TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 573
NGHIÊN CỨU CÔNG TÁC ĐẢM BẢO AN NINH, AN TOÀN
TẠI CÁC TÀU DU LỊCH TRÊN VỊNH HẠ LONG
RESEARCH ON SECURITY AND SAFETY WORK AT TRUISE SHIPS
IN HA LONG BAY
Nguyễn Thị Quỳnh Trang1, Tô Hoàng Dương1,
Trần Thị Lan Hương2,*
1Lớp QTKS 02 - K15, Trường Ngoại ngữ - Du lịch, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
2Trường Ngoại ngữ - Du lịch, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
*Email: lanhuongtran.haui@gmail.com
TÓM TẮT
Nghiên cứu dựa trên số liệu điều tra 300 khách hàng và 110 người lao động bằng phương pháp thu nhập thông tin và
xử lý số liệu để nghiên cứu thực trạng về an ninh, an toàn tại các tàu du lịch trên Vịnh Hạ Long, đồng thời đưa ra các nhóm
giải pháp đề xuất. Kết quả nghiên cứu cho thấy khách hàng và người lao động nhận thức được về các nhóm sự cố thường
gặp phải tại các tàu du lịch. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra một số những hạn chế đối với đội ngũ kinh doanh tàu du
lịch và các chính sách, quy định tại các tàu du lịch còn khá hạn chế và chưa rõ ràng.
Từ khóa: An ninh, an toàn; tàu du lịch
ABSTRACT
The study is based on survey data of 300 customers and 110 workers using information collection and data processing
methods to study the current situation of security and safety at cruise ships on Ha Long Bay, at the same time. Present
groups of proposed solutions. Research results show that customers and workers are aware of groups of incidents
commonly encountered on cruise ships. At the same time, the study also pointed out a number of limitations for the cruise
ship business teams and that policies and regulations on cruise ships are still quite limited and unclear.
Keywords: security, safety; cruise ship
1. GIỚI THIỆU
Tàu du lịch loại hình du lịch đang được ưa chuông
không chỉ tại Việt Nam còn trên toàn thế giới. Theo
thống kê, 2 tuần đầu của tháng 1.2024, vịnh Hạ Long đón
hơn 110.000 khách, trong đó có gần 97.000 khách quốc tế;
doanh thu từ bán tham quan vịnh Hạ Long hơn 35 tỉ
đồng. Số lượng khách lưu trú trên vịnh Hạ Long gần
26.000 người, trong đó hơn 24.000 khách quốc tế. Đặc
biệt, dịch vụ tàu nghỉ đêm trên Vịnh đón những tín hiệu tích
cực khi ng loạt đoàn khách quốc tế đã quay trở lại. Chính
vậy việc duy trì đảm bảo an ninh an toàn tại tàu du
lịch tầm quan trọng trong việc phát triển du lịch tàu
thuyền tại vịnh Hạ Long nói riêng và Việt Nam nói chung.
Nhận thấy tình trạng cấp bách trên, nhóm tác giả đã lựa
chọn nghiên cứu công tác đảm bảo an ninh, an toàn tại các
tàu du lịch trên vịnh Hạ Long nhằm đưa ra được những giải
pháp phòng tránh để hạn chế được những sự cố xảy ra như
trên đối với tàu du lịch trên vịnh Hạ Long.
2. CỞ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Các khái niệm
Bài nghiên cứu sử dụng các khái niệm liên quan đến tàu
du lịch theo Bộ luật Hàng Hải Việt Nam năm 2015, tàu biển
được định nghĩa phương tiện nổi di động chuyên dùng
hoạt động trên biển không bao gồm tàu quân sự, tàu công
vụ, tàu cá, phương tiện thủy nội địa, tàu ngầm, tàu lặn, thủy
phi cơ, kho chứa nổi, giàn di động, ụ nổi[1] Trong phạm
vi nghiên cứu của đề tài, tác giả đồng ý với định nghĩa tàu
biển được đưa ra trong Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm
2015, bởi lẽ, định nghĩa này phù hợp với các định nghĩa v
tàu biển trong các Công ước quốc tế, thể hiện nét thuộc
tính nổi di động, hoạt động trên biển với mục đích thương
mại – vốn là những đặc điểm cơ bản của tàu biển. Ngoài ra
là các khái niệm liên quan đến vấn đề về an ninh, đảm bảo
an ninh an toàn, đảm bảo an toàn được tác giả đề xuất
dựa trên một số những khái niệm đi trước về vấn đề an ninh,
an toàn nói chung.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 5742.2. Tổng quan nghiên cứu
Vấn đề tai nạn tàu du lịch một chủ đề được xem
thách thức quan trọng trong bối cảnh an ninh hằng hải,
tuy nhiên chỉ có rất ít những nghiên cứu tập trung vào việc
xem xét và đưa ra phân tích. Theo như nghiên cứu của Yue
Jiao cộng sự, Quản an toàn tàu du lịch khu vực
châu Á: Xu hướng triển vọng tương lai” [2], cung cấp
một đánh giá toàn diện về vận chuyển nh khách trong khu
vực Châu Á, nhóm tác giả đưa ra một loại các nguyên nhân
trong nghiên cứu: bảo trì tàu du lịch, nguồn nhân lực, trang
thiết bị được trang bị tại tàu, vấn đề tuân thủ quy định.
Theo nghiên cứu của Zhu, J, “Hợp tác kỹ thuật châu Á
IMO (Tổ chức hàng hải quốc tế - International Maritime
Organization) [3] Tỷ lệ tai nạn đã được ghi nhận đối với
các tàu du lịch khu vực châu Á nhiều do. Thứ nhất,
các nước châu Á đã thực hiện các tiêu chuẩn, điều khoản
liên quan đến hàng hải khác nhau. Sự khác biệt được xác
định bởi các yếu tố liên quan đến dân số, yếu tố kinh tế,
chính trị của từng quốc gia. Thứ hai, một số các công ty vận
chuyển hàng hải bỏ qua việc chấp hành nghiêm chỉnh các
điều luật hàng hải để có thể giảm thiểu chi phí, gia tăng lợi
nhuận khiến cho chính sách hàng hải đề ra chưa giải quyết
được triệt để an ninh an toàn hàng hải, theo Jenni Kuronen
Ulla Tapaninen, “Đánh giá sự an toàn của các chính
sách liên quan đến hàng hải” [4]. Theo John Tuidau, Vinh
V.Thai, Nghiên cứu các yếu tố quan trọng để thực hiện
thành công của bộ luật (ISM code International Safety
Management code)” [5] nhóm tác giả đã chỉ ra rằng tỷ lệ
tai nạn tàu du lịch cao thể được giải thích do các nước
khu vực Châu Á không được đào tạo đầy đủ, thiếu quyết,
nguồn lực khan hiếm chưa đủ nhận thức về việc thực hiện
an toàn theo bộ luật ISM code (bộ luật để đảm bảo an toàn
hàng hải phòng ngừa ô nhiễm môi trường do tàu biển
gây ra).
Hiện nay, loại hình du lịch mạo hiểm ngày càng phát
triển đặc biệt với những nơi có địa hình liên quan tới nước,
theo [6] du khách tìm kiếm du lịch mạo hiểm, rủi ro là điều
không thể tránh khỏi. Trong một nghiên cứu về các sự cố
liên quan đến nước trong thời gian giai đoạn 1995/96 đến
1997/98 [7], đã tìm thấy trong số 296 ca nhập viện liên quan
đến quốc tế du khách, 63,5% liên quan đến tai nạn lặn,
17,2% liên quan đến tai nạn tàu thuyền 4,4% liên quan
đến liên quan đến tai nạn do lặn hoặc nhảy xuống ớc. Các
nguyên nhân khác gây đuối nước theo nghiên cứu
“Reducing risk factors for international visitors in
destinations” của nhóm tác giả [8] dường như xuất phát từ
việc người bơi không khả năng giải thích dấu hiệu của
tình trạng lướt sóng nguy hiểm (xé rãnh), thấp trình độ
bơi lội, thiếu biển báo cảnh báo về điều kiện bơi lội nguy
hiểm, thiếu sự cứu hộ sở vật chất tại các bãi biển biệt lập
hoặc sbất lực của một số khách du lịch quốc tế hiểu hướng
dẫn thường xuyên nhất được đưa ra bằng tiếng Anh.
Ngoài ra về vấn đề an toàn thực phẩm, một chương trình
bảo vệ người tiêu dùng của BBC (1994), Watchdog, là một
dụ về phương tiện truyền thông điều tra hàng loạt mối
nguy hiểm trong kỳ nghỉ những người đi nghỉ ớc
ngoài người Anh phải đối mặt. Chúng bao gồm các tiêu
chuẩn vệ sinh kém trong phục vụ ăn uống, ngộ độc khí
carbon monoxide do ống khói khí được làm sạch không đầy
đủ trong các căn hộ tự phục vụ, lối thoát hiểm không đầy
đủ tai nạn chết người liên quan đến bể bơi các điểm
đến Địa Trung Hải. Theo buổi thảo luận tại trung tâm trao
đổi thông tin du lịch thế giới ((WTO), 1989), đã thống
rằng Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính 40% du
khách quốc tế bị tiêu chảy, trong đó 30% phải nằm trên
giường 40% thay đổi hành trình. Tỷ lệ mắc bệnh của
khách du lịch nhìn chung cao hơn so với người dân địa
phương và gây áp lực theo mùa đối với việc cung cấp dịch
vụ chăm sóc sức khỏe tại địa phương. Buổi thảo luận cũng
nêu rõ rằng hiện đã có sự hợp tác đáng kể giữa các cơ quan
y tế công cộng các nhà điều hành tour du lịch lớn, nhưng
phần lớn mối quan ngại của giới truyền thông gần đây về ô
nhiễm sông, hồ và bãi biển, an toàn thực phẩm và rủi ro đối
với khách du lịch từ các bệnh truyền nhiễm đáng tin cậy
hơn cho thấy rằng các kỳ nghỉ lễ của con người sẽ tiếp tục
bị hủy hoại. Trên thực tế, vẫn còn phải xem liệu sự hợp tác
quốc tế như vậy có cải thiện chất lượng trải nghiệm du lịch
nâng cao tính bền vững của nhiều điểm du lịch hiện
hay không.
Nhận thức được tài nguyên du lịch dồi dào tại vịnh Hạ
Long, tác giả Nguyễn Thị Thúy Anh cùng với đề tài
Nghiên cứu công tác quản điểm đến du lịch vịnh Hạ
Long, Quảng Ninh” [10] đã nêu rất nội dung của việc
quản điểm đến du lịch nhằm tạo ra sự cam kết giữa lĩnh
vực công và lĩnh vực nhân, nhân sự, môi trường một sự
hợp tác hiệu quả.
Ngoài ra, tác giả Trần Doanh Tuyến với Quản trị rủi
ro trong kinh doanh khách sạn, Nghiên cứu trường hợp
khách sạn Nikko Nội” [11] đã tập trung xác định một số
những rủi ro ngành kinh doanh khách sạn đã gặp phải,
nhằm đưa ra giải pháp giảm thiểu rủi ro trong công tác quản
trị.
Trong một nghiên cứu của nhóm tác giả đến từ trường
Đại học Cần Thơ, đã bảng kết quả khảo sát đưa ra
được 6 tiêu chí ảnh hưởng đến phát triển về du lịch đảo và
quần đảo. Trong đó 2 tiêu chí được tác giả đánh gía
mức độ ảnh hưởng trung bình đến việc phát triển du lịch
các nhân tố đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và đảm bảo
được tình hình an ninh trật tự xã hội [12].
Ngoài ra, nhận thức được tình hình thực tiễn, để nâng
cao an toàn kỹ thuật bảo vệ môi trường đối với các
phương tiện chở du khách trên vịnh Hạ Long, cục Đăng
kiểm Việt Nam đã đề xuất những nhóm giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng kỹ thuật với đội tàu du lịch của từng
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 575địa phương như: giải pháp về xây dựng văn bản pháp luật;
giải pháp về quản lý, kỹ thuật; giải pháp về quản lý… [13].
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
- Mức độ an ninh, an toàn tại các tàu du lịch:
Hình 1. So sánh kết quả thống giữa khách hàng nhân viên
về mức độ an ninh, an toàn tại tàu du lịch
Thông qua biểu đ 3.1 so sánh giữa khách hàng
nhân viên nhận t về mức đan ninh, an toàn tại u du
lịch, ta thấy hầu hết các nhóm yếu tố đều không có sự
chênh lệch nhau quá nhiều. Tuy nhiên, đối với nhóm yếu
tố về Sự cố chấn thương sự chênh lệch khá cao, điều
này thưởng phản ánh công tác xử cứu của nhân viên
tại c tàu du lịch, theo chia sẽ của anh Vũ Minh Thái
thuyền trưởng tàu La Regina Grand cho biết, trong thời
gian 10 năm anh làm việc rất hiếm khi khách ng b
thương nặng, chủ yếu các sự cố trơn trượt, không quá
nguy hiểm. Điều này chính là điểm khác biệt trong tâm
của người đến đdu lịch nghỉ dưỡng người luôn làm
việc ở trên một điểm du lịch.
Ngoài ra nhóm yếu tố về sự cố bệnh dịch lại sự
khác nhau, trong khi nhân viên cho rằng yếu tố này ở mức
độ an toàn thì khách hàng chỉ đánh giá ở mức bình thường.
Dẫn đến sự mâu thuẫn này, do khách hàng người từ
những địa phương khác đến và họ e ngại với những vấn đề
về sức khỏe thể lây nhiễm chéo từ những khách hàng
cũng hành trình hoặc lo ngại từ phía nhân viên. Đối với nhân
viên, thể họ sẽ phải tiếp xúc với lượng lớn khách hàng
cứ đi rồi lại đến nên đã không đặt quá cao sự nguy hiểm về
vấn đề bệnh dịch.
Một yếu tkhác biệt nữa, về sự cố ngộ độc thực phẩm.
Khi điểm chênh nhau giữa nhân viên và khách hàng
0,76, khách hàng cảm thấy chưa thực sự an toàn đối với vấn
đề thực phẩm trong khi nhân viên luôn cảm thấy an toàn đối
với vấn đề này. Nguyên nhân xảy ra ngộ độc thực phẩm có
thể đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau, thậm chí sử
dụng chủ yếu thực phẩm trên tàu chất đạm cũng thể
dẫn đến việc hiểu nhầm từ thừa chất, khó tiêu sang ngộ độc
thực phẩm. Đây nhóm mâu thuẫn các doanh nghiệp
nên tìm ra giải pháp để thể cung cấp được chất lượng
phục vụ tốt hơn đến khách hàng.
Hai sự cố khác đều được khách hàng đánh giá mức
bình thường đó là Sự cố thất lạc, hỏng hóc tài sản và sự cố
an ninh môi trường, tuy đánh giá của nhân viên vẫn đạt
mức an toàn. Hai nhóm yếu tố này tuy không gây ảnh hưởng
trực tiếp nghiêm trọng tới vấn đề sức khỏe của khách hàng
nhưng ảnh hưởng đến chất lượng dịch vtrải nhiệm của họ.
Từ đánh giá này, các nhà quản lý vận hành có thể cân nhắc
chú trọng thêm giải pháp quy định đối với nhân viên, thậm
chí là những hoạt động tích cực đối với môi trường.
- Hoạt động ứng phó, phòng tránh sự cố mất an ninh,
an toàn tại tàu du lịch trên vịnh Hạ Long
Hình 2. So sánh hoạt động ứng phó, phòng tránh sự cố mất an
ninh, an toàn tại tàu du lịch trên vịnh Hạ Long
Các hoạt động ứng phó, phòng tránh sự cố mất an ninh,
an toàn tại tàu du lịch trên vịnh Hạ Long đều đạt ở mức an
toàn cao, cả nhân viên khách hàng đều đánh giá gần
ngang bằng nhau. Tuy nhiên, chỉ hoạt động ứng phó,
phòng tránh về Dụng cụ sơ cứu, cứu hộ khẩn cấp tại tàu du
lịch chưa được khách hàng đánh giá cao chỉ mức trung
bình ngược lại với mức an toàn của nhân viên đánh giá. Đây
cũng là lý do mà tác giả lựa chọn khảo sát cả hai đối tượng
để thể được đánh giá khách quan về các hoạt động
đảm bảo an ninh, an toàn tại các tàu du lịch. Qua sự mâu
thuân này, doanh nghiệp cần chú trọng yếu tố này để thể
nâng cao niềm tin với khách hàng, tạo được cảm giác cải
thiện về chất lượng dịch vụ.
- Đề xuất giải pháp đảm bảo an ninh, an toàn tại tàu
du lịch
Hình 3. So sánh đề xuất giải pháp đảm bảo an ninh, an toàn tại
tàu du lịch
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 576Thông qua bảng so sánh, ta thấy sự quan tâm chú trọng
của cả khách hàng đội ngũ người lao động, thông qua
các yếu tố trên thể hiện được tầm quan trọng trong việc cần
phải cải thiện các biện pháp nhằm cải thiện công tác đảm
bảo an ninh, an toàn. Điều này thể giúp cho doanh nghiệp
giữ chân được cả khách hàng và đội ngũ lao động làm việc
tại tàu.
4. KẾT LUẬN
Qua bài nghiên cứu, ta thể thấy vấn đề đảm bảo an
ninh, an toàn cho các tàu du lịch trên vịnh Hạ Long rất
quan trọng. Ngoài chất ợng các dịch vụ thì mức độ an toàn
tại điểm đến cũng ảnh hưởng rất lớn tới quyết định quay lại
lần sau của khách hàng.
Thông qua nghiên cứu, nhóm tác giả đã đưa ra được
những cơ sở lý luận, thực trạng hiện tại của các tàu du lịch
trên vịnh Hạ Long nhằm đưa ra được hệ thống giải pháp
phù hợp với doanh nghiệp.
Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn những hạn chế nhất định,
đó là chưa thực hiện được những bài phỏng vấn sâu đối với
khách hàng các đơn vị chức năng liên quan, cũng như
các đơn vị hợp tác cùng tàu du lịch để có thể làm rõ hơn về
vấn đề an ninh, an toàn tại c tàu du lịch trên vịnh Hạ Long.
Trong quá trình Việt Nam đang hướng tới việc phát triển
hơn nữa về loại hình tàu du lịch, chúng ta còn rất nhiều
những thiếu sót trong công tác quản lý, đảm bảo về vấn đề
an ninh, an toàn. Kết quả của bài nghiên cứu này nhằm giúp
cho doanh nghiệp một số cơ quan chức năng liên quan
có thể nắm bắt được thực trạng, giải pháp được đề xuất phù
hợp nhằm nâng cao tỷ lệ về an ninh, an toàn cho khách
hàng, người lao động và các bên liên quan.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1].
Yue Jiao, Maxim A. Dulebenets, Yui-yip Lau, 2020.
Cruise Ship Safety Management in Asian Regions: Trends
and Future Outlook.
[2] .
Zhu.J, 2009. Asia and IMO technical cooperation (Asia hợp tác kỹ thuật IMO. Quản bờ biể
n OCE ),"
Science Direct.
[3].
Jenni Kuronen, Ulla Tapaninen, 2010. Evaluation and maritime safety policy instruments.
[4].
John Tuidau, Vinh V.Thai, 2010. Critical factors for successful implementation of the ISM Code in some
Pacific
Islands,.
[5].
Johnston, 1989. Tourism and Health: A Queenstown Environs Case Study.
[6].
J Wilks; M Coory, 2000. Overseas visitors admitted to Queensland hospitals for water-related injuries,.
[7].
Bruce Prideaux, Hoda Master, 2007. Reducing risk factors for international visitors in destinations.
[8.
]
Q. Hội, 2015. Bộ luật Hàng hải Việt Nam,
[9.
]
N. T. T. Anh, 2015. Nghiên cứu công tác quản lý điểm đến du lịch vịnh Hạ Long, Quảng Ninh, 2015.
[10
]
T. D. Tuyển, 2009. Quản trị rủi ro trong kinh doanh khách sạn, Nghiên cứu trường hợp khách sạ
n Nikko
Nội,
[11
]
. Lê Thị Tố Quyên, Lý Mỹ Tiên, Huỳnh Tấn Mãi, 2019. Các nhân tố tác động đến sự phát triển du lịch tại quầ
n
đảo Nam Du, huyện Kiên Hải, Kiên Giang,” Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 2019.
[12
]
. N. Bình, 2021. Nâng cao công tác đăng kiểm phương tiện thủy nội địa chở khách du lịch, Thư viện Lâm Đồng
.