
Lời nói đầu
Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, Đảng và Nhà
nước ta luôn coi trọng vai trò con người, không ngừng cải thiện nâng cao đời sống
vật chất cũng như tinh thần của nhân dân là mục đích hàng đầu của chế độ xã hội
chủ nghĩa ta. Phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một
tất yếu khách quan được Đảng và Nhà nước ta khẳng định trong các kì đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ 6, 7, 8, 9 đã và đang có nhiều ảnh hưởng tích cực đối với nền kinh
tế nước ta. Sau hơn mười năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nhân
dân ta đã gặt hái được nhiều thành công to lớn trên nhiều lĩnh vực đặc biệt là trong
nền kinh tế xã hội. Vì thế nền kinh tế nước ta đang dần khởi sắc và phát triển một
cách vững chắc, về cơ bản chúng ta đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kéo dài,
nền kinh tế có những bước tăng trưởng nhảy vọt qua các năm, điều kiện sống của
nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Đất nước đang trong thời kỳ đổi
mới nên cùng với sự biến chuyển không ngừng về mọi mặt từ KTXh đến chính trị
ngoại giao nền kinh tế mở theo hướng “đa phương hoá - đa dạng hoá” đã và đang
tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động kinh doanh
bảo hiểm nói riêng nhiều cơ hội mới. Trong xu thế phát triển này, ngành bảo hiểm
cũng có những điều kiện thuận lợi để phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Ngày càng có nhiều nghiệp vụ mới ra đời, BHNT là một ví dụ điển hình. Nghiệp vụ
BHNT mang tính đặc thù cao, có sức hấp dẫn riêng và có sự khác biệt so với các
nghiệp vụ bảo hiểm khác. Nghiệp vụ BHNT bao gồm nhiều loại hình khác nhau
như: BHNT có thời hạn 5-10 năm, An sinh giáo dục... Sau một thời gian lựa chọn
đề tài viết chuyên đề mặc dù đề tài còn nhiều khúc mắc và số liệu thực tế chưa

nhiều nhưng cùng với sự động viên của cô giáo hướng dẫn và sự giúp đỡ nhiệt tình
của Công ty BVNT Hà Nội em xin mạnh dạn nghiên cứu đề tài với nội dung: “An
sinh giáo dục: Thực trạng và một số biện pháp phát triển nghiệp vụ này ở công ty
Bảo Việt Nhân thọ Hà Nội” Sở dĩ em chọn đề tài trên cho chuyên đề tốt nghiệp của
mình là vì những lý do sau:
- Mặc dù BHNT ra đời rất sớm trên thế giới (năm 1583, ở Anh) và khônh ngừng
phát triển ở khắp nơi, nhưng lại được triển khai rất muộn ở Việt nam. Vì vậy,
nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm các nước trên thế giới để áp dụng vào thực tế triển
khai ở nước ta là một đòi hỏi cấp bách có ý nghĩa kinh tế lớn
- Do nghiệp vụ “An sinh giáo dục“ mới được triển khai ở nước ta, nên khó
tránh khỏi những hạn chế, những điều bất hợp lý trong quá trình kinh doanh. Vì
vậy, cần phải nghiên cứu một cách khoa học, tìm ra giải pháp phù hợp với điều kiện
thực tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
- Nghiệp vụ bảo hiểm này có tính chất khác biệt rõ nét so với các nghiệp vụ
bảo hiểm khác ở chỗ nó không chỉ mang tính chất bảo hiểm các rủi ro mà còn mang
tính chất tiết kiệm. Điều này có nghĩa là công ty phải trả một khoản tiền vào một
thời điểm nhất định trong tương lai dù không có rủi ro xảy ra với khách hàng. Do
vậy công ty BHNT cần có một chính sách đầu tư vốn hợp lý để đảm bảo tài chính
của công ty.
- Nghiệp vụ này còn thu hút được nhiều người nghiên cứu vì nó có ý nghĩa
giáo dục sâu sắc. Với các khẩu hiệu “ Tất cả vì tương lai con em chúng ta”, “Trẻ em
hôm nay, thế giới ngày mai“ thì chương trình “An sinh giáo dục“ là một biện pháp
hữu hiệu để các thế hệ đi trước thể hiện sự quan tâm đối với các thế hệ đi sau.

Khi nghiên cứu đề tài, ta phải phân tích tình hình triển khai, thị trường khách
hàng tiềm năng, tình hình dân số từ đó đưa ra một số biện pháp và kiến nghị nhằm
tiếp tục phát triển và nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh của công ty trong thời
gian tới. Xuất phát từ những nội dung trên em xin nêu ra bố cục của chuyên đề:
Nội dung đề tài gồm ba phần:
Phần I: .Khái quát về bảo hiểm nhân thọ và sản phẩm An sinh giáo dục
Phần II: Tình hình triển khai sản phẩm bảo hiểm “An sinh giáo dục” của Bảo Việt
tại BVNT Hà Nội
Phần III: Một số giải pháp đề nghị nhằm nâng cao công tác kinh doanh nghiệp vụ
An sinh giáo dục
Mặc dù bản thân em đã rất cố gắng nhưng do còn thiếu kinh nghiệm nên
trong chuyên đề tốt nghiệp không tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận
được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo trong khoa nói chung và co giáo
Nguyễn Thị Lệ Huyền nói riêng để chuyên đề hoàn chỉnh hơn về mặt lý luận và
mang tính khả thi hơn trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của công ty.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô Nguyễn thị Lệ
Huyền cùng sự giúp đỡ của phòng Quản lý hợp đồng BVNT Hà Nội, đặc biệt sự
quan tâm, nhiệt tình giúp đỡ của chú Trưởng phòng Trương Khánh cùng các anh chị
trong phòng QLHĐ đã tạo điều kiện cho em tìm hiểu tài liệu, báo chí giúp em hoàn
thành bản chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Chương I
KHáI QUáT về bảo hiểm nhân thọ và sản phẩm an sinh giáo dục
I. tổng quan về bảo hiểm nhân thọ

1. Sự cần thiết của bảo hiểm nhân thọ (BHNT).
Bảo hiểm là sự chia sẻ rủi ro giữa một số đông với một số ít trong số họ phải gánh
chịu những rủi ro. Có thể nói nguyên tắc này lần đầu tiên được ghi vào lịch sử là
năm 1583, ở thị trường Luân đôn một nhóm người đã thoả thuận góp tiền và số tiền
này sẽ được trả cho người nào trong số họ bị chết trong 1 năm. Đây cũng là mầm
mống của nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ (BHNT).
Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng
ngày dù đã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng con người vẫn có nguy cơ gặp
phải những rủi ro bất ngờ xảy ra. Các rủi ro do nhiều nguyên nhân, ví dụ như:
- Các rủi ro do môi trường thiên nhiên: Bão, lụt, động đất, hạn hán...
- Các rủi ro xảy ra do sự tiến bộ và phát triển của khoa học kỹ thuật. Khoa học
kỹ thuật phát triển, một mặt thúc đẩy sản5 xuất và tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc
sống con người nhưng mặt khác cũng gây ra nhiều tai nạn bất ngờ như tai nạn ôtô,
hàng không , tai nạn lao động...
- Các rủi ro do môi trường xã hội. Đây cũng là một trong những nguyên nhân
gây ra rủi ro cho con người, khi xã hội càng phát triển thì con người càng có nguy
cơ gặp nhiều rủi ro như thất nghiệp, tệ nạn xã hội, lạm phát...
Bất kể là do nguyên nhân gì, khi rủi ro xảy ra thường đem lại cho con người những
khó khăn trong cuộc sống như nguy hại đến bản thân, hao tổn tài chính gia đình...
làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội. Để đối phó với những rủi ro con người
đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằm kiểm soát cũng như khắc phục những hậu
quả do rủi ro gây ra. Đó là nhóm biện pháp kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro.

+ Nhóm biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm các biện pháp né tránh rủi ro, ngăn
ngừa tổn thất, giảm thiểu rủi ro. Các biện pháp này thường được sử dụng để ngăn
chặn hoặc giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro. Tuy nhiên là biện pháp này đã giúp
chúng ta ngăn chặn và giảm thiểu rất nhiều rủi ro trong cuộc sống nhưng khi rủi ro
xảy ra chúng ta không ngăn ngừa hết được hậu quả.
+ Nhóm các biện pháp tài trợi rủi ro bao gồm các biện pháp chấp nhận rủi ro và bảo
hiểm. Đây là các biện pháp được sử dụng trước khi rủi ro xảy ra với mục đích khắc
phục các hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra nếu có. Khi chấp nhận rủi ro thì con
người phải đối phó với những khó khăn không những cho bản thân mà còn về mặt
tài chính của gia đình nữa cho nên bảo hiểm là phương pháp tốt hơn để đối phó với
rủi ro. Bảo hiểm là một phần quan trọng trong các chương trình quản lý rủi ro của
các tổ chức cũng như cá nhân. Theo quan điểm cảu các nhà quản lý rủi ro, bảo hiểm
là sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng. Theo quan điểm xã hội bảo hiểm
không chỉ chuyển giao rủi ro mà còn là sự giảm rủi ro do việc tập trung một số lớn
các rủi ro cho phép có thể tiên đoán về các tổn thất khi chúng xảy ra. Bảo hiểm là
công cụ đối phó với hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra, có hiệu quả nhất. Như vậy,
bảo hiểm ra đời là đòi hỏi tất yếu khách quan của cuộc sống con người.
Sự ra đời và phát triển của BHNT đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát
triển cuả nền kinh tế trên thế giới. Ngày nay tham gia BHNT trở thành một nhu cầu
tất yếu của người dân các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển. ở châu
á, những năm gần đây BHNT phát triển hết sức mạnh mẽ, thực hiện chức năng huy
động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, tạo nguồn đầu tư dài hạn cho sự phát triển kinh
tế- xã hội, giảm bớt tình trạng vay vốn nước ngoài với lãi suất cao. Theo số liệu của

