267
chương 7
ĐỔI MỚI TƯ DUY VÀ CẢI CÁCH THỂ CHẾ
nhỮng YÊU cẦU TỪ ThỰc TẾ
Phân tích tình hình kinh tế trong nước tại Hội nghị 3 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khóa XI), ngày 10/10/2011, Tổng thư Nguyễn
Phú Trọng đã xác định yêu cầu: “đổi mới hình tăng trưởng
cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh
tranh”. Đặc biệt, Tổng thư đã chỉ ra ba lĩnh vực ưu tiên cần tái
cấu là: “tái cấu trúc đầu tư với trọng tâm là đầu tư công”, “cơ cấu lại thị
trường tài chính với trọng tâm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương
mại, các tổ chức tài chính” và “ tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước mà
trọng tâm các tập đoàn, tổng công ty nhà nước”. Tổng thư cũng
chỉ phải khắc phục “tư duy nhiệm kỳ” “lợi ích nhóm” trong đầu
công trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách đầu tư. Đó
những tưởng chính sách quan trọng, định hướng cho cải cách
phát triển kinh tế của nước ta trong những năm tới và cần được tiếp tục
làm nội dung, phương pháp thực hiện, phạm vi, quy hoạt động,
nguyên nhân cách ngăn chặn. Nếu chỉ dừng lại chỗ điểm tên hai
khái niệm trên thì tác dụng thực tế sẽ rất hạn chế.
Tổng thư đã thẳng thắn chỉ ra những yếu kém, bất cập trong việc
thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước:
“Tuy nhiên, một số chỉ tiêu quan trọng của kế hoạch phát triển kinh
tế - hội năm 2011 chưa hoàn thành, nhất mục tiêu kiềm chế lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Cho đến nay, kinh
tế - xã hội nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế
chưa thật ổn định; lạm phát vẫn mức cao, tiềm ẩn nguy cơ bùng
phát; nợ công, đặc biệt nợ nước ngoài tăng nhanh; dự trữ ngoại hối
268
mỏng, áp lực đối với tỉ giá còn lớn; thị trường tài chính, thị trường bất
động sản giảm sút, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Sản xuất, kinh doanh của các
doanh nghiệp đang phải đối mặt với tình trạng giá cả đầu vào, lãi suất
cao, hàng tồn kho lớn. Việc thực hiện các chủ trương của Đại hội XI
về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế còn chậm. Đời
sống của nhân dân, nhất người nghèo, các đối tượng chính sách
hội, người lao động ở các đô thị, khu công nghiệp, vùng miền núi, đồng
bào dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn. Lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y
tế, văn hóa còn nhiều bất cập. Tai nạn ùn tắc giao thông chưa giảm,
còn xảy ra nhiều vụ tai nạn nghiêm trọng; khiếu kiện đông người, đình
công xảy ra nhiều nơi; số vụ tội phạm, tệ nạn hội gia tăng, gây lo
lắng, bức xúc trong nhân dân”.
Tổng Bí thư đã nêu rõ nguyên nhân chủ quan của tình hình trên là:
“Tình hình nêu trên nguyên nhân khách quan do tác động
của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu; nguyên nhân
chủ quan là do những yếu kém của nội tại nền kinh tế với mô hình tăng
trưởng cấu kinh tế lạc hậu, kém hiệu quả, tích tụ kéo dài từ lâu,
chậm được khắc phục do những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh
đạo, quản lý, điều hành của các cấp, các ngành, đặc biệt trong điều
hành chính sách tiền tệ, tài khoá; quản lý quy hoạch, đầu tư, đất đai, tài
nguyên, thị trường bất động sản, v.v...”.
Về yêu cầu tái cấu trúc đầu tư và đầu tư công, Tổng bí thư Nguyễn
Phú Trọng cũng đã chỉ những hạn chế yếu kém bắt nguồn từ thể
chế:
“Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch chính sách đầu phải
tầm nhìn xa, không bị “tư duy nhiệm kỳ”, tư tưởng cục bộ, bệnh thành
tích, chủ quan duy ý chí hay “lợi ích nhóm” chi phối. Quy hoạch, kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm và 5 năm 2011-2015 phải cụ
thể hoá được những mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ do Chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội đề ra và gắn kết chặt chẽ với chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực vùng lãnh thổ sao cho
phù hợp nhất với tình hình đất nước và thế giới trong từng thời kỳ. Quy
269
trình phương pháp xây dựng, tổ chức điều hành thực hiện quy hoạch,
kế hoạch phải thực sự khoa học, đi từ tổng thể chung của cả nước, đến
các vùng lãnh thổ, rồi mới đến từng địa phương, sở. Theo đó, cần
khẩn trương soát xét, điều chỉnh luật pháp, chính sách và cơ chế quản
đầu tư nói chung đầu tư công nói riêng; đặc biệt vấn đề phân cấp
quản lý nhà nước về thu chi ngân sách và đầu tư. Khẩn trương xác định
các tiêu chí và thứ tự ưu tiên làm căn cứ để phê duyệt hay từ chối hoặc
cắt giảm các dự án đầu tư, nhất dự án đầu công. Khắc phục tình
trạng phát triển quá nhiều các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công
nghiệp, khai thác quá mức tài nguyên, khoáng sản chưa tính toán
đầy đủ khả năng thu hút các doanh nghiệp vào đầu tư, hiệu quả kinh
tế - hội tác động đến môi trường; cũng như tình trạng phê duyệt
quá nhiều dự án vượt khả năng nguồn lực hiện có, kế hoạch đầu bị cắt
khúc ra nhiều năm, dẫn đến đầu dàn trải, kéo dài thời gian thi công,
nợ xây dựng cơ bản lớn, gây lãng phí, thất thoát, hiệu quả thấp”.
ràng rằng muốn khắc phục “tư duy nhiệm kỳ” “lợi ích nhóm”
cũng như những yếu kém được nêu trên đây, phải cải cách thể chế bao
gồm một số quan điểm, pháp luật, chính sách phương thức hoạt động
của bộ máy. Việt Nam chính thể chế đã cho phép hình thành và ra đời
kinh tế thị trường, cho phép hội nhập quốc tế, cho phép ra đời hình
thành khu vực kinh tế nhân. Thể chế nào thì doanh nghiệp ấy, các mặt
mạnh yếu của doanh nghiệp nhà nước, nhân của Việt Nam hiện
nay đều do thể chế tác động đến.
Bên cạnh một số tiến bộ nhất định đã đạt được còn dưới tiềm năng
phát triển của đất nước, thực trạng kinh tế nhiều mặt yếu kém, mất
cân đối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn nguy cơ. Các yếu kém hiện nay
bắt nguồn sâu xa từ một số quan điểm xây dựng kinh tế chậm được đổi
mới cũng như những yếu kém trong quá trình tổ chức thực hiện bắt
nguồn từ duy (như “kinh tế nhà nước chủ đạo”), từ vai trò, chức
năng của thể chế kinh tế đến luật pháp, vận hành của bộ máy v.v...
Sau đây, xin thử phân tích một vài biểu hiện điển hình:
(i) Đặc trưng của mô hình tăng trưởng hiện nay là tăng trưởng chủ
yếu theo chiều rộng, dựa vào đầu tư, khai thác tài nguyên theo hướng
270
công nghiệp hóa đối với tất cả 63 tỉnh, thành phố, không tính đến điều
kiện cụ thể của từng địa phương. Công nghiệp hóa ở Hà Giang thì khác
với Bình Dương thế nào? Nhưng tỉnh nào cũng phải công nghiệp hóa,
đề ra chỉ tiêu tăng trưởng GDP thật cao. Thước đo chủ yếu cho hoạt
động của nền kinh tế, các Bộ, ngành, các địa phương chỉ tiêu tăng
trưởng GDP, trong khi các chỉ tiêu chất lượng về tăng năng suất lao
động, hiệu quả, năng lực cạnh tranh, tiến bộ khoa học - công nghệ chỉ
chiếm vai trò thứ yếu (tuy được đề cập đến một cách chung chung,
không có biện pháp thực hiện và giám sát), càng không có chỉ tiêu ràng
buộc về bảo vệ môi trường. Các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, xã hội đều
nhưng không trọng lượng cũng không được chú ý đúng mức trong
quá trình thực hiện. Vì vậy, tất cả các tỉnh, thành phố đều chạy theo chỉ
tiêu tăng trưởng thật cao, đặt ra chỉ tiêu tăng trưởng GDP cao hơn mức
tăng trưởng của cả nước rất nhiều. Chỉ tiêu tăng trưởng càng cao chứng
tỏ tinh thần cách mạng tiến công, sự sáng tạo, chủ động của lãnh đạo địa
phương càng lớn. Không tính đến những đặc điểm đặc thù về điều kiện
tự nhiên, điều kiện kinh tế - hội, khả năng về vốn, nhân lực, khoa học
- công nghệ v.v…, các tỉnh đều đề ra mục tiêu công nghiệp hóa, đều phải
xây dựng một nền kinh tế đủ bến cảng, sân bay, khu công nghiệp,
cụm công nghiệp, v.v... Cách làm đó đã dẫn đến lãng phí tài nguyên,
đầu kém hiệu quả rất lớn, hình thành 63 nền kinh tế trong nền kinh
tế quốc dân. Để chuyển đổi hình tăng trưởng, cần từ bỏ cách đề ra
chỉ tiêu tăng trưởng hiện nay mà chuyển sang một tập hợp các chỉ tiêu
kinh tế - xã hội, trong đó đề cao các chỉ tiêu về hiệu quả như tăng năng
suất lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, tài nguyên, v.v...;
tôn trọng tính đa dạng của các đặc điểm kinh tế - hội, địa lý, địa hình
của các địa phương; hướng tới tăng trưởng xanh, bền vững. Chính
muốn đạt chỉ tiêu tăng trưởng cao, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ
để bằng hơn các địa phương khác nên tỉnh nào cũng lập khu, cụm
công nghiệp, cảng, sân bay với hiệu quả rất thấp về kinh tế - hôi
nhưng lại rất có lợi cho lợi ích nhóm, ăn chênh lệch giá đất. Nếu không
thay đổi duy này các luật liên quan như Luật Đất đai thì khó
thể tác động đến “tư duy nhiệm kỳ” “lợi ích nhóm”. vậy, cần
271
có thay đổi mạnh mẽ từ hệ thống chỉ tiêu, hệ thống đánh giá, kế hoạch
hóa mới thay đổi được mô hình tăng trưởng, mới tạo cơ hội cho mỗi địa
phương phát triển phù hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế - hội của
mình. Nhật Bản nước đất chật, người đông, công nghiệp hóa rất cao
nhưng nhiều địa phương vẫn duy trì được môi trường, phong cảng, sắc
thái riêng, không biến cả nước thành đại công trường như nước ta. Các
nước khác như Mỹ, Thụy Điển cũng vậy, không phải mọi nơi đều phải
công nghiệp hóa bằng mọi giá.
(ii) Phải thay đổi tư duy “kinh tế nhà nước là chủ đạo” vì điều này
ràng không hiệu quả trong thực tế, mâu thuẫn với cam kết cạnh tranh
bình đẳng theo luật pháp. Trong khi dựa vào “kinh tế nhà nước chủ
đạo”, xây dựng các tập đoàn kinh tế thành “quả đấm thép”, là “công cụ
ổn định kinh tế mô” thì thực tế cho thấy tình trạng kém hiệu quả, lãng
phí, thua lỗ, thất thoát của các tập đoàn kinh tế nhà nước nguyên nhân
dẫn đến đầu tư cao nhưng hiệu quả thấp, nợ công tăng lên, các tập đoàn
độc quyền tăng giá không kiểm soát được (giá điện, giá xăng), chi phí
xây cầu, đường cao tốc cao quá mức so với thế giới, chưa dùng đã hỏng,
làm tăng chi phí,giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.
Trong khi về hình thức luôn nhấn mạnh “kinh tế nhà nước chủ đạo”
thì các công ty sân sau của con, cháu, thân quen của lãnh đạo các cấp
đều là kinh tế tư nhân. Các công ty sân sau này đang đem lại lợi nhuận
hợp pháp cho nhân, phần lỗ do các công ty nhà nước chịu. Việc dùng
các tập đoàn kinh tế, công ty nhà nước để bù lỗ, ổn định giá đều quá tốn
kém, không hiệu quả bị chia chác trong “lợi ích nhóm”. Hoàn toàn
thể trả chi phí vận tải cho các công ty nhân tham gia vận chuyển
lên miền núi, vùng sâu, vùng xa, chi trả chênh lệch tiền điện trực tiếp
cho người dân thay vì bù lỗ và chỉ sử dụng các công ty nhà nước. Thực
tế mất ổn định kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua hoàn
toàn bác bỏ vai trò là công cụ “ổn định kinh tế vĩ mô” của các tập đoàn
kinh tế tổng công ty nhà nước. Nếu các tập đoàn kinh tế nhà nước,
công ty nhà nước công cụ hữu hiệu để ổn định kinh tế thì tại
sao tình hình kinh tế vĩ mô mất ổn định gay gắt, kéo dài như hiện nay?