DI SẢN HÁN NÔM VỚI HOT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA Ở VIỆT NAM
GS.TS. Đinh Khắc Thuân1, ThS. Nguyễn Đức Bá2
Tóm tắt: Hán Nôm là chữ Hán và chữ Nôm, văn tự được người Việt Nam sử dụng từ thời kỳ độc
lập tự chủ đến Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trải trên dưới nghìn năm sử dụng chữ Hán ch
Nôm, người Việt đã để lại kho tàng di sản Hán Nôm quý giá.
Bài viết khái quát về chữ Hán: quá trình du nhập và phát triển ở Việt Nam, đặc điểm chữ Nôm và
di sản Hán Nôm. Đặc biệt đi sâu giới thiệu không gian phân bố di sản văn hóa Hán Nôm, vai trò
di sản Hán Nôm đối với hoạt động du lịch, cùng một số loại hình di sản Hán Nôm tiêu biểu gắn
với di tích lịch sử văn hóa, cũng như yêu cầu, kinh nghiệm thuyết minh ở không gian di sản văn
hóa, tôn giáo, tín ngưỡng.
Từ khóa: Chữ Hán, chữ Nôm, di sản Hán Nôm, di tích lịch sử văn hóa, hoạt động du lịch.
Summary: Sino-Nom refers to Chinese characters and Nôm script, the writing systems used by
the Vietnamese from the period of independence until the August Revolution in 1945. Over nearly
a thousand years of using Chinese and Nom, the Vietnamese have left behind a valuable treasure
of Sino-Nom heritage. This article provides an overview of Chinese characters: Their introduction
and development in Vietnam, the characteristics of Nom script, and the Sino-Nom heritage. It
particularly explores the distribution of Hán Nôm cultural heritage, the role of this heritage in
tourism, and several representative types of Sino-Nom heritage linked to historical and cultural
sites. Additionally, it addresses the requirements and experiences of interpretation in the context
of cultural, religious, and spiritual heritage.
Keywords: Chinese characters, Nom script, Sino-Nom heritage, historical and cultural sites,
tourism activities.
1
Viện Trần Nhân Tông. Đại học Quốc gia Hà Nội.
2
Phố Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Tôn giáo.
ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ114
1. CHỮ HÁN SỰ DU NHẬP CHỮ HÁN Ở VIỆT NAM
Chữ Hán ở Trung Quốc bắt nguồn từ thời xa xưa, dựa trên việc quan
sát đồ vật xung quanh vẽ thành dạng chữ tượng hình. Văn tự này
trải qua nhiều thời kỳ phát triển, trong đó văn tự cổ nhất Giáp cốt
( Giáp cốt văn 甲骨文), xuất hiện vào thời nhà Ân (), khoảng năm
1600 – 1020 trước Công nguyên. Cổ nhất là loại chữ Giáp Cốt (Giáp cốt
văn 甲骨文), chữ viết xuất hiện vào đời nhà Ân () vào khoảng 1600-
1020 trước Công nguyên. Chữ Hán được hình thành theo bốn cách tạo
chữ chính (tượng hình, chỉ sự, hội ý, hình thanh) và hai cách sử dụng
chữ (chuyển chú, giả tá) được gọi chung là Lục thư (六書). Ngày nay ở
Trung Quốc bộ chữ giản thể đã thay thế cho chữ phồn thể. Nhất từ
khi thành lập Ủy ban cải cách chữ viết (中国文字改革委) vào tháng
10 năm 1954, diễn ra cuộc cải cách chữ viết nhằm đơn giản hóa chữ
Hán, dẫn đến nhiều khác biệt so với chữ Hán cổ trung đại.
Việt Nam do tiếp xúc và giao lưu với người phương Bắc từ khá sớm,
nên đã xuất hiện chữ Hán, như một số minh văn Hán tự sớm khắc trên
trống đồng Đông Sơn, tương đương thời Tây Hán vào những năm trước
Công nguyên. Đặc biệt là từ khi Triệu Đà thành lập nước Nam Việt vào
thế kỷ thứ III TCN, sau đó nhà Hán thôn tính Nam Việt (khoảng năm
111 TCN), chữ Hán được thống nhất và sử dụng phổ biến. Đặc biệt là
từ những năm đầu công nguyên đến thế kỷ X, Việt Nam chịu sự đô hộ
của nhà nước phong kiến Trung Hoa, chữ Hán được giới quan lại cai trị
áp đặt sử dụng. Sử liệu cho biết, nước Việt bắt đầu Hán học một cách
quy củ khi viên Thái thú Sĩ Nhiếp (137 - 226) mở trường dạy chữ Hán
ở trung tâm Luy Lâu, mà ngày nay trên miếu thờ viên Thái thú này tại
đây (xã Gia Đồng, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh) có biển đề bốn chữ
Hán: “Nam giao học tổ 南郊学祖”, chữ do người Việt về sau tôn xưng
Sĩ Nhiếp là “Ông tổ dạy chữ nước Nam”.
Sự phát triển của chữ Hán tiếng Hán Việt Nam trong thời kỳ
Bắc thuộc song song với sự phát triển của chữ Hán tiếng Hán
chính Trung Quốc thời đó. Từ năm 938, sau chiến thắng Bạch Đằng
của Ngô Quyền, người Việt bước vào thời kỳ độc lập tự chủ và không
còn lệ thuộc vào phương Bắc nữa, nhưng chữ Hán giữ địa vị văn
tự chính thức, tiếng Hán văn hóa Hán vẫn ảnh hưởng lớn. Mặt
khác, trong quan niệm của giai cấp phong kiến, Trung Hoa trung
TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 115
tâm của văn minh. Nước ta tuy một quốc gia độc lập, nhưng vẫn
nằm trong ảnh hưởng của văn minh đó. Cho nên, văn hoá chung,
chữ Hán cũng là chung. Hơn nữa, khi y dựng một nhà nước phong
kiến với chính quyền tập quyền thì giai cấp phong kiến Việt Nam tìm
thấy chế độ phong kiến Trung Hoa như một khuôn mẫu khá hoàn
chỉnh, lấy Nho học làm xương sống về tinh thần, mà đã dùng Nho học
làm chỗ dựa, thì thể tất phải dùng chữ Hán. Do đó, chữ Hán được sử
dụng trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, kết thúc vào năm 1919, khoa
thi Nho học cuối cùng.
Cũng chính từ nhu cầu sử dụng chữ Hán ngày càng rộng rãi trong
sinh hoạt xã hội, nên chữ Nôm ra đời để bổ khuyết cho chữ Hán. Chữ
Nôm là chữ viết do người Việt sáng tác, mô phỏng từ chữ Hán để viết
những âm đọc do người Việt phát ra chữ Hán không như kèo,
cột, rau cỏ... Kể từ đó, chữ Hán và chữ Nôm tiếp tục tồn tại và được sử
dụng trong đời sống xã hội và trong sáng tác văn học.
Như vậy, chữ Hán từ khi du nhập vào nước ta, nhất là từ thời kỳ độc
lập tự chủ thế kỷ X trở đi được sử dụng đến trước Cách mạng tháng
Tám năm 1945 đã một lịch sử phát triển dài lâu gắn liền với công
cuộc xây dựng đất nước và phát triển văn hoá của dân tộc.
2. CÁCH ĐỌC CHỮ HÁN Ở VIỆT NAM
Trong thời Bắc thuộc, chữ Hán được sử dụng Việt Nam khi cả
người Trung Quốc cùng sử dụng, nên cùng chung văn tự, phát âm.
Khi Việt Nam ở thời kỳ độc lập tự chủ không còn người Trung Quốc ở
lại cùng sử dụng chữ Hán nữa, chữ Hán đó hoàn toàn do người Việt
Nam sử dụng, nên ngày càng xa rời chữ Hán, nhất phát âm người
Trung Quốc bản địa ngày một thay đổi. Người Việt duy trì cách đọc
chữ Hán thời Bắc thuộc, định hình thành âm đọc Hán Việt. Sự tiếp xúc
giữa người Trung Quốc người Việt bắt đầu từ thời tiền Tần trở
nên thường xuyên hơn kể từ thời nhà Hán và nhà Đường. Nhà nghiên
cứu ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn cho rằng: “Phát âm tiếng Trung
có nguồn gốc từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán thời nhà Đường ở Trung
Quốc, cụ thể hệ thống ngữ âm tiếng Hán thời nhà Đường Giao
Châu, Trung Quốc vào thế kỷ thứ VIII và thứ XIX. Khi Việt Nam giành
được độc lập, Dưới ảnh hưởng của cách phát âm quy tắc ngữ âm,
ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ116
cách phát âm ngữ âm trong tiếng Việt dần tách ra khỏi cách phát âm
của người Hán trở thành hệ thống phát âm độc đáo của các vùng
văn hóa Việt.
Tuy người Việt Nam tiếp thu tiếng Hán chữ Hán, nhưng cũng
đã Việt hóa nhiều từ của tiếng Hán thàng từ Hán - Việt. Trên thực tế,
từ Hán - Việt những từ gốc Hán đời Ðường - Tống được biến đổi theo
quy luật ngữ âm tiếng Việt. Do thông qua con đường sách vở chủ
yếu, những từ Hán - Việt được hình thành một cách có hệ thống, biểu
đạt những khái niệm cần thiết cho việc giao tiếp lúc đó, nhất trong
ngôn ngữ viết. Chính vì vậy, ngày nay, người Việt đọc thơ Đường theo
âm Hán Việt vẫn giữ được đầy đủ niêm, luật chặt chẽ mà điều đó đã bị
biến đổi khi đọc âm Hán tự hiện đại, như “đường - trường -trong
âm Hán Việt cùng vận bằng, thì tiếng Hán hiện đại đọc “táng, cháng”
(vận trắc). Ví dụ bài thơ Phong kiều dạ bạc của Trương Kế thời Đường:
楓橋夜泊
月落烏啼霜滿天,
江楓漁火對愁眠。
姑蘇城外寒山寺,
夜半鐘聲到客船。
Phiên âm:
Fēng qiáo yè bó / Phong Kiều dạ bạc
Y luò shuāng mǎn tiān/ Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Jiāng fēng huǒ duì chóu mián/ Giang phong ngư hoả đối sầu miên.
chéng wài hán shān / thành ngoại Hàn San tự,
bàn zhōng shēng dào chuán/ Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Dịch nghĩa:
Đêm đậu thuyền bến Phong Kiều
Trăng tà, chim quạ kêu sương
Lửa chài gối biếc sầu vương giấc nồng
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm vang vọng chuông chùa Hàn San.
TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 117
Trong cách đọc bài thơ này, âm Hán Việt giữ nguyên được luật bằng
trắc là (bằng - bằng -trắc- bằng): thiên - miên - tự - thuyền; còn âm Bắc
kinh là: tiān - mián - si - chuán (bằng - trắc - trắc - trắc).
Hiện nay, trong kho tàng từ vựng tiếng Việt một lượng khá lớn từ
Hán-Việt. Bên cạnh đó, chữ Hán mặc dù hiện tại rất ít được sử dụng ở
Việt Nam, nhưng nó vẫn dạng kí tự quan trọng với tiếng Việt, bởi tác
dụng biểu thị nghĩa cho từ ngữ (khi mà chữ Quốc ngữ chỉ có tác dụng
biểu thị âm) do vấn đề đồng âm khác nghĩa, nghĩa của từ bị sai lệch
(đặc biệt hiểu nhầm ý nghĩa của tên người hoặc tên địa danh). Mặt
khác, hầu hết di tích lịch sử thời xưa bằng chữ Hán vẫn được bảo tồn.
Người Việt đôi khi dùng chữ Hán trong một số dịp như viết thư pháp,
xin chữ ngày tết hay dán chữ - “song hỉ” ở nhà tiệc khi lễ cưới...
3. VAI TRÒ CỦA CHỮ HÁN NÔM TẠI DI TÍCH VÀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
liệu bi ký, minh chuông Hán Nôm gắn liền với từng di vật, di
tích cụ thể, phản ánh trực tiếp về lịch sử, ý nghĩa di vật, di tích đó, cũng
như các mặt sinh hoạt văn hóa hội, tín ngưỡng của cộng đồng người
Việt trong các thời lịch sử. Việc khai thác liệu Hán Nôm này góp
phần nhận diện chân giá trị các di vật, di tích đó, đồng thời khai thác ý
nghĩa giá trị loại hình tư liệu đó trong hoạt động du lịch.
Chẳng hạn, vùng biên cương phía Bắc nước ta, hiện còn bảo lưu
một số di văn di vật quý hiếm từ thời Trần đến thời sơ,
những di sản quý giá của dân tộc. Đó là bia và văn bia Bảo Ninh Sùng
Phúc (Tuyên Quang) thời Lý, chuông chùa Bình Lâm (Hà Giang) thời
Trần, bia chùa Sùng Khánh, huyện Vị Xuyên tỉnh Giang thời Trần
và thơ khắc đá của vua Lê Lợi thời Lê sơ ở Cao Bằng.
Bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc chân núi Đan Hán, thuộc thôn Vĩnh
Khoái, Uyên Nguyên, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Văn
bia do Thừa Ân soạn khắc vào năm y dựng xong chùa này,
năm 1107. Nội dung văn bia ngợi ca công đức của Di Khánh công
dựng chùa Sùng Phúc này. Đồng thời thuật lại nguồn gốc họ Hà ở đây,
viễn tổ Đắc Trọng làm quan đến chức Thái thú Vị Long (nay
Chiêm Hóa, Tuyên Quang), trải 13 đời công quản 39 động, 15 huyện.
Đến ông nội (Hà Di Khánh) được vua Lý gả công chúa cho, thăng chức