DU LỊCH VĂN HÓA VỚI PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA
Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐT RA VÀ GIẢI PHÁP
PGS.TS. Phạm Trung Lương1, ThS. NCS. Nguyễn Thị Thuý Hằng2
Tóm tắt: Là quốc gia với bề dày hàng ngàn năm lịch sử và là nơi sinh sống của 54 dân tộc anh
em, Việt Nam là quốc gia có tiềm năng đa dạng và phong phú để phát triển du lịch văn hóa với tư
cách là lĩnh vực trọng tâm của du lịch Việt Nam đồng thời là một trong 13 hợp phần (phân ngành)
của công nghiệp văn hóa.
Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển du lịch văn hóa để nhận diện những “điểm nghẽn” và
những cơ hội - thách thức đối với du lịch văn hóa với tư cách là phân ngành của công nghiệp văn
hóa trong bối cảnh phát triển mới khi công nghiệp văn hóa được xác định lĩnh vực quan trọng
trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bài viết đã đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm
góp phần thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa và đóng góp cho việc thực hiện các mục tiêu của
Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa và Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam trong giai
đoạn phát triển mới.
Từ khóa: Văn hóa, du lịch, du lịch văn hóa, công nghiệp văn hóa.
Abstract: It is a country with thousands of years of history and being home to 54 ethnic groups, Vietnam
is a country with diverse and rich potential to develop cultural tourism as a key areas of Vietnam tourism
and as the same time is one of 13 components (sub-sectors) of the cultural industry.
On the basis of analyzing the current situation of cultural tourism development to identify
“Bottlenecks” and opportunities - challenges for cultural tourism in the new development
context when cultural industry is identified as an important field for the country’s socio-economic
development, The study has proposed a number of basic solutions to contribute to promoting
the development of cultural industry and contribute to the implementation of the goals of the
Cultural Industry Development Strategy and the Vietnam Tourism Development Strategy in the
new development period.
1
Phó Chủ tịch Liên Chi hội Đào tạo du lịch Việt Nam (VITEA).
2
Khoa Văn hoá và du lịch, trường Đại học Thủ Đô Hà Nội.
TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 43
Keywords: Culture, Tourism, cutural turism, cultural industry.
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Là quốc gia với bề dày lịch sử hàng ngàn năm văn hiến và là nơi cư
trú của 54 dân tộc anh em, Việt Nam quốc gia tiềm năng di sản
văn hóa rất đa dạng, phong phú giàu bản sắc. Đây nguồn lực to
lớn cho phát triển kinh tế - hội của đất nước nói chung, phát triển
các ngành kinh tế nói riêng. Để biến tiềm năng văn hóa Việt Nam trở
thành động lực cho phát triển kinh tế - hội, Nghị quyết số 33-NQ/
TW ngày 09/06/2014 của Bộ Chính trị đã đề ra mục tiêu, yêu cầu: “Xây
dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp
văn hóa, tăng cường quảng văn hóa Việt Nam”. Chủ trương này
của Đảng đã được Chính phủ hiện thực hóa bằng việc ban hành Chiến
lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030 với quan điểm: “Các ngành công nghiệp
văn hóa bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân”.
Trong số 12 phân ngành công nghiệp văn hóa (CNVH) thì DLVC được
xác định phân ngành vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển
CNVH ở Việt Nam.
“Du lịch văn hóa là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai
thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn phát huy giá trị văn hóa
truyền thống, tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại” (Điều 3, Luật
Du lịch). Du lịch văn hóa từ lâu đã được coi là dòng sản phẩm du lịch
quan trọng, tạo sự khác biệt và hấp dẫn khách du lịch.
Như vậy thể thấy DLVH vai trò “kép” đặc biệt quan trọng
không chỉ đối với việc thực hiện mục tiêu của Chiến lược phát triển
CNVH với tư cách một ngành kinh tế phù hợp với xu hướng mới của
thế giới mà còn với có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện Chiến
lược phát triển du lịch Việt Nam hướng đến là ngành kinh tế mũi nhọn
theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Thời gian qua, phát triển DLVH dựa trên việc khai thác các giá trị
văn hóa vật thể phi vật thể như di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc,
nghệ thuật, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, làng nghề, ẩm
thực… đã góp phần quan trọng cho phát triển CNVH phát triển
ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ44
du lịch Việt Nam, tuy nhiên sự phát triển đó vẫn chưa tương xứng
với tiềm năng lợi thế, chưa sự gắn kết giữa DLVH với các phân
ngành CNVH khác cũng như chưa thực hiện được vai trò “cầu nối”
giữa CNVH với du lịch để tạo ra những sản phẩm CNVH - du lịch
hấp dẫn và có sức cạnh tranh góp phần thực hiện thành công các mục
tiêu của Chiến lược phát triển CNVH và Chiến lược phát triển du lịch
Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định
số 1755/QĐ-TTg ngày 08/09/2016 Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày
22/01/2020.
Chính vậy, việc nghiên cứu thực trạng phát triển DLVH để xác
định các vấn đề đặt ra (điểm nghẽn) làm căn cứ đề xuất các giải pháp
đẩy mạnh phát triển DLVH tương xứng tiềm nămg, vị trí là vấn đề rất
quan trọng.
2. MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định những vấn đề (điểm
nghẽn) chính đối với phát triển DLVH làm cơ sở để đề xuất một số giải
pháp có tính khả thi nhằm đẩy mạnh phát triển DLVH tương xứng với
tiềm năng, lợi thế gắn với phát triển CNVH.
thuyết hệ thống được sử dụng trong phân tích những vấn đề
thực trạng và những yếu tố liên quan đến phát triển DLVH với tư cách
một phân ngành CNVH đồng thời là một loại hình du lịch chủ yếu
của Việt Nam.
Một số phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu gồm:
phương pháp tổng hợp phân tích hệ thống, phương pháp chuyên
gia và phương pháp thống kê.
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Nhận thức về du lịch văn hóa và công nghiệp văn hóa
Trong hoạt động phát triển du lịch, DLVH là hình thức du lịch được
phát triển dựa trên việc khai thác các giá trị di sản văn hóa vật thể
phi vật thể như di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật, phong
tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, làng nghề, ẩm thực… nhằm đáp ứng
TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 45
nhu cầu tìm hiểu, trải nghiệm và nghiên cứu của khách du lịch, đồng
thời mang lại lợi ích về kinh tế, hội góp phần bảo tồn các giá trị
văn hóa truyền thống, tôn vinh những giá trị văn hóa mới của nhân
loại. DLVH tạo ra sự khác biệt và hấp dẫn của điểm đến với nhiều loại
hình/sản phẩm du lịch đặc trưng như du lịch tham quan tìm hiểu các di
tích lịch sử - văn hóa, trải nghiệm lối sống truyền thống, văn hóa cộng
đồng, du lịch lễ hội, du lịch làng nghề, du lịch ẩm thực, v.v...
Căn cứ vào cách tiếp cận, nhận thức về CNVH là một khái niệm mở
tùy vào đặc điểm bối cảnh phát triển của từng quốc gia. Với cách
tiếp cận theo hướng kinh tế thì CNVH sẽ coi đặc tính đổi mới, sáng tạo,
kỹ năng, phương thức tạo ra các giá trị kinh tế quan trọng. Ngược
lại với tiếp cận thuần túy về văn hóa thì đặc tính văn hóa và các yếu tố
truyền thống lại được nhấn mạnh hơn đặc tính sáng tạo trong CNVH.
Cho còn những bàn luận về khái niệm CNVH, tuy nhiên đa số
ý kiến đều thống nhất: “CNVH ngành kinh tế tạo ra các sản phẩm
và dịch vụ văn hóa mang tính sáng tạo dựa trên việc khai thác những
giá trị văn hóa (truyền thống và hiện đại), phát huy tri thức và đề cao
bản quyền trí tuệ nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường”.
Việt Nam, lần đầu tiên cụm từ CNVH xuất hiện vào năm 2014 tại Nghị
quyết số 33-NQ/TW Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, theo đó, phát triển
CNVH được xác định một trong năm mục tiêu phát triển đất nước
trong giai đoạn mới.
Chiến lược phát triển các ngành CNVH Việt Nam đến năm 2020,
tầm nhìn đến năm 2030 được Chính phủ phê duyệt ngày 08/09/đã xác
định DLVH là một trong 12 phân ngành của CNVH và có mối quan hệ
tương tác mật thiết với các phân ngành CNVH khác, đặc biệt nghệ
thuật biểu diễn thủ công mỹ nghệ. Trong mối quan hệ tương tác
này, DLVH được xem thị trường “đầu ra” cho sản phẩm của các phân
ngành CNVH khác.
Như vậy có thể thấy DLVH chính là nơi “giao thoa” giữa ngành du
lịch và ngành CNVH với điểm chung là phát triển của DLVH dựa trên
việc khai thác các giá trị di sản văn hóa tính sáng tạo trong y dựng
các sản phẩm du lịch.
ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ46
Với những đặc điểm trên, DLVH vai trò “kép” quan trọng đối với
phát triển CNVH và phát triển du lịch. Vị trí vai trò của DLVH với
phát triển du lịch và CNVH được thể hiện ở Sơ đồ 1.
Du
lịch
Công
nghiệp
văn hóa
Du lịch văn hóa
- Là loại hình/ sản
phẩm du lịch
- Tạo sự khác biệt,
hấp dẫn của điểm
đến du lịch
- Là phân ngành
CNVH
- Là đầu ra cho
các phân ngành
CNVH
Sơ đồ 1. Vị trí và vai trò của du lịch văn hóa
Việc nhận thức bản chất, vị trí vai trò của DLVH sẽ sở
quan trọng trong việc đánh giá thực trạng đề xuất các giải pháp
phù hợp nhằm tăng cường sự phát triển của DLVH gắn với phát triển
CNVH ở Việt Nam.
3.2. Thực trạng DLVH với phát triển CNVH ở Việt Nam
Thực hiện nhiệm vụ Đại hội lần thứ XIII của Đảng: “Khẩn trương
triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn
hóa dịch vụ văn hóa trên sở xác định phát huy sức mạnh
mềm của văn hóa Việt Nam” được Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
nhấn mạnh tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc 2021, trong những năm
qua trong những năm qua sự phát triển của CNVH đã có những đóng
góp quan trọng cho phát triển KT-XH của đất nước. Việc phân tích số
liệu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho thấy ước tính, giá trị tăng
thêm (giá hiện hành) của các phân ngành CNVH đóng góp vào nền
kinh tế năm 2018 ước đạt 5,82%; năm 2019 ước đạt 6,02%; năm 2020
và 2021 do ảnh hưởng của đại dịch nên có sự sụt giảm chỉ còn khoảng
4,32% và 3,92%; đến năm 2022 các phân ngành đã bắt đầu phục hồi và
giá trị đóng góp ước đạt 4,04%. Doanh thu của các phân ngành CNVH
Việt Nam giai đoạn 2018-2022 đóng góp ước bình quân đạt 1,059 triệu
tỷ đồng (tương đương khoảng 44 tỷ USD).
- phân ngành CNVH - đầu ra cho các phân ngành CNVH