VĂN MẪU LỚP 11
CẢM NHẬN VỀ NHÂN VẬT ĐAN THIỀM QUA VỞ KỊCH VŨ NHƯ
Nguyễn Huy Tưởng (1912-1960) nhà văn Nội viết thành công tiểu thuyết,
kịch sân khấu, kịch bản phim, truyện thiếu nhi. “Lá cờ thêu sáu chữ vàng”, truyện “Sống
mãi với Thủ Đô", kịch "Vũ Như Tô”, kịch “Bắc Sơn”, kịch “Những người lại” ... của
ông là những tác phẩm đầy tâm huyết, đem lại niềm vinh dự to lớn cho cây bút rất đỗi tài
hoa này.
“Vũ Như Tô” vở kịch lịch sử 5 hồi được Nguyễn Huy Tưởng sáng tác vào m
1941. Như Tô, Tương Dực, Nguyễn Vũ, Trịnh Duy Sản, An Hòa Hầu, Nguyễn
Hoằng Dụ... những nhân vật lịch sử, những nguyên mẫu tác giả đã dựa vào “Đại
Việt sử kí toàn thư” để sáng tạo nên. Nhân vật Đan Thiềm mang màu sắc lãng mạn,
tướng nhằm làm nổi bật chất nghệ sĩ của Vũ Như Tô, đẩy xung đột kịch tới cao trào, đỉnh
điểm. Trong lời đề tựa vở kịch “Vũ Như Tô”, Nguyễn Huy Tưởng có viết:
“Than ôi! Như phải hay những kẻ giết Nphải? Ta chẳng biết, cầm bút
chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”.
Vở kịch Như Tô” đã nêu lên một vấn đề lịch sử - hội để mọi nời cùng
suy nghĩ. Đó chức năng, vai trò của người nghệ sĩ, mục đích của nghệ thuật. Người
nghệ đem i năng phục vai? Mọi công trình nghệ thuật đều ai? Đọc vở kịch
Như Tô”, ta càng cảm hiểu và thấm thìa về những nội dung và ý nghĩa ấy. đây, chuyện
lịch sử, chuyện sân khấu cũng là chuyện đời chuyện hôm qua và cả chuyện hôm nay.
Xung đột kịch ở Hồi V chủ yếu xoay quanh giữa Đan Thiềm với Như giữa
Trịnh Duy Sản với Lê Tương Dực, Nguyễn Vũ, giữa Kim Phượng và cả cung nữ với Đan
Thiềm, giữa Nguyễn Hoằng Dụ, quân khởi loạn, những người thợ xây Cửu Trùng Đài với
Vũ Như Tô và Đan Thiềm.
Bối cảnh lịch sử được phản ánh trong vkịch “Vũ Như Tô” từ năm 1510 đến
năm 1516 dưới triều vua Tương Dực, “vua lợn hoang dâm và xa hoa cực độ. Giặc
giã nổi lên như ong. Thăng Long trở thành chiến địa. Lê Tương Dực giết vua Lê Uy Mục
(vua quỷ) để giành ngôi báu. Trịnh Duy Sản giết Tương Dực rồi đốt xác. Nguyễn
Hoàng Dụ đốt phá kinh thành Thăng Long, bắt Như người xây Cửu Trùng Đài
cho Tương Dực, đem chém ngoại thành. Trần Cao khởi loạn, cướp phá lung tung.
Triều đình chia thành m bảy mối, ai cũng chchăm chắm một điều được m vua,
thua m giặc”, dân b“rán mỡ” cùng đau khổ điêu linh. Một câu ca được lưu truyền
khắp làng quê, kẻ chợ thuở ấy:
“Trời làm một trận lăng nhăng,
Vua hóa ra thằng, thằng hóa ra vua”.
Giữa thời buổi hỗn quân, hỗn quan ấy, có bao chuyện buồn nôn. “Vua quỷ” vừa bị
giết thì Vua lợn" đã ủn ỉn lên ngai vàng. Em giết anh, thái tử thông m với thphi
của cha, nghịch thần nhan nhản trong triều, gian phu m phụ nhung nhúc trong hậu
cung. Có kẻ đem lòng thương muốn cứu người mà gây mầm tai họa. Có bao kẻ ngu trung
làm đau khổ dân lành. Đan Thiềm và Như những con người đáng thương hại,
luẩn quẩn mãi trong vòng chtình chữ danh cuối cùng bị bao thế lực căm phẫn, bị
khinh bỉ rồi bị giết chết, thật đáng thương!
Đan Thiềm một cung nữ chút ít nhan sắc lòng nhân hậu, biết quý trọng
nhân tài. Nàng đã dành cho Như Tô bao tình cảm đặc biệt. Như lúc đầu không
muốn đem tài năng phục vụ tên hôn quan “tướng lợn” hắn xa xỉ hoang dâm. Người
nghệ y thbị giết, bị tru di. Trước tình cảnh đó, Đan Thiềm đã mách đường cho
Như chạy trốn, đã khuyên “không nên trái lệnh vua”. Nhưng khi quân khởi loạn
đốt phá kinh thành, lùng sục kẻ xây dựng Cu Trùng Đài, cho đó “thủ phạm” tĐan
Thiềm chạy hớt ha hớt hải, mặt cắt không n hột máu đi tìm Như Tô. Đan Thiềm
thiết tha van xin vcông trình tài ba: Ông phải trốn đi. Ông phải trốn đi... trốn đi để
chờ cơ hội khác. Đại sự hỏng rồi”. Khi tiếng quân ầm ầm, tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng
và, tiếng ngựa nổi lên, khi quân khởi loạn truy m “thủ phạm” để giết, để phá Cửu
Trùng Đài, thi Đan Thiềm không hề lo đến tính mạng cùa mình chỉ lo Như bị
sát hại. Nàng đã hết lời van xin: “Tài kia không nên để uổng. Ông mà mệnh hệ nào thì
nước ta không còn ai tô điểm nữa”. Lòng nhân ái và sự quý trọng nhân tài của Đan Thiềm
thật đáng trọng. Nhưng cách suy nghĩ của người cung nữ này thì nông nổi, phiến diện,
đáng thương. đúng là, nếu Như bị giết chết thì nước ta không còn ai điểm
nữa” không? đúng “khi dân nổi lên, họ nông nổi cùng. Họ không phân biệt phải
trái?”.
Đan Thiềm biết hay không biết, vua Tương Dực đã ra sức vét thuế, đã “rán
mỡ dân” xây dựng Cửu Trùng Đài để sống xa hoa, hưởng lạc giữa hàng trăm, hàng nghìn
cung nữ. Đan Thiềm biết hay không biết, xây dựng Cửu Trùng Đài hàng vạn
dân phu, thợ thuyền bị lao dịch vất vả, bị đói rét, bị chết m đau, bị tai nạn, nhiều
người bỏ trốn đã bị Như Tô bắt giết?
Đan Thiềm quá thương Như Tô, quá trọng cái i của ông Cả, nàng như
mê, càng ngày càng trở nên lẩn quẩn”. Khi quân khởi loạn đã đốt phá kinh thành, đập
phá tan tành Cửu Trùng Đài, nhưng ta còn quỳ lạy, van xin Ngô Hạch (một sĩ, một
đứa tiểu nhân): “Tướng quân tha cho ông Cả. Nước ta còn cần nhiều thợ tài để điểm”.
Lửa đã cháy đến chân, đầu sắp lìa khói cổ, nhưng ta vẫn “lẩn thẩn", u mê, van lạy:
“Tướng quân hãy nghe tôi, đừng phạm tội ác. Đừng giết ống Cả. Tôi xin chịu chết”.
Đan Thiềm quá thương Như Tô, quá quý trọng cái tài của Như mới
ngôn từ và cách hành xử ấy. Nhưng tình cảnh đất nước loạn lạc, vua thì xa xỉ, hoang dâm,
nhân dân lầm than đau khổ, một trong những "thủ phạmm cho dân chúng oán hận
Như Tô, kẻ đã xây Cửu Trùng Đài, ta biết hay không? Trước dư luận, trước
những lời khen chê của đồng loại (dù đó là lời thị phi) thì cũng phải biết lắng tai nghe
suy ngẫm. Nhưng Đan Thiềm vẫn bỏ ngoài tai tất cả, Thậm chí cho đến lúc đầu sắp lìa c
vẫn lẩn thẩn, u mê!
Xây Cửu Trùng Đài, phá Cửu Trùng Đài chuyện đại sự quốc gia. Thế một
cung nữ (cũng như hàng trăm hàng nghìn cung nữ khác chỉ biết đem nhan sắc thỏa mãn
dục vọng bọn quân vương), trí lực bao, thế mà vẫn “nói nhảm”, vẫn “dây vào”
những chuyện tày đình! Cái chết của Đan Thiềm là một bi kịch: bi kịch về tình thương
lẽ phải, bi kịch vnhận thức hồ, bi kịch giữa nghệ thuật và tội ác! Cái chết của Đan
Thiềm là một bi kịch. Đúng như câu ca của dân gian đã lưu truyền:
“Giúp người mà chẳng lo xa,
Gây mầm tai họa, máu sa ngập đường”.
Đan Thiềm đã “giúp”, đã “thương" Như Tô, ta đã quý trọng tài năng người
thợ giỏi, bà ta muốn bảo vệ Cửu Trùng Đài, nhưng bà ta có biết hay không vì Vũ Như Tô
xây Cửu Trùng Đài mà công khố hao hụt, dân gian lầm than! Xét cho cùng, Đan Thiềm
cũng là một “đồng thủ phạm” với Vũ Như Tô, là kẻ đã “gây mầm tai họa”.
Nghệ thuật không phải là sự lừa dối. Nghệ thuật cũng không chỉ để thỏa mãn cuộc
sống xa hoa, ăn chơi trụy lạc của những vua quỷ, vua lợn, của bọn cường quyền, của một
thiểu số người trong hội. Nghệ thuật không phải cái bánh vẽ. Nghệ thuật càng
không thể gây đau khổ cho dân chúng. những chuyện đại squốc gia không phải ai
cũng thể can dự vào. Đó bài học, không chỉ cho những Đan Thiềm xưa nay mà còn
những điều cần suy nghĩ nghiêm túc cho bất cứ ai trong hội. Bởi vậy, Đan Thiềm là
một nhân vật đáng thương hại.
Trong bài thơ “Dại khờ” (Tập “Gửi hương cho gió”), thi sĩ Xuân Diệu có viết:
“Người ta khổ vi thương không phải cách,
Yêu sai duyên, và mến chẳng nhằm người.
Có kho vàng nhưng chẳng tặng tùy nơi,
Người ta khổ vì xin không phải chỗ”
Qua cuộc đời đầy bi kịch cái chết của nhân vật Đan Thiềm trong lịch sử. trong
vở kịch "Vũ Như Tô” của Nguyễn Huy Tưởng, ta càng thấm thìa những vần thơ trên đây
của Xuân Diệu.