GÓP BÀN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HOÁ
PGS.TS Bùi Thanh Thuỷ1
Tóm tắt: Du lịch văn hóa được nhắc tới với tư cách là một loại hình du lịch hình thành từ lâu
đời, được coi là một trường phái, một dòng sản phẩm du lịch cơ bản. Trong thời gian gần đây,
với lợi thế được xác định trong chính sách phát triển của quốc gia, nó trở thành một ngành công
nghiệp văn hoá, một hình thức du lịch phổ biến, có sức hấp dẫn lớn nhất. Có nhiều cách hiểu về
du lịch văn hóa, tuỳ theo quan niệm, cách tiếp cận về văn hóa của mỗi tổ chức, mỗi tầng lớp, mỗi
cá nhân. Bài viết này góp bàn thêm một số vấn đề cơ sở luận của du lịch văn hoá với mong muốn
kiến giải làm sáng rõ thêm nội hàm khái niệm, đặc điểm, tính chất phát triển, sản phẩm của loại
hình du lịch phổ biến, hấp dẫn, có vị thế quan trọng này.
Từ khoá: Lý luận, du lịch văn hoá.
Abstract: Cultural tourism is mentioned as a type of tourism that has been formed for a long time,
considered a school, a basic tourism product line. In recent times, with the advantages identified
in the national development policy, it has become a cultural industry, a popular type of tourism,
with the greatest appeal. There are many ways to understand cultural tourism, depending on
the concept and approach to culture of each organization, each class, each individual. This
article contributes to discussing some basic issues of cultural tourism with the hope of clarifying
the concept, characteristics, development nature, and products of this popular, attractive, and
important type of tourism.
Keywords: Theory, cultural tourism.
1.1. NHẬN DIỆN VỀ KHÁI NIỆM
Một số quan điểm cho rằng du lịch văn hóa bao gồm mọi hoạt động
của du khách, những người muốn khám phá, tìm hiểu đánh giá
đặc điểm văn hóa của mỗi vùng. Nó thể hiện ở quá trình thưởng thức
1
Khoa Du lịch, Đại học Văn hoá Hà Nội
TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 141
du lịch của du khách. Trên hết bộc lộ qua ý thức đối với nhu cầu du
lịch, bởi điều đó thể hiện rõ trình độ văn hóa nhất định và nhu cầu xã
hội nhiều mặt của con người. Những quan niệm về giá trị, hình thức
tư duy, tính thẩm mỹ, tính cách, tình cảm… sẽ được bộc lộ trong hoạt
động du lịch phản ánh tâm dân tộc. Ngoài ra, còn thể hiện qua
hành vi, cách ứng xử, lối sống biết hướng tới cái đẹp, trân trọng
nâng niu cái đẹp của du khách.
Các nhà quản văn hóa thì cho rằng du lịch văn hóa loại hình du
lịch được tổ chức mục đích, giáo dục dành cho tầng lớp tri thức,
có địa vị trong xã hội. Là loại hình du lịch đặc biệt dành cho những đối
tượng đặc biệt mối quan hệ đặc biệt2. Du lịch văn hóa không phải
là hình thức du lịch theo đám đông mà du lịch với mục tiêu hướng tới
sự hiện diện của các ý tưởng văn hóa, của những mong muốn được
khám phá, thẩm nhận những giá trị văn hoá. Như các chương trình
dựa vào yếu tố sinh hoạt văn hóa nông thôn để tạo cho du khách có sự
trải nghiệm cuộc sống của vùng thôn quê nơi họ đến; hay dựa vào giá
trị của các di chỉ khảo cổ học để giúp du khách hiểu được một thời kỳ
hưng thịnh hay suy tàn của một nền văn hóa nào đó.
Thậm chí, nhiều nhà di sản văn hóa còn đồng nhất khái niệm du lịch
văn hóa du lịch tới các di sản văn hóa. Du lịch di sản văn hóa được
phác hoạ hoạt động du lịch nhằm thưởng ngoạn các địa điểm, các
vật thể, các hoạt động thể hiện một cách xác thực về những câu chuyện
và con người trong quá khứ và hiện tại3. Nó dựa vào các tài nguyên về
văn hóa, lịch sử tự nhiên. Theo cách giải thích này, du lịch di sản
văn hóa cũng thể được gọi du lịch văn hóa song phạm vi của
hẹp hơn du lịch văn hóa. Do di sản văn hóa nhấn mạnh nhiều hơn đến
một địa danh cụ thể nhằm tạo ra sự cảm nhận về các đặc điểm riêng
của địa danh đó: con người, các vật thể, câu chuyện cũng như truyền
thống, sự kiện, hoạt động sinh hoạt, sản xuất… của dân. Trong khi
đó, du lịch văn hóa bao trùm tất cả các yếu tố trên song ít nhấn mạnh
đến yếu tố địa danh.
2
Hội đồng Khoa học và Đào tạo du lịch – Tổng cục Du lịch, Du lịch ở các di sản văn hóa
thế giới (Bản tin lưu hành nội bộ), Hà Nội, tr.4.
3
Hội đồng Khoa học và Đào tạo du lịch – Tổng cục Du lịch, Du lịch ở các di sản văn hóa
thế giới (Bản tin lưu hành nội bộ), Hà Nội, tr.162.
ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ142
Một cách diễn giải khác về du lịch văn hóa là đề cập đến các yếu tố
truyền thống trong cuộc sống của người dân một vùng nào đó với
cách đối tượng/ vật hút du khách, nguyên liệu tạo dựng chương
trình du lịch. Theo đó du lịch văn hóa loại hình du lịch nhằm thu hút
du khách mà quan tâm chủ yếu của họ là truyền thống lịch sử, phong
tục tập quán, lễ hội, nghệ thuật, di tích… của nơi đến. Qua chương
trình, du khách được tìm đến những giá trị về nguồn, tìm hiểu, trải
nghiệm, thẩm thấu các giá trị văn hóa đậm bản sắc dân tộc, tộc người.
“Du lịch văn hoá bao gồm hoạt động của những người có động cơ chủ
yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hoá như các chương trình nghiên
cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội các sự kiện
văn hoá khác nhau, thăm các di tích đền đài hoặc nghệ thuật dân
gian, hành hương”4. Dưới góc độ nhất định, quan điểm này đã thể hiện
được mục tiêu của loại hình du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu
về các đặc điểm văn hóa truyền thống, vật thể phi vật thể, về cuộc
sống trong quá khứ cũng như hiện tại của con người một vùng đất
cụ thể. Nói một cách khái quát hơn du lịch văn hóa là loại hình du lịch
dựa vào nền văn hóa dân tộc.
Theo Luật Du lịch của Việt Nam thì: “Du lịch văn hóa loại hình
du lịch được phát triển trên sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần
bảo tồn phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh giá trị mới
của nhân loại”5.
Về căn bản, nghĩa rộng, du lịch văn hóa phải được nhìn nhận
bao gồm các hình thức du lịch dựa trên giá trị văn hóa dân tộc đặt
ra yêu cầu về tôn trọng, gìn giữ, phát triển các giá trị văn hóa truyền
thống cùng các giá trị văn hoá đương đại. Vì thế, du lịch lễ hội, du lịch
di tích lịch sử - văn hóa, du lịch ẩm thực, du lịch làng nghề, du lịch bản
làng, du lịch cộng đồng, du lịch tâm linh, du lịch nông nghiệp, du lịch
di sản đô thị… đều thể coi du lịch văn hóa, các kiểu loại nằm
trong du lịch văn hoá.
Có thể hiểu, du lịch văn hóa là loại hình du lịch lấy điểm đến là yếu
tố văn hóa (khai thác các giá trị văn hoá) nhằm thỏa mãn nhu cầu du
khách với mục đích trải nghiệm, khám phá văn hoá tạo động lực
4
Hội đồng Khoa học và Đào tạo du lịch – Tổng cục Du lịch, Tlđd.
5
Luật Du lịch, NXB Lao động, Hà Nội, 2017, tr.2.
TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 143
giúp bảo tồn, quảng bá, tôn vinh các giá trị văn hóa như di tích, lễ hội,
ẩm thực, phong tục tập quán, các loại hình nghệ thuật hay làng nghề...
cũng như lối sống của các cộng đồng người.
Hay du lịch văn hoá sự tợp hợp các kiểu loại du lịch liên quan đến
sự di chuyển của con người đến các điểm du lịch văn hoá các quốc
gia hay vùng miền ngoài nơi sinh sống thường xuyên của họ với mục
đích khám phá, trải nghiệm, thẩm nhận, mở rộng kiến thức, sự hiểu
biết giúp thoả mãn nhu cầu về văn hoá của họ.
Nhìn chung du lịch văn hoá một hình thức nhằm thoả mãn các
động cơ thưởng thức, chiêm ngưỡng, tìm hiểu và trải nghiệm văn hoá
của con người trong một môi trường khác nơi trú thường xuyên
của mình.
Mục tiêu nhiệm vụ của du lịch văn hóa được xác định diễn giải
qua bản tổng hợp sau:
Bảng 1: Mục tiêu và nhiệm vụ của du lịch văn hóa
Mục tiêu Nhiệm vụ
Tạo một hình ảnh độc đáo, khác
lạ cho các điểm đến du lịch ở mọi
cấp độ, quy mô khác nhau
Thu hút khách bằng cách tạo ra những
chương trình đặc sắc, mới lạ; đảm bảo
đạt hiệu ứng gây ấn tượng cho du khách,
giúp truyền thông trực tiếp qua du khách
để quảng bá; thể hiện sự thân thiện mến
khách và tính riêng biệt của quốc gia hay
vùng, miền; gìn giữ những thuộc tính văn
hóa độc đáo, thuần nhất, khác biệt.
Tạo sự phát triển lâu dài/ bền vững
trên vốn văn hóa
Duy trì, bảo vệ và đảm bảo khả năng bền
vững của các nền văn hóa và tài nguyên
thiên nhiên mà chính loại hình dựa vào.
Tạo sức hút du khách quốc tế;
giúp tăng trưởng du lịch nội địa
Cung cấp sự đa dạng về mặt đáp ứng nhu
cầu của mọi đối tượng khách; đảm bảo
chất lượng của sản phẩm cung cấp
ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ144
Mục tiêu Nhiệm vụ
Phá vỡ tính thời vụ trong du lịch;
tăng thời gian lưu trú của du
khách tại điểm đến, tạo hiệu ứng
mùa cao điểm
Khai thác tạo nên những sự kiện kéo
dài suốt cả năm; những hoạt động được
tổ chức để kéo dài thời gian lưu trú của
khách du lịch
Kéo lợi nhuận du lịch tới các vùng,
miền và địa phương (nhất là vùng/
khu vực kém phát triển)
Tìm kiếm các giá trị của mọi vùng miền
có khả năng đáp ứng nhu cầu, qua đó tạo
thành những điểm đến du lịch trên khắp
cả nước; Kết nối thành những chương
trình trọn gói và tại điểm
Khuyến khích du khách quay trở
lại nhiều lần
Tạo mới liên tục các chương trình du
lịch, kết hợp các dịch vụ, sự kiện để giới
thiệu những điểm hấp dẫn khác; củng cố
thêm mối quan hệ giữa các đơn vị quản
, doanh nghiệp, người dân và du khách;
đánh giá chất lượng và sự hài lòng của du
khách
Phát triển đa dạng chương trình,
sản phẩm du lịch từ nền văn hóa
dân tộc, đặc biệt là từ các di sản
kiến trúc, loại hình nghệ thuật, lễ
hội, sự kiện, thể thao và giải trí
Tìm kiếm những giá trị văn hóa đích thực,
riêng có trong nền văn hóa; phát huy giới
thiệu.
Đảm bảo lợi ích tối đa cho cộng
đồng địa phương
Tiến hành nghiên cứu chi phí và chia sẻ
lợi nhuận trong quá trình thực hiện; tuân
theo những quy trình, kế hoạch dựa vào
cộng đồng.
Giảm thiểu những tác động tiêu
cực đến môi trường; khuyến khích
việc bảo tồn
Khuyến khích phát triển du lịch nhận
thức; phải có đánh giá về những tác động
ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến
môi trường, tài nguyên, di sản…
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
2. VỀ TÀI NGUYÊN VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HOÁ
Như đã phân tích, loại hình dựa vào nền văn hóa dân tộc để tạo
sức hút đối với khách du lịch bản địa từ khắp nơi trên thế giới.
vậy, phát triển du lịch văn hóa chính quá trình làm tăng khả năng