KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
Taåp chñ
Kinh tế & Lao động
Söë 1 thaáng 10/2025
78
1. Mở đầu
Du lịch bền vững đã trở thành một xu hướng toàn
cầu, phản ánh nhu cầu đóng góp quan trọng vào tăng
trưởng kinh tế, tạo việc làm và quảng bá hình ảnh quốc
gia. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của ngành cũng đặt
ra nhiều thách thức liên quan đến bảo vệ môi trường,
khai thác tài nguyên bảo tồn giá trị văn hóa địa
phương. Vì vậy, phát triển du lịch bền vững đã trở thành
xu thế tất yếu trên toàn cầu, hướng đến sự cân bằng
giữa lợi ích kinh tế, xã hội môi trường.
Năm 2020, Chính phủ Việt Nam phê duyệt “Chiến
lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030”, tạo
hội cho phát triển du lịch bền vững bao trùm, trên
nền tảng tăng trưởng xanh, tối đa hóa sự đóng góp của
du lịch cho các mục tiêu phát triển bền vững của Liên
Hợp Quốc; quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên
nhiên, bảo vệ môi trường đa dạng sinh học, chủ
động thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc
phòng, an ninh. Do đó, Nội đã Quy hoạch hệ thống
du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên
địa bàn Thành phố tập trung đầu phát triển hạ tầng
du lịch theo hướng đồng bộ, chuyên nghiệp, hiện đại
cũng được đẩy mạnh, trong đó tập trung ưu tiên đẩy
nhanh việc hoàn thiện quy hoạch xây dựng một số dự
án phát triển du lịch trọng điểm tại các khu vực: Ba Vì,
Hương Sơn - Quan Sơn, núi Sóc - hồ Đồng Quan, hồ
Đồng Mô... Nội phấn đấu sớm hình thành phát
triển được trung tâm mua sắm (khu Outlet), công viên
giải trí chuyên đề thương hiệu quốc tế, trung tâm thiết
kế sáng tạo.
PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TẠI CÁC KHU DI TÍCH THẮNG CẢNH
TRONG BỐI CANH TOÀN CẦU HÓA
Ngày nhận: 22/8/2025
Ngày phản biện: 24/9/2025
Ngày duyệt đăng: 15/10/2025
Tóm tắt: Phát triển du lịch bền vững là việc phát triển và quản lý các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách và cộng
đồng nhằm đảm bảo tính khả thi và hiệu quả kinh tế lâu dài, mang lại lợi ích công bằng, đặc biệt là cho cộng đồng địa phương, hạn
chế tối đa tác động tiêu cực, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và cảnh quan. Do đó, phát triển du lịch bền vững đã trở
thành xu hướng tất yếu, nhằm bảo đảm hài hòa giữa lợi ích kinh tế, hội môi trường. Trong khuôn khổ bài viết, tác giả nghiên
cứu điển hình tại khu di tích thắng cảnh Hương Sơn trong bối cảnh toàn cầu hóa, nơi du lịch vừa động lực kinh tế vừa đối mặt
thách thức về môi trường và bảo tồn văn hóa. Trên sở khảo sát thực tế và tổng hợp tài liệu, nghiên cứu đánh giá tiềm năng, thực
trạng, hạn chế và thách thức trong phát triển du lịch tại Hương Sơn, từ đó đề xuất giải pháp nhằm phát triển du lịch tại Hương Sơn
bền vững và hiệu quả.
Từ khóa: Du lịch bền vững, khu di tích và thắng cảnh, phát triển, toàn cầu hóa.
JEL Codes: Q56, Z32, Q57
SUSTAINABLE TOURISM DEVELOPMENT AT HISTORICAL AND SCENIC SITES AMID GLOBALIZATION
Abstract: The development of sustainable tourism refers to the act of developing and managing tourism activities in a manner that
satisfies the demands of tourists and the communities, while ensuring the long-term economic viability and efficiency. Such
development aims to deliver equitable benefits, especially for local communities, while minimizing negative impacts and preserving
the natural resources, biodiversity, and landscapes of the region. Thus, sustainable tourism development has become an inevitable
trend, aiming to secure a harmonious balance between economic, social, and environmental interests. Within the scope of this paper,
the author conducts a case study to analyzes sustainable tourism development at the Huong Son historical and scenic complex in the
context of globalization, where tourism serves as both an economic driver and as a sector facing challenges related to environmental
management and cultural preservation. Based on field surveys and secondary data synthesis, the study evaluates the potentials,
current situation, limitations, and challenges of tourism development in Huong Son, thereby proposing practical solutions to promote
sustainable and effective tourism growth in the area.
Keywords: sustainable tourism, historical and scenic sites, development, globalization.
—————
* Trường Đại học Công đoàn. Email: hoant@dhcd.edu.vn
NguyễN Thị hoa*
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchikinhtelaodong@dhcd.edu.vn
79
Khu di tích thắng cảnh Chùa Hương bao gồm 18
đền, chùa, hang động nằm rải rác trên địa Phận Hương
Sơn, Nội. Các chùa, động đây phần lớn được phát
hiện và xây dựng vào các thế kỷ 17,18,19, được chia làm
4 khu: Khu Hương Thiên, tám di tích: Động Hương
Tích, chùa Thiên Mụ, đền Trình Ngũ Nhạc, chùa Giải
Oan, đền Cửa Võng, chùa Tiên Sơn, chùa Hinh Bồng
động Đai Binh; Khu Thanh Hương, gồm: chùa Thanh
Sơn, động Hương Đài; Khu Long Vân, gồm bốn điểm:
Chùa Long Vân, động Long Vân, động Cây Khế hang
Thanh Hoá; Khu Tuyết Sơn, gồm bốn di tích: chùa Bảo
Đài, động Ngọc Long, chùa Ngư Trì (chùa Cá), đền
Trình Phú Yên.
Ngày nay, Chùa Hương không chỉ một địa điểm
hành hương linh thiêng còn một trong những
điểm du lịch nổi bật của Hà Nội và cả nước. Mỗi năm, từ
mùng 6 tháng Giêng đến hết tháng 3 âm lịch, lễ hội
Chùa Hương được tổ chức thu hút hàng triệu du khách
và phật tử từ khắp nơi đổ về tham gia hành hương.
Tuy nhiên, hoạt động du lịch tại Chùa Hương vẫn
bộc lộ nhiều hạn chế như quy hoạch chưa đồng bộ, ô
nhiễm môi trường, hạ tầng yếu, tình trạng quá tải vào
mùa lễ hội, sản phẩm du lịch thiếu đặc trưng công tác
quảng chưa hiệu quả. Nguồn nhân lực du lịch còn
thiếu kỹ năng nhận thức về phát triển bền vững.
Những hạn chế này ảnh hưởng đến hình ảnh điểm đến,
giảm hiệu quả kinh tế - hội tiềm năng phát triển
dài hạn của khu vực.
Xuất phát từ thực tiễn đó, bài viết lựa chọn nghiên
cứu chủ đề “Phát triển du lịch bền vững tại các khu di
tích thắng cảnh trong bối cảnh toàn cầu hóa” nhằm
phân tích tiềm năng, đánh giá thực trạng, xác định
những hạn chế, thách thức trong quá trình phát triển du
lịch bền vững tại Hương Sơn, từ đó đề xuất các giải pháp
khả thi hướng tới phát triển toàn diện, hiệu quả và thân
thiện với môi trường.
2. Cơ sở lý luận
Quan điểm phát triển du lịch bền vững
Du lịch bền vững xuất hiện từ những năm 1990,
phản ánh xu hướng phát triển du lịch hài hòa giữa kinh
tế, hội môi trường. Theo Hội đồng Du lịch Lữ
hành Thế giới (WTTC, 1996), du lịch bền vững nhằm đáp
ứng nhu cầu hiện tại của du khách cộng đồng địa
phương không làm tổn hại khả năng đáp ứng nhu
cầu đó trong tương lai. Tổ chức Du lịch Thế giới
(UNWTO, 2014) nhấn mạnh, đây hình thức du lịch sử
dụng hợp tài nguyên, bảo tồn di sản văn hóa, tôn
trọng bản sắc địa phương và bảo đảm lợi ích kinh tế -
hội lâu dài cho cộng đồng.
Phát triển du lịch bền vững bắt nguồn từ khái niệm
“phát triển bền vững” của Ủy ban Thế giới về Môi
trường Phát triển (WCED, 1987): “Đáp ứng nhu cầu
của hiện tại không làm tổn hại khả năng đáp ứng
nhu cầu của thế hệ tương lai”. Kế thừa quan điểm đó,
UNWTO (1998) cho rằng phát triển du lịch bền vững
việc tổ chức các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu
cầu hiện tại của du khách cộng đồng địa phương,
đồng thời bảo tồn tôn tạo nguồn lực phục vụ phát
triển trong tương lai.
Tại khoản 14, Điều 3, Luật Du lịch Việt Nam năm
2017: “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng
nhu cầu hiện tại không làm tổn hại đến khả năng
đáp ứng nhu cầu du lịch của các thế hệ tương lai”. Theo
đó, du lịch bền vững không chỉ tối ưu hóa lợi ích kinh tế
còn giảm thiểu tác động tiêu cực lên môi trường
hội. Tóm lại, du lịch bền vững hướng đến ba trụ cột
chính: (1) bảo tồn tài nguyên môi trường, (2) gìn giữ
giá trị văn hóa - hội, (3) bảo đảm lợi ích kinh tế
công bằng, lâu dài.
Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017, “phát triển du
lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời
các yêu cầu về kinh tế - hội môi trường, bảo đảm
hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du
lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu
về du lịch trong tương lai” (Khoản 14, Điều 3). Quan
điểm này được cụ thể hóa qua nhiều chủ trương, chính
sách của Đảng Nhà nước, nổi bật Chiến lược phát
triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 (Quyết định số
147/QĐ-TTg, 2020), Nghị quyết số 82/NQ-CP (2023) về
thúc đẩy phát triển du lịch bền vững và Chỉ thị số 08/CT-
TTg (2024) về phát triển du lịch toàn diện, nhanh và bền
vững. Các văn bản này đều nhấn mạnh yêu cầu phát
triển du lịch gắn với tăng trưởng xanh, bảo vệ môi
trường và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.
Theo Luật Di sảnn a năm 2024, “di tích lch sử
- văn hóa ng trình kiến trúc, ngh thuật, cụm
ng trình xây dựng, địa điểm, di chỉ khảo cổ hoặc cấu
trúc có tính chất khảo cổ hc; di vật, cổ vật, bảo vật
quốc gia thuộc công trình, cụm ng tnh, địa điểm,
di chỉ hoặc cấu trúc đó, giá trị lịch sử, văna, khoa
học” (Khoản 3, Điều 3); “danh lam thắng cảnh cảnh
quan thiên nhiên hoặc cảnh quan thiên nhiên, địa
điểm có skết hợp với công tnh kiến tc có giá tr
lịch sử, khoa học, thẩm mỹ”. (Khoản 4, Điều 3) Luật
quy định tch nhiệm của Nhà ớc, tổ chức và cá
nhân trong việc bảo vệ, khai tc, phát huy giá trị di
sản theo hướng bền vững; coi đây là nguồn lực văn
a lâu dài, không thể tái tạo. Trong bối cảnh tn
cầu a, các khu di ch và thắng cảnh kng chỉ là i
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
Taåp chñ
Kinh tế & Lao động
Söë 1 thaáng 10/2025
80
sản của quốc gia mà còn là một phần của di sản nhân
loại, góp phần thúc đẩy giao lưu, hợp tác quốc tế
quảng bá hình ảnh đất nước. Quan điểm phát triển du
lịch bền vững nhấn mạnh sự hài hòa giữa bảo tồn di
sản với phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo cho di tích
được gìn giữ nguyên giá trị gốc, cảnh quan môi
trường được bảo vệ, đồng thời nâng cao đời sống của
cộng đồng địa phương.
Vấn đề bảo tồn, phát huy gtrdi tích lịch sử
danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Chùa Hương trở
thành điểm du lịch bền vững trong bối cảnh toàn cầu
hóa hết sức quan trọng. Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Quyết định số: 380/QĐ-TTg, ngày 13/4/2023 Phê
duyệt Nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục
hồi di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh quốc gia đặc
biệt Quần thể Hương Sơn (Chùa Hương), huyện Mỹ
Đức, thành phố Nội với tổng diện tích 4.960,06
ha, bao gồm: Diện tích Khu vực bảo vệ I là 2.759,32 ha;
diện tích khu vực bảo vệ II 1.198,81 ha (theo Bn
bản và bản đồ khoanh ng c khu vực bảo vệ di tích
quốc gia đặc biệt Quần thể Hương Sơn) khu vực
nghiên cứu, dự kiến mở rộng vùng phụ cận nhằm phát
huy g tr diện tích
là 981,93 ha.
Đồng thời, thành
ph Hà Ni đã quy
hoạch phát triển khu di
tích lịch sử danh lam
thắng cảnh Hương Sơn
nhm phát trin du
lịch bền vững như: Dự
án đầu đưng Tỉnh
l 425 t Quc lộ 21B
đi vào khu thng cnh
di tích Chùa Hương;
quy hoạch bảo quản,
tu bổ Chùa Hương
xây dựng Bảo tàng bia
Nội... Nội phấn
đấu đến năm 2030, xây
dựng Chùa Hương
thành Khu du lịch
quốc gia.
Phương pháp
nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng
cách tiếp cận liên ngành
kết hợp giữa định tính
định lượng. Dữ liệu
được thu thập từ khảo
sát 195 người dân, du khách cán bộ quản khu di
tích, phỏng vấn chuyên gia, thu thập phân tích báo
cáo của các cơ quan quản lý và tổng hợp tài liệu thứ cấp
từ các văn bản, chiến lược và công trình nghiên cứu liên
quan. Kết quả nghiên cứu kỳ vọng góp phần cung cấp
luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoạch định chính
sách phát triển du lịch bền vững tại Hương Sơn, đồng
thời hỗ trợ quá trình hiện thực hóa mục tiêu phát triển
du lịch xanh, văn minh bền vững của Thủ đô Nội
nói riêng Việt Nam nói chung.
Tiêu chí phát triển bền vững
Du lịch bền vững xu thế toàn cầu song khái niệm
du lịch bền vững mỗi khu vực, mỗi quốc gia, mỗi địa
phương được hiểu đánh giá không hoàn toàn giống
nhau. Do vậy chưa những thước đo thống nhất để
đánh giá, minh chứng triển khai du lịch bền vững.
Góp phần giải quyết vấn đề này, Hội đồng Du lịch Bền
vững Toàn cầu gọi tắt GSTC - Global Sustainable
Tourism Council đã xây dựng ban hành bộ tiêu chí
Du lịch Bền vững Toàn cầu gọi tắt GSTC - Global
Sustainable Tourism Criteria, cuthể:
Bảng 1. Tiêu chí du lịch bền vững toàn cầu
Nguồn: GSTC (2019).
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchikinhtelaodong@dhcd.edu.vn
81
Như y, để đánh giá thực trạng phát triển du lịch
bền vững tại các khu di tích, danh thắng như Hương
Sơn, cần tập trung vào ba nhóm nội dung trọng tâm
phản ánh tính đặc thù định hướng phát triển của
điểm đến:
- Phát triển loại hình du lịch sản phẩm dịch vụ:
Đánh giá mức độ đa dạng, hiệu quả và tính phù hợp của
các loại hình kinh doanh - thương mại, dịch vụ phụ trợ,
hoạt động trải nghiệm, giáo dục nghỉ dưỡng với đặc
điểm văn hóa - tâm linh của khu di tích.
- Bảo tồn di sản xây dựng thương hiệu điểm đến:
Đánh giá hiệu quả công tác bảo tồn, trùng tu di tích,
phát huy giá trị di sản văn hóa, gắn với xây dựng thương
hiệu sản phẩm du lịch đặc trưng, tổ chức các lễ hội, sự
kiện quảng bá du lịch có kế hoạch, an toàn, và mang giá
trị văn hóa cao.
- Quản lý môi trường hạ tầng du lịch: Xem xét hệ
thống phòng cháy chữa cháy, thoát nước thải, thu gom
và xử lý chất thải rắn, công tác quản lý môi trường cảnh
quan, bảo vệ sinh thái kiểm soát tải khách để bảo
đảm sự phát triển bền vững lâu dài.
3. Nghiên cứu trường hợp điển hình về phát triển
du lịch bền vững tại Khu Di tích thắng cảnh
hương Sơn, Thành phố hà Nội
Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
Nội hiện 5.922 di tích lịch sử, văn hóa, trong
đó, Chùa Hương nằm trong 11 di tích quốc gia đặc biệt
tại Hà Nội. Chùa Hương là cả một quần thể văn hóa - tôn
giáo, gồm nhiều ngôi chùa, đền, đình... Khu di tích
thắng cảnh Chùa Hương được Thủ tướng Chính phủ
xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số
2082/QĐ-TTg ngày 25/12/2017, được công nhận khu du
lịch cấp thành phố theo Quyết định số 4990/QĐ-UBND
ngày 24/9/2024 của UBND Thành phố Nội, thắng
cảnh Hương Sơn (Chùa Hương) một trong nhiều điểm
du lịch nổi tiếng của Thủ đô Nội, một địa điểm du
lịch tâm linh nổi tiếng, lễ hội kéo dài nhất nước. Đây
những giá trị to lớn để phát triển du lịch. Kết quả khảo
sát cho thấy hệ thống dịch vụ du lịch tại Chùa Hương
được phát triển đa dạng, đáp ứng nhu cầu khác nhau
của du khách cộng đồng, thu hút hàng triệu lượt
khách về thăm quan mỗi năm, đóng góp vào ngân sách
Nhà nước hàng trăm tỷ đồng.
Bảng 2. Các loại hình dịch vụ du lịch phát triển kinh tế
Nguồn: Khảo sát của tác giả
Dịch vụ vận chuyển chiếm tỷ lcao nhất với 30,1%
(172 lựa chọn), phản ánh đặc thù địa hình sông núi của
khu di tích, nơi du khách ch yếu di chuyển bằng
thuyền, cáp treo hoặc đường bộ. Tiếp theo kinh
doanh đặc sản, quà u niệm (16,3%) ẩm thực
(15,9%), thể hiện nhu cầu mua sắm trải nghiệm văn
hóa m thực địa phương. Các dịch vụ mang yếu ttín
ngưỡng nviết sớ, bán đồ lễ chiếm 13,5%, cho thấy
vai trò quan trọng của du lịch tâm linh tại Chùa Hương.
Hướng dẫn du lịch đạt 12,9%,p phần nâng cao chất
lượng trải nghiệm hiểu biết về gtrị di sản; trong
khi lưu trú chiếm 11,4%, phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi dài
ngày. Nhìn chung, sự đa dạng dịch vụ không chlàm
phong p trải nghiệm du khách mà còn thúc đẩy
phát triển kinh tế - hội địa phương, khẳng định vị
thế của Chùa Hương như một điểm đến du lịch tổng
hợp, kết hợp hài a yếu t tâm linh, văn hóa và
thương mại.
Bên canh dich vuphong phú, khu di tích thắng
cảnh Hương Sơn cung cấp đa dạng các loại hình du lịch.
Cụ thể:
Bảng 3: Mức độ trải nghiệm của người dân đối với các
loại hình du lịch tại Chùa Hương
(Tỷ lệ %)
Nguồn: Khảo sát của tác giả
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
Taåp chñ
Kinh tế & Lao động
Söë 1 thaáng 10/2025
82
Kết quả khảo sát cho thấy các loại hình du lịch tại
Chùa Hương khá đa dạng, phản ánh xu hướng kết hợp
giữa tâm linh, văn hóa và trải nghiệm. Nổi bật nhất là du
lịch văn hóa - lịch sử, với 81,0% du khách thường xuyên
tham gia, phù hợp với đặc trưng của quần thể di tích
tâm linh gắn liền lịch sử tín ngưỡng dân gian. Bên
cạnh đó, du lịch ẩm thực (51,3%) du lịch khám phá
(54,4%) cũng thu hút tỷ lệ cao, thể hiện nhu cầu trải
nghiệm văn hóa - cảnh quan ngày càng tăng.
Ngược lại, du lịch nghỉ dưỡng chủ yếu mức thỉnh
thoảng (82,0%), phản ánh hạn chế về hạ tầng lưu trú.
Các loại hình giải trí (30,3%), teambuilding (23,6%)
MICE (28,7%) mức độ tham gia thấp, do thiếu đầu
chưa phù hợp với khách hành hương. Du lịch thể
thao và mạo hiểm ít được lựa chọn (hiếm khi trên 45%).
Nhìn chung, du lịch văn hóa - lịch sử vẫn thế mạnh
chủ đạo của Chùa Hương, trong khi các loại hình khác
cần được đầu tư có định hướng để tăng tính đa dạng và
bền vững.
Trong quá trình cung cấp trải nghiệm các loại
hình du lịch, người dân địa phương du khách cũng
những đánh giá nhất định phản ảnh chất lượng các loại
hình dịch vụ:
Biểu đồ 1: Đánh giá của người dân về chất lượng
phục vụ của các hình thức du lịch tại Chùa Hương
Nguồn: Khảo sát của tác giả
Kết quả khảo sát cho thấy chất lượng các loại hình
du lịch tại Chùa Hương sự phân hóa rệt. Du lịch
văn hóa - lịch sử được 86,2% du khách đánh giá “tốt”,
khẳng định vai trò cốt lõi gắn với giá trị tâm linh, tín
ngưỡng và lễ hội đặc trưng của khu di tích. Du lịch khám
phá (39% “tốt”, 44,6% “tương đối tốt”) ẩm thực
(31,3% “tốt”, 44,6% “tương đối tốt”) cũng được đánh giá
tích cực nhờ cảnh quan tự nhiên sản vật đặc trưng
như mơ, chè, rau sắng.
Ngược lại, các loại hình MICE, teambuilding, nghỉ
dưỡng, thể thao mạo hiểm còn hạn chế do hạ tầng
chưa đồng bộ, sở lưu trú kém chưa phù hợp đặc
điểm địa hình, nhu cầu khách.
Nhìn chung, Chùa Hương cần tiếp tục phát huy thế
mạnh văn hóa - lịch sử, khám phá và ẩm thực, đồng thời
đầu chọn lọc vào các loại hình bổ trợ. Do du lịch
mang tính mùa vụ, địa phương nên phát triển du lịch
nghỉ dưỡng chất lượng, kéo dài thời gian lưu trú và tăng
doanh thu quanh năm.
Thực trạng quản lý thương hiệu sản phẩm, tổ chức
các lễ hội để quảng sản phẩm thu hút khách
du lịch
Trong những năm qua, di tích đã được đầu tư, đổi
mới chế quản lý, phát huy, bảo tồn, khai thác giá trị
di tích, cảnh quan; tổ chức các hoạt động lễ hội dịch
vụ. Công tác quản du lịch từng bước đi vào nề nếp,
được đông đảo du khách đồng tình, ủng hộ, tạo nguồn
thu cho ngân sách Nhà nước từ việc thu phí thắng cảnh,
thuế hoạt động sản xuất kinh doanh...
Hoat đông xây ng thương hiêu tai khu di tích
thắng cảnh Hương Sơn thêhiên trên nhiều phương
diên như xây ng thương hiệu các sản phẩm phát
triển thương hiệu các lễ hội tại Chùa Hương. Chùa
Hương một số sản phẩm đặc trưng, nổi tiếng: rau
sắng, rượu mơ, chè củ mài... những sản phẩm từ lâu
đã gắn thương hiệu Chùa Hương.
Bảng 4. Mức độ nhận biết của khách du lịch đối với
sản phẩm mang thương hiệu Chùa Hương
Nguồn: Khảo sát của tác giả
Kết quả khảo sát cho thấy du khách đã mức độ
nhận biết nhất định về các sản phẩm đặc trưng mang
thương hiệu Chùa Hương. Nổi bật nhất là rau sắng Chùa
Hương với 22,6% (149 lượt nhận diện) - sản phẩm nông
sản tiêu biểu gắn liền với vùng Hương Sơn, đã được cấp
nhãn hiệu tập thể tem truy xuất nguồn gốc. Giá
rau sắng dao động từ 160.000-300.000đ/kg, cao điểm
mùa lễ hội lên đến 600.000đ/kg, phản ánh giá trị kinh tế
và thương hiệu mạnh của sản phẩm.
Các sản phẩm từ Hương Tích như quả tươi
(20,8%) và rượu mơ (20,9%) cũng có mức nhận diện cao,
cho thấy hiệu quả bước đầu trong khai thác giá trị cây
- biểu tượng tự nhiên của Chùa Hương. Trong khi
đó, chè củ mài (17,7%) và bánh chè lam (18,0%) có tiềm
năng phát triển nhưng chưa tạo được dấu ấn riêng.