1
18. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG
TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
ASSESSMENT OF THE CURRENT STATE OF PUBLIC ASSET MANAGEMENT
AT PUBLIC SERVICE UNITS IN NGHE AN PROVINCE
Phạm Thị Thúy Hằng*
*Trường Kinh tế - Trường Đại học Vinh
Tóm tắt
Tài sản công (TSC) là nguồn lựccùng quan trọng của đất nước nói chung của từng
địa phương nói riêng. Việc quản sử dụng TSC hiệu quả, góp phần rất lớn vào
phát triển kinh tế hội. Nghiên cứu làm thực trạng về quản lý, sử dụng TSC tại các
đơn vị sự nghiệp công lập (SNCL) tại tỉnh Nghệ An. Từ đó, tìm ra nguyên nhân, làm cơ sở
đề ra một giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản TSC tại các đơn vị sự nghiệp sau
này.
Từ khoá: tài sản công, đơn vị sự nghiệp công lập.
Abstract
Public assets are an extremely important resource for the country as a whole and for
each locality in particular. Effective management and utilization of public assets
greatly contribute to socio-economic development. This study clarifies the current state
of management and utilization of public assets at public service units in Nghe an
province, identifies the underlying causes, and provides a basis for proposing solutions
to improve the effectiveness of public asset management at these units in the future.
Keywords : public asset, public service units, nghe an province.
JEL Classifications: H80, H83, H89.
1. Đặt vấn đề
TSC là nền tảng, tạo ra cho đất nước một tiềm lực phát triển, giúp xây dựng kinh tế,
thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. TSC được hình
thành từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc nguồn gốc từ ngân sách nhà nước đều thuộc
sở hữu quản của Nhà nước. TSC sở vật chất cần thiết để tiến hành các hoạt
động quản nhà nước, các hoạt động sự nghiệp công các hoạt động hội khác. Đơn
2
vị SNCL không quyền sở hữu TSC, chỉ quyền quản sử dụng các tài sản
này để thực hiện nhiệm vụ được giao.
2. Cơ sở lý luận
Khái niệm TSC, tài sản thuộc sở hữu toàn dân các khái niệm phức tạp, đây
những vấn đề cơ bản nhất được quy định tại Hiến phápcác đạo luật chính ở mỗi nước.
mỗi nước nội hàm của TSC khác nhau, được quyết định bởi quan hệ hội, quan hệ
sở hữu và quan điểm quản lý ở mỗi nước [1].
Theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008: Tài sản nhà nước tại
quan nhà nước, đơn vị trang nhân dân, đơn vị SNCL (ĐVSNCL), tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - hội, tổ chức chính trị hội - nghề nghiệp, tổ chức hội, tchức
hội - nghề nghiệp (sau đây gọi chung quan, tổ chức đơn vị), bao gồm trụ sở làm
việc tài sản khác gắn liền với đất; quyền sử dụng đất đối với đất dùng để xây dựng trụ
sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của cơ quan, tổ chức và đơn vị; máy móc, phương
tiện vận tải, trang thiết bị làm việc và các tài sản khác do pháp luật quy định [3].
Theo Điều 53 Hiến pháp năm 2013: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng
sản, nguồn lợi vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác c tài sản do Nhà
nước đầu tư, quản TSC thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu
thống nhất quản lý” [4].
Theo giáo trình tổ chức nhân sự hành chính nhà ớc: Công sản gồm tất cả các
tài sản (động sản và bất động sản) thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản
để sử dụng vào mục đích phục vụ lợi ích của Nhà nước và lợi ích của toàn dân [5].
Các đơn vị SNCL tổ chức nhà nước, thực hiện hoạt động công. một khía cạnh
tiếp cận cụ thể trong chức năng nhiệm vụ được nhà nước giao. Các tài sản của tổ chức
quản lý thuộc vào tài sản của nhà nước được giao cho đơn vị sự nghiệp. Để từ đó có cơ sở
xây dựng kế hoạch, thực hiện trong hoạt động. Cũng như hoàn thành các nhiệm vụ, chức
năng. Các tài sản này có thể được sử dụng với nhu cầu khác nhau như mua sắm, đầu tư,…
Đảm bảo trong hiệu quả tìm kiếm các giá trị, lợi ích và tiềm năng cho quốc gia [2].
TSC tại đơn vị SNCL thể được hình thành đan xen từ nguồn NSNN huy động
hội hóa; TSC tại các đơn vị SNCL đa dạng phong phú về chủng loại; Giá trị của
TSC tại cơ quan hành chính Nhà nước cấp huyện giảm dần trong quá trình sử dụng.
Từ những quan điểm trên, theo quan điểm tác giả thì TSC tại ĐVSNCL bao gồm:
Đất đai đất sử dụng làm trụ sở làm việc, đất xây dựng sở hoạt động sự nghiệp công);
nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất đai nhà làm việc, nhà kho; nhà, công trình
đảm bảo cho các hoạt động sự nghiệp...); các tài sản khác gắn liền với đất đai; các phương
3
tiện giao thông vận tải tô, xe máy, tàu, thuyền...); các máy móc, trang thiết bị, phương
tiện làm việc và các tài sản khác. Những tài sản trên đây là cơ sở vật chất cần thiết để tiến
hành các hoạt động quản nhà nước, các hoạt động sự nghiệp công các hoạt động
hội khác. quan nhà nước, ĐVSNCL không quyền sở hữu TSC chỉ quyền
quản lý, sử dụng các tài sản này để thực hiện nhiệm vụ được giao. Các quan trên
không được sử dụng vào mục đích cá nhân, kinh doanh mục đích khác, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác mà phải sử dụng tài sản phải đúng mục đích, đúng chế độ, tiêu
chuẩn, định mức do Nhà nước quy định.
3. THỰC TRẠNG QUẢN TSC TẠI CÁC ĐƠN VỊ SNCL TRÊN ĐỊA BÀN NGHỆ
AN
3.1. Hiện trạng TSC tại các đơn vị SNCL tỉnh Nghệ An
Tỉnh Nghệ An có 1.693 đơn vị SNCL, trong đó cấp tỉnh là 134 đơn vị và cấp huyện
1559 đơn vị. Hàngm, UBND tiến hành triển khai đến quan tiến hành công tác
khai, đăng tài sản nhà nước trên địa bàn toàn tỉnh, qua đó nắm được tổng quan về số
lượng, chất lượng, giá trị cấu phân bổ sử dụng tài sản nhà nước trên địa bàn tỉnh
Nghệ An.
TSC trên địa bàn tỉnh Nghệ An được giao trực tiếp cho các quan, tchức, đơn
vị quản lý, sdụng theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng TSC c văn bản hướng
dẫn thi hành Luật.
Bảng 1: Tổng hợp tài sản nhà nước đến 31/12/2023
Đơn vị tính: Triệu đồng
Tên Số lượng TS Nguyên giá
Đất 1 952 13.950.443,41
Nhà 2 2211 10.212.480,13
Xe ôtô 3 318 155.840,74
TS khác trên 500 triệu đồng 4 69 4.222.904,62
Tổng cộng 28.541.668,89
(Nguồn: Sở Tài chính tỉnh Nghệ An)
3.2. Thực trạng quản lý TSC các đơn vị SNCL tỉnh Nghệ An
Quản lý quá trình hình thành TSC
4
- Phân cấp thẩm quyền quyết định đầu tư, mua sắm TSC
Tỉnh Nghệ An đã ban hành các văn bản hướng dẫn về quản sử dụng TSC, từ
hoàn thành tài sản, quản sử dụng tài sản, đến thanh lý, nhượng bán thu hồi TSC
theo đúng Luật Quản lý, sử dụng TSC (Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐND, ngày
21/06/2019 của HĐND tỉnh Nghệ An, quy định thẩm quyền quyết định đầu mua
sắm TSC).
Hình 1: Đánh giá mức độ phân cấp thẩm quyền quyết định,
trình tự, thủ tục xử lý TSC
(Nguồn: khảo sát của tác giả)
- Quy trình đầu tư, mua sắm TSC
Đơn vị SNCL khi đi vào hoạt động sẽ được cấp trụ sở làm việc, sở vật chất,
thiết bị máy móc làm việc,… theo quy định của Nhà nước.
Hình 2: Mức độ đồng bộ và thống nhất của các văn bản
chi phối việc mua sắm TSC
(Nguồn: khảo sát của tác giả)
Kết quả tổng hợp các ý kiến khảo sát cho thấy, 36% đánh giá tương đối thống
5
nhất đồng bộ; 58% đánh giá thống nhất đồng bộ; 6% các ý kiến cho không
thống nhất đồng bộ. Việc đánh giá những khác nhau như trên, tập trung vào quá
trình áp dụng hệ thống văn bản vào thực tế việc ban hành các văn bản của tỉnh còn
chậm và làm giảm tính đồng bộ.
- Quản lý quá trình quản lý, sử dụng TSC
Công tác quản lý, sử dụng TSC của đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An
được thực hiện bởi các quy định của Nhà nước c Nghquyết của ND UBND
tỉnh. Tất cả các đơn vị đã thực hiện công c khai, đăng i sản nhà nước trên địa
bàn tỉnh, để tổng hợp tổng quan về số ợng, chất lượng, g trị và cấu phân b sử
dụng TSC trên địa bàn tỉnh NghAn.
Tỉnh đã những văn bản hướng dẫn về nội dung quản lý, sử dụng tài sản như
Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐND ngày 20/7/2018 của HĐND tỉnh Nghệ An Quy định
về phân cấp thẩm quyền quyết định trong quản lý, sử dụng TSC tại các quan tổ
chức, đơn vị thuộc phạm vi quản của địa phương trên địa bàn tỉnh Nghệ An, quy về
định mức, kinh phí sử dụng TSC như kinh phí nhà công vụ, khoán kinh phí sử dụng tài
sản phục vụ công tác, hay việc bảo dưỡng, sửa chữa TSC. TSC phục vụ công tác phải
được bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên theo quy định của nhà sản xuất hoặc theo tiêu
chuẩn kỹ thuật do các bộ quản lý chuyên ngành ban hành để đảm bảo tài sản đó luôn hoạt
động tốt.
Hình 3: Mức độ chấp hành chế độ đăng ký và báo cáo tài sản
(Nguồn: khảo sát của tác giả)
Trên thực tế chế độ đăng vào báo cáo tài sản của các đơn vị chưa hoàn toàn
chuẩn chỉnh, qua khảo sát 56,52% cho rằng các đơn vị chấp hành đăng báo cáo