intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Đề cương ôn thi môn: Triết học

Chia sẻ: Ha The Vinh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:28

0
353
lượt xem
93
download

Đề cương ôn thi môn: Triết học

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề cương ôn thi môn "Triết học" cung cấp cho các bạn những câu hỏi bài tập có lời giải về vật chất, ý thức, hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật, 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng, lý luận nhận thức của triết học Mác-Lênin,... Hy vọng tài liệu giúp các bạn đạt kết quả cao trong kỳ thi sắp tới.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề cương ôn thi môn: Triết học

  1. Vật chất – ý thức Câu 1: Nêu quan điểm khoa học về vật chất của Lênin ý 1: Quan niệm về vật chất trong lịch sử triết học duy vật trước C. Mác * Thời kỳ cổ đại: ­ Đồng nhất vật chất với một dạng vật thể cụ thể: + Quan điểm triết học Phương Đông, triết học Trung Quốc cho rằng âm dương ngũ hành khí là thực  thể vật chất, Triết học ấn Độ cho rằng nguyên tử là thực thể của thế giới. + Quan điểm triết học Phương Tây, Talet cho rằng vật chất là nước, Hêracrít cho vật chất là lửa,   Anaximen cho rằng vật chất là không khí,  Đêmôcrit cho rằng vật chất là nguyên tử, khẳng định nguyên tử  là nhỏ nhất, không thể phân chia thành yếu tố nhỏ hơn nữa Quan niệm vật chất thời kỳ cổ đại mang tính trực quan, cảm tính, đồng nhất vật chất với 1 dạng  vật thể cụ thể. * Thời kỳ cận đại thế kỷ XVII­XVIII  Người ta cho rằng vật chất là sự vật, hiện tượng có khối lượng, các kích thước dài, rộng, cao (mang   tính quảng tính).  VD: Niutơn: Cho rằng khối lượng là vật chất. Khối lượng không thay đổi Quan điểm vật chất thời kỳ cận đại mang tính siêu hình, máy móc. Đồng nhất vật chất với thuộc   tính của vật chất. ý 2: Các phát hiện khoa học Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khoa học tự nhiên mà chủ yếu là vật lý học đã có một loạt những  phát minh quan trọng đem lại cho con người những hiểu biết mới về cấu trúc và tính chất của vật chất, nó   đã làm thay đổi căn bản quan niệm cổ truyền về vật chất. + Năm 1895, Rơnghen­ người Đức đã phát hiện ra tia X. + Năm 1896, Beccơren­ người Pháp phát hiện ra tia phóng xạ. + Năm 1897, Tômxơn­ nhà vật lý học người Anh đã phát hiện ra điện tử, một trong những yếu tố  cấu tạo nên nguyên tử. Nó chứng minh: nguyên tử không phải là nhỏ nhất và nguyên tử có thể thay đổi 1 sai + Năm 1901. Kaufman­ người Đức phát hiện ra sự thay đổi của khối lượng điện tử: khối lượng thay  đổi khi vận tốc của vật thay đổi.  điều đó chứng tỏ khối lượng cũng có thể thay đổi, không phải là bất biến  2 sai  Tóm lại: Những thành tựu trong khoa học tự nhiên đã phủ nhận quan điểm trước kia về vật chất Khủng hoảng về định nghĩa vật chất ý 3: Quan điểm của Lênin * Định nghĩa: Trong tác phẩm  “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, Lênin đã định nghĩa như  sau: ­ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để  chỉ  thực tại khách quan được đem lại cho con người   trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm   giác”.
  2. Khi định nghĩa về  phạm trù vật chất, Lênin đã sử  dụng một phương pháp đặc biệt khác với cách  định nghĩa thông thường, đó đem đối lập phạm trù vật chất với phạm trù ý thức. *  Đặc điểm tính chất: Từ định nghĩa rút ra 3 tính chất ­ Vật chất là cái tồn tại bên ngoài ý thức,cảm giác, không phụ thuộc vào ý thức ` ­ Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi trực tiếp hay gián tiếp tác động đến các giác quan  con người . ­ Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là hình ảnh của vật chất. * ý nghĩa của định nghĩa: ­ Giải quyết triệt để hai mặt trong vấn đề  cơ  bản của triết học theo quan điểm của chủ  nghĩa duy   vật biện chứng. Mặt 1: giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào.   Mặt thứ 2: con người có khả năng nhận thức thế giới hay không ­ Giải quyết quan điểm duy tâm siêu hình về  phạm trù vật chất, bác bỏ, phủ  nhận quan điểm của   CNDT và tôn giáo về vấn đề này(loại quan điểm cổ đại và cận đại). ­ Chỉ ra cái mới: vật chất là vô tận, tất cả những phát minh của con người chỉ là giới hạn trong sự  hiểu biết của con người. Có tác dụng cổ vũ các nhà khoa học đi sâu vào thế giới vật chất để nghiên cứu, thu  được nhiều tri thức mới về  thế giới vật chất.  Quan trọng nhất Câu 2­ Trình bày quan niệm về ý thức của Lênin  Trong lịch sử triết học, vấn đề  nguồn gốc, bản chất và vai trò của ý thức là trung tâm của cuộc đấu tranh   giữa CNDV và CNDT ý 1:  Nguồn gốc của ý thức (YT) *Nguồn gốc tự nhiên ­ Mọi dạng vật chất đều có thuộc tính phản ánh.  Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ  thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng.  Năng lực phản ánh  của vật chất tuỳ  thuộc vào tổ  chức của vật chất. Tổ  chức vật chất càng phức tạp thì năng lực phản ánh  càng cao (sáng tạo) ­ Sự phát triển của thuộc tính phản ánh (các hình thức phản ánh): +Phản ánh lý hoá: là hình thức phản ánh đơn giản nhất, đặc trưng cho giới tự  nhiên vô sinh. Hình  thức phản ánh này có tính chất thụ động, chưa có định hướng sự lựa chọn.  + Phản ánh sinh học: đặc trưng cho giới tự nhiên sống. Những hình thức phản ánh này đã có sự định  hướng, sự lựa chọn, nhờ đó các sinh vật thích nghi với môi trường để duy trì sự tồn tại của mình. Phản ánh   sinh học có nhiều cấp độ: Tính kích thích: thể  hiện  ở  thực vật và động vật bậc thấp, là phản  ứng trả  lời tác động của môi  trường ở bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao đổi chất của chúng. Tính cảm  ứng: là hình thức phản ánh của động vật bậc cao khi có hệ  thần kinh trung  ương và tính   nhạy cảm đối với sự thay đổi của môi trường. Tâm lý: Là hình thức phản ánh ở động vật bậc cao khi có hệ thần kinh trung ương xuất hiện. Tâm lý  động vật là sự phản ánh có tính chất bản năng do nhu cầu trực tiếp của sinh lý cơ thể  và do quy luật sinh   học chi phối. ý thức: Là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực. ý thức là hình thức phản ánh chỉ  có ở con người. Như vậy: ý thức là đặc tính riêng của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người.
  3.  Bộ não người và ý thức ­ Bộ  não người là một tổ  chức sống đặc biệt có cấu trúc tinh vi và phức tạp. Bộ  não người là cơ  quan vật chất của ý thức. ­ Hoạt động ý thức chỉ diễn ra trong bộ não người, trên cơ sở các quá trình sinh lý­ thần kinh của bộ  não. Như vậy nguồn gốc tự nhiên của ý thức là thế giới khách quan và não người * Nguồn gốc xã hội ­ Lao động  + Theo Mác, lao động là quá trình diễn biến giữa con người và tự nhiên. + Đặc điểm: Lao động là hoạt động đặc thù của con người. Lao động luôn mang tính tập thể xã hội. Vai trò của lao động: + Lao động đã sáng tạo ra bản thân con người, tách ra khỏi giới động vật. + Lao động làm hoàn thiện cơ thể con người, đặc biệt là bộ óc và giác quan, làm cho năng lực tư duy   trừu tượng, năng lực phản ánh của bộ óc càng phát triển.  + Thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của mình   trong quá trình lao động. + Trong lao động đòi hỏi xuất hiện ngôn ngữ. ­ Ngôn ngữ ­ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức, theo C.Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật   chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng. Vai trò của ngô ngữ:  + Nó là phương tiện giao tiếp trong xã hội, trao đổi kinh nghiệm, trao đổi tri thức từ thế hệ này sang   thế hệ khác. + Nhờ ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn, đồng thời là công cụ của tư duy nhằm khái   quát hoá, trừu tượng hoá hiện thực. Do đó, không có ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành, tồn tại và thể hiện được. Vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động,   là thực tiễn xã hội. ý 2­ Bản chất của ý thức  Quan điểm của CNDVBC về bản chất của YT: YT là sự phán ánh hiện thực khách quan vào trong bộ  óc con người một cách năng động, sáng tạo  Bản chất:  ­ Phản ánh YT là sự phản ánh sáng tạo. Đây là đặc điểm vô cùng quan trọng của phản ánh YT. Tính  sáng tạo của YT thể hiện ra rất phong phú đa dạng. Tuy nhiên, sáng tạo của YT là sáng tạo trong giới hạn  của sự phản ánh, khác với xuyên tạc ­ Phản ánh mang tính tích cực, tự giác ý 3­ Kết cấu của ý thức *Theo chiều ngang: YT bao gồm: tri thức, tình cảm, niềm tin, lý chí… trong đó tri thức là yếu tố cơ  bản, cốt lõi.
  4. * Theo chiều dọc: Bao gồm: tự ý thức, tiềm thức, vô thức. Câu 3:  Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức ý 1: Khái niệm: * Vật chất: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để  chỉ  thực tại khách quan được đem lại cho con   người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ  thuộc   vào cảm giác” Các đặc điểm tính chất: ­ Vật chất là cái tồn tại bên ngoài ý thức,cảm giác, không phụ thuộc vào ý thức `­ Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi trực tiếp hay gián tiếp tác động đến các giác quan con   người  ­ Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là hình ảnh của vật chất. *ý thức là sự  phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ  óc con người một cách năng động, sáng tạo.ý   thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Bản chất:  ­ Phản ánh YT là sự phản ánh sáng tạo ­ Phản ánh mang tính tích cực, tự giác ý 2: Mối quan hệ biện chứng * Vật chất quyết định ý thức: ­ Vật chất quyết định sự xuất hiện của ý thức, do đó vật chất là có trước, ý thức là có sau, ý thức chỉ  là sự phản ánh của vật chất. Nguyên lý này biểu hiện về mặt xã hội là tồn tại xã hội có trước, ý thức xã hội  có sau và do tồn tại xã hội quyết định. ­ Vật chất là cái quy định nội dung của ý thức, vật chất thay đổi thì ý thức cũng thay đổi. Tồn tại xã   hội thay đổi thì sớm muộn ý thức xã hội cũng thay đổi theo. *ý thức tác động trở lại vật chất ( Tính độc lập tương đối của ý thức) ­ Mặc dù ý thức do vật chất quyết định nhưng nó không phụ thuộc hoàn toàn vào vật chất mà do có  tính năng động, sáng tạo nên ý thức có thể tác động trở lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan   thông qua hoạt động thực tiễn của con người theo hai hướng: + Tích cực: ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan có tác dụng thúc đẩy, tạo điều kiện hoạt   động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất. + Tiêu cực: ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan có thể  kìm hãm hoạt động thực tiễn   của con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất. ý 3:  ý nghĩa của việc nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong sự  nghiệp   đổi mới ở nước ta ­ Do thừa nhận vật chất có trước và quyết định ý thức nên khi nhận thức thế giới phải xuất phát từ  thế giới khách quan, không thể xuất phát từ ý thức, ý muốn chủ quan của con người. Trong hoạt động thực   tiễn phải tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan, phải nói rõ và đúng sự thật, phải tìm nguyên  nhân và phương pháp giải quyết các hiện tượng tinh thần  ở ngay trong hiện thực khách quan, không được  áp đặt chủ quan, duy ý chí hoặc vận dụng kinh nghiệm một cách máy móc, giáo điều. ­ Thừa nhận ý thức có tính độc lập tương đối, có sự tác động trở  lại thế  giới khách quan thông qua   hoạt động thực tiễn của con người. Do đó phải nâng cao năng lực nhận thức các quy luật khách quan và vận  dụng các quy luật ấy trong hoạt động thực tiễn của con người. Đồng thời khắc phục thái độ  tiêu cực, thụ  động, ỷ lại, trong chờ hoặc đổ lỗi cho khách quan, cần phát huy tính chủ động, sáng tạo của con người.
  5. ­ Trên thực tế   ở  VN, nước ta đã phạm phải sai lầm chủ  quan duy ý trí, tại Đại hội 7 ĐCSVN đã   khẳng định “Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý trí vi phạm vào quy luật khách quan” và Đảng đã rút ra  bài học: “ Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo   quy luật khách quan” là bài học kinh nghiệm lớn rút ra từ thực tiễn cách mạng nước ta. Đảng ta cũng nhấn   mạnh vai trò to lớn của tư tưởng, của lý luận khoa học và luôn xác định “ lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư   tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động”. Chính từ quan điểm đúng đắn  đó mà thực tiễn cách mạng Việt Nam đã và đang thu được nhiều thành quả rõ rệt. Câu 4: Các hình thức biểu hiện cụ  thể  của mối quan hệ  biện chứng gi ữa vật   chất­ý thức Gồm 3 hình thức: + Quan hệ vật chất­ý thức + Quan hệ tồn tại xã hội­ý thức xã hội + Quan hệ lý luận­thực tiễn Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật Thế giới khách quan tồn tại trong sự liên hệ phổ biến và trong sự phát triển. Từ đó ta có nội dung của 2  nguyên lý Câu 1: Trình bày nguyên lý về mối liên hệ phổ biến ý 1:  Khái niệm  * Về phép biện chứng (PBC) ­ Sơ lược về sự hình thành và phát triển của PBC trong lịch sử triết học. Thứ  nhất: PBC tự  phát thời cổ  đại: Phản ánh tính chất chung của thế  giới là vận động biến đổi   không ngừng nhưng chủ yếu dựa trên cơ sở quan sát mang tính trực quan, cảm tính. Thứ hai: PBC của Hêghen trong triết học cổ điển Đức mang tính chất duy tâm thần bí, phản ánh sai   lệch hiện thực khách quan. Thứ  ba: PBC duy vật do Mác­Ăngghen xây dựng là sự  thống nhất giữa thế  giới quan duy vật và  phương pháp biện chứng, nó mang tính khoa học.  ­ Định nghĩa PBC: + Ăngghen: “PBC chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và  sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”. * Về mối liên hệ phổ biến * Khái niệm về mối liên hệ phổ biến  ­ Quan điểm siêu hình về mối liên hệ: cho rằng sự vật hiện tượng tồn tại độc lập tách biệt với nhau,  giữa chúng không có sự  liên hệ  nếu thừa nhận có sự  liên hệ  thì đó chỉ  là liên hệ  bề  ngoài, thụ  động, một  chiều, giữa các hình thức liên hệ không có sự chuyển hoá lẫn nhau. ­ Quan điểm duy vật biện chứng về mối liên hệ: Mối liên hệ  là phạm trù triết học dùng để  chỉ  sự  quy định, sự  tác động qua lại, sự  chuyển hoá lẫn  nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay các mặt sự vật, của một hiện tượng trong thế giới.  Như vậy là có liên hệ bên trong và liên hệ bên ngoài ý 2 Tính chất của mối liên hệ: 3 tính chất
  6. ­ Mối liên hệ  mang tính khách quan, nó là cái vốn có của các sự  vật, hiện tượng, không phụ  thuộc   vào ý muốn, cảm giác, ý thức của con người. ­ Mối liên hệ mang tính phổ biến, thể hiện: Có ở mọi lĩnh vực trong cả tự nhiên, xã hội và tư  duy ­ Mối liên hệ mang tính đa dạng và nhiều vẻ: Sự vật hiện tượng trong thế giới là phong phú, đa dạng, vì vậy hình thức liên hệ giữa chúng cũng rất  đa dạng. Tuy nhiên, có thể căn cứ vào vị trí, phạm vi vai trò, tính chất mà phân chia ra thành những mối liên   hệ khác nhau như: mối liên hệ bên trong – mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ bản chất­ mối liên hệ không   bản chất, mối liên hệ  trực tiếp ­ mối liên hệ  gián tiếp, trước mắt­lâu dài v.v… Nhưng sự  phân chia này  cũng chỉ mang tính tương đối. ý 3 ý nghĩa phương pháp luận ­ Khi xem  xét sự vật hiện tượng phải có quan điểm toàn diện. Yêu cầu của quan niệm toàn diện. + Phải xem  xét tất cả các mặt, các mối liên hệ của sự vật và các khâu trung gian của nó. + Phải nắm được và đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng mặt, từng mối liên hệ trong quá trình cấu   thành sự vật .  ­ Bản thân quan điểm toàn diện đã bao hàm quan điểm lịch sử cụ thể. Vì vậy, khi xem xét sự vật,   hiện tượng phải đặt sự vật hiện tượng vào đúng không gian, thời gian mà sự vật, hiện tượng tồn   tại . ­ ở Việt Nam, trong sự nghiệp đổi mới, ĐCS đã xác định cần đổi mới toàn diện các lĩnh vực của  đời sống xã hội. Trước hết là đổi mới trong tư  duy về  nhận thức XHCN và con đường đi lên   CNXH, trong đó tập trung đổi mới tư duy về kinh tế ***Lưu ý: Từ  ý nghĩa mà có thể  có một câu hỏi: Trình bày hiểu biết của anh (chị) về  quan   điểm toàn diện Trả lời: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến Câu 2:  Nguyên lý về sự phát triển  ý 1: khái niệm về sự phát triển * Quan điểm siêu hình: phát triển chỉ là sự  tăng, giảm đơn thuần về mặt số lượng hay khối lượng   mà không có sự  thay đổi về  chất. Phát triển chỉ  như  quá trình tiến lên liên tục, không có bước quanh co,   thăng trầm phức tạp. Nguồn gốc phát triển là do bên ngoài quy định.  * Quan điểm duy tâm: nguồn gốc phát triển là của lực lượng siêu nhiên, phi vật chất, ý niệm tuyệt  đối của thần linh, thượng đế. *Quan điểm duy vật biện chứng: phát triển là phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động theo   chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn . ­ Nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật: đó là do mâu thuẫn trong bản thân sự  vật   quy định ­ Sự phát triển là kết quả của sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất là quá trình diễn ra   theo đường xoáy ốc. ­ Sự phát triển là quá trình vận động thay đổi về chất, chất mới ra đời cao hơn chất cũ, phát triển có   xu hướng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Sự phát triển   không phải lúc nào cũng đi theo một đường thẳng mà có lúc tụt lùi tạm thời
  7. Khái niệm về sự phát triển gắn liền với khái niệm về sự vận động, do đó phát triển là sự vận động   có khuynh hướng ­ Phát triển là khuynh hướng chung của thế giới. ý  2 Tính chất của sự phát triển  ­ Phát triển mang tính khách quan, nó là cái vốn có của bản thân sự vật hiện tượng, không phụ thuộc   vào ý muốn chủ  quan của con người. Nguồn gốc của sự phát triển là do mâu thuẫn  ở  bên trong bản thân   SVHT, trong quá trình tồn tại và vận động của SVHT luôn diễn ra quá trình giải quyết các mâu thuẫn bên  trong nhờ  đó mà SVHT phát triển. Sự  phát triển là quá trình khách quan, không phụ  thuộc vào ý muỗn,  nguyện vọng, ý chí của con người. ­ Phát triển mang tính phổ  biến: phát triển  ở  mọi mặt, mọi khía cạnh, không chỉ  là sự  thay đổi về  mặt số lượng hay khối lượng mà nó còn là sự thay đổi về chất . Phát triển diễn ra ở mọi lĩnh vực trong tự  nhiên, xã hội và tư duy ở bất kì sự vật hiện tượng nào của TGKQ ­ Phát triển mang tính đa dạng, nhiều vẻ: SVHT trong TGKQ rất phong phú và đa dạng, mỗi SVHT   có sự phát triển khác nhau. SVHT ở những không gian, thời gian khác nhau có sự phát triển khác nhau đồng   thời chịu sự tác động của các yếu tố, nhân tố khác nhau có thể thúc đẩy SVHT phát triển hoặc kìm hãm sự  phát triển ­ Phát triển mang tính kế thừa nhưng trên cơ êơr có sự phê phán, lọc bỏ, cải tạo và phát triển, không   kế thừa nguyên xi hay lắp ghép từ cái cũ sang cái mới một cánh máy móc, hình thức . ­ Phát triển mang tính phức tạp: Tuỳ  vào từng sự  vật, hiện tượng, quá trình cụ  thể, phát triển còn   bao gồm cả sự thụt lùi đi xuống nhưng khuynh hướng chung là đi lên, là tiến bộ. Theo quan điểm duy vật   biện chứng thì khuynh hướng của sự phát triển diễn ra theo đường xoáy ốc. ­ Nguồn gốc của sự phát triển là ở trong bản thân sự vật hiện tượng, do mâu thuẫn của sự vật hiện   tượng quy định, ý 3 ý nghĩa phương pháp luận   Khuynh  hướng chung của SVHT là vận động và phát triển, do đó Khi xem xét sự vật, hiện tượng   phải có quan điểm phát triển. Quan điểm phát triển yêu cầu:            + Xem  xét sự vật hiện tượng phải đặt chúng trong sự vận động phát triển không ngừng. Vạch ra xu   hướng biến đổi chuyển hóa của chúng.  + Phải biết phân chia quá trình phát triển của sự  vật thành nhiều giai đoạn. Trên cơ  sở  đó tìm ra   phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật phát triển nhanh hơn hoặc kìm hãm   sự phát triển của nó.  + Phát triển bao hàm cả sự tụt lùi tạm thời, do đó trước khó khăn thì phải bình tĩnh xem xét mọi yếu   tố tác động, biết chấp nhận thất bại tạm thời, vượt qua khó khăn để đi tới thắng lợi cao hơn. + Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ thống nhất sự vật, hiện tượng như là cái đang có mà phải   nắm khuynh hướng phát triển tương lai của nó. + Quan điểm phát triển đòi hỏi khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận   thức và thực tiễn. ***Lưu ý: Từ  ý nghĩa mà có thể  có một câu hỏi: Trình bày hiểu biết của anh (chị) về quan   điểm phát triển Trả lời: nguyên lý về sự phát triển *** Lưu ý: Từ ý nghĩa của 2 nguyên lý mà có thể có một câu hỏi: Trình bày hiểu biết của anh   (chị) về quan điểm lịch sử
  8. Trả lời: Cả 2 nguyên lý  3 quy luật cơ bản của phép biện chứng. Từ 2 nguyên lý ở trên sinh ra 3 quy luật về sự vận động và phát triển (VĐ & PT) Quy luật lượng – chất: chỉ ra cách thức của sự VĐ & PT Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập: chỉ ra nguồn gốc động lực của sự VĐ & PT Quy luật phủ định của phủ định: chỉ ra khuynh hướng vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng. Câu 1: Trình bày nội dung của Quy luật lượng – chất  (quy luật về cách thức của sự vận động và phát triển;  Quy luật chuyển hoá từ  những sự   thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại Vai trò của quy luật: chỉ ra phương thức, cách thức của sự  vận động và phát triển của sự  vật hiện  tượng. ý 1 Khái niệm  ­ Khái niệm về chất: Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ quy định khách quan vốn có của sự vật,   là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác. Vì vậy: + Chất là những quy định vốn có. Vàng: màu vàng, dẻo, ít hao mòn trong tự nhiện, kim loại… + Là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính, chứ không phải là một sự kết hợp máy móc hay hỗn hợp.  + Sự thống nhất đó tạo cho sự vật thành một chỉnh thể cho phép phân biệt sự  vật, hiện tượng này  với sự vật, hiện tượng khác. ­ Phân biệt chất với thuộc tính: Chất tồn tại khách quan bên trong của sự vật, bao gồm của các yếu tố giống nhau. + Chất là tổ  hợp nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính là một bộ  phận của chất, mỗi sự  vật có nhiều   chất. + Các thuộc tính bộc lộ theo một mối liên hệ cụ thể, khi thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất mới thay   đổi, sự phân biệt giữa chất và thuộc tính chỉ là tương đối.  + Chất gắn với kết cấu sự vật. Như : Than chì và kim cương. ­ Khái niệm về lượng: Lượng là phạm trù triết học dùng để tính quy định vốn có của sự vật về mặt   số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật. ­ Đặc điểm: + Lượng là khách quan, quy định về sự vật, bên trong sự vật mặt dù nhiều khi dường như là vẻ  bề  ngoài + Lượng gắn liền với cấu trúc, có tính phổ biến: dùng để chỉ kích thước (dài, ngắn, to, nhỏ….). Số  lượng (thuộc tính, số dân, số hành tinh, …). Mức độ ( phát triển kinh tế, tình cảm , tăng dân số..) + Lượng không nói lên sự  vật đó là cái gì, các thông số  về  lượng thường xuyên thay đổi trong quá  trình vận động phát triển của sự vật. + Phân biệt khái niệm giữa chất và lượng chỉ có ý nghĩa tương đối. ý 2 Mối liên hệ giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất
  9. ­ Thực chất, chất và lượng là hai mặt của sự vật; cho nên, chất bao giờ cũng thể hiện ra một lượng  nhất định, không có chất thuần tuý; và lượng bao giờ cũng là lượng quy định một chất nhất định, không có   lượng thuần tuý. Ví dụ: Mỗi kim loại khác nhau đều ứng với một bước sóng nhất định của ánh sáng chiếu   vào để bứt các điện tử ra khỏi bề mặt. ­ Độ là phạm trù triết học dùng để  chỉ  khoảng giới hạn trong đó sự  thay đổi về  lượng của sự  vật   chưa làm thay đổi chất căn bản của sự vật. + Độ là một khoảng (quá trình) thay đổi về lượng, chứ không phải một thời điểm (sự thay đổi từ 0 0c  1000c  thì nước vẫn ở trạng thái lỏng, chứ không phải ở điểm 00c  hay 1000c) + Độ là sự ổn định của sự vật, là cơ sở hình thành quy luật của sự vật, hiện tượng. + Các loại sự vật khác nhau có độ khác nhau.  ­ Lượng biến đổi dần tới một mức độ  nhất định dẫn tới sự thay đổi về  chất. Không có sự  thay đổi  về lượng thì không có sự thay đổi về chất.  + Muốn có sự thay đổi về chất thì phải biến đổi dần dần về lượng (vụ nổ nguyên tử  có thể  lên tới   hàng triệu độ  trong thời gian ngắn, nhưng vẫn tuân thủ quy định này là tăng từ 100 0c lên 1010c, 1030c, 9990c,  10000c, 1 triệu độ) + Quá trình thay đổi từ lượng đến chất trải qua các giai đoạn sau: Khi thay đổi về  lượng mà vẫn chưa dẫn tới thay đổi về  chất thì quá trình đó gọi là tiệm tiến, tiến   hoá. Tới một mức độ  dẫn đến sự  thay đổi về  chất gọi là bức nhảy và giới hạn sảy ra bước nhảy gọi là   điểm nút, trong tiến trình của sự vật có nhiều điểm nút tạo nên đường nút. Quy luật này phổ biến, thể hiện   sự vận động liên tục trong tính đứt đoạn của lượng chất. Tính phổ biến của quy luật đựơc thể hiện. * Khi chất mới ra đời tạo điều kiện cho lượng mới phát triển. Các hình thức bước nhảy  ­ Các hình thức bước nhảy:  + Bước nhảy toàn bộ + Bước nhảy bộ phận (cục bộ) + Bước nhảy đột biến + Bước nhảy dần dần ý 3  ý nghĩa: (Một số kết luận về phương pháp luận ) ­ Cần có nhận thức để  có tri thức đúng về sự  vật, phải nhận thức cả mặt chất và  mặt lượng của   nó.   ­ Đối với hoạt động thực tiễn: Sự tích luỹ về lượng để dẫn tới sự thay đổi về chất là khách quan;   cho nên cần phải chống cả hai khuynh hướng tư tưởng:  Tả khuynh: lượng thay đổi nhưng chưa tới giới hạn mà đã nóng vội   Hữu khuynh: lượng thay đổi tới giới hạn nhưng không thay đổi về chất, bảo thủ.   ­ Trong xã hội con người có thể góp phần thúc đẩy tạo điều kiện về lượng để chuyển hoá về chất.   ­ Lựa chọn thời điểm thích hợp để thúc đẩy biến đổi về chất, nhất là trong hoạt động xã hội.   ­ Lựa chọn phương thức phù hợp từng loại kết cấu sự vật để tác động thay đổi sự vật.  ở  VN việc thực hiện thành công quá trình đổi mới trên từng lĩnh vực đời sống xã hội sẽ  tạo bước   nhảy về chất tại lĩnh vực đó, qua đó tạo điều kiện thực hiện thành công quá trình đổi mới toàn diện ở tất   cả các lĩnh vực trong đời sống sản xuất. Câu 2:  Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập   Quy luật này chỉ ra nguồn gốc động lực của sự vận động và phát triển. 
  10. ý 1 Một số khái niệm cơ bản:  ­ Quan điểm biện chứng đã khẳng định: Sự vật là một thể thống nhất nhiều mặt khác nhau, trong đó   có ít nhất hai mặt đối lập, như: nguyên tử (điện tử  và hạt nhân); xã hội tư  bản (vô sản và tư  sản); tư  duy  (chưa biết và biết) ­ Mặt đối lập: là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh   hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự  nhiên, xã hội, tư  duy. Hai mặt này   cùng tồn tại trong một sự vật nhưng có chiều hướng phát triển ngược nhau + Sự tồn tại các mặt đối lập là khách quan, tạo nên sự vật. + Sự tồn tại các mặt đối lập là phổ biến. Nếu sự vật không có mặt đối lập thì sự vật không tồn tại . ­ Mâu thuẫn biện chứng: là các mặt đối lập liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau trong sự thống nhất, là  nguồn gốc, động lực của sự phát triển… ­ Sự thống nhất: hai mặt đối lập nương tựa, làm tiền đề cho nhau, không tách rời nhau.   Phân biệt hai khái niệm: đồng nhất và thống nhất + Đồng nhất: là sự phát triển ngang nhau, các yếu tố giống nhau giữa các mặt đối lập. + Thống nhất: thể hiện đòi hỏi sự chuyển hoá giữa các mặt đối lập. Ví dụ: Khi giai cấp tư sản muốn lật đổ xã hội phong kiến, giai cấp đó đã liên minh với các giai cấp  khác như công nhân, nông dân, tiểu tư sản…;lúc đó, lợi ích các giai cấp trong liên minh đồng nhất với nhau.   Nhưng sau khi thắng lợi giai cấp tư sản quay trở lại bóc lột các giai cấp khác biến họ thành giai cấp vô sản,   lúc này biểu hiện sự thống nhất. ­ Sự  đấu tranh: đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ  và phủ  định lẫn nhau giữa các mặt đó. + Đấu tranh giữa các mặt đối lập là quy định sự vận động và phát triển của sự vật, chứ không phải   tiêu diệt sự vật. + Đấu tranh giữa các mắt đối lập trong một thể thống nhất của sự vật, hiện tượng. ý 2 Mối quan hệ biệu chứng: Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển ­ Trong quá trình vận động phát triển của cấc sự  vật, hiện tượng, sự thống nhất và đấu tranh của   các mặt đối lập không tách rời nhau. Sự  thống nhất là tương đối, tạm thời (đứng im cũng tương đối); sự  đấu tranh là tuyệt đối (vận động là tuyệt đối). ­ Khi mới hình thành, mâu thuẫn chỉ  là hai mặt khác nhau, có khuynh hướng phát triển trái ngược  nhau. Sư khác nhau đó dần dần trở thành đối lập nhau. Khi hai mặt đối lập xung đột gây gắt với nhau, (lúc   này sự vật vận động với một nhịp điệu ngày càng tăng) đến một lúc nào đó đủ  điều kiện cấc mặt đối lập   sẽ chuuyển hoá lẫn nhau, mâu thuẫn được giải. Sự thống nhất cảu cấ mặt đối lập cũ mất đi, sự vật cũ mất   đi, sự vật mới ra đời, lại có những mặt đối lạp và những mâu thuẫn mới đấu tranh với nhau. Cứ  như vâyh   làm cho sự vật vận động phát triển.  Như vậy, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập bên trong là nguồn gốc và động lực của   sự vận động, phát triển cuả các sự vật hiện tượng . * Phân loại mâu thuẫn ­ Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài: ­ Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản: ­ Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu: ý 3 ý nghĩa phương pháp luận
  11. Muốn nhận thức đựơc bản chất của sự vật phải phát hiện ra mâu thuẫn, vì mau thuẫn quy định bản  chất của sự  vật. Phải thừa nhận mâu thuẫn tồn tại khách quan, để  nhận thức được đầy đủ  sự  vật phải   nhận thức hình thức được ít nhất hai mặt đối lập.  Sự vật khác nhau, quá trình khác nhau, bản chất khác nhau, thì mâu thuẫn cũng khác nhau, cho nên   cách giải quyết mâu thuẫn cũng khác nhau, tránh rập khuôn, máy móc. Muốn thay đổi bản chất sự  vật thì phải giải quyết mâu thuẫn, tránh cải lương, điều hoà. Không   được điều hoà giữa các mặt đối lập (mâu thuẫn) mà phải giải quyết bằng con đường đấu tranh *** Vận dụng ở Việt Nam: ­ Mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ quá độ  lên CNXH ở  VN có thể  nói là mâu thuẫn giữa một bên là   CNTB(với tư cách là một xu thế phát triển của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, có sự tác động của các thế  lực phản động trong và ngoài nước) với một bên là xu hướng XHCN đang hình thành và thể hiện từng bước  trong quá trình đi lên từ một cơ sở kinh tế xã hội còn ở trình độ thấp (nền sản xuất nhỏ còn phổ biến) ­ Cuộc đấu tranh ấy khi diễn ra gay gắt trên lĩnh vực tư tưởng (giai đoạn lựa chọn con đường). Khi   thì trên lĩnh vực kinh tế, khi thì trên lĩnh vực chính trị và có khi trên cả 3 lĩnh vực ­ Mâu thuẫn cơ bản làm nảy sinh tất cả các mâu thuẫn trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã   hội (những mâu thuẫn trong đối nội cũng như  đối ngoại) Chừng nào CNXH chưa thực sự  được xác lập ,   nghĩa là chưa hết thời kỳ  quá độ, mâu thuẫn  ấy vẫn tồn tại. Khi kinh tế  XHCN đã giữ   ưu thế  tuyết đối  (theo đúng nghĩa của nó), mâu thuẫn trên sẽ mất đi hoặc nếu còn nó cũng không phải là mâu thuẫn của sự  vật mới nữa Lý luận nhận thức của triết học Mác ­ Lênin Câu 1:  Bản chất của nhận thức ý 1 Quan niệm về nhận thức của trào lưu trước triết học Mác ­  Quan điểm duy tâm chủ  quan: Cho rằng nhận thức là phức hợp của các cảm giác con người. Vì   vậy, họ không có cơ sở khách quan để khẳng định con người có khả năng nhận thức được thế giới.  ­ Quan điểm duy tâm khách quan: Cho rằng nhận thức là sự hồi tưởng lại của linh hồn bất tử về thế  giới các ý niệm mà nó đã chiêm ngưỡng được nhưng bị lãng quyên.  ­ Quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác: Thừa nhận con người nhận thức được thế giới. Tuy  nhiên do hạn chế bởi tính trực quan và siêu hình, nên họ hiểu nhận thức là sự phản ánh đơn giản, sao chép   máy móc nguyên si sự vật.  ý 2 Quan điểm về  bản chất nhận thức của chủ  nghĩa duy vật biện chứng (4 kết luận của Lênin về  nhận thức hay các quan đỉêm của Lênin) ­ Thừa nhận đối tượng nhận thức là thế  giới hiện thực khách quan, tồn tại độc lập với ý thức của  con người. Có nghĩa là đầu tiên phải tồn tại thế giới khách quan bên ngoài, sau đó trở thành đối tượng của   nhận thức ­ Khẳng định con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan. ­ Nhận thức là một quá trình biện chứng từ chưa biết đến biết, biết ít đến biết nhiều. ­ Thực tiễn là cơ sở trực tiếp và chủ yếu nhất hình thành nên quá trình nhận thức. ý 3:  Định nghĩa nhận thức: Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong   bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn. Câu 3: Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn ý 1: khái niệm:
  12. +  Lý luận (nhận thức) là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ  óc của con  người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn +Thực tiễn: Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử – xã hội của con người   nhằn cải biến tự nhiên và xã hội. + Là hoạt động có tính cộng đồng xã hội, không tồn tại ở một cá nhân + Là hoạt đông có tính cụ thể. + Là hoạt động có mục đích cải tạo tự nhiên, hoàn thiện con người. * Các hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn. + Hoạt động sản xuất vật chất: là hoạt động cơ  bản nhất của con người, quyết định sự  tồn tại và  phát triển của xã hội loài người. Quan trọng nhất vì nó làm ra của cải vật chất đảm bảo sự tồn tại của xã   hội, có nó mới tồn tại các hoạt động xã hội + Hoạt động chính trị  xã hội: là hoạt động đấu tranh giai cấp, dân tộc, có vai trò thúc đẩy sự  phát   triển văn minh của xã hội và nhân loại. Là hình thức cao nhất vì chỉ có xã hội loài người mới có + Hoạt động thực nghiệm khoa học: là hoạt động thí nghiệm, thực nghiệm bằng các phương tiện   vật chất của khoa học, hoạt động này thúc đẩy quá trình nhận thức của con người về thế giới khách quan,   góp phần nâng cao đời sống của con người. Hình thức đặc biệt nhất vì được tiến hành trong điều kiện lý  tưởng mà con người nghĩ ra             Trong giai đoạn hiện nay thì cả ba hình thức hoạt động đồng thời và đan xen lẫn nhau ý 2: Mối quan hệ * Thực tiễn quyết định lý luận (Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức ) ­ Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức  +Thực tiễn đề ra  nhu cầu, nhiệm vụ, cũng như khuynh hướng phát triển của nhận thức. Chính con   người có nhu cầu khách quan là phải giải thích thế giới và cải tạo thế giới đó, cho nên đã buộc con người   trực tiếp tác động và các sự vật, hiện tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình. Nhờ đó làm cho các sự vật   bộc lộ những thuộc tính, đặc điểm của mình, đem lại tài liệu cho nhận thức. Cho nên xét đến cùng không có   lĩnh vực tri thức nào lại không xuất phát từ thực tiễn.  +Nhờ  hoạt động thực tiễn mà các giác quan con người ngày càng phát triển, năng lực tư  duy lôgíc   nâng cao; hơn nữa con người còn toạ ra những phương tiện hỗ trợ cho các giác quan đó cho phép nhận thức   được chính xác và sâu sắc hơn về sự vật.   ­ Thực tiễn là mục đích của nhận thức                    Mục đích của nhận thức đầy đủ  hiện thực khách quan là để  áp dung vào hiện thực, cải tạo hiện   thực. Sự áp dụng đó không còn cách nào khác là phải thông qua thực tiễn, đó là sự  vật chất hoá những qui   luật, tính tất yếu đã nhận thức được. Điều đó không chỉ là mục đích của con người, mà còn là mục đích nói   chung của các ngành khoa học. Các qui luật, định luật của khoa học khái quát được nhờ  hoạt động thực   tiễn, mà còn là vì thực tiễn nó mới tồn tại .  ­ Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý              Thực tiễn là nguồn gốc, cơ sở, động lực của nhận thức, hình thành nên quá trình nhận thức, cho   nên việc kiểm tra tính đúng đắn của tri thức là phải dựa vào thực tiễn, chứ không phải theo lối lập luận chủ  quan.  +Lý luận tác động trở lại thực tiễn theo 2 hướng:
  13. Tích cực: Với những lý luận khoa học giúp con người có thêm công cụ  để  khám phá, cải tạo tự  nhiên để phục vụ cho lợi ích của con người Tiêu cực: Lý luận không đúng làm sai lệch nhận thức về thế giới khách quan Lý luận chỉ tác động vào thực tiễn thông qua hoạt động thực tiễn của con người, khi nó thâm nhập   vào quần chúng ý 3: ý nghĩa ­­ Luôn quán triệt quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hành động. Nhận thức phải xuất phát từ  thực   tiễn, từ  yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Khi xây dựng biện pháp. chủ  trương nào đó cũng phải căn cứ  vào   thực tiễn, phải huy động công cụ, phương tiện để giải quyết những vấn đề  cuộc sống đặt ra. Mỗi thời kì,   mỗi giai đoạn  phải tổng kết thực tiễn. Kịp thời loại bỏ những chính sách lạc hậu lỗi thời, từ  trong thực   tiễn phải biết đúc rút những bài học kinh nghiệm trên cơ  sở đó khái quát thành lí luận. lí luận phải liên hệ  với thực tiễn, phải có tác động với thực tiễn ­ Nghiên cứu lí luận đi đôi với thực tiễn, học đi đôi với hành ­ Chống bệnh chủ quan duy ý chí, máy móc, quan liêu, chủ nghĩa giáo điều: tư tưởng tách rời giữa lí luận và  thực tiễn. ­ Chống chủ nghĩa kinh nghiệm, từ kinh nghiệm kiểm nghiệm bổ sung trong thực tiễn và khái quát thành lí  luận.  ­ Vận dụng trong quá trình đổi mới của nước ta: Năm 1986 chúng ta phải tíên hành đổi mới vì thực tiễn,   hoàn cảnh, điều kiện thực tế có nhiều thay đổi nên phải thay đổi tư  duy lý luận, cần phải đổi mới về  tư  tưởng, quan điểm, đường lối để phát triển kinh tế, từ đó phát triển văn hoá,mọi mặt của đời sống xã hội Câu hỏi: Lê nin viết: “Từ  trực quan sinh động đến tư  duy trừu tượng, từ  tư  duy trừu tượng   đến thực tiễn là con đường biện chứng của sự  nhận thức chân lí, của nhận thức hiện thực   khách quan”. Phân tích câu nói trên để làm sáng tỏ con đường biện chứng của nhận thức chân   lí. ý 1: Khái niệm nhận thức  * Quan niệm về nhận thức của trào lưu trước triết học Mác ­  Quan điểm duy tâm chủ  quan: Cho rằng nhận thức là phức hợp của các cảm giác con người. Vì   vậy, họ không có cơ sở khách quan để khẳng định con người có khả năng nhận thức được thế giới.  ­ Quan điểm duy tâm khách quan: Cho rằng nhận thức là sự hồi tưởng lại của linh hồn bất tử về thế  giới các ý niệm mà nó đã chiêm ngưỡng được nhưng bị lãng quyên.  ­ Quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác: Thừa nhận con người nhận thức được thế giới. Tuy  nhiên do hạn chế bởi tính trực quan và siêu hình, nên họ hiểu nhận thức là sự phản ánh đơn giản, sao chép   máy móc nguyên si sự vật.   * Quan điểm về  bản chất nhận thức của chủ  nghĩa duy vật biện chứng   (4 kết luận của Lênin về   nhận thức hay các quan đỉêm của Lênin) ­ Thừa nhận đối tượng nhận thức là thế  giới hiện thực khách quan, tồn tại độc lập với ý thức của  con người. Có nghĩa là đầu tiên phải tồn tại thế giới khách quan bên ngoài, sau đó trở thành đối tượng của   nhận thức ­ Khẳng định con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan. ­ Nhận thức là một quá trình biện chứng từ chưa biết đến biết, biết ít đến biết nhiều. ­ Thực tiễn là cơ sở trực tiếp và chủ yếu nhất hình thành nên quá trình nhận thức.
  14. *   Định nghĩa nhận thức: Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ   óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.   ý 2: Triết học Mác­ lênin coi   nhận thức không phải là sự  phản ánh giản đơn mà là một quá trình biện   chứng dựa trên cơ  sở  hoạt động thực tiễn và quá trình đó được Lê­ nin diễn tả  qua luận điểm “Từ  trực  quan sinh động đến tư  duy trừu tượng, từ  tư  duy trừu tượng  đến thực tiễn là con đường biện  chứng của sự nhận thức chân lí, của nhận thức hiện thực khách quan” Nhận thức không phải là một sự phản ánh nguyên xi, sao chép máy móc hiện thực mà là một quá trình phát   triển theo từng giai đoạn, những giai đoạn này liên hệ với nhau  và giai đoạn này là tiền đề  của  giai đoạn  kia. Theo như luận điểm trên của Lênin, quá trình nhận thức trải qua hai khâu:  ­ Khâu 1: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng * Nhận thức cảm tính (trực quan sinh động):  Là giai đoạn đầu của quá trình nhận thức, con người nhận  thức thế giới khách quan thông qua các giác quan của mình trong sự phong phú của sự vật, hiện tượng. Cấp   độ nhận thức thể hiện bằng ba hình thức, trình độ từ thấp đến cao. ­ Cảm giác: là hình thức đầu tiên trong  nhận thức của con người, là sự phản ánh những thuộc tính riêng lẻ  của các sự vật ,hiện tượng khi chúng tác động đến các giác quan của con người. ­ Tri giác: là hình ảnh tương đối toàn vẹn về sự vật, khi nó đang tác động trực tiếp đến các giác quan. Tri   giác là sự tổng hợp cảm giác nhưng có hệ thống, đầy đủ hơn, phong  phú hơn. ­ Biểu tượng: là hình thức phản ánh cao  nhất, là bước nhảy vọt trong nhận thức cảm tính, có tính gián tiếp;  là hình ảnh được tái tạo,  lưu giữ khi đối tượng khách thể  không còn tác động trực tiếp vào giác quan chủ  thể ­ Đặc điểm của giai đoạn nhận thức cảm tính: Là sự phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác quan của chủ thể nhận thức. Là sự phản ánh bề ngoài, phản ánh cả cái tất nhiên và ngẫu nhiên, cả cái bản chất và không bản chất. Giai  đoạn này có thể có trong tâm lí động vật. * Nhận thức lí tính (Tư  duy trừu tượng): Đây là giai đoạn cao trong quá trình nhận thức, phản ánh các sự  vật, hiện tượng một cách gián tiếp, khái quát trên cơ sở những tài liệu do giai đoạn cảm tính đem lại. Giai   đoạn này đi sâu vào bản chất, quy luật của các sự vật. Thể hiện ở ba hình thức phản ánh ­ Khái niệm: Là hình thức cơ  bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc tính bản chất của sự   vật.   Khái niệm là sự  phản ánh tổng hợp về  một lớp sự  vật, nó là cơ  sở, tiền đề  cho tư  duy trừu tượng, là  phương thức tồn tại tri thức của con người về thế giới khách quan. ­ Phán đoán: Là hình thức của tư  duy liên kết khái niệm với nhau để  khẳng định hoặc phủ  định một đặc   điểm, một thuộc tính nào đó của đối tượng. Có ba trình độ  phán đoán: phán đoán đơn nhất, phán đoán đặc   thù và phán đoán  phổ biến ­ Suy luận: là hình thứuc của tư duy liên kết các phán đoán lại với nhau để  rút ra tri thức mới. Đây là hình   thức cao nhất trong quá trình nhận thức của con người. Có hai suy luận: + Suy luận quy nạp: Đi từ cái riêng đến cái chung. + Suy luận diễn dịch: Đi từ cái chung đến cái riêng ­ Đặc điểm của giai đoạn nhận thức lý tính: + Là quá trình nhận thức gián tiếp đối với sự vật, hiện tượng + Là quá trình đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng. * Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính: ­ Cả  hai giai đoạn này đều cùng nằm trong quá trình nhận thức, cùng phản ánh hiện thực khách quan  bên   ngoài, cùng thực hiện trên một cơ thể sinh lí thần kinh duy nhất, cùng bị chi phối bởi những yếu tố của thực   tiễn lịch sử xã hội. Tuy nhiên nhận thức cảm tính là giai đoạn thấp, phản ánh khách thể  một cách trực tiếp đem lại cho ta tri   thức cảm tính,, nhận thức lý tính là giai đoạn cao, phản ánh khách thể một cách gián tiếp, khái quát đem lại  những tri thức về bản chất và quy luật khách quan. Cả hai giai đoạn đều có mối quan hệ tác động qua lại và bổ sung, hỗ trợ cho nhau và không  tách rời nhau.   Nhận thức cảm tính là cơ sở cho nhận thức lí tính, không có nhận thức cảm tính thì không thể diễn ra nhận   thức lí tính. Nhận thức cảm tính cung cấp cho nhận thức lí tính những tư liệu, tài liệu, hình ảnh, …để nhận  
  15. thức lí tính tổng hợp hoá, trừu tượng hoá, khái quát hoá tìm ra bản chất, qui luật vận động của sự vật, hiện   tượng. Ngược lại nhận thức lí tính giúp cho nhận thức cảm tính ngày càng nhạy bén hơn, chính xác hơn.   Nếu tư duy của con người chỉ dừng lại ở giai đoạn nhận thức cảm tính thì con người không thể nhận biết,   nắm được bản chất của sự  vật. Ngược lại nếu tư  duy không có nền tảng từ  nhận thức cảm tính thì sẽ  không có cơ sở và khả năng phản ánh đúng đắn sự vật. ­ Khâu 2: Từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn   Tư duy trừu tượng quay trở lại với thực tiễn có nghĩa là trong quá trình nhận thức khi con người thu nhận   được những tri thức mới thì những tri thức đó, vấn đề  đó phải được kiểm chứng, kiểm nghiệm thông qua  thực tiễn và phải phục vụ thực tiễn, bởi lẽ trong mối liên hệ với nhận thức thì thực tiễn là cơ sở, động lực,   mục đích và  là tiêu chuẩn đánh giá chân lí. Từ  trực quan sinh động đến tư  duy trừu tượng, từ  tư  duy trừu tượng đến thực tiễn là một vòng   khâu của quá trình nhận thức trong đó thực tiễn là điểm bắt đầu và là điểm kết thúc.   Kết thúc vòng khâu này lại bắt đầu vòng khâu khác cao hơn. Và cứ như thế vận động mãi mãi và từ đó làm  cho nhận thức của con người ngày càng sâu sắc, đi sâu nắm bắt được bản chất và các quy luật của thế giới   khách quan và phục vụ cho hoạt động nhằm biến đổi thế giới. ý 3: ý nghĩa: ­ Đứng trên lập trường khoa học về  con đường biện chứng của sự  nhận thức chân lí ta tránh được quan   điểm sai lầm có khuynh hướng tách rời và tuyệt đối hoá một trong hai giai đoạn nhận thức. Vì nếu tuyệt   đối hoá nhận thức cảm tính sẽ dẫn đến chủ nghĩa duy cảm: đề cao vai trò của nhận thức cảm tính. còn nếu   tuyệt đối hoá nhận thức lí tính sẽ dẫn đến chủ nghĩa duy lí: đề cao vai trò của nhận thức lí tính. ­ Xác định nguyên tắc cơ bản của quá trình nhận thức khách quan là sự thống nhất biện chứng giữa nhận   thức và thực tiễn­ trên cơ  sở đó tạo hướng đi, những giải pháp phù hợp với cuộc sống cũng như  trong sự  nghiệp xây dựng đất nước hiện nay. Tránh rập  khuôn, máy móc, bảo thủ, trì trệ. Các chính sách, đường lối  phải được thực tế kiểm nghiệm. Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Câu: Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất  ý 1Các khái niệm cơ bản: 3 khái niệm * Khái niệm phương thức sản xuất: là cách thức con người thực hiện trong quá trình sản xuất vật  chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người. ­ Sự thay đổi phương thức sản xuất bao giờ cũng là sự thay đổi có tính chất cách mạng, làm cho các  quá trình kinh tế, xã hội .. . được chuyển sang một chất mới. ­ Phương thức sản xuất quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao ­ Kết cấu: Phương thức sản xuất chính là sự  thống nhất giữa lực lượng sản xuất  ở  một trình độ  nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng. * Khái niệm lực lượng sản xuất:  Là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá   trình sản xuất  ­ Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải  vật chất  ­ Kết cấu của lực lượng sản xuất bao gồm: +  Người lao động + Tư liệu sản xuất  / Công cụ lao động        / Đối tượng lao động ­ có sẵn trong tự nhiên                  ­ đã qua chế biến                                            /  Phương tiện lao động + Khoa học công nghệ
  16. Tất cả các yếu tố này có quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau trong quá trình sản xuất, trong đó cong   người là yếu tố quan trọng nhất; công cụ lao động là yếu tố động, cách mạng và là thước đo trình độ chinh   phục tự nhiên của con người, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế. ­ Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học ngày càng đóng vai trò to lớn và quan trọng   trong sản xuất. Chính Mác đã đưa ra dự  kiến khoa học trở thành “lực lượng sản xuất xã hội trực tiếp” và   đến này dự kiến ấy đã ngày càng được sáng tỏ. Với cuộc cách mạng khoa học công nghệ, lao động trí tuệ  ngày càng đóng vai trò chính ­ đó chính là  đặc trưng của lực lượng sản xuất hiện đại. * Quan hệ  sản xuất: Là biểu hiện mối quan hệ  giữa con người với con người trong quá trình sản   xuất  ­ Quan hệ sản xuất mang tính khách quan ­ Quan hệ sản xuất bao gồm: + Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất  + Quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất  + Quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động Ba mặt này là quan hệ  mang tính vật chất, thuộc đời sống xã hội, có quan hệ  thống nhất với nhau   tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động và phát triển không ngừng của lực   lượng sản xuất  Quan hệ sở hữu đối với tư  liệu sản xuất là quan hệ  xuất phát, cơ  bản, đặc trưng cho quan hệ  sản   xuất trong từng xã hội và quyết định hai quan hệ còn lại. Đã có hai hình thức sở hữu cơ bản về tư liệu sản xuất:  Sở hữu công cộng Sở hữu tư nhân Quan hệ  trong tổ  chức và quả  n lý sản xuất trực tiếp tác động đến quá trình sản xuất, tổ  chức và   điều khiển sản xuất  Quan hệ trong phân phối sản phẩm kích thích trực tiếp đến lợi ích của người sản xuất nên nó thúc  đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển sản xuất. ý 2­ Nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ  phát triển của lực lượng   sản xuất  * Khái niệm tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất: Sự  phát triển của lực lượng sản xuất được đánh dấu bằng trình độ  của công cụ  lao động, nó thể  hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong các giai đoạn lịch sử. ­ Trình độ của lực lượng sản xuất được đánh giá (biểu hiện) ở trình độ của: + Công cụ lao động + Kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người  + Tổ chức và phân công lao động xã hội  + ứng dụng khoa học vào sản xuất  *. Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ  sản xuất   phù hợp với nó ­ Mỗi một phương thức sản xuất mới ra đời chính là sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ  phát triển của lực lượng sản xuất. Đó chính là trạng thái mà các yếu tố  cấu thành của quan hệ  sản xuất  “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển. Như  vậy  ở trạng thái phù hợp thì cả  ba mặt của quan hệ sản xuất phù hợp, thích ứng với trình độ  phát triển của lực lượng sản xuất nên sẽ là cơ sở cho lực lượng sản xuất phát triển hết khả năng của nó.
  17. ­ Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù   hợp trở thành không phù hợp, đó là trạng thái mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mâu   thuẫn này ngày càng gay gắt làm cho quan hệ sản xuất “trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất”. ­ Song do yêu cầu khách quan của sự phát triển của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế  quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cho phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất   để  thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển. Khi thay thế  quan hệ  sản xuất cũ bằng quan hệ  sản   xuất mới tức là phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời để thay thế. * Quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng   sản xuất  ­ Quan hệ sản xuất không phụ thuộc hoàn toàn vào lực lượng sản xuất mà nó quy định mục đích của  sản xuất, có tác động đến thái độ của người lao động, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến sự phát   triển và  ứng dụng của khoa học và công nghệ .. . nên từ  đó tác động đến sự  phát triển của lực lượng sản  xuất  ­ Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì nó trở  thành động lực thúc   đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Ngược lại, nếu quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu, hay “tiên tiến” một   cách giả tạo so với trình độ  phát triển của lực lượng sản xuất thì sẽ  kìm hãm sự  phát triển của lực lượng   sản xuất. ­ Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ  sản xuất không phải   giản đơn mà phải thông qua nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội của con người, trong xã hội có giai cấp   thì phải thông qua đấu tranh giai cấp, thông qua cách mạng xã hội. * Tóm lại: Quy luật này là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại qua  các chế độ xã hội, làm cho xã hội loài người thay thế lẫn nhau từ thấp đến cao (Từ xã hội cộng sản nguyên   thủy   chiếm hữu nô lệ   phong kiến   tư bản chủ nghĩa   xã hội cộng sản tương lai). Trong hệ thống các quy luật xã hội thì quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của  lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất. ý 3­ Vận dụng quy luật này ở nước ta hiện nay. ­ Giai đoạn trước đổi mới chúng ta nhận thức chưa đầy đủ quy luật này, đã đẩy một vài yếu tố của   quan hệ sản xuất đi trước quá xa, cụ thể là chỉ duy trì hình thức sở hữu tập thể và sở hữu nhà nước, cho nên  sản xuất không phát triển được. Nhận thức được vấn đề  đó, sau đổi mới chúng ta đã xây dựng một nền   kinh tế thị trường định hướng XHCN, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, nhờ đó lực lượng sản xuất đã có   bước phát triển mạnh, kéo theo mọi mặt của đời sống kinh tế  xã hội phát triển. Sau hơn 10 năm đổi mới   chúng ta có đủ thế và lực để bước sang một giai đoan cách mạng mới. giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại  hóa    Mới Trước đổi mới việc nhận thức và vận dụng quy luật này ở VN còn đơn giản thậm chí còn phạm vào   sai lầm nghiêm trọng. Đây là một trong những nguyên  nhân dẫn đến tình trạng khủng hoảng kinh tế ở VN   ở  những năm 1980. Sai lầm đó thể  hiện tách rời QHSX khỏi LLSX và xây dựng QHSX vượt quá xa với   trình độ  của LLX. Đồng nhất và giản đơn hoá coi QHSX chỉ  còn là QH sở  hữu và trong sở  hữu chỉ  nhấn   mạnh đến sở hữu công cộng và sở hữu tập thể. Hành chính hoá bộ  máy tổ chức quản lý kinh tế, thực hiện   chế độ  quản lý tập trung quan liêu bao cấp cồng kềnh kém hiệu quả, duy trì phương thức phân phối bình   quân chủ nghĩa làm triệt tiêu động lực của người lao động sản xuất, Những sai lầm đó đã dẫn đến sự  kìm   hãm sự phát triển của LLSX, làm khủng hoảng nền kinh tế nước ta trong thời kỳ đó. Trong và sau thời kỳ đổi mới chúng ta đã thực hiện đổi mới nhận thức tư duy về quy luật này, đổi  mới phương thức, cách thức vận dụng quy luật này vào VN trong giai đoạn đầu của thời kỳ  quá độ. Chủ  trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN, tiến hành đổi mới điều chỉnh chế 
  18. độ chính sách sở hữu ruộngđất, cổ phần hoá các xí nghiệp công nghiệp, xoá bỏ chế độ  tập trung quan liêu,   thực hiện chế  độ  phân phối theo lao động, thực hiện mở  rộng kinh tế  đối ngoại, cho phép các công ty tư  bản, tập đoàn tư  bản vào làm ăn  ở  VN theo pháp luật  ở  VN. Tiến hành đẩy mạnh sự  nghiệp CNH­HĐH  nhằm phát triển LLSX, tiến hành hoàn thiện cơ chế, thể chế kinh tể thị trường theo định hướng XHCN. Sau   hơn 10 năm đổi mới chúng ta có đủ thế và lực để bước sang một giai đoan cách mạng mới. giai đoạn công  nghiệp hóa, hiện đại hóa    Đại hội đảng IX xác định phát triển LLSX hiện đại gắn liền với xây dựng QHSX mới phù hợp trên   cả 3 mặt sở hữu, quản lý và phân phối, tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng QHSX theo định   hướng XHCN là thúc đẩy phát triển LLSX, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Câu hỏi:  Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ý 1­ Khái niệm  * Khái niệm cơ sở hạ tầng: Là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã  hội nhất định Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể được hình thành một cách khách quan ­ Những đặc trưng của cơ sở hạ tầng  + Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể bao gồm những quan hệ sản xuất thống trị, những quan hệ   sản xuất tàn dư của xã hội cũ và quan hệ sản xuất là mầm mống của xã hội tương lai. + Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể được đặc trưng bởi quan hệ sản xuất thống trị của xã hội đó   vì cơ sở hạ  tầng của một xã hội bao giờ  cũng do quan hệ  sản xuất thống trị giữ vai trò chủ  đạo, chi phối  các quan hệ sản xuất khác, nó quy định xu hướng chung của đời sống kinh tế – xã hội. ­ Như vậy: xét trong tổng thể các quan hệ xã hội thì quan hệ sản xuất hợp thành cơ sở kinh tế của   xã hội tức là trên đó hình thành nên kiến trúc thượng tầng tương ứng. * Khái niệm kiến trúc thượng tầng: là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo  đức, nghệ thuật, tôn giáo .. . cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như: nhà nước, đảng phái, giáo hội,   các đoàn thể xã hội .. được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định. ­ Đặc trưng của kiến trúc thượng tầng: + Các yếu tố  của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quy luật vận động phát triển riêng   nhưng chúng liên hệ  với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và đều hình thành trên một cơ  sở  hạ  tầng nhất   định. + Trong kiến trúc thượng tầng, mỗi yếu tố khác nhau có quan hệ khác nhau đối với cơ  sở hạ tầng.   Có yếu tố như chính trị, pháp luật có quan hệ trực tiếp với cơ sở hạ tầng nhưng cũng có những yếu tố như  triết học, tôn giáo, nghệ thuật chỉ có quan hệ gián tiếp với cơ sở hạ tầng. + Trong xã hội có giai cấp thì kiến trúc thượng tầng mang tính giai cấp vì nó phản ánh cuộc đấu  tranh về mặt chính trị, tư tưởng của các giai cấp đối kháng, trong đó đặc trưng là sự thống trị về mặt chính   trị ­ tư tưởng của giai cấp thống trị. + Trong kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp, nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó  tiêu biểu cho chế độ chính trị của một xã hội nhất định. ý 2­ Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng  * Khái niệm cơ sở hạ tầng: Là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã  hội nhất định
  19.              * Khái niệm kiến trúc thượng tầng: là toàn bộ  những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học,  đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo .. . cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như: nhà nước, đảng phái, giáo  hội, các đoàn thể xã hội .. được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định ­ Các quan điểm duy tâm: Khi giải thích sự  vận động của đời sống kinh tế  ­ xã hội bằng nguyên   nhân thuộc về ý thức tư tưởng, về vai trò của nhà nước hay pháp quyền. ­ Quan điểm của chủ nghĩa DVBC về đời sống xã hội đã khẳng định: quan hệ sản xuất là quan hệ  cơ bản quyết định mọi quan hệ về chính trị, pháp quyền, tư tưởng nên đã khẳng định quan hệ kinh tế, quan   hệ vật chất là cơ bản, do đó cơ sở hạ tầng có vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng  * Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng  ­ Mỗi cơ  sở  hạ  tầng sẽ  hình thành nên một kiến trúc thượng tầng tương  ứng với nó. Mọi hiện  tượng của kiến trúc thượng tầng đều do nguyên nhân sâu xa nằm trong cơ cấu kinh tế xã hội gây ra. Tính   chất của kiến trúc thượng tầng là do tính chất của cơ sở hạ tầng quyết định. + Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị về chính   trị, về đời sống tinh thần của xã hội. + Các yếu tố của kiến trúc thượng tầng (nhà nước, pháp quyền .. .) đều trực tiếp hay gián tiếp phụ  thuộc vào cơ sở hạ tầng, do cơ sở hạ tầng quyết định. ­ Cơ  sở hạ  tầng thay đổi thì sớm hay muộn kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo. C.Mác viết:   “cơ sở kinh tế thay đổi thì  toàn bộ kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng”.1 + Sự thay đổi của cơ sở hạ tầng dẫn đến kiến trúc thượng tầng thay đổi theo không phải chỉ từ hình   thái kinh tế ­ xã hội này sang hình thái kinh tế  ­ xã hội khác mà còn diễn ra ngay trong chính mỗi hình thái  kinh tế ­ xã hội. + Sự phát triển của lực lượng sản xuất trực tiếp làm thay đổi quan hệ  sản xuất từ đó làm thay đổi   cơ sở hạ tầng và thông qua đó làm thay đổi kiến trúc thượng tầng. ­ Sự thay đổi cơ sở hạ tầng dẫn đến làm thay đổi kiến trúc thượng tầng diễn ra phức tạp.  * Tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng  Tuy cơ  sở  hạ  tầng có vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng nhưng toàn bộ  kiến trúc   thượng tầng cũng như những yếu tố cấu thành nó đều có tính độc lập tương đối và tác động mạnh mẽ đối   với cơ sở hạ tầng. ­ Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng thể hiện ở chức năng xã hội của kiến  trúc thượng tầng là duy trì, bảo vệ và củng cố cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó, đấu tranh xóa bỏ  cơ sở hạ tầng  cũ và kiến trúc thượng tầng cũ. ­ Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ra theo hai chiều: + Tích cực: Nếu kiến trúc thượng tầng tác động phù hợp với quy luật kinh tế khách quan thì nó thúc   đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế. + Tiêu cực: Nếu tác động ngược lại thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội  Tuy kiến trúc thượng tầng có tác động mạnh mẽ  đối với sự  phát triển kinh tế nhưng xét đến cùng   thì  không làm thay đổi được tiến trình phát triển khách quan của xã hội. ***Các biểu hiện của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở nước ta hiện nay ­ Cơ sở hạ tầng: có 5 thành phần kinh tế là: Sở hữu nhà nước, tập thể, tư bản nhà nước, tư bản tư  nhân, có vốn đầu tư nước ngoài tạo nên cơ cấu kinh tế đa dạng, phong phú ­ Kiến trúc thượng tầng:  1 C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, T.13, tr.15
  20. + Về  tư  tưởng: lấy chủ  nghĩa Mác – Lênin, tư  tưởng HCM là kim chỉ  nam cho hành động và tư  tưởng của mình + Dưới sự lãnh đạo của Đảng xây dựng nhà nước của dân. do dân và vì dân + Các thiết chế xã hội khác: hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, đoàn thanh niên… *** Quan hệ giữa CSHT và KTTT trong quá trình đổi mới theo định hướng XHCN (nền kinh tế hàng   hoá nhiều thành phần) ở nước ta hiện nay ­ Trong quá trình đổi mới kinh tế, xây dựng theo nền kinh tế  hàng hoá nhiều thành phần vận hành   theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, chúng ta từng bước xây dựng  CSHT của CNXH. CSHT trong thời kỳ  quá độ   ở  nước ta chính là một cơ  cấu kinh tế  nhiều thành phần:   Kinh tế  nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư  bản tư  nhân, kinh tế  tư  bản có sự  đầu tư của nước ngoài. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ  đạo. Các thành phần đó vừa khác nhau  về vai trò, chức năng, về tính chất lại vừa thống nhất với nhau, vừa liên hệ với nhau, bổ sung cho nhau. Các   thành phần kinh tế đó vận hành theo cơ chế thị trường. Song bản thân cơ chế  thị trường lại có tính chất 2  mặt nên cần phải tăng cường sự quản lý của nhà nước để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, hơn  nữa sự quản lý của nhà nước ở nước ta còn nhằm đảm bảo định hướng XHCN ­ Chúng ta đi lên CNXH trong điều kiện nền kinh tế còn lạc hậu so với thế giới. Do đó đòi hỏi phải   phát triển mạnh LLSX, đẩy mạnh CNH­HĐH nhằm làm cho nền kinh tế  nước ta phát triển hoà nhập với   trình độ phát triển kinh tế thế giới (hoà nhập chứ không hoà tan) ­ Việc đổi mới kinh tế, xây dựng kinh tế  hàng hoá nhiều thành phần  ở  nước ta không thể  tách rời   những vấn đề chính trị, văn hoá xã hội­những vấn đề thuộc KTTT xã hội. Cụ thể là đổi mới hệ thống chính   trị, đổi mới tổ chức, đổi mới bộ máy, đổi mới con người, đổi mới phẩm chất lãnh đạo của Đảng, dân chủ  hoá trước hết từ trong  Đảng và các cơ quan nhà nước, chống tham nhũng làm trong sạch bộ máy lãnh đạo.   Trong đổi mới và xây dựng đất nước phải giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, kiên trì chủ nghĩa  Mác Lênin và tư  tưởng HCM. Xây dựng hệ  thống chính trị  mang tính chất giai cấp công nhân, tạo môi   trường tự do sáng tạo phát huy triệt để yếu tố con người Hình thái kinh tế ­ xã hội Câu 1: Trình bày phạm trù hình thái kinh tế ­ xã hội ý 1­ Khái niệm hình thái kinh tế ­ xã hội  ­ Hình thái kinh tế ­ xã hội là một phạm trù của CNDVLS, dùng để  chỉ  xã hội ở từng giai đoạn lịch   sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ  nhất định   của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương  ứng được xây dựng trên những quan hệ  sản xuất ấy. ý 2­  Kết cấu của hình thái kinh tế­ xã hội ­ Xã hội được xem xét ở ba mặt cơ bản: + Lực lượng sản xuất + Quan hệ sản xuất  + Kiến trúc thượng tầng  Ba mặt này có vị trí riêng, có tác động lẫn nhau và thống nhất với nhau ­ Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất ­ kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế ­ xã hội và giữ vai trò   quyết định. ­ Quan hệ sản xuất là quan hệ cơ bản đầu tiên và quyết định tất cả các quan hệ sản xuất khác. ­ Kiến trúc thượng tầng được hình thành trên cơ sở hạ tầng và phù hợp với cơ  sở hạ tầng, là công   cụ để bảo vệ và duy trì cơ sở hạ tầng đã sản sinh ra nó.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản