intTypePromotion=1
ADSENSE

Điện sinh lý thần kinh trong chẩn đoán bệnh xơ cột bên teo cơ

Chia sẻ: Chua Quen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

38
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Xơ cột bên teo cơ là bệnh lý thuộc nhóm rối loạn tế bào thần kinh vận động. Mặc dù là một trong những bệnh nguy hại nhất được biết đến, nhưng có rất ít bằng chứng để chẩn đoán và quản lý người bệnh. Dựa trên các bộ tiêu chuẩn chẩn đoán của liên đoàn thần kinh thế giới (El Escorial năm 1990, El Escorial sửa đổi năm 1998 và tiêu chuẩn Awaji-shima năm 2008) và nghiên cứu về giá trị từng thông số trong điện sinh lý thần kinh, chúng tôi rút ra các dấu hiệu trên điện sinh lý thần kinh giúp chẩn đoán bệnh xơ cột bên teo cơ: Khảo sát dẫn truyền thần kinh giúp xác định sự thoái hóa của sợi trục thần kinh vận động; Ghi điện cơ đồ là cần thiết để xác định thoái hóa nơron vận động dưới. Các dấu hiệu này là cần thiết và duy nhất để chẩn đoán xác định, đánh giá tiến triển bệnh và có thể đánh giá đáp ứng với liệu pháp điều trị trong tương lai.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Điện sinh lý thần kinh trong chẩn đoán bệnh xơ cột bên teo cơ

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> <br /> ĐIỆN SINH LÝ THẦN KINH TRONG CHẨN ĐOÁN<br /> BỆNH XƠ CỘT BÊN TEO CƠ<br /> <br /> Bùi Mỹ Hạnh¹, Nguyễn Công Hoan¹, Lê Quốc Việt²<br /> ¹Trường Đại học Y Hà Nội, ²Bệnh viện Đại học Y Hà Nội<br /> <br /> Xơ cột bên teo cơ là bệnh lý thuộc nhóm rối loạn tế bào thần kinh vận động. Mặc dù là một trong những<br /> bệnh nguy hại nhất được biết đến, nhưng có rất ít bằng chứng để chẩn đoán và quản lý người bệnh. Dựa<br /> trên các bộ tiêu chuẩn chẩn đoán của liên đoàn thần kinh thế giới (El Escorial năm 1990, El Escorial sửa<br /> đổi năm 1998 và tiêu chuẩn Awaji-shima năm 2008) và nghiên cứu về giá trị từng thông số trong điện sinh<br /> lý thần kinh, chúng tôi rút ra các dấu hiệu trên điện sinh lý thần kinh giúp chẩn đoán bệnh xơ cột bên teo<br /> cơ: Khảo sát dẫn truyền thần kinh giúp xác định sự thoái hóa của sợi trục thần kinh vận động; Ghi điện cơ<br /> đồ là cần thiết để xác định thoái hóa nơron vận động dưới. Các dấu hiệu này là cần thiết và duy nhất để<br /> chẩn đoán xác định, đánh giá tiến triển bệnh và có thể đánh giá đáp ứng với liệu pháp điều trị trong tương lai<br /> <br /> Từ khóa: Xơ cột bên teo cơ, bệnh Charcot, bệnh tế bào thần kinh vận động, điện sinh lý thần kinh, dẫn<br /> truyền thần kinh, ghi điện cơ<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> <br /> Xơ cột bên teo cơ, thường được gọi là bệnh tiêu chuẩn El Escorial được sửa đổi năm 2008<br /> Charcot, thuộc nhóm các rối loạn kiểu thoái hóa [9]. Tuy nhiên, khái niệm và giá trị chẩn đoán<br /> của tế bào thần kinh vận động. Bệnh tiến triển điện sinh lý thần kinh còn là điều hết sức mới đối<br /> theo thời gian, chưa có thuốc điều trị và dẫn tới với các nhà thực hành lâm sàng tại Việt Nam.<br /> tử vong sau 2 - 5 năm. Nguyên nhân gây bệnh Bài viết nhằm tổng quan tiêu chuẩn chẩn đoán<br /> vẫn chưa được biết đến, tuy nhiên có 5 - 10% bệnh xơ cột bên teo cơ và giá trị kỹ thuật chẩn<br /> trường hợp mắc bệnh có liên quan tới di truyền đoán điện trong chẩn đoán bệnh.<br /> [1]. Trên thế giới, xơ cột bên teo cơ gặp ở đàn<br /> II. NỘI DUNG TỔNG QUAN<br /> ông da trắng ở độ tuổi 60 - 69 nhiều hơn so<br /> với nhóm khác. Khoảng 12.000 người Mỹ mắc 1. Đặc điểm lâm sàng và các tiêu chuẩn<br /> bệnh, tương ứng 3,9 trường hợp mỗi 100.000 chẩn đoán<br /> dân [2]. Ở châu Âu, tỷ lệ mắc trên tất cả lứa tuổi<br /> Về lâm sàng, xơ cột bên teo cơ gây teo cơ<br /> được ước tính là 1,6 người trên 100.000 dân<br /> và yếu cơ. Triệu chứng điển hình nhất bắt đầu<br /> [3-7], và tỷ lệ này tăng lên 5 người trên 100.000<br /> tại một vùng giải phẫu và tiến triển dần sang các<br /> dân trên 60 tuổi [8]. Việc chẩn đoán bệnh dựa<br /> vùng khác đến khi người bệnh mất kiểm soát<br /> chủ yếu vào kết quả chẩn điện thần kinh qua bộ<br /> hoạt động của hệ cơ xương, người bệnh chuyển<br /> Địa chỉ liên hệ: Lê Quốc Việt, Bệnh viện Đại học Y từ hoạt động độc lập sang phụ thuộc hoàn toàn<br /> Hà Nội vào hỗ trợ bên ngoài. Mặc dù biểu hiện của bệnh<br /> Email: : leviet11051989@gmail.com có nhiều khác biệt trong từng trường hợp nhưng<br /> Ngày nhận: 21/02/2017 sự tiến triển của các triệu chứng từ vùng giải<br /> Ngày được chấp nhận: 10/4/2017 phẫu này sang các vùng khác là triệu chứng<br /> <br /> <br /> TCNCYH 107 (2) - 2017 173<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> điển hình của xơ cột bên teo cơ giúp chẩn đoán một cách chắc chắn để khẳng định chẩn đoán<br /> bệnh [10]. Triệu chứng này là do xơ cột bên teo bệnh.<br /> cơ gây thoái hóa nơron vận động dưới (yếu cơ, (3) Các vị trí khu vực của dấu hiệu nơron vận<br /> teo cơ và giật bó cơ trên lâm sàng) và thoái hóa động trên và dưới trong bốn vùng của hệ thần<br /> nơron vận động trên (co cứng, phản xạ bệnh kinh trung ương cùng với sự tiến triển của các<br /> lý…). Chính vì vậy, khai thác bệnh sử, khám dấu hiệu xác định chắc chắn chẩn đoán bệnh.<br /> thực thể và thần kinh phải cẩn thận tìm kiếm các Sự tiến triển các dấu hiệu là thiết yếu nhất của<br /> bằng chứng lâm sàng khác nhau của dấu hiệu chẩn đoán lâm sàng xơ cột bên teo cơ.<br /> nơron vận động trên và dưới ở bốn vùng chi Thăm khám lâm sàng nên được lặp lại ít nhất<br /> phối của thần kinh trung ương. mỗi 6 tháng để đánh giá sự tiến triển [10].<br /> Đặc điểm lâm sàng cần thiết để chẩn đoán: Các triệu chứng nơron vận động trên được<br /> (1) Dấu hiệu của thoái hóa nơron vận động phát hiện dựa hoàn toàn vào khám thực thể lâm<br /> dưới (yếu cơ, teo cơ và giật bó cơ trên lâm sàng) sàng và bệnh sử, trong khi đó, chẩn đoán điện<br /> ở một hoặc nhiều vùng trong 4 vùng giải phẫu sinh lý thần kinh là thăm dò quan trọng và duy<br /> thần kinh (hành tủy, tủy cổ, tủy ngực, và thắt nhất để phát hiện các triệu chứng của nơron<br /> lưng cùng). Các dấu hiệu này xuất hiện ở một vận động dưới. Lambert đưa ra tiêu chuẩn chẩn<br /> bên hay hai bên (ví dụ: chỉ tay trái hay cả hai tay) đoán đầu tiên năm 1969 chỉ bao gồm các dấu<br /> của một vùng giải phẫu thần kinh không đánh hiệu của điện sinh lý thần kinh [11]:<br /> giá được tiến triển của sự thoái hóa nơron mà - Giật sợi và giật bó sợi cơ của cơ vùng chi<br /> chỉ đánh giá mức độ mất chi phối thần kinh vào trên và chi dưới hoặc cả hai chi và đầu<br /> cơ. Do đó, sự lan rộng của các triệu chứng tới - Giảm số lượng, tăng biên độ và thời khoảng<br /> vùng giải phẫu khác là quan trọng hơn sự lan của đơn vị vận động<br /> rộng từ bên trái sang bên phải và ngược lại. - Kích thích điện vẫn còn bình thường ở các<br /> (2) Dấu hiệu của thoái hóa nơron vận động sợi thần kinh vận động còn lại, tốc độ dẫn truyền<br /> trên (phản xạ gân xương tăng hoặc đa động, sợi vận động ở những vùng cơ không bị ảnh<br /> co cứng, triệu chứng giả hành não, phản xạ hưởng là bình thường và không giảm dưới 70%<br /> Hoffmann và đáp ứng duỗi gan chân) ở một giá trị trung bình bình thường ở các dây thần<br /> hoặc nhiều vùng trong bốn vùng giải phẫu thần kinh chi phối cho các vùng teo cơ nặng<br /> kinh. Dấu hiệu nơron vận động trên này được - Kích thích điện bình thường và tốc độ dẫn<br /> đánh giá trên lâm sàng ở vùng hành tủy, tủy cổ truyền cảm giác bình thường ngay cả ở những<br /> và thắt lưng cùng. Dấu hiệu nơron vận động trên chi bị ảnh hưởng nặng.<br /> ở một vùng giải phẫu cũng không phân biệt bên Để chuẩn hóa việc chẩn đoán và đảm bảo sự<br /> trái hay bên phải. đồng nhất cho các quần thể người bệnh trong thử<br /> Một thăm khám lâm sàng và thần kinh cung nghiệm lâm sàng, Liên đoàn Thần kinh Thế giới<br /> cấp thông tin về sự có mặt hay vắng mặt của (World Federation of Neurology) đã đưa ra bộ<br /> dấu hiệu nơron vận động trên và dưới trong bốn tiêu chuẩn El Escorial năm 1990 [10], tiêu chuẩn<br /> vùng giải phẫu (hành tủy, tủy cổ, tủy ngực, và El Escorial sửa đổi năm 1998 (Airlie House) [12]<br /> thắt lưng cùng) và phải được xác định khu vực và tiêu chuẩn Awaji-shima năm 2008 [9].<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 174 TCNCYH 107 (2) - 2017<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> Bảng 1. Hội nghị đồng thuận Awaji-shima về việc áp dụng thăm dò điện sinh lý thần kinh để<br /> chẩn đoán xơ cột bên teo cơ<br /> <br /> 1. Nguyên tắc (từ các tiêu chí Airlie House)<br /> Chẩn đoán xơ cột bên teo cơ yêu cầu:<br /> (A) Sự hiện diện của<br /> <br /> (1) Bằng chứng của thoái hóa nơron vận động dưới bằng khám lâm sàng, điện sinh lý thần<br /> kinh<br /> <br /> (2) Bằng chứng của thoái hóa nơron vận động trên bằng lâm sàng và<br /> <br /> (3) Tiến triển lan dần của các triệu chứng và dấu hiệu trong cùng một vùng hoặc tới các<br /> vùng khác khi được xác định qua bệnh sử, khám lâm sàng và điện sinh lý thần kinh<br /> <br /> (B) Sự vắng mặt của<br /> <br /> (1) Bằng chứng điện sinh lý hoặc bệnh học của các quá trình bệnh lý khác có thể giải thích<br /> các dấu hiệu của thoái hóa nơron vận động trên và/hoặc dưới, và<br /> <br /> (2) Bằng chứng hình ảnh thần kinh của quá trình bệnh khác có thể giải thích các dấu hiệu<br /> lâm sàng và điện sinh lý thần kinh quan sát thấy.<br /> <br /> 2. Chẩn đoán phân loại<br /> <br /> Chẩn đoán xác định xơ cột bên teo cơ trên lâm sàng khi có các chứng cứ lâm sàng hoặc điện<br /> sinh lý thần kinh về sự có mặt của dấu hiệu nơron vận động dưới cũng như nơron vận động trên<br /> ở vùng hành tủy và ít nhất hai vùng tủy sống hoặc sự có mặt của dấu hiệu nơron vận động trên<br /> và nơron vận động dưới ở ba vùng tủy sống. Chẩn đoán có khả năng là xơ cột bên teo cơ trên<br /> lâm sàng khi có các bằng chứng lâm sàng và điện sinh lý về sự có mặt dấu hiệu nơron vận động<br /> trên và nơron vận động dưới ở ít nhất hai vùng trong đó các dấu hiệu nơron vận động trên cần<br /> thiết chiếm ưu thế hơn so với dấu hiệu nơron vận động dưới.<br /> <br /> <br /> Chẩn đoán có thể là xơ cột bên teo cơ trên lâm sàng khi có các dấu hiệu lâm sàng hoặc điện<br /> sinh lý thần kinh về sự có mặt của dấu hiệu nơron vận động trên và nơron vận động dưới ở một<br /> vùng; hoặc dấu hiệu nơron vận động trên được tìm thấy một mình ở trên 2 vùng; hoặc dấu hiệu<br /> nơron vận động dưới được tìm thấy chiếm ưu thế hơn nơron vận động trên. Chẩn đoán hình ảnh<br /> thần kinh và xét nghiệm sẽ được thực hiện để loại trừ các chẩn đoán khác.<br /> <br /> <br /> 2. Đặc điểm điện sinh lý thần kinh<br /> <br /> Mặc dù các tiêu chuẩn để chẩn đoán có Khảo sát dẫn truyền thần kinh<br /> những thay đổi đề đáp ứng các yêu cầu trong Khảo sát dẫn truyền vận động. Giai đoạn<br /> thực hành lâm sàng nhưng các dấu hiệu trên sớm của quá trình phát triển bệnh, khảo sát dẫn<br /> điện sinh lý thần kinh để chẩn đoán thoái hóa truyền vận động là bình thường. Khi bệnh tiến<br /> nơron vận động dưới vẫn bao gồm các tiêu triển, có thể thấy hình ảnh biên độ đáp ứng co<br /> chuẩn dưới đây [9-14]: cơ toàn phần giảm và giảm tốc độ dẫn truyền<br /> <br /> <br /> TCNCYH 107 (2) - 2017 175<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> vận động trung bình. Nguyên nhân chính của sự sống, cơ mặt đặc biệt là cơ lưỡi, cơ vòng môi,<br /> chậm dẫn truyền liên quan tới sự mất các sợi cơ cắn, cơ hô hấp và cơ hoành.<br /> thần kinh vận động lớn, dẫn truyền nhanh. Trong Giật sợi và sóng dương nhọn trong mất chi<br /> các dây thần kinh giảm biên độ đáp ứng, tốc độ phối cấp tính và thường báo trước một giai đoạn<br /> dẫn truyền vận động hiếm khi thấp hơn 70% giới tiến triển nhanh của bệnh. Chúng có thể ít thấy<br /> hạn bình thường và thời gian tiềm ngoại vi và hoặc vắng mặt trong giai đoạn sớm của bệnh và<br /> thời gian tiềm sóng F hiếm khi vượt quá 125% tăng lên khi bệnh tiến triển và cơ không được<br /> [15]. Không có nghẽn dẫn truyền và phát tán tái chi phối. Dấu hiệu này thường được quan<br /> điện thế - đây là đặc trưng giúp chẩn đoán phân sát thấy ở cơ cạnh sống. Theo Lambert, giật sợi<br /> biệt xơ cột bên teo cơ với nhóm bệnh lý thần được quan sát ở ¼ số cơ có sức co bình thường<br /> kinh vận động đơn thuần cũng như các bệnh lý mặc dù trong nghiên cứu của Behnia và Kelly<br /> thần kinh ngoại vi do rối loạn miễn dịch. Điều này [17], 30% người bệnh không có hoạt động này.<br /> có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc tiên Phóng điện lặp lại kiểu phức hợp không xuất<br /> lượng điều trị, vì nhóm bệnh lý thần kinh do rối hiện thường xuyên ở người bệnh xơ cột bên teo<br /> loạn miễn dịch đáp ứng tốt với liệu pháp miễn cơ. Chúng phổ biến hơn trong tổn thương thần<br /> dịch (>50%). Biên độ đáp ứng vận động giảm kinh mạn tính và đặc biệt là trong trường hợp teo<br /> theo tỷ lệ mất sợi trục. cơ tiến triển trong thời gian dài.<br /> Khảo sát dẫn truyền cảm giác. Ngoài một số Giật bó cơ (biểu hiện trên lâm sàng và điện<br /> trường hợp hiếm gặp, tốc độ dẫn truyền cảm giác sinh lý thần kinh) là không đặc hiệu cho bệnh lý<br /> và biên độ đáp ứng cảm giác là bình thường. Có tế bào thần kinh vận động, nhưng vẫn được cho<br /> thể giảm tối thiểu biên độ đáp ứng cảm giác [16]. là cần thiết để chẩn đoán.<br /> Behnia và Kelly [17] ghi nhận bất thường dẫn Đơn vị vận động khi co cơ. Trong xơ cột bên<br /> truyền cảm giác ở một tỷ lệ nhỏ người bệnh xơ teo cơ có sự mất các tế bào sừng trước trong khi<br /> cột bên teo cơ không điển hình. lâm sàng cũng như đơn vị vận động của nơron<br /> Sóng muộn. Thời gian tiềm sóng F có thể đó bình thường. Có đến 80% số đơn vị vận động<br /> kéo dài nhẹ. Giảm tần số và tăng sự lặp lại chức năng ở cơ do cùng nơron vận động chi<br /> [18]. Sóng F có thể có biên độ lớn: lên tới 30% phối có thể mất trước khi yếu cơ xuất hiện trên<br /> sóng vận động. Những phát hiện này phản ánh lâm sàng. Ghi điện cực kim đồng tâm cho thấy<br /> sự kích thích bất thường của thân nơron vận đơn vị vận động tăng biên độ, thường là đơn vị<br /> động tuỷ sống. Một phản ứng trung gian là sóng khổng lồ, lớn hơn 12 mV, do sự tái chi phối thần<br /> phản xạ sợi trục không quan sát được. Phản xạ kinh từ nơron vận động khác. Tần số xuất hiện<br /> Hoffmann cơ sinh đôi đã được tìm thấy có liên của đơn vị vận động tăng lên. Đơn vị vận động<br /> quan với sự mắc bệnh lâu ngày [19]. cao, rộng và đa pha kết hợp với giảm kết tập<br /> Ghi điện cơ đồ và/hoặc tăng tốc được chấp nhận như là bằng<br /> Thăm khám sử dụng điện cực kim đồng tâm. chứng của sự mất chi phối mạn tính kết hợp với<br /> Các bất thường nên tìm ở những chi không bị sự tái chi phối bù trừ.<br /> ảnh hưởng về mặt lâm sàng để xác nhận quá Các thăm dò điện sinh lý thần kinh khác<br /> trình lan tỏa. Các hoạt động điện bất thường Đánh giá tiến triển bệnh và sự đáp ứng với<br /> quan sát được hiếm khi hoặc không xuất hiện các liệu pháp điều trị đang là vấn đề cấp thiết<br /> trong bệnh lý thần kinh ngoại vi và các cơ có cần giải quyết. Một vài nghiên cứu về các kỹ<br /> hoạt động điện bất thường không đi theo chi thuật điện sinh lý thần kinh mới đã và đang triển<br /> phối của thân hoặc rễ thần kinh. Các cơ được khai nhằm giải quyết vấn đề này.<br /> kiểm tra là cơ ngọn và gốc chi, cơ cổ, cơ cạnh Điện thế gợi cảm giác thân thể. Gregory và<br /> <br /> 176 TCNCYH 107 (2) - 2017<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> cộng sự [20] tìm thấy sự gia tăng đáng kể trong để chẩn đoán bệnh lý xơ cột bên teo cơ. Ngày<br /> thời gian tiềm các đáp ứng thần kinh giữa ở càng có nhiều dấu hiệu trên điện sinh lý thần<br /> người bệnh cùng với sự giảm nhẹ biên độ ở dây kinh (mật độ sợi cơ, độ bồn chồn trên điện cơ<br /> thần kinh giữa, quay và bắp chân. Suy thoái cận kim sợi đơn độc; ước lượng đơn vị vận động<br /> lâm sàng này trong chức năng thần kinh cảm trong kỹ thuật Macro EMG) giúp chẩn đoán<br /> giác song song với tiến triển của suy giảm vận bệnh, theo dõi tiến triển bệnh và đánh giá đáp<br /> động. ứng với các thử nghiệm lâm sàng được nghiên<br /> Đánh giá hệ thần kinh tự động. Đáp ứng giao cứu và thử nghiệm.<br /> cảm da đã được tìm thấy có bất thường trong<br /> Lời cảm ơn<br /> 40% người bệnh [21]. Vắng mặt hay bất thường<br /> thời gian tiềm của thần kinh tự động trong xơ cột Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám<br /> bên teo cơ mà không thấy dấu hiệu lâm sàng đốc Bệnh viện và toàn thể cán bộ Khoa Thăm dò<br /> của giảm chức năng thần kinh tự động gợi ý sự chức năng Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã tạo<br /> tham gia của hệ thống thần kinh tự động. điều kiện, hợp tác nghiên cứu và nhiệt tình giúp<br /> Nghiên cứu dẫn truyền khớp nối thần kinh – đỡ trong suốt thời gian tiến hành nghiên cứu.<br /> cơ. Ở tần số 2 và 3 Hz, sự giảm đáp ứng quan TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> sát được ở người bệnh teo cơ và giật cơ [16].<br /> 1. Mitsumoto H, Chad DA, Pioro<br /> Một bất thường của khớp nối thần kinh - cơ đã<br /> EP (1998). Amyotrophic lateral sclerosis.<br /> được quan sát bởi bản ghi nội bào và có thể<br /> Philadelphia, PA: F.A. Davis Company.<br /> giải thích tình trạng dễ mệt thường gặp ở người<br /> 2. Morbidity and Mortality Weekly<br /> bệnh [22].<br /> Report (2014). Prevalence of Amyotrophy<br /> Điện cơ kim sợi đơn độc cung cấp thông tin<br /> Lateral Sclerosis – United States, 2010 - 2011.<br /> quan trọng về trạng thái của đơn vị vận động<br /> Surveillance Summaries. 63(7).<br /> [23]. Độ bồn chồn bất thường là một dấu hiệu<br /> 3. Chiò A, Cucatto A, Calvo A et al<br /> của mất chi phối thần kinh sớm. Tăng độ bồn<br /> (1999). Amyotrophic lateral sclerosis among the<br /> chồn có thể liên quan với nghẽn xung dẫn truyền<br /> migrant population to Piemonte, northwestern<br /> thần kinh từ dây thần kinh tới sợi cơ. Tăng mật<br /> Italy. J Neurol. 246,175 – 180.<br /> độ sợi cơ cho thấy việc sắp xếp lại các sợi cơ do<br /> 4. Guidetti D, Bondavalli M, Sabadini<br /> hiện tượng đâm chồi tái chi phối của thần kinh.<br /> R, et al (1996). Epidemiological survey of<br /> Ghi điện cơ lớn (Macro EMG) là kỹ thuật phức<br /> amyotrophic lateral sclerosis in the province of<br /> tạp và xâm lấn dùng để khảo sát kích thước của<br /> Reggio Emilia, Italy: influence of environmental<br /> các đơn vị vận động, thông qua đó để tìm hiểu<br /> exposure to lead. Neuroepidemiology. 15, 301 –<br /> sự tái chi phối thần kinh. Kỹ thuật này thực hiện<br /> 312.<br /> sau mỗi 6 tháng nhưng không nhạy trong việc<br /> 5. Huber S, Henn V (1995). Unchanged<br /> phát hiện sự thay đổi [24].<br /> incidence and prevalence of amyotrophic lateral<br /> III. KẾT LUẬN sclerosis in the canton of Zurich. Schweiz Arch<br /> Điện sinh lý thần kinh (với hình ảnh: giật sợi, Neurol Psychiatr (Bucur). 146, 52 – 54.<br /> sóng dương nhọn, giật bó sợi cơ, kết tập không 6. Mandrioli J, Faglioni P, Merelli E et<br /> hoàn toàn và bất thường đơn vị vận động) luôn al (2003). The epidemiology of ALS in Modena,<br /> là dấu hiệu quan trọng và duy nhất trong chẩn Italy. Neurology. 60, 683 – 689.<br /> đoán xác định tình trạng thoái hóa nơron vận 7. Traynor BJ, Codd MB, Corr B et al<br /> động dưới. Một trong những tiêu chí quan trọng (1999). Incidence and prevalence of ALS in<br /> <br /> <br /> TCNCYH 107 (2) - 2017 177<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> Ireland, 1995 – 1997: a population-based study. 16. Mondelli M, Rossi A, Passero<br /> Neurology. 52, 504 – 509. S et al (1993). Involvement of peripheral<br /> 8. Hirtz D, Thurman DJ, Gwinn-Hardy K sensory fibers in amyotrophic lateral sclerosis:<br /> et al (2007). How common are the “common” electrophysiological study of 64 cases. Muscle<br /> neurologic disorders? Neurology. 68, 326 – 337. Nerve. 16,166 – 172.<br /> 9. de Carvalho M, Swash M (2009). Awaji 17. Behnia M, Kelly JJ (1991). Role<br /> diagnostic algorithm increases sensitivity of El of electromyography in amyotrophic lateral<br /> Escorial criteria for ALS diagnosis. Amyotroph sclerosis. Muscle Nerve. 14,1236 – 1241.<br /> Lateral Scler. 10, 53 – 57. 18. Peioglou-Harmoussi S, Fawcett PRW,<br /> 10. Brooks BR (1994). El Escorial World Howel D et alt (1987). F-response frequency in<br /> Federation of Neurology criteria for the diagnosis motor neuron disease and cervical spondylosis.<br /> of amyotrophic lateral sclerosis. Subcommittee J Neurol Neurosurg Psychiatry. 50, 593 – 599.<br /> on Motor Neuron Diseases/ Amyotrophic Lateral 19. Mazzini L, Balzarini C, Gareri F,<br /> Sclerosis of the World Federation of Neurology Brigatti M (1997). H-reflex changes in the<br /> Research Group on Neuromuscular Diseases course of amyotrophic lateral sclerosis.<br /> and the El Escorial “Clinical limits of amyotrophic Electroencephalogr Clin Neurophysiol. 104, 411<br /> lateral sclerosis” workshop contributors. J Neurol – 417.<br /> Sci. 124, 96 – 107. 20. Gregory R, Mills K, Donaghy M<br /> 11. Lambert EH (1969). Electromyography (1993). Progressive sensory nerve dysfunction<br /> in amyotrophic lateral sclerosis. In: Norris FH, in amyotrophic lateral sclerosis a prospective<br /> Kurland LT (eds) Motor Neuron Disease. Grune clinical and neurophysiological study. J Neurol.<br /> & Stratton, New York. 135 – 153. 240, 309 – 314.<br /> 12. Brooks BR, Miller RG, Swash M et al 21. Dettmers C, Fatepour D, Faust H et al<br /> (2000). World Federation of Neurology Research (1993). Sympathetic skin response abnormalities<br /> Group on Motor Neuron Disease. El Escorial in amyotrophic lateral sclerosis. Muscle Nerve.<br /> revisited: revised criteria for the diagnosis of 16, 930 – 934.<br /> amyotrophic lateral sclerosis. Amyotroph Lateral 22. Maselli RA, Wollman RL, Leung C,<br /> Scler Other Motor Neuron Disord. 1, 293 – 299. et al (1993). Neuromuscular transmission in<br /> 13. Ludolph A, Drory V, Hardiman O et al amyotrophic lateral sclerosis. Muscle Nerve. 16,<br /> (2015). A revision of the El Escorial criteria – 1193 – 1203.<br /> 2015. Amyotroph Lateral Scler Frontotemporal 23. Swash M, Schwartz MS (1984). Staging<br /> Degener. 16(5 - 6), 291 - 292. motor neuron disease: single fiber EMG studies<br /> 14. De Carvalho M., Chio A., Dengler of asymmetry, progression and compensatory<br /> R et al (2005). Neurophysiological measures reinnervation. In: Rose (ed) Research progress<br /> in amyotrophic lateral sclerosis: markers of in motor neuron disease. Pitman, London. 123 –<br /> progression in clinical trials. ALS. 6, 17 - 29. 140.<br /> 15. Pierre Bouche, Nadine Le 24. Bromberg M, Fries T, Forshew D, et al<br /> Forestier, Thierry Maisonobe et al (1999). (2001). Electrophysiological endpoint measures<br /> Electrophysiological diagnosis of motor neuron in a multicentre ALS drug trial. J Neurol Sci. 184,<br /> disease and pure motor neuropathy. J Neurol. 51 – 54.<br /> 246, 520 – 525.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 178 TCNCYH 107 (2) - 2017<br /> TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC<br /> <br /> Summary<br /> ELECTRONEUROPHYSIOLOGY IN DIAGNOSTIC OF<br /> AMYOTROPHY LATERAL SCLEROSIS<br /> Amyotrophic lateral sclerosis belongs to a group of disorders known as motor neuron diseases.<br /> Despite being one of the most devastating diseases , there is little evidence for diagnosing and managing<br /> patients with amyotrophic lateral sclerosis. Based on the criterias of the World Federation of Neurology<br /> (El Escorial in 1990, revised El Escorial in 1998 and Awaji-shima in 2008) and other study about value<br /> of electroneurophysiology, we are recognized that electroneurophysiology is useful to diagnosis<br /> amyotrophic lateral sclerosis: Nerve conduction study is useful to evaluate axonal degeneration.<br /> Needle electromyography are essential for confirming lower motor neuron degeneration. The signs<br /> of electroneurophysiology are essential and exclusive, not only in relation to diagnosis, but also in the<br /> development of disease progression, and perhaps, in the future, in measuring patients’response to therapy.<br /> <br /> Key words: Amyotrophy lateral sclerosis, Charcot disease, motor neuron disease,<br /> electroneurophysiology, nerve conduction study, electromyography, nerve conduction<br /> study, electromyography.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> TCNCYH 107 (2) - 2017 179<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2