TIỂU LUẬN:
Một số giải pháp đầu tư thúc đẩy
sự phát triển của ngành công
nghiệp điện tử Hà Nội
Lời nói đầu
Ngành CNĐT Việt Nam nói chung ngành CNĐT Nội nói riêng bắt đầu
được xây dựng từ những năm 1960 nhưng chỉ sau khi thống nhất đất nước, đặc biệt
từ khi thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, ngành CNĐT mới phát triển nhanh
chóng, góp phần không nhỏ vào những thành tựu chung của cả nước. Nhờ áp dụng
những tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, tranh thủ đầu nước ngoài, chỉ trong
một thời gian tương đối ngắn, chúng ta đã sản xuất được nhiều sản phẩm điện tử tin
học- viễn thông phục vụ nhu cầu trong nước và bước đầu đã có xuất khẩu. Hiện nay,
ngành CNĐT Việt Nam được đánh gngành tiềm năng phát triển trong quá
trình hội nhập quốc tế cùng cả nước.
Thủ đô Nội với vai trò trái tim của cả nước, đầu não chính trị, hành
chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế giao dịch
quốc tếđã, đang sẽ phải đi đầu trong sự nghiệp CNH HĐH nên ngành CNĐT
luôn được đặt trong số những ngành được ưu tiên phát triển. Nghị quyết 15-NQ/TW
của Bộ chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển ngành CNĐT Thủ Đô
Nội trong thời gian 2001- 2010 ghi rõ: Tiếp tục phát triển công nghiệp chọn
lọc, đột phá những ngành hàng, sản phẩm sử dụng công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên
tiến, hàm lượng chất xám cao…Trước mắt ưu tiên một số sản phẩm chủ lực
thuộc các ngành điện - điện tử tin học, kim khí, dệt may, da dày, chế biến
thực phẩm vật liệu mới”. Đại hội Đảng bộ lần thứ 8 tiếp tục khẳng định: Các
ngành công ngiệp chủ lực được xác định theo thứ tự: điện - điện tử thông tin,
kim khí, dệt may da dày, chế biến thực phẩm, nguyên vật liệu”.
Xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá thương mại xu thế chuyển giao công nghệ
nhanh dưới sức ép của tốc độ phát triển khoa học công nghệ hiện nay đã tác động
mạnh đến sự phát triển của thị trường hàng điện tử mỗi quốc gia trên toàn thế
giới. Điều này vừa tạo thuận lợi, vừa gây khó khăn cho sự phát triển của ngành
CNĐT Nội. Một mặt Nội thể xây dựng chiến lược “đi tắt đón đầutrong
công nghệ để nhanh chóng xây dựng hàng điện tử vững mạnh, sức cạnh tranh
trong khu vực và trên thế giới. Nhưng mặt khác, thị trường hàng điện tử Hà Nội còn
non trẻ, các sản phẩm chưa sức cạnh tranh cao, nguy cơ bị thao túng bởi thị
trường hàng điện tử nước ngoài.
Do đó, việc đánh giá đúng thực trạng của ngành CNĐT Nội để từ đó
những giải pháp đầu phát triển ngành một vấn đề hết sức cần thiết. vậy nên
em chọn đề tài: Một số giải pháp đầu tư thúc đẩy sự phát triển của ngành công
nghiệp điện tử Hà Nội ” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
Đề tài được kết cấu gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung
Chương II: Thực trạng ngành CNĐT Hà Nội
Chương III: Một số giải pháp đầu tư thúc đẩy sự phát triển ngành CNĐT Hà Nội
Do vấn đề đầu phát triển ngành CNĐT Nội một vấn đề mới và phức tạp,
điều kiện vsố liệu chưa được cung cấp một cách đầy đủ. Mặt khác, do trình độ và
thời gian hạn chế nên đối tượng phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ bao gồm:
Đối tượng nghiên cứu: ngành CNĐT Nội bao gồm các lĩnh vực sản xuất
thiết bị (điện tử dân dụng, điện tử công nghiệp và chuyên dụng, công nghệ thông tin
và viễn thông), sản xuất vật liệu, linh phụ kiện điện tử, các sản phẩm phần mềm, các
dịch vụ (tin học, điện tử công nghiệp và chuyên dụng, viễn thông).
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm: Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh
trong lĩnh vực điện tử tin học viễn thông thuộc mọi thành phần kinh tế trên địa
bàn Hà Nội (các doanh nghiệp trung ương và địa phương).
Do trình độ còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu xót nhất định.
Kính mong được các thày cô và các bạn góp ý để bài viết được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn thày cô giáo trong bộ môn, đặc biệt là thầy giáo, Thạc
sỹ Từ Quang Phương Trưởng bộ môn kinh tế đầu đã trực tiếp hướng dẫn, giúp
em hoàn thành bài nghiên cứu khoa học này.
Chương I
Những vấn đề lý luận chung
I- những vấn đề lý luận chung về đầu tư
1- Khái niệm đầu tư và đầu tư phát triển
Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư, chúng ta
thể có các cách hiểu khác nhau về đầu tư (còn gọi là hoạt động đầu tư).
Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các
hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu các kết quả nhất định tronh tương
lai lớn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Nguồn lực đó thể
tiền, là tài nguyên thiên nhiên,sức lao động và trí tuệ.
Những kết quả đó thể sự gia tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài
sản vật chất (Nhà máy, đường xá…) nguồn nhân lực đủ điều kiện để làm việc
với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội.
Trong các kết quả đạt được trên đây, những kết quả tài sản vật chất,tài sản trí
tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi lúc, mọi nơi, không
chỉ đối với người bỏ vốn mà còn đối với cả nền kinh tế. Những kết quả này không
chỉ người đầu tư mà cả nền kinh tế đều được thụ hưởng.
Theo nghĩa hẹp thì đầu chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở
hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế hội những kết quả trong tương lai lớn hơn
các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó.
Như vậy, nếu xem xét trong phạm vi một quốc gia thì chỉ các hoạt động sử
dụng các nguồn lực hiện tại để trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất, nguồn nhân
lực và tài sản trí tuệ hoặc duy trì hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực sẵn
thuộc phạm trù đầu tư phát triển.
Từ đây, ta có định nghĩa về đầu tư phát triển như sau:
Đầu phát triển hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật
chất, lao động trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua
sắm trang thiết bị lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn
nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài
sản này nhằm duy trì tiềm lực của các sở đang tồn tại tạo tiềm lực mới cho
nền kinh tế hội, tạo việc làm nâng cao đời sống của mọi thành viên trong
xã hội.
2- Đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển
Hoạt động đầu phát triển các đặc điểm khác biệt với các loại hình đầu
khác là
Thứ nhất: Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi một số vốn lớn nằm khê
động trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Tiền, vật tư, lao động cần huy động cho
một công cuộc đầu rất lớn phải sau một thời gian khá dài thực hiện đầu
chúng mới phát huy tác dụng.
Thứ hai:Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu cho đến khi các thành quả
của phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy
ra.
Thứ ba:Thời gian cần hoạt động để thể thu hồi đủ vốn đã bỏ ra đối với các
sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thường đòi hỏi nhiều năm tháng
do đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực tiêu cực của các yếu tố
không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế.
Thứ tư: Các thành quả của hoạt động đầu phát triển giá trị sử dụng lâu dài,
nhiều năm tháng, khi hàng ngàn năm và thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các công
trình kiến trúc nổi tiếng thế giới như kim tự tháp Ai Cập, Vạn Trường Thành
Trung Quốc, Ăngco Vat Campuchia..Điều này nói lên giá trị to lớn của các thành
quả đầu tư phát triển
Thứ năm: Các thành quả của hoạt động đầu phát triển các công trình xây
dựng sẽ hoạt động ngay tại nơi được tạo dựng nên. Do đó các điều kiện về địa
hình, thời tiết tại đó ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu cũng như tác
dụng sau này của các kết quả đầu tư.
Thứ sáu: Mọi thành quả hậu quả của quá trình thực hiện đầu chịu ảnh
hưởng nhiều của các yếu tố không ổn định theo thời gian điều kiện địa của
không gian.