Cam kết về thương mại dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục của Việt Nam

Chia sẻ: Hoang Mai Anh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:19

1
188
lượt xem
42
download

Cam kết về thương mại dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục của Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, lĩnh vực dịch vụ phát triển vô cùng nhanh chóng và là khu vực đầu tư siêu lợi nhuận. Từ một ngành phát triển tự phát, chiếm tỉ trọng không đáng kể, giờ đây dịch vụ đã trở thành một ngành mũi nhọn của nhiều quốc gia, đóng góp rất lớn vào tăng trưởng kinh tế cũng như tạo việc làm nhiều hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác. Tiếp nối xu thế tự do hóa thương mại dịch vụ trên thế giới, các ngành dịch vụ Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cam kết về thương mại dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục của Việt Nam

  1. ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: Nội dung cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục và tác động của cam kết đối với lĩnh vực giáo dục của Việt Nam 1
  2. ĐỀ TÀI: Nội dung cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục và tác động của cam kết đối với lĩnh vực giáo dục của Việt Nam. CHƯƠNG I: MỤC LỤC A. LỜI MỞ ĐẦU B. PHẦN NỘI DUNG 1. Khái quát về hiệp định thương mại dịch vụ (GATS) 2. Cam kết của Việt Nam về dịch vụ giáo dục 2.1. Phạm vi dịch vụ giáo dục được phép cung cấp 2.2. Vấn đề giáo dục cho học sinh Việt Nam 2.3. Vấn đề thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam 3. Ảnh hưởng của GATS tới dịch vụ giáo dục Việt Nam 3.1 Thực trạng chung 3.2 Ảnh hưởng trên các lĩnh vực 3.2.1. Giáo dục mầm non 3.2.2. Giáo dục tiểu học và trung học 3.2.3. Giáo dục đại học 3.2.4. Dịch vụ giáo dục khác 4. Đánh giá chung về tác động của WTO đến lĩnh vực giáo dục – đào tạo: 4.1. Mặt tích cực 4.1.1. Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục được phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của xã hội 4.1.2 Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo đã có tiến bộ. 4.1.3 Tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước đã được công nhận chuẩn quốc gia về xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và đang thực hiện phổ cập trung học cơ sở. 4.1.4 Công tác xã hội hoá giáo dục và việc huy động nguồn lực cho giáo dục đã đạt được những kết quả bước đầu. 4.1.5 Công bằng xã hội trong giáo dục đã được cải thiện 4.1.6 Công tác quản lý giáo dục đã có nhiều chuyển biến. 5. Một số giải pháp phát triển giáo dục – đào tạo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 5.1. Giải pháp cấp hệ thống 5.2. Giải pháp cấp trường 5.2.1. Củng cố phát triển hệ thống trường học 5.2.2. Nâng cao chất lượng giáo dục 5.2.3. Xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học 5.3. Vai trò của xã hội dân sự C. KẾT LUẬN 2
  3. CHƯƠNG II: PHẦN BÀI LUẬN A. LỜI MỞ ĐẦU Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, lĩnh vực dịch vụ phát triển vô cùng nhanh chóng và là khu vực đầu tư siêu lợi nhuận. Từ một ngành phát triển tự phát, chiếm tỉ trọng không đáng kể, giờ đây dịch vụ đã trở thành một ngành mũi nhọn của nhiều quốc gia, đóng góp rất lớn vào tăng trưởng kinh tế cũng như tạo việc làm nhiều hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác. Tiếp nối xu thế tự do hóa thương mại dịch vụ trên thế giới, các ngành dịch vụ Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Đặc biệt, từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO và kí Hiệp định về Thương mại dịch vụ GATS, khu vực dịch vụ càng phát triển sôi động hơn bao giờ hết. Đặc biệt là sự chuyển mình rõ rệt trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, một vấn đề trọng tâm quyết định tương lai của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Để đánh giá hết những tác động của Hiệp định GATS tới giáo dục, chắc chắn không phải chỉ một vài trang giấy có thể diễn tả hết được. Xuất phát từ thực tế này và nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục - đào tạo trong thời đại mới, nhóm 1 chúng tôi xin trình bày đề tài của mình là “Nội dung cam kết của Việt Nam đối với lĩnh vực giáo dục và tác động của cam kết đối với lĩnh vực giáo dục của Việt Nam” B. PHẦN NỘI DUNG 1. Khái quát về hiệp định thương mại dịch vụ (GATS) Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (tiếng Anh: General Agreement on Trade in Services, viết tắt là GATS) là một hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Hiệp định được ký kết sau khi kết thúc Vòng đàm phán Uruguay và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1995. Hiệp định được thiết lập nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của hệ thống thương mại đa phương sang lĩnh vực dịch vụ chứ không chỉ điều chỉnh một mình lĩnh vực thương mại hàng hóa như trước đó. Tất cả các thành viên của WTO đều tham gia GATS. Các nguyên tắc cơ bản của WTO về đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia cũng đều áp dụng với GATS. Trong suốt một thời gian dài, người ta cho rằng không cần thiết phải có một hiệp định về thương mại dịch vụ vì theo truyền thống, hầu hết các hoạt động dịch vụ đều là những hoạt động diễn ra trong phạm vi của một quốc gia và khó có thể tiến hành giao dịch qua biên giới. Chẳng hạn như khi chúng ta đi cắt tóc hoặc đi khám bệnh, thường thì cả người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ đều là người trong cùng một nước. Hơn nữa, một số lĩnh vực như vận tải đường sắt hay viễn thông thường được xem như những lĩnh vực mà nhà nước nắm toàn quyền sở hữu và kiểm soát do tầm quan trọng về cơ sở hạ tầng 3
  4. của chúng cũng như bản chất độc quyền tự nhiên của chúng. Những lĩnh vực quan trọng khác như y tế, giáo dục, và dịch vụ bảo hiểm cơ bản được nhiều quốc gia coi là bổn phận của nhà nước do tầm quan trọng của chúng đối với xã hội và liên kết các vùng miền. Vì thế, những lĩnh vực dịch vụ này được kiểm soát rất chặt chẽ và việc cung cấp chúng không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tài chính quốc tế và vận tải biển, từ hàng thế kỷ nay đã có sự trao đổi xuyên biên giới. Chúng là những lĩnh vực hỗ trợ đắc lực cho thương mại hàng hóa phát triển. Những lĩnh vực khác cũng đang trải qua những thay đổi cơ bản mang tính kỹ thuật cũng như những thay đổi về luật lệ điều chỉnh, dẫn đến việc tham gia ngày càng nhiều hơn của khu vực tư nhân và sự giảm dần các hàng rào cản trở cho những ai muốn tham gia. Sự phát triển của giao thông vận tải, thông tin liên lạc và Internet cũng khiến cho ngày càng có nhiều loại dịch vụ có thể thực hiện được khi người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ có quốc tịch khác nhau. Những dịch vụ như ngân hàng điện tử, khám bệnh từ xa, hay du học, phát triển được chính là nhờ điều đó. Nhiều chính phủ cũng đã cho phép cạnh tranh trong những lĩnh vực dịch vụ trước đây họ giữ độc quyền, chẳng hạn như viễn thông. 2. Cam kết của Việt Nam về dịch vụ giáo dục 2.1. Phạm vi dịch vụ giáo dục được phép cung cấp Theo nội dung cam kết, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài chỉ được phép cung cấp dịch vụ giáo dục trong các lĩnh vực sau: _ Kỹ thuật _ Khoa học tự nhiên và công nghệ _ Quản trị kinh doanh và khoa học kinh doanh _ Kinh tế học _ Kế toán _ Luật quốc tế _ Đào tạo ngôn ngữ Với tuyệt đại đa số các ngành khoa học xã hội, Việt Nam chưa cam kết mở cửa thị trường cho các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nước ngoài. 2.2. Vấn đề giáo dục cho học sinh Việt Nam Theo nội dung cam kết, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài chỉ được cung cấp dịch vụ giáo dục đối với các bậc giáo dục từ đại học trở lên, bao gồm giáo dục nâng cao, giáo dục cho người lớn và giáo dục khác. Đối với các bậc giáo dục từ trung học cơ sở trở xuống, Việt Nam chưa cam kết mở cửa thị trường cho các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nước ngoài. Tình huống giả định 4
  5. Một trường quốc tế được thành lập theo giấy phép đầu tư năm 1996 để cung cấp dịch vụ giáo dục tiểu học và trung học cơ sở cho trẻ em nước ngoài sinh sống tại Việt Nam. Tháng 7/2008, trường xin phép được tuyển học sinh quốc tịch Việt Nam. Như đã giải thích ở trên, với các bậc giáo dục từ trung học cơ sở trở xuống, Việt Nam chưa cam kết mở cửa thị trường cho các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nước ngoài. Vì vậy, cơ quan quản lý có quyền từ chối đề nghị của nhà trường. 2.3. Vấn đề thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam _ Đối với dịch vụ giáo dục phổ thông, Việt Nam chưa cam kết mở cửa thị trường cho các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nước ngoài. _ Đối với dịch vụ giáo dục nâng cao, bao gồm giáo dục đại học, giáo dục cho người lớn và giáo dục khác, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được thành lập liên doanh (không hạn chế tỷ lệ góp vốn của phía nước ngoài) ngay từ khi gia nhập. Kể từ ngày 01/01/2009, họ được thành lập các cơ sở đào tạo 100% vốn nước ngoài. _ Các cơ sở đào tạo có vốn đầu tư nước ngoài được thuê giáo viên nước ngoài giảng dạy nhưng các giáo viên này phải có tối thiểu 5 năm kinh nghiệm giảng dạy và phải được Bộ Giáo dục và Đào tạo của Việt Nam công nhận về mặt chuyên môn. Tình huống giả định _ Công ty ASI của Canada muốn đầu tư xây dựng làng giáo dục quốc tế 100% vốn nước ngoài để cung cấp dịch vụ mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông cho con em người nước ngoài và Việt kiều đang sinh sống tại Việt Nam và học sinh Việt Nam. Như đã giải thích ở trên, với các bậc giáo dục từ trung học cơ sở trở xuống, Việt Nam chưa cam kết mở cửa thị trường cho các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục nước ngoài. Vì vậy, cơ quan quản lý có quyền từ chối đề nghị của công ty. _ Công ty APO của Anh xin thành lập trường đại học 100% vốn nước ngoài để giảng dạy chương trình cao đẳng và cử nhân cho sinh viên Việt Nam (đã tốt nghiệp phổ thông trung học). Theo cam kết, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài chỉ được mở cơ sở đào tạo 100% vốn nước ngoài kể từ ngày 01/01/2009. Ngoài ra, phạm vi ngành đào tạo chỉ bao gồm các lĩnh vực kỹ thuật, khoa học tự nhiên, công nghệ, quản trị kinh doanh và khoa học kinh doanh, kinh tế học, kế toán, luật quốc tế và đào tạo ngôn ngữ. Do đó, công ty cần chờ tới ngày 10/01/2009 để được cấp phép. Khi cấp phép, cơ quan quản lý có quyền hạn chế ngành đào tạo của trường đại học theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO. Phương thức cung cấp: (1) Cung cấp qua biên giới (2) Tiêu dùng ở nước ngoài (3) Hiện diện thương mại (4) Hiện diện của thể nhân Ngành và phân ngành Hạn chế tiếp cận thị trường Hạn chế đối xử quốc gia 5
  6. 5 DỊCH VỤ GIÁO DỤC Chỉ cam kết các lĩnh vực kỹ thuật, khoa học tự nhiên và công nghệ, quản trị kinh doanh và khoa học kinh doanh, kinh tế học, kế toán, luật quốc tế và đào tạo ngôn ngữ. Đối với các phân ngành (C), (D) và (E) dưới đây: Chương trình đào tạo phải được Bộ Giáo dục và Đào tạo của Việt Nam phê chuẩn. B. Dịch vụ giáo dục phổ (1) Chưa cam kết. (1) Chưa cam kết. thông cơ sở (CPC 922) (2) Không hạn chế. (2) Không hạn chế. (3) Chưa cam kết. (3) Chưa cam kết. (4) Chưa cam kết, trừ các (4) Chưa cam kết, trừ các cam kết chung. cam kết chung. C. Giáo dục bậc cao (1) Chưa cam kết. (1) Chưa cam kết. (CPC 923) D. Giáo dục cho người lớn (2) Không hạn chế. (2) Không hạn chế. (CPC 924) E. Các dịch vụ giáo dục khác (3) Không hạn chế, ngoại (3) Giáo viên nước ngoài (CPC 929 bao gồm đào tạo trừ: làm việc tại các cơ sở đào tạo ngoại ngữ ) _Kể từ ngày gia nhập, chỉ có vốn đầu tư nước ngoài cho phép thành lập liên phải có tối thiểu 5 năm kinh doanh. Cho phép phía nước nghiệm giảng dạy và phải ngoài sở hữu đa số vốn trong được Bộ Giáo dục và Đào liên doanh. Kể từ ngày tạo của Việt Nam công nhận 1/1/2009 sẽ cho phép thành về chuyên môn. lập cơ sở đào tạo 100% vốn đầu tư nước ngoài. _Sau 3 năm kể từ ngày gia nhập: không hạn chế. (4) Chưa cam kết, trừ các (4) Chưa cam kết, trừ các cam kết chung. cam kết chung. (Trích Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ - Danh mục miễn trừ đối xử Tối huệ quốc theo Điều II) 6
  7. 3. Ảnh hưởng của GATS tới dịch vụ giáo dục Việt Nam 3.1 Thực trạng chung Trên toàn quốc, đầu tư nước ngoài vào giáo dục tại Thành phố Hồ Chí Minh đến trước năm 2010 đã có đến 60 dự án với tổng vốn đầu tư hơn 4 tỷ USD. Trong đó đa số thực hiện theo hình thức 100% vốn nước ngoài (3,566 tỷ USD). Tại Hà Nội, đến đầu năm 2010, đã có nhiều hình thức đầu tư, liên kết, hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực đào tạo. Một dạng là các cơ sở văn hóa giáo dục nước ngoài hoạt động để phát triển giáo dục, giao lưu văn hóa, không thu lợi nhuận. Một dạng khác là doanh nghiệp giáo dục. Thực tế, các dự án có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo tại Hà Nội có đến gần 100 cơ sở, trong đó được thẩm định và cấp phép hoạt động chỉ 20 cơ sở như Trường Quốc tế Hà Nội, Trung tâm Đào tạo APOLO, Công ty Language Link… Trong số những cơ sở đã có phép, 16 cơ sở có 100% vốn đầu tư nước ngoài. Các cơ sở này ngoài đào tạo ngoại ngữ, quản trị kinh doanh, phần lớn là cung cấp dịch vụ giáo dục ở các bậc học từ mầm non đến Trung học phổ thông, sử dụng chương trình, giáo trình của nước ngoài như Mỹ, Anh, Úc, Nhật Bản… Đầu tư vào giáo dục ở Việt Nam được coi là lĩnh vực siêu lợi nhuận, trái ngược với ở các nước tiên tiến. Trong lúc chương trình giáo dục trong nước lạc hậu đã tạo tâm lý không yên tâm cho các phụ huynh, nhiều gia đình có điều kiện nếu không gửi con ra nước ngoài du học tự túc thì cũng cho học tại các trường quốc tế. Trong thời buổi hội nhập và kinh tế phi tập trung hóa, đó là xu hướng tất yếu trong việc chọn lựa con đường phát triển cho thế hệ tương lai. Điều đó đồng thời đặt ra cho những nhà quản lý giáo dục, quản lý đất nước những suy nghĩ mang tính nguyên tắc: Phải thay đổi căn bản cả một nền giáo dục, từ triết lý đến mục đích, từ phương pháp đến nội dung; mà trong đó học sinh-sinh viên là đối tượng cốt yếu. Chỉ riêng “Đề án đổi mới giáo dục bậc phổ thông” 70 ngàn tỷ vừa qua và những ý kiến phản biện của các nhà chuyên môn đã cho thấy câu chuyện đổi mới giáo dục không hề đơn giản. Tại Đối thoại thường niên lần thứ 2 giữa lãnh đạo Bộ Giáo dục – Đào tạo và nhóm các nhà tài trợ quốc tế cho giáo dục cho thấy, đến năm 2009, tổng nguồn vốn từ nước ngoài đang được sử dụng trong các dự án giáo dục tại Việt Nam là 825,4 triệu USD. Trong những năm tới, sẽ cần khoảng 50 triệu USD để tới năm 2020, 100% trường tiểu học trên cả nước học 2 buổi/ngày. 3.2 Ảnh hưởng trên các lĩnh vực 3.2.1. Giáo dục mầm non: Về qui mô đào tạo, các trường mầm non quốc tế hiện nay đã được hình thành khá nhiều trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Theo số liệu thống kê của niên học 2006 – 7
  8. 2007, tổng số lớp học của trường mầm non quốc tế 82 lớp, với số lượng học sinh theo học là 1056. Về chất lượng đào tạo, các trường mầm non quốc tế đã tạo ra một môi trường giao tiếp bằng tiếng Anh. Ngoài việc học tập qua việc nghe và nói bằng tiếng Anh, các bé còn được nhà trường dạy vẽ, học tô màu, xếp hình, học tiếng Việt, học nhạc qua hình thức đàn hát cũng như vui chơi trên máy vi tính. Chính mô hình của các trường mầm non quốc tế đã thúc đẩy, tạo xu thế cạnh tranh để các trường Việt Nam thi đua và thực hiện hiện đại hóa nhà trường phục vụ cho yêu cầu phục vụ nhân dân và xã hội. Về cơ sở vật chất, các trường mầm non quốc tế không chỉ chú trọng đầu tư về chất lượng mà còn rất quan tâm đến cơ sở vật chất của trường. Có thể nói rằng, các trường mầm non quốc tế đã xây dựng một mô hình khá chuẩn. Qua khảo sát, hầu hết các trường mầm non quốc tế đều rất rộng rãi và bài trí màu sắc khá đẹp mắt, khuôn viên trường thoáng mát, có khu vận động cho các bé, bếp ăn đạt yêu cầu của Sở Y tế. Bàn ghế, vật dụng phục vụ cho việc học tập đều đạt chuẩn. Về trình độ giáo viên, công tác tuyển giáo viên giảng dạy tại các trường được Ban Giám hiệu chú trọng vào kinh nghiệm giảng dạy, năng lực chuyên môn và thành tích nổi bật trong việc giảng dạy. Hầu hết các giáo viên đều tốt nghiệp chuyên ngành sư phạm và đạt tiêu chuẩn. Mặc dù vậy, nhưng các trường mầm non quốc tế cũng có những điểm yếu. Do mặt bằng chủ yếu đi thuê nên giá học phí bị đẩy lên khá cao. Nhiều trường diện tích sân chơi rất nhỏ, thiếu mảng xanh học đường theo quy định nên không thể trang bị những đồ chơi mang tính vận động cho các em. Chính vì thế nhiều trường tuy thu giá học phí cao nhưng chất lượng chưa hẳn đã xứng tầm. Mặt khác, do lương của giáo viên ở các trường mầm non quốc tế khá cao nên một số giáo viên ở trường công lập đã chuyển sang dạy ở các trường mầm non quốc tế. Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc thiếu hụt giáo viên giỏi ở các trường mầm non công lập, do đó về lâu dài sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của các trường mầm non công lập. 3.2.2. Giáo dục tiểu học và trung học: Về qui mô đào tạo, các trường có yếu tố nước ngoài ở bậc giáo dục tiểu học đã được hình thành khoảng 10 năm và những năm gần đây đã phát triển mạnh mẽ. Với qui mô đào tạo như hiện nay, các cơ sở đạo tào có yếu tố nước ngoài ở bậc tiểu học đã góp phần mở rộng sự lựa chọn cho người học. Hiện nay trên Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 30 trường, có thể chia thành 3 dạng cơ bản _ Trường dạy hoàn toàn chương trình nước ngoài, có sự kiểm định của các tổ chức giáo dục quốc tế, học sinh được cấp bằng quốc tế. Các trường này chủ yếu dạy cho con em người nước ngoài. Hiện một số trường được phép thí điểm nhận học sinh Việt Nam (riêng với học 8
  9. sinh Việt Nam, phải dạy thêm môn tiếng Việt (với học sinh tiểu học, trung bình học 2 tiết/ngày); và môn văn, sử, địa Việt Nam (với học sinh trung học, học 2 tiết/tuần). Tuy nhiên, học sinh không phải thi các môn này và không được cấp bằng tốt nghiệp của Bộ Giáo dục và đào tạo). _ Trường dạy song song chương trình Việt Nam và nước ngoài. Ở chương trình Việt Nam, việc học, thi, lấy bằng cấp của Bộ Giáo dục – Đào tạo Việt Nam thì theo quy định chung. Ở chương trình nước ngoài, tự đội ngũ chuyên môn của mỗi trường chọn lọc, thiết kế hoặc liên kết với các trường ở nước ngoài xây dựng chương trình theo chuẩn giáo dục của một số quốc gia tiên tiến. _ Trường dạy chương trình Việt Nam theo quy định chung và dạy tăng cường một số môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh theo giáo trình tự chọn hoặc tự soạn. Về chất lượng đào tạo, các cơ sở đào tạo bậc tiểu học và trung học đều áp dụng phương pháp giảng dạy mới, hiện đại, khơi dậy tính sáng tạo, hứng thú của học sinh và kết hợp với nhiều hoạt động hỗ trợ như ngoại khóa, tham quan, thực hành, phát huy tối đa khả năng và tiềm năng của từng cá nhân học sinh. Ngoài ra, trường cũng tạo ra một môi trường rèn luyện tiếng Anh khá tốt. Ở trường hầu như mọi sinh hoạt, thông báo đều sử dụng tiếng Anh. Chương trình giảng dạy mặc dù theo chương trình của Bộ Giáo dục - đào tạo nhưng được dạy theo phương pháp khác, tạo sự năng động và sáng tạo cho học sinh. Thêm vào đó, học sinh của các trường tiểu học có yếu tố nước ngoài không phải đi học thêm quá nhiều, phần lớn bài học được giải quyết ở trường. Có thể nói rằng, các trường có yếu tố nước ngoài đã thúc đẩy, tạo xu thế cạnh tranh để phát triển Việt Nam, thúc đẩy các trường Việt Nam thi đua thực hiện hiện đại hóa nhà trường, tăng cường khả năng đáp ứng yêu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân và xã hội. Ngoài ra, một số trường dạy theo chương trình Anh, Mỹ và cấp bằng của nước đó đã tạo điều kiện cho học sinh có thể du học thuận lợi hơn sau khi tốt nghiệp. Đa số học sinh của các trường Quốc tế trong đều hoàn thành chương trình lớp 12 và tốt nghiệp tú tài Quốc tế và được tuyển thẳng vào các trường đại học trong khu vực Châu Á, Vương quốc Anh, Mỹ, Úc, Canada và một số quốc gia khác. Nguyên nhân là do các trường này đều có chương trình liên thông với bậc đại học, cao đẳng ở nước ngoài. Các trường này cũng đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các nhà đầu tư nước ngoài và những người nước ngoài khác công tác tại Thành phố Hồ Chí Minh khi họ mang con cái đi theo. Về cơ sở vật chất, các trường có yếu tố nước ngoài đều tăng cường trang thiết bị giáo dục nhằm hỗ trợ công tác giảng dạy và sửa chữa, mở rộng, nâng cấp phòng ốc và sân bãi tập luyện rèn luyện thể chất đảm bảo cho việc giảng dạy và học môn giáo dục thể chất. Về trình độ giảng viên, do sự phát triển lâu dài và vì sự cạnh tranh khá rõ rệt, nên hầu hết các trường đều nỗ lực đầu tư lớn và thỏa đáng về nhân lực như đội ngũ quản lý, giáo viên. Song song đó, do đặc thù của ngành nghề, nhìn từ thực tế các trường có yếu tố nước 9
  10. ngoài hiện nay, tuyệt đại đa số nhà đầu tư và nhà quản lý, điều hành ở các trường này được đào tạo bài bản về nghiệp vụ quản lý, nghiệp vụ sư phạm; nhiều người có học hàm, học vị cao, hoặc là những nhà đầu tư có uy tín và kinh nghiệm. Đội ngũ giáo viên giảng dạy ở các trường có yếu tố nước ngoài gồm giáo viên nước ngoài và giáo viên Việt Nam. Các giáo viên nước ngoài được tuyển dụng đều có bằng cấp giáo dục, sư phạm và hơn 90% giáo viên nước ngoài đang công tác được cấp giấy phép lao động. Các giáo viên Việt Nam khi tham gia giảng dạy tại các trường này đều liên tục được tạo điều kiện tham gia các khóa học nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ tại Việt Nam cũng như ở nước ngoài nhằm nâng cao chất lượng và cập nhật những kiến thức mới. Hầu hết các trợ giảng người Việt Nam đều là những người có bằng tốt nghiệp đại học Sư Phạm, giáo dục, ngoại ngữ… Chính những yếu tố trên đã giúp cho đội ngũ giáo viên của ta có cơ hội nâng cao nghiệp vụ giảng dạy, tiếp cận các phương pháp giảng dạy tiên tiến. 3.2.3. Giáo dục đại học Về qui mô đào tạo, các chương trình đào tạo quốc tế tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ trước cả khi chúng ta gia nhập WTO. Trong khoảng 10 năm trở lại đây, các chương trình đào tạo quốc tế được hình thành ở Việt Nam với các đối tác Mỹ, Nga, Đức, Trung Quốc, Pháp, Hà Lan, Úc…. hoặc độc lập hoàn toàn như RMIT (Học viện Công nghệ Hoàng gia Melbourne). Mỗi năm lại thêm nhiều cơ sở đào tạo từ cao đẳng đến thạc sĩ được mở ra để đáp ứng nhu cầu “quốc tế hóa” của sinh viên Việt Nam. Như vậy, theo như cam kết của WTO trong lĩnh vực giáo dục đại học, những cánh cửa đại học mới sẽ được mở ra, tạo thêm điều kiện cho sinh viên Việt Nam có những lựa chọn mới, đồng thời đây cũng là cách tiếp cận nhanh nhất với những phương pháp học tiên tiến trên thế giới. Về chất lượng đào tạo, các chương trình độc lập hoàn toàn sẽ tuyển sinh trực tiếp qua hồ sơ, bài luận và phỏng vấn cùng khả năng tiếng Anh để tham gia chương trình đào tạo với giáo viên nước ngoài, hoặc giáo viên Việt Nam giảng dạy bằng tiếng Anh. Môi trường học quốc tế với sinh viên đến từ một số quốc gia khu vực. Chất lượng đào tạo trung bình ở tầm quốc tế, nghiêng về thực hành nhiều hơn. Các chương trình liên kết đào tạo do các cơ sở trong và ngoài công lập Việt Nam triển khai với một hoặc nhiều đối tác nước ngoài như chương trình đào tạo thạc sĩ quản trị kinh doanh của Đại học Kinh tế TP.HCM phối hợp với Đại học Curtin của Úc, thạc sĩ Kinh tế phát triển của Đại học Kinh tế TPHCM phối hợp Viện ISS của Hà Lan, thạc sĩ quản trị kinh doanh của Đại học Mở phối hợp với Đại học Bruxell của Bỉ… Điểm chung của các chương trình này là mô hình phi lợi nhuận, được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa các đối tác và giảng dạy tại Việt Nam. Học phí thường thấp hơn so với đào tạo tại nước ngoài và so với chương trình đào tạo độc lập hoàn toàn nhưng bằng tốt nghiệp do cơ sở nước ngoài cấp hoặc là hai bên (Việt Nam và đối tác nước ngoài) cùng cấp. Thông thường, các đối tác nước ngoài cũng ở mức trung bình trên thang bậc quốc 10
  11. gia và thế giới. Mô hình tuyển sinh có thể thay đổi tùy theo yêu cầu của quốc gia đối tác (cơ sở đào tạo). Tuyển theo điểm sàn đại học – cao đẳng hoặc theo hồ sơ tốt nghiệp Trung học phổ thông và phỏng vấn cùng khả năng ngoại ngữ đủ để tham gia chương trình. Tuy nhiên, có chương trình tuyển đầu vào bằng điểm thi Đại học của chính cơ sở đó để thực hiện chương trình 2+3 (2 năm học tại Việt Nam và 3 năm ở nước ngoài). Nếu sinh viên không đủ điều kiện đi học tại nước ngoài vẫn được theo học tiếp chương trình của Việt Nam và tốt nghiệp (thường trong khoảng 2 năm, phía Việt Nam đào tạo chương trình cơ bản và ngoại ngữ). Lực lượng giảng viên tham gia chương trình thường được tuyển chọn từ chính trường sở tại và một phần của trường đối tác (tỷ lệ phụ thuộc mức học phí và sự hỗ trợ từ các đối tác nước ngoài). Chính tỷ lệ này quyết định chất lượng đào tạo. Về số lượng du học sinh, với cam kết của WTO, việc du học ở các nước phát triển sẽ ngày càng phổ biến hơn. Hiện nay, số lượng du học sinh Việt Nam ở các nước như Úc, Anh, Hoa Kỳ là khoảng trên 50.000 học sinh. Theo số liệu thống kê của Cơ quan Quốc tế giáo dục Úc (AEI) thuộc Tổng lãnh sự quán Úc, có hơn 21.000 học sinh - sinh viên Việt Nam đang học tập tại các trường phổ thông và đại học ở Úc chỉ tính riêng 8 tháng đầu năm 2009, tăng 58% so với cùng kỳ năm 2008. Trong khi đó, theo thống kê của Viện Giáo dục quốc tế (IIE) thuộc Viện Giáo dục quốc tế Mỹ thì số lượng du học sinh Việt Nam học tập tại Mỹ trong năm học 2008-2009 là 12.830, tăng 46% so với năm học trước, xếp thứ 9 trong tổng sắp số du học sinh quốc tế đang du học tại Mỹ, tăng 11 bậc so với hai năm trước đây. Mặc dù có những tác động tích cực như trên, nhưng các chương trình đào tạo nước ngoài ở đại học cũng còn một số hạn chế. Do công tác quản lý của ta còn yếu nên có một số chương trình hoạt động nhưng chưa bảo đảm cơ sở pháp lý, chẳng hạn như liên kết đào tạo không đúng văn bản cho phép hoặc liên kết đào tạo vượt thẩm quyền, chưa đúng chức năng, nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, việc định chỉ tiêu tuyển sinh trong liên kết đào tạo có yếu tố nước ngoài chủ yếu do các trường tự đặt ra sau khi đã thống nhất với phía nước ngoài. Việc thông báo tuyển sinh đôi khi không thống nhất giữa nội dung cho phép và quảng cáo chiêu sinh. Thêm vào đó, nội dung đào tạo của một số chương trình liên kết chỉ do hai phía đối tác thỏa thuận mà chưa có sự kiểm tra, đánh giá của các cấp quản lý giáo dục. Chính những mặt tiêu cực này đã gây không ít thiệt hại cho người học và tạo ra một xu hướng “học giả bằng thật”, tạo điều kiện cho những người muốn có bằng cấp cao nhưng không phải đầu tư thời gian và công sức nhiều. 3.2.4. Dịch vụ giáo dục khác Về qui mô đào tạo, hiện nay, các nhà đầu tư đang chú trọng vào lĩnh vực đào tạo ngoại ngữ. Số lượng trung tâm đào tạo ngoại ngữ ngày càng phát triển mạnh mẽ đặc biệt trong khoảng 2 năm gần đây. 11
  12. Về chất lượng đào tạo, có thể nói rằng, các trung tâm đào tạo ngoại ngữ có yếu tố nước ngoài đã giúp sinh viên tiếp cận một môi trường học sinh động, tiện nghi, phát triển kỹ năng giao tiếp với người nước ngoài, chú trọng rèn luyện kỹ năng nghe và nói. Khác với phương pháp dạy ngoại ngữ của các trung tâm trong nước, phương pháp dạy chủ yếu tập trung vào phần văn phạm, cấu trúc câu. 4. Đánh giá chung về tác động của WTO đến lĩnh vực giáo dục – đào tạo: 4.1. Mặt tích cực 4.1.1. Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục được phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của xã hội _ Theo báo cáo từ các địa phương, tại thời điểm đầu năm học 2010-2011, số trẻ em học mẫu giáo tăng 3,1% so với cùng thời điểm năm học trước; số học sinh tiểu học tăng 1,8%; số học sinh trung học cơ sở tăng 1,3% và số học sinh trung học phổ thông tăng 1%. _ Năm học 2009- 2010, cả nước có 149 trường đại học, tăng 3 trường so với năm học trước; 227 trường cao đẳng, tăng 4 trường; 282 trường trung cấp chuyên nghiệp, bao gồm 207 trường công lập và 75 trường dân lập. Cũng trong năm học 2009- 2010, tổng số sinh viên đại học, cao đẳng tăng 12% so với năm học trước; tổng số học sinh trung cấp chuyên nghiệp tăng 9,4%. Số sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng năm 2010 tăng 15% so với năm 2009, số học sinh tốt nghiệp hệ trung cấp chuyên nghiệp tăng 5%. _ Năm 2010, cả nước có 118 trường cao đẳng nghề; 280 trường trung cấp nghề; 810 trung tâm dạy nghề và 1000 cơ sở khác có dạy nghề. Số học sinh tuyển mới cao đẳng và trung cấp nghề năm 2010 của cả nước tăng 17% so với năm 2009; số lượt học sinh tuyển mới sơ cấp nghề và học nghề thường xuyên tăng 3,9%. _ Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo tăng từ 10,3% (năm 2000) lên 14,8% (năm 2009). _ Mạng lưới trường lớp được phát triển rộng khắp trong toàn quốc. Về cơ bản đã xóa được "xã trắng" về giáo dục mầm non; trường tiểu học đã có ở tất cả các xã, trường trung học cơ sở có ở xã hoặc cụm liên xã, trường trung học phổ thông có ở tất cả các huyện. Các cơ sở đào tạo nghề, cao đẳng và đại học được thành lập ở hầu hết các địa bàn dân cư lớn, các vùng, các địa phương, đặc biệt ở vùng chậm phát triển như Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long. Các tỉnh và nhiều huyện miền núi đã có trường nội trú và bán trú cho con em các dân tộc thiểu số. _ Hiện nay, cả nước có trên 9.000 trung tâm học tập cộng đồng, gần 700 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh và huyện, 1.300 trung tâm tin học, nhiều trường đại học triển khai các chương trình đào tạo từ xa. Ngoài ra, có nhiều cơ sở đào tạo ngoại ngữ và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ có yếu tố nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Một xã hội học tập đã hình thành rõ nét ở Việt Nam. 12
  13. 4.1.2 Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo đã có tiến bộ. _ Nội dung dạy học và kiến thức của học sinh phổ thông đã toàn diện hơn. Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của một bộ phận học sinh, sinh viên được nâng cao. Số đông sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng có hoài bão lập thân, lập nghiệp và có tinh thần tự lập và đại bộ phận đã có việc làm. Chất lượng đào tạo của một số ngành đào tạo khoa học và công nghệ đã được nâng cao một bước. _ Trong những năm gần đây, công tác quản lý chất lượng đã đặc biệt được chú trọng. Đã hình thành các tổ chức chuyên trách về đánh giá và kiểm định chất lượng. Ngoài Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng cấp trung ương được thành lập vào tháng 8/2004, phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng đã được thành lập tại 60 trong số 63 Sở Giáo dục và Đào tạo (95%), 77 đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng được thành lập ở các trường đại học và cao đẳng. Tới tháng 12/2008, đã có 114/163 (70%) trường đại học tự đánh giá, trong đó có 40 trường được đánh giá ngoài. _ Các trường phổ thông chất lượng cao được hình thành ở nhiều địa phương. Nhiều trường đại học đã tổ chức dạy học theo các chương trình tiên tiến quốc tế. Tới tháng 12/2008 có 23 chương trình đào tạo tiên tiến quốc tế đang được thực hiện ở 17 trường đại học giảng dạy trực tiếp bằng tiếng Anh. Đã tăng cường sự gắn kết giữa hoạt động khoa học công nghệ với hoạt động đào tạo sau đại học, tập trung vào các lĩnh vực: công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu, khoa học nông-lâm-ngư và khoa học giáo dục. Để đáp ứng tốt hơn yêu cầu cung cấp nhân lực cho các lĩnh vực kinh tế-xã hội, nâng cao hiệu quả đào tạo, trong 2 năm gần đây ngành giáo dục đào tạo đã tích cực đẩy mạnh việc thực hiện đào tạo gắn với nhu cầu xã hội. _ Đồng thời với sự đổi mới chương trình, sách giáo khoa và tài liệu dạy học theo Nghị quyết 40/2000/QH của Quốc hội, phương pháp giáo dục ở các nhà trường đã bước đầu được đổi mới theo tinh thần phát huy tính năng động, chủ động và tích cực của người học, đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy và học. Chuẩn nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên ở các cấp học và trình độ đào tạo đã và đang được xây dựng làm cơ sở cho việc đánh giá và bồi dưỡng giáo viên theo chuẩn. 4.1.3 Tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước đã được công nhận chuẩn quốc gia về xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và đang thực hiện phổ cập trung học cơ sở. _ Đến 4/2009 tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ của cả nước là 94%. Phân bổ tỷ lệ biết chữ theo nhóm tuổi cho thấy tình hình giáo dục của nước ta đã được cải thiện một cách đáng kể qua từng giai đoạn. Tỷ lệ biết chữ của nhóm 50 tuổi trở lên là 87,2%. Tỷ lệ biết chữ của nhóm trẻ hơn được tăng dần cho đến mức cao nhất là 98% ở nhóm tuổi từ 15 – 17 tuổi đối với cả nam và nữ. Sự khác biệt về trình độ học vấn giữa nam và nữ ngày càng được thu hẹp. Về cơ bản nước ta đã đạt được sự bình đẳng nam nữ trong giáo dục cơ bản. 13
  14. _ Chương trình phổ cập giáo dục tiếp tục được triển khai mạnh tại các địa phương. Đến năm 2010 cả nước đã có 52/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở. 4.1.4 Công tác xã hội hoá giáo dục và việc huy động nguồn lực cho giáo dục đã đạt được những kết quả bước đầu. _ Các lực lượng xã hội tham gia ngày càng tích cực vào việc huy động trẻ đến trường, giám sát, đánh giá và hiến kế cho giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất trường học, đầu tư mở trường, đóng góp kinh phí cho giáo dục dưới nhiều hình thức khác nhau. Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XII đã thông qua dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2011 là 725.600 tỉ đồng; trong đó 20% được dành cho giáo dục - đào tạo và dạy nghề (khoảng 145.120 tỉ đồng). Trong đó, chỉ riêng phần dự toán chi sự nghiệp giáo dục - đào tạo là 110.130 tỉ đồng. Điều này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước với giáo dục - đào tạo và dạy nghề. Bên cạnh đó, cũng đã huy động được sự đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị-xã hội và đầu tư nước ngoài. _ Các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày càng phát triển. Vào năm học 2007-2008, cả nước có gần 6.000 cơ sở giáo dục mầm non, 95 trường tiểu học, 33 trường trung học cơ sở, 651 trường trung học phổ thông, 308 cơ sở dạy nghề, 72 trường trung cấp chuyên nghiệp và 64 trường cao đẳng, đại học là các cơ sở giáo dục ngoài công lập. Số học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày càng tăng. Năm học 2007-2008, tỷ lệ học sinh, sinh viên ngoài công lập là 15,6% (năm 2000 là 11,8%), trong đó tỷ lệ học sinh phổ thông là 9%; học sinh trung cấp chuyên nghiệp là 18,2%; học nghề là 31,2%; sinh viên cao đẳng, đại học là 11,8%. 4.1.5 Công bằng xã hội trong giáo dục đã được cải thiện _ Đặc biệt tăng cơ hội học tập cho trẻ em gái, trẻ em người dân tộc, con em các gia đình nghèo và trẻ em khuyết tật. _ Việc miễn, giảm học phí, cấp học bổng và các chính sách hỗ trợ khác đã tạo điều kiện cho đại bộ phận con em các gia đình nghèo, diện chính sách được học tập, trước hết ở các cấp học phổ cập. 53% số học sinh sinh viên cả nước được miễn giảm học phí. _ Từ năm học 2007-2008, học sinh học nghề, sinh viên cao đẳng, đại học có hoàn cảnh khó khăn được vay để chi trả cho việc học hành (752.000 người được vay với mức tối đa 800.000 đồng/tháng). _ Giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa có tiến bộ rõ rệt. Đến năm học 2007-2008 có 278 trường dân tộc nội trú của trung ương, tỉnh, huyện và cụm xã, với khoảng 86.000 học sinh; các trường, lớp hoà nhập và chuyên biệt đã thu hút hơn 250.000 trẻ khuyết tật đi học. 14
  15. 4.1.6 Công tác quản lý giáo dục đã có nhiều chuyển biến. _ Công tác quản lý chất lượng đã được chú trọng với việc tăng cường hệ thống đánh giá và kiểm định chất lượng. Năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hoàn thành việc xây dựng đề án đổi mới cơ chế tài chính trong giáo dục đào tạo, trong đó có đề án học phí. Việc phân cấp quản lý giáo dục cho các địa phương và sở giáo dục được đẩy mạnh, đặc biệt tăng quyền chủ động cho các cơ sở giáo dục trong tuyển dụng giáo viên, sử dụng ngân sách, tổ chức quy trình giáo dục, tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, thực hiện chương trình, sách giáo khoa phù hợp với đặc điểm đối tượng học sinh và điều kiện cụ thể của từng vùng miền. _ Cải cách hành chính trong toàn ngành giáo dục được đẩy mạnh. Cơ chế “một cửa” được triển khai thí điểm tại cơ quan Bộ và 63/63 văn phòng của các Sở giáo dục. Công nghệ thông tin được ứng dụng mạnh mẽ trong quản lý ngành. 4.2. Mặt hạn chế: Có thể nói, việc nước ta tham gia ngày càng đầy đủ, tích cực và chủ động vào quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế thì cơ hội thuận lợi vẫn là cơ bản. Tuy nhiên, giáo dục nước ta cũng sẽ đối diện với những thách thức lớn: Thứ nhất, thách thức trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục _ Nguyên nhân: do sức ép của các nhà cung ứng giáo dục xuyên quốc gia, sự thâm nhập của giáo dục nước ngoài. _ Nguyên tắc giải quyết: phải kiên định giữ vững chủ quyền quốc gia về giáo dục. Thứ hai, thách thức trong việc bảo đảm công bằng xã hội trong giáo dục _ Nguyên nhân: lôgic thương mại trong cung ứng giáo dục sẽ làm gia tăng sự phân tầng xã hội trong cơ hội tiếp cận giáo dục, đặc biệt là giáo dục có chất lượng. _ Nguyên tắc giải quyết: Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng giáo dục, bảo đảm giáo dục về cơ bản vẫn là sự nghiệp công ích. Thứ ba, thách thức trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục _ Nguyên nhân: vì mục đích lợi nhuận các nhà cung ứng giáo dục có thể biến nhà trường thành “xưởng văn bằng” (diploma mill). _ Nguyên tắc giải quyết: tăng cường công tác kiểm định chất lượng và thanh tra chuyên môn. Thứ tư, thách thức về năng lực cạnh tranh trong giáo dục _ Nguyên nhân: xuất phát điểm của giáo dục Việt Nam còn thấp, môi trường giáo dục vĩ mô còn nhiều yếu kém. _ Nguyên tắc giải quyết: củng cố hệ thống giáo dục quốc dân và hoàn thiện môi trường giáo dục vĩ mô theo hướng tăng cường hệ thống thông tin quản lý giáo dục (EMIS). Thứ năm, thách thức trong việc tuân theo một số quy tắc cơ bản của GATS 15
  16. _ Nguyên nhân: các quy tắc tối huệ quốc, quy tắc đối xử quốc gia và quy tắc tuần tự tự do hoá về thực chất là các quy tắc bất bình đẳng trong cuộc chơi trên cùng một sân chơi. _ Nguyên tắc giải quyết: chuẩn bị tốt đến đâu mở cửa đến đó. Thứ sáu, thách thức trước nguy cơ tụt hậu xa hơn về giáo dục _ Nguyên nhân: do không khắc phục được những thách thức nêu trên và những rủi ro trong quá trình hội nhập (nạn chảy máu chất xám…). _ Nguyên tắc giải quyết: xây dựng đối sách phù hợp và nâng cao năng lực quản lý 5. Một số giải pháp phát triển giáo dục – đào tạo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 5.1. Giải pháp cấp hệ thống Một trong các quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về đổi mới giáo dục giai đoạn 2006 - 2020 là "phát triển mạnh các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập. Tạo điều kiện thuận lợi về chính sách để mọi tổ chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục đại học một cách bình đẳng". Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP đặt chỉ tiêu định hướng đến năm 2010 tỷ lệ sinh viên đại học tư thục chiếm khoảng 40% tổng số sinh viên cả nước. Điều đó cũng có nghĩa là chuyển đại học tư thục từ vị thế nhỏ bé hiện nay sang vị thế mới, khỏe và vững chắc trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Thực tế hiện nay ở Việt Nam cho thấy có nhiều khả năng chỉ tiêu trên không những không đạt mà còn bị sút giảm. Xu thế thành lập mới các trường công lập đang lan rộng ở nhiều tỉnh, thành. Rõ ràng ở đây không có sự cân nhắc đầy đủ về hiệu quả sử dụng ngân sách địa phương trong phát triển giáo dục. Trong điều kiện hạn hẹp về nguồn lực tài chính, ưu tiên của ngân sách phải tập trung dành cho giáo dục phổ cập và giáo dục thuộc các địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn. Thậm chí, ở một số nước đang phát triển, còn có hẳn quy định hạn chế hoặc cấm thành lập mới các trường công lập. Nhà nước cần giảm bớt vai trò trong cung ứng giáo dục, tăng cường vai trò quản lý vĩ mô, tập trung vào quản lý chất lượng, chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra, giám sát việc tổ chức thực hiện. Vì vậy, để hướng tới xây dựng và phát triển giáo dục Việt Nam thực sự khỏe, hùng hậu và vững mạnh, cần có sự chỉ đạo kịp thời của Chính phủ để các bộ, ngành, địa phương có định hướng đúng về chính sách và giải pháp trong việc phát triển các trường tư thục. Việc các doanh nghiệp như FPT mở trường tư thục cần được khuyến khích và nhân rộng. Các địa phương, thay vì thành lập mới các trường công lập, cần xúc tiến việc giao hoặc cho thuê đất, giao hoặc cho thuê cơ sở vật chất, kể cả hỗ trợ ngân sách cần thiết ban đầu để các trường tư thục mới được thành lập, đào tạo nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. 5.2. Giải pháp cấp trường Đến nay, nhìn chung các trường tư thục ở nước ta chưa nhận thức hết thách thức, thậm chí là nguy cơ, mà các trường sẽ phải đối diện khi bước vào sân chơi WTO/GATS. 16
  17. Thách thức này cũng chính là cơ hội để các trường tư thục vượt qua trạng thái yếu kém hiện nay, đổi mới, hoàn thiện, vươn lên. Có thể nói, nếu đổi mới cơ bản và toàn diện là định hướng chung của giáo dục Việt Nam giai đoạn từ năm 2006-2020 thì giáo dục tư thục phải đổi mới toàn diện hơn, cơ bản hơn. 5.2.1. Củng cố phát triển hệ thống trường học Năm học 2010- 2011, ngành giáo dục đã tiếp tục rà soát, quy hoạch mạng lưới trường lớp để phù hợp với điều kiện địa phương và nhu cầu học tập của học sinh; Các trường Trung học phổ thông chuyên được chú trọng củng cố và phát triển. Cùng đó xây dựng các trường, trường liên xã, điểm trường và trường phổ thông dân tộc nội trú, trường bán trú, đặc biệt chú trọng các địa phương vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số để tạo điều kiện thuận lợi cho con em được đi học. Các Sở giáo dục đã chỉ đạo giảm sĩ số học sinh/lớp để việc tổ chức dạy học, thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá ngày càng hiệu quả hơn.Tuy nhiên, đối với các trường ở khu vực trung tâm thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng và thành phố, thị xã thuộc tỉnh khác sĩ số học sinh/lớp vẫn cao hơn quy định, gây khó khăn trong việc tổ chức dạy học, đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên để nâng cao chất lượng giáo dục. Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất trường học, tạo chuyển biến rõ rệt của các trường trong việc xây dựng, cải tạo canh quan nhà trường; tăng cường xây dựng cơ sở vật chất nhà trường theo hướng kiên cố hóa, hiện đại hóa, chuẩn hóa, đẩy nhanh xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia phấn đấu năm 2011 có 30% số trường Trung học cơ sở và 20% số trường Trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia. Đẩy mạnh việc triển khai Đề án phát triển trường Trung học phổ thông chuyên giai đoạn 2010- 2015. 5.2.2. Nâng cao chất lượng giáo dục Để nâng cao chất lượng giáo dục, năm học qua một loạt các giải pháp đã ngành giáo dục triển khai đồng bộ như: Đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; đổi mới kiểm tra đánh giá và tăng cường quản lý đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá. Cụ thể, các Sở giáo dục đã rà soát, kiểm tra và phân loại học sinh đầu năm học, qua đó chỉ đạo bồi dưỡng phù đạo học sinh yếu kém ngoài giờ lên lớp. Xác định các nguyên nhân học sinh bỏ học và áp dụng các biện pháp vận động tạo điều kiện về hỗ trợ kinh tế để giảm tỉ lệ học sinh bỏ học. Tổ chức chỉ đạo bồi dưỡng giáo viên các môn học thực hiện dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình Giáo dục đào tạo. Chỉ đạo dạy học hiệu quả, đổi mới phương pháp dạy học: Chỉ đạo các Sở Giáo dục đào tạo tổ chức các hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá ở từng địa phương, cơ sở giáo dục. Chỉ đạo dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng trong chương trình giáo dục phổ thông. Chỉ đạo vận dụng các 17
  18. phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo khuyến khích khả năng tự học của học sinh. Tăng cường ứng dụng Công nghệ thông tin hợp lý; tổ chức dạy học sát đối tượng; sử dụng hợp lý sách giáo khoa khắc phục dạy học theo lối đọc- chép. Qua tổ chức thực hiện kết quả đã có những chuyển biến tích cực, nhiều tỉnh đã chủ động quán triệt, bồi dưỡng cho giáo viên dưới nhiều hình thức. Nhìn chung chủ trương này đã từng bước làm thay đổi cách dạy của giáo viên tạo ra không khí phấn khởi trong các nhà trường... Trong kiểm tra đánh giá cũng thực hiện đổi mới. Căn cứ vào yêu cầu của Bộ về đổi mới kiểm tra đánh giá, các Sở Giáo dục đào tạo đã kịp thời tổ chức hướng dẫn các trường quy trình ra đề kiểm tra đánh giá các môn học đảm bảo tỉ lệ: Nhận biết 50% thông hiểu và vận dụng 50%. Chỉ đạo việc đảm bảo đánh giá sát đúng trình độ học sinh với thái độ khách quan, công minh và hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá năng lực của mình; thực hiện đúng quy định của Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh. Bộ Giáo dục đào tạo tổ chức xây dựng nguồn học liệu mở với các dữ liệu bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông. Trong thời gian tới sẽ ban hành đưa trên Website của Bộ để phục vụ dạy học, kiểm tra đánh giá. Các Sở Giáo dục đào tạo đã chủ động triển khai chủ trương này. Xây dựng kế hoạch và triển khai chuẩn bị đánh giá định kỳ kết quả học tập của học sinh nhằm góp phần điều chỉnh việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành và tạo cơ sở thực tiễn cho việc phát triển chương trình giáo dục phổ thông tiếp theo. Các Sở trong diện có trường tham gia thí điểm chương trình quốc tế đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông đã thực hiện đúng yêu cầu của Bộ Giáo dục đào tạo. Phối hợp với các Dự án mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, giáo viên: Bồi dưỡng giảng dạy theo chuẩn kiến thức, kỹ năng; bồi dưỡng hướng dẫn ra đề kiểm tra đánh giá cho 63 tỉnh, thành phố, đôn đốc chỉ đạo việc bồi dưỡng cho giáo viên ở địa phương. Tuy nhiên, còn một số Sở còn chậm trễ trong việc triển khai ở địa phương... Bồi dưỡng giáo viên nâng cao năng lực nghề nghiệp theo chương trình bồi dưỡng hè, bồi dưỡng thường xuyên; tăng cường nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng; quan tâm xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên cốt cán các môn học ở trường trung học; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý. Thực hiện phổ cập giáo dục: Chuẩn bị các điều kiện để tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện phổ cập giáo dục Trung học cơ sở; tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng tỉ lệ đạt chuẩn Phổ cập giáo dục trung học cơ sở, thực hiện phổ cập giáo dục trung học ở những nơi có điều kiện giai đoạn 2011- 2020; chỉ đạo các địa phương phấn đấu 100% số xã trên phạm vi toàn quốc đạt chuẩn phổ cập giáo dục Trung học cơ sở vào năm 2012... 5.2.3. Xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học Trong năm học 2010- 2011, các Sở Giáo dục-Đào tạo đã tích cực thực hiện tăng cường cơ sở vật chất thiết bị trường học cho các trường Trung học cơ sở, Trung học phổ 18
  19. thông. Cụ thể: Về thiết bị dạy học được tăng cường bổ sung hàng năm đáp ứng yêu cầu giảng dạy; các phòng học được củng cố đầu tư sửa chữa đảm bảo điều kiện học tập cho học sinh; phòng bộ môn đáp ứng được yêu cầu phục vụ khai thác, sử dụng của giáo viên. Sách giáo khoa Trung học cơ sở, Trung học phổ thông được phát hành đầy đủ, kịp thời đến địa phương trong dịp hè 2010 để chuẩn bị năm học mới. Tỷ lệ trường phổ thông có thư viện và tủ sách giáo khoa dùng chung trên địa bàn cả nước là 89,9% trường (trong đó có 49,3% thư viện đạt tiêu chuẩn). Ngoài thiết bị dạy học tối thiểu, nhiều địa phương đã bố trí kinh phí mua sắm các thiết bị dạy học ngoài danh mục tối thiểu phục vụ cho công tác dạy và học ở các cơ sở giáo dục. Hầu hết các trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông trong cả nước đã có máy tính, máy chiếu để phục vụ công tác quản lý và giảng dạy; các trường Trung học phổ thông đã duy trì nối mạng internet để giáo viên khai thác tư liệu phục vụ cho dạy – học. Cũng trong năm học 2010- 2011, Bộ Giáo dục – đào tạo đã ban hành Thông tư số 06/2010/TT- BGDĐT ngày 26/2/2010 Ban hành Quy chế công nhận trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học đạt chuẩn quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi để các địa phương thực hiện. Các Sở đã tích cực tham mưu với các cấp lãnh đạo địa phương, huy động các nguồn lực tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tốc độ xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia kết hợp với xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. Vì vậy, kết quả xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia có chuyển biến rõ rệt, số lượng tăng nhanh hơn năm trước (Số trường Trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia: 2.341 trường, tỉ lệ 21,79% so với năm học trước tăng 383 trường, tỉ lệ tăng: 3,69%; Số Trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia: 292 trường, tỉ lệ: 11,20% tăng 36 trường so với năm trước, tỉ lệ tăng: 1,42%)... 5.3. Vai trò của xã hội dân sự Trong bối cảnh giáo dục Việt Nam sau khi gia nhập WTO, với việc hình thành và phát triển chuẩn thị trường giáo dục, cần đặc biệt coi trọng và phát huy sự tham dự của xã hội dân sự trong một loạt vấn đề phức tap. Trước hết, đối với một lĩnh vực mới và nhạy cảm là chuẩn thị trường giáo dục, vai trò tư vấn, phản biện xã hội và giám sát của xã hội dân sự là yêu cầu bắt buộc để khắc phục tính quan liêu của chính quyền và sự thiển cận của thị trường. Đối với sự phát triển của giáo dục tư thục, bên cạnh môi trường pháp lý minh bạch do nhà nước đem lại, xã hội dân sự có thể góp phần tạo dựng môi trường văn hóa - xã hội thuận lợi trên cơ sở đề cao truyền thống dân tộc và bản sắc văn hóa để người dân có thái độ và hành vi tích cực trong việc lựa chọn trường tư thục Việt Nam. Cũng cần chú ý rằng, việc tự do hóa thương mại dịch vụ giáo dục sẽ kéo theo vào Việt Nam các "xưởng văn bằng"; sự nhạy bén và giám sát khắp nơi của xã hội dân sự sẽ giúp sớm phát hiện sự gian lận thương mại và giả trá chất lượng, góp phần bảo vệ quyền lợi người học, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh và công bằng. 19
  20. Tổ chức xã hội dân sự liên quan trực tiếp đến các trường tư thục là Hiệp hội các trường ngoài công lập. Bên cạnh nỗ lực tự hoàn thiện mình để nâng cao chất lượng của các trường tư thục, kinh nghiệm doanh nghiệp cho thấy một yếu tố hết sức quan trọng là sự đoàn kết của các trường dưới một mái nhà chung là Hiệp hội. Chỉ có như vậy các trường mới tạo thành một khối thống nhất có sức cạnh tranh cao để thành công trong hội nhập. Cùng với sự đổi mới của các trường tư thục, Hiệp hội cũng cần đổi mới về tổ chức và hoạt động phù hợp với bối cảnh giáo dục Việt Nam sau khi gia nhập WTO, trong đó cần chú ý mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với các hiệp hội tương tự trên thế giới. C. PHẦN KẾT LUẬN 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản