
Hội thảo khoa học Quốc gia Quản lý tài nguyên, môi trường
và phát triển bền vững vùng Tây Bắc, Việt Nam
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH
ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH TỈNH HÒA BÌNH
Đoàn Thanh Hải
Trường Đại học Tây Bắc
Email: doanthanhhaikt@utb.edu.vn
Tóm tắt: Xu hướng du lịch hiện nay đang dịch chuyển sang các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, khám phá thiên nhiên,
bản sắc văn hóa,… Du lịch Hòa Bình hấp dẫn du khách bởi những nét văn hóa vô cùng đặc sắc của các dân tộc miền
núi đang sinh sống tại đây và vẻ đẹp của thiên nhiên nơi đây cũng mang lại cho tỉnh Hòa Bình một tiềm năng du lịch rất
lớn. Để phát triển du lịch tỉnh Hòa Bình theo hướng bền vững đòi hỏi sự phối hợp của nhiều bên khác nhau như các nhà
quản lý, các doanh nghiệp, các tổ chức,… Từ đó, việc liên kết các doanh nghiệp theo hướng phát triển chuỗi dịch vụ du
lịch là xu hướng tất yếu. Bài viết tập trung vào phân tích những nhân tố ảnh hưởng và thực trạng liên kết giữa các
doanh nghiệp kinh doanh du lịch tại tỉnh Hòa Bình và đề xuất một số giải pháp tăng cường liên kết để hướng tới phát
triển bền vững du lịch tỉnh Hòa Bình.
Từ khóa: Liên kết doanh nghiệp, Doanh nghiệp du lịch, phát triển bền vững.
1. GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch đã được quan tâm nghiên cứu và áp dụng
trong thực tiễn. Hoạt động du lịch sẽ không thể phát triển có hiệu quả nếu không quan tâm đầy đủ đến khía cạnh
không gian (lãnh thổ) của du lịch. Đó là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở
dịch vụ có liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch, kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ
thuật và các nhân tố khác nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường, hướng đến sự phát
triển bền vững (Phạm Trung Lương, 2016).
Liên kết phát triển kinh tế - xã hội cũng như liên kết vùng du lịch bao hàm liên kết phát triển nội vùng và liên
kết phát triển liên vùng. Du lịch là một ngành kinh tế về dịch vụ, có tính chất tổng hợp liên ngành, liên vùng và
tính xã hội hóa rất cao. Việc liên kết này dựa trên cơ sở phân công lao động với các lợi thế so sánh giữa các vùng,
tiểu vùng nhằm nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng và cả nước. Liên kết phát triển vùng
du lịch cho phép khai thác lợi thế tương đối của các địa phương tham gia liên kết về tài nguyên du lịch, về cơ sở
hạ tầng và các nguồn lực cho phát triển du lịch. Mặt khác, liên kết phát triển vùng, tiểu vùng du lịch còn là nhân tố
quan trọng để làm tăng khả năng cạnh tranh trong việc thu hút các nguồn lực đầu tư cho du lịch, thu hút khách du
lịch đến vùng du lịch với tư cách là một điểm đến thống nhất và đến lãnh thổ của từng địa phương liên kết. Vì vậy,
liên kết vùng, tiểu vùng phát triển du lịch là một tất yếu khách quan để phát triển du lịch bền vững trong điều kiện
phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Ngày nay, thị hiếu về du lịch đang có xu hướng dịch chuyển sang loại hình du lịch khám phá thiên nhiên, bản
sắc văn hóa và tìm về những giá trị nhân văn. Ở khu vực Tây Bắc nói chung và tỉnh Hòa Bình nói riêng, các sản
phẩm văn hóa du lịch thường tập trung vào các nhóm sau: Giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc Tây Bắc như lễ
hội, phong tục tập quán các dân tộc,…; Danh lam thắng cảnh như hang động, suối khoáng, khu rừng đặc dụng,
lòng hồ,…; Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, nghỉ cuối tuần,…
Phát triển du lịch bền vững là phải đóng góp về mặt kinh tế, tạo thu nhập ổn định cho cộng đồng địa phương
và các bên hữu quan, cải thiện chất lượng cuộc sống, đồng thời bảo tồn và quản lý các nguồn tài nguyên, giảm
thiểu tác động tiêu cực đến các nguồn lợi tự nhiên và môi trường, không gây hại đến cấu trúc xã hội, văn hóa cộng
đồng địa phương. Để phát triển du lịch bền vững cần sự tham gia và phối hợp của nhiều bên khác nhau như các
nhà quản lý, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch (KDDL) như: kinh doanh lữ hành, khách sạn, nhà hàng, các nhà
cung cấp các dịch vụ giải trí, các điểm tham quan du lịch,... Trong đó, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch đóng
góp quan trọng.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch đang hoạt động theo mục tiêu
chính là lợi nhuận của doanh nghiệp và thường không muốn chia sẻ các dịch vụ trong cùng nhóm với nhau để làm
hài lòng khách hàng hay thỏa mãn lợi ích chung của cộng đồng. Chẳng hạn, các khách sạn, khu nghỉ dưỡng
thường muốn khách ăn uống tại nhà hàng của mình để tăng doanh thu hơn là giới thiệu, quảng bá cho du khách

448 Đoàn Thanh Hải
các điểm ăn uống, các món ẩm thực do các nhà hàng khác phục vụ. Giữa các đơn vị kinh doanh lữ hành và các
điểm tham quan, các cơ sở cung cấp dịch vụ ẩm thực, nghỉ dưỡng, đồ lưu niệm chưa có sự chủ động liên kết chặt
chẽ để chia sẻ dịch vụ,... Những hạn chế trên đang là rào cản trong việc tạo ra các sản phẩm du lịch có sức cạnh
tranh cao. Một khi các đơn vị cung cấp dịch vụ riêng lẻ cạnh tranh loại trừ nhau sẽ dẫn tới việc kinh doanh manh
mún, không chuyên nghiệp kéo chất lượng xuống thấp.
Từ đó, việc liên kết phát triển giữa các doanh nghiệp KDDL để tạo ra các sản phẩm du lịch đa dạng dựa trên
các không gian du lịch sẵn có và những sản phẩm dịch vụ đặc trưng mang bản sắc văn hóa Tây Bắc nói chung và
tỉnh Hòa Bình nói riêng là rất cần thiết. Đồng thời, liên kết sẽ giúp tăng cường năng lực cạnh tranh không chỉ đối
với du lịch trong vùng mà còn đối với các bên có liên quan nhằm thu hút đầu tư, thu hút khách du lịch,… Đây là
yếu tố quan trọng để phát triển du lịch trong cơ chế thị trường, khi yếu tố cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt
giữa các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp KDDL nói riêng.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Khảo sát bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp và bằng thư. Đối tượng được
hỏi chủ yếu là Ban Giám đốc và Trưởng phòng Phòng Kinh doanh hoặc Phòng Kế hoạch. Nhằm phân tích tình
hình hoạt động, nhóm nghiên cứu đã thiết kế bảng phỏng vấn trực tiếp để thu thập các loại dữ liệu sau: Đặc điểm
chung về doanh nghiệp như: Thời gian hoạt động, loại hình doanh nghiệp, số lượng lao động, hoạt động kinh
doanh. (2) Thực tế hoạt động liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch.
- Thu thập dữ liệu: Việc thu thập dữ liệu khảo sát được thực hiện trong tháng 8 - 9 năm 2017.
- Phương pháp phân tích dữ liệu: Nghiên cứu sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Khái quát về các doanh nghiệp kinh doanh du lịch tại tỉnh Hòa Bình
Theo Báo cáo kết quả công tác du lịch năm 2018 của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình. Trên địa
bàn toàn tỉnh đã có 29 khu, điểm du lịch; 378 cơ sở lưu trú du lịch trong đó: 5 khách sạn đạt tiêu chuẩn 3 sao; 18
khách sạn 2 sao; 12 khách sạn 1 sao; 238 nhà nghỉ đạt chuẩn kinh doanh dịch vụ lưu trú, 120 hộ kinh doanh nhà
nghỉ du lịch cộng đồng.
Trong đó, theo kết quả khảo sát tại 30 doanh nghiệp đã đăng ký và đang hoạt động kinh doanh du lịch, tập
trung chủ yếu tại thành phố Hòa Bình, thị trấn Mai Châu và huyện Kim Bôi và một số huyện khác.
Bảng 1. Tổng hợp các doanh nghiệp theo thời gian hoạt động, quy mô và loại hình doanh nghiệp
Tiêu chí Số doanh nghiệp Tỷ lệ %
Thời gian hoạt động
Trên 10 năm 6 23,5
5 - 10 năm 15 53
1 - 5 năm 9 23,5
Quy mô doanh nghiệp
Vừa 14 41,1
Nhỏ 16 59,9
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH 14 47,1
Công ty Cổ phần 12 41,1
DNTN 3 5,9
Khác 1 5,9
(Nguồn: Tổng hợp từ tài liệu khảo sát)
Qua bảng 1, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch tại tỉnh Hòa Bình đều là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong
đó các doanh nghiệp nhỏ chiếm tới 59,9 %; Thời gian hoạt động của các doanh nghiệp đa số từ 5 năm trở lên và
tập trung chủ yếu vào 2 loại hình doanh nghiệp là công ty TNHH và công ty cổ phần.

Giải pháp tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp du lịch 449
để phát triển bền vững du lịch tỉnh Hòa Bình
Hình 1. Biểu đồ các loại hình doanh nghiệp khảo sát
Bên cạnh đó lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của các doanh nghiệp là kinh doanh lưu trú và kinh doanh ăn uống
(chiếm tới 88 % tổng số doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn), còn lại số ít các doanh nghiệp kinh doanh
lữ hành và vui chơi giải trí.
Tổ chức Du lịch Thế giới đã áp dụng hệ thống thống kê cho các nước thành viên về tổng thu từ du lịch được
tính bằng toàn bộ số tiền mà khách du lịch phải chi trả khi đi thăm một nước khác (trừ chi phí cho việc vận chuyển
hàng không quốc tế). Tuy nhiên, ở nước ta nói chung và tỉnh Hòa Bình nói riêng, hệ thống thống kê chưa được
hoàn chỉnh nên toàn bộ các khoản chi trả của khách du lịch trong toàn bộ chương trình du lịch chưa tập hợp được
đầy đủ và chính xác. Vì vậy, số liệu thống kê sự đóng góp của ngành du lịch trong nền kinh tế có thể chưa được
đầy đủ.
Hình 2. Tổng thu nhập từ hoạt động du lịch tỉnh Hòa Bình từ năm 2013
đến năm 2018 (đơn vị tính: triệu đồng)
(Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình)
Theo kết quả báo cáo, năm 2018, toàn tỉnh đã đón 2,5 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế là 310.000 lượt,
khách nội địa là 2,24 triệu lượt khách; Tổng thu nhập từ hoạt động du lịch là 1.464 triệu đồng.
3.2. Thực tế liên kết phát triển giữa các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
3.2.1. Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến liên kết phát triển du lịch
Những nhân tố từ phía cầu du lịch
Nếu các địa phương muốn liên kết phát triển du lịch hiện đang khai thác các thị trường mục tiêu có đặc điểm
tương đồng nhau, việc triển khai liên kết phát triển du lịch sẽ gặp thuận lợi hơn. Ngược lại, nếu các địa phương
0
200
400
600
800
1,000
1,200
1,400
1,600
2013 2014 2015 2016 2017 2018
Thu nhập từ hoạt động du lịch
Hòa Bình

450 Đoàn Thanh Hải
đang khai thác các thị trường mục tiêu có đặc điểm rất khác nhau, việc triển khai liên kết phát triển du lịch sẽ
khó khăn hơn.
Những nhân tố từ phía cung du lịch
Sự khác nhau trong chủ trương, chiến lược, chính sách phát triển du lịch nếu các địa phương muốn liên kết
phát triển du lịch không có những điểm tương đồng trong chủ trương, chiến lược, chính sách về phát triển du lịch
thành ngành kinh tế trọng điểm, ngành kinh tế mũi nhọn; Về sự cần thiết phải liên kết theo xu hướng đa dạng hóa
sẽ gặp khó khăn trong việc triển khai các hoạt động liên kết phát triển du lịch.
Cơ sở vật chất hạ tầng xã hội và các dịch vụ bổ trợ (đặc biệt là dịch vụ vận chuyển, ngân hàng - tài chính, bưu
chính - viễn thông, y tế,…) không đồng bộ sẽ khó có thể đảm bảo việc kết nối các điểm du lịch tại các địa phương
khác nhau trong tuyến du lịch.
Công tác quản lý điểm đến du lịch tại các địa phương có mức độ rất khác nhau. Có địa phương công tác này
được thực hiện rất tốt: cảnh quan, môi trường sạch đẹp, không có tệ nạn các doanh nghiệp bắt chẹt khách, người
dân đeo bám khách,… Song, có địa phương công tác này được thực hiện rất lỏng lẻo, gây rất nhiều phiền hà cho
khách. Do vậy, để đảm bảo chữ tín có nhiều doanh nghiệp không muốn đưa khách của mình đến các điểm đến có
công tác quản lý không tốt. Đây là một nhân tố rất quan trọng mà các địa phương khi muốn liên kết phát triển du
lịch cần quan tâm.
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch không đa dạng, có chất lượng không đồng đều để đáp ứng các đối tượng khách
hàng khác nhau. Hiện nay, việc đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tại các điểm đến của Việt Nam nói
chung và của Hòa Bình nói riêng rất khác nhau. Tại nhiều điểm đến, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho đối tượng
khách du lịch có khả năng chi trả cao, đòi hỏi chất lượng dịch vụ cao còn rất thiếu. Đây cũng là một vấn đề mà
mỗi địa phương khi muốn liên kết phát triển du lịch cần cân nhắc, cần dựa trên các đặc điểm của nguồn khách mà
lựa chọn các địa phương để liên kết cho phù hợp.
Trình độ không đồng đều của nhân lực du lịch. Thực tế hiện nay cho thấy, chất lượng phục vụ du lịch tại các điểm
đến của các tỉnh khu vực phía Bắc hiện nay còn rất hạn chế. Chất lượng phục vụ, đặc biệt là thái độ phục vụ của nhân
viên là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách, ảnh hưởng đến chất lượng các dịch vụ thành
phần trong chương trình du lịch, từ đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng của chương trình du lịch bao gồm các điểm đến
khác nhau trên địa bàn của các địa phương liên kết phát triển du lịch.
3.2.2. Thực tế liên kết phát triển bền vững du lịch tỉnh Hòa Bình
Du lịch tỉnh Hòa Bình trong thời gian qua cũng đã đẩy mạnh liên kết nội vùng, liên vùng trong thực hiện quy
hoạch, phát triển các sản phẩm du lịch. Tập trung phát triển sản phẩm du lịch đặc thù gắn với đẩy mạnh xúc tiến
quảng bá, phát triển thương hiệu du lịch Tây Bắc; Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, gắn kết giữa các hình thức
du lịch văn hóa, cảnh quan thiên nhiên, tâm linh, du lịch sinh thái, du lịch hướng về lịch sử, cách mạng,…
Theo kết quả khảo sát, mặc dù các doanh nghiệp đánh giá sự liên kết, hợp tác là quan trọng khi được hỏi, tuy
nhiên trong thực tế việc hợp tác giữa các doanh nghiệp lữ hành với các tổ chức khác còn hạn chế. Nhiều doanh
nghiệp nhấn mạnh rằng, do thiếu sự kết hợp giữa các doanh nghiệp lữ hành với các tổ chức hoạt động KDDL khác
như: dịch vụ vận chuyển, khách sạn, nhà hàng, các điểm tham quan,… cho nên đôi khi giá của dịch vụ cũng như
phí tham quan có thể bị biến động nằm ngoài kiểm soát gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong quá trình hoạt
động. Mặt khác, sự thiếu liên kết và giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước đã dẫn đến hiện tượng
làm tăng sự cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các doanh nghiệp kinh doanh du lịch. Đồng thời, tỉnh có thành lập
hiệp hội du lịch nhưng hoạt động chưa thực sự chuyên nghiệp, chưa tập trung và liên kết được các doanh nghiệp,
nguồn lực còn hạn hẹp. Một số doanh nghiệp của tỉnh hoạt động trong lĩnh vực du lịch còn nhỏ lẻ, chưa bền vững
và chưa đủ sức vươn tới các thị trường ngoài tỉnh. Kết quả cụ thể như sau:
Thứ nhất, ngành kinh doanh du lịch trên địa bàn vẫn chưa khai thác được hiệu quả tương xứng với tiềm năng
du lịch hết sức phong phú và độc đáo của tỉnh. Lượng khách du lịch đến địa bàn vẫn còn rất khiêm tốn so với các
địa phương khác ở khu vực phía Bắc. Việc đầu tư phục vụ phát triển du lịch còn nhiều yếu kém, thiếu đồng bộ,
chủ yếu đầu tư vào dịch vụ lưu trú, trong khi đó còn thiếu các loại hình dịch vụ bổ trợ khác như: khu vui chơi cho
du khách, vận chuyển bằng đường thủy,… Hoạt động quảng bá, xúc tiến đầu tư của tỉnh chưa đạt được kết quả
như mong muốn, các dự án đầu tư còn nhỏ lẻ nên sức cạnh tranh yếu. Vì vậy, sản phẩm du lịch còn nghèo nàn,
đơn điệu, thiếu hấp dẫn sơ với các trung tâm du lịch khác trong khu vực.
Thứ hai, hầu hết các doanh nghiệp chưa có nhận thức đầy đủ và đúng đắn về phát triển bền vững. Tỉnh chưa có
quy hoạch và chiến lược phát triển du lịch của tỉnh một cách cụ thể, rõ ràng đối với các điểm du lịch, chưa phát
huy được vai trò của Hiệp hội Du lịch trong việc phối hợp, liên doanh, liên kết giữa các tổ chức, đơn vị KDDL,

Giải pháp tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp du lịch 451
để phát triển bền vững du lịch tỉnh Hòa Bình
xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh trên địa bàn. Vì vậy, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch mới chỉ
dừng lại ở việc quan tâm tới lợi nhuận của doanh nghiệp, đây là một trong những trở ngại lớn nhất ảnh hưởng đến
mục tiêu phát triển du lịch bền vững.
Thứ ba, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn: Phương án kinh doanh chưa hấp dẫn, độc đáo; Việc
duy trì có ít nhất ba hướng dẫn viên được cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch quốc tế gặp nhiều khó khăn do chính
sách lương thưởng.
Thứ tư, đa số doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở việc thiết kế các tour du lịch thích hợp với từng nhóm du
khách. Đối tượng du khách mà tỉnh hướng tới đó là nhóm du khách có mức chi tiêu trung bình, thích khám phá
thiên nhiên, nghỉ dưỡng, tìm hiểu các giá trị văn hóa truyền thống các tỉnh Tây Bắc. Góp phần giúp cho du
khách có thể trải nghiệm về môi trường thiên nhiên và khám phá về tỉnh Hòa Bình nhiều hơn. Ví dụ, tại Công
ty Cổ phần du lịch Hòa Bình, các tour, tuyến được thiết kế theo từng khu vực như: khu vực long hồ Hòa Bình
với tour du thuyền trên long hồ Hòa Bình; Khu vực Mai Châu - Hang Kia - Pà Cò với các tour 2 - 4 ngày; Khu
Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông với chương trình đi bộ trọn gói từ 2 - 6 ngày,… Vì vậy, các doanh nghiệp chủ
động đào tạo hướng dẫn viên,nhân viên có tiếp xúc với du khách các kiến thức cơ bản về danh lam thắng cảnh
của tỉnh và giá trị của việc bảo tồn nó; khuyến khích các hướng dẫn viên thường xuyên phát triển nghề nghiệp
chuyên môn như tham gia các khóa đào tạo, hội thảo,… Tuy nhiên, việc chú trọng phát triển còn mang tính tự
phát và xuất phát từ chính lợi ích kinh doanh của họ.
Thứ năm, về mặt xã hội, trong lĩnh vực kinh doanh du lịch những cái đã và đang làm được vẫn chưa thật sự
góp phần hiệu quả trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo. Cộng đồng các dân tộc thiểu số, những người đang
sinh sống trên mảnh đất này cũng chưa tham gia nhiều vào hoạt động du lịch và không hưởng nhiều lợi ích từ
sự phát triển của ngành “công nghiệp không khói” trên quê hương mình. Công tác tuyên truyền quảng bá, xúc
tiến du lịch còn yếu kém, chưa đáp ứng với nhu cầu cung cấp thông tin của khách du lịch; Nguồn nhân lực phục
vụ phát triển du lịch vừa thiếu, vừa yếu và còn nhiều bất cập.
3.3. Giải pháp tăng cường liên kết trong phát triển bền vững du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế mang tính liên ngành, nó có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều ngành kinh tế - xã
hội. Chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm du lịch được cung cấp bởi một điểm đến phụ thuộc vào chất lượng
của sự liên kết, hợp tác giữa các chủ thể tham gia vào chuỗi du lịch. Việc gắn kết này đòi hỏi có sự chia sẻ thông
tin giữa các doanh nghiệp trong ngành với nhau. Mục tiêu là tạo nên sự khép kín chương trình về thời gian, sự hài
hòa giữa không gian, sự trộn lẫn giữa nhu cầu hưởng thụ vật chất và nhu cầu thưởng ngoạn tinh thần một cách
thoải mái cho du khách. Để hình thành liên kết chuỗi dịch vụ du lịch, phải giải quyết tốt bài toán lợi ích. Một khi
các bên tham gia đều thấy được mối quan hệ hài hòa giữa chuỗi dịch vụ và chuỗi giá trị, thấy được lợi ích của
mình trong các mối liên hệ, mối liên kết ấy mới có cơ sở phát triển bền vững.
Liên kết là xu hướng tất yếu hiện nay nhằm khai thác tối đa tiềm năng và lợi thể của tỉnh để phát triển du lịch.
Ngoài việc cần duy trì liên kết với 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng, cần đặc biệt chú trọng liên kết với Hà Nội vì đây là
trung tâm phân phối khách lớn nhất miền Bắc.
Để giải quyết các vấn đề tồn tại trong hợp tác liên kết phát triển du lịch trong tỉnh Hòa Bình nói riêng và Hòa
Bình với 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng nói chung cần chú trọng đối với những vấn đề sau:
- Phải có được sự đồng thuận mang tính tự nguyện của các chủ thể liên kết. Khi xem xét đến vấn đề lợi ích cần
có sự bình đẳng giữa các chủ thể, đồng thời kết hợp hài hòa những lợi ích trước mắt và lâu dài.
- Cần có được mô hình liên kết phù hợp với mục tiêu và điều kiện cụ thể của các chủ thể liên quan. Mô hình
này có thể là một liên kết trên cơ sở cam kết không mang tính ràng buộc về pháp lý giữa các chủ thể, hoặc liên kết
trên cơ sở những ràng buộc pháp lý đối với những nội dung liên kết cụ thể. Trong từng mô hình liên kết, cần xác
định rõ chủ thể quyết định đối với phương án thực hiện các nội dung liên kết và phân xử trong trường hợp có tranh
chấp về lợi ích giữa các bên trong quá trình thực hiện liên kết.
- Cần xác định rõ chức năng riêng dựa trên lợi thế đặc thù của từng chủ thể trong không gian liên kết phát triển
điểm đến du lịch chung.
- Cần có lộ trình rõ ràng để thực hiện liên kết với sự ủng hộ và hỗ trợ của chủ thể quản lý cao hơn về lãnh thổ
và chuyên ngành đối với những vấn đề mà năng lực của các bên tham gia liên kết còn hạn chế, đặc biệt đối với
phát triển hạ tầng du lịch, ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng thương hiệu và xúc tiến điểm đến du lịch chung.
Trên cơ sở đó, tỉnh Hòa Bình cần thực hiện các nội dung cụ thể sau:

