BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN TRUNG THỨ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU THEO ĐỊNH HƯỚNG CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Tp. Hồ Chí Minh, 9/2024
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN TRUNG THỨ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU THEO ĐỊNH HƯỚNG CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8380102
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Tiến Hiệp
Tp. Hồ Chí Minh, 9/2024
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết rằng tất cả các số liệu cũng như những cơ sở lý luận, thực tiễn
nghiên cứu trong đề án do tôi thực hiện và các nguồn tham khảo tôi có trích dẫn đầy
đủ, không sao chép của các bài nghiên cứu khoa học khác.
Sau thời gian nghiên cứu đề án và được sự hướng dẫn tận tình của thầy Tiến sĩ
Nguyễn Tiến Hiệp giảng viên của Học viện Hành chính Quốc gia, Cùng các thầy cô
của Phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian học tập đã giúp tôi hoàn
thành Đề án này đúng tiến độ, tất cả những cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng
cho bài viết đều được thầy hướng dẫn góp ý sâu sắc.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 9 năm 2024
Học viên
Trần Trung Thứ
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Đề án này, em đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy, cô và đồng nghiệp. Với lòng kính trọng và
biết ơn sâu sắc em xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới:
Ban Giám đốc, Ban quản lý Sau đại học, Khoa Nhà nước Pháp luật và Lý luận
cơ sở, Học viện Hành chính Quốc gia và các thầy cô ở Phân viện Học viện Hành
chính Quốc gia tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ
em trong quá trình học tập và hoàn thành Đề án.
Thầy TS. Nguyễn Tiến Hiệp, công tác tại Học viện Hành chính Quốc gia đã
hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá
trình hoàn thành Đề án.
Ban lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tạo điều kiện thuận lợi để
tôi học tập và hoàn thành Đề án.
Lời cảm ơn chân thành được gửi tới các bạn đồng nghiệp, những người bạn đã
chia sẻ những kinh nghiệm quý báu giúp em hoàn thành Đề án. Bằng tất cả năng lực
và nỗ lực hoàn thiện Đề án, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn
chế, em rất mong nhận được những đóng góp của các thầy, cô và các bạn.
Học viên
Trần Trung Thứ
DANH MỤC VIẾT TẮT
Nguyên nghĩa Ký hiệu
Bộ luật dân sự BLDS
Bộ luật hình sự BLHS
Bộ luật tố tụng dân sự BLTTDS
Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS
Cải cách tư pháp CCTP
Cơ quan điều tra CQĐT
Hoạt động tư pháp HĐTP
Kiểm sát điều tra KSĐT
Kiểm sát hoạt động tư pháp KSHĐTP
Kiểm sát xét xử KSXX
Tòa án nhân dân TAND
Thực hành quyền công tố THQCT
Viện kiểm sát nhân dân VKSND
Viện kiểm sát VKS
MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục từ viết tắt
MỞ ĐẦU
1. Lý do xây dựng đề án…………………………………………………………….1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề án………………………….2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề án………………………………………...3
4. Mục tiêu và nhiệm vụ đề án……………………………………………………..4
5. Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu của đề án……………………….5
6. Hiệu quả của đề án có thể ứng dụng trong thực tiễn……………………………5
7. Kết cấu đề án……………………………………………………………………..7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH……………………………………………..7
1.1. Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
1.1.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh……7
1.1.2. Cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh…………………………………………………………………………………10
1.1.3. Quan hệ công tác của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh…………………….13
1.2. Nhu cầu cải cách tư pháp đối với đổi mới Tổ chức và hoạt động của Viện
kiểm sát nhân dân…………………………………………………………………20
1.2.1. Quan điểm cải cách tư pháp………………………………………………...20
1.2.2. Quan điểm về đổi mới tổ chức và hoạt động Viện kiểm sát nhân dân theo
định hướng cải cách tư pháp………………………………………………………21
1.2.3. Nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động Viện kiểm sát nhân dân theo định
hướng cải cách tư pháp……………………………………………………………23
1.2.4. Các yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
theo yêu cầu cải cách tư pháp……………………………………………………..25
1.3. Điều kiện đảm bảo thực hiện đổi mới tổ chức và hoạt động Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh…………………………………………………………………25
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM
SÁT NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU………………………………………………28
2.1. Khái quát tình hình của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau……………28
2.1.1. Vị trí, tính chất pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau………….28
2.1.2. Những vấn đề đặt ra đối với Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Cà Mau…………………………………………………………………..29
2.2. Thực trạng cơ cấu tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà
Mau………………………………………………………………………………...30
2.2.1.Thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà
Mau………………………………………………………………………………...30
2.2.2.Thực trạng hoạt động thực hiện chức năng nhiệm vụ Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Cà Mau………………………………………………………………….........43
Chương 3: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU VÀ LỘ TRÌNH
THỰC HIỆN ĐỀ ÁN……………………………………………………………...57
3.1. Giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà
Mau theo định hướng cải cách tư pháp hiện nay……………………………….57
3.1.1. Giải pháp chung…………………………………………………………….57
3.1.2. Giải pháp cụ thể…………………………………………………………….60
3.2. Lộ trình thực hiện đề án………………………………………………………65
3.2.1. Nội dung thực hiện………………………………………………………….65
3.2.2. Cơ quan thực hiện……………………………………………………………...66
3.2.3. Kinh phí thực hiện……………………………………………………………...66
3.2.4. Thời gian thực hiện…………………………………………………………….66
3.3. Kiến nghị……………………………………………………………………...67
KẾT LUẬN………………………………………………………………………..72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lý do xây dựng đề án
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp (CCTP)
ở Việt Nan hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là một cơ quan giữ vị trí rất
quan trọng và là cơ quan duy nhất được Nhà nước giao thực hiện chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp và để đáp ứng yêu cầu của
cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta trong tình hình hiện nay đòi hỏi
phải đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó việc
đổi mới tổ chức và hoạt động của VKSND là một nội dung quan trọng được thể hiện
trong nhiều nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân đã và
đang khẳng định là thiết chế quan trọng góp phần kiểm soát quyền lực Nhà nước, là
cơ chế hữu hiệu trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm.
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 “về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” trong đó có
CCTP. Để thực hiện thành công Nghị quyết của Đảng, đòi hỏi phải đẩy mạnh CCTP,
phát huy những thành quả đạt được, khắc phục những hạn chế, khó khăn, bất cập, xây
dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính,
phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Theo đó, tiếp tục đặt ra yêu cầu đổi mới tổ
chức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động và uy tín của Tòa án nhân
dân (TAND), Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra (CQĐT), cơ quan Thi hành
án (CQTHA) và các cơ quan, tổ chức tham gia vào quá trình tố tụng tư pháp; phòng
ngừa và đấu tranh hiệu quả với hoạt động của tội phạm và vi phạm pháp luật; giải
quyết kịp thời, đúng pháp luật các loại tranh chấp, khiếu kiện theo luật định.
Từ yêu cầu trên, nhiệm vụ đặt ra đối với VKSND nói chung và VKSND tỉnh
Cà Mau nói riêng là cần đổi mới tổ chức và hoạt động của Ngành. Hiện nay, ngoài
những kết quả tích cực đạt được, còn khá nhiều bất cập xung quanh vấn đề tổ chức
bộ máy và hoạt động của VKSND tỉnh Cà Mau. Cụ thể, công tác tổ chức sắp xếp đội
ngũ công chức của VKSND tỉnh Cà Mau vẫn chưa đồng bộ; một số hoạt động nghiệp
vụ còn chưa phù hợp với yêu cầu chung của toàn ngành, chất lượng và hiệu quả trong
1
công tác đấu tranh phòng chống tội phạm chưa cao, chất lượng tranh tụng tại phiên
tòa chưa được nâng cao dẫn đến chưa phát huy hết vị thế, vai trò, nhiệm vụ của Ngành
một cách toàn diện. Đòi hỏi phải nhanh chóng cải cách mạnh mẽ, toàn diện về tổ chức
và hoạt động của VKSND nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới.
Để làm rõ hơn những phân tích trên, cũng như những vấn đề về lý luận và thực
tiễn, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát, học
viên quyết định chọn đề tài “Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Cà Mau theo định hướng cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” để làm đề án Thạc
sĩ của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề án
Trong những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, luận
án tiến sĩ, các bài viết trên các tạp chí liên quan đến nội dung tổ chức và hoạt động
của VKSND như sau:
Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” do Bộ Tư Pháp (2022)
biên soạn. Đề án nghiên cứu nhà nước pháp quyền trong mối quan hệ với việc xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… Trong tiến trình nghiên
cứu, mỗi chuyên đề chỉ rõ những điểm mới, điểm đột phá về cải cách tư pháp. Một
số ý kiến đề nghị tập trung nghiên cứu, tổng kết đánh giá thực trạng, kết quả của tiến
trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay; coi đây là thực tiễn quan
trọng để xây dựng các giải pháp hoàn thiện mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam trong tương lai.
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hải Phong về: “Một số vấn đề về tăng
cường trách nhiệm trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo
yêu cầu cải cách tư pháp” cho rằng nội dung hoạt động kiểm sát chỉ là hoạt động của
cơ quan Viện kiểm sát trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội và
buộc tội họ trước Tòa án và xác định về giới hạn phạm vi viện kiểm sát được bắt đầu
từ khi vụ việc phạm tội xảy ra cho đến khi kết thúc việc buộc tội.
Sách “Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp” do Viện kiểm
2
sát nhân dân tối cao biên soạn năm 2012, Cuốn sách đã cung cấp những thông tin
quan trọng về tổng lược quá trình hình thành và phát triển của thiết chế Viện công tố,
Viện kiểm sát ở nước ta từ năm 1945 đến nay, cũng như tiến trình nghiên cứu và cải
cách tư pháp.
Bài viết “Bàn về vai trò, trách nhiệm của đơn vị và cán bộ quản lý nghiệp vụ
thuộc Viện kiểm sát các cấp” của tác giả Lại Hợp Việt đăng trên Tạp chí kiểm sát số
14/2016; Bài viết có một số trọng điểm sau: Căn cứ Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân
dân, Pháp lệnh Kiểm sát viên (KSV) Viện kiểm sát nhân dân và các văn bản quy
phạm pháp luật khác về tư pháp; thì những quyền năng pháp lý mà Viện Kiểm sát
(VKS) trực tiếp thực hiện để quyết định và liên quan đến việc cáo buộc người phạm
tội thì đó là quyền năng thuộc nội dung chức năng thực hành quyền công tố; những
quyền năng pháp lý mà Viện kiểm sát sử dụng để phát hiện và yêu cầu xử lý các vi
phạm pháp luật của các cơ quan và người tiến hành tố tụng, là những quyền năng
thuộc nội dung chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Bài viết "Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay", của tập
thể các tác giả do GS.TS. Đào Trí Úc chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 2020; bài viết
"Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền", của
TSKH Lê Cảm, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4, 2021; Qua quá trình tổng kết lý
luận và thực tiễn sau 20 năm đổi mới, một trong những nội dung đặc trưng của Nhà
nước pháp quyền XHCN đã được Đảng và Nhà nước ta thừa nhận là yêu cầu tôn trọng
và bảo vệ quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do
của mỗi người.
Một số nghiên cứu có đề cập đến tổ chức và hoạt động của VKSND nhưng do
thời gian đã lâu, một số vấn đề pháp luật, thực tế đã thay đổi nên không phù hợp với
xu hướng mới, pháp luật mới. Do đó, việc nghiên cứu đề án “Tổ chức và hoạt động
của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau theo định hướng cải cách tư pháp ở Việt
Nam hiện nay” là đòi hỏi khách quan, cần thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực
tiễn và không trùng lắp với các công trình, đề tài nghiên cứu khác.
3
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề án
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Đề án có đối tượng nghiên cứu là cơ sở lý luận, pháp lý về tổ chức và hoạt
động của VKSND cấp tỉnh từ thực tiễn của VKSND tỉnh Cà Mau theo định hướng
cải cách tư pháp hiện nay.
3.2.Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Trong khuôn khổ của một đề án tác giả xác định phạm
vi của đề tài tập trung nghiên cứu giải quyết những vấn đề pháp lý của VKSND cấp
tỉnh và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của VKSND tỉnh Cà Mau theo pháp luật
hiện hành. Bỡi lẽ, đây là cấp trực tiếp giải quyết số lượng chủ yếu các vụ, việc theo
thủ tục tư pháp và cũng là vấn đề phức tạp, có tác động rất lớn đến hiệu quả của CCTP
trong thời gian tới. Trong đó đề án sẽ tìm hiểu những vấn đề chủ yếu của CCTP và
yêu cầu đặt ra đối với Ngành kiểm sát; Tổ chức và hoạt động của VKSND cấp tỉnh
theo pháp luật hiện hành; những thuận lợi và khó khăn, thách thức trong tổ chức và
hoạt động thực hiện nhiệm vụ của VKSND tỉnh Cà Mau. Trên cơ sở đó đưa ra giải
pháp, kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật.
Phạm vi không gian: Đề án nghiên cứu tổ chức và hoạt động của VKSND cấp
tỉnh từ thực tiễn tỉnh Cà Mau.
Phạm vi về thời gian: Đề án khảo sát số liệu về tổ chức và hoạt động của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, thời gian là 05 năm từ năm 2019 đến năm 2023.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ đề án
4.1. Mục tiêu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận, pháp lý về tổ chức và hoạt động của VKSND cấp
tỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp.
Phân tích thực trạng về tổ chức và hoạt động của VKSND cấp tỉnh từ thực
tiển tỉnh Cà Mau và chỉ ra những khó khăn, vướng mắc, bất cập của quy định pháp
luật hiện hành trong tổ chức và hoạt động nghiệp vụ của VKSND.
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các giải pháp, đề xuất, kiến nghị nhằm khắc phục
vướng mắc, bất cập từ đó nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của VKSND tỉnh
4
Cà Mau theo định hướng cải cách tư pháp hiện nay.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục tiêu chung đã nêu trên, đề án đề ra các nhiệm vụ cụ thể như sau:
Nghiên cứu các quan điểm của Đảng về CCTP và quan điểm của Đảng về đổi
mới tổ chức và hoạt động của VKSND theo định hướng cải cách tư pháp hiện nay.
Đánh giá và làm rõ các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của VKSND
cấp tỉnh từ thực tiễn ở Cà Mau theo định hướng CCTP hiện nay.
Làm rõ thực trạng tổ chức và hoạt động của VKSND tỉnh Cà Mau trong 05
năm từ 2019 đến năm 2023.
Giải pháp, kiến nghị đề xuất vấn đề liên quan đến tổ chức bộ máy và hoạt động
nghiệp vụ của VKSND tỉnh Cà Mau.
5. Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu của đề án
5.1. Phương pháp luận
Đề án được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, Nhà nước và
Pháp luật về đổi mới tổ chức VKSND theo yêu cầu CCTP hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Học viên đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp để phân tích các vấn đề
lý luận cũng như quy định của pháp luật liên quan đến tổ chức bộ máy và hoạt động
nghiệp vụ của VKSND; học viên cũng sử dụng phương pháp phân tích luật viết để
trình bày các bất cập, hạn chế của quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của
VKSND. Ngoài ra, học viên còn sử dụng phương pháp thống kê để tập hợp các số
liệu, các báo cáo, từ thực tiễn của VKSND tỉnh Cà Mau.
6. Hiệu quả của đề án có thể ứng dụng trong thực tiễn
Kết quả của đề án nhằm góp phần làm rõ lý luận cũng như thực tiễn trong quá
trình đổi mới tổ chức và hoạt động của VKSND tỉnh Cà Mau theo yêu cầu CCTP hiện
nay. Trên cơ sở tổng hợp số liệu qua nhiều nguồn tài liệu đã được xác thực, đề án đã
đánh giá đúng thực trạng tổ chức và hoạt động của VKSND tỉnh Cà Mau trong những
năm qua và theo định hướng CCTP hiện nay; làm rõ những ưu điểm, hạn chế trong
5
tổ chức và hoạt động, những thách thức tác động trong việc thực hiện nhiệm vụ đổi
mới. Trên cơ sở đánh giá thực tiễn, đề án đã đưa ra một số giải pháp và kiến nghị phù
hợp với yêu cầu CCTP hiện nay. Mong rằng đề án này có thể được sử dụng để làm
tài liệu tham khảo cho sinh viên, nhà khoa học và phục vụ công tác nghiên cứu, giảng
dạy.
7. Kết cấu đề án
Kết cấu của đề án gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
cấp tỉnh.
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Cà Mau.
Chương 3: Giải pháp, kiến nghị hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN CẤP TỈNH
1.1. Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
cấp tỉnh
1.1.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh
1.1.1.1. Chức năng
Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định VKSND là cơ quan thực hành
quyền công tố (THQCT), kiểm sát hoạt động tư pháp (KSHĐTP) của nước Công hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam [14, Điều 2].
Như vậy, VKSND có hai chức năng để thực hiện nhiệm vụ công tác của mình
đó là: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được
thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và
trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự [14, Điều 3] và
“Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát
tính hợp pháp của hành vi, quyết định của cơ quan tổ chức, cá nhân trong hoạt động
tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc
gải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương
mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư
pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật” [14, Điều 4].
Theo đó, VKSND thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm
tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời,
nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội,
không để lọt tội phạm và người phạm tội và không để người nào bị khởi tố, bị bắt,
tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân [14, Điều 3] và Kiểm
7
sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc
dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, việc thi hành án;
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác
được thực hiện đúng quy định của pháp luật; Việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành
án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù
theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp
khác của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù không bị luật
hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ; Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh; Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động
tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh [14, Điều 4].
1.1.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn
Điều 2 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định “VKSND có nhiệm vụ bảo
vệ Hiến pháp và Pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”
[14, Điều 2].
Khi thực hiện chức năng THQCT thì VKSND có quyền: “Yêu cầu khởi tố,
hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không
phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong
những trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định;
Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế
quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự;
Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết tố giác,
tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
8
Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện; Yêu cầu cơ quan, tổ
chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tội phạm, người phạm tội;
Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiến hành
một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người
phạm tội;
Điều tra các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng,
chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật; Quyết định việc
áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố;
Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa; Kháng nghị bản án, quyết
định của Tòa án trong trường hợp Viện kiểm sát nhân dân phát hiện oan, sai, bỏ lọt
tội phạm, người phạm tội” [14, Điều 3].
Khi thực hiện chức năng KSHĐTP thì Viện kiểm sát có quyền: “Yêu cầu cơ
quan, tổ chức cá nhân thực hiện hoạt động tư pháp theo đúng quy định của pháp luật;
tự kiểm tra việc tiến hành hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền và thông báo kết quả
cho Viện kiểm sát nhân dân; cung cấp hồ sơ, tài liệu để Viện kiểm sát nhân dân kiểm
tra tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong hoạt động tư pháp;
Trực tiếp kiểm sát; xác minh, thu thập tài liệu để làm rõ vi phạm pháp luật của
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp; Xử lý vi phạm; yêu cầu, kiến nghị
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khắc phục, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp
luật trong hoạt động tư pháp; kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp
phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm;
Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị
hành vi, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kháng nghị hành vi, quyết định
có vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền khác trong hoạt động tư
pháp;
Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; giải quyết
khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm
sát hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật” [14, Điều 4].
9
Ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên pháp luật còn quy định cho VKSND
thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị trong trường hợp sau:
“Trường hợp hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền
trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con
người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân thì Viện kiểm sát nhân dân phải kháng nghị” [14, Điều 5].
“Trường hợp hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động
tư pháp có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng không thuộc trường hợp phải kháng
nghị theo quy định thì Viện kiểm sát nhân dân kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân đó
khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật; nếu
phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu
quan khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm”
[14, Điều 5].
1.1.2. Cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
cấp tỉnh
1.1.2.1. Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
Điều 46 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định:
“Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, Kiểm
sát viên, Kiểm tra viên, công chức khác và người lao động khác;
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có cơ cấu tổ chức gồm Ủy ban kiểm sát
(UBKS), văn phòng và các phòng nghiệp vụ và tương đương” [14, Điều 46].
Ủy ban kiểm sát Viện VKSND cấp tỉnh được quy định Tại Điều 47 Luật Tổ
chức VKSND năm 2014:
“Ủy ban kiểm sát VKSND cấp tỉnh gồm có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng
và Kiểm sát viên theo đề nghị của Viện trưởng [14, Điều 47]. Các Kiểm sát viên này
được chỉ định từ một số trưởng phòng nghiệp vụ và tương đương.
Ủy ban kiểm sát VKSND tỉnh họp do Viện trưởng chủ trì để thảo luận và quyết
định những vấn đề sau đây: Việc thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác, chỉ
thị, thông tư và quyết định của VKSND tối cao; Việc thực hiện chương trình, kế
10
hoạch công tác của VKSND cấp cao; Báo cáo tổng kết công tác với VKSND cấp trên,
báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp; Xét tuyển người đang công tác
tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và cấp huyện đủ điều kiện dự thi vào ngạch KSV cao
cấp, KSV trung cấp, KSV sơ cấp; Xem xét, đề nghị Viện trưởng VKSND tối cao bổ
nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức KSV cao cấp, KSV trung cấp, KSV sơ cấp đang
công tác tại VKSND cấp tỉnh và cấp huyện;
Ủy ban kiểm sát ban hành Nghị quyết khi thực hiện thẩm quyền được quy định
như trên. Nghị quyết của UBKS phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán
thành, trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện
trưởng.
Nếu Viện trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên UBKS thì thực
hiện theo quyết định của đa số, nhưng có quyền báo cáo Viện trưởng VKSND tối cao;
Theo đề nghị của Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, Ủy ban kiểm sát thảo luận, cho ý
kiến về các vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động phức tạp để Viện trưởng xem xét, quyết định.
Viện trưởng VKSND tối cao quyết định sẽ quyết định Số lượng thành viên
UBKS, cùng với một số Kiểm sát viên theo văn bản đề nghị của Viện trưởng VKSND
cấp tỉnh, VKSND cấp tỉnh cơ cấu số lượng thành viên trong UBKS là không quá 09
người; Do tính chất đặc thù nên VKSND Thành phố Hà Nội và VKSND TP. Hồ Chí
Minh số lượng không quá 13 người.
1.1.2.2. Nguyên tắc hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Một, nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành
Điều 7 Luật Tổ chức VKSND quy định: “Viện kiểm sát nhân dân do Viện
trưởng lãnh đạo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên, Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới
chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao” [14,
Điều 7].
Theo nguyên tắc này, VKSND các cấp đều đặt dưới sự lãnh đạo của Viện
trưởng, Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu trách nhiệm và chịu sự chỉ đạo mọi hoạt
11
động của VKSND cấp mình với Viện trưởng VKSND cấp trên. Viện trưởng VKSND
cấp huyện, cấp tỉnh, cấp cao đều đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất và phải chịu trách
nhiệm cá nhân về toàn bộ hoạt động của VKSND do mình lãnh đạo trước Viện trưởng
VKSND tối cao [4, tr.63]. Nguyên tắc này nhằm bảo đảm cho Ngành kiểm sát hoạt
động thông suốt, thống nhất từ trên xuống và đây được xem là nguyên tắc đặt thù chỉ
có ở Ngành kiểm sát để phân biệt với cơ quan nhà nước khác trong hệ thống chính trị
ở nước ta.
Hai, Nguyên tắc độc lập
Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức cá nhân cản trở, can thiệp vào hoạt động thực
hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân; lợi dụng
quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống cán bộ, công chức, viên chức và người lao động
khác của Viện kiểm sát nhân dân [14, Điều 9].
Theo nguyên tắc này, Khi thực hiện chức năng THQCT và KSHĐTP thì
VKSND chỉ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, quy chế quy định của ngành mà không
lệ thuộc hay chi phối từ sự chỉ đạo nào của tổ chức, cá nhân. Nguyên tắc độc lập được
thể hiện thông qua công tác tổ chức bộ máy của VKSND các cấp và hoạt động của
kiểm sát trong thực hiện nhiệm vụ của mình. Theo đó, luật Tổ chức quy định cho
Viện trưởng VKSND tối cao có quyền quyết định cơ cấu, bộ máy, biên chế của
VKSND các cấp dưới; có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Viện trưởng, Phó
Viện trưởng VKSND các cấp, có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát
viên, Điều tra viên các ngạch (trừ Kiểm sát viên VKSND tối cao). Ngoài ra, Theo
quy định Kiểm sát viên, kiểm tra viên khi thực hiện nhiệm vụ chỉ tuân theo pháp luật,
chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Viện trưởng về hành vi, quyết định của mình
trong việc thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
Ba, nguyên tắc kết hợp vai trò lãnh đạo của Viện trưởng với quyền thảo luận
và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng của Ủy ban kiểm sát
Nguyên tắc này là một biểu hiện cụ thể của nguyên tắc tập trung dân chủ.
“Nguyên tắc này nhằm đề cao trách nhiệm cá nhân của Viện trưởng VKSND cấp tỉnh,
khẳng định Viện trưởng là người có quyền và có trách nhiệm quyết định các vấn đề
12
thuộc thẩm quyền của VKSND cấp tỉnh nhưng không có nghĩa là loại trừ nguyên tắc
tập trung dân chủ ra khỏi hoạt động kiểm sát” [1, tr.3].
Ủy ban kiểm sát thực hiện chức năng thảo luận và quyết định thông qua biểu
quyết tập thể. Những vấn đề đưa ra UBKS được các thành viên thảo luận và quyết
định từng vấn đề. Ủy ban kiểm sát họp và thảo luận những vấn đề quan trọng như
những phương hướng, biện pháp thực hiện nhiệm vụ của VKSND hai cấp, bộ máy tổ
chức, nhân sự, những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh
tế, lao động có tính chất phức tạp; Vụ án phải thỉnh thị VKSND tối cao về tội danh
và đường lối xử lý; Các vụ án đã có ý kiến UBKS nhưng sau đó xử lý trái với ý kiến
của UBKS phải báo cáo lại ủy ban kiểm sát cho ý kiến.... Trong trường hợp không
tán thành với ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì Viện trưởng vẫn phải
thực hiện theo đa số. Tuy nhiên, Viện trưởng có quyền báo cáo lên Viện trưởng
VKSND tối cao. Như vậy, quy định này một mặt bảo đảm phát huy dân chủ, trí tuệ
của tập thể, mặt khác đề cao trách nhiệm cá nhân của Viện trưởng.
1.1.3. Quan hệ công tác của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
1.1.3.1. Quan hệ công tác đối với Tỉnh ủy
Với nguyên tắc Đảng lãnh đạo và Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND tỉnh
là Cán bộ thuộc diện Ban thường vụ Tỉnh ủy quản lý nên trước khi làm quy trình bổ
nhiệm chức vụ Viện trưởng, Phó Viện trưởng thì Ban thường vụ Tỉnh ủy sẽ có ý kiến
nhận xét trong công tác cán bộ. Không những vậy, trong hoạt động của VKSND tỉnh,
các vụ án, vụ việc có tính chất phức tạp, nổi cộm mà dư luận, báo chí đặt biệt quan
tâm, các vụ án do Ban nội chính (Cơ quan tham mưu về công tác phòng chống tham
nhũng, tiêu cực, cải cách tư pháp của Tỉnh ủy) theo dõi quản lý, thì VKSND tỉnh phải
Báo cáo xin ý kiến Tỉnh ủy cho chủ trương, định hướng để giải quyết kịp thời theo
đúng quy định pháp luật. Nhất là vụ án có liên quan đến chủ thể phạm tội đặc biệt, có
chức vụ, quyền hạn, chức sắc tôn giáo, người có uy tín sẽ được thực hiện theo quy
trình xử lý về mặt Đảng, mặt chính quyền, tiếp đến sẽ chuyển đến các cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng để thực hiện các bước tiếp theo.
1.1.3.2. Quan hệ công tác đối với Hội đồng nhân dân tỉnh
13
Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc
hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận giám sát hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân theo quy định của pháp luật [14, Điều 10].
Như vậy, định kỳ tại các kỳ họp của HĐND tỉnh thì Viện trưởng VKSND tỉnh
có trách nhiệm báo cáo tình hình công tác kiểm sát của đơn vị, cũng như giải trình,
trả lời các câu hỏi chất vấn của các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh. Đây cũng là hình
thức giám sát của HĐND, đại biểu HĐND đối với các cơ quan tư pháp ở địa phương
trong đó có VKSND tỉnh. VKSND tỉnh đã thực hiện ký kết quy chế phối hợp với Ban
pháp chế HĐND tỉnh, quy chế này quy định nguyên tắc, phương thức, nội dung và
trách nhiệm phối hợp công tác giữa 2 đơn vị trong việc thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của mỗi cơ quan. Cụ thể, phối hợp trong hoạt động giám sát, khảo sát; hoạt động
thẩm tra; hoạt động kiểm sát của Viện Kiểm sát; tiếp nhận, giải quyết đơn khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân trong các hoạt động tư pháp; hỗ trợ kinh phí
phục vụ các hoạt động kiểm sát…
Ngoài ra, Viện VKSND cấp tỉnh cùng với Ban pháp chế HĐND cấp tỉnh phối
hợp giám sát việc thực thi pháp luật tại UBND tỉnh, TAND tỉnh và một số cơ quan,
ban, ngành trên địa bàn tỉnh. VKSND tỉnh cũng tham mưu cho HĐND yêu cầu các
cơ quan có trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân phải thống nhất thời điểm
lấy số liệu báo cáo theo năm công tác của đơn vị.
1.1.3.3. Quan hệ công tác đối với Ủy ban nhân dân tỉnh
Nhằm triển khai thực hiện chỉ đạo của VKSND tối cao và Ban thường vụ Tỉnh
ủy yêu cầu các cơ quan tố tụng ký kết quy chế phối hợp với UBND tỉnh. VKSND
tỉnh thực hiện ký kết quy chế phối hợp với UBND tỉnh. Quy chế phối hợp này có vai
trò rất quan trọng, làm căn cứ để phân công nhiệm vụ trong việc triển khai thực hiện
công tác của mỗi đơn vị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của của mỗi cơ quan cũng
như công tác quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực, nhất là việc ra các quyết định hành
chính, hành vi hành chính của các cấp chính quyền, tuyên truyền, phổ biến giáo dục
pháp luật, giải quyết khiếu nại tố cáo góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của
14
địa phương.
Viện KSND tỉnh và UBND tỉnh thực hiện công tác phối hợp dựa trên nguyên
tắc chung là tuân thủ pháp luật và thực hiện chức năng nhiệm vụ riêng của mỗi cơ
quan theo quy định của pháp luật. “Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng, ban hành văn bản
quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật thuộc thẩm quyền của mình; thường
xuyên phối hợp trao đổi, cung cấp thông tin về công tác tiếp công dân và giải quyết
đơn thư khiếu nại tố cáo; công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực; công tác đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ; hợp tác quốc tế; hỗ trợ kinh phí hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân; xử lý tố giác, tin báo về tội phạm; giải quyết các vụ án hình sự, vụ án hành
chính, vụ việc dân sự, các việc khác theo quy định của pháp luật và công tác giam
giữ, thi hành án” [10, tr.56]. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ
của mình thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị đến Chủ tịch UBND tỉnh các vấn đề
liên quan đến kết quả giải quyết vụ án hành chính, việc thi hành án hành chính và
phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật hình sự, dân sự có chiều hướng tăng ảnh
hưởng đến tình hình trật tự xã hội ở địa phương, cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến
quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
1.1.3.4. Quan hệ công tác đối với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Quan hệ công tác đối với Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên,
Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao [14, Điều 7].
Theo đó, VKSND tối cao sẽ lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, xử lý trên tất cả các
mặt công tác của VKSND cấp tỉnh; Quyết định phân bổ biên chế, công chức; thanh
tra, kiểm tra nghiệp vụ; quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Viện trưởng,
Phó Viện trưởng, các Kiểm sát viên của VKSND cấp tỉnh.
Công tác hướng dẫn, giải đáp vướng mắc về pháp luật, nghiệp vụ, báo cáo
thỉnh thị, trả lời thỉnh thị trong ngành kiểm sát nhân dân được quy định như sau:
15
“Trong công tác nghiệp vụ nếu tại VKSND cấp tỉnh gặp khó khăn, vướng mắc
về đường lối giải quyết vụ án, vụ việc có tính chất phức tạp, mà liên ngành đã họp
mà chưa thống nhất thì sẽ báo cáo xin ý kiến thỉnh thị VKSND cấp cao, trường hợp
không trả lời được thì VKSND cấp cao báo cáo VKSND tối cao xin ý kiến, VKSND
tối cao có trách nhiệm trả lời thỉnh thị Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh” [20, Điều
14].
Ngoài ra, VKSND cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo tình hình hoạt động của
đơn vị theo định kỳ hàng tháng, báo cáo sơ kết 06 tháng, tổng kết năm cho VKSND
tối cao và một số báo cáo chuyên đề nghiệp vụ cho các đơn vị nghiệp vụ thuộc
VKSND tối cao.
Quan hệ công tác đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là một cấp kiểm sát độc lập trong 04 cấp kiểm
sát; là cấp dưới trực tiếp của VKSND tối cao, cấp trên của VKSND cấp tỉnh, cấp
huyện về công tác THQCT và kiểm sát xét xử (KSXX). Công tác phối hợp giữa
VKSND cấp cao và VKSND cấp tỉnh trong thời gian qua rất hiệu quả. Công tác thỉnh
thị và trả lời thỉnh thị được VKSND cấp cao phân loại, ưu tiên nghiên cứu xem xét
đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Đặc biệt, đối với những trường hợp có bị can, bị
cáo kêu oan hoặc Tòa án tuyên không phạm tội thì VKSND cấp cao sẽ yêu cầu
VKSND cấp tỉnh trực tiếp báo cáo, VKSND cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo nội dung
vụ án và đường lối xử lý của đơn vị mình.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã tăng cường tính chủ động trong công tác nghiệp
vụ, thực hiện nghiêm việc thỉnh thị Viện kiểm sát cấp trên trong phạm vi thẩm quyền,
lĩnh vực công tác được phân công quản lý. Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu trách
nhiệm về việc không thỉnh thị hoặc thỉnh thị chậm đối với những vụ, việc nêu trên,
dẫn đến để xảy ra sai sót, vi phạm trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
Viện trưởng VKSND cấp trên phân công Kiểm sát viên nghiên cứu, xây dựng văn
bản trả lời thỉnh thị theo đúng thời hạn quy định, trường hợp phải kéo dài thời hạn trả
lời thỉnh thị do phải trao đổi với liên ngành hoặc báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát nhân
dân thì thông báo cho Viện kiểm sát cấp dưới biết. Nội dung trả lời thỉnh thị phải rõ
16
ràng, cụ thể, chất lượng, đúng với nội dung thỉnh thị, theo đúng quy định của pháp
luật và bảo đảm tính kịp thời [6].
Trong công tác nghiệp vụ thì Viện trưởng VKSND cấp cao sẽ chỉ đạo, hướng
dẫn và kiểm tra hoạt động nghiệp vụ VKSND cấp tỉnh được quy định Điều 65 Luật
tổ chức VKSND năm 2014:
“Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền chỉ đạo, hướng
dẫn, kiểm tra hoạt động nghiệp vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh” [14, Điều 65].
Ngoài ra, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh còn có trách nhiệm thực hiện yêu
cầu của VKSND cấp cao ngoài các công tác nghiệp vụ như: Báo cáo chuyên đề, báo
cáo đột xuất, báo cáo định kỳ, yêu cầu cung cấp số liệu, các yêu cầu khác trong phạm
vi nhiệm vụ của mình.
Quan hệ công tác đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Theo quy định thì Viện trưởng hoặc các Phó Viện trưởng VKSND cấp tỉnh
được phân công phụ trách một số đơn vị VKSND cấp huyện để lãnh đạo, chỉ đạo, tổ
chức kiểm tra, thanh tra, kiểm tra; thành lập hội đồng xét thi đua, khen thưởng; thực
hiện quy định, quy chế cơ quan; hướng dẫn nghiệp vụ, trả lời yêu cầu, thỉnh thị của
các VKSND cấp huyện; điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, biệt phái công chức, kiểm
sát viên của đơn vị VKSND cấp huyện.
Ngoài ra, Quyết định số 599/QĐ-VKSNDTC ngày 06/12/2019 của Viện
trưởng VKSND tối cao quy định: “Trường hợp vụ án hình sự được VKSND cấp tỉnh
THQCT, kiểm sát điều tra (KSĐT) và tố tụng phân công VKSND cấp huyện thực
hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa thì VKSND cấp tỉnh chịu trách
nhiệm đối với toàn bộ quá trình khởi tố, điều tra và quyết định truy tố bị can ra trước
Tòa án nhân dân có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án”. Do đó, VKSND cấp huyện
chịu trách nhiệm THQCT, KSXX tại phiên tòa khi được VKSND cấp tỉnh phân công.
1.1.3.5. Quan hệ công tác đối với Cơ quan điều tra Công an tỉnh
Mối quan hệ công tác của VKSND tỉnh với Cơ quan điều tra (CQĐT) Công
an tỉnh trong giải quyết các vụ án hình sự là mối quan hệ phối hợp, kiểm soát lẫn
17
nhau. Theo đó,“Viện kiểm sát nhân dân cùng với cơ quan điều tra bắt đầu phối hợp
với nhau để giải quyết vụ án từ khi CQĐT tiếp nhận, giải quyết tố giác tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố của các cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đến cho đến khi kết
thúc điều tra, đề nghị truy tố là mối quan hệ công tác trong hoạt động tố tụng hình sự,
có ý nghĩa hết sức quan trọng, được Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2015
quy định cụ thể, chi tiết và được hướng dẫn thực hiện tại thông tư liên tịch số
04/2018/TTLT-VKSNTTC-BCA-BQP “quy định về phối hợp giữa CQĐT và
VKSND trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2015” [28]. Trong
công tác phối hợp này có tầm quan trọng là vì giúp cho việc phát hiện tội phạm được
kịp thời để tiến hành khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của pháp luật. Khi
CQĐT đã ra quyết định khởi tố vụ án để điều tra thì việc điều tra phải tiến hành theo
đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật, nhằm để bảo đảm việc điều tra khách
quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra oan sai và bỏ lọt tội
phạm. “Trong mối quan hệ này, cơ quan điều tra có trách nhiệm phát hiện, áp dụng
các biện pháp điều tra được pháp luật quy định để điều tra làm rõ tội phạm. VKSND
được pháp luật giao nhiệm vụ, quyền hạn thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra
bảo đảm việc điều tra tuân thủ đúng quy định của pháp luật” [7, tr.11].
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và Cơ quan điều tra Công an tỉnh còn có mối quan
hệ kiểm soát lẫn nhau. Nhiệm vụ của hai cơ quan này là khác nhau, tuy nhiên nằm
trong mối quan hệ là các cơ quan tiến hành tố tụng trong Tố tụng hình sự, mặc nhiên
sẽ chịu sự tác động, chi phối, chế ước. Theo quy định của Luật tổ chức VKSND năm
2014 thì “Cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành các quyết
định, yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân; có quyền kiến nghị,
khiếu nại, tố cáo các hành vi, quyết định trái pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân.
Viện kiểm sát nhân dân phải giải quyết, trả lời theo quy định của pháp luật” [14, Điều
9]. Như vậy, VKSND tỉnh sẽ thực hiện các quyền năng của mình thông qua các hoạt
động yêu cầu, kiểm tra, giám sát, kiến nghị, kháng nghị nhằm khắc phục những sai
sót, hạn chế mà trong quá trình kiểm sát phát hiện đối với công tác của cơ quan điều
tra.
18
1.1.3.6. Quan hệ công tác đối với Tòa án nhân dân tỉnh
Mối quan hệ công tác giữa 02 cơ quan VKSND tỉnh và TAND tỉnh là quan hệ
phối hợp, chế ước được thể hiện: “Sự tác động qua lại của hai chủ thể này trong những
điều kiện nhất định bảo đảm cho việc thực thi công vụ đúng đắn, tránh lạm quyền,
không để xảy ra sai sót, vi phạm pháp luật, dẫn đến xâm phạm quyền và lợi ích hợp
pháp của Nhà nước và công dân. Mối quan hệ phối hợp, chế ước giữa VKSND và
TAND không bao biện lẫn nhau, không làm ảnh hưởng đến việc thực thi chức năng,
nhiệm vụ của mỗi ngành, mà vẫn bảo đảm tính độc lập, chỉ tuân theo pháp luật” [9].
Thực hiện công tác phối hợp nhằm để giải quyết những khó khăn, vướng mắc
trong hoạt động tố tụng hình sự. Khi có những vụ, việc phức tạp, khó giải quyết, chưa
thống nhất thì CQĐT, VKSND, TAND tổ chức họp liên ngành để trao đổi bàn giao
tài liệu, thời gian đưa vụ án ra xét xử họp chứ không phải bàn về nội dung vụ án,
quyết định tội danh, mức hình phạt, mức án hay vấn đề khác đảm bảo không ảnh
hưởng đến tính độc lập xét xử của Tòa án. Ngoài ra, giữa hai Ngành còn phối hợp
trong công tác tiếp ký thống kê hình sự liên ngành; đối chiếu, kiểm tra, xử lý số liệu
để phục vụ báo cáo lãnh đạo hai Ngành trong các kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh.
Trong tố tụng hình sự quy định về việc TAND trả hồ sơ cho VKSND để điều tra bổ
sung thể hiện sự chế ước lẫn nhau giữa TAND và VKSND nhằm khắc phục những
sai sót trong giai đoạn điều tra, truy tố, góp phần cho Tòa án xét xử vụ án một cách
toàn diện, khách quan.
1.1.3.7. Quan hệ công tác đối với Cục thi hành án dân sự tỉnh
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã thực hiện việc ký kết quy chế phối hợp với Cục
thi hành án dân sự (THADS) tỉnh, nội dung quy chế là phối hợp với Cục THADS tỉnh
tiến hành rà soát, kiểm tra, xác minh những vụ việc chưa có điều kiện thi hành; các
vụ, việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính tồn đọng, phức tạp chưa thi hành
xong; Kiểm sát chặt chẽ các quyết định thi hành án tại Cục THADS cấp tỉnh, các Chi
cục THADS cấp huyện theo quy định của pháp luật. Qua công tác kiểm sát kịp thời
phát hiện được những sai sót, vi phạm về trình tự, thủ tục thi hành án của Chấp hành
viên. VKSND tỉnh đã tiến hành kiểm sát trực tiếp; kiểm sát đột xuất, kiểm tra theo
19
chuyên đề các Chi cục THADS cấp huyện. Ngoài ra, còn thể hiện cụ thể thông qua
quy định phối hợp trong thống kê thi hành án dân sự, thi hành án hành chính liên
ngành như thống kê kết quả thi hành án về số việc, thống kê kết quả thi hành án về
số tiền; thống kê kết quả kiểm sát thi hành án dân sự, hành chính; thống kê bản án,
quyết định mà Cơ quan THADS yêu cầu Tòa án sửa chữa, bổ sung, giải thích; kiến
nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; yêu cầu xác định, phân chia tài sản; yêu cầu tuyên bố
giao dịch vô hiệu; kết quả giải quyết của Tòa án.
1.2. Nhu cầu cải cách tư pháp đối với đổi mới Tổ chức và hoạt động của
Viện kiểm sát nhân dân
1.2.1. Quan điểm cải cách tư pháp
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã bổ sung thêm
nội dung: “Nghiên cứu, ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, trong
đó có Chiến lược cải cách tư pháp” [35]. Trong đó có yêu cầu là phải tiếp tục đổi mới
tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động và uy tín của Viện kiểm
sát nhân dân.
Cải cách tư pháp phải tiến hành một cách toàn diện để đáp ứng yêu cầu theo
Hiến pháp năm 2013 là: “Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối
hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp” [9, Điều 2]. Chính vì vậy, CCTP không thể tách rời với quá trình
xây dựng một Nhà nước của dân, do dân và vì dân; CCTP càng có nhiệm vụ to lớn
hơn là cùng với cả hệ thống chính trị góp phần thực hiện những quy định, thể chế về
cơ chế kiểm soát quyền lực trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.
Hiến pháp năm 2013 đã và luôn xác định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân
dân, vì Nhân dân” [13]. Nhà nước pháp quyền là lấy pháp luật làm công cụ để quản
lý xã hội, hệ thống pháp luật phải được hoàn thiện, đầy đủ để bảo đảm tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa; là Nhà nước của dân, do dân và vì dân là một Nhà nước
kiểu mới; một Nhà nước luôn tôn trọng giá trị nhân văn của con người và đề cao ý
20
thức, sự tôn trọng pháp luật. Nhà nước pháp quyền thì hệ thống cơ quan tư pháp trong
đó có VKSND là công cụ quan trọng trong việc bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ
XHCN, bảo vệ quyền làm chủ của Nhân dân nên sự cần thiết phải CCTP để đạt mục
tiêu “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ
công lý, từng bước hiện đại, phục vụ Nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa” càng phải được thực hiện nhiều hơn, tốt hơn nữa.
Như vậy, vai trò của VKSND trong CCTP là việc thực hiện hiệu quả công tác
xây dựng, hoàn thiện chính sách pháp luật, công tác triển khai thi hành luật đáp ứng
yêu cầu cải cách tư pháp; thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp. Trong đó, cần đổi mới, để thực hiện ngày càng tốt hơn
các hoạt động tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố
với hoạt động điều tra, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa theo tinh thần cải
cách tư pháp, góp phần thực hiện hiệu quả nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được
bảo đảm”, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động tư pháp trong
việc giải quyết các vụ - việc dân sự, vụ án hành chính, kinh doanh thương mại và hôn
nhân gia đình; những vụ việc khác theo quy định của pháp luật và tiếp tục đổi mới,
nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự,
thi hành án dân sự, thi hành án hành chính… nhằm góp phần ổn định an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần xây dựng thể chế nhà nước pháp quyền XHCN,
nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.
1.2.2. Quan điểm về đổi mới tổ chức và hoạt động Viện kiểm sát nhân dân
theo định hướng cải cách tư pháp
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng ta đã đặt ra yêu cầu cao hơn
cho các cơ quan tư pháp trong đó yêu cầu đối với VKSND là: “Tiếp tục đổi mới tổ
chức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động và uy tín của VKSND, giải
quyết kịp thời, đúng pháp luật các loại tranh chấp, khiếu kiện theo luật định; phòng
ngừa và đấu tranh có hiệu quả với hoạt động của tội phạm và vi phạm pháp luật” [33].
Theo đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới” đã nêu rõ: “Hoàn thiện thể chế để
21
VKSND thực hiện tốt chức năng THQCT và KSHĐTP; hoàn thiện cơ chế tăng cường
trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, tăng cường kiểm soát bên trong việc
thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động xét xử phù hợp với nguyên tắc Thẩm
phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” [2].
Như vậy, Đảng ta đã khẳng định: “VKSND tiếp tục giữ nguyên và đổi mới,
làm tốt hơn, hiệu quả hơn hai chức năng là THQCT và KSHĐTP; đồng thời, có cơ
chế kiểm soát hiệu quả việc thực hiện quyền công tố và tăng cường kiểm soát bên
trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của ngành kiểm sát” [33]. Để đổi mới tổ
chức và hoạt động của VKSND trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay Đảng ta đã
có những quan điểm chỉ đạo sau:
Thứ nhất, đổi mới phải đảm bảo sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, phải dựa trên
nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao vai trò
của VKSND trong bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích công
cộng, lợi ích Nhà nước, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công,
phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp; thực hiện chủ trương, định hướng cốt lõi của Đảng về cải
cách tư pháp;
Thứ hai, các nhiệm vụ, giải pháp về đổi mới phải đồng bộ, bảo đảm khoa học,
tính chính trị, tính pháp lý và phải phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước; Việc đổi
mới cần có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình thích hợp, bảo đảm tính liên tục, có kế
thừa và phát huy kết quả cải cách tư pháp đã đạt được, khắc phục được những hạn
chế, tồn tại từ thực tiễn; tập trung giải quyết những nhiệm vụ chưa hoàn thành và
không còn phù hợp;
Thứ ba, việc đổi mới cần được nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc, một cách
hợp lý kinh nghiệm các nước có nền tư pháp hiện đại trên thế giới, đặc biệt là các
nước có thể chế chính trị, kinh tế - xã hội tương đồng với Việt Nam về tổ chức và
hoạt động của cơ quan công tố, kiểm sát;
Thứ tư, Việc đổi mới phải bảo đảm sự thống nhất về tư tưởng, nhận thức, hành
động trong toàn Ngành kiểm sát; tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt tạo sự
22
thống nhất trong cấp ủy, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân các cấp và sự đồng thuận
của xã hội [44].
Đảng ta đã xác định phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện
kiểm sát nhân dân trong thời gian tới như sau:
Nâng cao năng lực, hiệu quả, tính chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, liêm
chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân trong tổ chức và hoạt động của VKSND;
Tăng cường vai trò, trách nhiệm của VKSND trong bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền
con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi
ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân; Đáp ứng
tốt yêu cầu phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với tội phạm và vi phạm pháp luật;
góp phần giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các loại tranh chấp, khiếu kiện theo luật
định; Xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên, công chức khác có chuyên môn nghiệp
vụ cao, chuyên nghiệp, kinh nghiệm, kiến thức về kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế,
có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin tốt và đảm bảo tiêu chuẩn về chính trị,
phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao; Đổi mới và
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò giám sát của các cơ quan dân cử,
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và của Nhân dân
đối với hoạt động của VKSND [44].
1.2.3. Nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động Viện kiểm sát nhân dân theo
định hướng cải cách tư pháp
Hoàn thiện quy định của pháp luật để bảo đảm cho VKSND thực hiện tốt cơ
chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan tư pháp. Để thực
hiện tốt chủ trương của Đảng về phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan
tư pháp nói chung và trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động
tư pháp của VKSND nói riêng, cần tiếp tục rà soát sửa đổi, bổ sung các quy định của
pháp luật để khắc phục những vướng mắc, bất cập phát sinh qua thực tiễn thi hành,
trong đó, bảo đảm các quy định của pháp luật thể hiện được đầy đủ, cụ thể, rõ ràng
nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các
23
lĩnh vực tố tụng để VKSND thực hiện tốt hơn chức năng thực hành quyền công tố,
kiểm sát hoạt động tư pháp.
Tiếp tục đổi mới, tăng cường các biện pháp nâng cao hiệu quả lãnh đạo của
Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp trong thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt
động tư pháp trong tố tụng hình sự; cần nâng cao hơn nữa trách nhiệm trong trực tiếp
thực hành quyền công tố, bảo đảm các quyết định được ban hành đúng quy định và
có căn cứ, đảm bảo chất lượng bản cáo trạng, quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Đồng thời, tăng cường công tác quản lý chặt chẽ đối với các hoạt động thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử vụ án hình sự; cần xác định nhiệm
vụ trọng tâm, hàng đầu của ngành là chống oan, sai, chống bỏ lọt tội phạm.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra (kiểm tra việc thực hiện kế hoạch,
chương trình công tác, kiểm tra theo chuyên đề nghiệp vụ; thanh tra, kiểm tra việc
tiến hành thủ tục tố tụng và áp dụng pháp luật nội dung, tính có căn cứ, tính hợp pháp,
chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp).
Qua đó, nhanh chóng và kịp thời phát hiện yếu kém, tồn tại để đề ra những biện pháp
khắc phục, kiên quyết xử lý trường hợp vi phạm kỷ luật công tác, đạo đức nghề
nghiệp.
Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trước hết là đổi mới nhận thức về
mục tiêu, hình thức, nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhằm xây dựng
đội ngũ công chức có đủ tiêu chuẩn, năng lực thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
ngành trong tình hình mới, theo yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý, chỉ đạo và công
tác chuyên môn, nghiệp vụ của VKSND. Xem đây là nhiệm vụ trọng yếu, đột phá
trong xây dựng VKSND hiện đại, phục vụ đắc lực công tác lãnh đạo, quản lý, chỉ
đạo, điều hành và công tác chuyên môn, nghiệp vụ.
Sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ của Viện kiểm sát các cấp bảo đảm
tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và tăng cường các điều kiện bảo đảm (cơ sở
vật chất, chế độ, chính sách…); rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy của các Viện kiểm
sát gắn với cải cách thủ tục hành chính - tư pháp; chú trọng phân định rành mạch
24
thẩm quyền quản lý hành chính của thủ trưởng cơ quan với trách nhiệm, quyền hạn
tư pháp của các công chức được giao thực hiện các hoạt động tư pháp.
1.2.4. Các yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân theo yêu cầu cải cách tư pháp
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức bộ máy và thực hiện chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND, ảnh hưởng nhất định
đến vai trò của ngành KSND trong việc thực hiện các nhiệm vụ về cải cách tư pháp,
cụ thể như là:
Một là: Quan điểm chưa nhất quán về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp
trước khi soạn thảo, sửa đổi bổ sung Hiến pháp năm 2013. Điều này gây ảnh hưởng
nhất định đến tâm lý và đánh giá vai trò của VKSND trong hệ thống chính trị.
Hai là: Vấn đề cải cách tư pháp liên quan đến tinh gọn đầu mối, tinh giảm biên
chế chưa đáp ứng được đòi hỏi về nguồn nhân lực để đáp ứng khối lượng công việc
ngày càng nhiều, chức năng, nhiệm vụ ngày càng tăng theo quy định của pháp luật.
Ba là: Việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhất là về khoa học kỹ thuật,
công nghệ thông tin chưa đáp ứng được đòi hỏi từ thực tiễn để thực hiện tốt hơn nữa
yêu cầu của CCTP.
Bốn là: Chế độ và con người có nơi, có khâu chưa được quan tâm đào tạo đúng
mức, ngang tầm với trách nhiệm; việc ứng dụng những cái mới, hiện đại còn chậm
so với yêu cầu đặt ra.
Năm là: Sự thiếu đồng bộ của liên ngành các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh
Thừa Thiên Huế trong việc thực hiện các nhiệm vụ về CCTP.
1.3. Điều kiện đảm bảo thực hiện đổi mới tổ chức và hoạt động Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh
Các điều kiện để bảo đảm thực hiện đổi mới tổ chức và hoạt động của VKSND
cấp tỉnh hiện nay là đòi hỏi khách quan, là yêu cầu cấp bách trong giai đoạn cải cách
tư pháp hiện nay. Để bảo đảm các điều kiện đó, cần thực hiện một số nội dung cơ bản
sau:
Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật về tư pháp
25
Trên cơ sở các quan điểm của Đảng về hoàn thiện hệ thống pháp luật tư pháp
gắn liền với tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp là nhiệm
vụ trọng tâm trong chiến lược cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.
Hai là, xác định số lượng, cơ cấu Kiểm sát viên ở mỗi cấp phù hợp với yêu
cầu thực tiễn
Chất lượng KSV đòi hỏi phải có một số lượng, cơ cấu hợp lý so với yêu cầu,
nhiệm vụ đặt ra. Tính hợp lý được biểu hiện ở sự gọn nhẹ, bố trí hợp lý, hoạt động có
hiệu quả; trong đó mỗi cá nhân được phát huy hết năng lực, sở trường của mình, có
thể đảm đương tốt công việc được giao, đảm bảo cho bộ máy vận hành thông suốt và
đạt hiệu quả cao nhất.
Ba là, thực hiện tốt công tác tuyển chọn, bổ nhiệm Kiểm sát viên gắn với việc
quản lý, sử dụng
Công tác tuyển chọn, bổ nhiệm Kiểm sát viên là quá trình lựa chọn một người
có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định để bổ nhiệm vào ngạch Kiểm sát viên tương
ứng; ngoài những quy định chung, cần xem xét thận trọng tiêu chuẩn về “Đức” và
“Tài”.
Công tác quản lý là phải toàn diện cả về đội ngũ Kiểm sát viên và từng Kiểm
sát viên. Nội dung quản lý chủ yếu về chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức, năng
lực, sức khỏe, cả quá trình và hiện tại, trước mắt và triển vọng lâu dài, cả công tác
chung và đời tư... Quản lý đội ngũ Kiểm sát viên để nắm và phát huy được tiềm năng,
qua đó rút ra được những vấn đề cơ bản nhất, phổ biến nhất để có phương hướng, kế
hoạch xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên trong sạch, vững mạnh; đồng thời, sắp xếp
công việc phù hợp, phát huy tốt nhất năng lực sở trường, khắc phục khuyết, nhược
điểm.
Bốn là, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng Kiểm sát viên
Với lộ trình cải cách tư pháp hiện nay, vai trò của Viện KSND trong hệ thống
bộ máy Nhà nước nói chung và các cơ quan tư pháp nói riêng thể hiện nhiều trọng
trách, vai trò ngày càng quan trọng hơn. Trên thực tế, công tác đào tạo, bồi dưỡng
cho đội ngũ KSV ngành KSND chưa nhiều và không được thường xuyên; nội dung
26
và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng chậm được đổi mới, nặng về hình thức, chưa chú
trọng bồi dưỡng chuyên sâu để nâng cao năng lực, kỹ năng thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Như vậy, với chức năng, nhiệm vụ của ngành
KSND; công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với KSV để nâng cao trình độ, năng lực, kỹ
năng nghề nghiệp, rèn luyện phẩm chất đạo đức là hết sức cần thiết và là yêu cầu tất
yếu, cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
Năm là, có điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ phù hợp
Điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ là yếu tố quan trọng tác động trực tiếp
đến chất lượng đội ngũ KSV ở mỗi cấp trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm
vụ được giao. Nhìn chung, về điều kiện, phương tiện làm việc hiện nay của đội ngũ
KSV chưa đáp ứng được yêu cầu, còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhất là các
trang thiết bị trong đấu tranh phòng chống vi phạm và tội phạm; các đơn vị ở vùng
sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có nhiều trụ sở làm việc hiện nay đã hư hỏng, xuống
cấp nghiêm trọng không đảm bảo an toàn cho người sử dụng. Bên cạnh đó, chế độ
đãi ngộ và chính sách tiền lương của KSV hiện nay còn nhiều bất hợp lý, chưa thực
sự tạo động lực mạnh mẽ để thúc đẩy đội ngũ KSV làm việc, chưa tương xứng với
tính chất công việc và trách nhiệm nghề nghiệp.
27
Chương 2
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN TỈNH CÀ MAU
2.1. Khái quát tình hình của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau
2.1.1. Vị trí, tính chất pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau
Vị trí, tính chất pháp lý của VKSND tiếp tục được Hiến pháp năm 2013 ghi
nhận tại Điều 107 đó là:
“Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm
sát hoạt động tư pháp” [13, Điều 107].
Viện kiểm sát nhân dân có vị trí quan trọng không thể thiếu trong quá trình
xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. VKSND là một cơ quan thực
hiện quyền tư pháp; hoạt động một cách độc lập, không phụ thuộc và bị chi phối bởi
một cơ quan nhà nước, cá nhân nào trong thực hiện nhiệm vụ; VKSND có nhiệm vụ
bảo vệ bảo vệ pháp luật, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích chung của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân nhằm ngăn ngừa, phát hiện
xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm pháp luật góp phần bảo đảm pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Ngoài ra, VKSND luôn có vai trò quan trọng trong thực hiện Chức năng
THQCT và KSHĐTP bảo đảm mọi hành vi vi phạm pháp luật phải được phát hiện
kịp thời, xử lý nghiêm minh, không để xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm; Bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân; Bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm, không
phân biệt tầng lớp xã hội, dân tộc hay tôn giáo; Đấu tranh phòng, chống tội phạm và
vi phạm pháp luật khác nhằm giữ vững trật tự an toàn xã hội; Thực hiện chức năng
giám sát hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp để bảo đảm tính công bằng, minh
bạch và hiệu quả trong quá trình thực thi pháp luật; tham gia vào quá trình xây dựng
và hoàn thiện pháp luật; Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và nâng cao nhận
thức về pháp luật cho nhân dân, giúp nhân dân biết rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của
mình; Tăng cường hợp tác quốc tế, chia sẽ kinh nghiệm, trao đổi cách giải quyết vụ,
việc có tính chất phức tạp, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt
28
Nam trong giai đoạn hiện nay.
Cùng với đó, VKSND tỉnh Cà Mau cũng có vị trí, vai trò rất quan trọng trong
hệ thống cơ quan nhà nước ở địa phương và là một trong các cơ quan bảo vệ pháp
luật của địa phương thực hiện chức năng THQCT và KSHĐTP; có nhiệm vụ bảo vệ
pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp
phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất; thực hiện các
nhiệm vụ chính trị tại địa phương, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội,
phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh. Trong 05 năm qua, VKSND tỉnh Cà Mau luôn
thực hiện đầy đủ và đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định, luôn hoàn
thành tốt và xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong 02 năm liền năm 2022 và 2023
VKSND tỉnh Cà Mau đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, vượt chỉ tiêu Quốc
hội đề ra và được Viện trưởng VKSND tối cao tặng cờ thi đua Ngành.
2.1.2. Những vấn đề đặt ra đối với Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Cà Mau
Thực tiễn cho thấy tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm và các tranh chấp
diễn ra ngày càng nhiều và mức độ nguy hiểm, phức tạp tăng lên; công tác THQCT
và Kiểm sát HĐTP đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần quan trọng vào
giữ gìn an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích của tổ chức, cá nhân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đối với cán bộ của
VKSND tỉnh Cà Mau đã giữ vững phẩm chất chính trị, có tinh thần trách nhiệm và
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, chất lượng công tác vẫn còn hạn chế,
còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội; Hoạt động nghiệp vụ
còn nhiều hạn chế, thiếu sót; Công tác cán bộ của chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình
mới; đội ngũ cán bộ còn thiếu, trình độ năng lực cán bộ không đồng đều; Một bộ phận
cán bộ còn tiêu cực phải xử lý kỷ luật; kinh phí hoạt động chưa đáp ứng khối lượng
công việc có tính chất đặc thù, cơ sở vật chất, điều kiện làm việc chưa đáp ứng nhu
cầu, nhiệm vụ, phương tiện làm việc vừa thiếu vừa lạc hậu; chính sách đối với các
cán bộ chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, pháp luật trong lĩnh
29
vực tư pháp chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ và còn mâu thuẩn. Từ thực tiễn này, Đòi
hỏi VKSND tỉnh Cà Mau phải có giải pháp hiệu quả để đổi mới tổ chức và hoạt động
của mình nhằm tiến tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.
Những vấn đề đặt ra cho VKSND tỉnh Cà Mau trong thời gian tới là cần tiếp
tục có sự đổi mới hoàn thiện về mặt tổ chức và có những giải pháp tăng cường hơn
nữa các hoạt động để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành. Hiện nay, với
những thách thức, áp lực như: những quy định mới của pháp luật về tăng thẩm quyền,
về mở rộng phạm vi kiểm sát, phạm vi xét xử; việc áp dụng những quy định mới trong
các luật tố tụng về kiểm sát chặt chẽ hoạt động điều tra ngay từ đầu, vấn đề tham gia
kiểm sát, điều tra, hỏi cung, ghi âm, ghi hình; số lượng án ngày càng nhiều; hành vi
phạm tội, thủ đoạn phạm tội càng ngày càng tinh vi. Các băng nhóm phạm tội có tổ
chức, tội phạm trên không gian mạng ngày càng tăng và phát sinh nhiều loại tội phạm
mới. Trong khi phải thực hiện chủ trương tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế thì vấn
đề đặt ra cho VKSND tỉnh Cà Mau trong thời gian tới là rất lớn.
2.2. Thực trạng cơ cấu tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Cà Mau
2.2.1. Thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Cà Mau
2.2.1.1. Ban lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau
Theo quy định, VKSND tỉnh Cà Mau được cơ cấu Ban lãnh đạo (BLĐ) gồm
01 Viện trưởng và 03 Phó Viện trưởng. Tuy nhiên, từ năm 2021 đến nay đơn vị chỉ
có 02 Phó Viện trưởng, do nhiều nguyên nhân nên chưa thể bầu bổ sung thêm 01 Phó
Viện trưởng, hiện nay với khối lượng công việc nhiều, gây áp lực cho Ban lãnh đạo
Viện trong công tác chỉ đạo điều hành và công tác giải quyết án.
Hiện nay, Viện trưởng VKSND tỉnh Cà Mau là Kiểm sát viên cao cấp, là Tỉnh
ủy viên, được Ban thường vụ Tỉnh ủy chỉ định làm Bí thư Ban cán sự Đảng và là Bí
thư Đảng bộ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh.
Viện trưởng VKSND tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn:
30
“Chỉ đạo, điều hành, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch
công tác của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh; quyết định các vấn đề về công tác của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác của VKSND tỉnh và
cấp dưới trực thuộc trước Viện trưởng VKSND tối cao; báo cáo công tác THQCT và
KSXX của VKSND tỉnh và cấp dưới trực thuộc trước Viện trưởng VKSND cấp cao;
Chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra hoạt động của VKSND cấp huyện trực thuộc;
Báo cáo trước Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về công tác
của VKSND cấp mình và cấp dưới; trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu
Hội đồng nhân dân cùng cấp; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của
pháp luật” [14, Điều 66].
Viện trưởng VKSND tỉnh là chủ tài khoản, quản lý tài chính, xây dựng của
đơn vị; là Chủ tịch Hội đồng thi đua khen thưởng; Chủ tịch Hội đồng tuyển dụng
công chức; Trưởng Ban chỉ đạo ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số; là
người đứng đầu nên một số quy chế phối hợp giữa các cơ quan tư pháp, cơ quan hữu
quan thường là do VKSND chủ trì, Viện trưởng trực tiếp là người đại diện ký quy
chế phối hợp. Theo sự phân công nhiệm vụ Ban lãnh đạo VKSND tỉnh, Viện trưởng
phụ trách, chỉ đạo các đơn vị: Văn phòng tổng hợp, Phòng Tổ chức cán bộ, Thanh
tra-Khiếu tố, VKSND Tp Cà Mau, VKSND huyện Thới Bình, VKSND huyện Phú
Tân, đây là nhiệm vụ được phân công, tuy nhiên trên thực tế ngoài những đơn vị trên,
các đơn vị còn lại nếu có khó khăn, vướng mắc trong hoạt động, công tác nghiệp vụ
đều phải xin ý kiến của đồng chí Viện trưởng.
Các Phó Viện trưởng VKSND tỉnh theo quy định Điều 68 Luật Tổ chức
VKSND năm 2014:
“Phó Viện trưởng VKSND tỉnh do Viện trưởng VKSND tối cao bổ nhiệm, miễn
nhiệm, cách chức; Phó Viện trưởng VKSND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
theo quy định của pháp luật, theo sự phân công hoặc ủy quyền của Viện trưởng
VKSND cấp mình; chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trước
Viện trưởng VKSND cấp mình và trước pháp luật” [14, Điều 68].
Phó Viện trưởng VKSND tỉnh do Viện trưởng VKSND tối cao bổ nhiệm. Phó
31
Viện trưởng có chức danh tư pháp là KSV trung cấp, theo quy định thì đơn vị còn
thiếu khuyết một Phó Viện trưởng. Phó Viện trưởng có nhiệm vụ tham mưu cho Viện
trưởng trong giải quyết các vụ, việc được Viện trưởng phân công, giúp Viện trưởng
phụ trách, chỉ đạo nghiệp vụ một số đơn vị cấp Phòng và một số đơn vị VKSND cấp
huyện; phải thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công, phụ trách. Ngoài
ra còn được Viện trưởng ủy quyền thay mặt Viện trưởng xử lý các công việc của đơn
vị trong thời gian Viện trưởng đi công tác và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng,
trước pháp luật về công việc được ủy quyền.
2.2.1.2. Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau
Ủy ban kiểm sát họp bàn, thảo luận những vấn đề quan trọng liên quan đến
những vấn đề quan trọng của VKSND hai cấp tỉnh Cà Mau. Có thể đưa ra quyết định
hoặc tham mưu cho Viện trưởng để quyết định. Ủy ban kiểm sát VKSND tỉnh Cà
Mau có 07 thành viên gồm: Viện trưởng, 2 Phó Viện trưởng, Chánh văn phòng,
Trưởng phòng 1, Trưởng phòng 8 và Trưởng phòng 9.
Ủy ban kiểm sát VKSND tỉnh Cà Mau sẽ họp để nghe báo cáo và quyết định
các vấn đề quan trọng, các vụ án, vụ việc có tính chất phức tạp; Theo đề nghị của
Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, Ủy ban kiểm sát thảo luận, cho ý kiến về các vụ án
hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương
mại, lao động phức tạp để Viện trưởng xem xét, quyết định. Điều này có nghĩa, Ủy
ban kiểm sát có vai trò tư vấn, tham mưu, định hướng đường lối giải quyết các vụ án,
vụ việc.
Những vấn đề khác khi cần thiết đưa ra UBKS thảo luận phải có ít nhất 1/3
tổng số thành viên Ủy ban kiểm sát yêu cầu. Những vấn đề đưa ra UBKS được các
thành viên thảo luận và quyết định từng vấn đề; đối với những vấn đề cần xin ý kiến
đóng góp của thành viên Ủy ban kiểm sát nhưng không cần thiết phải họp thì đơn vị
có trách nhiệm gửi văn bản đến từng thành viên Ủy ban kiểm sát để xin ý kiến. Nghị
quyết của UBKS phải quá nửa tổng số thành viên Ủy ban kiểm sát biểu quyết tán
thành, trong trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của
Viện trưởng. Viện trưởng VKSND tỉnh có trách nhiệm thi hành hoặc chỉ đạo các đơn
32
vị cấp dưới thực hiện Nghị quyết của Ủy ban kiểm sát và thông báo cho các thành
viên UBKS biết kết quả.
2.2.1.3. Phòng nghiệp vụ và tương đương thuộc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Cà Mau
Sau khi sáp nhập một số phòng thời điểm từ năm 2015 đến nay, hiện tại
VKSND tỉnh Cà Mau gồm có 07 phòng nghiệp vụ và tương đương gồm:
Văn phòng và Phòng thống kê tội phạm - công nghệ thông tin được sáp nhập
vào năm 2020 với tên gọi là Văn phòng tổng hợp gồm có 21 biên chế, có cơ cấu 01
Chánh Văn phòng (Kiểm sát viên trung cấp), 02 Phó Chánh Văn phòng (Kiểm sát
viên sơ cấp), 04 kiểm sát viên sơ cấp, 01 kế toán trưởng (chuyên viên), 01 kế toán
viên, 01 thủ quỹ, 01 cán bộ cơ yếu, 02 văn thư, 02 lái xe, 02 bảo vệ, 03 tạp vụ và 01
kỹ thuật.
Theo Quy chế làm việc của VKSND tỉnh Cà Mau, Văn phòng tổng hợp thực
hiện những nhiệm vụ sau:
Tham mưu BLĐ Viện xây dựng dự thảo kế hoạch làm việc trong tuần, xây
dựng báo cáo hằng tháng, hằng quý và báo cáo công tác năm của đơn vị; tham mưu
và giúp cho BLĐ Viện thực hiện công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành một cách chính
xác, kịp thời; xây dựng Dự thảo báo cáo định kỳ, báo cáo theo chuyên đề của VKSND
cấp trên; tham mưu BLĐ Viện ban hành kế hoạch kiểm tra và trực tiếp kiểm tra các
đơn vị cấp phòng, cấp huyện về việc thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo
trong ngành Kiểm sát nhân dân; tham mưu, giúp Viện trưởng quản lý hoạt động trong
công tác hành chính kế toán, thống kê, công nghệ thông tin, công tác tổng hợp, văn
thư, lưu trữ; tham mưu Viện trưởng ban hành kế hoạch kiểm tra và tổ chức kiểm tra
toàn diện tại các đơn vị VKSND cấp huyện. Tham mưu cho Hội đồng thi đua về công
tác thi đua - khen thưởng của VKSND hai cấp, Ngoài ra, còn thực hiện một số công
việc khác theo sự phân công, yêu cầu của Viện trưởng [23].
Phòng THQCT, KSĐT và KSXX sơ thẩm án hình sự về trật tự xã hội, an ninh,
ma túy, kinh tế, chức vụ và tham nhũng (Phòng 1). Sau khi được điều chỉnh biên chế
thì hiện nay Phòng có 11 biên chế trong đó có 01 Trưởng phòng chức danh tư pháp
33
là Kiểm sát viên trung cấp, 02 Phó Trưởng phòng chức danh tư pháp là Kiểm sát viên
trung cấp và 06 kiểm sát viên trung cấp thực hiện nhiệm vụ THQCT, KSĐT và KSXX
tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự. Ngoài ra, đơn vị còn có 02 biên chế có chức danh
tư pháp là Kiểm tra viên chính giúp Kiểm sát viên trung cấp thực hiện một số nhiệm
vụ trong việc giải quyết vụ án.
Theo Quy chế làm việc của VKSND tỉnh Cà Mau, phòng 1 có chức năng,
nhiệm vụ sau:
Tham mưu và giúp Viện trưởng tổ chức thực hiện nhiệm vụ THQCT, kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm các vụ án
hình sự về trật tự xã hội, an ninh, kinh tế, ma túy, chức vụ và tham nhũng theo quy
định của pháp luật; tham mưu BLĐ Viện về việc ban hành Báo cáo xin thỉnh thị
VKSND cấp trên; trực tiếp thực hiện nhiệm vụ THQCT, kiểm sát xét xử sơ thẩm
(KSXXST) đối với những vụ án do VKSND tối cao ủy quyền; tham mưu, giúp Viện
trưởng ban hành kế hoạch kiểm tra và tổ chức kiểm tra nghiệp vụ VKSND cấp huyện;
trực tiếp trả lời thỉnh thị đối với những vụ án mà VKS cấp huyện xin ý kiến; giúp
Viện trưởng theo dõi, quản lý, kiểm tra các vụ án, bị can mà VKS cấp huyện đình chỉ
điều tra do hành vi không cấu thành tội phạm, Tòa tuyên không có tội; tham mưu
Viện trưởng ban hành thông báo rút nghiệm trong hoạt động nghiệp vụ có vi phạm
của VKSND cấp huyện; thực hiện xây dựng các báo cáo chuyên đề nghiệp vụ, thực
hiện chế độ báo cáo thống kê tội phạm, đối chiếu số liệu thống kê liên ngành cấp tỉnh;
phát hiện, tổng hợp vi phạm của CQĐT, TAND để tham mưu Viện trưởng ban hành
kiến nghị, yêu cầu Thủ trưởng CQĐT, Chánh án TAND khắc phục vi phạm. Ngoài
ra, còn thực hiện một số công việc khác theo sự phân công, yêu cầu của Viện trưởng
[23].
Phòng THQCT và KSXX phúc thẩm án hình sự (Phòng 7). Không sáp nhập
phòng như các đơn vị khác, tuy nhiên tình hình biên chế Phòng 7 có nhiều thay đổi
hơn, do có sự luân chuyển vị trí công tác giữa các chức danh kiểm sát viên trung cấp,
sơ cấp giữa các đơn vị và một số cán bộ về hưu; đơn vị có là 07 biên chế trong đó cơ
cấu gồm có 01 Trưởng phòng chức danh Kiểm sát viên trung cấp, 01 Phó Trưởng
34
phòng chức danh Kiểm sát viên trung cấp, 03 Kiểm sát viên trung cấp thực hiện nhiệm
vụ THQCT và KSXX phúc thẩm vụ án hình sự, 01 Kiểm tra viên chính và 01 Kiểm
sát viên sơ cấp thực hiện nhiệm vụ giúp việc cho kiểm sát viên trung cấp trong giải
quyết một số vụ án có kháng cáo của bị cáo, đương sự, Viện kiểm sát kháng nghị.
Theo Quy chế làm việc của VKSND tỉnh Cà Mau, phòng 7 thực hiện chức
năng, nhiệm vụ:
Trực tiếp thực hiện công tác THQCT và KSXX phúc thẩm án hình sự thuộc
thẩm quyền; trực tiếp thực hiện kiểm sát các bản án, quyết định sơ thẩm của VKSND
cấp huyện; tham mưu cho Viện trưởng ban hành văn bản đề nghị kháng nghị theo
quy định; tham mưu Viện trưởng ban hành kế hoạch kiểm tra VKSND cấp huyện về
công tác nghiệp vụ theo định kỳ hoặc đột xuất; tham mưu Viện trưởng ban hành thông
báo rút nghiệm VKSND cấp huyện vi phạm trong hoạt động nghiệp vụ; tham mưu,
đề xuất Viện trưởng ban hành hướng dẫn trả lời những khó khăn, vướng mắc trong
quá trình thực hiện của VKSND hai cấp; thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về công
tác THQCT và KSXX phúc thẩm án hình sự; trực tiếp xây dựng các báo cáo chuyên
đề, các văn bản nghiệp vụ theo sự chỉ đạo của Viện trưởng Lãnh đạo Viện cấp cao,
Vụ thuộc VKSND tối cao. Ngoài ra, đơn vị còn thực hiện một số nhiệm vụ khác theo
sự chỉ đạo của Viện trưởng [23].
Phòng Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự và thi hành án dân
sự, hành chính (Phòng 8). Hiện nay, đơn vị Phòng 8 có 06 biên chế gồm 01 Trưởng
phòng có chức danh Kiểm sát viên trung cấp, 01 Phó Trưởng phòng có chức danh
Kiểm sát viên trung cấp, 02 kiểm sát viên trung cấp, 01 kiểm tra viên chính và 01
kiểm tra viên thực hiện nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp tại các trại giam, trại
tạm giam, nhà tạm giữ, các Cơ quan thi hành án dân sự 02 cấp.
Theo Quy chế làm việc của VKSND tỉnh Cà Mau, phòng 8 thực hiện nhiệm
vụ sau:
Tham mưu, giúp Viện trưởng trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện
chương trình theo kế hoạch đã đề ra; tham mưu Viện trưởng ban hành Quyết định
kiểm sát trực tiếp nhà tạm giữ, trại tạm giam và trại giam theo định kỳ hay đột xuất;
35
trực tiếp kiểm tra hồ sơ tài liệu của cơ quan giam giữ cùng cấp và cấp dưới. Có trách
nhiệm phát hiện, tham mưu Viện trưởng xử lý các trường hợp oan, sai; tham mưu
Viện trưởng ban hành quyết định khởi tố hoặc yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án khi phát
hiện có dấu hiệu của tội phạm; tham mưu Viện trưởng ban hành quyết định trả tự do
cho người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù không có căn cứ,
trái pháp luật; trực tiếp kiểm sát đặt xá theo quy định; tham mưu Viện trưởng ban
hành kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu khi có vi phạm trong công tác giam giữ. Ngoài
ra, đơn vị còn thực hiện một số công việc khác khi được Viện trưởng phân công [23].
Phòng Kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh
doanh thương mại, lao động, vụ án hành chính và những việc khác theo quy định của
pháp luật (Phòng 9). Đơn vị có 10 biên chế cơ cấu gồm: 01 Trưởng phòng có chức
danh tư pháp là Kiểm sát viên trung cấp, 01 Phó Trưởng phòng có chức danh tư pháp
là Kiểm sát viên trung cấp, 06 Kiểm sát viên trung cấp thực hiện nhiệm vụ Kiểm sát
xét sự sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự, HNGĐ, KDTM và lao động, Vụ án hành
chính, 01 Kiểm tra viên chính giúp Kiểm sát viên trung cấp thực hiện một số nhiệm
vụ theo sự phân của Trưởng phòng.
Theo Quy chế làm việc của VKSND tỉnh Cà Mau, Phòng 9 có nhiệm vụ, quyền
hạn sau:
Trực tiếp tham gia kiểm sát xét xử các vụ án dân sự theo quy định; tham mưu
Viện trưởng ban hành quyết định kháng nghị đối với các bản án, quyết định của Tòa
án cùng cấp và cấp dưới có vi phạm pháp luật; tham mưu, giúp Viện trưởng ban hành
kế hoạch kiểm tra và tổ chức kiểm tra nghiệp vụ đối với VKSND cấp huyện; phát
hiện, tổng hợp vi phạm của TAND cùng cấp và cấp dưới để tham mưu Viện trưởng
ban hành kiến nghị với Chánh án TAND yêu cầu khắc phục vi phạm; tham mưu Viện
trưởng ban hành thông báo rút kinh nghiệm trong công tác nghiệp vụ; tham mưu, giúp
Viện trưởng giải quyết đơn khiếu nại thuộc lĩnh vực phụ trách; thực hiện chế độ báo
cáo, thống kê về công tác kiểm sát giải quyết án dân sự; trực tiếp xây dựng các báo
cáo chuyên đề, các văn bản nghiệp vụ theo sự chỉ đạo của Viện trưởng, Lãnh đạo
Viện cấp cao, Vụ thuộc VKSND tối cao. Ngoài ra, đơn vị còn thực hiện một số nhiệm
36
vụ khác theo sự chỉ đạo của Viện trưởng [23].
Phòng Tổ chức cán bộ (phòng 15): Phòng 15 không có nhiều biến động về
nhân sự từ năm 2019 đến nay, Phòng được giao 04 biên chế hiện tại Phòng 15 đã đủ
biên chế và có cơ cấu 01 Trưởng phòng (Kiểm sát viên trung cấp), 01 Phó Trưởng
phòng (Kiểm sát viên trung cấp) và 02 kiểm sát viên sơ cấp.
Theo Quy chế làm việc của VKSND tỉnh Cà Mau, phòng 15 nhiệm vụ sau:
Tham mưu cho Viện trưởng về công tác tổ chức, cán bộ của VKSND hai cấp;
tham mưu Viện trưởng về bố trí sắp xếp công chức và bộ máy làm việc, công tác
tuyển dụng, điều động, luân chuyển, quy hoạch, bổ nhiệm chức vụ công chức, kiểm
sát viên lãnh đạo và các chức danh pháp lý. Thực hiện việc lập hồ sơ trình Ban Cán
sự trong công tác xét tuyển, thi tuyển, đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm
cách chức Kiểm sát viên, Kiểm tra viên trong ngành. Tham mưu, giúp Viện trưởng
thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, kiểm sát viên; tham mưu, giúp Viện
trưởng quản lý cán bộ, công chức, bảo vệ chính trị nội bộ, xác minh, kết luận đơn
khiếu nại, tố cáo cán bộ, công chức, kỷ luật cán bộ theo thẩm quyền. Ngoài ra, đơn
vị thực hiện các công việc khác theo sự chỉ đạo của Viện trưởng [23].
Đơn vị Thanh tra-Khiếu tố: Được sáp nhập từ Thanh tra và Phòng Kiểm sát
giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo. Do công tác nghiệp vụ, có sự tương đồng nên
sau khi sáp nhập đến nay Đơn vị Thanh tra-Khiếu tố cơ bản đáp ứng tốt, hoàn thành
các nhiệm vụ được giao, biên chế hiện tại có 05 người gồm: 01 Chánh thanh tra (Kiểm
sát viên trung cấp), 01 Phó Chánh thanh tra (Kiểm sát viên trung cấp), 01 Kiểm sát
viên trung cấp, 02 kiểm tra viên.
Theo Quy chế làm việc của VKSND tỉnh Cà Mau, Thanh tra - khiếu tố có
nhiệm vụ sau:
Tham mưu, giúp Viện trưởng kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của
các cơ quan tư pháp cùng cấp và cấp dưới; thực hiện công tác tiếp công dân, tiếp
nhận, phân loại, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật; tham
mưu Viện trưởng ban hành kế hoạch kiểm tra công tác tiếp nhận, giải quyết khiếu
nại, tố cáo thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát đối với VKSND cấp huyện; tham
37
mưu Viện trưởng ban hành kế hoạch thanh tra và tổ chức thực hiện thanh tra theo kế
hoạch, theo chuyên đề, thanh tra đột xuất; tham mưu Viện trưởng giải quyết đơn thư
khiếu nại, tố cáo đối với cán bộ, Kiểm sát viên. Báo cáo Viện trưởng về kết quả công
tác thanh tra, tham mưu Viện trưởng ban hành kết luận sau thanh tra, đề xuất hướng
giải quyết khi có vi phạm. Kiểm tra, tổng hợp, báo cáo về kết quả thực hiện Quy chế
dân chủ trong Ngành kiểm sát. Ngoài ra, đơn vị thực hiện các công việc khác theo sự
chỉ đạo của Viện trưởng [23].
Nhìn chung, với cơ cấu tổ chức bộ máy như trên, trong thời gian qua VKSND
tỉnh Cà Mau đã hoạt động rất hiệu lực và hiệu quả trong tất cả các khâu công tác. Tuy
nhiên, đứng trước bài toán tinh giảm biên chế là một thách thức đối với VKSND tỉnh
Cà Mau. Bởi lẽ, công việc ngày càng nhiều, đòi hỏi ngày càng cao nhưng không
những không được tăng thêm biên chế mà VKSND hai cấp tỉnh Cà Mau còn phải
giảm biên chế theo quy định trong 05 năm qua đơn vị đã tinh giảm 28 lượt cán bộ
công chức, đến cuối năm 2023 đơn vị còn thiếu 20 biên chế theo báo cáo công tác
cán bộ của phòng tổ chức. Điều này đã gây ra nhiều khó khăn trong việc phân bổ biên
chế cho các phòng nghiệp vụ và VKSND các huyện, thành phố Cà Mau. Ngoài ra,
khó khăn khi thực hiện các quy định mới của pháp luật, trách nhiệm của VKSND ngày
càng nặng nề hơn; khó khăn vì bị cắt giảm nguồn ngân sách trong khi nhu cầu chi
ngày càng nhiều, khối lượng công việc hàng năm đều tăng nhưng biên chế bị cắt giảm
nên tạo áp lực cho đội ngũ công chức VKSND hai cấp. Đây cũng là một khó khăn, đòi
hỏi VKSND tỉnh Cà Mau phải có giải pháp cụ thể để khắc phục.
2.2.1.4. Tình hình biên chế và đội ngũ công chức, người lao động Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Cà Mau
Biên chế được VKSND tối cao phân bổ năm 2023 là 184 biên chế. Hiện có
156 người (tỉnh 58 người, huyện 98), còn thiếu 28 người (năm 2023 đã ra Quyết định
tuyển dụng 08 công chức nghiệp vụ, thực hiện nhiệm vụ từ ngày 01/01/2024, hiện
còn thiếu 20 biên chế; tất cả đều phân công về VKSND cấp huyện). Đội ngũ Kiểm
sát viên và Kiểm tra viên hai cấp hiện có 142 cán bộ. Trong đó, Kiểm sát viên cao
cấp 01 người, Kiểm sát viên trung cấp 47 người (tỉnh 35, huyện 12); Kiểm sát viên
38
sơ cấp 75 người (tỉnh 08, huyện 67); Kiểm tra viên chính 06 người; Kiểm tra viên 13
người (tỉnh 03, huyện 10) [33].
Đến nay tất cả công chức chuyên môn nghiệp vụ kiểm sát của Ngành đều có
trình độ cử nhân Luật. “Ban cán sự Đảng, Ban lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Cà Mau thường xuyên quan tâm đào tạo trình độ thạc sĩ luật cho đội ngũ cán bộ, Kiểm
sát viên hai cấp. Đến nay, đội ngũ công chức, Kiểm sát viên có trình độ thạc sỹ là
25/156, chiếm 16,03%; Đại học là 129/156 người, tỷ lệ 82,69%” [33].
2.2.1.5. Nhận xét về thực trạng tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà
Mau
Ưu điểm: Tổ chức cán bộ, quản lý chỉ đạo điều hành đã có nhiều đổi mới tập
trung kiện toàn tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, triển khai nhiều hoạt động hướng về
cơ sở như tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ, thông báo rút kinh
nghiệm nhằm từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, tăng cường kỷ luật kỷ
cương, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Quan tâm công tác đào tạo nhất là tự đào tạo và đào tạo tại chổ, phân công
Kiểm sát viên có chức danh tư pháp cao hơn, có kinh nghiệm kèm cặp, hướng dẫn
Chuyên viên, Kiểm tra viên, Kiểm sát viên có chức danh tư pháp thấp hơn và Kiểm
sát viên mới được bổ nhiệm chưa có kinh nghiệm trong công tác nghiệp vụ và gắn
với trách nhiệm của người hướng dẫn, kèm cặp. Việc phân công bằng Quyết định cụ
thể, Kiểm sát viên giữ ngạch cao hơn giúp đỡ hướng dẫn một Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên, Chuyên viên để tránh sự chồng chéo trong điều hành công việc, tùy vào tình
hình cụ thể sẽ phân công công chức làm thêm một số việc khác, nhưng mang tính ổn
định cao. Dự kiến hàng năm sẽ luân chuyển việc phân công hướng dẫn, để cán bộ có
cơ hội được học hỏi kinh nghiệm của nhiều Kiểm sát viên trong nhiều lĩnh vực. Viện
kiểm sát nhân dân hai cấp thực hiện nghiêm Quy chế thực hiện dân chủ và Quy định
xử lý kỷ luật của Viện kiểm sát nhân dân. Đa số các công chức, người lao động đã
thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn của mình, gương mẫu chấp hành pháp luật,
thực hiện nghiêm nội quy, quy chế của Ngành, chấp hành nhiệm vụ theo sự phân
công của lãnh đạo, có lối sống lành mạnh, trung thực, cần kiệm, liêm chính không
39
gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân.
Hạn chế: Trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên trong sạch,
vững mạnh đã đạt được nhiều kết quả. Tuy nhiên, vẫn còn có một số cán bộ, Kiểm
sát viên chưa tự giác học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng
công tác; một một số cán bộ, Kiểm sát viên có ý thức trách nhiệm trong công việc
chưa cao, chưa tìm tòi học hỏi, nghiên cứu các văn bản pháp luật có liên quan đến
lĩnh vực công tác của mình cũng như các Quy định, Quy chế, Thông báo nghiệp vụ
của ngành, làm ảnh hưởng đến kết quả công tác chuyên môn, nghiệp vụ dẫn đến việc
xử lý án còn hạn chế. Ngoài ra, vẫn còn một số cán bộ, Kiểm sát viên do thiếu rèn
luyện, tu dưỡng, vi phạm các quy định của Đảng, Quy định và Quy chế của ngành
dẫn đến phải kiểm điểm, xử lý kỷ luật.
Nguyên nhân hạn chế:
Nguyên nhân khách quan: sự không đồng bộ của hệ thống pháp luật và các quy
định liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND dẫn đến những khó khăn trong
việc sắp xếp cơ cấu tổ chức hợp lý và hiệu quả. Tình hình nguồn nhân lực của VKSND
tỉnh Cà Mau hiện nay còn thiếu về số lượng làm ảnh hưởng đến thực hiện nhiệm vụ.
Số lượng Kiểm sát viên còn ít so với yêu cầu tăng thẩm quyền cho Viện kiểm sát
nhân dân. Việc tuyển dụng, đào tạo và kinh phí chưa đảm bảo đáp ứng được yêu cầu
công việc mang tính đặc thù, trước sự gia tăng của các loại tội phạm.
Nguyên nhân chủ quan: Một số cán bộ, đảng viên, Kiểm sát viên còn hạn chế
về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm trong công việc chưa cao, chưa
chịu khó học tập rèn luyện để nâng cao trình độ về mọi mặt, còn chủ quan, chưa tận
tụy trong công việc, còn vi phạm quy trình, quy chế và quy định của Đảng, của ngành,
làm hạn chế kết quả thực hiện Nghị quyết; công tác quản lý, chỉ đạo điều hành của
lãnh đạo một số đơn vị chưa sâu sát, kịp thời; công tác tổ chức rút kinh nghiệm đối
với các hạn chế, thiếu sót của cán bộ, đảng viên, Kiểm sát viên chưa thường xuyên,
một số giải pháp khắc phục hạn chế, tồn tại còn chậm được thực hiện, làm ảnh hưởng
đến kết quả thực hiện nhiệm vụ; công tác phối hợp giữa các cơ quan tư pháp và giữa
Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán từng lúc chưa được thường xuyên, chặt chẽ.
40
Khó khăn, vướng mắc:
Thứ nhất, hoạt động nghiệp vụ của VKSND tỉnh luôn gắn với hoạt động của
Cơ quan điều tra tuy nhiên kinh phí VKSND tỉnh chỉ được cấp như một đơn vị hoạt
động hành chính, nên không phù hợp với tính chất là lực lượng trực tiếp đấu tranh
với tội phạm; Các chế độ, chính sách đãi ngộ cũng chưa phù hợp với khối lượng công
việc phát sinh mới; trụ sở làm việc xây dựng đã lâu hiện nay đã xuống cấp, không
đảm bảo nhu cầu tối thiểu làm việc, cơ sở vật chất, trang thiết bị của VKSND tỉnh đã
lỗi thời, hết khấu hao.
Thứ hai, việc điều chỉnh, sắp xếp, phân bổ Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát
viên sơ cấp, Kiểm tra viên chính giữa các phòng chưa hợp lý, chưa phù hợp với khối
lượng công việc, số lượng án phải thụ lý từng năm. Tại Phòng 1 số lượng án hình sự
mới thụ lý, kiểm sát, giải quyết tăng rất nhiều, án hình sự đặc biệt nghiêm trọng tăng
theo từng năm nhưng số lượng Kiểm sát viên trung cấp để giải quyết các loại án này
lại giảm trong khi đó lại tăng số lượng Kiểm tra viên chính (Kiểm tra viên chính
không có nhiệm vụ, quyền hạn THQCT mà chỉ giúp Kiểm sát viên trung cấp thực
hiện một số công việc theo quy định). Do đó, sẽ dẫn đến chất lượng công việc không
được bảo đảm, áp lực công việc nhiều, sẽ có tình trạng chậm giải quyết để án quá
hạn, án trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
Thứ ba, lãnh đạo một số đơn vị chưa nhận thức rõ hết tầm quan trọng của công
tác tổ chức, cán bộ nên có trường hợp đồng chí Trưởng phòng đề xuất luân chuyển
các đồng chí là KSV trung cấp, KSV sơ cấp trong đơn vị mình đi nơi khác theo
nguyện vọng, đến khi lượng án tăng đột xuất, công việc nhiều thì không có đủ người
thực hiện nhiệm vụ.
Thứ tư, về việc tinh giản biên chế đơn vị đã thực hiện điều chỉnh giảm 28 biên
chế. Như vậy, trong 5 năm Viện kiểm sát nhân dân hai cấp giảm từ 184 biên chế
xuống còn 156 biên chế. Tính đến cuối năm 2023 đơn vị có 164 biên chế, còn thiếu
10 biên chế, nên đơn vị gặp nhiều khó khăn khi thực hiện các quy định mới của pháp
luật, trách nhiệm của Viện kiểm sát ngày càng nặng nề hơn, khối lượng công việc hàng
năm đều tăng nhiều nhưng biên chế bị cắt giảm nên tạo áp lực cho đội ngũ công chức
41
Viện kiểm sát nhân dân hai cấp [23].
Thứ năm, Với những áp lực quá lớn về trách nhiệm chống oan, sai, chống bỏ
lọt tội phạm của ngành Kiểm sát khi khối lượng công việc ngày càng lớn, phức tạp
chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức chưa tương xứng. Thu nhập của cán bộ,
Kiểm sát viên ngành Kiểm sát còn thấp, chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong
tình hình mới và tính đặc thù của công việc, chưa là động lực để khuyến khích cán
bộ, Kiểm sát viên tận tâm với nghề, với công việc. Điển hình việc chi bồi dưỡng trực
nghiệp vụ: Thực hiện theo Quyết định 985/2007/QĐ-VKSTC-V11 ngày 27/9/2007
của Viện trưởng Viện KSND tối cao quy định mức bồi dưỡng trực nghiệp vụ 20.000đ/
ngày và 30.000đ/ đêm là quá thấp, trong khi giá cả thị trường ngày càng tăng, việc
trực nghiệp vụ đều phải làm việc ngoài giờ, ban đêm. Mức bồi dưỡng như vậy là chưa
đảm bảo so với nhiệm vụ phải thực hiện.
Thứ sáu, về việc chuyển đổi vị trí công tác của Kiểm sát viên
Theo quy định phải chuyển đổi vị trí công tác định kỳ đối với kiểm sát viên đã
công tác lâu năm tại một đơn vị. Tuy nhiên, đến nay thực hiện việc luân chuyển còn
chậm; còn hạn chế trong 05 năm chỉ luân chuyển 04 đồng chí, đây là số lượng ít, dẫn
đến tình trạng công chức, kiểm sát viên làm một nơi, một công việc không có hướng
phát triển. Có trường hợp làm lãnh đạo hơn 02 nhiệm kỳ và có Kiểm sát viên công
tác tại 01 đơn vị từ lúc vào Ngành đến nay đã 16 năm, nhưng chưa luân chuyển đi
đơn vị khác. Việc phân công nhiệm vụ, công việc chưa phù hợp, một số kiểm sát viên
phụ trách giải quyết án hình sự hơn 01 nhiệm kỳ thì rất giỏi ở lĩnh vực hình sự, tuy
nhiên khi phân công mảng giải quyết án dân sự, hành chính… thì khả năng tiếp cận
công việc còn chậm, không bảo đảm yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ.
Thứ bảy, Về quy định chỗ ngồi của KSV xét xử tại phiên tòa Tại Thông tư số
01/2017/TT-TATC ngày 28.7.2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định
“Phòng xử án phải bảo đảm không gian để tiến hành phiên tòa, phiên họp và hàng
rào ngăn cách giữa khu vực của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố
tụng với khu vực của người tham dự phiên tòa, phiên họp; phải bố trí lối đi riêng
của Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết việc dân sự, phá sản, Thẩm phán chủ tọa
42
phiên tòa, chủ trì phiên họp; lối đi của những người tiến hành tố tụng khác, người
tham gia tố tụng, người tham dự phiên tòa, phiên họp…”. Tuy nhiên, hiện nay đa số
các Phòng xử án đều chưa thực hiện đúng theo Thông tư 01 như hàng rào bảo vệ, lối
đi riêng cho người tiến hành tố tụng khác từ đó chưa đảm bảo được “an toàn” cho
Kiểm sát viên theo quy định tại điều 257 BLTTHS nên ảnh hưởng đến chất lượng
hiệu quả công tác tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
2.2.2. Thực trạng hoạt động thực hiện chức năng nhiệm vụ Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Cà Mau
2.2.2.1. Thực trạng hoạt động thực hiện chức năng thực hành quyền công tố
và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự
Công tác kiểm sát giải quyết nguồn tin tội phạm
Trong 05 năm từ năm 2019 đến năm 2023, VKSND tỉnh đã thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc thụ lý mới 637 tin báo. Đã phối hợp với cơ quan điều tra giải
quyết 615 tin báo, trong đó đã quyết định khởi tố vụ án 346 tin; quyết định không
khởi tố vụ án 269 tin báo, còn lại 22 tin báo vẫn còn thời hạn giải quyết theo luật định
[32]. VKSND tỉnh Cà Mau đã kiểm sát chặt chẽ, đầy đủ việc lập hồ sơ tất cả các tin
báo do CQĐT và các cơ quan có thẩm quyền điều tra thụ lý; kiểm tra, xác minh đầy
đủ việc lập hồ sơ giải quyết nguồn tin của CQĐT; thông qua công tác kiểm sát đã
phát hiện vi phạm và đã ban hành 07 kiến nghị yêu cầu Thủ trưởng CQĐT khắc phục,
các kiến nghị đều đã được tiếp thu chấp nhận. Trong công tác này, VKSND tỉnh đã
hoàn thành vượt mức chỉ tiêu đã đề ra, kiểm sát giải quyết tin báo ngày càng chặt chẽ
và gắn chặt hơn với hoạt động điều tra. Chủ động ban hành nhiều yêu cầu kiểm tra,
xác minh để làm rõ vụ, việc; kịp thời hủy bỏ các quyết định không có căn cứ.
Việc tiếp nhận, thụ lý và giải quyết tin báo của CQĐT phần lớn được thực hiện
đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, qua công tác trực tiếp kiểm sát với 02 đơn
vị cấp phòng thuộc CQĐT Công an tỉnh Cà Mau (PC03 và PC04) VKSND tỉnh đã
phát hiện Cơ quan điều tra còn vi phạm trong việc chuyển tin báo để giải quyết theo
thẩm quyền và vi phạm trong việc gửi quyết định tạm giữ cho VKSND cùng cấp đối
với những trường hợp tạm giữ sau đó chuyển để điều tra theo thẩm quyền nên đã ban
43
hành kết luận và kiến nghị đối với Thủ trưởng CQĐT Công an tỉnh yêu cầu chấn
chỉnh trong thời gian tới. Bên cạnh đó, qua công tác kiểm tra, hướng dẫn và tổng hợp
kiến nghị vi phạm của VKSND cấp huyện, đơn vị nhận thấy CQĐT cấp huyện còn
vi phạm trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm nên đã ban hành
kiến nghị tổng hợp đến Thủ trưởng CQĐT Công an tỉnh Cà Mau chỉ đạo CQĐT cấp
huyện khắc phục vi phạm trong thời gian tới [25, tr.41].
Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
Trong 05 năm từ năm 2019 đến năm 2023, VKSND tỉnh đã THQCT và kiểm
sát việc bắt, tạm giữ người trong trường hợp khẩn cấp là 112 người, bắt quả tang là
158 người, bắt truy nã 08 người, bắt tạm giam 154 người. Viện KSND tỉnh THQCT
và KSĐT thụ lý mới là 347 vụ/502 bị can, CQĐT kết thúc điều tra chuyển hồ sơ đề
nghị truy tố là 331 vụ/531 bị can; đình chỉ 29 vụ/06 bị can; tạm đình chỉ 35 vụ/ 25 bị
can. Hiện còn tại cơ quan điều tra 73 vụ/88 bị can chưa giải quyết nhưng trong hạn
luật định. Trong công tác này có nhiều chuyển biến tích cực; các chỉ tiêu đều đạt,
vượt so với kế hoạch đã đề ra, trong đó số người bắt, tạm giữ chuyển khởi tố hình sự
đạt tỉ lệ 100%; chất lượng công tố trong hoạt động điều tra được tăng cường nên việc
khởi tố điều tra, giải quyết án đều bảo đảm có căn cứ, đúng thời hạn, đúng tội danh
100% [32].
Công tác giải quyết vụ án trong giai đoạn truy tố
Trong 05 năm từ năm 2019 đến năm 2023 VKSND tỉnh Cà Mau thụ lý mới là
331 vụ/531 bị can; VKSND tỉnh đã giải quyết bằng hình thức truy tố là 331 vụ/ 531
bị can, còn lại tại VKS là 01 vụ/01 bị can trong hạn luật định. Viện kiểm sát đã trả hồ
sơ để điều tra bổ sung cho cơ quan điều tra 05 vụ/ 22 bị can. VKS theo dõi chặt chẽ
số vụ án Cơ quan điều tra tạm đình chỉ, hiện còn ở CQĐT là 35 vụ/25 bị can, lý do
Tạm đình chỉ là chờ kết quả giám định của cơ quan giám định [32].
Thông qua công tác này, VKSND tỉnh Cà Mau đã ban hành 10 kiến nghị yêu
cầu Thủ trưởng CQĐT khắc phục vi phạm; ban hành 08 kiến nghị đến các cơ quan
hữu quan phòng ngừa vi phạm pháp luật. Các kiến nghị của Viện kiểm sát đều được
CQĐT và các cơ quan tiếp thu chấp nhận. VKSND tỉnh đã hướng dẫn và trả lời thỉnh
44
thị 07 vụ án, ban hành 06 thông báo rút kinh nghiệm về nghiệp vụ cho VKSND cấp
huyện, đã góp phần khắc phục những hạn chế, thiếu sót, nâng cao chất lượng giải
quyết án. Tuy nhiên, Việc giải quyết một số vụ án còn chậm, còn để xảy ra 02 bị can
Viện kiểm sát phải đình chỉ điều tra do hành vi không cấu thành tội phạm và phải bồi
thường theo luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự
Trong 05 năm từ năm 2019 đến năm 2023, trong công tác thực hành quyền
công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự VKSND tỉnh phối hợp với TAND tỉnh
đưa ra xét xử 287 vụ/425 bị cáo trong tổng số 331 vụ/531 bị cáo mà TAND đã thụ lý
giải quyết. Qua các phiên tòa xét xử Tòa án phát hiện thiếu chứng cứ nên trả hồ sơ
cho Viện kiểm sát điều tra bổ sung 10 vụ/30 bị cáo, Thông qua kiểm sát tại phiên tòa
Viện kiểm sát đã phát hiện vi phạm và đã ban hành 01 kiến nghị yêu cầu Tòa án nhân
dân khắc phục vi phạm trong hoạt động xét xử.
Trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án hình
sự VKSND tỉnh phối hợp với TAND tỉnh đưa ra xét xử 738 vụ/1125 bị cáo trong tổng
số vụ mà Tòa án đã thụ lý giải quyết. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm Tòa án thụ
lý mới: 836 vụ/ 1276 bị cáo, Viện kiểm sát kháng nghị: 28 vụ/ 75 bị cáo, Tòa án đã
xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát 18 vụ/ 58 bị cáo. Tổng hợp vi phạm
của Tòa án, VKS đã ban hành 05 kiến nghị để khắc phục vi phạm, các kiến nghị đều
được Tòa án chấp nhận [32].
2.2.2.2. Thực trạng hoạt động thực hiện công tác kiểm sát trong lĩnh vực dân
sự, hành chính, giam giữ, thi hành án, khiếu tố, thanh tra và một số công tác khác
Trong 05 năm từ năm 2019 đến năm 2023 VKSND tỉnh Cà Mau đã kiểm sát
thụ lý mới của Tòa án là 238 vụ, việc dân sự, 176 vụ án hành chính; Tòa án tỉnh đã
giải quyết 280 vụ, việc dân sự, 177 vụ án hành chính; Trong giai đoạn xét xử phúc
thẩm VKS đã kiểm sát thụ lý mới là 2119 vụ việc dân sự, 18 vụ án hành chính; Tòa
án đã giải quyết xong là 2096 vụ, việc dân sự, 17 vụ án hành chính, thông qua công
tác kiểm sát giải quyết vụ, việc dân sự hành chính VKSND tỉnh đã ban hành 04 kiến
nghị đối với Tòa án trong các khâu công tác này, yêu cầu Tòa án khắc phục các vi
45
phạm trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Tố tụng
Hành chính [32]. Tuy nhiên, chất lượng kháng nghị phúc thẩm dân sự còn hạn chế
nên còn một số vụ án bị cấp phúc thẩm rút, không đạt chỉ tiêu theo quy định.
Số người mới bị tạm giữ hình sự là 303 người, giải quyết khởi tố chuyển tạm
giam là 241 người; số người mới tạm giam là 421 người, giải quyết chuyển chấp hành
án là 2180 người. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đã trực tiếp kiểm sát nhà tạm
giữ có ban hành kết luận 02 lượt, trại tạm giam 18 lượt; VKS đã ban hành 11 kiến
nghị, 05 kháng nghị đến Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam và Trại giam
khắc phục vi phạm trong công tác tạm giữ, tạm giam, các kháng nghị, kiến nghị đều
được chấp nhận [32].
Thông qua công tác Kiểm sát thi hành án đối với Cơ quan thi hành án hình sự.
VKS đã kiểm sát quyết định thi hành án của 419 bị án, Kiểm sát quyết định phải thi
hành của 410 bị án; Kiểm sát việc ra quyết định thi hành án đối với 01 bị án tử hình
và 83 bị án đang chấp hành án phạt tù có thời hạn. Tiếp nhận, kiểm sát hồ sơ xét giảm
thời hạn chấp hành hình phạt tù cho 148 phạm nhân có quá trình cải tạo tốt; tha tù
trước thời hạn có điều kiện cho 56 phạm nhân; đặc xá 13 phạm nhân; không chấp
nhận đặc xá 01 trường hợp vì không đủ điều kiện. Các trường hợp còn lại đều bảo
đảm đúng quy trình, thủ tục và quy định của pháp luật; Trực tiếp kiểm sát 07 lượt
Trại giam Cái Tàu và phân trại quản lý phạm nhân về chấp hành pháp luật trong thi
hành án, quản lý, giáo dục người chấp hành án phạt tù và án treo, cải tạo không giam
giữ; VKS đã ban hành 02 kiến nghị đến Giám thị trại tạm giam yêu cầu khắc phục
các vi phạm, các kiến nghị, kết luận của Viện kiểm sát đã được chấp nhận [32].
Công tác kiểm sát thi hành án dân sự đối với Cơ quan thi hành án dân sự, Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh đã kiểm sát 2623 việc/1.906 tỉ đồng là số việc mà Cơ quan
THA đã thụ lý giải quyết. Trong đó kiểm sát số thi hành xong là 2323 việc/226 tỉ
đồng; số tạm đình chỉ thi hành án là 05 việc/11 triệu đồng; số; số chưa thi hành vì lý
do chờ giải quyết khiếu nại là 85 việc/08 tỉ đồng. Đã kiểm sát 2.535 quyết định về thi
hành án và phát hiện 130 quyết định có vi phạm về nội dung, hình thức và thời hạn
xác minh điều kiện thi hành án. Thông qua hoạt động này đã phát hiện vi phạm ban
46
hành 16 kiến nghị và 02 kháng nghị đến cơ quan Thi hành án dân dự, các kiến nghị,
kháng nghị đều được chấp nhận [32].
Thực hiện công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại tố cáo trong hoạt
động tư pháp Viện kiểm sát tỉnh đã ban hành kế hoạch, hướng dẫn cho VKS hai cấp
thực hiện. Trong công tác này đơn vị đã nhận 1.990 đơn thư yêu cầu giải quyết khiếu
nại, tố cáo từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên, sau khi phân loại đơn thuộc thẩm
quyền giải quyết của VKS chỉ là 87 đơn. Đơn thuộc trách nhiệm kiểm sát của Viện
kiểm sát 179 đơn. Đơn không thuộc thẩm quyền VKS 1.714 đơn và đã ra phiếu
chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết. VKS thụ lý đã giải quyết 86 đơn
thuộc thẩm quyền hiện còn 01 đơn trong hạn luật định. VKS đã ban hành kế hoạch
kiểm sát trực tiếp 09 cuộc tại các cơ quan tư pháp có thẩm quyền giải quyết đơn khiếu
nại, tố cáo và đã ban hành kết luận, kiến nghị. Các kết luận kiến nghị đều được cơ
quan tiếp thu chấp nhận [32].
Đơn vị Thanh tra đã tiến hành thanh tra đột xuất và theo kế hoạch 35 cuộc,
thanh tra toàn diện 05 cuộc tại 05 đơn vị VKS cấp huyện, thanh tra theo chuyên đề
12 cuộc, thanh tra đột xuất 11 cuộc, thanh tra theo chuyên đề về công vụ 07 cuộc.
Qua thanh tra đã kiểm điểm rút kinh nghiệm 65 đồng chí; khiển trách 03 đồng chí;
cảnh cáo 01 đồng chí; Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành kỷ luật nội vụ đơn
vị đã kiểm tra việc chấp hành kỷ luật nội vụ là 68 cuộc trên 427 lượt đơn vị; có 297
lượt công chức vi phạm quy định về chế độ thời gian làm việc, sử dụng trang phục
của Ngành và đã tiến hành kiểm điểm rút kinh nghiệm.
Về ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số ngay từ năm 2023 Ban
lãnh đạo VKSND tỉnh đã xác định khâu đột phá về “Ứng dụng công nghệ thông tin
xây dựng sơ đồ tư duy trong báo cáo, đề xuất đường lối giải quyết án của VKSND
hai cấp” và thành lập Ban Chỉ đạo, Tổ giúp việc cơ cấu đầy đủ các thành phần gồm
Ban lãnh đạo viện các Trưởng phòng, các Kiểm sát viên, Kiểm tra viên để thực hiện.
Sau khi thành lập đã xây dựng Kế hoạch thực hiện; tổ chức 02 lớp tập huấn cho 80
công chức là lãnh đạo, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên của VKSND hai cấp hướng dẫn
ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng sơ đồ tư duy. Kết quả VKSND hai cấp đã
47
thực hiện 124 cuộc báo cáo án bằng sơ đồ tư duy, nhiều đơn vị đã có sự tích hợp dẫn
chiếu từ sơ đồ tư duy đến trình chiếu chứng cứ, qua đó đã phối hợp với Toà án xét xử
27 vụ án có sơ đồ tư duy và trình chiếu chứng cứ tại tòa.
2.2.2.3. Nhận xét về thực trạng hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà
Mau
Kết quả đạt được:
Ban lãnh đạo Viện đã có những giải pháp đổi mới nâng cao công tác chỉ đạo
điều hành, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ,
công chức người lao động đã nỗ lực vượt khó phấn đấu nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác nên đã hoàn thành tốt các chỉ tiêu Quốc hội giao như: Kiểm sát 100%
số vụ án hình sự ngay từ khi khởi tố, VKS truy tố đúng thời hạn 100%, đúng tội danh
100%, tỉ lệ kháng nghị được Toà án chấp nhận về hình sự đạt 87,5% (vượt 17,5%),
kháng nghị về dân sự đạt 77% (vượt 7%), kháng nghị hành chính đạt 100% (vượt
30%), kiến nghị các cơ quan hữu quan chấp nhận đạt 100% (vượt 20%). Hoàn thành
đạt, vượt mức 130/130 chỉ tiêu theo Quyết định 139/QĐ-VKSTC của Viện trưởng
Viện KSND tối cao giao [39].
Trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra được tăng cường nên đã kiểm
sát chặt chẽ 100% tin báo về tội phạm và đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh kịp thời
nên các vụ án khởi tố đều đảm bảo có căn cứ, công tác kiểm sát bắt, tạm giữ, tạm
giam được thực hiện thận trọng chính xác hơn, án trả điều tra bổ sung giữa các cơ
quan tiến hành tố tụng tiếp tục được hạn chế; nhiều vụ án giết người, tham nhũng, ma
túy được dư luận quan tâm đã được phối hợp xử lý nghiêm minh, kịp thời; số lượng
và chất lượng án Viện kiểm sát truy tố đạt 99,9%; công tác xây dựng sơ đồ tư duy, số
hóa hồ sơ xét xử được triển khai thực hiện đã nâng cao kỹ năng của Kiểm sát viên
trong giải quyết án và tranh tụng tại phiên tòa; vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát
được nâng cao hơn trong đấu tranh phòng chống tội phạm [39].
Công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân
gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của
48
pháp luật tiếp tục đạt kết quả tích cực, đã ban hành nhiều kiến nghị, kháng nghị góp
phần bảo đảm giải quyết các vụ việc theo đúng quy định của pháp luật.
Công tác kiểm sát thi hành án dân sự, hành chính đã hoàn thành tốt chỉ tiêu
nhiệm vụ đã đề ra, thường xuyên kiểm sát chặt chẽ, trực tiếp kiểm tra, xác minh, đôn
đốc, kiến nghị yêu cầu cơ quan thi hành án nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
thi hành án nên số vụ đưa ra thi hành đạt tỉ lệ cao.
Hạn chế:
Việc giải quyết một số vụ án còn chậm, số lượng án bị cấp phúc thẩm hủy, sửa
có lỗi của Kiểm sát viên còn cao; số vụ án Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung còn nhiều,
chất lượng kháng nghị phúc thẩm dân sự còn hạn chế nên bị cấp phúc thẩm rút, không
đạt chỉ tiêu theo quy định; còn để xảy ra 02 bị can phải đình chỉ điều tra do hành vi
không cấu thành tội phạm thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát. Có đôi lúc công tác
phối hợp giải quyết một số vụ án tham nhũng, kinh tế thuộc diện Ban Chỉ đạo phòng,
chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh theo dõi, chỉ đạo còn chậm.
Nguyên nhân hạn chế:
Nguyên nhân khách quan: do ảnh hưởng tình hình dịch bệnh Covid -19 phải
kéo dài việc giãn cách xã hội, một số cán bộ có chức danh tư pháp như Điều tra viên,
Kiểm sát viên, Thẩm phán nhiễm bệnh phải bị cách ly y tế để phòng, chống dịch và
điều trị bệnh nên công tác điều tra, truy tố, xét xử, có lúc phải gián đoạn nên đã ảnh
hưởng đến quá trình giải quyết vụ án.
Một số quy định của pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể rõ ràng, chưa thống
nhất trong áp dụng thực tiễn giữa các cơ quan tư pháp, một số quy định, điều luật đã
không còn phù hợp với thời điểm hiện tại, cũng như hệ thống pháp luật được xây
dựng, phát triển và hoàn thiện trong điều kiện vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm từ thực
tiễn, vừa phải bảo đảm tính kế thừa, dự báo. Nên sẽ không thể tránh khỏi hạn chế,
thiếu sót, còn trường hợp vụ, việc xảy ra không có quy định pháp luật để điều chỉnh.
Đây là một hạn chế hết sức khách quan.
Năng lực của một số Kiểm sát viên còn hạn chế, chưa nghiên cứu, nắm vững
các quy định của pháp luật và các quy chế nghiệp vụ của Ngành, nhất là do thu thập
49
chứng cứ không đầy đủ, đánh giá chứng cứ và những vấn đề cần chứng minh trong
vụ án hình sự nên dẫn đến việc phê chuẩn khởi tố không đảm bảo căn cứ phải đình
chỉ do hành vi không cấu thành tội phạm; việc nhận dạng các vi phạm thông qua giải
quyết án còn hạn chế nên chưa phát hiện đầy đủ các vi phạm thiếu sót trong công tác
xét xử dân sự để kháng nghị. Từ đó dẫn đến cấp phúc thẩm không bảo vệ được phải
rút kháng nghị. Các vụ án tham nhũng, kinh tế thuộc diện Ban Chỉ đạo phòng, chống
tham nhũng tiêu cực tỉnh theo dõi, chỉ đạo đa số là các vụ án lớn, phức tạp, xảy ra
nhiều năm nên việc thu thập chứng cứ gặp nhiều khó khăn, công tác giám định tài
chính kéo dài nên việc giải quyết chưa kịp thời.
Nguyên nhân chủ quan: Do lãnh đạo một số đơn vị chưa gương mẫu và làm
tốt công tác quản lý, chỉ đạo điều hành; Nguyên nhân chủ yếu dẫn hạn chế về công
tác kháng nghị nêu trên là do lãnh đạo, Kiểm sát viên của một số đơn vị chưa thực
hiện tốt Chỉ thị số 09/CT-VKSTC; số 10/CT-VKSTC về tăng cường công tác kháng
nghị phúc thẩm hình sự, dân sự, hành chính, từ đó chưa nhận diện đầy đủ các vi phạm
để làm căn cứ kháng nghị nên hiệu quả kháng nghị chưa cao. Công tác phối hợp giữa
các cơ quan tư pháp trong giải quyết án có lúc chưa kịp thời dẫn đến án tham nhũng
giải quyết còn chậm chưa triệt để.
Một số khó khăn, vướng mắc, bất cập:
Thứ nhất, bất cập trong việc tiếp nhận, phân loại, xử lý ban đầu các tố giác,
tin báo về tội phạm của Công an cấp xã
Hiện nay luật quy định Viện kiểm sát chỉ tiến hành hoạt động kiểm sát đối với
CQĐT Công an cùng cấp, chưa quy định VKS kiểm sát việc kiểm tra, xác minh sơ
bộ tố giác, tin báo về tội phạm của Công an cấp xã. Do đó, VKS không thể kiểm sát
được đầy đủ, kịp thời việc tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm của Công an
cấp xã, qua đó để có biện pháp tác động giải quyết. Trường hợp Công an xã tiếp nhận
nhưng làm thủ tục chậm chuyển tố giác, tin báo về tội phạm cho CQĐT có thẩm
quyền dẫn đến việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm sẽ bị kéo dài, sẽ có nguy
cơ bỏ lọt tội phạm, người phạm tội.
Thứ hai, Về thẩm quyền giải tin báo, tố giác tội phạm
50
Tại điểm c khoản 3 Điều 145 BLTTHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021
quy định: “Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố...
có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không
được khắc phục”.
Như vậy, trường hợp Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản, Cơ quan có thẩm
quyền điều tra có khắc phục vi phạm nhưng khắc phục không được đầy đủ, Viện kiểm
sát sẽ không có cơ sở yêu cầu chuyển hồ sơ để trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố; ngoài ra, còn thiếu quy định về thời hạn Cơ quan có thẩm
quyền điều tra phải trả lời về kết quả thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát, làm cho
công tác kiểm sát việc khắc phục các vi phạm gặp khó khăn. Đây là một trong những
nguyên nhân dẫn đến số vụ việc VKS trực tiếp tiến hành kiểm tra, xác minh còn hạn
chế
Tại điểm c khoản 3 Điều 145 cùng với điểm b, c khoản 3 Điều 147 BLTTHS
sửa đổi bổ sung năm 2021 quy định: “Khi trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động khám nghiệm
hiện trường, khám nghiệm tử thi”.
Như vậy, VKSND cũng có thẩm quyền khám nghiệm hiện trường, khám
nghiệm tử thi, thế nhưng tại điều 201 và 202 BLTTHS 2015 sửa đổi bổ sung năm
2021 không có quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục khi VKS tiến hành khám
nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và cũng chưa có văn bản nào hướng dẫn vấn
đề này. Vậy, khi VKSND giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có
trường hợp phải tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi thì phải
thực hiện theo quy định nào, trình tự, thủ tục thực hiện ra sao? Chưa có quy định cho
vấn đề này gây khó khăn cho VKSND khi thực hiện nhiệm vụ.
Ngoài ra, Điều 179 BLTTHS không quy định thời hạn Cơ quan điều tra phải
bổ sung tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của VKS khi xét phê chuẩn quyết định khởi
tố bị can. Vì thiếu chứng cứ nên trong một số vụ án VKS yêu cầu CQĐT bổ sung
chứng cứ, tài liệu để quyết định việc phê chuẩn khởi tố bị can nhưng CQĐT chậm
thực hiện, làm ảnh hưởng đến tiến độ điều tra, giải quyết vụ án. Trong trường hợp
51
này thì VKS cũng không thể kiến nghị vì không có quy định của pháp luật.
Thứ ba, bất cập thực hiện quyền kiến nghị khi kiểm sát việc giải quyết các vụ
án hình sự
Thiếu vắng quy định về thời hạn kiến nghị
Cho đến nay, chưa có văn bản pháp luật nào quy định về thời hạn VKS phải
kiến nghị khi kiểm sát giải quyết các vụ án hình sự, sự thiếu vắng này đã dẫn đến
thực tế là cùng một vi phạm, có đơn vị ban hành kiến nghị ngay sau khi phát hiện vi
phạm, nhưng có đơn vị lại tổng hợp rồi định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm mới kiến nghị.
Ví dụ: Cơ quan điều tra có vi phạm trong việc không đo nồng độ cồn của đối tượng
khi giải quyết vụ việc vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Với vi
phạm này, có đơn vị ra văn bản kiến nghị ngay trong giai đoạn giải quyết tin báo,
nhưng có đơn vị gần 1 năm sau mới ban hành kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm.
Chưa quy định về việc thực hiện kiến nghị và thời hạn trả lời kiến nghị của
VKS
Về thời hạn xem xét, giải quyết, trả lời của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan
đối với kiến nghị áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật
của VKS cũng chưa quy định trong luật Tổ chức VKSND năm 2014. Mặc dù đã có
một số quy định về thời hạn xem xét, trả lời kiến nghị này của VKS trong BLTTHS
năm 2015, sửa đổi năm 2021 nhưng lại không có sự thống nhất.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 BLTTHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm
2021 thì:
“Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trả lời trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được kiến nghị về áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm
pháp luật của Viện kiểm sát” [16, Điều 6].
Tuy nhiên, trong giai đoạn truy tố, tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 237
BLTTHS 2015 quy định thì:
“Thời hạn trả lời của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với kiến nghị của VKS về
áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật là 10 ngày kể từ ngày
nhận được kiến nghị” [16, Điều 237].
52
Như vậy, là có sự không đồng nhất giữa 02 văn bản pháp luật này về thời hạn
trả lời việc thực hiện kiến nghị của VKS về áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm
và vi phạm pháp luật.
Việc quy định quyền kiến nghị của VKS về phòng ngừa vi phạm pháp luật và
tội phạm khi kiểm sát trong giai đoạn truy tố cũng dẫn đến tình trạng vừa thừa lại vừa
thiếu. Thừa là vì tại Điều 6 BLTTHS 2015 đã có quy định chung về quyền kiến nghị
của VKS và trách nhiệm, thời hạn trả lời của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với kiến
nghị nên không nhất thiết phải quy định lại trong giai đoạn truy tố. Thiếu là vì Bộ
luật này chỉ quy định lại quyền kiến nghị trong giai đoạn truy tố mà lại không quy
định quyền này cho VKS trong các giai đoạn khởi tố, điều tra và xét xử.
Vấn đề nữa, BLTTHS 2015 chưa có quy định để giải quyết đối với trường
hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan không đồng ý với kiến nghị của VKS khi
kiểm sát việc giải quyết vụ án hình sự khiến cho mỗi đơn vị có cách giải quyết khác
nhau. Có đơn vị có công văn trả lời không chấp nhận một phần hoặc toàn bộ kiến
nghị, lại có đơn vị không trả lời VKS mà có văn bản báo cáo cấp trên trực tiếp để chỉ
đạo giải quyết.
Thứ tư, quy định thẩm quyền của Viện trưởng mà không được phân công, ủy
quyền cho các Phó viện trưởng
Khoản 2 Điều 57 BLTTDS năm 2015 quy định: “Khi Viện trưởng vắng mặt,
một Phó Viện trưởng được Viện trưởng ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
Viện trưởng, trừ quyền quyết định kháng nghị quy định tại điểm d khoản 1 Điều này.
Phó Viện trưởng chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về việc thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn được ủy nhiệm”.
Như vậy, theo quy định thì Viện trưởng mới có thẩm quyền ký quyết định
kháng nghị nên gây khó khăn cho công tác kháng nghị của VKSND. Vì thời hạn
kháng nghị quy định chỉ 07 ngày đối với quyết định, 15 ngày đối với bản án của
Tòa án cùng cấp; 10 ngày đối với quyết định; 30 ngày đối với bản án của Tòa án cấp
dưới nhưng còn phụ thuộc vào việc chuyển bản án của VKS cấp dưới, việc chuyển
hồ sơ vụ án của tòa án cấp huyện lên Viện kiểm sát có thẩm quyền nghiên cứu ban
53
hành kháng nghị; Nếu Viện trưởng vắng mặt hoặc đi công tác mà có ủy quyền cho
các Phó viện trưởng thì cũng không ký được kháng nghị sẽ làm mất đi quyền kháng
nghị lý do đã hết thời hạn quy định.
Thứ năm, Khó khăn trong việc thực hiện chức năng kiểm sát giải quyết vụ,
việc dân sự theo quy định của BLTTDS 2015
Về kiểm sát việc thụ lý và việc tiếp cận hồ sơ, tài liệu vụ việc dân sự
Thực tiễn kiểm sát việc giải quyết vụ, việc dân sự còn thiếu cơ chế để VKS
tiếp cận, nghiên cứu hồ sơ ngay từ thụ lý ban đầu.
Theo Điều 196 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định thì trong thời hạn 3 ngày
làm việc, kể từ ngày Tòa án thông báo thụ lý vụ án. Thẩm phán được phân công giải
quyết vụ án đó phải thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp về việc vụ án đã được
thụ lý.
Toà án gửi Thông báo thụ lý vụ án nhưng không quy định Toà án phải gửi các
tài liệu, chứng cứ kèm theo cho VKS. Thông thường Tòa chỉ gửi quyết định thụ lý vụ
án cho VKS mà không kèm theo tài liệu, chứng cứ liên quan để VKS nghiên cứu
kiểm sát thời hiệu khởi kiện, điều kiện khởi kiện, tư cách pháp lý của người khởi
kiện… gây khó khăn cho VKS trong kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án của Tòa
án có đúng pháp luật hay không.
Chưa có cơ chế để VKS tiếp cận và nghiên cứu hồ sơ làm cho công tác kiểm
sát việc lập hồ sơ vụ án của Tòa án bị hạn chế; Đặt biệt là đối với VKS cấp phúc thẩm
chỉ kiểm sát trên cơ sở bản án, phiếu kiểm sát của VKS cấp huyện gửi lên mà không
trực tiếp nghiên cứu hồ sơ, tham gia phiên tòa như VKS cấp huyện. Ngoài ra, pháp
luật cũng chưa có quy định việc Tòa án thông báo cho VKS việc thu thập tài liệu,
chứng cứ nên Viện kiểm sát cũng không thể nắm được.
Về thời hạn nghiên cứu hồ sơ vụ án
Theo khoản 2 Điều 220 BLTTDS năm 2015 quy định:
“… Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2
Điều 21 của Bộ luật này thì Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cùng quyết định đưa vụ án
ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp; trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được
54
hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án”.
Tuy nhiên thời gian này KSV phải làm rất nhiều việc từ lập, trích cứu hồ sơ;
nghiên cứu hồ sơ vụ án trong đó công việc làm là: phải kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án và những người tham gia tố tụng;
nghiên cứu đơn yêu cầu khởi kiện; xem xét thẩm quyền giải quyết vụ án; kiểm tra
đánh giá tài liệu, chứng cứ...; báo cáo Lãnh đạo phụ trách đề xuất quan điểm giải
quyết vụ án; dự kiến nội dung câu hỏi để hỏi tại phiên tòa; dự thảo bài phát biểu của
KSV tại phiên tòa, nên với những vụ án phức tạp thì trong thời gian 15 ngày là rất
khó cho KSV nghiên cứu nội dung vụ án một cách toàn diện. Thực tế hiện nay Toà
án thường chuyển vụ án cho VKS nghiên cứu sau đó sẽ tổ chức xét xử theo đợt và
chuyển hồ sơ cùng với quyết định đưa vụ án ra xét xử nên công việc sẽ dồn vào một
thời điểm gây áp lực cho KSV, thời hạn nghiên cứu hồ sơ vụ án ngắn nên việc nắm
bắt nội dung vụ việc, tham mưu giải quyết sẽ hạn chế, làm giảm vai trò của Viện kiểm
sát.
Thứ sáu, trình tự thủ tục ghi âm, ghi hình có âm thanh
Thực hiện quy định mới của pháp luật về trình tự thủ tục ghi âm, ghi hình có
âm thanh; sử dụng, bảo quản, lưu trữ kết quả ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh trong
hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Tuy nhiên, hiện nay đa số Viện kiểm sát nhân dân
cấp huyện không có phòng hỏi cung bị can riêng và Viện kiểm sát nhân dân hai cấp
chưa được Viện kiểm sát nhân dân tối cao phân bổ kinh phí thực hiện mua sắm các
trang thiết bị phục vụ công tác ghi âm, ghi hình có âm thanh nên chưa đảm bảo thực
hiện tốt công tác cải cách tư pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Thứ bảy, về quyền yêu cầu theo quy định của Luật Tổ chức VKSND 2014
Quyền yêu cầu là quyền năng pháp lý của VKSND được quy định trong Luật
Tổ chức VKSND, trong Hệ thống chỉ tiêu nghiệp vụ của Ngành được ban hành theo
Quyết định số 139/QĐ-VKSTC ngày 29/4/2020 có 14 chỉ tiêu liên quan đến quyền
yêu cầu VKSND hai cấp phải thực hiện.
Tuy nhiên, theo quy định Luật Tổ chức VKSND còn nhiều quyền yêu cầu ở
các lĩnh vực Kiểm sát tạm giữ, tạm giam, thi hành án, kiểm sát giải quyết khiếu nại
55
tố cáo về tư pháp nhưng không được quy định trong hệ thống chỉ tiêu nghiệp vụ của
Ngành, từ đó VKSND hai cấp chưa thực hiện tốt các quyền này. Để thực hiện tốt
chức năng nhiệm vụ của Ngành, Ban lãnh đạo viện đã ra văn bản số 377/CV-VKS
ngày 22/6/2022 chỉ đạo VKSND hai cấp khi thực hiện quyền yêu cầu phải mở sổ theo
dõi, ghi chép đầy đủ kết quả thực hiện quyền yêu cầu của các cơ quan có liên quan.
Ngày 17/5/2023 VKSND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 327/KH-VKS yêu cầu
VKSND hai cấp sơ kết 01 năm thực hiện quyền yêu cầu. Qua sơ kết cho thấy, VKSND
hai cấp đã ban hành 2.438 yêu cầu trên các lĩnh vực, các cơ quan hữu quan chấp nhận
đạt tỉ lệ 99,8%.
Tuy nhiên, còn một số hạn chế, khó khăn nhất là trong lĩnh vực kiểm sát giải
quyết các vụ án dân sự, khi đề ra yêu cầu Toà án xác minh thu thập chứng cứ nhưng
không quy định trách nhiệm Toà án phải thực hiện (Khoản 2 Điều 22 Thông tư liên
tịch số 02/2016/TTLT), thời hạn nghiên cứu hồ sơ đề ra quyền yêu cầu quá ngắn chỉ
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày VKS nhận hồ sơ; các quyền yêu cầu ở các lĩnh vực
khác không quy định thời gian phải thực hiện; nhiều quyền yêu cầu chưa được VKS
quan tâm thực hiện, chưa đưa vào Hệ thống chỉ tiêu theo Quyết định số 139/QĐ-
VKSTC của Viện trưởng VKSND tối cao, VKSND tỉnh đã chỉ đạo VKSND hai cấp
tăng cường thực hiện quyền yêu cầu ở trên các lĩnh vực và tập hợp đề nghị VKSND
tối cao xem xét trong quá trình sửa đổi bổ sung Luật tổ chức VKSND trong thời gian
tới.
56
Chương 3
GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU VÀ LỘ TRÌNH THỰC HIỆN
ĐỀ ÁN
3.1. Giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Cà Mau theo định hướng cải cách tư pháp hiện nay
3.1.1. Giải pháp chung
Thứ nhất, Tiếp tục quán triệt, triển khai các chủ trương của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước về đổi mới tổ chức và hoạt động của VKSND trong giai đoạn
hiện nay. Tiếp tục tổ chức quán triệt, triển khai có hiệu quả quan điểm, đường lối của
Đảng, quan trọng như: Các Văn kiện Đại hội lần thứ XI, XII, XIII của Đảng, Nghị
quyết 48, 49 của BCHTW, đặc biệt là Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 về xây
dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay.
Thứ hai, thực hiện hiệu quả việc đóng góp ý kiến để xây dựng, hoàn thiện
chính sách, pháp luật hình sự, dân sự, tố tụng tư pháp. Tiếp tục quán triệt để VKSND
hai cấp tỉnh Cà Mau triển khai thực hiện tốt Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân năm 2014, BLDS năm 2015, BLTTDS năm 2015, Luật tố tụng
hành chính năm 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự
năm 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan; và các văn bản hướng dẫn và tổ
chức thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015, BLTTHS
năm 2015, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015… Chú trọng những bất cập
trong quy định của pháp luật đã được nêu lên ở phần hạn chế, khó khăn và nguyên
nhân để tổng hợp báo cáo xây dựng đề án đề nghị sửa đổi bổ sung.
Tổ chức hiệu quả các lớp tập huấn, quán triệt hướng dẫn thi hành các đạo luật
về tư pháp; thông qua thực tế thực hiện các quy chế công tác, quy định nghiệp vụ của
ngành, chủ động đề xuất bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới quy chế công
tác, quy định nghiệp vụ phù hợp với quy định chung của Ngành.
Thứ ba, nâng cao hơn nữa công tác THQCT và KSHĐTP của VKSND trong
hoạt động nghiệp vụ.
57
Tăng cường và đổi mới trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc
tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (gọi tắt là tin
báo) của Cơ quan điều tra. Bảo đảm mọi tin báo đã tiếp nhận phải được thụ lý và giải
quyết theo quy định của pháp luật. Từ đó, đã đề ra yêu cầu xác minh đầy đủ và kịp
thời, góp phần định hướng cho Cơ quan điều tra trong việc phá án khi có dấu hiệu tội
phạm hoặc chứng minh hành vi không cấu thành tội phạm hay không có tội phạm xảy
ra. Kiểm sát viên cần nâng cao tính tự học hỏi, trau dồi thêm kiến thức, kỹ năng
nghiệp vụ đặc biệt là những kiến thức dùng để áp dụng để xử lý các loại tội phạm
mới (các loại tội phạm lừa đảo, đánh bạc trên mạng, tín dụng đen, mua bán người…);
Tăng cường công tác chỉ đạo điều hành, chú trọng lựa chọn phân công các Kiểm
sát viên có năng lực, bản lĩnh để thực hành quyền công tố tại các phiên tòa lưu động,
xét xử án điểm; đồng thời để “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét
xử”; tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm nâng cao kỹ năng, chất lượng tranh tụng
của Kiểm sát viên theo yêu cầu cải cách tư pháp.
Trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử, Viện kiểm sát
nhân dân hai cấp đã chủ động phối hợp với Cơ quan điều tra, Tòa án trong việc xác
định và xử lý các vụ án trọng điểm, án tham nhũng, tội phạm có tổ chức và các vụ án
được dư luận quan tâm để đưa ra truy tố, xét xử lưu động phục vụ nhiệm vụ chính trị
của địa phương và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Công tác kháng nghị được Viện kiểm sát hai cấp quan tâm, chú trọng, đã khắc
phục những sai sót của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án trong việc áp dụng
pháp luật như: Quyết định hình phạt chưa tương xứng với hành vi phạm tội; ấn định
thời gian thử thách chưa đúng khi xử phạt hình phạt tù cho hưởng án treo; điều tra
chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo chưa đầy đủ, còn bỏ lọt tội phạm; không
buộc trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nộp án phí… đã góp phần tích cực trong công
tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.
Nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án, vụ việc dân
sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và vụ án hành chính; Kiểm
sát chặt chẽ các quyết định, hành vi của người tham gia tố tụng, người tiến hành tố
58
tụng; hạn chế tối đa việc để án quá hạn hoặc vi phạm tố tụng do lỗi chủ quan của
Kiểm sát viên, kiểm tra viên, thẩm phán, những người tiến hành tố tụng khác; giải
quyết triệt để các vụ việc dân sự, các vụ án hành chính phức tạp, liên quan đến nhiều
người, dư luận xã hội quan tâm.
Thứ tư, Tăng cường thực hiện hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, đẩy mạnh
các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, trong đó tập trung tăng cường kiểm tra
đột xuất việc chấp hành kỷ luật nội vụ tại các đơn vị, nhằm nâng cao trách nhiệm
quản lý, điều hành của cán bộ lãnh đạo cơ quan, đơn vị và ý thức trách nhiệm của cán
bộ, công chức trong việc chấp hành kỷ luật nội vụ. Tổ chức kiểm tra, xác minh những
dấu hiệu vi phạm và có kết luận cụ thể về những sai phạm, trách nhiệm của cá nhân
trong việc để xảy ra sai phạm và đề xuất việc xem xét kỷ luật (nếu đến mức phải thi
hành kỷ luật).
Thứ năm, tăng cường đổi mới, thực hiện hiệu quả công tác cán bộ trong việc
điều động, bố trí, sắp xếp lại đội ngũ công chức lãnh đạo quản lý, Kiểm sát viên phù
hợp, đúng theo vị trí việc làm, đáp ứng yêu cầu và nâng cao hiệu quả nguồn nhân lực;
xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch luân chuyển, điều động cán bộ để tạo nguồn
cán bộ có kiến thức thực tế, giỏi về nghiệp nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật; tích
cực chuẩn bị đội ngũ Kiểm sát viên có đủ điều kiện tham gia tố tụng trong các vụ việc
có yếu tố nước ngoài, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, công
dân Việt Nam.
Thứ sáu, tăng cường hơn nữa công tác quan hệ phối hợp với các cơ quan hữu
quan
Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với các cơ quan hữu
quan các cấp kiểm sát nhằm trao đổi thông tin, nắm bắt kịp thời, xử lý nhanh chóng
công việc tăng hiệu quả của công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động
tư pháp. Có kế hoạch phối hợp với Trường Đào tạo nghiệp vụ kiểm sát tại Tp Hồ Chí
Minh mở lớp bồi dưỡng chuyên sâu, kỹ năng nghiệp vụ kiểm sát tại địa phương và
mời giảng viên về hướng dẫn giảng dạy, VKSND tỉnh lựa chọn các Kiểm sát viên đủ
điều kiện để tham gia, qua đó lấy đây là nguồn cán bộ tiềm năng có khả năng thực
59
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, khả năng hướng dẫn nghiệp vụ
cho các Viện kiểm sát cấp huyện, có thể đưa vào quy hoạch các chức vụ cao hơn.
3.1.2. Giải pháp cụ thể
(1). Tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 6/12/2013
của Viện trưởng VKSND tối cao về “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt
động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng,
chống tội phạm” và Chỉ thị số 05/CT-VKSTC ngày 27/4/2020 của Viện trưởng
VKSND tối cao về “Tăng cường trách nhiệm công tố trong giải quyết các vụ án hình
sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm” nhằm bảo đảm việc phát hiện,
khởi tố, điều tra, truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, kiên quyết không để
xảy ra oan sai, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.
(2). Thực hiện hiệu quả chủ trương “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên
tòa”, bảo đảm thực hiện nguyên tắc “tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” theo quy
định của Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; quán triệt và thực
hiện tốt Chỉ thị số 09/CT-VKSTC ngày 6/4/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao về “Tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm
sát viên tại phiên tòa”; đổi mới, tăng cường các biện pháp nâng cao vai trò, trách
nhiệm, tính chủ động của Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố, kiểm sát xét
xử các vụ án hình sự; kiểm sát chặt chẽ các Bản án, Quyết định của Tòa án, phát hiện
kịp thời các vi phạm để kiến nghị, kháng nghị theo thẩm quyền, góp phần bảo đảm
để Tòa án ra Bản án, Quyết định có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người, đúng tội.
Tăng cường chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và
thi hành án phạt tù; kịp thời phát hiện và xử lý các vi phạm trong việc giam giữ, thi
hành án phạt tù bảo đảm việc quản lý và thực hiện đúng các chế độ về giam, giữ, thi
hành án phạt tù; chú trọng kiểm sát trực tiếp; tăng cường kiểm sát các trường hợp bị
kết án phạt tù nhưng chưa thi hành, trốn thi hành án, tạm đình chỉ, hoãn chấp hành
hình phạt tù, đặc xá, thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ, quản chế, cấm
cư trú.
(3). Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động tư pháp trong
60
các lĩnh vực dân sự, hành chính, lao động, kinh doanh thương mại và các việc khác
theo quy định của pháp luật; bảo đảm công tâm, khách quan, cẩn trọng trong nghiên
cứu, đánh giá các tài liệu, chứng cứ và việc áp dụng pháp luật của Tòa án; kiểm sát
chặt chẽ việc tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục và thời hạn tố tụng, khắc phục
triệt để các vi phạm tố tụng do lỗi chủ quan của Kiểm sát viên; thực hiện tốt trách
nhiệm tham gia phiên tòa, phiên họp, nâng cao chất lượng phát biểu quan điểm giải
quyết vụ việc tại phiên tòa, phiên họp của Kiểm sát viên; thực hiện hiệu quả quyền
yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định và các văn
bản quy phạm pháp luật có liên quan; tăng cường tổ chức tập huấn, sơ kết, tổng kết,
rút kinh nghiệm.
(4). Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát thi hành án dân sự, thi
hành án hành chính; tăng cường kiểm sát chặt chẽ việc xác minh, phân loại việc thi
hành án, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án, hoãn
thi hành án; giải quyết dứt điểm những vụ việc thi hành án phức tạp, kéo dài; thu hồi
tài sản tham nhũng; các việc thi hành án liên quan đến các tổ chức tín dụng; tăng
cường phối hợp, giải quyết dứt điểm các khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự.
(5). Tiếp tục thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo
và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; đẩy nhanh tiến
độ phân loại, xử lý và nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm
quyền của Viện kiểm sát nhân dân; theo dõi chặt chẽ, tăng cường phối hợp, kiểm sát
chặt chẽ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư
pháp.
(6). Đổi mới, thực hiện hiệu quả công tác cán bộ tiếp tục xây dựng đội ngũ
công chức, người lao động đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, bảo đảm hoàn thành tốt
chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo những quy định mới của Luật
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và các Bộ luật, luật mới về tư pháp; điều
động, bố trí, sắp xếp lại đội ngũ công chức lãnh đạo quản lý, Kiểm sát viên phù hợp,
đúng theo vị trí việc làm, đáp ứng yêu cầu và nâng cao hiệu quả nguồn nhân lực. Tiến
hành rà soát đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên để thực hiện quy hoạch cán bộ lãnh đạo,
61
quản lý hai cấp. Thực hiện tốt chủ trương luân chuyển, định kỳ chuyển đổi vị trí công
tác đối với Kiểm sát viên, công chức lãnh đạo, quản lý nhằm phát huy tính năng động,
sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, kỷ luật nghiệp vụ.
(7). Đổi mới phương thức, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng: Tiếp tục đổi mới,
nâng cao chất lượng các buổi toạ đàm, rút kinh nghiệm và tăng cường công tác tự
đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ; rà soát cử công chức đi học nghiệp vụ Kiểm sát, các
lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ do Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức; cử
công chức lãnh đạo quản lý đi học trung cấp, cao cấp lý luận chính trị và kiến thức
quốc phòng bảo đảm đúng đối tượng quy định.
(8). Quan tâm đến chế độ, chính sách của cán bộ công chức và người lao động:
Thực hiện đúng quy định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về chế độ, chính sách
tiền lương, khen thưởng, chính sách đãi ngộ… theo phân cấp quản lý. Đề cao vai trò,
trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị trong việc quản lý cán bộ, thực hiện việc bổ
nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên đảm bảo đúng quy trình,
đối tượng. Làm tốt công tác phân loại, đánh giá cán bộ hàng năm.
(9). Thực hiện hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra: Đẩy mạnh các hoạt động
công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, trong đó tập trung tăng cường kiểm tra đột xuất
việc chấp hành kỷ luật nội vụ tại các đơn vị, nhằm nâng cao trách nhiệm quản lý, điều
hành của cán bộ lãnh đạo cơ quan, đơn vị và ý thức trách nhiệm của cán bộ, công
chức trong việc chấp hành kỷ luật nội vụ. Chú trọng công tác thanh tra nghiệp vụ
nhằm kịp thời đánh giá được những ưu điểm, thiếu sót, vi phạm trong hoạt động
nghiệp vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của các đơn
vị trực thuộc và công chức nghiệp vụ khi thi hành công vụ. Tổ chức kiểm tra, xác
minh những dấu hiệu vi phạm và có kết luận cụ thể về những sai phạm, trách nhiệm
của cá nhân trong việc để xảy ra sai phạm và đề xuất việc xem xét kỷ luật (nếu đến
mức phải thi hành kỷ luật).
(10). Báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tối cao đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết
bị, phương tiện làm việc phù hợp và bảo đảm kinh phí cho hoạt động của Viện kiểm
sát nhân dân hai cấp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm.
62
Tranh thủ nguồn hỗ trợ của chính quyền địa phương để trang bị phương tiện làm việc
và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Triệt để thực hành tiết kiệm, tập trung kinh phí chi cho
công tác nghiệp vụ, đào tạo cán bộ. Quản lý, khai thác tốt trang thiết bị được giao,
bảo đảm việc sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả.
Tiếp tục tăng cường đầu tư, ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu
hiện đại hóa hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm; thực
hiện hiệu quả hơn nữa Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong
toàn Ngành.
(11). Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự giám sát của cơ quan dân cử và
nhân dân đối với hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân: Thực hiện nghiêm túc các
chương trình giám sát của Hội đồng nhân dân, Ban pháp chế Hội đồng nhân dân, Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện
đối với công tác của ngành Kiểm sát nhân dân theo thẩm quyền.
Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Bộ Chính trị và Hướng
dẫn của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ
pháp luật trong công tác điều tra, xử lý các vụ án và công tác bảo vệ Đảng; xây dựng,
tổ chức thực hiện và chú trọng kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các chương trình, kế
hoạch triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác tư pháp,
cải cách tư pháp; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quy hoạch, đào
tạo, tuyển chọn, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ ở cả hai cấp.
(12). Thực hiện hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền về cải cách tư pháp:
Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương, nhiệm vụ cải cách
tư pháp; về kết quả thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Đảng về cải cách
tư pháp trong ngành Kiểm sát nhân dân; về các quy định, chính sách mới trong các
bộ luật, luật về tư pháp; về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân
dân; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động
nghiệp vụ kiểm sát, các tấm gương người tốt, việc tốt trong thi hành và chấp hành
pháp luật.
(13). Một số giải pháp liên quan về nghiệp vụ kiểm sát:
63
Một, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát
hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự:
Chủ động, phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra ngay từ khi tiếp nhận tố
giác, tin báo về tội phạm, kiểm sát 100% việc khởi tố và không khởi tố của Cơ quan
điều tra; tỷ lệ bắt, tạm giữ xử lý về hình sự đạt ≥ 97 %. Tiếp tục thực hiện chủ trương
“Tăng cường trách nhiệm trong hoạt động công tố, gắn công tố với hoạt động điều
tra”, Kiểm sát viên thường xuyên bám sát tiến độ điều tra vụ án, kịp thời đề ra yêu
cầu điều tra (đạt tỷ lệ 100%), hạn chế thấp nhất tỷ lệ trả hồ sơ giữa các cơ quan tiến
hành tố tụng; tỷ lệ truy tố đúng tội danh đạt 100%; bảo đảm việc phát hiện, khởi tố,
điều tra, truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; hạn chế tối đa số vụ án bị đình
chỉ điều tra, đình chỉ vụ án do không chứng minh được tội phạm hoặc do bị can, bị
cáo không có tội; không để xảy ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm và người phạm tội;
bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tố tụng hình sự.
Nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa theo tinh thần
cải cách tư pháp; phối hợp với Tòa án tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm, nâng cao kỹ
năng tranh tụng cho Kiểm sát viên đảm bảo chỉ tiêu do Viện kiểm sát nhân dân tối
cao đề ra.
Thông qua công tác giải quyết các vụ án hình sự, chú trọng phát hiện và kiến
nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khắc phục kịp thời những sơ hở, thiếu sót
trong hoạt động quản lý kinh tế, xã hội.
Trong công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án: đảm bảo việc
tuân theo pháp luật trong hoạt động tạm giữ, tạm giam và thi hành án, tập trung làm
tốt nhiệm vụ trực tiếp kiểm sát tại UBND cấp xã, trực tiếp kiểm sát tại Cơ quan thi
hành án dân sự, mời Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia giám sát việc trực
tiếp kiểm sát tại Cơ quan thi hành án hình sự, dân sự cùng cấp.
Hai, thực hiện hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự,
vụ án hành chính:
Kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng, người
tham gia tố tụng theo quy định pháp luật; khắc phục triệt để việc để các vụ án quá
64
thời hạn xét xử hoặc vi phạm tố tụng khác do lỗi chủ quan của Kiểm sát viên. Tham
gia 100% các phiên tòa, phiên họp theo quy định, kiểm sát chặt chẽ 100% bản án,
quyết định của Tòa án; kiên quyết thực hiện tốt quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị.
Thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của ngành KSND trong công tác kiểm
sát và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, bảo đảm các chỉ tiêu
nghiệp vụ theo yêu cầu và kế hoạch đã đề ra; phối hợp tốt với các cơ quan tư pháp
trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp, giải quyết triệt để tâm tư và
nguyện vọng của người khiếu nại, tố cáo, tuyệt đối không để khiếu nại kéo dài, vượt
cấp…
a. Lộ trình thực hiện đề án
i. Nội dung thực hiện
Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết 27-NQ/TW về xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN ở nước ta hiện nay.
Rà soát và thực hiện việc đóng góp ý kiến để xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy
định pháp luật hình sự, dân sự, tố tụng tư pháp.
Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ; rà soát cử công chức đi
học nghiệp vụ Kiểm sát, các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ do Viện kiểm sát
nhân dân tối cao tổ chức.
Điều động, bố trí, sắp xếp lại đội ngũ công chức lãnh đạo quản lý, Kiểm sát
viên phù hợp, đúng theo vị trí việc làm.
Tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Viện trưởng VKSND tối cao về
“Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động
điều tra, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm”.
Thực hiện hiệu quả chủ trương “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa”,
bảo đảm thực hiện nguyên tắc “tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”.
Thực hiện hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền về cải cách tư pháp.
Đầu tư trang thiết bị ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số đáp ứng yêu
cầu hiện đại hóa hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.
Có chế độ, chính sách đãi ngộ cho công chức ngành KSND.
65
3.2.2. Cơ quan thực hiện
Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiến hành tổng kết 10 năm thực hiện Luật Tổ chức
VKSND năm 2024; phối hợp với TAND tối cao tổng kết 10 năm thực hiện Bộ luật tố tụng
hình sự, tố tụng dân sự năm 2015. Từ đó, tổng hợp những vấn đề cần dự trình với Quốc
hội trong đó có những vấn đề mà tác giả đưa ra trong Đề án.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tiến hành sơ kết 10 năm thực hiện Luật Tổ
chức VKSND năm 2024; phối hợp với TAND tỉnh sơ kết 10 năm thực hiện Bộ luật tố
tụng hình sự, tố tụng dân sự năm 2015 để đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật
phù hợp với thực tiễn địa phương.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau thực hiện công việc theo chức năng, nhiệm
vụ và báo cáo kết quả thực hiện hằng năm cho VKSND tối cao.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao cấp kinh phí đào tạo, bồi dưỡng hằng năm để
VKSND tỉnh Cà Mau thực hiện những nhiệm vụ thường xuyên như: đào tạo bồi dưỡng,
thực hiện công tác nghiệp vụ, ứng dụng CNTT, chuyển đổi số.
3.2.3. Kinh phí thực hiện
Từ nguồn chi thường xuyên hàng năm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau.
3.2.4. Thời gian thực hiện
Trong năm 2025, 2026 thực hiện sơ kết việc thi hành pháp luật; giai đạn 2025 đến
2030 và những năm tiếp theo duy trì thường xuyên thực hiện các nhiệm vụ còn lại.
66
b. Kiến nghị
Một là, Kiến nghị sửa đổi Luật tổ chức VKS cho phù hợp với Nghị quyết số
27-NQ/TW ngày 21/5/2018 về cải cách chính sách tiền lương.
Theo tinh thần Nghị quyết có nội dung là xây dựng bảng lương chung cho cán
bộ, công chức, viên chức không giữ chức danh lãnh đạo, quản lý. Tuy nhiên, Điều 95
Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định: “Kiểm sát viên, Điều tra viên, Kiểm tra
viên có thang bậc lương riêng". Như vậy, sẽ có sự mâu thuẫn trong các quy định của
pháp luật về bảng lương cho cán bộ Ngành kiểm.
Hai là, Kiểm sát viên được bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ THQCT và Kiểm
sát HĐTP. Tuy nhiên, trong thực tiễn, tại VKSND tối cao, VKSND cấp cao, VKSND
tỉnh có nhiều Kiểm sát viên không trực tiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt
động tư pháp, đó là những Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ tại các đơn vị như: tổ
chức cán bộ, văn phòng, thanh tra, trường học, báo, tạp chí Ngành. Do đòi hỏi nhiều
vị trí công tác phải là Kiểm sát viên mới đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra, ví dụ: Tại
đơn vị Văn phòng tổng hợp thuộc VKSND tỉnh có Chánh Văn phòng là người trực
tiếp tham mưu cho lãnh đạo Viện trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, thành
viên Ủy ban Kiểm sát, nếu không là Kiểm sát viên thì không thể đáp ứng yêu cầu đặt
ra, bên cạnh đó, bộ phận tham mưu, tổng hợp cũng cần phải có Kiểm sát viên am hiểu
pháp luật mới thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Thiết nghĩ, đối với các Kiểm sát viên
trung cấp công tác tại các đơn vị như: Phòng Tổ chức cán bộ, Văn phòng, Thanh tra,
ngòai nhiệm vụ được phân công, lãnh đạo Viện có thể phân công thực hành quyền
công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, trực nghiệp vụ, kiểm sát khám nghiệm hiện
trường, tử thi…để thực hiện đúng quy định tại Điều 74 Luật Tổ chức VKSND năm
2014.
Ba là, Kiến nghị đến VKSND tối cao và cấp Ủy địa phương có chủ trương về
nhân sự để kiện toàn cho đủ số lượng cơ cấu trong Ban lãnh đạo Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh, cần sớm làm quy trình, bổ nhiệm mới thêm 01 Phó Viện trưởng tỉnh, để kịp
thời xử lý nhiều công việc của đơn vị trong thời gian tới.
Bốn là, Kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền sớm trang bị cho VKSND hai
67
cấp tỉnh Cà Mau và Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện, Công an cấp tỉnh Cà Mau về
phương tiện, thiết bị ghi âm, ghi hình và cấp kinh phí để sửa chữa hoặc xây mới phòng
ghi âm, ghi hình có âm thanh tại các nhà tạm giữ, trại tạm giam và trụ sở CQĐT Công
an nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác điều tra và công tác truy tố các vụ án
hình sự đảm bảo tính công khai, minh bạch, trong giải quyết vụ án có ghi âm, ghi
hình có âm thanh theo quy định tố tụng hình sự.
Năm là, Kiến nghị Quốc hội, Ủy Ban TVQH và VKSND tối cao phối hợp với
Bộ tài chính sửa đổi quy định của pháp luật điều chỉnh kinh phí cấp cho hoạt động
thực hiện công tác đặc thù của ngành VKSND nói chung, Viện KSND tỉnh Cà Mau
nói riêng giống như kinh phí của CQĐT thực hiện các hoạt động điều tra, theo đó
chuyển từ kinh phí hoạt động hành chính sang hoạt động cho công tác đặc thù.
Sáu là, Kiến nghị VKSND tối cao cần nghiên cứu, sửa đổi hoặc đề nghị cấp có
thẩm quyền quy định về hình thức mẫu giấy chứng minh KSV cho phù hợp với tình
hình thực tế hiện nay.
Giấy chứng minh Kiểm sát viên được cấp cho Kiểm sát viên để thực hiện
nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, một số nơi khi đến
làm việc phải xuất trình giấy giới thiệu và giấy chứng minh Kiểm sát viên (như trại
giam, trại tạm giam...). Trong khi đó, giấy chứng minh Kiểm sát viên hiện nay ghi rõ
nơi công tác, ví dụ: Kiểm sát viên sơ cấp VKSND huyện X, nhưng khi điều động
Kiểm sát viên VKSND huyện X đến VKSND huyện Y thì phải làm thủ tục đổi Giấy
chứng minh Kiểm sát viên, mất thời gian dài, trong thời gian chờ cấp đổi giấy chứng
minh, khi đi công tác thì giấy giới thiệu là huyện Y nhưng Giấy chứng minh Kiểm
sát viên là huyện X gây khó khăn cho việc thực hiện nhiệm vụ công vụ.
Bảy là, Kiến nghị bổ sung quy định vào Bộ luật TTHS 2015 VKSND có chức
năng trực tiếp kiểm sát tố giác, tin báo về tội phạm Cơ quan Công an cấp xã, phường,
thị trấn, đồn công an (gọi chung là công an cấp xã) như đối với CQĐT cấp huyện như
hiện nay.
Theo quy định Công an cấp xã có thẩm quyền tiếp nhận, lập hồ sơ và kiểm tra,
xác minh sơ bộ tố giác, tin báo về tội phạm. Vì đây là cơ quan tiếp nhận phần lớn tố
68
giác, tin báo đầu vào nhưng Viện kiểm sát lại không kiểm sát được dẫn đến nhiều vụ
việc không kịp thời chuyển Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền, trong khi
đó thời gian vụ việc xảy ra đã lâu, gây khó khăn cho quá trình giải quyết tin báo, trong
giai đoạn này được xem là rất quan trọng dễ xảy ra oan sai và bỏ lọt tội phạm. Tuy
nhiên, Thông tư 01/2017 lại không quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ của VKSND
trong việc trực tiếp kiểm sát việc tiếp nhận, lập hồ sơ ban đầu tin báo, tố giác của Công
an cấp xã.
Tám là, Về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểm
sát
Kiến nghị bổ sung điểm c khoản 3 Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự, TTLT
01/2017 ngày 29/12/2017 và TTLT 02/2021 ngày 29/11/2021 như sau:
“VKS giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường
hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh
tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố mà VKS đã yêu cầu bằng văn bản
nhưng không được khắc phục đầy đủ; đồng thời bổ sung thời hạn Cơ quan có thẩm
quyền điều tra phải thực hiện và trả lời bằng văn bản đối với yêu cầu của VKS”.
Thêm một khoản vào trong 2 điều luật (201, 202) của Bộ luật này và quy định
như sau:
“Điều 201. Khám nghiệm hiện trường
4. Trường hợp Kiểm sát viên tiến hành khám nghiệm hiện trường thì thực hiện
theo quy định tại Điều này.”
“Điều 201. Khám nghiệm tử thi
5. Trường hợp Kiểm sát viên tiến hành khám nghiệm tử thi thì thực hiện theo
quy định tại Điều này.”
Kiến nghị bổ sung khoản 3 Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự thời hạn CQĐT
bổ sung tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của VKS như sau:
“Điều 179. Khởi tố bị can
Chín là, Hoàn thiện quyền kiến nghị của VKS trong giải quyết vụ án hình sự
69
Bổ sung quyền kiến nghị của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc giải quyết nguồn
tin về tội phạm theo hướng thiết kế thêm 2 khoản mới vào Điều 160 BLTTHS 2015
để quy định nhiệm vụ, quyền hạn kiến nghị vi phạm pháp luật và kiến nghị áp dụng
biện pháp phòng ngừa tội phạm của VKS.
Để các vi phạm pháp luật trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự đã phát
hiện đều được kịp thời khắc phục, không để vi phạm tiếp tục xảy ra; các thiếu sót, sơ
hở trong hoạt động quản lý được khắc phục kịp thời; bảo đảm sự thiếu thống nhất về
thời điểm ban hành kiến nghị, BLTTHS 2015 và Luật Tổ chức VKSND 2014 cần quy
định rõ tiêu chí, thời hạn VKS phải kiến nghị khi kiểm sát việc giải quyết vụ án hình
sự, chẳng hạn có thể quy định theo hướng: VKS phải ban hành kiến nghị trong thời
hạn 30 ngày kể từ khi phát hiện vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng của cơ quan, tổ
chức, cá nhân.
Việc trả lời của cơ quan, tổ chức về việc thực hiện kiến nghị: Điều 6 và Điều
237 BLTTHS 2015 quy định khác nhau về thời hạn trả lời kiến nghị của VKS về áp
dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật đã làm ảnh hưởng đến
tính thống nhất của pháp luật. Để khắc phục hạn chế này theo tác giả kiến nghị có thể
sửa đổi BLTTHS 2015 như sau: Sửa đổi thời hạn trả lời của cơ quan, tổ chức, cá nhân
đối với kiến nghị của VKS khi kiểm sát trong giai đoạn truy tố quy định tại khoản 2
Điều 237 Bộ luật này từ 10 ngày lên thành 15 ngày (để phù hợp với quy định chung
tại Điều 6 Bộ luật này) kể từ ngày nhận được kiến nghị;
Bổ sung vào BLTTHS 2015 chế tài xử lý cụ thể đối với cơ quan, tổ chức, cá
nhân không trả lời kiến nghị, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh.
Bộ luật TTHS 2015 chưa có quy định để giải quyết đối với trường hợp cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan không đồng ý với kiến nghị của VKS khi kiểm
sát việc giải quyết vụ án hình sự, dẫn đến vướng mắc, lúng túng trong việc giải quyết.
Qua thực tiễn và nghiên cứu, chúng tôi đề xuất bổ sung quy định này vào các điều
162, 167, 237, 267 BLTTHS 2015 theo hướng: trong trường hợp cơ quan, tổ chức
không đồng ý với kiến nghị của VKS thì có quyền kiến nghị VKS cấp trên xem xét,
giải quyết. Hướng giải quyết này rất hợp lý, qua thực tiễn áp dụng không có vướng
70
mắc gì.
Mười là, Kiến nghị sửa đổi Luật Tổ chức VKSND năm 2014 nên quy định quy
định thời hạn các cơ quan trả lời cho VKS về việc thực hiện yêu cầu; Sửa đổi Thông
tư liên tịch số 02/2016/TTLT quy định khi VKS yêu cầu Toà án xác minh thu thập
chứng cứ giải quyết các vụ án dân sự thì Toà án phải thực hiện và trả lời bằng văn
bản cho VKS về việc thực hiện và quy định yêu cầu đó. Ở một số lĩnh vực khác đề
nghị. Đề xuất VKSNDTC quan tâm chỉ đạo thực hiện quyền yêu cầu và đưa vào Hệ
thống chỉ tiêu của Ngành để đánh giá.
71
KẾT LUẬN
Viện KSND là một thiết chế của nhà nước ta, là một trong những cơ quan tư
pháp, có chức năng THQCT và KSHĐTP, có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp, bảo vệ
pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, có nhiệm vụ quan trọng trong
việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là một cấp Kiểm sát (được gọi là cấp
tỉnh) thuộc hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, được đặt tại địa phương, không đồng
nhất với Ủy ban nhân dân tỉnh. Trong công tác tổ chức bộ máy, tổ chức cán bộ và
hoạt động đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, từng bước khẳng định được
vai trò, vị thế của VKSND tỉnh trong Hệ thống chính trị. Cụ thể, kỳ đại hội Đảng bộ
tỉnh Cà Mau lần thứ XV vừa qua đã bầu đồng chí Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh tham gia ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, cơ cấu người đứng đầu tham gia cấp
ủy đảng tương đồng với Công an, Tòa án. Điều này, càng thể hiện vị thế chính trị để
thực hiện tốt hơn vai trò kiểm soát quyền lực trong lĩnh vực tư pháp.
Những số liệu tổng hợp phát sinh trong kỳ từ năm 2019 đến năm 2023, đã thể
hiện tổng thể tình hình tổ chức cán bộ, biên chế, luân chuyển, điều động bổ nhiệm
cũng như các số liệu phản ánh rõ nét tình hình hoạt động nghiệp vụ của VKSND tỉnh
Cà Mau từ các giai đoạn tin báo, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự; giải
quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và
các việc khác. Thực trạng tổ chức và hoạt động tuy có nhiều đổi mới, chuyển biến
tích cực nhưng sẽ không thể tránh những khó khăn, vướng mắc cần có những đổi mới
nhất định. Theo đó, trong hoạt động thì cần nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của
lãnh đạo phòng; Kiểm sát viên ý thức vị thế, vai trò của Ngành để phát huy tính tự
học hỏi, trau dồi kinh nghiệm, kỹ năng nghiệp vụ; tăng cường công tác phối hợp, ký
kết quy chế phối hợp liên ngành giữa các cơ quan tư pháp, các cơ quan khác; Đổi mới
công tác kiểm sát hoạt động tư pháp, nâng cao chất lượng công tác kháng nghị, kiến
nghị trong các lĩnh vực công tác kiểm sát hoạt động tư pháp.
72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Hòa Bình (2015), “Bàn về nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động
của Viện kiểm sát nhân dân”, Tạp chí Kiểm sát, (8), tr, 3.
2. Ban Chấp hành Trung ương (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 “về
tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
trong giai đoạn mới”, Hà Nội.
3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005, “Về Chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020”, Hà Nội.
4. Dương Đình Công, Ngô Văn Minh (2020), “Luận bàn về một số nguyên tắc tổ
chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân
dân năm 2014”, Tạp chí Khoa học kiểm sát, (6), tr. 63, tr. 66, tr. 68.
5. Hoàng Thị Quỳnh Chi, Lương Thị Hiền (2021), “Tổ chức và hoạt động của Viện
kiểm sát nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Thực tiễn và những vấn đề đặt ra”,
Tạp chí Kiểm sát, (01), tr. 39.
6. Chỉ thị số 03/CT-VKSTC ngày 28/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao “về
tăng cường việc thỉnh thị, trả lời thỉnh thị, hướng dẫn, giải đáp vướng mắc, thông
báo rút kinh nghiệm trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư
pháp”.
7. Nguyễn Quang Huy (2018), “Hoạt động phòng ngừa tội phạm của lực lượng công
an nhân dân và quan hệ phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân trong phòng ngừa tội
phạm”, Tạp chí Kiểm sát, (6), tr.11.
8. Đặng Thế Hùng (2017), “Quan hệ phối hợp giữa trại tạm giam với Viện kiểm sát
nhân dân trong quản lý người bị tạm giữ, tạm giam”, Tạp chí Kiểm sát, (22), tr. 34.
9. TS. Hoàng Anh Tuyên (2018), “Mối quan hệ phối hợp giữa viện kiểm sát nhân dân
và tòa án nhân dân trong tố tụng hình sự - một số kiến nghị hoàn thiện Bộ luật tố tụng
hình sự 2015 ”, Tạp chí Kiểm sát, (16).
73
10. Trần Thị Lâm (2015), “Vai trò của ủy ban nhân dân các cấp trong việc kiện toàn
tổ chức cán bộ các cơ quan tư pháp địa phương”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (5),
tr.56.
11. Trần Văn Nam (2017), Viện kiểm sát nhân dân quá trình hình thành, phát triển
và đổi mới theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam, Nxb. Trẻ, tr. 18.
12. Dương Thanh Quang (2022), “Về thẩm quyền kiến nghị của Viện kiểm sát trong
công tác kiểm sát hoạt động tư pháp và thẩm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc
thẩm”, Tạp chí Kiểm sát, (9), tr. 11.
13. Quốc hội (2013), Hiến pháp, Hà Nội.
14. Quốc hội (2014), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội.
15. Quốc hội (2015), Luật tổ chức chính quyền địa phương sửa đổi, bổ sung năm
2019, Hà Nội.
16. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2021, Hà Nội.
17. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hà Nội.
18. Quyết định số 189/QĐ-VKSTC ngày 01/6/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao “quy định về cơ cấu bộ máy làm việc, cơ cấu lãnh đạo, quản lý và
công chức, viên chức của Viện kiểm sát nhân dân các cấp”.
19. Quyết định 161/QĐ-VKSTC ngày 28/4/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao về việc “quy định chuyển đổi vị trí công tác trong Viện kiểm sát nhân
dân”.
20. Quyết định số 599/QĐ-VKSNDTC ngày 06/12/2019 của Viện trưởng VKSNDTC
về việc “ban hành quy định về công tác hướng dẫn, giải đáp vướng mắc về pháp luật,
nghiệp vụ, báo cáo thỉnh thị, trả lời thỉnh thị trong ngành kiểm sát nhân dân”.
21.Quy chế thống kê hình sự liên ngành VKS-CQĐT-TA ngày 15/4/2015 và Quy chế
phối hợp giữa VKS-CQĐT-CS4-BĐBP ngày 03/08/2020 “về việc tiếp nhận, phân
loại giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố”.
22. Quy chế số 314/QĐ-VKSTC ngày 05/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
về việc “ban hành quy chế phối hợp giữa Viện kiểm sát cấp trên và Viện kiểm sát cấp
dưới trong việc giải quyết vụ án hình sự do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền
74
công tố, kiểm sát điều tra và truy tố, phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành
quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm”.
23. Quy chế làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau ban hành kèm theo
Quyết định số 104/QĐ-VKS ngày 4/5/2016 của Viện trưởng VKSND tỉnh Cà Mau
24. Quy chế 26 ngày 10/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc “ban
hành quy định tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý và chức danh tư pháp của Viện
Kiểm sát nhân dân”.
25. Nguyễn Quang Thành (2015), “Thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác,
tin báo về tội phạm và khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Cà Mau theo Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2014”, Tạp chí Kiểm
sát, (16), tr. 41.
26. Tăng Ngọc Tuấn (2018), “Một số vấn đề rút ra qua hai năm thực hiện luật tổ chức
viện kiểm sát nhân dân trong công tác tổ chức cán bộ của ngành kiểm sát nhân dân”,
Tạp chí Kiểm sát, (1), tr. 13.
27. Nguyễn Ngọc Tuyến (2016), “Tham mưu cho cấp ủy, phối hợp với chính quyền
địa phương và các cơ quan tư pháp cùng cấp trong đấu tranh phòng, chống tội phạm”,
Tạp chí Kiểm sát, (1), tr.43.
28.Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018, quy
định “về việc phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện
một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự”.
29. Thông báo số 10/VKS-TB ngày 18/01/2023 về việc “phân công nhiệm vụ các
đồng chí lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau”.
30. Lê Huy Vịnh (2021), “Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ để đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới”, Tạp chí Tổ chức nhà nước,
(1), tr. 49.
31.Vụ pháp chế và quản lý khoa học - Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2016), “Đổi
mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (số chuyên đề), tr. 67.
75
32. Báo cáo thống kê trong hoạt động tư pháp của VKSND tỉnh Cà Mau 05 năm
2019-2023.
33. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2006), Nxb. Chính trị Quốc gia.
34. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016), Nxb. Chính trị Quốc gia.
35. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (2021), Nxb. Chính trị Quốc
gia.
36. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau (2023), Báo cáo tổng kết công tác Tổ chức
cán bộ năm 2023, Cà Mau.
37. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau (2019), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát
năm 2019, Cà Mau.
38. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau (2020), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát
năm 2020, Cà Mau.
39. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau (2021), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát
năm 2021, Cà Mau.
40. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau (2022), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát
năm 2022, Cà Mau.
41. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau (2023), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát
năm 2023, Cà Mau.
42.TS. Hoàng Thị Quỳnh Chi. Tạp chí Kiểm sát số 13/2023, truy cập ngày 17/9/2023,
https://kiemsat.vn/tiep-tuc-doi-moi-nang-cao-hieu-qua-thuc-hien-chuc-nang-nhiem-
vu-cua-vksnd-trong-giai-doan-moi-66123.html.
43. TS. Đỗ Văn Đương. Kiểm sát online, truy cập ngày 10/9/2023,
https://vksndtc.gov.vn/tin-tuc/cong-tac-kiem-sat/dam-bao-tinh-doc-lap-cua-vks-va-
vai-tro-cua-vks-tr-d10-t4470.html.
44. TS. Hoàng Thị Quỳnh Chi. Tạp chí Kiểm sát in số 13/2023, truy cập ngày
15/9/2023,
https://kiemsat.vn/tiep-tuc-doi-moi-to-chuc-va-hoat-dong-cua-he-thong-vksnd-theo-
tinh-than-nghi-quyet-so-27-nq-tw-66122.html.
45. ThS. Trần Văn Trung. Tạp chí Kiểm sát số 18/2023, truy cập ngày 26/3/2024,
76
https://vksndtc.gov.vn/tin-tuc/cong-tac-kiem-sat/mot-so-giai-phap-nang-cao-chat-
luong-kiem-sat-viec-d10-t12064.html.
46. Ths. Ngô Văn Lượng. Tạp chí điện tử Kiểm sát, truy cập ngày 17/6/2022,
https://kiemsat.vn/can-lam-ro-noi-ham-cac-khai-niem-lien-quan-den-chuc-nang-
kiem-sat-hoat-dong-tu-phap-cua-vien-kiem-sat-nhan-dan-63838.html.
47. Tăng Ngọc Tuấn. Tạp chí điện tử Kiểm sát, truy cập 14/7/2022,
https://kiemsat.vn/ket-qua-kien-toan-to-chuc-bo-may-can-bo-cua-vksnd-va-phuong-
huong-giai-phap-hoan-thien-trong-thoi-gian-toi-63961.html
48. Kiều diễm. Cổng thông tin điện tử Viện KSND tối cao, truy cập ngày 8/01/2018,
https://vksndtc.gov.vn/tin-tuc-su-kien/60-nam-ngay-thanh-lap-nganh-kiem-sat-
nhan-dan/vksnd-tinh-ca-mau-tang-cuong-nang-cao-hon-nua-chat-s25-t1644.html
49. Ths. Trần Văn Trung. Tạp chí điện tử Kiểm sát, truy cập 18/3/2024,
https://kiemsat.vn/mot-so-giai-phap-nang-cao-chat-luong-kiem-sat-viec-tiep-nhan-
phan-loai-xu-ly-ban-dau-nguon-tin-ve-toi-pham-cua-cong-an-cap-xa-68732.html
50. Nguyễn Cao Cường. Báo bảo vệ pháp luật, truy cập 7/3/2022,
https://baovephapluat.vn/cai-cach-tu-phap/dien-dan/mot-so-vuong-mac-ve-nhiem-
vu-quyen-han-cua-vien-kiem-sat-trong-giai-quyet-vu-an-hinh-su-119463.html
51. Anh Minh. Báo bảo vệ pháp luật, truy cập 14/02/2022,
https://baovephapluat.vn/cai-cach-tu-phap/dien-dan/ban-ve-quyen-kien-nghi-cua-
vien-kiem-sat-trong-to-tung-hinh-su-118462.html
52. Ths. Lê Thị Mơ, Trần Quốc Văn. Cổng thông tin điện tử Viện KSND tối cao, truy
cập ngày 26/7/2022,
https://vksndtc.gov.vn/tin-tuc/cong-tac-kiem-sat/ban-ve-viec-thay-doi-bo-sung-rut-
khang-nghi-cua-vi-d10-t10451.html
53. Nguyễn Thị Hà Phương. Công thông tin điện tử Viện KSND thành phố Hà Nội,
truy cập 13/9/2023
https://vkshanoi.gov.vn/chi-tiet-tin/thuc-tien-thi-hanh-bo-luat-to-tung-dan-su-nam-
2015-mot-so-han-che-bat-cap-va-mo-19179.html
54. Hồng Hải, Cẩm Thi. Tạp chí điện tử Kiểm sát, truy cập 6/11/2020
77
https://kiemsat.vn/ghi-nhan-tu-thuc-tien-cong-tac-kiem-sat-viec-giai-quyet-an-dan-
su-60417.html
55. Ths. Ngô Văn Lượng. Tạp chí điện tử Kiểm sát, truy cập 12/9/2022
https://kiemsat.vn/mot-so-bat-cap-ve-kiem-sat-viec-giai-quyet-khieu-nai-to-cao-
trong-hoat-dong-tu-phap-64394.html

