GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG DU LỊCH
PGS.TS. Phạm Hồng Long1
Ngô Việt Anh, Nguyễn Công Toại2
Đào Vũ Hương Giang3
Tóm tắt: Nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao là yếu tố then chốt đem đến sự thành công trong
phát triển du lịch, là chìa khóa giúp du lịch của một quốc gia, khu vực có thể cạnh tranh so với đối
thủ. Trước bối cảnh lượng khách du lịch có xu hướng gia tăng từ sau đại dịch COVID-19; số lượng
lao động lại suy giảm, chất lượng lao động chưa cao, trình độ và kỹ năng còn nhiều hạn chế. Bên
cạnh đó, còn tồn tại những thách thức về hội nhập quốc tế; hội nhập thị trường lao động; sự phát
triển nhanh của công nghệ số trong du lịch; nhu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của khách du lịch.
Điều này dẫn đến, ngoài đào tạo để đáp ứng đủ số lượng lao động, việc đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao là yêu cầu bức thiết đối với du lịch Việt Nam. Trong bài viết
này, tác giả tập trung đưa ra hiện trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch tại Việt Nam, qua
đó đưa ra đánh giá về công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch thông qua công cụ SWOT nhằm
đưa ra những giải pháp thiết thực, hiệu quả trong công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch chất
lượng cao, đáp ứng yêu cầu bứt phá bắt kịp xu thế dẫn đầu trong phát triển du lịch.
Từ khóa: Nhân lực du lịch chất lượng cao, hiện trạng nhân lực du lịch, giải pháp phát triển
nguồn lực.
Abstract: High-quality tourism human resources are a crucial factor in achieving success in
tourism development and are essential for a country or regions tourism industry to remain
competitive. In the context of a rising number of tourists since the COVID-19 pandemic,
the workforce has diminished, labor quality remains substandard, and workers’ skills and
qualifications are still limited. This is further compounded by challenges related to international
1
Trưởng Khoa Du lịch, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn.
2
Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên và Phát triển.
3
Trường Đại học Cần Thơ.
ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ90
integration, labor market dynamics, the rapid development of digital technology in tourism, and
the increasing demands and expectations of tourists. Therefore, beyond meeting the quantitative
demand for labor, training and developing high-quality tourism human resources is an urgent
necessity for Vietnams tourism sector. This article focuses on the current state of tourism human
resource training in Vietnam, evaluates it using the SWOT analysis tool, and proposes practical,
effective solutions for developing high-quality tourism human resources to meet the demands of
rapid growth and maintain leadership in tourism development trends.
Keywords: High-quality tourism human resources, current state of tourism workforce, solutions
for human resource development.
1. ĐẶT VẤN Đ
Nguồn nhân lực một khía cạnh quan trọng trong việc cung cấp
thành công các dịch vụ du lịch. Các doanh nghiệp thành công trong
du lịch chủ yếu đến từ yếu tố con người thông qua cách họ được tuyển
dụng, quản lý, đào tạo giáo dục, cách họ được đánh giá khen thưởng
cách họ được học tập phát triển nghề nghiệp (Fáilte Ireland,
2005a). Sự phát triển của thế giới đang bước sang trang mới với những
thành tựu tính đột phá, trong đó yếu tố đóng vai trò trung tâm
quyết định sự biến đổi về chất của nền kinh tế chính nguồn nhân
lực chất lượng cao. Chính nguồn nhân lực chất lượng cao mới là yếu tố
cơ bản nhất của mọi quá trình, bởi lẽ những yếu tố khác vẫn có thể
được nếu tri thức, song tri thức không tự nhiên xuất hiện phải
thông qua một quá trình giáo dục, đào tạo và hoạt động thực tế (Đoàn
Mạnh Cường, 2019).
Các số liệu thông 2 năm gần đây của ngành Du lịch cho thấy
lượng khách du lịch liên tục tăng nhanh sau khi Chính phủ đưa ra
chính sách mở cửa trở lại từ sau đại dịch COVID-19 xu hướng
tăng mạnh trong giai đoạn tới. Đây là một cơ hội lớn để Việt Nam phát
triển du lịch góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế; bảo tồn và
phát huy giá trị di sản văn hóa, tài nguyên thiên nhiên; tạo nhiều việc
TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 91
làm, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc
tế, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.
Từ sau đại dịch COVID-19, Việt Nam thiếu hụt nguồn lực du lịch,
số lượng lớn lao động trong ngành du lịch phải nghỉ việc, chờ việc,
hoặc chuyển hướng công việc sang ngành nghề khác đã đặt ra thách
thức lớn. Theo Tổng cục Thống kê, tính trong quý IV năm 2021 có gần
24,7 triệu lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19; trong đó
2,3 triệu lao động mất việc làm, 12,4 triệu lao động buộc phải tạm nghỉ,
tạm dừng sản xuất kinh doanh, 8,8 triệu lao động bị cắt giảm giờ làm,
nghỉ giãn việc, 16,9 triệu lao động bị giảm thu nhập (Tổng cục Thống
kê, 2022). Trong đó, lao động trong khu vực dịch vụ, du lịch chứng kiến
sự sụt giảm mạnh.
Thực tế thấy rằng, nhu cầu của khách du lịch ngày càng tăng trong
khi nguồn nhân lực du lịch giảm, xu hướng toàn cầu hóa trong du
lịch trở nên phổ biến đòi hỏi lao động phải năng lực ứng dụng các
thành tựu của cách mạng 4.0 vào công việc. Tuy nhiên, nhân lực trong
ngành du lịch của Việt Nam hiện trình độ chuyên môn không cao,
lao động phổ thông chiếm tỷ lệ cao. Chất lượng lao động chưa đáp ứng
được yêu cầu của từng nghề, trong quá trình phục vụ vẫn hay mắc sai
sót, tỷ lệ khách hàng phàn nàn về chất lượng còn khá cao. Sự ổn định
về đội ngũ lao động trực tiếp phục vụ du lịch chưa cao. sự chênh
lệch khá lớn về ý thức, thái độ làm việc, trình độ chuyên môn nghiệp
vụ, ngoại ngữ giữa đội ngũ lao động trực tiếp phục vụ du lịch trong
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp Nhà
nước hay các doanh nghiệp có quy mô nhỏ (Trường Cao đẳng Quốc tế
Sài Gòn, 2022).
Như vậy, đào tạo nguồn nhân lực trong du lịch giữ vai trò rất quan
trọng, đặc biệt đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Không chỉ
đáp ứng về mặt số lượng, nguồn nhân lực cần hướng tới trang bị những
kiến thức kỹ năng nâng cao hơn nhằm đáp ứng được yêu cầu, đòi
hỏi ngày càng cao của khách du lịch bên cạnh các thách thức do quá
trình chuẩn hóa kỹ năng nghề khi Việt Nam tham gia các tổ chức trong
khu vực trên thế giới. Trước sự cần thiết trên, bài viết tập chung
đưa ra thực trạng đào tạo nguồn nhân lực du lịch tại Việt Nam, qua đó
ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ92
đánh giá công tác đào tạo một cách khách quan để đưa ra giải pháp đào
tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao được hiệu quả
nhất. Mục đích của bài viết nhằm làm cơ sở tham khảo cho các nhân,
tổ chức quản hoạch định du lịch trong công tác đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao, góp phần vào hoạt động phát triển chung của
ngành du lịch với bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập thị trường lao động.
2. THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DU LỊCH
2.1. Số lượng cơ sở đào tạo và chỉ tiêu tuyển sinh
Cho đến năm 2022, Việt Nam có gần 200 cơ sở đào tạo du lịch, trong
đó có 62 trường đại học có khoa du lịch, 55 trường cao đẳng, 71 trường
trung cấp, 4 trung tâm dạy nghề, 2 công ty đào tạo 23 trung tâm
tham gia đào tạo nghiệp vụ du lịch (Hoàng Mẫn, 2022). Mặc chịu
ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 nhưng ngành du lịch vẫn thu hút
nhiều thí sinh đăng xét tuyển, chỉ tiêu tuyển sinh mức cao. Theo
số liệu thống kê của Vụ Giáo dục đại học - Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm
2021, nhóm ngành Du lịch, khách sạn, thể thao dịch vụ nhân
tổng trên 199.000 thí sinh đăng trong khi chỉ tuyển hơn 24.000 chỉ
tiêu. Như vậy, tổng nguyện vọng trên tổng chỉ tiêu thì nguyện vọng có
số lượng gấp 8,2 lần chỉ tiêu. Thêm vào đó, số thí sinh đăng ký nguyện
vọng 1 vào nhóm ngành trên trên 48.000, do đó số thí sinh đăng
nguyện vọng 1/tổng chỉ tiêu vào nhóm ngành du lịch hơn 201%
đứng thứ 4 trong 15 nhóm ngành được thí sinh đăng nguyện vọng
nhiều nhất (Điệp Quyên, 2021).
2.2. Năng lực của các cơ sở đào tạo
Hiện nay, Việt Nam có khoảng trên 2.000 giáo viên, giảng viên du
lịch và cán bộ quản lý, phục vụ đào tạo các cấp (giáo viên, giảng viên
du lịch chiếm khoảng 73%, cán bộ quản lý, phục vụ đào tạo chiếm
khoảng 27%) 2.579 đào tạo viên du lịch (đã chứng chỉ đào tạo
của Hội đồng cấp chứng chỉ du lịch Việt Nam). Giảng viên, giáo viên
hữu 1.400 người, chiếm khoảng 70% giảng viên thỉnh giảng
là 600 lượt người, chiếm 30%. Giáo viên, giảng viên ở độ tuổi dưới 30
TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 93
tuổi chiếm khoảng 29% độ tuổi từ 31-50 tuổi chiếm 60%. Hầu hết
các giảng viên, giáo viên đều biết ngoại ngữ (có khoảng 100 người
biết 2 ngoại ngữ trở lên) và tin học. Trong số giảng viên, giáo viên du
lịch có 2 giáo sư, 11 phó giáo sư, 36 tiến sĩ, 210 thạc sĩ và 5 chuyên gia,
nghệ nhân. Các sở đào tạo du lịch trong toàn quốc đã chủ động
y dựng chương trình, giáo trình đào tạo phục vụ nhu cầu thực tiễn.
Năng lực đào tạo tại các sở đào tạo đã được nâng cao, cơ sở vật chất
kỹ thuật được nâng cấp tăng cường từng bước đổi mới, hiện đại
hóa. Một số trường đại học, cao đẳng đã đầu xây dựng sở thực
hành như xưởng trường, khách sạn trường... tương đối hiện đại. Đội
ngũ giảng viên, giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo du lịch tăng về số
lượng và từng bước được chuẩn hóa (DTT, 2018).
2.3. Định hướng đào tạo
Sự bùng nổ của các cơ sở đào tạo du lịch và khách sạn tại Việt Nam
tạo ra sự phân hóa trong định hướng đào tạo của các sở đào tạo.
Theo đó, 03 định hướng đào tạo chủ yếu trong các chương trình về du
lịch và khách sạn ở Việt Nam, bao gồm:
Định hướng học thuật: Đây là định hướng các trường đại học công
lập và một số trường đại học tư thục tập trung theo đuổi. Sinh viên và
học viên theo học chương trình này được chú trọng cung cấp nền tảng
lý thuyết học thuật, thường thời gian học tập 4 năm với chương
trình đào tạo đại học, 2 năm đối với chương trình đào thạc sĩ và 3 năm
với chương trình đào tạo tiến sĩ. Đây cũng định hướng Khoa Du lịch
học, Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội đang theo đuổi.
Định hướng kết hợp cả đào tạo nghề và học thuật: Định hướng này
được một số sở đào tạo đại học sở đào cao đẳng thực hiện,
thường thời gian đào tạo từ 3-4 năm. Các chuyên ngành đào tạo
thường là Hướng dẫn du lịch, Văn hóa du lịch, Quản trị du lịch, Quản
trị khách sạn, Quản trị nhà hàng Dịch vụ ăn uống, Marketing du lịch...