngày tiếp theo ngay cả khi được thay
sang môi trường duy trì, hiệu giá virút vẫn rất thấp không đạt được yêu cầu
cho sản xuất vắcxin. Ngược lại, ở liều gây nhiễm thấp nhất (0,001 MOI), tế
bào hầu như không bị hủy hoại nhưng hiệu giá virút luôn ở mức thấp và chỉ
bắt đầu tăng lên vào ngày thứ 6. Khi thay sang môi trường duy trì, hiệu giá
virút cũng chưa đạt được đỉnh sau 3 ngày nuôi cấy. Ở liều gây nhiễm trung
bình (0,01 MOI), hiệu giá virút tăng cao sau 4-5 ngày nuôi cấy ở môi trường
phát triển của tế bào (có huyết thanh) và khi thay sang môi trường duy trì tế
bào (không huyết thanh) hiệu giá virút lại tiếp tục tăng sau 3 ngày nuôi cấy
đồng thời tình trạng tế bào vẫn duy trì tốt trong 9 ngày theo dõi. Liều gây
nhiễm này phù hợp với quá trình sản xuất do luôn tạo được đỉnh hiệu giá virút
đạt yêu cầu sau từ 3-4 ngày nhân nuôi ở môi trường duy trì tế bào. Kết quả
này cũng sẽ được khẳng định rõ rệt hơn trong các nghiên cứu tiếp theo ở
Phần 2.3 - Quy trình nuôi cấy virút và thu hoạch nước nổi. Nghiên cứu của
nhiều tác giả trên thế giới cũng cho thấy việc duy trì tế bào và tạo các đỉnh
52
hiệu giá virút sau các lần thay môi trường duy trì đã tạo nên một quá trình
nhân nuôi và thu hoạch virút dại được tiến hành với nhiều mẻ gặt đơn nước
nổi nuôi cấy có hiệu giá virút cao [18], [19], [30]. Điều này giúp tiết kiệm tế
bào, chủng giống virút, môi trường, giá thể nuôi cấy và nhân công. Trong mỗi
quá trình nhân nuôi virút dại sẽ có từ 5-6 mẻ gặt đơn được thu hoạch [30].
Như vậy, liều gây nhiễm 0,01 MOI cho kết quả khả quan nhất sẽ được tiếp
tục lựa chọn để nghiên cứu cũng như sản xuất thử nghiệm vắcxin dại trên
nuôi cấy tế bào Vero trong các giai đoạn nghiên cứu tiếp theo.
2.3. QUY TRÌNH NUÔI CẤY VIRÚT VÀ THU HOẠCH NƢỚC NỔI
Sau khi gây nhiễm, virút dại sẽ nhân lên trong tế bào Vero sau đó giải
phóng ra nước nổi. Quá trình thu hoạch nước nổi nuôi cấy tế bào sẽ thu được
virút dại và đây sẽ là nguyên liệu để tinh chế thành vắcxin. Trong quá trình
ban đầu khi virút nhân lên cùng với tế bào Vero, môi trường được sử dụng
vẫn là môi trường phát triển tế bào có chứa huyết thanh động vật. Nước nổi
này sẽ không được sử dụng trong các công đoạn tiếp theo của quy trình sản
xuất vắcxin. Chi nước nổi nuôi cấy tế bào thu được khi sử dụng môi trường
không chứa huyết thanh mới là nguyên liệu để tiếp tục sản xuất ra vắcxin. Do
vậy mục đích của các nghiên cứu trong quy trình này là nhằm tìm ra các điều
kiện tối ưu để duy trì sự phát triển của virút dại trên tế bào Vero trong môi
trường không có huyết thanh.
- Các thông số được khảo sát để xác định điều kiện nuôi cấy virút tối ưu bao
gồm: thời gian gặt, số mẻ gặt đơn thích hợp, thời điểm thay môi trường duy
trì tế bào và loại chai tế bào một lớp dùng để nuôi cấy tế bào.
- Kết quả của quá trình nuôi cấy virút sẽ được đánh giá bằng các phương
53
pháp xác định hiệu giá virút dại. Các phương pháp này bao gồm:
2.3.1. Các phƣơng pháp xác định hiệu giá virút dại
2.3.1.1. Thử nghiệm xác định hiệu giá virút dại trên chuột (LD50/ml)
Nguyên vật liệu và trang thiết bị
Nguyên vật liệu
- Chủng virút Dại cố định:
+ Chủng sản xuất PV 20%
+ Chủng virút thử thách CVS 20%
- Các mẫu virút dại trước bất hoạt
- Dung dịch pha loãng
- Chuột nhắt 3-4 tuần tuổi (13-16g)
Trang thiết bị
- Pipetman 1000l và đầu côn
- Ống nghiệm eppendorf 2ml
- Bơm tiêm 0,3 ml
- Máy lắc.
- Tủ ấm 37OC.
- Máy ly tâm
- Ống nghiệm nhựa 15ml vô trùng
- Găng cao su vô trùng
54
- Nhãn dán lồng chuột
Tiến hành
Pha loãng mẫu thử
Pha chủng
- Lấy 8 ống nghiệm và ghi ký hiệu từ 1 đến 8, xếp theo thứ tự vào giá đựng
ống nghiệm.
- Dùng pipet nhựa loại 5ml vô trùng để hút dung dịch pha loãng.
- Dùng pipetman 1000l với đầu côn để hút chủng virút dại.
- Chủng kiểm tra được pha loãng bậc 10 từ10-1 đến 10-8
- Mỗi độ pha sau khi pha xong, trước khi chuyển sang độ pha tiếp theo phải
được lắc kỹ trên máy lắc và thay đầu côn của pipetman.
- Sau mỗi độ pha loãng để ngay ống nghiệm đã pha vào hộp có đá lạnh.
Pha mẫu virút dại trước bất họat
- Mẫu thử nghiệm được pha loãng bậc 10 từ từ10-1 đến 10-6
Đối với chủng PV: Dùng 4 độ pha loãng: 10-4, 10-5, 10-6 và 10-7.
Đối với chủng CVS: Dùng 4 độ pha loãng: 10-5, 10-6, 10-7 và 10-8.
Đối với mẫu virút dại trước bất hoạt: Dùng 4 độ pha loãng: 10-3, 10-4,
10-5 và 10-6
Gây nhiễm cho chuột và theo dõi
- Dùng 1 bơm tiêm. Tiêm từ độ pha loãng cao nhất đến độ pha loãng thấp
nhất.
55
- Mỗi độ pha loãng dùng 10 chuột, mỗi chuột tiêm 0,03ml vào não.
- Theo dõi chuột đã được gây nhiễm virút dại trong vòng 14 ngày. Hàng
ngày ghi số chuột chết hoặc liệt. Chỉ ghi nhận số chuột liệt chết từ ngày thứ 5,
những chuột chết trước đó không được tính trong tổng số chuột.
- Hình ảnh chuột liệt do chủng virút dại cố định PV được trình bày trong
Hình 2.3.
Hình 2.3. Hình ảnh chuột liệt do chủng virút dại cố định PV
Kết quả
Tính kết quả
- Tính số chuột chết trên tổng số chuột của mỗi nhóm chuột.
- Kết quả được tính theo phương pháp Reed – Muench.
* Công thức :
x k Lg(1/ LD50 ) = Lg(1/ A) -
Trong đó: A: độ pha loãng của chủng gây chết ngay sát dưới 50% .
a: % chuột chết ngay sát dưới 50%
b: % chuột chết ngay sát trên 50%
56
k =1 (logarit của hệ số pha loãng bậc 10)
Tiêu chuẩn chấp thuận
- Hiệu giá của chủng PV phải đạt từ 10-4,5 LD50/ml trở lên
2.3.1.2. Thử nghiệm miễn dịch huỳnh quang phát hiện nucleocapsit của
virút dại (FFD50/0,05 ml)
Nguyên vật liệu và trang thiết bị
Dụng cụ
- Phiến Teflon 8 giếng
- Bản kính đậy phiến
- Hộp lồng 15 cm để ủ phiến
- Phiến 96 giếng để pha loãng huyết thanh mẫu và huyết thanh chứng
- Đầu côn: 20-1000 l
- Giấy thấm.
- Ống ly tâm 1,5 ml
Trang thiết bị
- Pipet nhiều kênh
- Pipetman 20-1000 l
- Tủ ấm 37C
- Cóng rửa phiến
- Kính hiển vi soi tế bào
- Kính hiển vi huỳnh quang
57
- Tủ lạnh
Vật liệu và hóa chất
- Chai tế bào Vero
- MEM 10% FBS
- Dung dịch Trysin 0,25%
- Mẫu virut dại trước bất hoạt
- Dung dịch PBS
- Dung dịch đệm phủ phiến
- Dung dịch cộng hợp thỏ kháng nucleocapsit của virút dại gắn huỳnh quang
- Aceton lạnh
- Nước pha tiêm
Tiến hành
Lập sơ đồ phiến
- Trên mỗi bản sơ đồ phiến có 1 phiến chứng dương (mẫu virút dại đã biết
hiệu giá) và 1 phiến chứng âm (phiến chứng tế bào không gây nhiễm virút).
Chuẩn bị tế bào Vero
- Từ chai tế bào Vero 75cm2 đã nuôi cấy 3 ngày trong môi trường MEM-10,
tách tế bào và tạo khoảng 10 ml hỗn dịch tế bào.
- Đếm số lượng tế bào có trong hỗn dịch.
- Từ kết quả thu được pha loãng hỗn dịch tế bào để đạt được nồng độ 106 tế
bào/ml.
Pha loãng mẫu thử
58
- Mẫu thử được pha loãng bậc 10 từ 10-1 đến 10-4
Ủ mẫu thử với tế bào Vero
- Nhỏ 50 μl các mẫu thử đã pha loãng vào từng giếng. Các giếng ở phiến
chứng tế bào nhỏ 50 μl môi trường MEM 10% FBS.
- Thêm vào từng giếng trên các phiến 100 μl hỗn dịch tế bào đã pha loãng.
- Ủ tất cả các phiến trong hộp lồng có giấy thấm được làm ẩm ở nhiệt độ 370C trong 20 giờ.
Cố định virút
- Đổ hết nước nổi có ở các giếng trên các phiến.
- Nhúng phiến trong cóng đựng dung dịch PBS sau đó nhúng tiếp vào cóng
đựng acetone lạnh.
- Vớt phiến ra và để khô tự nhiên.
Nhuộm phiến
- Nhỏ dung dịch cộng hợp thỏ kháng nucleocapsit của virút dại gắn huỳnh
quang vào từng giếng trên các phiến.
- Ủ tất cả các phiến trong hộp lồng có giấy thấm được làm ẩm ở nhiệt độ 370C trong 30 phút.
Rửa phiến
- Đổ hết nước nổi có ở các giếng trên các phiến.
- Rửa phiến bằng dung dịch PBS.
- Để khô phiến.
Phủ phiến
- Nhỏ dung dịch đệm phủ phiến vào từng giếng.
59
- Đậy phiến bằng bản kính.
Đọc bản phiến
- Soi phiến dưới kính hiển vi huỳnh quang ở vật kính 20x và ghi kết quả vào
phiếu ghi sơ đồ phiến. Mỗi giếng trên phiến sẽ được soi lần lượt từng vi
trường cho hết toàn bộ diện tích của giếng. Vi trường nhiễm là vi trường soi
thấy hình ảnh virút dại bắt màu xanh huỳnh quang trên nền tế bào Vero có
màu đỏ (Hình 2.4).
Hình 2.4. Hình ảnh nhiễm virút dại vào tế bào Vero dƣới kính hiển vi
huỳnh quang
Tính kết quả
- Tính số vi trường nhiễm trên tổng số vi trường được soi trong mỗi giếng.
- Kết quả được tính theo phương pháp Reed – Muench.
* Công thức :
x k Lg(1/ FFD50 ) = Lg(1/ A) -
Trong đó: A: độ pha loãng của mẫu có mức độ nhiễm ngay sát dưới 50%.
a: % vi trường nhiễm ngay sát dưới 50%
b: % vi trường nhiễm ngay sát trên 50%
60
k =1 (logarit của hệ số pha loãng bậc 10)
Giá trị của thử nghiệm và tiêu chuẩn chấp thuận
- Mẫu chứng tế bào phải cho kết quả âm tính
- Hiệu giá của chủng PV phải đạt từ 10-1,5 FFD50/0,05 ml trở lên
2.2.1.3. Thử nghiệm ELISA định lượng kháng nguyên glycoprotein của
virút dại (EL.U/ml)
Nguyên lý
- Thử nghiệm áp dụng theo nguyên lý của thử nghiệm ELISA gián tiếp phát
hiện kháng nguyên glycoprotein của virút dại [37].
- Trước tiên, các giếng phản ứng được gắn bản bằng kháng thể đa dòng ngựa
kháng virút dại. Kháng nguyên trong mẫu thử sẽ kết hợp với kháng thể gắn
bản sau đó tiếp tục gắn kết với kháng thể đơn dòng chuột kháng glycoprotein
của virut dại. Phức hợp này sẽ được phát hiện bởi cộng hợp dê kháng IgG
chuột có gắn peroxidase và cho hiện màu bằng cơ chất.
- Đây là thử nghiệm in-house sử dụng trong quy trình sản xuất vắcxin dại nên
đơn vị được tính theo EL.U/ml với mẫu chuẩn được xây dựng dựa trên mẫu
chuẩn quốc tế đã biết hàm lượng glycoprotein của virút dại [25]. Thử nghiệm
này khá đặc hiệu với chủng virút dại sản xuất do sử dụng kháng thể chuột đơn
dòng kháng chính glycoprotein của virút dại chủng PV (clone 1C5) nên cũng
sẽ được coi là thử nghiệm nhận dạng đối với vắcxin dại cho cả các mẫu sản
phẩm bất hoạt và chưa bất hoạt virút.
Nguyên vật liệu và trang thiết bị
Vật liệu
- Phiến gắn bản 8 giếng
61
- Giá gắn bản
- Falcon 50 ml
- Pipet 5ml, 10ml, 25 ml.
- Pipet aid
- Pipet man 1μl, 10μl, 100μl, 200μl, 1000μl.
- Pipet nhiều kênh
- Đầu côn 10μl, 100μl, 200μl, 1000μl.
- Chứng âm (môi trường nuôi cấy virút hoặc PBS)
- Chứng dương (Mẫu chuẩn và vắcxin Verorab).
- Kháng thể đa dòng ngựa kháng dại (PAb).
- Kháng thể đơn dòng chuột kháng dại (MAb) clone 1C5
- Cộng hợp dê kháng IgG chuột.
Hóa chất
- Dung dịch đệm gắn bản
- Dung dịch blocking sau gắn bản
- Dung dịch rửa
- Dung dịch pha loãng mẫu
- Dung dịch pha loãng cộng hợp
- Dung dịch đệm cơ chất
- Dung dịch cơ chất
62
- Dung dịch ngừng phản ứng
Mẫu thử
- Tất cả các bán thành phẩm trong quy trình sản xuất vắcxin dại như bán
thành phẩm các mẻ gặt đơn virút dại, bán thành phẩm tinh sạch, bán thành
phẩm bất hoạt và các bán thành phẩm cô đặc và tinh chế.
Trang thiết bị
- Máy rửa bản ELISA
- Máy trộn
- Hốt vô trùng
- Máy đọc bản ELISA
Tiến hành
Gắn bản
- Gắn bản kháng thể đa dòng ngựa kháng dại (PAb) đã được pha trong
dung dịch đệm gắn bản. Ủ bản ở 37oC trong 3 giờ.
- Rửa và đập khô bản phiến.
- Cho dung dịch blocking vào mỗi giếng. Ủ bản ở 37oC trong 30 phút.
- Rửa và đập khô phiến.
- Dán phiến và bảo quản ở -20oC cho đến khi sử dụng.
Chạy ELISA
- Viết sơ đồ phiến
- Lấy phiến ra từ tủ bảo quản, để 5 phút ở nhiệt độ phòng. Lấy số dãy
giếng vừa đủ cho xét nghiệm.
- Pha loãng mẫu chuẩn và mẫu thử theo 4 độ pha loãng từ 1/5; 1/25;
63
1/125; 1/625.
- Nhỏ các mẫu đã pha loãng vào các giếng thử. Dán và ủ phiến ở 370C
trong 1 giờ.
- Rửa phiến bằng dung dịch rửa. Đập khô phiến.
- Pha kháng thể đơn dòng (MAb) chuột kháng glycoprotein của virút dại
- Nhỏ kháng thể đơn dòng đã được pha vào mỗi giếng. Dán và ủ phiến ở
370C trong 1 giờ.
- Rửa phiến bằng dung dịch rửa. Đập khô phiến.
- Pha dung dịch cộng hợp dê kháng IgG chuột có có gắn peroxidase.
- Nhỏ dung dịch cộng hợp vào các giếng. Dán và ủ phiến ở 370C trong
30 phút.
- Rửa phiến bằng dung dịch rửa. Đập khô phiến.
- Pha chất hiện mầu và nhỏ vào các giếng.
- Để phiến tại chỗ tối ở nhiệt độ phòng trong 5-10 phút.
- Dừng phản ứng bằng dung dịch dừng phản ứng.
- Đo mật độ quang (OD) ở bước sóng 450/620 nm trên máy đọc ELISA.
Kết quả
Tính kết quả
- Dựng đường chuẩn: Căn cứ vào OD và hàm lượng glycoprotein tương
ứng ở mỗi độ pha loãng của các mẫu chuẩn, sử dụng chương trình Excel,
xây dựng nên phương trình hồi quy tuyến tính thực nghiệm (phương trình
đường chuẩn) y = ax + b. Dựa theo phương trình đường chuẩn tính ra hàm
lượng glycoprotein của virut dại trong các mẫu thử.
64
*Công thức:
Trong đó: Y: hàm lượng glycoprotein của mẫu thử tính trong 1 ml (EL.U/ml)
d : độ pha loãng mẫu
y : Hàm lượng glycoprotein của mẫu thử trong thử nghiệm ELISA
tính theo mẫu chuẩn (EL.U) với phương trình đường chuẩn
y = ax + b
x: OD đo được tương ứng với từng hàm lượng glycoprotein.
a, b: Hệ số của phương trình đường chuẩn.
Giá trị của thử nghiệm
- Thử nghiệm có giá trị khi: Giá trị OD của chứng âm ở các độ pha loãng
khác nhau nhỏ hơn 0,15. Giá trị OD của chứng dương ở độ pha loãng 1/5
lớn hơn 0,5.
2.3.2. Kết quả nuôi cấy virút dại theo các điều kiện nhân nuôi khác nhau
Các thông số khác nhau của điều kiện nhân nuôi chủng virút dại giống
sản xuất PV được nghiên cứu. Kết quả thu được sẽ là căn cứ để xây dựng nên
quy trình nhân nuôi virút và thu hoạch nước nổi. Đây là một công đoạn rất
quan trọng trong quá trình sản xuất vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào. Hiệu giá
virút thu hoạch được sẽ quyết định đến hiệu suất của toàn bộ quá trình sản
xuất vắcxin dại sau này.
2.3.2.1. Kết quả nuôi cấy virút dại theo ngày sau gây nhiễm virút vào tế bào
Nghiên cứu được tiến hành với mục đích tìm ra thời điểm thu hoạch
65
virút cũng như xác định số mẻ gặt đơn thu được trong quá trình nhân nuôi
virút dại trên tế bào Vero. Tế bào và nước nổi nuôi cấy tế bào được theo dõi
và xác định hiệu giá virút hàng ngày sau khi gây nhiễm virút vào tế bào Vero.
Trong 3 ngày đầu tiên, môi trường sử dụng là môi trường phát triển tế bào có
chứa huyết thanh, vào những ngày tiếp theo, môi trường duy trì tế bào không
chứa huyết thanh sẽ được thay thế để nhân nuôi và thu hoạch virút dại cho sản
xuất.
Bảng 2.3. Kết quả nuôi cấy virút dại theo ngày sau gây nhiễm virút vào tế bào
Ngày 1
Ngày 2
Ngày 3 (thay môi trƣờng duy trì tế bào)
<10-4,5 LD50/ml 10-1,78 FFD50/0,05 ml
Ngày 4
Ngày 5
Ngày 6
10-6,0 LD50/ml 10-2,86 FFD50/0,05 ml 1,28 EL.U/ml
10-6,0 LD50/ml 10-2,71 FFD50/0,05 ml 1,67 EL.U/ml
10-6,75 LD50/ml 10-3 FFD50/0,05 ml 2,58 EL.U/ml
Ngày 9
Ngày 7
Ngày 8
(thay môi trƣờng duy trì tế bào)
10-5,875 LD50/ml 10-2,71 FFD50/0,05 ml 3,61 EL.U/ml
10-5,333 LD50/ml 10-2,89 FFD50/0,05 ml 3,92 EL.U/ml
10-5,962 LD50/ml 10-3,19 FFD50/0,05 ml 4,36 EL.U/ml
66
Ngày 10
Ngày 11
Ngày 12
10-5,125 LD50/ml 10-2,89 FFD50/0,05 ml 2,12 EL.U/ml
10-5,875 LD50/ml 10-3,71 FFD50/0,05 ml 3,12 EL.U/ml
10-5,875 LD50/ml 10-3,94 FFD50/0,05 ml 4,87 EL.U/ml
Ngày 13
Ngày 14
Ngày 15
(thay môi trƣờng duy trì tế bào)
10-3 FFD50/0,05 ml
10-3,4 FFD50/0,05 ml
10-6,125 LD50/ml 10-3,25 FFD50/0,05 ml 5,31 EL.U/ml
Ngày 16
Ngày 17
Ngày 18
(thay môi trƣờng duy trì tế bào)
10-2,13 FFD50/0,05 ml
10-3 FFD50/0,05 ml
10-6,0 LD50/ml 10-3,13 FFD50/0,05 ml 5,78 EL.U/ml
Ngày 20
Ngày 19
Ngày 21
(thay môi trƣờng duy trì tế bào)
10-2,19 FFD50/0,05 ml
10-5,0 LD50/ml 10-3,17 FFD50/0,05 ml 4,82 EL.U/ml
10-5,67 LD50/ml 10-3,4 FFD50/0,05 ml 5,12 EL.U/ml
67
Ngày 22
Ngày 23
Ngày 24
10-2,08 FFD50/0,05 ml
10-1,58 FFD50/0,05 ml
10-4,5 LD50/ml 10-1,54 FFD50/0,05 ml 3,66 EL.U/ml
Theo bảng 2.3, hiệu giá virút đạt đỉnh sau từ 3-4 ngày nuôi cấy trong
môi trường duy trì tế bào và đến ngày thứ 24 tế bào đã bị hủy hoại hoàn toàn.
Như vậy, khoảng thời gian nuôi cấy cho mỗi mẻ gặt đơn virút và thay môi
trường để duy trì tế bào là 3 ngày và số lần thu hoạch tối đa sẽ có được là 6
mẻ gặt đơn trong cả quá trình nuôi cấy virút này. Hiệu giá virút xác định theo
phương pháp miễn dịch huỳnh quang sẽ được lựa chọn là phương pháp theo
dõi hiệu giá virút của các mẻ gặt đơn do đơn giản, dễ thực hiện, dễ đọc kết
quả và không tốn thời gian theo dõi. Hiệu giá virút xác định theo phương
pháp ELISA cũng là một thông số có thể tham khảo. Tuy nhiên, phương pháp
này có giá trị hơn khi áp dụng để tính hiệu suất của toàn bộ quá trình sản xuất
vắcxin do có thể xác định được hiệu giá virút trong cả mẫu thử virút sống lẫn
mẫu thử virút đã bất hoạt [17], [44]. Tiêu chuẩn để mỗi mẻ gặt đơn đạt yêu cầu cho sản xuất phải có được hiệu giá virút dại ít nhất là 10-4,5 LD50/ml khi thử nghiệm tiêm trên chuột hoặc 10-1,5 FFD50/0,05 ml khi thử nghiệm theo
phương pháp miễn dịch huỳnh quang và 1,5 EL.U/ml khi thử nghiệm theo
68
phương pháp ELISA.
2.3.2.2. Kết quả nuôi cấy virút dại theo thời điểm thay môi trƣờng duy trì
tế bào khác nhau
Nghiên cứu tiến hành gây nhiễm virút dại vào tế bào Vero với số lượng
tế bào cũng như liều lượng virút gây nhiễm trong các chai nuôi cấy là tương
đương nhau. Tiến hành thay từ môi trường phát triển tế bào sang môi trường
duy trì tế bào vào các thời điểm khác nhau trong quá trình nuôi cấy tế bào sau
gây nhiễm. Mục đích của nghiên cứu là nhằm tìm ra thời điểm thích hợp để
thay thế từ môi trường chứa huyết thanh sang môi trường không chứa huyết
thanh sử dụng cho sản xuất vắcxin. Hiệu giá virút được xác định trong nghiên
cứu này bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang phát hiện nucleocapsit
của virút dại tính theo số đơn vị FFD50/0,05 ml
Bảng 2.4. Kết quả nuôi cấy virút dại theo thời điểm thay môi trƣờng duy
trì tế bào khác nhau
Thời điểm thay môi trƣờng duy trì tế bào (môi trƣờng không huyết thanh)
Thời điểm theo dõi
2 giờ
4 giờ
6 giờ
24 giờ
72 giờ
Mẻ gặt H0
(bắt đầu sang môi trƣờng duy trì tế bào)
-
-
-
-
-
Mẻ gặt H1
(sau 3 ngày)
-
10-1,10
10-2,21
10-2,93
-
69
Mẻ gặt H2
(sau 6 ngày)
10-3,10
10-2,42
10-2,70
10-3,50
10-3,50
Mẻ gặt H3
(sau 9 ngày)
10-3,25
10-3,88
10-3,39
10-3,50
10-3,69
Mẻ gặt H4
(sau 12 ngày)
10-2,79
10-2,21
10-3,07
10-2,75
10-3,83
Mẻ gặt H5
(sau 15 ngày)
10-1,83
10-2,13
10-2,17
10-2,07
10-2,58
Mẻ gặt H6
(sau 18 ngày)
-
-
-
10-1,20
10-1,50
70
Theo Bảng 2.4, sau 3 ngày (72 giờ) nuôi cấy trong môi trường phát
triển tế bào (có huyết thanh), tế bào được thay sang môi trường duy trì (không
có huyết thanh) đã cho hiệu giá virút của các mẻ gặt đơn đạt yêu cầu. Như
vậy, tế bào Vero phải đạt được mức độ phát triển kín một lớp trong các chai
nuôi cấy tế bào thì mới đủ được số lượng tế bào để virút nhân lên. Môi trường
duy trì tế bào cũng giúp các tế bào Vero tiếp tục nhân lên (hình ảnh tế bào ở
các mẻ gặt từ H2 đến H4 khi thay sang môi trường duy trì tế bào sau 2,4,6 giờ
nuôi cấy trong môi trường phát triển tế bào), tuy nhiên số lượng tế bào nhân
lên này không đáp ứng đủ nhu cầu phát triển của virút nên hiệu giá thu được
không cao và không kéo dài. Theo nghiên cứu của nhiều tác giả khác trên thế
giới cũng đã cho thấy 3 ngày là thời điểm thích hợp nhất để chuyển từ môi
trường phát triển tế bào sang môi trường duy trì tế bào [18], [19], [26], [59].
2.3.2.3. Kết quả nuôi cấy virút dại trên các dạng chai nuôi cấy khác nhau
Nghiên cứu đề cập đến việc nuôi cấy virút trên các dạng chai nuôi cấy tế bào một lớp khác nhau như chai 75 cm2 và 150 cm2, chai nuôi cấy 3 tầng và
và 10 tầng (cell factory) nhằm tìm ra được dạng chai nuôi cấy cho hiệu suất
nuôi cấy virút cao nhất khi tiến hành nhân nuôi virút ở quy mô phòng thí
nghiệm. Lượng tế bào được cấy vào mỗi chai được tính theo diện tích của
từng loại chai và liều gây nhiễm virút cũng sẽ tương đương nhau ở tất cả các
71
dạng chai nuôi cấy.Hiệu giá virút được xác định số đơn vị FFD50/0,05 ml.
Bảng 2.5. Kết quả nuôi cấy virút dại trên các dạng chai nuôi cấy khác nhau
Chai 75 cm2
Chai 150 cm2
Chai 3 tầng
Chai 10 tầng
Mẻ gặt đơn
Tế bào gây nhiễm
Tế bào chứng
Tế bào gây nhiễm
Tế bào chứng
Tế bào gây nhiễm
Tế bào chứng
H0
-
-
-
-
H1
10-2,67
10-2,87
10-3,16
10-2,02
H2
10-3,46
10-3,54
10-3,54
10-3,42
72
H3
10-3,63
10-3,73
10-4,21
10-3,52
H4
10-3,92
10-4,05
10-4,02
10-3,87
H5
10-2,67
10-3,01
10-3,34
10-2,62
H6
10-1,52
10-1,86
10-1,48
10-2,09
73
Kết quả trong Bảng 2.5 cho thấy, các dạng chai nuôi cấy tế bào một lớp
khác nhau cho hiệu giá virút nuôi cấy gần tương đương nhau. Nuôi cấy trên
chai tế bào 3 lớp cho hiệu giá virút dại cao nhất. Chai nuôi cấy tế bào 10 lớp
không có được hiệu giá virút cao như kỳ vọng. Điều này có thể là do tế bào
không được chia đều ở các tầng của chai nuôi cấy đồng thời phòng thí nghiệm
chưa có được hệ thống ủ chai nhiều tầng chuyên biệt nên tế bào không được
giàn và mọc đều 1 lớp trên các tầng của chai nuôi cấy. Hơn nữa, hạn chế của
chai nuôi cấy 10 tầng là rất khó theo dõi quá trình phát triển của tế bào do
không soi được với các kính soi tế bào thông thường. Do vậy, trong quy trình
sản xuất thử nghiệm ở quy mô phòng thí nghiệm, sẽ chỉ áp dụng nhân nuôi
virút trên hệ thống chai nuôi cấy tế bào 3 tầng. Trong tương lai, cùng với việc
tiếp tục nghiên cứu nhân nuôi virút dại trên các hệ chai tế bào một lớp nhiều
tầng (cell factory) thì một kỹ thuật nuôi cấy tế bào tiên tiến cũng cần được áp
dụng là nhân nuôi tế bào trên hệ thống tiểu giá thể (microcarrier). Nhiều
nghiên cứu đã được tiến hành trên thế giới với mục đính nuôi cấy tế bào Vero
từ đó nhân nuôi các virút để sản xuất vắcxin trên các hệ thống tiểu giá thể
trong bình nuôi sinh học (bioreactor) [19], [47], [48], [59]. Hãng Pasteur
Merieux đã thành công trong việc ứng dụng công nghệ này trong sản xuất
vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero (Verorab) [29]. Các kết quả nghiên cứu
nhân nuôi tế bào Vero cũng như virút trên chai nuôi cấy một lớp sẽ là tiền đề
để có thể tiếp tục phát triển công nghệ trên hệ thống nuôi cấy có hiệu suất cao
hơn trong tương lai.
Hỗn dịch virút thu được từ các mẻ gặt đơn sẽ được tinh sạch nhằm loại
2.4. QUY TRÌNH TINH SẠCH HỖN DỊCH VIRÚT bỏ các mảnh vỡ của xác tế bào và giữ lại các hạt virút nguyên vẹn. Phương pháp được sử dụng trong tinh sạch hỗn dịch tế bào là ly tâm và lọc qua màng.
74
Ly tâm với tốc độ thấp là phương pháp thường được các nhà sản xuất
vắcxin áp dụng. Ly tâm chỉ giúp loại trừ các mảnh vỡ tế bào có kích thước
lớn. Đối với các mảnh vỡ có kích thước nhỏ trên dưới 1 m, cần được loại bỏ
bằng các hệ thống lọc sử dụng màng siêu lọc. Do có kích thước khá lớn trong
các loại virút, nên việc lựa chọn loại màng lọc có kích thước lỗ lọc phù hợp
cần được tiến hành khi nghiên cứu tinh sạch hỗn dịch virút dại. Kết quả về
hiệu giá virút sau khi sử dụng các loại màng lọc có kích thước lỗ lọc khác
nhau được trình bày trong Bảng 2.6.
Bảng 2.6. Kết quả tinh sạch hỗn dịch virút bằng các loại màng lọc
khác nhau
Kích thƣớc lỗ lọc
1,2 µm
0,45 µm
0,22 µm
Hiệu giá virút trƣớc khi lọc
7,86 EL.U/ml
Hiệu giá virút sau khi lọc
7,20 EL.U/ml 7,06 EL.U/ml 3,25 EL.U/ml
Hiệu suất lọc
91,6% 89,8% 41,3%
Kết quả Bảng 2.6 cho thấy, màng lọc 0,22 µm không cho phần lớn
virút dại đi qua nên hiệu suất thu hồi rất thấp. Màng lọc 0,45 µm có hiệu suất
lọc tương đương với loại màng lọc có kích thước lớn hơn 1,2 µm. Do vậy,
màng lọc 0,45 µm là loại màng lọc sẽ được lựa chọn trong tinh sạch hỗn dịch
virút cũng như lọc các sản phẩm khác trong quá trình sản xuất vắcxin sau này.
Màng lọc này vừa lọc được virút dại với hiệu suất cao vừa giúp loại trừ được
75
các mảnh vỡ tạp hay các hạt virút kết dính có kích thước trên 1 µm.
2.5. QUY TRÌNH BẤT HOẠT VIRÚT
Bất hoạt là một bước quan trọng trong quy trình sản xuất vắc xin dại,
quyết định đến tính an toàn của sản phẩm vắc xin khi sử dụng cho người.
Nhiều phương pháp bất hoạt khác nhau được sử dụng trong quy trình sản xuất
vắc dại như bất hoạt bằng hóa chất (-propiolactone, phenol, formol..) hay bất
hoạt bằng tia cực tím [36], [40], [57]. Nghiên cứu này sẽ đề cập đến các
phương pháp bất hoạt virút bằng hóa chất theo hai cách thức khác nhau là bất
hoạt bằng -propiolactone đơn thuần và bất hoạt bằng -propiolactone kết
hợp với phenol. Phương pháp bất hoạt bằng -propiolactone kết hợp với
phenol đã từng được áp dụng trong quy trình sản xuất vắc xin dại trên não
chuột ổ theo công nghệ của Fuenzalida-Palacios. Để đánh giá hiệu quả của
quá trình bất hoạt, tiến hành thử nghiệm kiểm tra an toàn đặc hiệu trên chuột
(xem Phần 4.1.4 - Kiểm tra an toàn đặc hiệu), thử nghiệm xác định hiệu giá
virút đối với các sản phẩm trước và sau bất hoạt, kiểm tra hình ảnh virút dưới
kính hiển vi điện tử .
Bảng 2.7. Kết quả bất hoạt virút dại bằng các phƣơng pháp bất hoạt
khác nhau
Thông số theo dõi
-propiolactone đơn thuần
-propiolactone kết hợp với phenol
Trƣớc bất hoạt
7,97 EL.U/ml
Hiệu giá virút
Sau bất hoạt
7,78 EL.U/ ml 4,21 EL.U/ml
Kiểm tra an toàn đặc hiệu
76
Đạt yêu cầu Không đạt yêu cầu
Hình ảnh hiển vi điện tử
Theo Bảng 2.7, hỗn dịch virút bất hoạt bằng -propiolactone kết hợp
với phenol không bất hoạt hoàn toàn được virút dại. Hạt virút bị kết dích sau
khi tiếp xúc với phenol do đó làm cho hiệu giá virút xác định theo phương
pháp ELISA giảm đồng thời kết quả kiểm tra an toàn đặc hiệu trên chuột
không đạt yêu cầu. Với kết quả kiểm tra an toàn đặc hiệu trên chuột đạt yêu
cầu, hiệu giá virút ổn định và hình ảnh nguyên vẹn của hạt virút sau khi bất
hoạt đã cho thấy -propiolactone là hóa chất có hiệu quả bất hoạt virút dại.
Quy trình bất hoạt này sẽ được áp dụng trong nghiên cứu và sản xuất vắc xin
dại trên nuôi cấy tế bào. Bên cạnh phương pháp đánh giá an toàn đặc hiệu
trên chuột cần có các nghiên cứu về tính bất hoạt virút theo phương pháp
nhân nuôi trên tế bào. Phương pháp này sẽ cho độ nhạy cao hơn, đơn giản và
tiết kiệm, giúp nhà sản xuất chắc chắn hơn về kết quả tính chất bất hoạt của
sản phẩm [28], [54].
2.6. QUY TRÌNH CÔ ĐẶC HỖN DỊCH VIRÚT
Trước khi tinh chế, virút cần đạt được một mức độ hiệu giá càng cao
càng tốt. Điều này có ý nghĩa quyết định đến hiệu suất của quá trình tinh chế
virút sau này. Quá trình cô đặc hỗn dịch virút được tiến hành trên hệ thống
Pellicon cassette sử dụng các màng siêu lọc. Một trong những yếu tố cần
được nghiên cứu trong quy trình cô đặc là tỷ lệ cô đặc hỗn dịch virút. Tỷ lệ
77
này sẽ thay đổi từ 10 lần đến 50 lần so với hỗn dịch virút ban đầu. Các thông
số về hiệu giá virút và hình ảnh virút sau cô đặc sẽ được đề cập đến trong
nghiên cứu.
Bảng 2.8. Kết quả cô đặc hỗn dịch virút dại theo các tỷ lệ khác nhau
Thông số theo dõi
10 lần
20 lần
50 lần
Trƣớc cô đặc
3,23 EL.U/ml
Hiệu giá virút
Sau cô đặc
23,63 EL.U/ml 42,16 EL.U/ml 114,84 EL.U/ml
Hình ảnh hiển vi điện tử
Theo kết quả trong Bảng 2.8, ở tỷ lệ cô đặc 10 lần, vi rút dại giữ nguyên
hình dạng và là những hạt vi rút rời rạc. Tuy nhiên, ở tỷ lệ này hiệu giá vi rút
không đạt được mức độ yêu cầu cho quá trình tinh chế vi rút. Đến tỷ lệ cô đặc
20 lần vi rút bắt đầu bị tổn thương và xuất hiện hiện tượng kết dính. Ở tỷ lệ cô
đặc cao nhất, 50 lần, vi rút dại thay đổi về hình dạng và kết dính rất nhiều với
nhau. Như vậy, cô đặc trong khoảng tỷ lệ từ 20-40 lần là phù hợp nhất cho kết
quả tối ưu về hiệu giá vi rút cũng như tính toàn vẹn của hạt vi rút. Kết quả này
cũng phù hợp với nhiều nghiên cứu về cô đặc vi rút dại cho sản xuất vắc xin
của các tác giả trong và ngoài nước [2], [30]. Sản phẩm của quá trình cô đặc
78
đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất tiếp theo - tinh chế vi rút.
2.7. QUY TRÌNH TINH CHẾ VIRÚT
Tinh chế kháng nguyên virút dại là một bước quan trọng trong quá
trình sản xuất vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero. Vero là một dòng tế bào
thường trực do vậy bên cạnh những lợi thế như virút dại thường phát triển tốt
cho hiệu suất nuôi cấy cao hơn, dễ dàng nâng cao quy mô sản xuất và giá
thành rẻ hơn so với sản xuất trên các dòng tế bào lưỡng bội và tế bào tiên phát
thì một yêu cầu cần đặt ra đối với các vắcxin sản xuất trên dòng tế bào này là
việc loại trừ các nguy cơ có liên quan đến mức độ tồn dư các thành phần
ADN tế bào và protein huyết thanh của động vật [23], [56]. Trong quy trình
sản xuất này, không sử dụng các môi trường có huyết thanh để nhân nuôi
virút nên thành phần protein tạp nhiễm chỉ là các protein của tế bào hoặc các
axít amin có trong môi trường nuôi cấy, do vậy việc kiểm soát mức độ tồn dư
của ADN tế bào cần được chú trọng để đảm bảo chất lượng của các sản phẩm
sau quá trình tinh chế cũng như chất lượng của vắcxin thành phẩm. Các
phương pháp đánh giá mức độ tinh khiết của các sản phẩm sau tinh chế về
mặt protein là các kỹ thuật thông thường như đo độ mật độ quang (OD) ở
bước sóng 280 nm và điện di trên gel SDS-PAGE [5], [18], [20], [24]. Để
đánh giá mức độ tinh khiết về mặt ADN, tiến hành phát hiện ADN tế bào tồn
dư bằng phương pháp lai ADN [24], [26], [50], [60].
2.7.1. Thử nghiệm phát hiện ADN tế bào Vero tồn dƣ trong các sản
phẩm của quy trình tinh chế vắcxin dại bằng phƣơng pháp lai điểm
2.7.1.1. Nguyên lý
- ADN tế bào Vero tồn dư trong các sản phẩm của quá trình sản xuất vắcxin
được phát hiện bằng cách tách chiết và lai với ADN dò đã đánh dấu bằng hóa
chất phát quang. Các điểm lai ADN sẽ được hiển thị trên phim X-quang. Hàm
lượng ADN tồn dư sẽ được xác định bằng cách so sánh về mặt hình ảnh giữa
79
ADN mẫu thử và ADN thang chuẩn.
2.7.1.2. Tiến hành
Bƣớc 1: Tách chiết ADN của tế bào Vero để tạo thang ADN chuẩn
- Chuẩn bị hỗn dịch tế bào Vero
+ Dùng Trysin tách tế bào từ chai nuôi cấy để tạo hỗn dịch tế bào Vero.
+ Ly tâm hỗn dịch tế bào Vero. Loại nước nổi. Thu cặn tế bào và rửa cặn
bằng dung dịch TBS.
+ Tiếp tục ly tâm thu cặn tế bào và hòa cặn trong dung dịch PBS.
- Tách chiết ADN của tế bào Vero
+ Tiến hành tách chiết ADN tế bào Vero bằng các bộ sinh phẩm tách chiết
ADN.
+ Thu mẫu và bảo quản ở -200C
- Cắt đoạn ADN của tế bào Vero
+ Sử dụng các enzyme giới hạn Pst 1, EcoR 1 để cắt đoạn ADN tế bào
Vero.
- Tinh sạch ADN của tế bào Vero
+ Tiến hành tinh sạch ADN của tế bào Vero bằng các bộ sinh phẩm tinh
sạch ADN
+ Thu mẫu và bảo quản ở -200C
- Đo hàm lượng ADN sau tinh sạch
+ Đo hàm lượng ADN bằng máy đo mật độ quang ở bước sóng 260 nm
+ Pha loãng ADN theo các hàm lượng khác nhau (10ng, 1ng, 100 pg, 10
80
pg và 1 pg) để tạo thành thang ADN chuẩn.
Bƣớc 2: Chế tạo ADN dò
Nguyên liệu và hóa chất
- ADN của tế bào Vero đã được tinh sạch
- Bộ sinh phẩm NEBlot Phototope Kit
- Dung dịch EDTA 0.2M pH 8.0
- Dung dịch NaCl 3M
- Glycogen solution
- Ethanol
- Dung dịch TE/0.1% SDS
Tiến hành
- Pha loãng ADN của tế bào Vero để đạt được nồng độ theo yêu cầu
- Làm biến tính ADN và tiến hành phản ứng gắn biotin theo hướng dẫn của
bộ sinh phẩm NEBlot Phototope Kit.
- Ủ mẫu ở nhiệt độ 370C và bổ sung thêm các dung dịch EDTA 0.2M pH
8.0, NaCl 3M, Glycogen và Ethanol.
- Tiếp ủ mẫu ở nhiệt độ -700C, sau đó ly tâm và rửa mẫu bằng Ethanol 70%.
- Ly tâm loại bỏ nước nổi và để khô mẫu. Sau đó bổ sung dung dịch TE/0,1% SDS và bảo quản ở -200C.
Bƣớc 3: Tách chiết ADN từ các sản phẩm của quy trình sản xuất vắcxin
Nguyên liệu và hóa chất
- Mẫu thử: các sản phẩm của quy trình sản xuất vắcxin dại trên nuôi cấy tế
bào Vero
81
- Dung dịch SDS 10%
- Dung dịch Proteinase-K 20mg/ml
- Dung dịch Phenol:chloroform
- Dung dịch sodium acetate 3M
- Ethanol
- Đệm TE
- Tuýp đựng mẫu
- Máy trộn
- Máy ủ nhiệt
Tiến hành
- Chia mẫu thử vào các tuýp, mỗi tuýp chứa 0,5 ml mẫu.
- Thêm vào mỗi tuýp dung dịch SDS 10% và Proteinase-K 20mg/ml
- Ủ trong bể ủ ở nhiệt độ 450C.
- Thêm dung dịch Phenol:chloroform, trộn đều. Sau đó ly tâm hút lấy phần
dung dịch nổi.
- Thêm dung dịch sodium acetate 3M, trộn đều. Thêm dung dịch ethanol bão hòa. Trộn đều và ủ ở -200C.
- Ly tâm loại nước nổi, sau đó tiếp tục rửa cặn bằng dung dịch ethanol 70%.
- Ly tâm loại nước nổi, để khô. Hòa lại cặn trong dung dịch đệm TE và bảo quản mẫu ở -200C.
Bƣớc 4: Lai ADN dò với ADN của mẫu thử và mẫu chuẩn
Hóa chất
- Dung dịch SSC 20x
82
- Dung dịch Denhardt 100x
- Dung dịch tiền lai
- Dung dịch lai
- Dung dịch rửa
- Hệ thống tạo điểm Bio-dot
- Màng nitrocellulose
- Máy chiếu UV
Tiến hành
Nhỏ mẫu ADN lên màng lai:
- Lắp màng lai vào hệ thống tạo điểm Bio-dot
- Làm biến tính và nhỏ ADN mẫu chuẩn và mẫu thử lên màng lai.
- Lắp và bật máy hút chân không để chạy hệ thống tạo điểm Bio-dot cho đến
khi mẫu ADN tạo thành điểm khô bám trên màng lai.
- Tháo màng lai và cố định ADN bằng tia UV.
Lai ADN dò với ADN mẫu:
- Ngâm màng trong dung dịch tiền lai và ủ ở nhiệt độ 42oC trong 4 giờ.
- Đổi dung dịch ngâm màng từ dung dịch tiền lại sang dung dịch lai đã được pha với ADN dò. Tiếp tục ủ màng ở 42oC qua đêm.
Rửa màng lai:
- Hút bỏ dung dịch lai.
- Rửa màng lai nhiều lần bằng dung dịch SSC có chứa 0.1% SDS
Bƣớc 5: Phát hiện ADN lai
Hóa chất và dụng cụ
83
- Bộ sinh phẩm phát hiện biotin - Phototope-Star Detection Kit
- Phim hiện mẫu
- Máy rửa phim X-quang
Tiến hành
- Màng lai được xử lý theo hướng dẫn của bộ sinh phẩm phát hiện biotin -
Phototope-Star Detection Kit.
- Ép màng lai vào phim hiện mẫu.
- Rửa phim.
2.7.1.3. Kết quả
Tính kết quả
- Dựa vào độ phát quang của mẫu thử so với mẫu ADN chuẩn để tính hàm
lượng ADN tồn dư trong các mẫu thử.
Tiêu chuẩn chấp thuận
- Hàm lượng ADN tồn dư của tế bào có trong vắcxin thành phẩm phải dưới
10ng cho một liều tiêm.
2.7.2. Các phƣơng pháp tinh chế virút dại
Trong quy trình sản xuất vắc xin dại trên nuôi cấy tế bào Vero, các
phương pháp tinh chế vi rút dại được sử dụng bao gồm siêu ly tâm và sắc ký.
Các phương pháp này có thể tiến hành đơn lẻ hoặc kết hợp với nhau. Từ
phương pháp siêu ly tâm phân vùng (zonal centrifuge) [5], [20], siêu ly tâm
liên tục (continuous-flow centrifuge) [24], [26], siêu ly tâm phân vùng trên hệ
thống ly tâm bằng rotor góc cố định [1] đến các phương pháp sắc ký bằng cột
DEAE-Cellulose [18] và cuối cùng là kết hợp cả siêu ly tâm và sắc ký [23] đã
cho thấy mức độ đa dạng của các phương pháp được ứng dụng trong quy trình
tinh chế vi rút dại để sản xuất vắc xin. Nghiên cứu này đề cập đến các phương
84
pháp tinh chế vi rút dại bằng siêu ly tâm. Phương pháp này tận dụng được các
các lợi thế sẵn có của cơ sở sản xuất về hệ thống máy siêu ly tâm và các kinh
nghiệm đã áp dụng thành công trong sản xuất các vắcxin virút khác như
vắcxin viêm gan B và vắcxin viêm não Nhật Bản B. Đồng thời, đây cũng là
một phương pháp tinh chế tương đối rẻ tiền hy vọng sẽ làm giảm giá thành
của sản phẩm vắcxin trong tương lai.
Các phương pháp siêu ly tâm tinh chế vi rút dại được nghiên cứu bao
gồm siêu ly tâm phân vùng trong gradient đường sucrose trên hệ thống rotor
zonal hoặc rotor góc cố định. Phân đoạn có chứa kháng nguyên vi rút được
xác định bằng thử nghiệm ELISA phát hiện glycoprotein của vi rút dại. Độ
tinh khiết của bán thành phẩm sau tinh chế được đánh giá bằng thử nghiệm
điện di trên gel SDS-PAGE, đo hàm lượng protein ở bước sóng 280 nm và
xác định hàm lượng ADN tế bào tồn dư bằng phương pháp lai điểm.
Phân đoạn sau siêu ly tâm
85
Hình 2.5. Kết quả siêu ly tâm phân vùng bằng rotor zonal tinh chế virút dại
G
N
Sau tinh chế
Thang chuẩn
Trước bất hoạt
Trước tinh chế
Sau bất hoạt
Hình 2.6. Hình ảnh điện di sản phẩm sau khi tinh chế vi rút dại theo phƣơng pháp siêu ly tâm phân vùng bằng rotor zonal
OD
Phân đoạn sau siêu ly tâm
Hình 2.7. Hình ảnh siêu ly tâm phân vùng bằng rotor góc cố định tinh
86
chế virút dại
G
N
3
5
7
4
6
8
9
10 Cặn
Phân đoạn sau siêu ly tâm
Hình 2.8. Hình ảnh điện di các phân đoạn sau khi tinh chế vi rút dại theo
phƣơng pháp siêu ly tâm phân vùng bằng rotor góc cố định
Theo Hình 2.5, sau khi siêu ly tâm bằng rotor zonal, một đỉnh hiệu giá
vi rút cao tạo được ở các phân đoạn đường từ 29 đến 41. Các phân đoạn này
có lượng protein tạp thấp và hình ảnh chạy điện di trên gel SDS-PAGE (Hình
2.6) cho thấy mức độ tinh sạch của kháng nguyên vi rút thu được. Tuy nhiên,
độ tập trung của phân đoạn vi rút tinh khiết không cao biểu hiện bằng hình
ảnh đỉnh hiệu giá vi rút không phân tách rõ ràng, có nhiều đỉnh hiệu giá vi rút
cao thấp khác nhau trong các phân đoạn đường và kết quả kiểm tra công hiệu
trên chuột của sản phẩm sau tinh chế đạt thấp chỉ vào khoảng 10-20 IU/ml.
Ngược lại, khi siêu ly tâm bằng rotor góc cố định, đỉnh hiệu giá vi rút rất tập
trung chủ yếu ở các phân đoạn số 8-10 (Hình 2.7). Các phân đoạn này cũng
cho hình ảnh vi rút tinh khiết khi điện di trên gel SDS-PAGE (Hình 2.8). Kết
quả kiểm tra công hiệu trên chuột của các phân đoạn này đạt được tới trên
87
dưới 50 IU/ml. Như vậy, phương pháp siêu ly tâm trong gradient đường
sucrose bằng rotor góc cố định đã cho kết quả tinh khiết vi rút dại cao đạt yêu
cầu để pha chế thành bán thành phẩm vắc xin dại.
Bên cạnh việc đánh giá về mức độ tinh khiết protein của các sản phẩm
sau tinh chế, một tiêu chuẩn khác cũng cần được đánh giá đối với các sản
phẩn này là hàm lượng ADN tồn dư. Vào năm 1987, TCYTTG thiết lập tiêu
chuẩn về hàm lượng ADN là ít hơn hoặc bằng 100 pg/liều đối với các sản
phẩm sử dụng cho tiêm truyền. Vào năm 1998, tiêu chuẩn này được thay đổi
là ít hơn hoặc bằng 10 ng/ liều đối với các sản phẩm tiêm truyền dựa trên các
đánh giá sâu hơn được thực hiện trong một thời gian theo dõi kéo dài. Không
có giới hạn áp dụng cho các sản phẩm được sản xuất từ các hệ thống vi sinh
vật, tế bào lưỡng bội và tế bào tiên phát và cả đối với các sản phẩm sản xuất
trên dòng tế bào thường trực nhưng sử dụng theo đường uống [53], [54]. Kết
quả của nghiên cứu này cho thấy, qua toàn bộ quá trình sản xuất vắc xin từ
tinh sạch, bất hoạt đến tinh chế, hàm lượng ADN tế bào tồn dư đã giảm đi rõ
ràng (Hình 2.9).
10 ng
100 pg
1 ng
10 pg
1 pg
Thang chuẩn
Mẫu trong các giai đoạn của quá trình sản xuất vắcxin
Mẫu mẻ gặt đơn virút
Mẫu sau tinh chế virút
88
Hình 2.9. Phƣơng pháp lai điểm xác định hàm lƣợng ADN tế bào tồn dƣ trong các sản phẩm của quá trình sản xuất vắc xin dại
Hình 2.9 so sánh hàm lượng ADN tế bào tồn dư trong sản phẩm đầu
tiên của quá trình sản xuất vắc xin dại là mẫu của các mẻ gặt đơn và sản phẩm
sau quá trình tinh chế. Hàm lượng ADN tồn dư của mẫu mẻ gặt đơn vi rút
khoảng 2,5 ng/0,5 ml mẫu thử và của mẫu sau tinh chế là 100 pg/0,5 ml mẫu.
Nếu tính tương đương với một liều tiêm vắc xin thì hàm lượng ADN tồn dư
đã giảm từ 125 ng/liều xuống còn 50 pg/liều. Việc giảm thiểu lượng ADN tế
bào tồn dư xuống đến mức đạt yêu cầu cho 1 liều vắc xin tiêm đã cho thấy
hiệu quả loại trừ ADN tế bào của toàn bộ quá trình sản xuất vắc xin dại.
Nhiều tác giả cho rằng, ngay từ những bước đầu tiên của quá trình sản xuất
như bước tinh sạch vi rút bằng cách ly tâm và lọc đã giúp loại trừ một phần
đáng kể ADN [24], [26]. Đặc biệt khi sử dụng -propiolactone, bên cạnh tác
dụng làm bất hoạt vi rút còn làm giảm thiểu hoạt tính sinh học của ADN [33],
[38]. Cuối cùng, chính quá trình tinh chế vi rút đã làm loại trừ một cách đáng
kể lượng ADN tế bào tồn dư trong các sản phẩm của quá trình sản xuất vắc
xin dại trên nuôi cấy tế bào Vero [24].
2.8. QUY TRÌNH PHA BÁN THÀNH PHẨM CUỐI CÙNG
Hỗn dịch virút sau tinh chế được pha với đệm đông khô có chứa chất
bảo quản (Thimerosal) và chất ổn định (Albumin huyết thanh người) để tạo
thành bán thành phẩm cuối cùng. Bán thành phẩm này phải đạt được yêu cầu
về chất lượng như vô trùng và hàm lượng glycoprotein của vi rút dại. Giống
với nhiều nhà sản xuất khác, xây dựng tiêu chuẩn về hàm lượng glycoprotein
cho pha chế bán thành phẩm cuối cùng của vắc xin dại là rất khó khăn. Hiện
chưa có chuẩn chung về hàm lượng glycoprotein của vi rút dại. Mỗi nhà sản
xuất, tùy thuộc vào quy trình cũng như chủng giống sản xuất, phát triển các
phương pháp định lượng glycoprotein phù hợp sử dụng cho kiểm định và xây
89
dựng công thức pha bán thành phẩm cuối cùng [17], [54]. Trong khi đó, kiểm
tra công hiệu, một thử nghiệm kiểm định bắt buộc đối với tất cả các dạng vắc
xin dại lại được tiến hành hoàn toàn trên động vật sống là chuột. Mô hình sinh
học này rất nhạy cảm và phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong quá trình thử
nghiệm [58]. Do vậy, nhóm nghiên cứu cần thêm thời gian để tìm hiểu về mối
tương quan giữa kết quả định lượng glycoprotein của vi rút dại bằng phương
pháp ELISA với kết quả kiểm tra công hiệu có được trên chuột từ đó tạo ra
một công thức pha chế bán thành phẩm vắc xin dựa hoàn toàn trên hàm lượng
glycoprotein của vi rút dại. Muốn có được công thức pha tối ưu này, cần tập
hợp được nhiều kết quả về công hiệu và ELISA của các loạt sản xuất cũng
như kiểm định vắc xin dại ổn định. Công thức pha bán thành phẩm cuối hiện
đang áp dụng chủ yếu dựa vào tỷ lệ pha chế của các mẻ sản xuất thử nghiệm
đã đạt yêu cầu về công hiệu. Do tiêu chuẩn về công hiệu của vắc xin dại
tương đối rộng (≥2,5 IU/ml), nên tỷ lệ pha chế luôn cần tạo ra một khoảng an
toàn đủ lớn để đảm bảo kết quả về công hiệu của vắc xin thành phẩm. Tuy
nhiên, điều này đã làm nảy sinh một vấn để mới đó là yêu cầu về chất gây sốt
đối với vắc xin dại trên nuôi cấy tế bào thành phẩm. Kết quả kiểm tra chất gây
sốt đối với toàn bộ các loạt vắc xin dại trên nuôi cấy tế bào đông khô
(VERAPVAX) có công hiệu cao đều không đạt yêu cầu (xem Phần 3.10 - Kết
quả kiểm tra chất lượng vắc xin thành phẩm tại cơ sở). Do đó, một nghiên
cứu đã được tiến hành nhằm tìm hiểu yếu tố gây sốt trong công thức pha bán
thành phẩm vắc xin với các thành phẩn và các tỷ lệ pha chế khác nhau (Bảng
2.9). Phương pháp kiểm tra chất gây sốt áp dụng trong nghiên cứu này được
90
trình bày trong Phần 4.1.3.
Bảng 2.9. Kết quả kiểm tra chất gây sốt trong bán thành phẩm vắcxin dại
Theo dõi
Nhiệt độ tăng từng thỏ Tổng
Sản phẩm
Kết quả
Thỏ 1 Thỏ 2 Thỏ 3
nhiệt độ tăng
Tiêu chuẩn chấp thuận
<0,60C
<1,40C
Đạt yêu cầu
0,10C
0,70C 0,90C
1,70C
Không đạt yêu cầu
1/2
0,20C
0,40C 0,80C
1,40C
Không đạt yêu cầu
1/4
Tỷ lệ pha loãng bán thành phẩm tinh chế
0,20C
0,40C 0,10C
0,70C
Đạt yêu cầu
1/6
0,60C
0,80C 10C
2,40C
Không đạt yêu cầu
Thẩm tích bán thành phẩm tinh chế
0,40C 00C
0,60C
Đạt yêu cầu
Albumin huyết thanh ngƣời 0,20C
0,20C
00C
0,10C
0,30C
Đạt yêu cầu
Dung dịch đƣờng sucrose
0,20C
0,30C 0,10C
0,60C
Đạt yêu cầu
Đệm đông khô
Theo Bảng 2.9, các thành phần có trong đệm đông khô đều không gây
sốt trong khi đó bán thành phẩm sau tinh chế được thẩm tích hoàn toàn lại gây
sốt rất cao. Điều này cho thấy, chính kháng nguyên vi rút dại là thành phần
gây sốt. Yếu tố này sẽ tạo ra sự mâu thuẫn giữa yêu cầu về công hiệu và chất
gây sốt trong vắc xin dại. Nếu đạt được yêu cầu về công hiệu cao, rất có thể
lại không đạt được yêu cầu về chất gây sốt và ngược lại. Do vậy, cần tìm ra
một tỷ lệ pha bán thành phẩm thích hợp vừa đạt được yêu cầu về công hiệu
vừa đạt được yêu cầu về chất gây sốt. Điều này hiện khó khắc phục được đối
với vắc xin dạng đông khô do tỷ lệ pha loãng quá thấp sẽ làm công hiệu giảm
thấp xuống dưới mức yêu cầu. Hơn nữa, quá trình đông khô cũng làm giảm
91
bớt một phần công hiệu nên khi pha bán thành phẩm vắc xin đông khô sẽ cần
một lượng kháng nguyên vi rút nhiều hơn so với vắc xin để ở dạng lỏng. Một
trong những giải pháp để khắc phục khó khăn này là phát triển một dạng vắc
xin dạng lỏng đặc biệt là dạng có hấp phụ nhôm để làm giảm bớt thêm lượng
kháng nguyên vi rút cần thiết. Vắc xin dại dạng lỏng hấp phụ nhôm cũng đã
được nhiều nhà sản xuất trên thế giới phát triển và cho hiệu quả phòng bệnh
tốt. Tại Mỹ, vắc xin dại dạng lỏng hấp phụ nhôm sản xuất nguyên bào sợi
phổi khỉ bào thai (FRh1-2) đã được cấp phép sử dụng từ năm 1988 đến năm
2008 [12], [13]. Vắc xin này đã chứng minh được hiệu quả phòng bệnh cao và
an toàn cho người sử dụng [6], [9], [10]. Tại Trung Quốc, vắc xin dại dạng
lỏng hấp phụ nhôm cũng đã được phát triển trên tế bào thận chuột đất vàng
nguyên phát [7]. Kết quả sử dụng vắc xin rộng rãi trên người cũng cho thấy
hiệu quả bảo vệ rất cao [16]. Để lựa chọn được hàm lượng nhôm hấp phụ phù
hợp trong thành phẩm vắcxin dạng lỏng, bán thành phẩm sau tinh chế đã được
pha với đệm nhôm photphate để có các nồng độ nhôm trong thành phẩm
vắcxin là 300 g, 450 g trên 1 ml. Các mẫu vắcxin dại sau khi pha theo các
công thức có hàm lượng nhôm khác nhau đều cho mức độ hấp phụ hoàn toàn
kháng nguyên vi rút sau 6 giờ theo dõi. Do vậy, hàm lượng nhôm thấp nhất sẽ
được sử dụng để pha bán thành phẩm vắc xin dại dạng lỏng.
2.9. QUY TRÌNH SẢN XUẤT VẮCXIN THÀNH PHẨM Bán thành phẩm cuối cùng sau khi pha được chia vào các lọ vắcxin.
Bán thành phẩm đông khô sẽ tiến hành đông khô theo chương trình trên máy
đông khô đồng thời đóng lọ nước hồi chỉnh để hồi chỉnh vắc xin đông khô sau
92
này. Vắc xin dạng lỏng được chia theo liều lượng 1ml/lọ.
Các loạt thành phẩm vắcxin được kiểm tra chất lượng theo tiêu chuẩn
cơ sở tại Phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm (QC), Công ty Vắcxin và sinh
phẩm số 1. Kết quả kiểm tra chất lượng các loạt vắcxin thành phẩm này được
trình bày trong Bảng 3.12 và Bảng 3.13. Mẫu vắcxin của các loạt sản xuất thử
nghiệm này cũng sẽ được đánh giá thêm về tính an toàn và đáp ứng miễn dịch
trên động vật thí nghiệm. Kết quả được trình bày cụ thể trong Chương 5 -
Đánh giá tính an toàn và hiệu lực của vắcxin trên động vật thí nghiệm. Các
mẫu vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero ở các dạng thành phẩm khác nhau
sẽ được sử dụng để xây dựng các quy trình kiểm tra chất lượng và tiêu chuẩn
cơ sở cho vắc xin dại trên nuôi cấy thành phẩm (xem Chương 4).
Công nghệ sản xuất vắcxin dại được nghiên cứu và phát triển tại
VABIOTECH là công nghệ sử dụng dòng tế bào Vero nhân nuôi chủng vi rút
PV trong môi trường không có huyết thanh. Các nghiên cứu đã được tiến
hành để tìm ra một quy trình công nghệ sản xuất ổn định về các thông số cho
ra đời các sản phẩm đảm bảo yêu cầu chất lượng. Quy trình sản xuất này sẽ
được áp dụng để sản xuất các loạt vắc xin thử nghiệm. Chính các sản phẩm
này sẽ là căn cứ để kiểm chứng mức độ ổn định và chất lượng của quy trình
93
sản xuất đã được xây dựng.
CHƢƠNG 3
SẢN XUẤT THỬ NGHIỆM VẮCXIN DẠI TRÊN NUÔI CẤY
TẾ BÀO VERO Ở QUY MÔ PHÒNG THÍ NGHIỆM
Sau khi xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất vắcxin dại trên nuôi
cấy tế bào Vero ở quy mô phòng thí nghiệm, các loạt sản xuất thử nghiệm
được tiến hành để sản xuất ra vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào đạt yêu cầu kiểm
tra về chất lượng tại cơ sở cũng như của kiểm định Quốc gia. Đối với mỗi
công đoạn của quá trình sản xuất đều cần phải tiến hành ít nhất 3 loạt liên tiếp
để thẩm định về chất lượng và tính ổn định của quy trình. Đồng thời, trong
mỗi công đoạn đều được lấy mẫu sản phẩm để kiểm tra và đánh giá chất
lượng. Các kết quả của quy trình sản xuất thử nghiệm này sẽ là căn cứ để lựa
chọn quy trình sản xuất tối ưu cũng như áp dụng cho sản xuất với quy mô lớn
hơn trong tương lai.
3.1. KẾT QUẢ NUÔI CẤY VÀ CHUẨN BỊ TẾ BÀO VERO
Tế bào Vero đời 137 từ ngân hàng tế bào Vero sản xuất WCB-VERO-
010705 được nhân nuôi và cấy chuyển đến đời 141 trên chai nuôi cấy tế bào
một lớp với môi trường phát triển phù hợp có chứa huyết thanh. Các chai nuôi
cấy tế bào được theo dõi hàng ngày bằng phương pháp cảm quan (màu và độ
trong của môi trường nuôi cấy) và kiểm tra dưới kính hiển vi soi tế bào. Sau
mỗi đời nuôi cấy, hỗn dịch tế bào thu được được đếm số lượng và xác định
nồng độ cấy chuyển sang các chai tế bào mới. Chai nuôi cấy tế bào đời 141
được kiểm tra chất lượng về các chỉ tiêu vô khuẩn, mycoplasma, các virút
ngoại lai và virút hấp phụ hồng cầu. Kết quả nuôi cấy tế bào Vero qua các
94
loạt sản xuất thử nghiệm được trình bày trong Bảng 3.1.
Bảng 3.1. Kết quả nhân nuôi cấy tế bào Vero của các loạt sản xuất
thử nghiệm
Chỉ số
Loạt 0109
Loạt 0209
Loạt 0309
1,2 x 107 tế bào 1,4 x 107 tế bào 1,3 x 107 tế bào
Đời 138
8,5x107 tế bào 9x107 tế bào 8,7 x107 tế bào
Đời 139
5,3x108 tế bào 5,5x108 tế bào 5,4 x108 tế bào
Đời 140
3,5x109 tế bào 3,7x109 tế bào 3,6x109 tế bào
Đời 141
Đạt yêu cầu về chất lƣợng
Đạt yêu cầu về chất lƣợng
Đạt yêu cầu về chất lƣợng
Theo kết quả trong Bảng 3.1, số lượng tế bào thu được qua các đời nuôi
cấy là tương đương nhau giữa các loạt sản xuất khác nhau. Kết quả kiểm tra
chất lượng tế bào đời 141 đều đạt yêu cầu và phù hợp để đưa vào sản xuất
vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero.
3.2. KẾT QUẢ GÂY NHIỄM VIRÚT DẠI VÀO TẾ BÀO VERO
Tế bào Vero đời cấy chuyển 141 được tách và gây nhiễm với chủng
virút dại PV loạt giống sản xuất WS-PV-010805. Liều gây nhiễm virút là 0,01
MOI. Tế bào Vero sau khi hấp phụ virút được cấy chuyển vào chai nuôi cấy 3
tầng. Khoảng 5% lượng tế bào không gây nhiễm virút được nuôi cấy trong
các chai nuôi cấy một lớp. Các chai tế bào chứng này sẽ được tiến hành và
theo dõi song song cùng với các chai gây nhiễm trong suốt quá trình nhân
nuôi virút. Môi trường sử dụng trong công đoạn này vẫn là môi trường phát
95
triển tế bào có chứa huyết thanh.
Bảng 3.2. Kết quả gây nhiễm virút dại của các loạt sản xuất thử nghiệm
Chỉ số
Loạt 0109
Loạt 0209
Loạt 0309
Số chai tế bào gây nhiễm
180 chai
180 chai
180 chai
Số chai tế bào chứng
20 chai
20 chai
20 chai
Kết quả trong Bảng 3.2 cho thấy số lượng chai gây nhiễm và chai chứng
tế bào là tương đương nhau giữa các loạt sản xuất thử nghiệm vắcxin.
3.3. KẾT QUẢ NUÔI CẤY VIRÚT VÀ THU HOẠCH NƢỚC NỔI
Sau 3 ngày gây nhiễm virút, tiến hành thay môi trường phát triển tế bào
có chứa huyết thanh bằng môi trường duy trì tế bào không có huyết thanh.
Sau đó cứ 3 ngày một lần, thu hoạch một mẻ gặt đơn virút và toàn bộ quá
trình nuôi cấy thu được 6 mẻ gặt đơn.
Tất cả các mẻ gặt đơn đều được kiểm tra vô trùng, xác định hiệu giá
virút bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang. Kết quả thu hoạch các mẻ
gặt đơn virút của các loạt sản xuất thử nghiệm được trình bày trong Bảng 3.3,
Bảng 3.4 và Bảng 3.5. Các loạt sản xuất đều cho thể tích nước nổi thu hoạch
và hiệu giá virút tương đương nhau. Hiệu giá virút của các loạt sản xuất thử
96
nghiệm này đều đạt yêu cầu cho các quá trình sản xuất tiếp theo.
Bảng 3. 3. Kết quả nuôi cấy virút dại và thu hoạch nƣớc nổi loạt 0109
Thông số theo dõi
Mẻ gặt đơn Chứng tế bào
Hình ảnh tế bào
Hiệu giá virút
Thể tích thu hoạch
H0
36 lít
10-3,01 FFD50/0,05 ml
H1
36 lít
10-3,65 FFD50/0,05 ml
H2
36 lít
10-3,76 FFD50/0,05 ml
H3
36 lít
10-4,21 FFD50/0,05 ml
H4
36 lít
10-3,18 FFD50/0,05 ml
H5
36 lít
10-2,35 FFD50/0,05 ml
H6
97
Bảng 3.4. Kết quả nuôi cấy virút dại và thu hoạch nƣớc nổi loạt 0209
Thông số theo dõi
Mẻ gặt đơn Chứng tế bào
Hình ảnh tế bào
Hiệu giá virút
Thể tích thu hoạch
H0
36 lít
10-3,21 FFD50/0,05 ml
H1
36 lít
10-3,64 FFD50/0,05 ml
H2
36 lít
10-4,25 FFD50/0,05 ml
H3
36 lít
10-3,87 FFD50/0,05 ml
H4
36 lít
10-3,31 FFD50/0,05 ml
H5
36 lít
10-2,12 FFD50/0,05 ml
H6
98
Bảng 3.5. Kết quả nuôi cấy virút dại và thu hoạch nƣớc nổi loạt 0309
Thông số theo dõi
Mẻ gặt đơn Chứng tế bào
Hình ảnh tế bào
Hiệu giá virút
Thể tích thu hoạch
H0
36 lít
10-3,05 FFD50/0,05 ml
H1
36 lít
10-3,42 FFD50/0,05 ml
H2
36 lít
10-4,24 FFD50/0,05 ml
H3
36 lít
10-3,89 FFD50/0,05 ml
H4
36 lít
10-3,18 FFD50/0,05 ml
H5
36 lít
10-2,17 FFD50/0,05 ml
H6
99
3.4. KẾT QUẢ TINH SẠCH HỖN DỊCH VIRÚT
Các mẻ gặt đơn sau khi thu hoạch sẽ được hộn lại, ly tâm và lọc qua
màng để loại trừ các mảnh xác tế bào và các hạt virút kết dính có kích thước
lớn. Hỗn dịch virút tinh sạch được xác định hiệu giá bằng phương pháp
ELISA. Kết quả tinh sạch hỗn dịch virút của các loạt sản xuất thử nghiệm
được trình bày trong Bảng 3.6. Các loạt sản xuất thử nghiệm có tính ổn định
về thể tích thu hoạch và tổng hiệu giá virút thu được.
Bảng 3.6. Kết quả tinh sạch hỗn dịch virút của các loạt sản xuất
thử nghiệm
Chỉ số
Loạt 0109 Loạt 0209 Loạt 0309 Loạt 0409 Loạt 0509 Loạt 0609
95 lít
104 lít
92 lít
94 lít
105 lít
106 lít
Thể tích thu đƣợc
3,35 EL.U/ml
3,20 EL.U/ml
4,29 EL.U/ml
4,14 EL.U/ml
3,37 EL.U/ml
3,56 EL.U/ml
Hiệu giá virút
3.5. KẾT QUẢ BẤT HOẠT VIRÚT
Hỗn dịch virút sau khi tinh sạch được bất hoạt bằng -propiolactone.
Để thẩm định qui trình bất hoạt virút, tiến hành thử nghiệm xác định tính an
toàn đặc hiệu trên chuột. Hiệu giá virút sau bất hoạt được xác định bằng
phương pháp ELISA. Kết quả bất hoạt virút các loạt sản xuất vắcxin thử
nghiệm được trình bày trong Bảng 3.7. Hiệu giá virút sau bất hoạt tương tự
nhau ở tất cả các loạt sản xuất thử nghiệm và gần tương đương với giá trị hiệu
100
giá của hỗn dịch virút tinh sạch.
Bảng 3.7. Kết quả bất hoạt virút của các loạt sản xuất thử nghiệm
Chỉ số
Loạt 0109 Loạt 0209 Loạt 0309 Loạt 0409 Loạt 0509 Loạt 0609
9,9 lít
9 lít
9 lít
9,9 lít
9,9 lít
Thể tích thu đƣợc 9 lít
Hiệu giá virút
3,55 EL.U/ml
3,82 EL.U/ml
3,66 EL.U/ml
3,74 EL.U/ml
3,08 EL.U/ml
3,22 EL.U/ml
Đạt yêu cầu
Đạt yêu cầu
Đạt yêu cầu
Đạt yêu cầu
Đạt yêu cầu
Đạt yêu cầu
Kết quả kiểm tra an toàn đặc hiệu
3.6. KẾT QUẢ CÔ ĐẶC HỖN DỊCH VIRÚT
Hỗn dịch virút sau bất hoạt được tiến hành cô đặc bằng màng siêu lọc
trên hệ thống pellicon cattsete. Kết quả về hiệu giá virút xác định bằng
phương pháp ELISA và thể tích hỗn dịch thu được sau cô đặc được trình bày
trong Bảng 3.5. Hiệu giá virút của tất cả các loạt sản xuất đều đạt yêu cầu cho
bước tinh chế virút tiếp theo.
Bảng 3.8. Kết quả cô đặc hỗn dịch virút của các loạt sản xuất thử nghiệm
Chỉ số
Loạt 0109 Loạt 0209 Loạt 0309 Loạt 0409 Loạt 0509 Loạt 0609
2 lít
2,3 lít
2 lít
2 lít
2,2 lít
2,2 lít
Thể tích thu đƣợc
6,54 EL.U/ml
6,60 EL.U/ml
9,36 EL.U/ml
10,47 EL.U/ml
7,84 EL.U/ml
8,67 EL.U/ml
Hiệu giá virút
3.7. KẾT QUẢ TINH CHẾ VIRÚT
Hỗn dịch virút sau cô đặc được tinh chế theo phương pháp siêu ly tâm
phân vùng bằng rotor góc cố định. Hỗn dịch virút sau tinh khiết được xác
101
định hiệu giá bằng thử nghiệm ELISA. Các đặc tính về vô khuẩn và an toàn
đặc hiệu của bán thành phẩm này cũng sẽ được đánh giá. Độ tinh khiết về
protein của sản phẩm được đánh giá bằng thử nghiệm điện di trên gel SDS-
PAGE và độ tinh khiết về ADN tế bào Vero tồn dư được đánh giá bằng thử
nghiệm lai ADN. Kết quả tinh chế virút của các loạt sản xuất thử nghiệm
được trình bày trong Bảng 3.9.
Bảng 3.9. Kết quả tinh chế virút của các loạt sản xuất thử nghiệm
Chỉ số
Loạt 0109
Loạt 0209
Loạt 0309
750 ml
750 ml
750 ml
Thể tích thu đƣợc
Đạt yêu cầu
Đạt yêu cầu
Đạt yêu cầu
Vô khuẩn
Đạt yêu cầu
Đạt yêu cầu
Đạt yêu cầu
An toàn đặc hiệu
14,59 EL.U/ml
15,70 EL.U/ml
16,56 EL.U/ml
Hiệu giá virút
≤ 100 pg/ml
≤ 100 pg/ml
≤ 100 pg/ml
Hàm lƣợng ADN tế bào tồn dƣ
Hình 3.1. Xác định hàm lƣợng ADN tế bào tồn dƣ trong các sản phẩm
102
của loạt sản xuất vắcxin dại 0209
bán thành phẩm sau tinh chế PUR-0109
Hình 3.2. Xác định hàm lƣợng ADN tế bào tồn dƣ trong các sản phẩm
của loạt sản xuất vắcxin dại 0109 và 0309
Mẫu trước tinh chế virút
Thang chuẩn
Mẫu sau tinh chế virút
Hình 3.3. Hình ảnh chạy điện di trên gel SDS PAGE các sản phẩm của
103
loạt sản xuất vắcxin dại 0109
Mẫu trước tinh chế virút
Mẫu sau tinh chế virút
Thang chuẩn
Hình 3.4. Hình ảnh chạy điện di trên gel SDS PAGE các sản phẩm của
loạt sản xuất vắcxin dại 0209 và 0309
Kết quả tinh chế các loạt sản xuất thử nghiệm vắcxin dại trên nuôi cấy
tế bào Vero trình bày trong Bảng 3.9, Hình 3.1, Hình 3.2, Hình 3.3 và Hình
3.4 cho thấy mức độ ổn định về hiệu giá vi rút, độ tinh khiết của protein và
ADN tế bào tồn dư. Hàm lượng ADN tế bào tồn dư đều vào khoảng 50 pg/0,5
ml mẫu sau tinh sạch. Mẫu này sẽ tiếp tục được pha loãng với các dung dịch
đệm để tạo thành bán thành phẩm cuối cùng, do vậy lượng ADN cho 1 liều
tiêm sẽ <50 pg. Hàm lượng này đạt yêu cầu của TCYTTG cho các sản phẩm
tiêm dùng cho người (10 ng/liều tiêm).
3.8. KẾT QUẢ PHA BÁN THÀNH PHẨM CUỐI CÙNG
Bán thành phẩm cuối cùng được pha cho 2 dạng vắcxin khác nhau
đông khô và hấp phụ nhôm. Kết quả pha bán thành phẩm cuối cùng của các
104
loạt sản xuất thử nghiệm được trình bày trong Bảng 3.10.
Bảng 3.10. Kết quả pha bán thành phẩm cuối cùng của các loạt sản xuất
thử nghiệm
Vắcxin dạng đông khô
Vắcxin dạng lỏng hấp phụ nhôm
Chỉ số
Loạt 0109 Loạt 0209 Loạt 0309 Loạt 0110 Loạt 0210
Loạt 0310
1100 ml
820 ml
810 ml
2000 ml
1980 ml
1980 ml
Thể tích thu đƣợc
-
-
-
Hiệu giá virút
5,31 EL.U/ml
5,65 EL.U/ml
5,19 EL.U/ml
3.9. KẾT QUẢ SẢN XUẤT VẮCXIN THÀNH PHẨM
Bán thành phẩm đông khô được chia vào các lọ và đông khô. Mỗi lọ
đông khô chứa một liều đơn 0,5 ml sau khi hồi chỉnh. Bán thành phẩm dạng
lỏng được chia thành các lọ mỗi lọ chứa một liều đơn 1ml. Kết quả sản xuất
vắc xin thành phẩm của các loạt sản xuất thử nghiệm được trình bày trong
Bảng 3.11.
Bảng 3.11. Kết quả sản xuất vắcxin thành phẩm của các loạt sản xuất
thử nghiệm
Vắcxin dạng đông khô (VERAPVAX)
Vắcxin dạng lỏng hấp phụ nhôm (VERALVAX)
Chỉ số
Loạt 0109 Loạt 0209 Loạt 0309 Loạt 0110 Loạt 0210 Loạt 0310
1525 lọ
1505 lọ
1775 lọ
1768 lọ
1770 lọ
Số lọ vắcxin 2120 lọ
3.10. KẾT QUẢ KIỂM TRA CHẤT LƢỢNG VẮC XIN THÀNH PHẨM
TẠI CƠ SỞ
Các loạt thành phẩm vắcxin được kiểm tra chất lượng theo tiêu chuẩn
cơ sở tại Phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm (QC), Công ty Vắcxin và sinh
phẩm số 1. Kết quả kiểm tra chất lượng các loạt vắcxin thành phẩm này được
105
trình bày trong Bảng 3.12 và Bảng 3.13.
Bảng 3.12. Kết quả kiểm tra chất lƣợng vắcxin thành phẩm tại cơ sở của các loạt sản xuất thử nghiệm vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero dạng đông khô (VERAPVAX)
Tên thử nghiệm
Tiêu chuẩn cơ sở
Loạt 0109 Loạt 0209 Loạt 0309
Nhận dạng
Virút dại
Virút dại
Tính chất vật lý
Đạt yêu cầu
Viên xốp màu trắng, khi hoà tan bằng nước hồi chỉnh tạo thành dung dịch trong suốt, không vón cục hoặc không có chất lạ khó tan.
Đạt yêu cầu
V« khuÈn
Không thấy nấm và vi khuẩn mọc sau 14 ngày theo dõi.
Protein toàn phần
≤ 20 mg/ml
7,21
6,03
6,85
7,34
7,34
7,32
pH
7,0 - 8,0
0,0086
0,0065
0,0077
Hàm lượng Thimerosal (%)
≤ 0,012
5,13
2,62
4,30
Công hiệu (IU/0,5 ml)
≥ 2,5
An toàn chung trên chuột lang
Đạt yêu cầu
Chuột không chết, khỏe mạnh, tăng trọng bình thường
An toàn chung trên chuột nhắt
An toàn đặc hiệu
Đạt yêu cầu
Chuột khỏe mạnh, không có biểu hiện bệnh (liệt,chết), tăng trọng bình thường
Chất gây sốt
2,7 oC
1,8 oC
2,5 oC
Tổng To tăng của 3 thỏ ≤ 1,3oC Nhiệt độ tăng của từng thỏ <0,60C
Độ ẩm tồn dư
≤ 3%
0,26%
0,35%
0,28%
Theo Bảng 3.12, tất cả 3 loạt thành phẩm vắcxin dại trên nuôi cấy tế
bào Vero dạng đông khô (VERAPVAX) đều không đạt được các tiêu chuẩn
cơ sở về chất gây sốt. Do vậy, các loạt vắcxin này không được gửi đi kiểm tra
106
chất lượng sản phẩm tại Viện Kiểm định quốc gia Vắcxin và Sinh phẩm y tế.
Nhóm nghiên cứu cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện sản phẩm vắcxin
dạng đông khô này.
Bảng 3.13. Kết quả kiểm tra chất lƣợng vắcxin thành phẩm tại cơ sở của các loạt sản xuất thử nghiệm vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào dạng lỏng (VERALVAX)
Tên thử nghiệm
Tiêu chuẩn cơ sở
Loạt 0110
Loạt 0210 Loạt 0310
Vi rút dại
Virút dại
Nhận dạng
Tính chất vật lý
Đạt yêu cầu
Sau khi lắc, vắcxin có màu trắng hơi đục. Để lắng sau 1 giờ, vắcxin phải tách làm hai lớp, trong đó lớp nhôm phải tủa bông mịn, không vón cục.
Đạt yêu cầu
V« khuÈn
Không thấy nấm và vi khuẩn phát triển sau 14 ngày theo dõi.
pH
6,0 - 7,5
7,50
7,49
7,48
0,0055
0,0055
0,0053
Hàm lượng Thimerosal (%)
≤ 0,012
3,11
3,13
2,82
Công hiệu (IU/0,5 ml)
≥ 2,5
272,50
270,09
265,53
≤ 1250
Hàm lượng nhôm (g/ml)
An toàn chung trên chuột lang
Đạt yêu cầu
Chuột khỏe mạnh, tăng trọng bình thường
An toàn chung trên chuột nhắt
Chất gây sốt
0,8 oC
0,7 oC
0,7 oC
Tổng To tăng của 3 thỏ ≤ 1,3oC. Nhiệt độ tăng của từng thỏ <0,60C
Theo Bảng 3.13, cả 3 loạt thành phẩm vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào
Vero dạng lỏng hấp phụ nhôm (VERALVAX) đều đạt được các tiêu chuẩn cơ
107
sở về chất lượng sản phẩm. Các mẫu loạt sản xuất này sẽ được tiếp tục gửi đi
kiểm tra chất lượng sản phẩm tại Viện Kiểm định quốc gia Vắcxin và Sinh
108
phẩm y tế.
CHƢƠNG 4
XÂY DỰNG QUY TRÌNH KIỂM TRA CHẤT LƢỢNG
VÀ TIÊU CHUẨN CƠ SỞ CHO VẮC XIN DẠI
TRÊN NUÔI CẤY TẾ BÀO VERO
Tổ Chứ c Y Tế Thế Giớ i (TCYTTG) có các qui định riêng cho từng loại vắcxin về các tiêu chuẩn tối thiểu trong sản xuất và kiểm tra chất lươ ̣ng . Tuy nhiên do mỗi sản phẩm có một đặc điểm riêng trong quá trình sản xuất cũng
như trong thành phần của vắcxin thành phẩm, do vậy mỗi nhà sản xuất đều
phải xây dựng những yêu cầu và tiêu chuẩn riêng cho sản phẩm của mình dựa
vào các khuyến cáo chung c ó tính nguy ên tắc củ a TCYTTG [54]. Quy trình
kiểm tra chất lượng sản phẩm sẽ được tiến hành trong quá trình sản xuất và
cho thành phẩm cuối cùng. Theo khuyến cáo của TCYTTG thì viê ̣c kiểm tra chất lượng vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào bao gồm các bước chính sau đây
(xem thêm phần 1.3.2 - Kiểm tra chất lượng vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào):
- Kiểm tra nuôi cấy tế bào;
- Kiểm tra mẻ gặt virút đơn và bán thành phẩm tinh chế;
- Kiểm tra quá trình bất hoạt;
- Kiểm tra bán thành phẩm cuối cùng;
- Kiểm tra chất lượng vắcxin thành phẩm và;
- Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho vắcxin thành phẩm.
Trong phần này, chủ yếu trình bày các phương pháp kiểm tra chất lượng
vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero thành phẩm (dạng đông khô và dạng lỏng
hấp phụ nhôm) và xây dựng bảng tiêu chuẩn cơ sở cho các vắcxin dại trên nuôi
109
cấy tế bào Vero. Các phương pháp kiểm tra chất lượng sản phẩm dở dang và bán thành phẩm trong quá trình sản xuất đươ ̣c trình bày chi tiết tại Chương 2:
“Xây dựng quy trình công nghệ sản xuất vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero
ở quy mô phòng thí nghiệm” và kết quả kiểm tra chất lượng vắc xin thành phẩm sản xuất ở quy mô phòng thí nghiệm đươ ̣c trình bày tại Chương 3: “Sản
xuất thử nghiệm vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero ở quy mô phòng thí
nghiệm”.
4.1. CÁC PHƢƠNG PHÁP KIỂM TRA SINH HỌC
4.1.1. Phƣơng pháp kiểm tra vô khuẩn
4.1.1.1. Mục đích
- Kiểm tra vô khuẩn nhằm phát hiện sự nhiễm tạp khuẩn hoặc nấm bằng
phương pháp cấy trực tiếp.
4.1.1.2. Nguyên vật liệu và trang thiết bị
Dụng cụ
- Tủ cấy vô trùng.
- Tủ ấm.
- Tủ mát.
- Pipet 2ml vô trùng.
- Pipet aid.
- Đèn cồn. - Cồn 700 .
- Bông vô trùng, panh.
Mẫu thử
- Bán thành phẩm, bán thành phẩm cuối cùng và vắcxin dại trên nuôi cấy
tế bào Vero thành phẩm:
+ Bán thành phẩm và bán thành phẩm cuối cùng: 10ml / 1 loạt
+ Vắcxin thành phẩm: 40 lọ
110
Môi trường
- Loại môi trường:
Môi trường Thioglycolate.
Môi trường Soybean (Soybean Casein Digest).
Thể tích môi trường: 20ml/ ống.
- Số lượng ống môi trường:
Bán thành phẩm và bán thành phẩm cuối cùng:
Môi trường Thioglycolate: 05 ống/1 loạt mẫu thử.
Môi trường Soybean: 05 ống/1 loạt mẫu thử.
Vắcxin thành phẩm:
Môi trường Thioglycolate: 30 ống/1 loạt mẫu thử.
Môi trường Soybean: 10 ống/1 loạt mẫu thử.
4.1.1.3. Các bước tiến hành
Thể tích cấy
- Bán thành phẩm và Bán thành phẩm cuối cùng: 1ml mẫu thử/1 ống môi
trường.
- Vắcxin thành phẩm: Toàn bộ thể tích đóng trong lọ.
Các bước tiến hành
- Dùng pipet 2ml để lấy sinh phẩm từ trong mỗi chai (hoặc lọ), cấy trực
tiếp vào môi trường bằng cách đưa sâu đầu pipet tới đáy ống. Phối hợp
động tác bơm sinh phẩm và di chuyển pipet từ đáy ống môi trường lên
trên mặt ống môi trường theo một đường thẳng.
- Sau khi cấy khử trù ng miệng ống môi trường cẩn thận trên đèn cồn và
đậy kín bằng nút bông vô trù ng.
- Đối với vắcxin đông khô, phải hồi chỉnh bằng nước hồi chỉnh.
- Các thao tác cứ lặp đi lặp lại như vậy cho đến hết số chai (hoặc lọ) mẫu
thử.
111
Nhiệt độ nuôi cấy
- Sau khi các thao tác trong phòng vô trùng được tiến hành xong, các ống
môi trường sẽ được xếp vào 2 giá và giữ ở hai nhiệt độ khác nhau.
* BTP và BTP cuối cùng:
- Môi trường Thioglycolate:
- Môi trường Soybean: 32,5 ± 2,50C. 22,5 ± 2,50C.
* Vắcxin thành phẩm:
- Môi trường Thioglycolate:
2/3 số ống môi trường: 32,5 ± 2,50C. 1/3 số ống môi trường: 22,5 ± 2,50C.
- Môi trường Soybean: 22,5 ± 2,50C.
Thời gian nuôi cấy: 14 ngày
Theo dõi sau thử nghiệm
- Cả hai loại môi trường đều được theo dõi hàng ngày và ghi kết quả theo
dõi vào phiếu theo dõi thử nghiệm vô khuẩn vào các ngày 1, 3, 5, 7, 10
và 14.
4.1.1.4. Kết quả
Cách đọc kết quả
- Không có sự phát triển của vi khuẩn và nấm: cả 2 loại môi trường đều
trong, không bị vẩn đục. Lớ p chỉ thi ̣ màu phía trên ống môi trường Thioglycolate không bị mất màu.
- Có sự phát triển của vi khuẩn và nấm: cả 2 loại môi trường đều bị vẩn
bị mất
đục. Lớ p chỉ thi ̣ màu phía trên ống môi trường Thioglycolate màu.
Giá trị của thử nghiệm
- Loạt môi trường sử dụng để kiểm tra vô khuẩn đạt yêu cầu về thử
nghiệm kiểm tra chất lượng môi trường khi kiểm tra bằng thử nghiê ̣m
112
“tăng sinh”.
Tiêu chuẩn chấp thuận
- Không có sự phát triển của vi khuẩn và nấm sau 14 ngày theo dõi.
Thử nghiệm nhắc lại
- Điều kiện nhắc lại
- Khi không đạt tiêu chuẩn. (mục 4.2 và 4.3).
- Nếu có ống môi trường nuôi cấy bị nhiễm khuẩn: phải tiến hành phân lập
và định danh vi sinh vật.
- Thử nghiệm nhắc lại lần 1
- Thực hiện với số lượng mẫu và ống môi trường bằng lần thử đầu.
- Thử nghiệm đạt yêu cầu khi đạt mục 4.2 và 4.3.
- Nếu có sự phát triển của vi sinh vật trong bất kỳ ống môi trường nuôi
cấy nào: phải phân lập và định danh vi sinh vật.
- So sánh kết quả với lần thử đầu: nếu không có sự khác biệt, sản phẩm
bị coi là không đạt vô khuẩn và phải hủy bỏ. Nếu có sự khác biệt, phải
tiến hành thử nghiệm nhắc lại lần 2.
- Thử nghiệm nhắc lại lần 2:
- Thực hiện với số lượng mẫu và ống môi trường gấp đôi lần thử đầu.
- Thử nghiệm đạt yêu cầu khi đạt mục 4.2 và 4.3.
- Nếu phát hiện dù chỉ 1 ống môi trường không kể bất kỳ loại vi khuẩn
tạp nhiễm, loạt sản phẩm đó được kết luận là không đạt yêu cầu về tiêu
chuẩn vô khuẩn, phải hủy bỏ.
4.1.2. Phƣơng pháp kiểm tra an toàn chung
4.1.2.1. Mục đích
- Áp dụng để kiểm tra an toàn chung cho vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào
Vero.
4.1.2.2. Nguyên vật liệu và trang thiết bị
113
Dụng cụ
- Cân động vật.
- Máy trộn.
- Bơm tiêm nhựa loại 1 ml, 5 ml.
- Tube Falcon 50ml.
- Hộp đựng đá.
- Bông, cồn, găng tay, panh.
Vật liệu
- Vắcxin đóng 0,5 ml/lọ: 40 lọ
Động vật thí nghiệm
- Chuột lang
Trọng lượng: 250 - 350 g.
Số lượng: 2 chuột / 1 loạt mẫu thử.
- Chuột nhắt trắng
Giống chuột Swiss.
Trọng lượng: 17 - 22 g.
Số lượng: 5 chuột / 1 loạt mẫu thử.
4.1.2.3. Các bước tiến hành
Chuẩn bị chuột trước khi tiêm
- Chuột trước khi tiêm phải được theo dõi cách ly 2 ngày (đối với chuột
nhắt) và 3 ngày (đối với chuột lang). Trong thời gian cách ly chuô ̣t phả
đươ ̣c theo dõi hàng ngày về tình trạng sức khoẻ, trọng lượng và ghi vào
sổ theo dõi.
- Chọn chuột
Chuột nhắt 17 - 22g: 5 chuột/1 mẫu thử.
Chuột lang 250 - 350g : 2 chuột/1 mẫu thử.
Tiêm chuột
114
- Chuột lang
Liều tiêm:
Đường tiêm:
5 liều tiêm/1chuột.
Phúc mạc.
Liều tiêm:
- Chuột nhắt
Đường tiêm:
1 liều tiêm/1chuột.
Phúc mạc.
Theo dõi chuột
- Thời gian theo dõi súc vật thí nghiệm là 7 ngày.
- Hàng ngày theo dõi tình trạng sức khỏe và cân trọng lượng của từng
chuột.
4.1.2.4. Kết quả
Tính kết quả
- Tính % trọng lượng tăng của từng chuột
% tăng trọng = ( P7 / PO ) x 100%
Trong đó: trọng lượng ngày thứ 7. P7:
trọng lượng ngày tiêm. PO:
- Tính % trọng lượng tăng trung bình của từng nhóm chuột.
Tiêu chuẩn chấp thuận
- Không có chuột nào bị chết trong thời gian theo dõi.
- 100% sống khỏe mạnh, không có dấu hiệu bệnh lý và tăng cân.
Thử nghiệm nhắc lại
- Điều kiện phải nhắc lại: thử nghiệm được nhắc lại khi không đạt tiêu
chuẩn chấp thuận (mục 4.2).
- Thử nghiệm nhắc lại lần 1: với số lượng mẫu và chuột như lần thử
nghiệm thứ nhất. Tiêu chuẩn chấp thuận (mục 4.2).
- Thử nghiệm nhắc lại lần 2: nếu thử nghiệm nhắc lại lần 1 không đạt yêu
cầu, tiến hành thử nghiệm nhắc lại lần 2 với số lượng chuột và mẫu gấp
115
đôi lần thử nghiệm thứ nhất. Tiêu chuẩn chấp thuận (mục 4.2).
- Nếu thử nghiệm nhắc lại lần 2 không đạt tiêu chuẩn chấp thuận (mục
4.2), loạt vắcxin đó bị huỷ bỏ vì không đạt yêu cầu về tiêu chuẩn an toàn
chung.
4.1.3. Phƣơng pháp kiểm tra chất gây sốt
4.1.3.1. Nguyên lý
- Chất gây sốt được xác định gián tiếp qua thí nghiệm đo thân nhiệt của
thỏ trước và sau khi tiêm mẫu thử nghiệm. Thử nghiệm này được xây
dựng dựa trên phương pháp kiểm tra chất gây sốt cho vắcxin dại có
trong Dược điển Châu Âu [15].
4.1.3.2. Nguyên vật liệu và trang thiết bị
Động vật thí nghiệm
- Thỏ trưởng thành cân nặng > 1,5 kg, khoẻ mạnh, không có dấu hiệu
bệnh lý.
- Sử dụng 03 thỏ/mẫu thử.
Mẫu thử và môi trường
- Văcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero: 10 lọ.
Dụng cụ và trang thiết bị
- Bơm tiêm nhựa 3ml (dùng 1 lần).
- Bông, cồn sát trùng.
- Giá cố định thỏ.
- Máy đo chất gây sốt.
- Cân động vật.
- Nồi cách thuỷ.
4.1.3.3. Các bước tiến hành
Chuẩn bị động vật thí nghiệm và mẫu thử
116
* Cách ly thỏ:
- Thỏ được nhốt cách ly 2 ngày trước khi thử nghiệm ở điều kiện nhiệt độ
200C - 250C, cho ăn uống đầy đủ.
* Chuẩn bị thỏ trước thử nghiệm:
- Thỏ được nhốt trong phòng cách ly: không cho ăn, uống nước trong
vòng 16 giờ trước thử nghiệm.
Chuẩn bị mẫu thử
- Đối với vắcxin đông khô, hoàn nguyên bằng nước hồi chỉnh.
- Pha loãng 1:10 các mẫu thử nghiệm: pha 0,5 ml vắcxin với 4,5 ml nước muối
sinh lý (vắcxin dạng đông khô) và pha 1 ml vắcxin với 9 ml nước muối sinh lý
(vắc xin dạng lỏng hấp phụ nhôm)
- Mẫu thử nghiệm được làm ấm lên trong nồi cách thủy ở nhiệt độ 37OC.
Các bước tiến hành
- Cân trọng lượng của từng thỏ.
- Cố định thỏ trong hộp cố định.
- Gắn các đầu sensor vào hậu môn thỏ.
Theo dõi nhiệt độ thỏ trước tiêm
- Theo dõi thân nhiệt thỏ bằng máy đo chất gây sốt trước tiêm 30 phút.
- Dùng thỏ có thân nhiệt ổn định để tiến hành thử nghiệm. - Không dùng thỏ có thân nhiệt > 39,80C.
Tiêm thỏ
- Liều tiêm: 5 ml mẫu thử đã pha loãng/1 thỏ.
- Đường tiêm: tĩnh mạch vành tai thỏ.
- Theo dõi thân nhiệt thỏ bằng máy đo chất gây sốt sau tiêm 180 phút.
- Kết quả theo dõi nhiệt độ thân nhiệt thỏ trước và sau tiêm được máy in
Theo dõi nhiệt độ thỏ sau tiêm
117
ra.
4.1.3.4. Kết quả
Tính kết quả
- Nhiệt độ cao nhất (Tmax) của thỏ thử nghiệm sau khi tiêm ghi nhận sau 3
lần đo được coi là nhiệt độ tối đa.
- Hiệu số giữa nhiệt độ tối đa (Tmax) và nhiệt độ ban đầu (Base) được coi
là phản ứng của thỏ với chất gây sốt có trong văcxin thử nghiệm.
- Nếu hiệu số này là âm tính ( 0) thì phản ứng đọc là 0oC.
- Tính tổng nhiệt độ tăng của 03 thỏ sau 3 giờ theo dõi.
Tiêu chuẩn chấp thuận
- Tổng nhiệt độ tăng của 03 thỏ sau 3 giờ theo dõi phải 1,30C. - Nhiệt độ tăng của từng thỏ phải < 0,60C.
Thử nghiệm nhắc lại
- Điều kiện phải nhắc lại thử nghiệm: Tổng nhiệt độ tăng của cả 3 thỏ < 1,40C nhưng nhiệt độ tăng của 1
trong 3 thỏ thử nghiệm tăng quá 0,60C.
Tổng nhiệt độ tăng của cả 3 thỏ 1,40C nhưng < 2,40C .
- Thử nghiệm nhắc lại lần thứ nhất: được tiến hành trên 3 thỏ khác. Kết
quả đánh giá theo tiêu chuẩn trong bảng.
- Thử nghiệm nhắc lại lần 2: được tiến hành trên 3 thỏ khác. Kết quả đánh
Lần thử nghiệm
Tổng số thỏ cộng dồn
Thử nghiệm đạt nếu tổng nhiệt độ không quá (0C)
Thử nghiệm không đạt nếu tổng nhiệt độ quá (0C)
1
2,4
3
1,4
2
4,1
6
3,0
3
4,9
9
4,9
118
giá theo tiêu chuẩn trong bảng.
4.1.4. Kiểm tra an toàn đặc hiệu
4.1.4.1. Nguyên vật liệu và trang thiết bị
Dụng cụ
- Ống ly tâm 15 ml
- Bơm tiêm nhựa 1ml
- Hộp đựng đá
Động vật thí nghiệm và mẫu thử
* Động vật thí nghiệm:
Giống chuột Swiss
Giới: chuột đực hoặc cái.
Trọng lượng: 12-14 g.
- Chuột nhắt trắng:
- Số lượng: 10 con / 1 loạt mẫu thử.
* Mẫu thử:
- Bán thành phẩm sau bất hoạt: 2 ml
- Bán thành phẩm sau tinh chế (với vắcxin dạng lỏng hấp phụ nhôm): 2 ml
- Vắcxin thành phẩm (với vắcxin dạng đông khô): 4 lọ
Trang thiết bị
- Cân động vật 3100g
- Máy trộn
119
- Hotte vô trùng
4.1.4.2. Các bước tiến hành
Chuẩn bị chuột
- Chuột trước khi tiêm phải được theo dõi cách ly 2 ngày. Trong thời gian
cách ly hàng ngày theo dõi tình trạng sức khỏe và ghi vào sổ theo dõi.
- Chọn chuột trọng lượng 12-14g: 10 con/1 loạt mẫu thử.
- Đánh dấu chuột, dãn nhãn lên lồng chuột với các chi tiết: Loạt vắc-xin,
dấu chuột và ngày tiêm.
- Dùng bông cồn khử trùng lọ văcxin.
- Hoàn nguyên và hút vắcxin thử nghiệm từ các lọ đựng vắcxin cho vào
Hộn vắcxin thử nghiệm
ống Falcon 15ml, trộn đều trên máy trộn, để vào hộp lạnh.
- Sát trùng vị trí tiêm. Dùng bơm tiêm 1ml lấy vắcxin đã hộn ở trên.
- Liều tiêm: 0,03ml/1 chuột.
- Đường tiêm: Não
Tiêm chuột
- Thời gian theo dõi động vật thí nghiệm là 14 ngày.
- Hàng ngày theo dõi tình trạng sức khỏe và cân trọng lượng cả nhóm
Theo dõi chuột
chuột vào ngày cuối cùng.
4.1.4.3. Kết quả
- Tính % trọng lượng tăng của từng nhóm chuột:
Tính kết quả
120
% tăng trọng = ( P14 / PO ) x 100%
Trong đó: P14 : trọng lượng của 10 chuột ngày thứ 14.
PO: trọng lượng của 10 chuột ngày tiêm.
- Không có chuột nào chết trong suốt thời gian theo dõi.
- 100% chuột sống khỏe mạnh, không liệt, không có dấu hiệu bệnh lý và
Tiêu chuẩn chấp thuận
tăng cân.
4.1.5. Phƣơng pháp kiểm tra công hiệu
4.1.5.1. Nguyên lý
- Gây miễn dịch cho chuột bằng các độ pha loãng khác nhau của vắcxin
mẫu chuẩn và vắcxin thử, sau đó thử thách bằng một độ pha loãng của chủng
virút thử thách (CVS-Challenge Virus Strain). Tính liều bảo vệ ED50 (IU/liều)
của vắcxin thử nghiệm.
4.1.5.2. Nguyên vật liệu và trang thiết bị
Dụng cụ
- Ống nghiệm Falcon loại 15ml
- Ống nghiệm Falcon loại 50ml
- Bơm tiêm nhựa 1ml & 3ml
- Pipet nhựa loại 2ml, 5ml, 10ml & 25ml
- Giá để ống nghiệm Falcon 15, 50ml
Nguyên vật liệu
- Chuột 5 tuần tuổi (NMRI, ICR, SWISS)
121
- Vắcxin Dại mẫu chuẩn quốc gia
- Mẫu thử nghiệm: vắcxin Dại tế bào
- Chủng virút thử thách CVS
- Dung dịch Nacl 0,9%
- Dung dịch huyết thanh ngựa 2%
- Nước cất pha tiêm
Trang thiết bị
- Máy trộn
- Pipette Aid
4.1.5.3. Tiến hành
Gây miễn dịch trên chuột
* Chuẩn bị súc vật thí nghiệm:
- Chuột được chuẩn bị trước ngày tiêm miễn dịch 1 ngày.
- Chuột 5 tuần tuổi được chọn ngẫu nhiên với số lượng:
+ 48 chuột cho vắcxin mẫu chuẩn.
+ 48 chuột cho vắcxin thử nghiệm.
+ 40 chuột cho chuẩn độ chủng thử thách CVS.
- Mỗi loạt vắcxin (kể cả mẫu chuẩn ) gồm 3 độ pha, mỗi độ pha 16 chuột.
- Chuột được đánh dấu và ghi nhãn mỗi lồng theo từng loại và từng độ pha,
ghi nhãn rõ ràng cho mỗi lồng chuột bao gồm các thông tin sau: tên sản
phẩm, loạt số, độ pha loãng và màu đánh dấu chuột.
* Pha vắcxin:
- Lấy 6 ống nghiệm Falcon loại 50ml và đánh dấu: ghi rõ tên vắcxin thử,
122
vắcxin chuẩn và từng độ pha loãng của vắcxin thử và vắcxin chuẩn theo ký
hiệu V(A), V(B), V(C), và R(A), R(B), R(C). Vắcxin được pha loãng theo
bảng sau:
Ký hiệu
Độ pha loãng Vắcxin chuẩn (ml) dd NaCl 0,9%
1:5
3
12
R(A)
1:25
3 ml A
12
R(B)
1:125
3ml B
12
R(C)
- Mỗi độ pha sau khi pha xong, trước khi chuyển sang độ pha tiếp theo phải
được trộn đều trên máy trộn và thay pipét.
- Sau mỗi độ pha loãng để ngay ống nghiệm đã pha loãng vào hộp có đá
lạnh.
* Tiêm chuột:
- Lắc kỹ trước khi hút vắcxin đã pha loãng vào bơm tiêm. Mỗi mẫu vắcxin
sử dụng 1 bơm tiêm riêng.
- Tiêm từ độ pha loãng cao nhất đến độ pha loãng thấp nhất (từ C đến A).
- Liều tiêm: 0,5ml/1 chuột.
- Đường tiêm: Phúc mạc.
- Tiêm 2 mũi vào ngày 0 và ngày 7.
* Nhóm đối chứng:
- Nhóm chuột đối chứng gồm 40 con được nuôi song song trong cùng điều
kiện với nhóm chuột miễn dịch. Chuột đối chứng được dùng để chuẩn độ
123
hiệu giá chủng virut thử thách. Mỗi độ pha loãng tiêm 10 chuột.
Tiêm thử thách
* Pha chủng virút thử thách CVS:
- Pha chủng virut thử thách CVS: dùng dung dịch huyết thanh ngựa 2% làm
dung môi pha loãng, pha loãng chủng virut thử thách để đạt được 25 - 30
LD50/liều thử thách.
* Tiêm thử thách:
- Tiêm thử thách cho tất cả nhóm chuột đã được gây miễn dich vào ngày
thứ 14 sau mũi tiêm miễn dịch thứ nhất.
- Liều tiêm: 0,03ml/1 chuột .
- Đường tiêm: não.
* Chuẩn độ liều virút thử thách
10-2 và 10-3 .
,
- Pha loãng bậc 10 chủng thử thách CVS chứa 25-30LD50/liều thử thách (100) ra các đậm độ 10-1
- Gây nhiễm cho 4 nhóm chuột, mỗi nhóm một độ pha loãng từ 100 đến 10-3
+ Liều tiêm: 0,03ml/1 chuột .
+ Đường tiêm: não.
Theo dõi chuột sau tiêm thử thách
- Thời gian theo dõi: 14 ngày.
- Chỉ ghi nhận những chuột có biểu hiện liệt, chết từ ngày thứ 5 đến ngày
thứ 14.
4.1.5.4. Kết quả
Tính kết quả
* Tính liều virút thử thách CVS
124
- Tính số chuột chết trên tổng số chuột của mỗi nhóm chuột.
- LD50 của chủng CVS được tính theo phương pháp Reed-Muench:
* Công thức :
x k Lg(1/ LD50 ) = Lg(1/ A) -
Trong đó : A: độ pha loãng của chủng gây chết ngay sát dưới 50% .
a: % chuột chết ngay sát dưới 50%
b: % chuột chết ngay sát trên 50%
k =1 (logarit của hệ số pha loãng bậc 10)
* Tính công hiệu của vắcxin thử nghiệm:
- Tính số chuột sống trên tổng số chuột của mỗi nhóm chuột đối với vắcxin
thử nghiệm và vắcxin mẫu chuẩn
- Kết quả công hiệu của vắcxin được tính theo chương trình Probit
Analysis của TCYTTG.
Giá trị của thử nghiệm
- Liều virút thử thách CVS phải nằm trong khoảng 10-100 LD50.
Tiêu chuẩn chấp thuận
- Công hiệu của vắcxin mẫu thử phải 2,5 IU/1 liều tiêm.
4.1.6. Thử nghiệm nhận dạng
5.1.6.1. Mục đích
Mô tả các phương pháp xác định các kháng nguyên đặc hiệu có trong
vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero
5.1.6.2. Phương pháp
125
- Xem phần 4.1.6 - Phương pháp kiểm tra công hiệu
- Xem phần 2.2.1.3 - Thử nghiệm ELISA xác định hàm lượng glycoprotein của
virút dại
4.2. CÁC PHƢƠNG PHÁP KIỂM TRA HÓA LÝ
4.2.1. Phƣơng pháp xác định hàm lƣợng protein tổng số
4.2.1.1. Nguyên lý:
- Protein trong vắcxin được tủa bằng acid tricloracetic (TCA) rồi định
lượng theo phương pháp Lowry.
4.2.1.2. Nguyên vật liệu và trang thiết bị
- Ống nghiệm ly tâm thuỷ tinh,
- Pipetman 1ml
- Dụng cụ chia mẫu tự động
- Đầu côn 1ml
- Ống đong 100ml
- Cốc có mỏ loại 100ml
- Cóng đo
- Đồng hồ hẹn giờ
- Giấy parafilm
- Nồi inox, bếp điện
Dụng cụ
- Dung dịch albumin chuẩn 1mg/ml
- Dung dịch natri hydroxyd/ natri cacbonat
126
Hoá chất
- Dung dịch đồng sulfat 2%
- Dung dịch natri tactrat 4%
- Dung dịch TCA 5%
- Dung dịch TCA 10%
- Thuốc thử Folin 2N
- Nước pha tiêm
- Mẫu thử:
+ Bán thành phẩm 5 ml
+ Bán thành phẩm cuối cùng 10 ml
+ Vắcxin dại 10 lọ
+ Nước hồi chỉnh (với dạng đông khô) 10 lọ
- Máy quang phổ
- Nồi cách thuỷ
- Bồn rửa siêu âm
- Máy ly tâm
- Máy lắc
Trang thiết bị
4.2.1.3. Tiến hành
Đánh dấu các ống nghiệm
Pha dung dịch albumin chuẩn 25; 50; 100; 150 µg/ml
* Pha dung dịch albumin chuẩn 25µg/ml:
- Hút 0,25ml dung dịch albumin chuẩn 1mg/ml vào ống nghiệm. Thêm
127
9,75ml nước pha tiêm vào ống nghiệm trên, lắc đều.
* Pha dung dịch albumin chuẩn 50µg/ml:
- Hút 0,5ml dung dịch albumin chuẩn 1mg/ml vào ống nghiệm. Thêm
9,5ml nước pha tiêm vào ống nghiệm trên, lắc đều.
* Pha dung dịch albumin chuẩn 100 µg/ml:
- Hút 1ml dung dịch albumin chuẩn 1mg/ml vào ống nghiệm. Thêm 9
ml nước pha tiêm vào ống nghiệm trên, lắc đều.
* Pha dung dịch albumin chuẩn 150µg/ml:
- Hút 1,5ml dung dịch albumin chuẩn 1mg/ml vào ống nghiệm. Thêm
8,5ml nước pha tiêm vào ống nghiệm trên, lắc đều.
- Bán thành phẩm: Pha loãng bằng nước pha tiêm từ 200 đến 500 lần tùy theo
Pha loãng mẫu thử
- Bán thành phẩm cuối cùng: Pha loãng 2 lần bằng nước pha tiêm.
- Thành phẩm: Lắc kỹ các lọ vắcxin, trộn vào ống Falcon 50ml đã đánh dấu
mức độ cô đặc.
tên loạt vắcxin, lắc đều. Pha loãng 2 lần bằng nước pha tiêm.
Pha các dung dịch thử nghiệm (pha ngay trước khi dùng)
Dung dịch đồng alkalin
Thuốc thử Folin 1N
- Hút các dung dịch albumin chuẩn 25; 50; 100; 150g/ml và mẫu thử
Tiến hành
- Thêm dung dịch TCA 10% vào mỗi ống nghiệm.
- Lắc đều.
128
vào các ống nghiệm.
- Đun cách thủy ở 80C trong 15 phút. Làm nguội ở nhiệt độ phòng. Bao
- Ly tâm, hút bỏ nước nổi.
- Thêm TCA 5% vào mỗi ống nghiệm, lắc kỹ. Bao kín miệng các ống
kín miệng các ống nghiệm bằng giấy parafilm.
- Ly tâm, hút bỏ nước nổi.
- Thêm dung dịch đồng alkalin vào mỗi ống nghiệm, lắc kỹ.
- Để ở nhiệt độ phòng qua đêm.
- Thêm nước pha tiêm vào mỗi ống nghiệm, lắc đều.
- Thêm thuốc thử Folin vào mỗi ống nghiệm, lắc đều.
- Đun cách thủy 37C trong 30 phút, để nguội.
- Ly tâm, lấy nước nổi đo quang phổ bước sóng 750nm.
nghiệm bằng giấy parafilm.
4.2.1.4. Kết quả
Dựng đường chuẩn
- Căn cứ vào độ hấp thụ của dung dịch albumin chuẩn và hàm lượng
albumin tương ứng để dựng phương trình đường chuẩn. Xử lý số liệu theo
chương trình vẽ đồ thị trong Excel của máy tính, xây dựng được phương trình
hồi quy tuyến tính thực nghiệm (phương trình đường chuẩn) y = ax + b. Dựa
theo phương trình tính ra hàm lượng protein trong mẫu vắcxin.
Tính kết quả
* Công thức: Y = n.y
Trong đó: Y: Hàm lượng protein có trong mẫu vắcxin (g/ml).
y = ax + b
129
y: Hàm lượng protein (g/ml)
x: Độ hấp phụ quang đo được tương ứng với mỗi nồng độ protein.
a, b: Hệ số của phương trình đường chuẩn.
n: Độ pha loãng mẫu.
Tiêu chuẩn chấp thuận
- Bán thành phẩm cuối cùng, thành phẩm vắcxin dại: Hàm lượng protein
≤ 20 mg/ml.
4.2.2. Xác định pH trong vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero
- pH của vắcxin được xác định bằng máy đo pH với điện cực thuỷ tinh
4.2.2.1. Nguyên lý
4.2.2.2. Nguyên vật liệu và trang thiết bị
Dụng cụ
- Cốc có mỏ loại 50ml
- Giấy lau
Trang thiết bị
- Máy đo pH
Hóa chất
- Dung dịch pH chuẩn 7,00
- Dung dịch pH chuẩn 4,01
- Nước cất pha tiêm
- Mẫu thử: 20 lọ vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero
4.2.2.3. Các bước tiến hành
Chuẩn bị mẫu
- Lắc kỹ các lọ vắcxin, trộn vào ống Falcon 50ml đã đánh dấu tên loạt
vắcxin, lắc đều.
130
- Đối với vắcxin đông khô, phải hồi chỉnh nước trước khi đo.
Tiến hành đo
- Chuẩn lại pH của máy đo bằng các dung dịch pH chuẩn
- Nhúng điện cực vào các cốc đựng dung dịch mẫu thử. Đọc các thông số
về pH hiện lên trên máy đo.
- Trước mỗi lần chuyển điện cực sang một dung dịch mới, phải rửa kỹ
điện cực bằng nước cất pha tiêm và lau khô.
4.2.2.4. Kết quả
Tiêu chuẩn chấp thuận
- pH của vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero phải nằm trong khoảng 6,0
- 8,0.
4.2.3. Định lƣợng thimerosal trong vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero
4.2.3.1. Nguyên lý
- Dựa trên cơ sở thimerosal phản ứng với dithizon tạo thành hợp chất có
cực đại hấp thụ ở bước sóng 480nm. Định lượng thimerosal bằng cách
đo độ hấp phụ chất tạo thành ở bước sóng này.
4.2.3.2. Nguyên vật liệu và trang thiết bị
Dụng cụ
- Bình định mức 100ml.
- Dụng cụ chia mẫu tự động.
- Cốc có mỏ loại 100ml.
- Cốc có mỏ loại 500ml.
- Bình gạn loại 100ml.
- Ống đong loại 500ml.
- Buret thủy tinh 50ml.
- Cóng đo.
131
- Máy hút chân không.
- Găng tay, khẩu trang.
Hóa chất
- Dung dịch thimerosal chuẩn 1%.
- Dung dịch dithizon 0,02%.
- Cacbon tetraclorid.
- Amomiac đậm đặc 32%.
- Dung dịch acid sulfuric 10%.
- Nước pha tiêm.
Trang thiết bị
- Máy đo quang
- Máy ly tâm
- Máy lắc
4.2.3.3. Tiến hành
Mẫu thử
Lắc kỹ các lọ vắcxin, trộn vào ống Falcon đã đánh dấu tên loạt vắcxin, lắc
đều.
Pha dung dịch dithizon 0,002%
Hút 10ml dung dịch dithizon 0,02% vào bình định mức loại 100ml,
thêm carbontetraclorid vừa đủ tới vạch.
Pha dung dịch amoniac 60% (9N)
- Rót 180ml nước amoniac đậm đặc vào ống đong loại 500ml, thêm nước
pha tiêm vừa đủ 300ml, khuấy đều.
Tiến hành
- Hút 0,5ml dung dịch thimerosal chuẩn 50g/ml, 100g/ml, 150g/ml
lần lượt vào mỗi 2 bình nón 4 - 5, 6 - 7, 8 - 9.
132
- Hút 0,5ml mẫu thử vào mỗi bình nón 2 - 3.
- Thêm nước pha tiêm vừa đủ 5ml vào mỗi bình nón từ 1 đến 9, lắc đều.
- Thêm 5ml dung dịch acid sulfuric 10% vào mỗi bình nón từ 1 đến 9, lắc
đều.
- Dùng buret thêm 10ml dung dịch dithizon 0,002% vào mỗi bình nón từ
1 đến 9.
- Đậy nắp, lắc mạnh trong 2 phút. Để yên cho tách thành 2 lớp, hút bỏ lớp
nước nổi.
- Thêm 10ml nước pha tiêm vào mỗi bình, lắc mạnh. Để yên cho tách
thành 2 lớp, hút bỏ lớp nước nổi.
- Thêm 10ml dung dịch amoniac 60% vào mỗi bình, lắc mạnh. Để yên
cho tách thành 2 lớp, hút bỏ lớp nước nổi.
- Làm bước này 3 lần.
- Màu của cacbon tetraclorid chuyển từ xanh lá cây sang màu vàng cam.
- Thêm 10ml nước pha tiêm vào mỗi bình, lắc mạnh. Để yên cho tách
thành 2 lớp, hút bỏ lớp nước nổi.
- Chuyển sang bình gạn, gạn lấy lớp cacbon tetraclorid.
- Lọc qua giấy lọc, đo quang phổ bước sóng 480nm.
Dựng đường chuẩn
- Căn cứ vào độ hấp thụ của dung dịch thimerosal chuẩn và hàm lượng
thimerosal tương ứng để dựng phương trình đường chuẩn. Xử lý số liệu
theo chương trình vẽ đồ thị trong Excel của máy tính, xây dựng được
phương trình hồi quy tuyến tính thực nghiệm (phương trình đường
chuẩn) y = ax + b. Dựa theo phương trình tính ra hàm lượng thimerosal
có trong mẫu vắcxin.
4. Kết quả
Tính kết quả
Công thức: Y = y. 100/1000000 = y. 0,0001
133
Trong đó: Y: Hàm lượng thimerosal có trong mẫu vắcxin (g%).
y = ax + b
y: Hàm lượng thimerosal (g/ml).
x: Độ hấp thụ quang đo được tương ứng với từng hàm lượng thimerosal.
a, b: Hệ số của phương trình đường chuẩn.
100: Đổi ra g%.
1000000: Hệ số qui đổi từ g ra g.
Tiêu chuẩn chấp thuận
- Hàm lượng thimerosal có trong vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero ≤
0,012%.
4.2.4. Định lƣợng nhôm trong vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero dạng
lỏng hấp phụ nhôm
4.2.4.1. Nguyên lý
- Hàm lượng nhôm có trong vắcxin được xác định bằng cách đo màu của hợp chất tạo ra từ phản ứng của ion Al3+ với thuốc thử Stilbazo.
4.24.2. Nguyên vật liệu và trang thiết bị
Dụng cụ
- Bình nón loại 100ml.
- Ống nghiệm thủy tinh = 18mm.
- Pipetman 1ml, pipet aid, pipet thủy tinh 5 ml.
- Dụng cụ chia mẫu tự động
- Cốc có mỏ loại 100ml, 500ml.
- Bình định mức 25ml, 250ml.
- Cóng đo.
Trang thiết bị
- Máy đo quang phổ
134
Hóa chất
- Dung dịch nhôm chuẩn 0,1%
- Dung dịch Stilbazo
- Dung dịch đệm acetat
- Acid nitric đậm đặc
- Nước pha tiêm
4.2.4.3. Các bước tiến hành
Pha dung dịch nhôm chuẩn 2μg/ml
- Dùng pipet thuỷ tinh 1ml hút 0,5ml dung dịch nhôm chuẩn 0,1% vào
trong bình định mức 250ml, thêm nước pha tiêm vừa đủ tới vạch, lắc đều.
Pha loãng mẫu thử
- Mẫu thử đươ ̣c pha loãng 25 và 50 lần trướ c khi tiến hành thử nghiê ̣m.
Tiến hành
- Hút 1ml – 2ml – 3ml – 4ml – 5ml dung dịch nhôm chuẩn 2g/ml vào
lần lượt các bình nón ký hiệu số 4 – 5 – 6 – 7 – 8.
- Hút 1ml mẫu thử pha loãng 25 lần, 50 lần vào các bình nón ký hiệu số
2-3.
- Thêm nước pha tiêm vừa đủ 5ml vào các bình nón ký hiệu từ 1 đến 8,
lắc đều.
- Thêm 10ml dung dịch acetat buffer vào mỗi bình nón từ 1 đến 8, lắc
đều.
- Thêm 5ml dung dịch Stilbaso vào mỗi bình nón từ 1 đến 8, lắc đều.
- Thêm 5ml nước pha tiêm vào mỗi bình nón từ 1 đến 8, lắc đều.
- Giữ ở nhiệt độ phòng trong 20 phút.
- Đo quang phổ ở bước sóng 510 nm.
Dựng đường chuẩn
Căn cứ vào độ hấp thụ của dung dịch nhôm chlorid chuẩn và hàm lượng
nhôm chlorid tương ứng để dựng đường chuẩn. Xử lý số liệu theo chương
135
trình vẽ đồ thị trong Excel của máy tính, xây dựng được phương trình hồi
quy tuyến tính thực nghiệm (phương trình đường chuẩn) y=ax+ b. Dựa
theo phương trình tính ra hàm lượng nhôm trong mẫu vắcxin.
4.2.4.4. Kết quả
Tính kết quả
Công thức: Y = (y25.25/1 + y50.50/1)/2
Trong đó:
Y: Hàm lượng nhôm có trong mẫu vắcxin (g/ml).
y = ax + b
y: Hàm lượng nhôm (g).
y25: Hàm lượng nhôm của mẫu thử pha loãng 25 lần.
y50: Hàm lượng nhôm của mẫu thử pha loãng 50 lần.
x: Độ hấp phụ quang tương ứng với các hàm lượng nhôm.
a, b: Hệ số của phương trình đường chuẩn.
25, 50: Độ pha loãng của mẫu thử.
1: Thể tích mẫu thử (ml).
- Hàm lượng nhôm có trong vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero ≤ 1250
Tiêu chuẩn chấp thuận
g/ml.
4.2.5. Xác định độ ẩm tồn dƣ trong vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero
dạng đông khô
4.2.5.1. Nguyên lý
Dựa trên phản ứng toàn lượng của nước với lưu huỳnh dioxyd và iod
trong dung môi khan chứa một chất bazơ hữu cơ thích hợp.
4.2.5.2. Nguyên vật liệu và trang thiết bị
Dụng cụ
136
- Ống nghiệm 15x15mm.
- Cốc có mỏ 50ml.
- Thìa cân.
Hóa chất
- Sodium L-.tactrate dihydrate (tinh khiết >99%).
- Thuốc thử Karl Fischer.
Bao gồm: 1. Titrant 5.
2. Solvent .
Trang thiết bị
- Cân phân tích
- Máy chuẩn độ điện thế
4.2.5.3. Các bước tiến hành
Xác định đương lượng của thuốc thử
- Do đương lượng của thuốc thử Karl Fischer dễ bị thay đổi theo thời
gian nên trước khi dùng phải xác định lại và phải đạt tối thiểu 3,5mg
nước cho 1ml thuốc thử.
- Dẫn hoá chất vào máy theo đường dẫn từng loại cho Solvent, Titrant 5.
- Bơm dung môi, thuốc thử cũ ra khỏi đường ống dẫn vào chai đựng chất
thải.
- Hút (Purging) vài lần để trộn đều thuốc thử.
- Bơm dung môi (Solvent) vào khoảng 1/3 cốc chuẩn độ.
- Chuẩn bị cốc và ống nghiệm để cân natri tactrat (natri tactrat đã được loại hết ẩm bằng cách sấy khô ở 60oC trong 1 giờ). Cân chính xác
khoảng 0,13g natri tactrat vào ống nghiệm dựng đứng trong cốc. Sau
khi đổ hết natri tactrat vào cốc chuẩn độ, đặt ống nghiệm trở lại cân, ghi
lại số g hiện trên màn hình cân (giá trị âm).
- Tính đương lượng của thuốc thử (F) theo công thức sau:
137
Trong đó: F: Đương lượng của thuốc thử (mg/ml)
18,02: Khối lượng phân tử của nước trong phân tử
natri tactrat
230,08: Khối lượng của phân tử natri tactrat
V: Thể tích thuốc thử sử dụng để chuẩn độ natri
tactrat (ml)
- Tiến hành xác định đương lượng của thuốc thử 2 lần, lấy kết quả trung bình
M: Khối lượng natri tactrat (mg)
( ).
Tiến hành định lượng
- Chuẩn bị cân mẫu: Tuỳ theo từng chế phẩm đông khô, lấy khoảng 3-4 lọ
vắcxin bỏ nút nhôm, đem cân, trước khi nhấc ra bấm Tare trên cân. Mở
từng lọ vắcxin, lấy thìa cân nhỏ cho vào lọ làm vụn bánh đông khô, nhanh
chóng đổ vào cốc chuẩn độ qua đường cho mẫu, làm lần lượt từng lọ đến
hết. Đặt lại cân lọ và nút cao su, ghi lại khối lượng cân (giá trị âm).
- Tiến hành định lượng mẫu thử 2 lần, tính giá trị trung bình.
4.2.5.4. Kết quả
- Công thức:
Tính kết quả
Trong đó: X: Hàm lượng nước có trong mẫu thử (% kl/kl)
V: Thể tích thuốc thử sử dụng để chuẩn độ mẫu thử (ml)
: Đương lượng trung bình của thuốc thử (mg/ml)
m: Lượng mẫu thử khi cân (mg)
138
100: Chuyển sang %
Và
Trong đó: : Hàm lượng nước trung bình có trong mẫu thử (% kl/kl)
: Hàm lượng nước có trong mẫu thử làm lần thứ nhất (%
kl/kl)
: Hàm lượng nước có trong mẫu thử làm lần thứ hai (%
kl/kl)
Tiêu chuẩn chấp thuận
- Độ ẩm tồn dư trong vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero đông khô ≤
3%.
4.2.6. Kiểm tra tính chất vật lý vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero
4.2.6.1. Nguyên lý
Quan sát vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero bằng mắt thường dưới
ánh sáng đèn.
4.2.6.2. Nguyên vật liệu và trang thiết bị
- Bơm tiêm 3ml
- Dụng cụ mở nắp lọ vắcxin
Dụng cụ
- Mẫu vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero
Hoá chất
- Dạng dung dịch: Bóc nhãn từng lọ vắcxin, lau sạch lọ, quan sát bằng mắt
4.2.6.3. Các bước tiến hành
- Dạng đông khô: Kiểm tra dạng đông khô trọng lọ. Hồi chỉnh bằng nước hồi
dưới ánh sáng đèn tuýp.
chỉnh, kiểm tra thời gian hoà tan hoàn toàn, sau đó quan sát lọ vắcxin như
139
dạng dung dịch.
- Ghi chép kết quả quan sát được.
4.2.6.4. Kết quả
- Ghi chép lại các kết quả quan sát được.
Kết quả
- Dạng dung dịch: Sau khi lắc, vắcxin có màu trắng hơi đục. Để lắng sau 1
Tiêu chuẩn chấp thuận
giờ, vắcxin phải tách làm hai lớp, trong đó lớp nhôm phải tủa bông mịn,
- Dạng đông khô: Vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero đông khô có dạng
không vón cục.
viên xốp màu trắng, khi hoà tan bằng nước hồi chỉnh tạo thành dung dịch
trong suốt, không màu, không có chất lạ khó tan.
4.3. XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN CƠ SỞ CHO VẮCXIN DẠI TRÊN
NUÔI CẤY TẾ BÀO VERO
Từ tiêu chuẩn chấp thuận của từng thử nghiệm kiểm tra chất lượng
vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero, các bảng tiêu chuẩn cơ sở cho vắcxin dại
trên nuôi cấy tế bào Vero đã được xây dựng. Căn cứ để đưa ra các tiêu chuẩn
này đều được dựa trên các khuyến cáo của TCYTTG [54] và theo Dược điển
châu Âu [15]. Bảng 4.1 đưa ra các tiêu chuẩn cơ sở cho vắcxin dại trên nuôi
cấy tế bào Vero dạng lỏng và Bảng 4.2 đưa ra các tiêu chuẩn cơ sở cho vắcxin
140
dại trên nuôi cấy tế bào Vero dạng đông khô.
BẢNG 4.1. TIÊU CHUẨN CƠ SỞ CHO VẮCXIN DẠI
TRÊN NUÔI CẤY TẾ BÀO VERO
(Dạng lỏng hấp phụ nhôm)
STT
Tên thử nghiệm
Tiêu chuẩn chấp thuận
Tài liệu tham khảo
Dương tính
TCYTTG, EP
1
Nhận dạng
Tính chất vật lý
2
Sau khi lắc, vắcxin có màu trắng hơi đục. Để lắng sau 1 giờ, vắcxin phải tách làm hai lớp, trong đó lớp nhôm phải tủa bông mịn, không vón cục.
TCYTTG, EP
V« khuÈn
3
Không phát hiện thấy nấm và vi khuẩn phát triển sau 14 ngày theo dõi.
pH
7,0 - 8,0
4
TCYTTG, EP
5
Hàm lượng Thimerosal (%)
≤ 0,012
TCYTTG, EP
Công hiệu (IU/1 ml)
≥ 2,5
6
TCYTTG, EP
≤ 1250
7
Hàm lượng nhôm (g/ml)
An toàn chung trên chuột lang
8
TCYTTG
Chuột khỏe mạnh, tăng trọng bình thường
An toàn chung trên chuột nhắt
9
Chất gây sốt
10
TCYTTG, EP
Tổng To tăng của 3 thỏ ≤ 1,3oC Nhiệt độ tăng của từng thỏ < 0,60C
141
BẢNG 4.2. TIÊU CHUẨN CƠ SỞ CHO VẮCXIN DẠI
TRÊN NUÔI CẤY TẾ BÀO VERO
(Dạng đông khô)
STT Tên thử nghiệm
Tiêu chuẩn chấp thuận
Tài liệu tham khảo
Virút dại
TCYTTG, EP
1
Nhận dạng
Tính chất vật lý
2
Viên xốp màu trắng, khi hoà tan bằng nước hồi chỉnh tạo thành dung dịch trong suốt, không vón cục hoặc không có chất lạ khó tan.
TCYTTG, EP
3 V« khuÈn
Không phát hiện thấy nấm và vi khuẩn phát triển sau 14 ngày theo dõi.
Protein toàn phần (mg/ml)
4
≤ 20
pH
7,0 - 8,0
5
TCYTTG, EP
6 Hàm lượng Thimerosal (%)
≤ 0,012
TCYTTG, EP
7
Công hiệu (IU/0,5ml)
≥ 2,5
8 An toàn chung trên chuột lang
TCYTTG
Chuột khỏe mạnh, tăng trọng bình thường
9 An toàn chung trên chuột nhắt
10 An toàn đặc hiệu
TCYTTG
Chuột khỏe mạnh, không có biểu hiện bệnh (liệt,chết), tăng trọng bình thường
11 Chất gây sốt
TCYTTG, EP
Tổng To tăng của 3 thỏ ≤ 1,3oC Nhiệt độ tăng của từng thỏ < 0,60C
12 Độ ẩm tồn dư
≤ 3%
TCYTTG, EP
142
CHƢƠNG 5
ĐÁNH GIÁ TÍNH AN TOÀN VÀ HIỆU LỰC VẮC XIN
TRÊN ĐỘNG VẬT THÍ NGHIỆM
Các thử nghiệm an toàn đối với vắcxin dại được thiết kế nhằm phát
hiện bất kỳ một chất hay đặc tính nào có hại cho các đối tượng tiêm như việc
lây nhiễm các tác nhân ngoại lai, virút chưa bất hoạt hoặc độc tính. Yêu cầu
đối với các thử nghiệm này được trình bày trong khuyến cáo của TCYTTG
cho vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào [54]. Từng quốc gia hay khu vực cũng có
những yêu cầu đặc trưng riêng tuy nhiên đều dựa trên căn cứ là các yêu cầu
chung do TCYTTG đề ra [15], [35], [49]. Cũng giống với phần lớn các vắcxin
virút bất hoạt khác, việc phát hiện và loại trừ sự có mặt của các virút độc tính
tồn dư là rất quan trọng. Đối với vắcxin dại, thử nghiệm này được tiến hành
bằng cách tiêm vào não chuột các mẫu bán thành phẩm sau bất hoạt hoặc
thành phẩm và phương pháp này được gọi là thử nghiệm kiểm tra an toàn đặc
hiệu trên chuột. Thêm vào đó, nếu vắcxin được sản xuất trên tế bào, nên tiến
hành các thử nghiệm nhân nuôi virút trên các hệ tế bào giống với tế bào hiện
đang sử dụng trong sản xuất [28], [54]. Đồng thời, cần thực hiện việc kiểm
soát các tác nhân ngoại lai trong quá trình nhân nuôi tế bào theo đúng yêu cầu
của TCYTTG cho các sản phẩm được sản xuất trên nuôi cấy tế bào. Các thử
nghiệm kiểm tra chất lượng tế bào này được tiến hành đối với từng loạt sản
xuất chủng giống cũng như loạt sản xuất vắcxin [53], [54]. Đối với các vắcxin
dại được phát triển với mục đính sử dụng cho người thì việc đánh giá đáp ứng
miễn dịch tiền lâm sàng là cần thiết. Khi tiến hành các thử nghiệm này, cần có
sự so sánh về hiệu quả đáp ứng miễn dịch của vắcxin mới với các vắcxin đã
biết rõ về công hiệu cũng như có hiệu quả phòng bệnh tốt trên người [41].
143
Nghiên cứu này đề cập đến việc đánh giá tính an toàn và đáp ứng miễn dịch
của các dạng thành phẩm vắcxin dại khác nhau. Các sản phẩm này đều được
đánh giá so sánh về đáp ứng miễn dịch với các nhóm chứng tiêm nước muối
sinh lý và tiêm với một vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero đã được thương
mại hóa cho hiệu quả phòng bệnh tốt trên người (Verorab của Sanofi-Pasteur,
Pháp).
5.1. CÁC PHƢƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH AN TOÀN VÀ ĐÁP ỨNG
MIỄN DỊCH CỦA VẮC XIN TRÊN ĐỘNG VẬT THÍ NGHIỆM
5.1.1. Các phƣơng pháp đánh giá tính an toàn của vắcxin trên động vật
thí nghiệm
5.1.1.1. Phương pháp kiểm tra tính an toàn chung
Xem Phần 4.1.2.
5.1.1.2. Phương pháp kiểm tra an toàn đặc hiệu
Xem Phần 4.1.4.
5.1.1.3. Phương pháp kiểm tra chất gây sốt
Xem Phần 4.1.3.
5.1.2. Phƣơng pháp đánh giá đáp ứng miễn dịch của vắcxin trên chuột
5.1.2.1. Thử nghiệm gây miễn dịch trên chuột
Nguyên lý
- Thử nghiệm được tiến hành trên các giống chuột NMRI có so sánh với
144
các nhóm chứng là nhóm tiêm nước muối sinh lý và nhóm tiêm vắcxin
Verorab. Đánh giá đáp ứng miễn dịch được thực hiện bằng thử nghiệm xác
định hiệu giá kháng thể trung hòa đối với virút dại theo phương pháp RFFIT
[42].
Nguyên vật liệu và trang thiết bị
Dụng cụ
- Ống nghiệm Falcon loại 15ml
- Ống nghiệm Falcon loại 50ml
- Bơm tiêm nhựa 1ml & 3ml
- Pipet nhựa loại 2ml, 5ml, 10ml & 25ml
- Giá để ống nghiệm Falcon 15, 50ml
Nguyên vật liệu
- Chuột 5 tuần tuổi giống NMRI
- Vắcxin Verorab
- Mẫu thử nghiệm: vắcxin dại VERAPVAX và VERALVAX
- Dung dịch NaCl 0,9%
- Nước pha tiêm
Trang thiết bị
- Máy trộn
- Pipette Aid
Tiến hành
Chuẩn bị động vật thí nghiệm
145
- Chuột được chuẩn bị trước ngày tiêm miễn dịch 1 ngày.
- Chuột 5 tuần tuổi được chọn ngẫu nhiên với số lượng 10 con cho 1
nhóm tiêm miễn dịch
- Chuột được đánh dấu và ghi nhãn mỗi lồng theo từng loại vắcxin
bao gồm các thông tin sau: tên sản phẩm, loạt số và màu đánh dấu
chuột.
Pha vắcxin thử
- Hồi chỉnh vắcxin bằng nước hồi chỉnh.
- Hộn vắcxin đã hồi chỉnh và vắcxin dạng lỏng vào falcon 15ml.
- Pha loãng vắcxin 5 lần trong dung dịch nước muối sinh lý.
Gây miễn dịch cho chuột
Lịch tiêm miễn dịch và lấy máu
- Chuột được tiêm 3 mũi theo lịch 0, 7, 28 ngày. Lấy máu vào ngày 7,
14, 21, 28, 42 và 56 (Hình 5.1).
Tiêm mũi 2
Tiêm mũi 3
Tiêm mũi 1
Ngày 0
Lấy máu sau mũi Ngày 56 3
Lấy máu sau mũi Ngày 14 1
Lấy máu sau mũi Ngày 42 1
Lấy máu sau mũi Ngày 21 1
Lấy máu sau mũi Ngày 28 2
Lấy máu sau mũi Ngày 7 1 1
146
Hình 5.1. Sơ đồ gây miễn dịch và lấy máu cho chuột
Tiêm vắcxin cho chuột
- Lắc kỹ trước khi hút vắcxin đã pha loãng vào bơm tiêm. Mỗi loại
vắcxin sử dụng 1 bơm tiêm riêng.
- Liều tiêm: 0,5ml/1 chuột.
- Đường tiêm: Phúc mạc.
Tiêm cho nhóm chuột chứng
- Tiến hành tiêm nước muối sinh lý với liều tiêm và đường tiêm như
tiêm mẫu vắcxin.
Chăm sóc chuột thí nghiệm:
- Chuột sau khi tiêm miễn dịch được cán bộ của phòng chăn nuôi
chăm sóc và theo dõi trong suốt thời gian thử nghiệm (56 ngày).
Lấy máu kiểm tra đáp ứng miễn dịch
- Ngày 7, 14, 21, 28 và 42 tất cả các chuột gây miễn dịch đều được
lấy máu mắt.
- Ngày 56 tất cả các chuột gây miễn dịch đều được lấy máu tim.
Kết quả
- Các mẫu huyết thanh được xét nghiệm xác định hiệu giá kháng thể
trung hòa đối với virút dại theo phương pháp RFFIT.
5.1.2.2. Thử nghiệm đánh giá đáp ứng miễn dịch
Thử nghiệm để đánh giá hiệu quả đáp ứng miễn dịch của vắcxin dại
trên chuột là thử nghiệm ức chế điểm huỳnh quang nhanh (RFFIT) phát hiện
kháng thể trung hòa đối với virút dại trong các mẫu huyết thanh [42].
147
Nguyên vật liệu và trang thiết bị
Dụng cụ
- Tuýp pha loãng mẫu 1,5 ml
- Phiến Teflon 3 giếng
- Bản kính đậy phiến
- Hộp lồng 15 cm để ủ phiến
- Phiến 96 giếng để pha loãng
- Đầu côn: 20-1000 l
- Giấy thấm.
- Pipet 5ml, 10ml, 25 ml.
- Pipet aid
- Pipet man 1ml, 10ml, 100ml, 200ml, 1000ml
- Pipet nhiều kênh
- Cóng nhựa
- Cóng rửa phiến
- Hộp đựng đá
Hóa chất
- Chai nuôi cấy tế bào MNA
- MEM 10% FBS
- Dung dịch Trysin
- Dung dịch PBS
148
- Dung dịch đệm phủ phiến
- Dung dịch cộng hợp thỏ kháng nucleocapsit của virút dại gắn huỳnh
quang
- Aceton lạnh
- Nước pha tiêm
Mẫu thử
- Chủng virút dại thử thách CVS -11
- Huyết thanh kháng dại chuẩn (2 IU/ml)
- Huyết thanh mẫu thử: 1 ml
Trang thiết bị
- Tủ ấm 37C
- Máy trộn
- Nồi cách thủy
- Kính hiển vi soi tế bào
- Kính hiển vi huỳnh quang
- Hốt vô trùng
Tiến hành
Bất hoạt mẫu huyết thanh thử
- Mẫu huyết thanh thử được bất hoạt ở nhiệt độ 560C trong 30 phút
Chuẩn bị phiến mẫu huyết thanh chứng
- Chuẩn bị phiến 96 giếng, mỗi mẫu huyết thanh chứng sẽ được pha
loãng trên một hàng dãy dọc của phiến.
149
- Các mẫu huyết thanh được pha loãng theo các độ pha từ 1/5 đến 1/625.
- Chuyển các mẫu huyết thanh đã được pha loãng vào từng giếng trên
các phiến thử. Mỗi phiến nhỏ lần lượt 3 độ pha loãng 1/25; 1/125; 1/625.
Chuẩn bị phiến mẫu huyết thanh thử
- Pha loãng và nhỏ mẫu vào phiến như đối với mẫu huyết thanh chứng.
Pha loãng và chuẩn bị phiến virút chứng
- Chủng virút thử thách CVS-11 được pha loãng bằng MEM 10% FBS
để đạt được nồng độ 50FFD50/0,1 ml.
- Tiếp tục pha loãng 10 lần mẫu virút chứng thêm 2 độ pha loãng 1/10 và
1/100 để đạt được các nồng độ 5FFD50/0,1 ml và 0,5FFD50/0,1 ml.
- Chuyển các mẫu virút chứng đã được pha loãng này vào từng giếng
trên phiến chứng virút.
Trung hòa huyết thanh với virút thử thách
- Nhỏ mẫu virút có nồng độ 50FFD50 vào tất cả các giếng của phiến mẫu
huyết thanh thử và huyết thanh chứng.
- Ủ tất cả các phiến ở nhiệt độ 370C trong 90 phút.
Chuẩn bị và ủ tế bào MNA với mẫu thử
- Tách chai tế bào MNA đã nuôi cấy 3 ngày trong môi trường MEM 10%
FBS bằng trypsin để tạo thành hỗn dịch tế bào.
- Đếm số lượng tế bào có trong hỗn dịch. Pha loãng hỗn dịch tế bào để
đạt được nồng độ theo yêu cầu..
- Cho hỗn dịch tế bào vào từng giếng trên tất cả các phiến mẫu đã có
virút thử thách và 1 phiến không có virút là chứng tế bào.
150
- Ủ tất cả các phiến ở nhiệt độ 370C trong 20 giờ.
Thử nghiệm miễn dịch huỳnh quang phát hiện nucleocapsit của virút dại
thử thách
Cố định virút
- Đổ hết nước nổi có ở các giếng trên các phiến.
- Nhúng phiến trong cóng đựng dung dịch PBS sau đó nhúng tiếp vào cóng
đựng acetone lạnh.
- Vớt phiến ra và để khô tự nhiên.
Nhuộm phiến
- Nhỏ dung dịch cộng hợp thỏ kháng nucleocapsit của virút dại gắn huỳnh
quang vào từng giếng trên các phiến.
- Ủ tất cả các phiến trong hộp lồng có giấy thấm được làm ẩm ở nhiệt độ 370C trong 30 phút.
Rửa phiến
- Đổ hết nước nổi có ở các giếng trên các phiến.
- Rửa phiến bằng dung dịch PBS.
- Để khô phiến.
Phủ phiến
- Nhỏ dung dịch đệm phủ phiến vào từng giếng.
- Đậy phiến bằng bản kính.
Đọc bản phiến
- Soi phiến dưới kính hiển vi huỳnh quang ở vật kính 20x và ghi kết quả vào
phiếu ghi sơ đồ phiến. Mỗi giếng trên phiến sẽ được soi lần lượt từng vi
151
trường cho hết toàn bộ diện tích của giếng. Vi trường nhiễm là vi trường soi
thấy hình ảnh virút dại bắt màu xanh huỳnh quang trên nền tế bào Vero có
màu đỏ (xem Hình 2.4).
Kết quả
Tính kết quả
- Tính số vi trường nhiễm trên tổng số vi trường được soi trong mỗi giếng.
- Kết quả được tính theo phương pháp Reed – Muench.
* Công thức :
x k Lg(1/ FFD50 ) = Lg(1/ A) -
Trong đó: A: độ pha loãng của mẫu có mức độ nhiễm ngay sát dưới 50%.
a: % vi trường nhiễm ngay sát dưới 50%
b: % vi trường nhiễm ngay sát trên 50%
k =1 (logarit của hệ số pha loãng bậc 10)
Giá trị của thử nghiệm và tiêu chuẩn chấp thuận
- Phiến mẫu chứng huyết thanh, chứng virút và chứng tế bào phải đạt được
yêu cầu của thử nghiệm.
- Hiệu giá kháng thể trung hòa đối với virút dại trong huyết thanh từ 0,5
IU/ml trở lên được coi là dương tính.
5.2. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TÍNH AN TOÀN VÀ HIỆU LỰC CỦA
VẮCXIN TRÊN ĐỘNG VẬT THÍ NGHIỆM
5.2.1. Tính an toàn của vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào trên động vật thực
152
nghiệm
Kết quả về tính an toàn chung và an toàn đặc hiệu của vắcxin dại trên
nuôi cấy tế bào Vero được đánh giá trên cả vắcxin thành phẩm dạng đông
khô (VERAPVAX) và vắcxin thành phẩm dạng lỏng hấp phụ nhôm
(VERALVAX) trình bày trong Bảng 5.1 và Bảng 5.2. Kết quả kiểm tra chất
gây sốt của các vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero dạng đông khô
(VERAPVAX) được trình bày trong Phần 3.10 - Kết quả kiểm tra vắc xin
thành phẩm tại cơ sở. Trong phần này chỉ trình bày kết quả kiểm tra chất gây
sốt của các vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero dạng lỏng hấp phụ nhôm
(VERALVAX) (Bảng 5.3).
Bảng 5.1. Kết quả kiểm tra tính an toàn chung của vắcxin dại trên nuôi
cấy tế bào Vero
Chuột nhắt trắng
Chuột lang
VERAPVAX
VERALVAX VERAPVAX
VERALVAX
Kết quả theo dõi sau 7 ngày
Loạt 0209 Loạt 0309
Loạt 0210
Loạt 0209 Loạt 0309
Loạt 0210
0/5
0/5
0/5
0/2
0/2
0/2
Số chuột chết
125,23%
127,77%
116,03%
105,36%
108,14%
110,47%
Trung bình tăng trọng
Đạt yêu cầu
Đạt yêu cầu
Kết luận
Đạt yêu cầu
Đạt yêu cầu
Đạt yêu cầu
Đạt yêu cầu
Bảng 5.2. Kết quả kiểm tra an toàn đặc hiệu của vắcxin dại trên nuôi cấy
tế bào Vero
VERAPVAX
VERALVAX
Kết quả theo dõi sau 14 ngày
Loạt 0209
Loạt 0309
Bán thành phẩm Loạt 0210
0/10
0/10
0/10
Số chuột chết, liệt hoặc có bệnh lý
224,53%
206,26%
Trung bình tăng trọng 212,09%
Đạt yêu cầu Đạt yêu cầu Đạt yêu cầu
Kết luận
153
Bảng 5.3. Kết quả kiểm tra chất gây sốt của vắcxin dại trên nuôi cấy tế
bào Vero dạng lỏng (VERALVAX)
Sản phẩm
Nhiệt độ tăng của từng thỏ
Kết luận
Tổng nhiệt độ tăng
Thỏ 1
Thỏ 2
Thỏ 3
Đạt yêu cầu
Tiêu chuẩn
Đạt yêu cầu
Loạt 0110
Đạt yêu cầu
Loạt 0210
<0,60C 0,10C 0,40C 0,30C
0,30C 0,10C 0,10C
<1,40C 0,80C 0,70C 0,70C
Đạt yêu cầu
0,40C 0,20C 0,30C
Loạt 0310
Theo kết quả trong Bảng 5.1, Bảng 5.2 và Bảng 5.3, vắcxin dại trên
nuôi cấy tế bào Vero ở cả 2 dạng đông khô và hấp phụ với nhôm phosphate
đều đạt yêu cầu về tính an toàn khi kiểm tra trên động vật thực nghiệm.
5.2.2. Đáp ứng miễn dịch của vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero trên
động vật thí nghiệm
Vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero được sử dụng trong nghiên cứu là
vắcxin được sản xuất ở quy mô phòng thí nghiệm tại Công ty Vắcxin và sinh
phẩm số 1 dưới hai dạng thành phẩm khác nhau là vắcxin đông khô
(VERAPVAX) và vắcxin hấp phụ với nhôm phosphate (VERALVAX). Các
vắcxin này được đánh giá so sánh về đáp ứng miễn dịch với các nhóm chứng
tiêm nước muối sinh lý và nhóm tiêm một vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào
Vero đã được thương mại hóa có hiệu quả phòng bệnh cao trên người
(Verorab của Sanofi-Pasteur, Pháp). Kết quả về đáp ứng miễn dịch trên chuột
đối với các dạng vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero khác nhau được trình
bày trong Bảng 5.4. Giống chuột được lựa chọn trong nghiên cứu này là chuột
NMRI. Đây là giống chuột được nhiều nhà sản xuất sử dụng để đánh giá đáp
154
ứng miễn dịch đối với vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào [8], [39].
Bảng 5.4. So sánh đáp ứng miễn dịch của vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào
Vero do VABIOTECH sản xuất với vắcxin Verorab
Chỉ số
Verorab
Chứng âm
Ngày đánh giá
VERAPVAX Loạt 0309
VERALVAX Loạt 0210
7/10 (70%)
9/10 (90%)
9/10 (90%)
0/10 (-)
Ngày 7
Tỷ lệ*
1,66
4,30
0,22
Mức độ# 1,15
9/10 (90%)
9/10 (90%)
9/10 (90%)
0/10 (-)
Ngày 14
Tỷ lệ*
11,53
21,50
0,30
Mức độ# 10,64
10/10 (100%) 10/10 (100%) 10/10 (100%) 0/10 (-)
Ngày 21
Tỷ lệ*
17,96
24,20
0,22
Mức độ# 17,81
10/10 (100%) 10/10 (100%) 10/10 (100%) 0/10 (-)
Ngày 28
Tỷ lệ*
4,06
14,02
0,32
Mức độ# 4,41
10/10 (80%)
10/10 (100%) 10/10 (100%) 0/10 (-)
Ngày 42
Tỷ lệ*
8,80
18,25
0,12
Mức độ# 3,99
10/10 (100%) 10/10 (100%) 10/10 (100%) 0/10 (-)
Ngày 56
Tỷ lệ*
10,23
27,85
0,33
Mức độ# 2,69
*Tỷ lệ có đáp ứng miễn dịch là tỷ lệ giữa số chuột có kết quả xét nghiệm kháng thể kháng virút dại dương tính trên tổng số chuột được gây miễn dịch #Mức độ đáp ứng miễn dịch được xác định bằng giá trị trung bình nhân (GMT) của các hiệu giá kháng thể kháng virút dại tính theo IU/ml.
Kết quả trong Bảng 5.4 cho thấy chuột nhắt trắng NMRI là mô hình
thực nghiệm thích hợp để đánh giá đáp ứng miễn dịch của vắcxin dại trên
nuôi cấy tế bào Vero. Sau 2 liều tiêm đầu tiên vào ngày 0 và 7, hầu hết chuột
(90%) ở tất cả ba nhóm tiêm vắcxin đã có được đáp ứng miễn dịch bảo vệ.
Kháng thể này tăng cao nhất vào ngày thứ 21 sau đó giảm thấp vào ngày thứ
28. Kháng thể tiếp tục tăng cao cho đến ngày thứ 56 sau khi tiêm liều vắcxin
thứ ba. Kết quả này tương tự với nhiều nghiên cứu khác đã được tiến hành
trên động vật sau khi tiêm các vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero [18], [26]
155
hoặc tế bào phôi gà [8]. Tỷ lệ có đáp ứng miễn dịch giữa các nhóm tiêm
vắcxin là tương đương nhau, tuy nhiên, nhóm tiêm vắcxin Verorab có hiệu giá
kháng thể cao hơn so với các nhóm tiêm vắcxin VERAPVAX và
VERALVAX. Tuy nhiên, có được đáp ứng miễn dịch bảo vệ sớm với hiệu giá
kháng thể ≥0,5 IU/ml mới là yếu tố chính để đánh giá về hiệu lực của vắcxin
dại. Kháng thể sớm sẽ giúp trung hòa virút ngay sau khi xâm nhập vào cơ thể,
giúp ngăn chặn sự lây lan và phát tán của virút theo hệ thống thần kinh từ đó
156
gây ra các bệnh lý nghiêm trọng [52], [55].
KẾT LUẬN
Nuôi cấy và chuẩn bị tế bào Vero
- Vô khuẩn - Mycoplasma - Virút ngoại lai - Virút hấp phụ hồng cầu
Gây nhiễm virút dại vào tế bào Vero
Nuôi cấy vi rút và thu hoạch nước nổi
- Vô khuẩn - Hiệu giá virút (FFD50/0,05 ml)
Tinh sạch hỗn dịch vi rút
Bất hoạt virút
- An toàn đặc hiệu
Cô đặc hỗn dịch vi rút
- Vô khuẩn - Hàm lượng ADN tế
Tinh chế virút
bào tồn dư - Hiệu giá virút (EL.U/ml)
Pha bán thành phẩm
cuối cùng
Sản xuất vắcxin thành phẩm
- An toàn đặc hiệu - Vô khuẩn - Công hiệu - Vô khuẩn - An toàn chung - Chất gây sốt - Thử nghiệm nhận dạng - Các thử nghiệm hóa lý
157
1. Xây dựng đươ ̣c qui trình công nghê ̣ sả n xuấ t vắ cxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero ở qui mô phòng thí nghiê ̣m đả m bả o tính ổ n đi ̣nh và cho hiê ̣u suấ t cao theo cá c công đoa ̣n sau:
2. Sản xuất được các loạt vắc xin dại có chất lượng đạt yêu cầu của Tổ
chức Y tế thế giới và tương đương với các vắc xin cùng loại của nước
ngoài như vắc xin Verorab của Aventis Pasteur
- Dựa trên quy trình công nghệ đã được xây dựng, 03 loạt vắcxin dại trên
nuôi cấy tế bào Vero dạng lỏng hấp phụ nhôm đã đươ ̣c sản xuất ở quy mô
phòng thí nghiệm đạt các tiêu chuẩn chất lượng so với qui định của
TCYTTG về các chỉ số : vô khuẩn, an toàn chung , an toàn đặc hiệu , chất gây sốt, công hiệu và hóa lý:
Nhận dạng : đạt yêu cầu
Vô khuẩn : đạt yêu cầu
pH : đạt yêu cầu (giao động trong khoảng 7,48 - 7,50)
Hàm lượng Thimerosal (%) : đạt yêu cầu (0,0053 - 0,0055)
Công hiệu (IU/1ml): đạt yêu cầu (2,82-3,13).
Hàm lượng nhôm (µg/ml) : đạt yêu cầu (265,53 - 272,50).
An toàn chung trên chuột lang: đạt yêu cầu.
An toàn chung trên chuột nhắt: đạt yêu cầu.
Chất gây sốt: đạt yêu cầu (nhiệt độ tăng từ 0,7 - 0,8oC)
An toàn đặc hiệu (đối với bán thành phẩm tinh chế) : đạt yêu cầu
- Kết quả đánh giá tính an toàn và hiệu lực của vắcxin trên động vật thí
nghiệm cho thấy vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào sản xuất theo qui trình đã đươ ̣c xây dựng đều đa ̣t yêu cầu về an toàn và công hiê ̣u.
Vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero dạng lỏng hấp phụ với nhôm đạt
yêu cầu về tính an toàn chung, an toàn đặc hiệu và chất gây sốt khi kiểm tra trên động vật thực nghiệm.
158
Các dạng vắcxin dại trên nuôi cấy tế bào Vero thành phẩm do
159
VABIOTECH nghiên cứ u sản xuất cho đáp ứng miễn dịch qua các liều tiêm đều tương đương so với vắcxin đã được thương mại (Verorab).
KIẾN NGHỊ
1. Tiến hành thử nghiệm thực địa lâm sàng đánh giá tính an toàn và hiệu
lực gây miễn dịch trên người tình nguyện
2. Đánh giá tính ổn định và hiệu suất của quy trình sản xuất ở quy mô
160
mở rộng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Nguyễn Thị Kiều Anh, Ngô Châu Giang, Nguyễn Vĩnh Đông, Nguyễn
Thị Hồng Hạnh. Thử nghiệm tinh chế virus dại bằng siêu ly tâm qua dung
dịch đường nồng độ 10-40%. Tạp chí Y học dự phòng, 2009, tập XIX, số 7
(106), 88-94.
2. Nguyễn Thị Kiều Anh, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Đinh Kim Xuyến,
Ngô Châu Giang, Nguyễn Vĩnh Đông. Thử nghiệm sản xuất kháng nguyên
vi rút dại tế bào cô đặc bằng phương pháp siêu lọc. Tạp chí Y học dự phòng,
2009, tập XIX, số 7 (106), 95-101.
3. Đinh Kim Xuyến. Nghiên cứu đáp ứng kháng thể và độ an toàn của vắc
xin dại Verorab sản xuất tại Pháp theo phương pháp tiêm bắp và tiêm trong da
trên người Việt Nam tình nguyện. Tạp chí Y học dự phòng, 2003, tập XIII, số
6 (63), 134-139.
4. Đinh Kim Xuyến. Nghiên cứu đáp ứng kháng thể và độ an toàn của
vắcxin dại tế bào, tinh chế , cô đặc, bất hoạt, đông khô sản xuất tại Viện Bại
liệt và Viêm não virút Chumakov của Viện Hàm lâm khoa học Y học liên
bang Nga theo phương pháp tiêm trong da trên người Việt Nam tình nguyện.
Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, 2007.
Tiếng Anh
5. Atanasiu P., Tsiang H., Reculard P., Aguilon F., Lavergne M.,
Adamivicz P. Zonal centrifuge purification of human rabies vaccine abtained
on bovine fetal kidney cells: biological results. Develop. Biol. Standard.,
161
1977, 40, 35-44.
6. Barth R., Franke V. Fetal rhesus monkey lung diploid cell vaccine for
humans. In: Meslin F.-X., Kaplan M.M., Koprowski H. Laboratory techniques in rabies, 4th ed. Geneva, WHO, 1996, 297-300.
7. Barth R., Franke V., Lin F.T. Primary hamster kidney cell vaccine for
humans. In: Meslin F.-X., Kaplan M.M., Koprowski H. Laboratory techniques in rabies, 4th ed. Geneva, WHO, 1996, 306-309.
8. Barth R., Gruschkau H., Bijok U., Hilfenhaus J., Hinz J., Milcke L.,
Moser H., Jaeger O., Ronneberger H., Weinmann E. A new inactivated
tissue culture rabies vaccine for use in man: evaluation of PCEC-vaccine by
laboratory tests. J. Biol. Standard., 1984, 12, 29-46.
9. Berlin B.S. Rabies vaccine adsorbed: neutralizing antibody titers after
three-dose pre-exposure vaccination. AJPH, 1990, 80 (4), 476-478.
10. Berlin B.S., Mitchell J.R., Burgoyne G.H., Brown W.E., Goswick C.
Rhesus diploid rabies vaccine (adsorbed), a new rabies vaccine. JAMA, 1983,
249 (19), 2663-2666.
11. Branche R. Vaccine for humans prepared in human diploid cells. In:
Meslin F.-X., Kaplan M.M., Koprowski H. Laboratory techniques in rabies, 4th ed. Geneva, WHO, 1996, 280-284.
12. CDC. Current trends rabies vaccine, adsorbed: a new rabies vaccine for
use in humans. MMWR, 1988, 37 (14), 217-223.
13. CDC. Human rabies prevention-United States, 2008: Recommendation
of advisory committee on Immunization practices. MMWR, 2008, 57(RR03),
1-28.
14. El-Karamany R.M. Production in Vero cells of an inactivated rabies
vaccine from strain FRV/K for animal and human use. Acta Virol, 1987, 31,
162
321-328.
15. European Pharmacopoeia. Rabies vaccine, 2003.
16. Fangtao L. The protective effect of the large-scale use of PHKC rabies
vaccine in humans in China. Bull. World Health Org., 1990, 68 (4), 449-454.
17. Fournier-Caruana J., Poirier B., Haond G., Jallet C., Fuchs F.,
Tordo N., Perin P. Inactivated rabies vaccine control and release: use of an
ELISA method. Biologicals, 2003, 31, 9-16.
18. Frazatti-Gallina N. M., Mourao-Fuches R. M., Paoli R. L., Silva
M.L. N., Miyaki C., Valentini E. J. G., Raw I., Higashi H. G. Vero-cell
rabies vaccine produced using serum-free medium. Vaccine, 2004, 23, 511-
517.
19. Frazzati-Gallina N.M., Paoli R.L., Mourao-Fuches R.M., Jorge
S.A.C., Pereira C.A. Higher production of rabies virus in serum-free medium
cell cultures on microcarriers. J. Biotechnol., 2001, 92, 62-72.
20. Hilfenhaus J., Kole R., Barth R., Majer M., Mauler R. Large-scale
purification of animal viruses in the RK-model zonal ultracentrifuge. J. Biol.
Standard., 1976, 4, 263-271.
21. Horaud F. Viral vaccines and residual cellular DNA. Biologicals, 1995,
23, 225-228.
22. Kammer A.R., Ertl H.C.J. Rabies vaccine: From the past to the 21st
century. Hybridoma and Hybridomics, 2002, 21 (2), 123-127.
23. Kumar A.A.P., Mani K.R., Palaniappan C., Bhau L.N.R.,
Swaminathan K. Purification, potency and immunogenicity analysis of Vero
cell culture-derived rabies vaccine: a comparative study of single-step column
chromatography and zonal centrifuge purification. Microbes and infection,
163
2005, 23-30.
24. Kumar A.A.P., Rao Y.U.B., Joseph A.L.W., Mani K.R.,
Swaminathan K. Process standardization for optimal virus recovery and
removal of substrate DNA and bovine serum proteins in Vero cell-derived
rabies vaccine. J. Bioscience and bioengineering, 2002, 94 (5), 375-383.
25. Lyng J., Bentzon M.W., Ferguson M., Fitzgerald E.A. Rabies vaccine
standardization: international collaborative study for the characterization of
the fifth international standard for rabies vaccine. Biologicals, 1992, 20, 301-
313.
26. Mendonca R.Z., Ioshimoto L.M., Mendonca R.M.Z., De-Franco M.,
Valentini E.J.G., Becak W., Raw I., Pereira C.A. Preparation of human
rabies vaccine in Vero cell culture using a microcarrier system. Brazillian J.
Med. Biol. Res., 1993, 26, 1305-1317.
27. Meslin F.X., Kaplan M.M. General considerations in the production
and use of brain-tissue and purified chicken-embryo rabies vaccine for human
use. In: Meslin F.-X., Kaplan M.M., Koprowski H. Laboratory techniques in rabies, 4th ed. Geneva, WHO, 1996, 223-233.
28. Michell J.R., Everest R.E., Anderson G.R. Sensitive procedure for
detecting residual viable virus in inactivated rabies vaccine. Appl. Microbiol.,
1971, 22 (4), 600-603.
29. Montagnon B. J. Polio and rabies vaccine produced in continuous cell
lines: A reality for Vero cell line. Develop. Biol. Standard., 1989, 70, 27-47.
30. Montagnon B.J, Fanget B. Purified Vero cell vaccine for human. In:
Meslin F.-X., Kaplan M.M., Koprowski H. Laboratory techniques in rabies, 4th ed. Geneva, WHO, 1996, 285-289.
31. Montagnon B.J. Polio and rabies vaccines produced in continuous cell
164
lines: a reality for Vero cell line. Develop. Biol. Standard., 1989, 70, 27-47.
32. Montagnon B.J., Vincent-Falquet J.C. Experience with the Vero cell
line. Dev. Biol. Stand., 1998, 93, 119-123.
33. Morgeaux S., Tordo N., Gontier C., Perrin P. β-propiolactone
treatment impairs the biological activity of residual DNA from BHK-21 cell
infected with rabies virus. Vaccine, 1993, 11(1), 82-90.
34. Nicholson K.G. Cell-culture vaccines for human uses general
considerations. In: Meslin F.-X., Kaplan M.M., Koprowski H. Laboratory techniques in rabies, 4th ed. Geneva, WHO, 1996, 271-280.
35. NIID. Free-dried inactivated tissue culture rabies vaccine. Minimum
requirement for Biological products, 2006, 37-40.
36. Perez O., Paolazzi C.C. Production methods for rabies vaccine. J.
Inducstrial. Micro. Biotech., 1997, 18, 340-347.
37. Perrin P., Lafon M., Sureau P. Enzyme-linked immunosorbent assay
(ELISA) for the determination of the glycoprotein content of rabies vaccines.
In: Meslin F.-X., Kaplan M.M., Koprowski H. Laboratory techniques in rabies, 4th ed. Geneva, WHO, 1996,383-388.
38. Perrin P., Morgeaux S. Inactivation of DNA by β-propiolactone.
Biologicals, 1995, 23, 207-211.
39. Ronneberger H., Gruschkau H., Majer M. Rabies vaccine HDC:
toxicological studies in laboratory animals. Develop. Biol. Standard., 1977,
40, 215-220.
40. Singh H. β-propiolactone-inactivated sheep brain vaccine. In: Meslin F.- X., Kaplan M.M., Koprowski H. Laboratory techniques in rabies, 4th ed.
165
Geneva, WHO, 1996, 234-242.
41. Sizaret P. General consideration in testing the safety and potency of
rabies vaccines. In: Meslin F.-X., Kaplan M.M., Koprowski H. Laboratory techniques in rabies, 4th ed. Geneva, WHO, 1996, 355-358.
42. Smith J.S., Yager P.A., Baer G.M. A rapid fluorescent focus inhibition
test (RFFIT) for determining rabies virus-neutralizing antibody. In: Meslin F.- X., Kaplan M.M., Koprowski H. Laboratory techniques in rabies, 4th ed.
Geneva, WHO, 1996,181-193.
43. Swanson M.C., Rosanoff E., Gurwith M., Deitch M.,
Schnurrenberger P., Reed C.E. IgE and IgG antibodies to β-Propiolactone
and human serum albumin associated with urticarial reactions to rabies
vaccine. J. Infect. Dis., 1987, 155 (5), 909-913.
44. Thraenhart O., Ramakrishnan K. Standardization of an enzyme
immunoassay for the in vitro potency assay of inactivated tissue culture rabies
vaccines: determination of the rabies virus glycoprotein with polyclonal
antisera. J. Biol. Standard., 1989, 17, 291-309.
45. Toovey S. Preventing rabies with the Verorab vaccine: 1985-2005
twenty years of clinical experience. Travel Med. Infect. Dis., 2007, 5, 327-
348.
46. Tordo N. Characteristics and molecular biology of rabies virus. In:
Meslin F.-X., Kaplan M.M., Koprowski H. Laboratory techniques in rabies, 4th ed. Geneva, WHO, 1996, 28-51.
47. Trabelsi K., Rourou S., Loukil H., Majoul S., Kallel H. Comparison
of various culture modes for the production of rabies virus by Vero cells
grown on microcarriers in a 2-l bioreactor. Enzyme Microbial Technology,
166
2005, 36, 514-519.
48. Trabelsi K., Rourou S., Loukil H., Majoul S., Kallel H. Optimization
of virus yield as a strategy to improve rabies vaccine production by Vero cells
in bioreactor. J. Biotechnol., 2006, 121, 261-271.
49. US Pharmacopoeia. Rabies vaccine. 2000.
50. Van Wezel A.L., van der Marel P., van Beveren C.P., Salk P.L., Salk
J. Detection and elimination of cellular nucleic acids in biological produced
on continuous cell lines. Develop. Biol. Standard., 1982, 50, 59-69.
51. Vincent-Falquet J.C., Peyron L., Souvras M., Moulin J.C., Tektoff
J., Patet J. Qualification of working cell banks for the Vero cell line to
produce licensed human vaccines. Develop. Biol. Standard., 1989, 70, 153-
156.
52. Warrell M. J., Warrell D.A. Rabies and other Lyssavirus diseases.
Lancet, 2004, 363, 959-969.
53. WHO. Requirement for the use of animal cells as in vitro substrates for
the production of biologicals. WHO Expert Committee on Biological
Standardization, 1998, Annex 1, WHO Technical Report Series, No. 878.
54. WHO. Recommendations for inactivated rabies vaccine for human use
produced in cell substrates and embryonated eggs. WHO Technical Report
Series, 2007, 941.
55. WHO. WHO position paper on rabies vaccines. Weekly epidemiological
record, 2007, 82, 425-436.
56. WHO. WHO study group on cell substrates for production of
167
biologicals. WHO meeting report, 2007.
57. Wiktor T.J., Aaslestad H.G., Kaplan M.M. Immunogenicity of rabies
virus inactivated by β-propiolactone, acetylethyleneimine, and ionizing
irradiation. Appl. Microbiol., 1972, 23 (5), 914-918.
58. Wilbur L.A., Aubert M.F.A. The NIH test for potency. In: Meslin F.- X., Kaplan M.M., Koprowski H. Laboratory techniques in rabies, 4th ed.
Geneva, WHO, 1996, 360-368.
59. Yokomizo A.Y., Antoniazzi M.M., Galdino P.L., Azambuja N., Jorge
S.A.C., Pereira C.A. Rabies virus production in high Vero cell density
cultures on macroporous microcarriers. Biotechnology and Bioengineering,
2004, 85 (5), 506-515.
60. Yoneyama T., Zibai Q., Miyamura T. A sensitive method for the
detection of residual cell DNA in a recombinant hepatitis B vaccine prepared
168
from Chinese hamster ovary cells. J. Biol. Standard., 1989, 17, 371-375.

