NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA
THÔNG QUA DỰ ÁN VƯỜN ƯƠM TÀI NĂNG VĂN HÓA DU LỊCH
NHẰM ĐÁP ỨNG NHU CẦU HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Ông Nguyễn Xuân Trung1
Ông Nguyễn Đức Bá2
ThS. Chu Khánh Linh3
Tóm tắt: Ngày 20/10/2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công văn số 4929/BGDĐT-GDĐH
nhằm hướng dẫn cơ chế đặc thù đào tạo nhân lực du lịch trình độ đại học giai đoạn 2017-2020.
Trong đó, nhấn mạnh sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở giáo dục đại học với doanh nghiệp để
đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động và hội nhập quốc tế. Bài viết tổng hợp một số lý
thuyết liên quan và tình hình thực tiễn đào tạo nguồn nhân lực du lịch văn hóa, phân tích một số
yêu cầu về nguồn nhân lực du lịch văn hóa và dự án Vườn ươm tài năng văn hóa du lịch. Đồng thời
đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực du lịch văn hóa thông qua Dự án
Vườn ươm tài năng văn hóa du lịch, từ đó đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế.
Từ khóa: Đào tạo, nguồn nhân lực, du lịch văn hóa, vườn ươm, hội nhập.
Abstract: On October 20th, 2017, the Ministry of Education and Training issued Official Letter No.
4929/BGDĐT-GDĐH to guide the special mechanism for training tourism human resources at the
university level during the period 2017-2020. This document emphasized the close cooperation
between higher education institutions and enterprises to better meet the demands of the labor
market and international integration. This paper synthesizes relevant theories and the practical
1
Giám đốc Dự án, Giám đốc Công ty TNHH Dịch vụ du lịch Tam Chúc.
2
PGĐ thường trực Dự án, PGĐ Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Tôn giáo.
3
Phó trưởng khoa, Phụ trách điều hành Khoa Du lịch, Trường Đại học Văn hóa
TP. Hồ Chí Minh.
ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ32
situation of training human resources for cultural tourism, analyzes some requirements for
cultural tourism human resources and the Cultural Tourism Talent Incubation Project. At the same
time, the paper proposes solutions to improve the quality of training human resources for cultural
tourism through the Cultural Tourism Talent Incubation Project, thereby meeting the needs of
international integration.
Keywords: Training, human resources, cultural tourism, incubator, integration
1. MỞ ĐẦU
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành quyết định phê duyệt
Đề án “Phát triển nguồn nhân lực du lịch thích ứng với tác động của
đại dịch COVID-19 giai đoạn 2021-2030”, trong đó xác định 3 nhóm
giải pháp chính gồm: Nhóm giải pháp cấp bách hỗ trợ nhân lực ngành
du lịch, phát triển nguồn nhân lực của ngành thích ứng với đại dịch
chuẩn bị cho sự phục hồi; Nhóm giải pháp đảm bảo nguồn nhân
lực du lịch trong giai đoạn phục hồi sau đại dịch; Nhóm giải pháp phát
triển nguồn nhân lực du lịch trong giai đoạn phát triển1. Trong Chiến
lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã xác định mục tiêu cụ thể phát triển
các ngành công nghiệp du lịch văn hóa chiếm 10-15% trong số 18.000
triệu USD doanh thu từ khách du lịch, kỳ vọng đến năm 2030: Ngành
du lịch văn hóa chiếm 15-20% trong tổng số 40 tỷ USD doanh thu từ
khách du lịch2. Tuy nhiên trên thực tế, nguồn nhân lực của Việt Nam
chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành du lịch cả về số lượng
và chất lượng. Về số lượng, các sở đào tạo chỉ đáp ứng được khoảng
60% nhu cầu. Sự hợp tác, liên kết giữa các doanh nghiệp sở đào
tạo du lịch chưa đạt được hiệu quả cao, dẫn đến tình trạng nguồn nhân
lực du lịch vừa thừa vừa thiếu. Đặc biệt, nguồn nhân lực du lịch văn
hóa đòi hỏi phải am hiểu sản phẩm du lịch văn hóa, nắm về kiến
thức văn hóa, lịch sử tại các địa phương để mang đến những giá trị
đặc sắc cho chương trình du lịch. Việc đề xuất các giải pháp nhằm tăng
cường công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch văn hóa chất
lượng cao rất cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển trong giai
1
https://daibieunhandan.vn/doi-moi-cong-tac-dao-tao-nhan-luc-cho-nganh-du-lich-
post286798.html
2
https://bvhttdl.gov.vn/van-hoa-la-nguon-luc-phat-trien-du-lich-20220919075340998.htm
TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 33
đoạn mới. Bài viết tập trung nghiên cứu tình hình nguồn nhân lực du
lịch văn hóa, hoạt động đào tạo và liên kết trong đào tạo nguồn nhân
lực du lịch văn hóa. Từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng đào tạo thông qua Dự án Vườn ươm tài năng văn hóa
du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế.
2. DỮ LIỆU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ nhiều nguồn như: từ các công
trình nghiên cứu về du lịch văn hóa, nguồn nhân lực du lịch trên thế
giới Việt Nam, các nguồn số liệu thống kê, các báo cáo tổng hợp
liên quan đến chủ đề nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu
phân tích dữ liệu định tính nhằm đánh giá tình hình, yêu cầu về
nguồn nhân lực du lịch văn hóa hiện nay.
3. KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1. Lý thuyết liên quan
3.1.1. Khái niệm cơ bản
Du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa liên quan đến việc đi đến các điểm đến để tìm hiểu
về lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc lối sống của một nền văn hóa cụ
thể. Du lịch văn hóa thể bao gồm tham quan bảo tàng, di tích lịch
sử, tượng đài, tham dự các lễ hội văn hóa trải nghiệm ẩm thực địa
phương. Khách du lịch văn hóa tìm cách hòa mình vào văn hóa địa
phương và hiểu sâu hơn về lối sống của cộng đồng (Quảng Đại Tuyên,
2023). Du lịch văn hóa một thị trường phổ biến, đặc biệt đối với
những du khách trưởng thành muốn hòa mình vào văn hóa và lịch sử
địa phương của một điểm đến. Thị trường tiềm năng cho du lịch văn
hóa rất rộng, từ những người quan tâm đến lịch sử, nghệ thuật và kiến
trúc đến những người chỉ đơn giản thích trải nghiệm các nền văn
hóa mới. Với sự toàn cầu hóa ngày càng tăng của du lịch sự quan
tâm ngày càng tăng đối với du lịch bền vững, du lịch văn hóa dự kiến
sẽ tiếp tục phát triển (Quảng Đại Tuyên, 2023).
ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ34
Nhân lực du lịch
Huỳnh Quốc Thắng (2013), nhân lực du lịch lực lượng lao động
trong ngành trong cộng đồng hội tham gia trực tiếp hoặc gián
tiếp vào hoạt động du lịch với một năng lực tay nghề, trình độ nhận
thức nhất định, cùng với những phẩm chất tối thiểu về thể lực, trí
tuệ, đạo đức.... Với góc nhìn tổng thể, nguồn nhân lực tham gia hoạt
động du lịch gồm: (1) đội ngũ tác nghiệp (kinh doanh, dịch vụ...);
(2) đội ngũ kỹ thuật tham gia trong các quan, đơn vị hoạt động
ngành; (3) đội ngũ quản lý trực tiếp và gián tiếp (Nhà nước, sự nghiệp,
doanh nghiệp du lịch); (4) lực lượng hội các loại tham gia mọi lĩnh
vực hoạt động du lịch; (5) đội ngũ nghiên cứu, giảng dạy trong các lĩnh
vực liên quan du lịch (Huỳnh Quốc Thắng, 2024).
Liên kết giữa doanh nghiệp và đơn vị đào tạo
Quan hệ liên kết, hợp tác giữa trường đại học doanh nghiệp
tất cả mọi hình thức tương tác trực tiếp hay gián tiếp, tính chất
nhân hay tổ chức giữa trường đại học các doanh nghiệp nhằm hỗ
trợ lẫn nhau vì lợi ích của cả hai: hợp tác trong đào tạo, nghiên cứu
phát triển, kích thích sự vận động năng động qua lại của cán bộ quản
lí, giảng viên, người học các nhà chuyên môn đang làm việc tại
các doanh nghiệp; thương mại hóa các kết quả nghiên cứu; y dựng
chương trình đào tạo; tổ chức học tập suốt đời; hỗ trợ các nỗ lực sáng
nghiệp quản trị tổ chức (Đỗ Thị Thanh Toàn, 2018). hình nâng
cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch theo công thức “hành vi – thái
độ - kỹ thuật (gồm cả lý thuyết lẫn kỹ năng thực hành)” cần được triệt
để khai thác để không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo còn thể
theo hướng đó để tạo ra những phương thức năng động nhằm từng
bước thực hiện “chuẩn hóa” việc đào tạo (Huỳnh Quốc Thắng, 2024).
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các doanh nghiệp nếu
không chịu thay đổi ắt sẽ bị tụt lại phía sau. Việc liên kết đào tạo giữa
doanh nghiệp du lịch, nhà trường, quan quản nhà nước về du lịch
trở nên cần thiết để đáp ứng nhu cầu, thách thức phát triển ngành du
lịch trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn
ra sôi động trên toàn thế giới.
TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 35
3.1.2. Yêu cầu của nguồn nhân lực du lịch văn hóa đáp ứng nhu cầu hội
nhập quốc tế
Nguồn nhân lực du lịch văn hóa đáp ứng nhu cầu, sở thích của
khách du lịch đam về văn hóa cần đảm bảo đủ kiến thức, kỹ
năng, thái độ như sau:
Thứ nhất, du khách thích loại hình du lịch văn hóa luôn tìm kiếm
trải nghiệm đích thực, bao gồm tương tác với người dân địa phương
và tham gia vào các nghi lễ hoặc sự kiện truyền thống, lễ hội văn hóa,
tham quan các di tích lịch sử hoặc viện bảo tàng, lớp học nấu ăn để
tìm hiểu về ẩm thực địa phương (Quảng Đại Tuyên, 2023). Nhân lực
du lịch văn hóa cần hiểu biết sâu sắc kết nối chặt chẽ với các
điểm tham quan, để từ đó cung cấp những thông tin chất lượng cho
khách du lịch. Họ còn là người kết nối cảm xúc giữa du khách và điểm
tham quan, các giá trị văn hóa, trải nghiệm văn hóa thông qua những
điểm “chạm” của bài thuyết minh, hoạt động trải nghiệm, dịch vụ sử
dụng, từ đó tăng cảm nhận của khách hàng.
Thứ hai, nhân lực du lịch văn hóa cần có các kiến thức về phát triển
du lịch bền vững, du lịch trách nhiệm để có năng lực quản lý các hoạt
động của du khách tại các điểm du lịch văn hóa, di tích, di sản... Họ
cần sự hiểu biết về kỹ năng giao tiếp ứng xử trong môi trường đa
văn hóa, ứng xử liên văn hóa giữa các địa phương, quốc gia, để hạn chế
những tác động tiêu cực của du khách đến giá trị văn hóa bản địa tại
các địa phương, tránh việc truyền đạt sai lệch các tập tục văn hóa, giá
trị các truyền thống và phong tục địa phương.
Thứ ba, người làm du lịch văn hóa cần giữ vững quan điểm, lập
trường, nhận thức đúng đắn về đặc trưng văn hóa của từng địa
phương. Từ đó, đủ bản lĩnh, khả năng thuyết phục, giúp du khách trải
nghiệm trọn vẹn sự đa dạng, nét đặc sắc, điểm khác biệt trong văn hóa
tại các điểm đến. Có trách nhiệm trong việc hạn chế rác thải, bảo vệ di
sản trước những tác động của du khách.
Thứ tư, nhân lực du lịch văn hóa cần phát huy vai trò “đại sứ
văn hóa” để giới thiệu truyền thống phong tục địa phương cho du
khách. Họ cần thực hiện đúng, đủ các quy định tại các điểm tham quan
để trở thành hình ảnh chuẩn mực trước du khách thúc đẩy tuyên