
®Ò ¸n kinh tÕ vµ qu¶n lý c«ng nghiÖp
1
LỜI NÓI ĐẦU
Để đạt được mục tiêu năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp, thì phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN, KCX) là một trong
những nhân tố quan trọng. Có thể nói đến nay các KCN, KCX đã trở thành một
bộ phận không thể thiếu trong ngành công nghiệp Việt Nam cũng như trong nền
kinh tế đất nước. Các KCN, KCX trong thời gian qua đã và đang có những kết
quả đáng khích lệ đối với kinh tế xã hội đất nước.
Các KCN, KCX với quy hoạch đồng bộ, các cơ sở hạ tầng khá tốt, hình
thành các dịch vụ cần thiết và có thủ tục đơn giản đã thu hút được sự chú ý của
các nhà đầu tư. Các KCN, KCX được đánh giá là một nhân tố quan trọng trong
chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, công nghệ tiên tiến.
Trong những năm vừa qua các KCN trên địa bàn Hà Nội đã có những
bước phát triển tương đối tốt. Sự phát triển này đã thúc đẩy kinh tế thủ đô phát
triển. Tuy nhiên, các KCN vẫn tồn tại một số vấn đề khó khăn cần có phương
hướng và biện pháp khắc phục nhằm khai thác được những tiềm năng.
Mục đích nghiên cứu đề tài này là dựa trên những lý luận chung về KCN,
KCX, thực trạng đầu tư vào các KCN trên địa bàn Hà Nội. Trong giai đoạn hiện
nay để đưa ra một số phương hướng nhằm thu hút đầu tư vào các KCN Hà Nội.
Đề án bao gồm có 3 phần:
Chương I: Lý luận chung về KCN và KCX
Chương II: Thực trạng đầu tư vào các KCN Hà Nội
Chương III: Một số giải pháp tăng cường hoạt động đầu tư phát triển các
KCN Hà Nội
Do còn nhiều hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót nhất
định, vì vậy em mong được sự góp ý của các thầy cô giáo.

®Ò ¸n kinh tÕ vµ qu¶n lý c«ng nghiÖp
2
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHU CÔNG NGHIỆP
VÀ KHU CHẾ XUẤT
1. KHÁI NIỆM
1.1.Khái niệm khu công nghiệp(KCN)
Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên
sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp có
ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống do chính phủ hoặc thủ tướng
chính phủ quyết định thành lập. Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp
chế xuất.
Doanh nghiệp khu công nghiệp là doanh nghiệp được thành lập và hoạt
động trong khu công nghiệp, gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch
vụ.
1.2.Đặc điểm của khu công nghiệp.
Về mặt pháp lý: các khu công nghiệp là phần lãnh thổ của nước sở tại, các
doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp của Việt Nam chịu sự điều
chỉnh của pháp luật Việt Nam như: luật đầu tư nước ngoài, luật lao động, quy chế
về khu công nghiệp và khu chế xuất...
- Về mặt kinh tế: khu công nghiệp là nơi tập trung nguồn lực để phát triển
công nghiệp, Các nguồn lực của nước sở tại, của các nhà đầu tư trong và ngoài
nước tập trung vào một khu vực địa lý xác định, các nguồn lực này đóng góp vào
phát triển cơ cấu, nhưng ngành mà mới sở tại ưu tiên, cho phép đầu tư. Bê cạnh
đó, thủ tục hành chính đơn giản, có các ưu đãi về tài chính, an ninh, an toàn xã
hội tốt tại đây thuận lợi cho việc sản xuất - kinh doanh hàng hóa hơn các khu vực
khác. Mục tiêu của nước sở tại khi xây dựng khu công nghiệp là thu hút vốn đầu tư
với quy mô lớn, thúc đẩy xuất khẩu tạo việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển
giao công nghệ kiểm soát ô nhiễm môi trường.
1.3 Các lĩnh vực đượcphép đầu tư trong công nghiệp

®Ò ¸n kinh tÕ vµ qu¶n lý c«ng nghiÖp
3
Trong các khu công nghiệp, các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, các
doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài được đầu tư vào các lĩnh vực sau:
- Xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng.
- Sản xuất, gia công, lắp ráp các sản phẩm công nghệ để xuất khẩu và tiêu
thụ tại thị trường trong nước, phát triển và kinh doanh bằng sáng chế, bí quyết kỹ
thuật, quy trình công nghệ.
- Dịch vụ và hỗ trợ sản xuất công nghiệp.
- Nghiên cứu triển khai khoa học - công nghệ để nâng cao chất lượng sản
phẩm và tạo ra sản phẩm mới.
Các ngành công nghiệp dưới nhà nước khuyến khích đầu tư là cơ khí,
luyện kim, điện tử, công nghệ thông tin, hóa chất, hóa dầu, công nghiệp hàng
dùng và một số ngành khác.
2. ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
2.1. Khái niệm hoạt động đầu tư phát triển
Đầu tư theo nghĩa chung nhất được hiểu đó là sự bỏ ra, sự hy sinh các
nguồn lực ở hiện tại như tiền của, sức lao động, trí tuệ... nhằm đạt được một kết
quả có lợi cho nhà đầu tư trong tương lai.
Đầu tư phát triển là loại đầu tư trong đó người đầu tư có tiền bỏ tiền ra để
tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế làm tăng tiềm lực
sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác. Là điều kiện chủ yếu để tạo
việc làm và nâng cao đời sống cho mọi người dân trong xã hội.
2.2 Vai trò của đầu tư phát triển
Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế, kết quả
nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức độ
trung bình thì tỉ lệ đầu tư phải đạt từ 15-25% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của
mỗi nước.
Đầu tư góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế đối với những ngành nông,
lâm, ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai, các khả năng sinh học do vậy muốn

®Ò ¸n kinh tÕ vµ qu¶n lý c«ng nghiÖp
4
đạt tốc độ tăng trưởng cao rất khó khăn. Theo kinh nghiệm của các nước trên thế
giới, muốn đạt tốc độ tăng trưởng cao phải tăng cường đầu tư vào khu vực công
nghiệp và dịch vụ.
Do tập trung phát triển công nghiệp, nên đã làm thay đổi công nghệ, Có hai
con đường cơ bản để có được công nghệ đó là tự nghiên cứu phát minh công nghệ
và nhập công nghệ từ nước ngoài. Dù là tự nghiên cứu hay nhật từ nước ngoài cần
phải có tiền, phải có vốn đầu tư. Do đó mọi phản ánh đổi mới công nghệ phải gắn
liền với nguồn đầu tư.
Đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở, để tạo dựng
cơ sở vật chất, kỹ thuật của doanh nghiệp đòi hỏi phải có vốn đầu tư.
2.3 Vốn đầu tư phát triển
2.3.1. Vốn đầu tư phát triển của đất nước nói chung được hình thành từ hai
nguồn cơ bản đó là vốn huy động từ trong nước và vốn huy động từ nước ngoài
-- Vốn đầu tư trong nước:
Được hình thành từ các nguồn vốn sau đây:
+ Vốn tích luỹ từ ngân sách.
+ Vốn tích luỹ của các doanh nghiệp.
+ Vốn tiết kiệm của dân cư.
-- Vốn đầu tư từ nước ngoài:
Bao gồm vốn đầu từ trực tiếp và vốn đầu tư gián tiếp.
Vốn đầu tư trực tiếp là vốn đầu tư của các doanh nghiệp, các cá nhân người
nước ngoài đầu tư sang các nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý
quá trình sử dụng và thu hồi vốn.
Vốn đầu tư gián tiếp là vốn của các chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ
chức phi chính phủ được thực hiện dưới hình thức viện trợ không hoàn lại, có
hoàn lại, cho vay ưu đãi với thời hạn dài và lãi suất thấp, vốn viện trợ phát triển
chính thức của các nước công nghiệp phát triển (ODA).
2.3.2. Nguồn vốn đầu tư của các cơ sở

®Ò ¸n kinh tÕ vµ qu¶n lý c«ng nghiÖp
5
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước, các cơ sở hoạt động xã hội phúc lợi
công cộng vốn đầu tư do ngân sách cấp (tích luỹ từ ngân sách và viện trợ qua
ngân sách) vốn viện trợ không hoàn lại trực tiếp cho cơ sở và vốn tự có của cơ sở.
3. SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
Vai trò của khu công nghiệp, khu chế xuất rất quan trọng. Với lợi thế của
nó việc phát triển khu công nghệ, khu chế xuất sẽ góp phần to lớn phát triển kinh
tế địa phương.
3.1.Đầu tư nước ngoài vào khu công nghiệp, khu chế xuất là nguồn vốn bổ
sung quan trọng cho nguồn vốn phát triển kinh tế
Đối với Việt Nam, để tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đòi hỏi một
khối lượng vốn đầu tư rất lớn.Vốn trong nước chưa đủ để đáp ứng nhu cầu đó. Do
đó thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX là rất quan trọng vì
KCN, KCX phản ánh tiềm năng phát triển công nghiệp của mỗi nước. Theo ngân
hàng thế giới(WB), các dự án thực hiện trong KCN, KCX do các nhà đầu tư nước
ngoài hoặc do liên doanh với nước ngoài thực hiện (24% do liên doanh với nước
ngoài, 33 do các nhà đầu tư nước ngoài, 43% do đầu tư trong nước). Do vậy
KCN, KCX đã góp phần đáng kể trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
cho nước chủ nhà.
3. 2.Thu hút công nghệ
Việc tiếp thu công nghệ và kỹ năng là mục đích mà các nước đang và chưa
phát triển rất quan tâm.Tình trạng lạc hậu về công nghệ của các nước này làm cho
họ hy vọng thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX công nghệ sẽ
được chuyển giao. Bởi vì để tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường thế
giới và thị trường nội địa, nhà đầu tư thường đưa vào KCN, KCX những công
nghệ tương đối hiện đại và cả những công nghệ loại tiên tiến nhất của thể giới.
Mặc dù trong các KCN, người ta chủ yếu thực hiện sản xuất hàng tiêu dùng, gia
công lắp ráp, song qúa trình chuyển giao công nghệ vẫn diễn ra dưới nhiều hình
thức: đào tạo công nhân nước chủ nhà sử dụng máy móc, công nghệ sản xuất.
Ngoài ra chúng ta còn học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm quản lý của nước ngoà

