
Đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả
kinh tế tập thể, hợp tác xã
Nguyễn Đình Hòa(*)
Lý Hoàng Mai(**)
Nguyễn Phương Thảo(***)
Tóm tắt: Kinh tế tập thể, hợp tác xã được xác định là bộ phận quan trọng của nền kinh
tế quốc dân. Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương và có các cơ chế, chính
sách hỗ trợ, thúc đẩy phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã. Tuy nhiên, tốc độ và chất lượng
tăng trưởng của khu vực này vẫn chưa cao so với các khu vực kinh tế khác. Bối cảnh mới
đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi tiếp tục làm rõ, bổ sung và phát triển lý luận cũng như hoàn
thiện cơ chế, chính sách để phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã.
Từ khóa: Kinh tế tập thể, Kinh tế hợp tác xã, Phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã
Abstract: Collective economy and cooperatives are identified as an important part of the
national economy. Mechanisms and policies have been issued by the State of Vietnam to
support and promote their development. However, the growth rate and quality of this sector
has not yet achieved high results compared to other economic sectors. The new context raises
many issues that require continued addition, development and clarification of theory as well
as improvement of mechanism and policies to develop collective and cooperative economies.
Keywords: Collective Economy, Cooperative Economy, Collective Economic
Development, Cooperatives
Ngày nhận bài: 15/9/2024; Ngày duyệt đăng: 15/10/2024
1. Mở đầu1(*)2(***)
Kinh tế tập thể (KTTT), trọng tâm là
hợp tác xã (HTX) được Đảng Cộng sản Việt
Nam xác định có vị trí, vai trò quan trọng
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa (XHCN). Phát triển KTTT,
HTX không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà
còn có ý nghĩa chính trị - xã hội, phù hợp
với thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam. Bài viết tập trung phân tích thực
(*), (**) TS., Viện Kinh tế Việt Nam, Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam;
Email: nguyendinhhoaktpt@gmail.com
(***) ThS., Viện Kinh tế Việt Nam, Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam.
trạng phát triển KTTT, HTX trong giai
đoạn từ đổi mới đến năm 2023 và chỉ ra các
rào cản từ phía cơ chế, chính sách, qua đó
đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục đổi
mới, phát triển và nâng cao hiệu quả khu
vực kinh tế này trong giai đoạn tới.
2. Diễn tiến tư duy, nhận thức và cơ chế,
chính sách của Đảng và Nhà nước về phát
triển KTTT, HTX từ đổi mới đến nay
2.1. Diễn tiến tư duy, nhận thức của
Đảng về phát triển KTTT, HTX
Đại hội VI (năm 1986) khẳng định,
Việt Nam có các thành phần kinh tế XHCN
là kinh tế quốc doanh và KTTT, trong đó:
kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo,

15
Đổi mới, phát triển…
chi phối; KTTT được củng cố theo hướng
nâng cao trình độ tổ chức quản lý và tăng
cường cơ sở vật chất kỹ thuật. Đại hội VII
(năm 1991) xác định kinh tế quốc doanh
và KTTT trở thành nền tảng của nền kinh
tế quốc dân (KTQD) (Đảng Cộng sản
Việt Nam, 2019). Như vậy, tại Đại hội VI
và Đại hội VII, Đảng đánh giá cao vai trò
và xác định KTTT là thành phần kinh tế
XHCN, là nền tảng của KTQD. Những
quan điểm nêu trên được nhất quán và
tiếp tục khẳng định trong các kỳ Đại hội
sau đó.
Đại hội VIII (năm 1996) làm rõ hơn
nội hàm của KTTT, HTX với việc đưa ra
khái niệm và hình thức để phát triển kinh
tế HTX. Đại hội IX (năm 2001) tiếp tục đề
cập đến các hình thức phát triển đa dạng
của KTTT, trong đó nhấn mạnh vai trò
nòng cốt của HTX, phát triển HTX kinh
doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên
ngành (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019).
Hội nghị lần thứ Năm, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa IX ban hành Nghị
quyết số 13/2002/NQ-TW về tiếp tục
đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả
KTTT. Nghị quyết 13 đưa ra các quan
điểm, nhận thức mới: i) phát triển KTTT,
HTX, tập trung dịch vụ đầu vào cho nông
nghiệp và mở rộng các hình thức liên
doanh, liên kết; ii) chú trọng hiệu quả và
lợi ích cho thành viên và xã hội, chú trọng
nguyên tắc tự nguyện, Nhà nước không can
thiệp trực tiếp vào hoạt động của KTTT;
iii) KTTT hoạt động có mục đích kinh tế
- xã hội và nhân văn, không chỉ vì lợi ích
kinh tế thuần túy (Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX, 2002).
Đại hội XII (năm 2016) đưa ra những
yêu cầu để phát triển KTTT, HTX, trong đó
nhấn mạnh phát huy vai trò của kinh tế hộ.
Đại hội XIII (năm 2021) nhấn mạnh vai
trò cung cấp dịch vụ, nâng cao năng suất,
hiệu quả sản xuất, kinh doanh (SXKD),
phát triển bền vững của KTTT, HTX và
đưa ra quan điểm phải tăng cường liên kết
giữa các HTX, hình thành các hiệp hội,
liên hiệp HTX (Đảng Cộng sản Việt Nam,
2021).
Hội nghị lần thứ Năm, Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị
quyết số 20-NQ/TW về tiếp tục đổi mới,
phát triển và nâng cao hiệu quả KTTT trong
giai đoạn mới. Nghị quyết 20 nhấn mạnh
yêu cầu phát triển KTTT, HTX theo hướng
năng động, hiệu quả, bền vững, cùng với
kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững
chắc của nền KTQD, phát huy vai trò là
thành phần kinh tế XHCN (Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XIII, 2022).
2.2 Diễn tiến cơ chế, chính sách về
phát triển KTTT, HTX
Kể từ khi bắt đầu đổi mới đến nay,
các quan điểm, chủ trương và cơ chế,
chính sách về phát triển KTTT, HTX có
những bước chuyển về tư duy, nhận thức.
Luật HTX năm 1996 thừa nhận quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm trong SXKD của
HTX. Luật HTX năm 2003 làm rõ hơn
quyền và nghĩa vụ, chính sách của Nhà
nước đối với HTX. Nhà nước khuyến
khích và tạo điều kiện thuận lợi để HTX
phát triển, bảo đảm địa vị pháp lý và điều
kiện SXKD của HTX bình đẳng với các
loại hình doanh nghiệp,… tôn trọng quyền
tự chủ, tự quyết, tự chịu trách nhiệm của
HTX trong SXKD; không can thiệp vào
công việc quản lý nội bộ và hoạt động hợp
pháp của HTX. Đối tượng tham gia HTX
theo luật này cũng được mở rộng hơn,
bao gồm cả cá nhân, pháp nhân và cán bộ
công chức. Luật HTX năm 2012 làm rõ
hơn chức năng của HTX, xác định rõ hơn
sự khác biệt của HTX so với doanh nghiệp
(Quốc hội, 2012).
Luật HTX năm 2023 có thêm những
điểm mới là: i) bổ sung phân loại thành
viên chính thức, thành viên liên kết góp vốn

16 Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 12.2024
và liên kết không góp vốn; ii) quy định cụ
thể 7 nguyên tắc mang tính bản chất HTX
của Liên minh HTX quốc tế (ICA); iii) mở
rộng và trao quyền nhiều hơn cho HTX,
liên hiệp HTX tự quyết định việc cung ứng
sản phẩm, dịch vụ ra bên ngoài sau khi đáp
ứng đầy đủ nhu cầu của thành viên, phát
triển thị trường bình đẳng như các loại hình
doanh nghiệp khác; iv) thể chế hóa 8 nhóm
chính sách của Nghị quyết số 20-NQ/TW
(Quốc hội, 2023).
Ngày 12/3/2021, Thủ tướng Chính
phủ ban hành Quyết định số 340/2021/
QĐ-TTg về Phê duyệt Chiến lược phát
triển KTTT, HTX giai đoạn 2021-2030.
Chiến lược này có điểm mới so với giai
đoạn trước, trong đó đáng chú ý là nhấn
mạnh yêu cầu xây dựng các mô hình HTX
gắn với chuỗi giá trị, sản phẩm chủ lực
của quốc gia, địa phương, chương trình
OCOP (mỗi xã một sản phẩm), hình thành
chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến, tiêu
thụ; bảo đảm lợi ích hợp pháp của các
thành viên.
3. Những bất cập, hạn chế và rào cản
đối với sự phát triển KTTT, HTX
3.1. Chồng chéo, thiếu đồng bộ giữa
Luật HTX với các văn bản pháp luật khác
Luật HTX năm 2012 và Luật Đất đai
năm 2013 có sự thiếu đồng bộ về giao đất
cho HTX. Luật HTX năm 2012 (Điều 6)
quy định HTX, liên hiệp HTX hoạt động
trong lĩnh vực nông nghiệp được hưởng
chính sách “Giao đất, cho thuê để phục vụ
hoạt động của HTX, liên hiệp HTX theo
quy định của pháp luật về đất đai”. Tuy
nhiên, Luật Đất đai năm 2013 (Điều 54,
Điều 55) không quy định “giao đất” cho
HTX, liên hiệp HTX sử dụng vào mục đích
sản xuất nông nghiệp, chỉ quy định cho
HTX, liên hiệp HTX “thuê đất” (Điều 56,
Điều 133).
Điều tương tự cũng có thể thấy giữa
Luật HTX và Luật Các tổ chức tín dụng.
Về người đại diện Quỹ tín dụng nhân dân,
Luật HTX năm 2012 quy định, Chủ tịch
Hội đồng quản trị là người đại diện duy
nhất của HTX. Tuy nhiên, Luật Các tổ
chức tín dụng năm 2010 và Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức
tín dụng năm 2017 (khoản 2, Điều 3) cho
phép người đại diện có thể là Chủ tịch Hội
đồng quản trị hoặc Giám đốc theo Điều lệ
của Quỹ tín dụng nhân dân ban hành.
3.2. Một số chính sách gây cản trở đối
với hoạt động của HTX
HTX có quy mô nhỏ, nguồn lực hạn
chế, thường gặp khó khăn trong huy động
vốn SXKD từ thành viên và các tổ chức tín
dụng bên ngoài do chịu sự ràng buộc bởi
các quy định.
Luật HTX năm 2012 (Điều 17) quy
định: Đối với HTX, thành viên HTX không
được góp quá 20% vốn điều lệ và đối với
liên hiệp HTX, các thành viên không được
góp quá 30% vốn điều lệ của HTX. Quy
định này ảnh hưởng đến việc huy động
nguồn vốn góp từ các thành viên, trong khi
đây có thể được coi là nguồn vốn dễ huy
động và chi phí rẻ hơn so với vay vốn từ
các tổ chức tài chính.
Theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP
về chính sách tín dụng phục vụ phát triển
nông nghiệp, nông thôn, các tổ chức tín
dụng được phép hỗ trợ vốn cho các HTX
theo một số quy chế được quy định trong
Nghị định. Trong khi đó, các ngân hàng
phải tự cân đối nguồn vốn để cho vay và
tự chịu trách nhiệm khi rủi ro xảy ra, việc
xử lý rủi ro phải được xác định là do các
nguyên nhân khách quan, bất khả kháng
như thiên tai, dịch bệnh. Thế nhưng chính
sách về bảo hiểm nông nghiệp chưa đầy đủ,
chậm triển khai, gây khó khăn cho các tổ
chức tín dụng mở rộng cho các HTX nông
nghiệp vay.
Nghị định số 107/2017/NĐ-CP (Điều
5) quy định tỷ lệ cung ứng, tiêu thụ sản

17
Đổi mới, phát triển…
phẩm, dịch vụ, việc làm mà HTX, liên
hiệp HTX cam kết cung ứng, tiêu thụ cho
thành viên, HTX thành viên. Tỷ lệ này
không được vượt quá mức 50% tổng giá
trị cung ứng sản phẩm dịch vụ của HTX,
liên hiệp HTX và không quá 30% tổng tiền
lương của HTX tạo việc làm. Việc đưa ra
mức giới hạn về tỷ lệ cung ứng sản phẩm,
dịch vụ của HTX ra thị trường tạo sự thiếu
bình đẳng trong cạnh tranh và chưa khuyến
khích HTX mở rộng SXKD khi tham gia
thị trường; đồng thời, làm mất đi tính tự
chủ, tự chịu trách nhiệm của HTX.
3.3. Một số chính sách chưa phù hợp
với nguyên tắc cơ bản của HTX và xu
hướng phát triển của thế giới
Các quy định chưa phản ánh đầy đủ
định nghĩa và nguyên tắc cơ bản của HTX
theo khuyến cáo của ICA. Một số quy định
đã bó hẹp hoặc can thiệp quá sâu vào quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm của HTX, chưa
tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng cho
HTX so với các loại hình kinh tế khác.
Theo Điều 3, Điều 15 Luật HTX năm 2012,
HTX là tổ chức KTTT, đồng sở hữu, tương
trợ lẫn nhau trong hoạt động SXKD, tạo
việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của
thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách
nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý
HTX. Như vậy, Luật HTX năm 2012 nhấn
mạnh hơn tới khía cạnh cùng nhau SXKD
và tạo việc làm. Tuy nhiên, theo định nghĩa
của ICA, các HTX thành lập để đáp ứng
nhu cầu chung về kinh tế, xã hội, văn hóa
của thành viên, không chỉ giới hạn về mặt
kinh tế như trong Luật HTX năm 2012.
Khoản 7, Điều 7 Luật HTX năm 2012
quy định HTX, liên hiệp HTX chăm lo
phát triển bền vững cộng đồng thành viên,
HTX thành viên và hợp tác với nhau nhằm
phát triển phong trào HTX trên quy mô địa
phương, vùng, quốc gia và quốc tế. Như
vậy, luật định chú trọng nhấn mạnh hơn
tới sự phát triển của cộng đồng thành viên
bên trong HTX, chưa thực sự phù hợp với
nguyên tắc thứ 7 của ICA về HTX là quan
tâm tới “cộng đồng xã hội”, tức là cộng
đồng nói chung cả bên trong và bên ngoài
của HTX.
4. Thực trạng phát triển KTTT, HTX
4.1. Kết quả phát triển KTTT
KTTT, trong đó nòng cốt là HTX,
đã có nhiều chuyển biến tích cực. Quy
mô của KTTT có xu hướng gia tăng, từ
108.344 tỷ đồng (năm 2015) lên 133.588
tỷ đồng (năm 2020) (theo giá cố định
2010) (Tổng cục Thống kê, 2022). Tổng
số thành viên khu vực KTTT là gần 8 triệu
người, với 976,3 nghìn người có việc làm
thường xuyên (Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
2023). Tuy nhiên, khu vực KTTT chưa
phát triển như mục tiêu, yêu cầu được đặt
ra trong Nghị quyết số 13-NQ/TW trong
đó đề ra mục tiêu KTTT đạt tốc độ tăng
trưởng cao hơn, tiến tới có tỷ trọng ngày
càng lớn hơn trong GDP của nền kinh tế.
Tuy nhiên, trong hơn 20 năm kể từ Nghị
quyết số 13-NQ/TW, tốc độ tăng trưởng
khu vực KTTT đạt thấp (dưới 6%) và chỉ
bằng một nửa tốc độ tăng trưởng của nền
kinh tế; đóng góp của KTTT vào GDP có
xu hướng giảm (Xem: Bảng 1).
Bảng 1: Đóng góp của KTTT vào nền kinh tế
2000 2005 2010 2020
Tốc độ tăng trưởng GDP cả nước (%) 6,75 8,40 6,78 2,91
Tốc độ tăng trưởng của KTTT (%) 5,46 3,98 3,32 2,40
Tỷ trọng KTTT trong GDP (%) 8,06 6,65 3,99 3,62
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2022).

18 Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 12.2024
4.2. Kết quả phát triển HTX
a) Kết quả đạt được
- Số lượng HTX, thành viên HTX có
xu hướng tăng lên.
Sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết
số 13-NQ/TW, HTX đã có những chuyển
biến đáng kể. Tính đến ngày 31/12/2010
(trước khi Luật HTX năm 2012 được ban
hành), cả nước có tổng cộng 6.302 HTX.
Với sự ra đời của Luật HTX năm 2012 và
các cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ
trợ, số lượng HTX có sự gia tăng đáng kể:
năm 2022 là 29.021 HTX, gấp 4,6 lần so
với năm 2010. Sự gia tăng này phản ánh
số HTX thành lập mới tăng lên với các con
số trong các giai đoạn 2001-2011 và 2012-
2021 lần lượt là 11.640 HTX và 26.170
HTX (Xem: Biểu đồ 1).
Biểu đồ 1: Số lượng HTX của Việt Nam
qua các năm
6.302
27.394 29.021 29.900
6.072
18.327 19.384 19.734
-
5.000
10.000
15.000
20.000
25.000
30.000
35.000
2010 2021 2022 Quý I/2023
Tổng số HTX HTX nông nghiệp
Nguồn: Liên minh HTX Việt Nam (2022,
2023), Tổng cục Thống kê (2022).
HTX từng bước khẳng định vị trí, vai
trò trong việc tập hợp những người sản
xuất với nhau để khai thác lợi thế nhờ
quy mô, góp phần nâng cao hiệu quả sản
xuất và tìm kiếm các cơ hội thị trường.
Số lượng thành viên tham gia các HTX
đạt khoảng 8 triệu năm 2013 nhưng giảm
xuống 6,57 triệu năm 2016 và còn 6,98
triệu năm 2018, tới năm 2021 là 6 triệu.
Kể từ năm 2021, số lượng thành viên tham
gia HTX đang tăng lên. Năm 2022, các
HTX thu hút 6,94 triệu thành viên, tăng
so với năm 2021; quý I/2023, các HTX
đã thu hút 5,3 triệu thành viên (Liên minh
HTX Việt Nam, 2023).
- Kết quả SXKD của HTX chuyển biến
tích cực.
Doanh thu của HTX đang hoạt động
có kết quả SXKD có xu hướng tăng lên.
Giai đoạn 2016-2022, doanh thu bình quân
của mỗi HTX tăng từ 1,6 tỷ đồng lên 2,3 tỷ
đồng/năm. Năm 2022, doanh thu bình quân
của 125 liên hiệp HTX là 258 tỷ đồng/năm,
lãi bình quân 8,9 tỷ đồng/năm. Một số liên
hiệp HTX có quy mô lớn như: Liên hiệp
HTX thương mại Thành phố Hồ Chí Minh
(Saigon Coop), doanh thu 32.000 tỷ đồng/
năm; Liên hiệp HTX nông sản an toàn Sơn
La, Liên hiệp HTX dịch vụ nông nghiệp-
tổng hợp Đồng Nai (Dona Coop); Liên
hiệp HTX Artermia Vĩnh Châu, Liên hiệp
Bảng 2: Tình hình phát triển của HTX nông nghiệp qua các năm
TT Chỉ tiêu Đơn vị tính 2001 2011 2021 2022
1 Số lượng HTX HTX 5.758 9.708 18.327 19.384
2 Số thành viên/HTX thành viên 478,6 373,4 176,2 358,03
3 Lợi nhuận/HTX triệu đồng 32 96 207 378
4 Thu nhập của lao động triệu đồng 4,5 10,8 36,7 50
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2021), Liên minh HTX Việt Nam (2022).

