intTypePromotion=1

Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp - Bùi Trọng Tuấn – 2

Chia sẻ: Le Nhu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:28

0
104
lượt xem
29
download

Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp - Bùi Trọng Tuấn – 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bị đơn vắng mặt mà không có lý do chính đáng hoặc bỏ phiên họp mà không được Hội đồng trọng tài đồng ý thì việc giải quyết tranh chấp được tiến hành căn cứ vào tài liệu và chứng cứ hiện có. Hội đồng trọng tài có thể căn cứ vào hồ sơ để giải quyết vụ tranh chấp mà không cần các bên có mặt (Điều 40 Pháp lệnh 08/2003 Pháp lệnh UBTVQH 11) Các bên có thể trực tiếp hoặc uỷ quyền cho người đại diện tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp hoặc có...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp - Bùi Trọng Tuấn – 2

  1. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp đồng ý thì được coi là rút đơn kiện, Hội đồng trọng tài tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp nếu bị đơn yêu cầu hoặc có đơn kiện lại. Bị đơn vắng mặt mà không có lý do chính đáng hoặc bỏ phiên họp mà không được Hội đồng trọng tài đồng ý thì việc giải quyết tranh chấp được tiến hành căn cứ vào tài liệu và chứng cứ hiện có. Hội đồng trọng tài có thể căn cứ vào hồ sơ để giải quyết vụ tranh chấp mà không cần các bên có mặt (Điều 40 Pháp lệnh 08/2003 Pháp lệnh UBTVQH 11) ♦ Các bên có thể trực tiếp hoặc uỷ quyền cho người đại diện tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp hoặc có quyền mời nhân chứng, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong việc giải quyết tranh chấp (Điều 39 Pháp lệnh). ♦ Trong trường hợp quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại thì các bên có quyền làm đơn đến Toà án cấp Tỉnh nơi Hội đồng trọng tài thụ lý vụ tranh chấp yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời như kê biên tài sản, kê biên niêm phong tài sản ở nơi gửi giữ, phong toả tài khoản tại ngân hàng, bảo toàn chứng cứ trong trường hợp đang bị tiêu huỷ hoặc có nguy cơ bị tiêu huỷ. ♦ Việc giải quyết tranh chấp được tiến hành căn cứ vào những điều khoản của hợp đồng và pháp luật hiện hành, mọi diễn biến của phiên họp giải quyết tranh chấp phải được Thư ký Trung tâm trọng tài ghi thành biên bản. Biên bản phải được các Trọng tài viên và Thư lý cùng ký và phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng trọng tài. Khi quyết định Hội đồng được thiết lập theo nguyên tắc đa số, trừ trường hợp vụ tranh chấp do Trọng tài viên duy nhất giải quyết, ý kiến của thiểu số được ghi vào biên bản phiên họp (Điều 42, Pháp lệnh 08/2003 UBTVQH 11) Quyết định trọng tài phải có các nội dung chủ yếu sau: Ngày tháng, năm ra quyết định trọng tài; + Tên Trung tâm trọng tài; + Tên, địa chỉ của các Nguyên đơn, Bị đơn; + Họ tên các trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy nhất; + Tóm tắt đơn kiện và các vấn đề tranh chấp; + Cơ sở để quyết định trọng tài; + - 29 -
  2. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp Quyết định về vụ tranh chấp, quyết định phí trọng tài và các chi phí khác; + Thời hạn thi hành quyết định trọng tài; + Chữ ký của các trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy nhất + Quyết định trọng tài có hiệu lực kể từ ngày công bố. - Quyết định trọng tài có thể được công bố ngay tại phiên họp cuối cùng hoặc có thể công bố sau nhưng chậm nhất là 60 ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp. Toàn văn quyết định trọng tài phải được gửi cho các bên ngay sau ngày công bố. - Sau khi quyết định trọng tài được công bố, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định trọng tài một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài sửa chữa những lỗi về tính toán, lỗi đánh máy hoặc những lỗi khác. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Hội đồng trọng tài tiến hành chỉnh sửa và phải thông báo cho các bên biết (Điều 46 Pháp lệnh 08/2003 của UBTVQH 11). - Các bên có quyền yêu cầu huỷ quyết định trọng tài trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định trọng tài, nếu không đồng ý với quyết định trọng tài này thì có quyền làm đơn gửi toà án cấp Tỉnh nơi Hội đồng trọng tài ra quyết định trọng tài yêu cầu huỷ quyết định trọng tài, nếu các bên gửi đơn quá hạn vì có sự kiện bất khả kháng thì thời gian có sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài. Đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài gồm các nội dung sau: Ngày, tháng, năm viết đơn; + Tên và địa chỉ của bên có yêu cầu huỷ quyết định trọng tài; + Lý do yêu cầu hủy quyết định trọng tài; + Kèm theo đơn yêu cầu phải có các giấy tờ sau: + aBản chính hoặc bản sao quyết định trọng tài đã được chứng thực hợp lệ; aBản chính hoặc bản sao thoả thuận trọng tài đã được chứng thực hợp lệ; aGiấy tờ kèm theo yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt và bản dịch phải được chứng thực hợp lệ; - 30 -
  3. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp - Toà án phải thông báo ngay cho các bên và yêu cầu nộp lệ phí, toà án có quyền yêu cầu bên nộp đơn giải thích những điều chưa rõ trong đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài; - Sau khi thụ lý đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài, toà án phải thông báo cho Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài do các bên thành lập, các bên tranh chấp và Viện kiểm sát cùng cấp. Trong trường hợp vụ tranh chấp do Trung tâm tổ chức giải quyết thì trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của toà án, trung tâm trọng tài phải chuyển hồ sơ cho toà án. - Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thụ lý, Chánh án Toà án chỉ định một Hội đồng xét xử gồm 3 Thẩm phán, trong đó có một Thẩm phán làm chủ toạ mở phiên toà xét đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài, toà án phải chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 7 ngày làm việc, trước ngày mở phiên toà. - Phiên toà được tiến hành với sự có mặt của các bên tranh chấp, Luật sư (nếu có), Kiểm sát viên cùng cấp, nếu một trong các bên vắng mặt không có lý do chính đáng thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài; - Hội đồng xét xử không xét lại nội dung vụ tranh chấp mà chỉ kiểm tra giấy tờ theo quy định của pháp luật, chứng cứ, đối chiếu với những căn cứ để huỷ quyết định trọng tài. Các căn cứ để huỷ quyết định trọng tài như sau: Không có thoả thuận trọng tài; + Thoả thuận trọng tài vô hiệu; + Thành phần Hội đồng trọng tài, tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả + thuận của các bên; Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài + Các bên chứng minh được có trọng tài viên vi phạm nghĩa vụ trọng tài viên + quy định tại Khoản 2, Điều 13 Pháp lệnh 08/2003 UBTVQH 11; Quyết định trọng tài trái với lợi ích công cộng của nước CHXHCN Việt nam. + Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định huỷ hoặc không huỷ quyết định trọng tài theo quy định của Pháp luật. - Điều 55 của Pháp lệnh Trọng tài quy định: Trong thời hạn 15 ngày các bên có quyền kháng cáo quyết định của toà án, Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát - 31 -
  4. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp nhân dân tối cao có quyền kháng nghị quyết định của toà án. Đơn kháng cáo, quyết định, kháng nghị phải nêu rõ lý do yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị và phải gửi cho toà án ra quyết định. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là 30 ngày kể từ ngày toà án ra quyết định. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị hoặc nhận đơn kháng cáo và người kháng cáo đã nộp lệ phí kháng cáo tòa án ra quyết định phải chuyển hồ sơ lên toà án nhân dân tối cao. - Xét kháng cáo, kháng nghị: Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng cáo hoặc quyết định kháng nghị, toà án nhân dân tối cao phải mở phiên toà xem xét quyết định. Nếu cần phải yêu cầu người kháng cáo, kháng nghị giải thích những nội dung kháng cáo, kháng nghị thì thời hạn mở phiên toà được kéo dài thêm nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng cáo, kháng nghị toà án phải chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 7 ngày làm việc trước ngày mở phiên toà. Thành phần Hội đồng xét kháng cáo, kháng nghị gồm 3 thẩm phán, trong đó + có một Thẩm phán làm chủ toạ do toà án nhân dân tối cao chỉ định; Phiên toà được tiến hành với sự có mặt của các bên tranh chấp, Luật sư của + các bên (nếu có), Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp; Sau khi xem xét đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị, tài liệu kèm theo + chứng cứ (nếu có), nghe ý kiến của các bên được triệu tập, của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thảo luận và quyết định theo đa số; Hội đồng xét xử có quyền giữ nguyên, sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định + của toà án cấp sơ thẩm, đình chỉ việc xét kháng cáo trong trường hợp Viện kiểm sát rút quyết định kháng nghị, bên kháng cáo rút kháng cáo hoặc đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng bỏ phiên họp mà không được Hội đồng xét xử đồng ý. Quyết định của toà án nhân dân tối cao là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành. - Thi hành Quyết định trọng tài: Sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết định trọng tài, nếu một bên không tự nguyện thi hành cũng không yêu cầu huỷ quyết định trọng tài, thì bên thi hành quyết định trọng tài có quyền làm đơn - 32 -
  5. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp yêu cầu cơ quan thi hành án cấp Tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành, thi hành quyết định trọng tài. Trong trường hợp một trong các bên có yêu cầu toà án huỷ quyết định trọng tài thì quyết định trọng tài được thi hành kể từ ngày quyết định toà án không huỷ quyết định trọng tài có hiệu lực. Trình tự thủ tục và thời hạn thi hành quyết định trọng tài theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự. 4.4 Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam 4.4.1 Khái quát chung: a. Đặc điểm của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam: - Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam là tổ chức trọng tài phi Chính phủ được thành lập bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài là chủ yếu. - Về tổ chức của hệ thống trọng tài Quốc tế Việt nam: Chỉ có một Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam duy nhất đặt trụ sở ở Hà nội, không tổ chức theo cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương. - Trọng tài viên của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam chọn và có thể mời chuyên gia nước ngoài làm trọng tài viên của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam, các trọng tài viên có thể kiêm nhiệm và không phải dự thi để được cấp thẻ trọng tài viên vì thế tư cách trọng tài viên của họ chỉ được xác định khi họ giải quyết tranh chấp do trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam giao cho. - Các phán quyết của Uỷ ban trọng tài có giá trị chung thẩm, nếu phán quyết đó không được tự giác thi hành trong thời hạn qui định thì sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế theo pháp luật của nước nơi phán quyết được yêu cầu thi hành. Trước đây ở nước ta có Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng hải. Để thống nhất hoạt động của hai tổ chức này, tránh sự chồng chéo về thẩm quyền cũng như thi hành quyết định trọng tài, ngày 28/4/1993 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 204/TTg về tổ chức trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam (VIAC) trên cơ sở sáp nhập Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng - 33 -
  6. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp trọng tài Hàng hải ban hành kèm theo Quyết định này là Điều lệ tổ chức Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam. b. Về tổ chức của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam có Chủ tịch và hai Phó Chủ tịch do các trọng tài viên của Trung tâm bầu ra với nhiệm kỳ 4 năm. Trung tâm có một Thư ký thường trực do Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt nam chỉ định. Các trọng tài viên của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam là những người có kiến thức và kinh nghiệm trong các lĩnh vực pháp luật Ngoại thương, Tài chính, Ngân hàng, Bảo hiểm, Đầu tư... Trọng tài viên do Ban thường trực Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam lựa chọn, với nhiệm kỳ 4 năm, sau mỗi nhiệm kỳ các trọng tài viên có thể được chọn lại, Chuyên gia nước ngoài cũng có thể được mời làm trọng tài viên của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam. c. Thẩm quyền của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam: Theo qui định tại Điều lệ tổ chức Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam ban hành kèm theo Quyết định 204 TTg và Quyết định 114 TTg ngày 26/2/1996 của Thủ tướng Chính phủ, thì Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp sau đây: - Tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế quốc tế như các hợp đồng mua bán ngoại thương, các hợp đồng đầu tư, vận tải, du lịch và bảo hiểm quốc tế, chuyển giao công nghệ, tín dụng thanh toán Quốc tế v.v... Khi có đủ các điều kiện sau đây: Một hoặc các bên đương sự là thể nhân hay pháp nhân nước ngoài; + Nếu trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp, các bên đương sự thoả thuận đưa + vụ việc ra trước Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam để giải quyết hoặc có một điều ước quốc tế ràng buộc các bên phải đưa vụ tranh chấp ra trước Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam để giải quyết. Các quan hệ phát sinh từ quan hệ kinh doanh trong nước nếu các bên thoả thuận đưa vụ việc đó ra Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam để giải quyết (Điều 1 Quyết định 114 TTg). Như vậy, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt nam không những có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh quan hệ kinh tế quốc tế mà hiện nay tổ chức này còn có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp kinh doanh - 34 -
  7. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp trong nước, nếu các bên đương sự thoả thuận lựa chọn tổ chức này giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, Pháp lệnh trọng tài thương mại số 08/PLUBTVQH ban hành ngày 25/2/1003 có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2003 thì các Quyết định số 204TTg ngày 28/4/1993 và Quyết định 114 TTg ngày 16/2/1996 hết hiệu lực do vậy Trung tâm trọng tài Quốc tế sẽ phải sửa đổi bổ sung Điều lệ, Quy tắc tố tụng trọng tài cho phù hợp với quy định của Pháp lệnh số 08/PLUBTVQH trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Pháp lệnh này có hiệu lực. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Từ khi chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể về kinh tế, nhất là những năm gần đây liên tục tăng trưởng. Các quan hệ pháp luật kinh tế cũng ngày càng được củng cố và phát triển, các quan hệ hợp đồng kinh tế giữa các chủ thể trong nước với nhau và giữa chủ thể trong nước với chủ thể nước ngoài cũng ngày càng phát triển đa dạng tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra. Thời gian qua tranh chấp hợp đồng kinh tế xảy ra chủ yếu và có tính chất phổ biến ở các lĩnh vực hoạt động kinh tế: Xây dựng cơ bản, vận chuyển hàng hoá, vay tín dụng, thương mại, bảo hiểm.... Đồng thời các tranh chấp có yếu tố nước ngoài trong lĩnh vực mua bán hàng hoá, vận tải, bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu... với nội dung phức tạp vì liên quan đến luật pháp quốc tế, pháp luật Hàng hải, liên quan đến các loại tài sản có giá trị lớn như tàu biển, hàng hóa xuẩt nhập khẩu... Tranh chấp kinh tế thường liên quan đến nhiều đối tượng, có những vụ án các đối tượng có quyền và nghĩa vụ liên quan lại là các chủ thể tham gia các quan hệ tố tụng khác (hình sự, dân sự, hành chính...) nên việc giải quyết gặp không ít khó khăn phức tạp và mất nhiều thời gian để điều tra xác minh, thu thập chứng cứ và áp dụng pháp luật. - 35 -
  8. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp Đương sự trong các vụ án kinh tế thường có trình độ học vấn cao, có hiểu biết nhất định về mặt pháp luật, có nhiều mánh lới trong làm ăn kinh tế nên thường lợi dụng những hạn chế, những kẽ hở của pháp luật trong ký kết, thực hiện hợp đồng kinh tế hoặc trong giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, mặt khác, nếu thực hiện tốt việc phân tích, thuyết phục thì hai bên đương sự cũng dễ dàng chấp nhận, thoả thuận với nhau bằng biện pháp thương lượng, hòa giải để giải quyết các tranh chấp kinh tế đã phát sinh giữa các bên. I. CÁC LOẠI TRANH CHẤP PHỔ BIẾN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ giao hàng hoặc thực hiện lao vụ: Trong thực tế kinh doanh tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ giao hàng hoặc thực hiện lao vụ thường sảy ra rất phổ biến do tập quán và đặc thù khinh doanh ở nước ta. Những tranh chấp này thường do các bên thực hiện không đầy đủ các điều khoản của hợp đồng, không thực hiện nghĩa vụ giao hàng, thậm chí không thực hiện hợp đồng. Dưới đây là một ví dụ điển hình của loại tranh chấp này: Quan hệ kinh tế giữa công ty P và doanh nghiệp tư nhân T (DNTN) hình thành từ các hợp đồng mua bán gạo, Ngày 03/02/1994 hai bên đã ký hợp đồng số 20. Futher, theo đó DNTN T bán cho công ty P 500 tấn gạo 5% tấm với đơn giá là 2150đ/kg với tổng trị giá là 1.075.000.000 đồng. Công ty P ứng trước cho DNTN T 1.000.000.000 đồng sau đó DNTN T đã giao cho công ty P 399 tấn gạo 5% tấm, trị giá 857.850.000 đồng. Hết thời hạn hợp đồng DNTN T vẫn không giao đủ hàng và còn nợ lại công ty P là 142.150.000 đồng, Hai bên đã tiến hành thanh lý hợp đồng 20.Futher và cùng thống nhất chuyển số tiền 142.150.000 đồng từ hợp đồng 20.Futher sang hợp đồng 21B.Futher ký ngày 16/4/1994, theo hợp đồng số 21B.Futher, DNTN T bán cho công ty P 317,8 tấn gạo 5% tấm, đơn giá 2150đ/kg với tổng trị giá hợp đồng là 799.370.000 đồng, Hai bên đã thoả thuận chuyển số tiền 142.150.000 đồng từ hợp đồng số 20. Futher sang hợp đồng 21B. Futher đồng thời công ty P ứng trước cho DNTN T 912.650.250 đồng để thực hiện hợp đồng 21B. Futher DNTN T đã giao hàng cho công ty P 317,8 tấn gạo trị giá 799.370.000 đồng. - 36 -
  9. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp Hết hạn hợp đồng DNTN T vẫn không giao đủ số gạo theo hợp đồng và còn nợ công ty P 255.430.250 đồng. Hai bên đã tiến hành thanh lý hợp đồng và cũng thống nhất chuyển số nợ này sang hợp đồng số 71.Futher, Hợp đồng số 71. Futher được ký ngày 7/5/1994, theo đó DNTN T bán cho công ty P 500 tấn gạo 5% tấm với đơn giá 2080 đồng/kg và trị giá hợp đồng là 1.040.000.000 đồng, trong hợp đồng số 71.Futher hai bên còn thoả thuận chuyển số nợ là 255.430.250 đồng từ hợp đồng số 21B. Futher sang hợp đồng 71. Futher và công ty P ứng trước cho DNTN T 930.000.000 đồng. Thực hiện hợp đồng này DNTN T đã giao hàng cho công ty P 200 tấn gạo trị giá 420.000.000 đồng và hoàn trả lại bằng tiền mặt cho công ty P 240.000.000 đồng. Hết hạn hợp đồng này DNTN T giao hàng thiếu và còn nợ công ty P số hàng tương ứng với số tiền là 525.430.250 đồng và 6.432.000 đồng bao bì. Ngày 11/7/1994 hai bên ký phụ lục số 01/PK điều chỉnh lại đơn giá từ 2080đồng/ Kg lên 2100 đồng/ Kg. Thực hiện hợp đồng này DNTN T giao cho công ty P 200 tấn gạo trị giá 420.000.000 đồng và hoàn trả lại bằng tiền mặt cho công ty P 240.000.000 đồng. Hết hạn hợp đồng DNTN T vẫn chưa giao đủ hàng cho công ty P và còn nợ công ty P số hàng tương ứng với 525.430.250 đồng và 6.432.000 đồng tiền bao bì. Ngày 14/7/1994 hai bên tiền hành thanh lý hợp đồng số 71.Futher và thống nhất chuyển số nợ là 531.862.250 đồng sang hợp đồng số 112.Futher. Cùng ngày 14/7/1994 hai bên đã ký hợp đồng số 112.Futher theo đó DNTN T bán cho công ty P 500 tấn gạo với đơn giá 1690 đồng/ Kg và trị giá hợp đồng là 845.000.000 đồng. Hai bên còn thoả thuận chuyển số tiền 531.862.250 đồng từ hợp đồng 71.Futher sang hợp đồng 112.Futher. Trong hợp đồng số 112.Futher công ty P không ứng tiền cho DNTN T. DNTN T không thực hiện hợp đồng 112. Futher. Hai bên cũng không tiến hành làm biên bản thanh lý hợp đồng, mà DNTN T làm bản cam kết trả lại số tiền 531.862.250 đồng cho công ty P và nếu chậm trả thì phải chịu lãi suất 2,1% theo lãi ngân hàng, DNTN T đã thực hiện cam kết và đã trả được 470.640.000 đồng. Tính đến ngày 5/10/1996 DNTN T còn nợ công ty P là 61.222.250 đồng. Công ty P đã nhiều lần gửi công văn đòi nợ DNTN T nhưng vẫn không lấy lại được tiền. Giám đốc hai bên đã gặp nhau để giải quyết nhưng vẫn không đi đến thoả thuận cuối cùng. Ngày 5/10/1996 Công ty P gửi đơn kiện đến - 37 -
  10. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp Toà kinh tế Toà án Nhân dân Tỉnh Long An yêu cầu giải quyết vụ tranh chấp. Tại phiên toà ngày 15/10/1996 Công ty P yêu cầu DNTN T trả 61.222.250 đồng nợ gốc và 50.353.136 đồng tiền lãi theo mức lãi suất 2,1% tháng từ 7/5/1994 đến 5/10/1996. Ông Hà, chủ DNTN T thừa nhận là có quan hệ buôn bán với công ty P qua các hợp đồng số 20 Futher, 21B.Futher, 71.Futher, 112. Futher và đã không thực hiện hợp đồng số 112. Futher đã cam kết trả dần số tiền 531.862.250 đồng và đã trả được 470.640.000 đồng còn nợ gố là 61.222.250 đồng Ông Hà xin Toà không trả tiền lãi. Sau khi đọc hồ sơ và nghe các bên trình bày, Toà án Nhân dân Tỉnh Long An tuyên rằng các HĐKT số 20.Futher, 21B.Futher, 71.Futher, 112.Futher được ký giữa công ty P và DNTN T là hoàn toàn phù hợp với ngành nghề kinh doanh và tư cách chủ thể. Hợp đồng được tiến hành trên cơ sở tự do thoả thuận, thống nhất và bình đẳng giữa các bên, phù hợp với quy định của pháp luật. Các điều khoản được thoả thuận trong Các hợp đồng số 20.Futher, 21B.Futher, 71.Futher (trừ hợp đồng số 112. Futher), sau khi ký kết hai bên tiến hành thực hiện các điều khoản trong hợp đồng, hết hạn hợp đồng, hai bên tiến hành làm bản thanh lý, mặc dù các hợp đồng này DNTN T không giao đủ hàng nhưng hai bên thống nhất chuyển số nợ sang hợp đồng tiếp theo, hoàn toàn phù hợp với luật định. Riêng hợp đồng số 112. Futher, hai bên thoả thuận ký kết nhưng phía DNTN T không thực hiện hợp đồng và sau khi hết hạn hợp đồng hai bên không tiến hành thanh lý. Tuy nhiên, hai bên đã gặp nhau thoả thuận về việc trả số tiền còn lại bằng tiền mặt, được tiến hành bằng văn bản cam kết có chữ ký của cả hai bên. Bị đơn đã công nhận nợ trước công ty P là 61.222.250 đồng. Riêng phần lãi nhận thấy đây là số nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh giữa hai đơn vị kinh tế việc chịu lãi suất, bồi thường thiệt hại hay bị phạt vi phạm từ hành vi vi phạm của mình là lẽ đương nhiên. Do vậy, yêu cầu không tính lãi của ông Hà không được chấp nhận, Về phía Nguyên đơn yêu cầu thanh toán khoản nợ gốc 61.22.250 đồng là hoàn toàn hợp lý. Còn phần lãi là 50.353.136đồng tính theo lãi suất 2,1% tháng từ 7/5/1994 đến 5/10/1996 là chưa phù hợp, Theo biên bản thanh lý hợp đồng số 71.Futher ngày 14/7/1994 thì hai bên chuyển số nợ 531.862.250 đồng sang hợp đồng số 112.Futher và cùng ngày hợp đồng số - 38 -
  11. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp 112.Futher đã được ký. Từ ngày ký hợp đồng cho đến khi hết hạn DNTN T không thực hiện hợp đồng và cả hai bên không ký kết phụ lục gì thêm nên việc tính lãi suất chỉ được tính từ ngày ký hợp đồng số 112.Futher đến ngày 5/10/1996. Có nghĩa là DNTN T phải trả 61.222.250 đồng nợ gốc và 47.002.404 đồng tiền lãi tính theo lãi suất 2,1%/Tháng từ ngày 14/7/1994 đến 5/10/1996. Toà án còn tuyên xử buộc DNTN T phải trả toàn bộ án phí cho Nguyên đơn. Cách giải quyết của Toà án Tỉnh Long An là thoả đáng được hai bên chấp nhận và cam kết thực hiện. 2. Tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán và tiếp nhận hàng hoá công việc: Trong hoạt động kinh doanh việc một bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán hoặc tiếo nhận hàng hoá công việc thường xuyên sảy ra, bởi nó liên quan đến tiền hàng, nhiều khi các bên chưa có tiền, chưa giao kịp hàng thậm chí có rồi nhưng vì một lý do tế nhị nào đó mà các bên không thực hiện nghĩa vụ thanh toán và tiếp nhận hàng hoá công việc dẫn đến tranh chấp sảy ra. Sau đây là 02 ví dụ về vấn đề này: Vụ tranh chấp thứ nhất: Nguyên đơn là một doanh nghiệp Việt Nam, Bị đơn là một công ty Hoa Kỳ các vấn đề cần được giải quyết là nghĩa vụ trả tiền hàng của Bị đơn, tính tiền lãi suất. Tóm tắt sự việc: Nguyên đơn và Bị đơn đã ký 02 hợp đồng mua bán số 24 -X2 ngày 08/7/1999 và số 29- X2 ngày 29/7/1999 theo đó Nguyên đơn bán cho Bị đơn 44MT hạt tiêu đen theo điều kiện FOB Cảng Thành phố Hồ Chí MInh thanh toán bằng D/P, các chứng từ được yêu cầu gồm: vận đơn hoàn hảo đã xếp hàng lên tàu (Clean on board B/L), hoá đơn thương mại, giấy chứng nhận số lượng và phẩm chất, giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật, phiếu đóng gói. Thực hiện hợp đồng số 24-X2, Nguyên đơn đã giao 14 MT hạt tiêu đen, lấy vận đơn hoàn hảo đã xếp hàng lên tàu ký ngày 24/7/1999, Nguyên đơn lập bộ chứng từ nhờ ngân hàng A ở Tiền Giang thu hộ 61.230 USD, ngân hàng A đã đồng ý thu hộ. Ngân hàng A đã gửi bộ chứng từ tới ngân hàng North Banc (Hoa kỳ) nhờ ngân hàng - 39 -
  12. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp này thu tiền theo D/P. Sau đó ngân hàng A và Nguyên đơn đã nhiều lần gửi Fax đòi tiền từ ngân hàng North Banc và Bị đơn nhưng vẫn không được trả. Thực hiện hợp đồng số 29-X2 Nguyên đơn đã giao cho Bị đơn 30 MT hạt tiêu đen, lấy vận đơn hoàn hảo đã xếp hàng lên tàu ký ngày 20/8/1999, Nguyên đơn lập bộ chứng từ nhờ ngân hàng Việt nam B ở Hậu Giang thu hộ 124.150 USD theo D/P, ngân hàng Việt Nam B đã đồng ý và đã gửi bộ chứng từ cho ngân hàng North Banc (Hoa kỳ) nhờ ngân hàng này thu tiền theo D/P. Tiếp theo ngân hàng Việt Nam B cùng và Nguyên đơn đã nhiều lần gửi Telex, Fax, thư đòi tiền từ ngân hàng NorthBanc và Bị đơn nhưng vẫn chưa được trả tiền. Mặc dù, chưa thanh toán tiền hàng nhưng theo thông báo của hãng tàu, Bị đơn đã nhận cả hai lô hàng bằng vận đơn gốc do hãng tàu ký phát, chuyến cuối cùng nhận ngày 10/9/1999. Sau ngày 10/9/1999 Nguyên đơn tiếp tục gửi nhiều điện, fax đòi Bị đơn trả tiền hàng nhưng Bị đơn vẫn chưa trả. Ngân hàng A và Ngân hàng Việt Nam B đã gửi thư, điện, fax đòi ngân hàng Nothr Banc gửi trả tiền hoặc trả lại bộ chứng từ nhưng ngân hàng Nothr Banc không trả lời. Ngày 14/12/1999 Bị đơn gửi Fax cho Nguyên đơn yêu cầu Nguyên đơn kéo dài thêm một thời gian nữa cho việc thanh toán 61.230 USD và 13.150 USD tiền hàng và Bị đơn sẵn sàng trả lãi suất theo mức 9%/năm. Ngày 15/12/1999 Nguyên đơn đã gửi fax cho Bị đơn không chấp nhận đề nghị trong bản fax ngày 14/12/1999 của Bị đơn. Đồng thời Nguyên đơn tuyên bố nếu đến ngày 20/12/1999 mà Bị đơn không trả tiền hàng thì Nguyên đơn sẽ kiện Bị đơn theo quy định của Hợp đồng. Hết ngày 30/12/1999 vẫn không nhận được tiền hàng, Nguyên đơn đã khởi kiện Bị đơn ra trọng tài đòi bị đơn trả 195.380USD tiền hàng và lãi suất 9%/năm, tính từ ngày nhận hàng 10/9/1999 đến ngày trọng tài xét xử. Phân tích và quyết định của Trọng tài: - Về nghĩa vụ trả tiền hàng của Bị đơn: Đã ký hợp đồng mua hàng, Bị đơn có nghĩa vụ trả tiền hàng cho Nguyên đơn theo phương thức thanh toán D/P, Bị đơn phải trả tiền hàng cho Nguyên đơn thì mới nhận được bộ chứng từ từ ngân hàng, trong đó có vận đơn để nhận hàng. Trên thực tế, Bị đơn chưa trả tiền hàng nhưng đã nhận được - 40 -
  13. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp hàng và đã bán lô hàng đó cho người khác. Điều này được chứng minh bởi thông báo của hãng tàu BCL Word Link International Ltd cho Cảng Sài Gòn và bản Fax ngày 14/12/1999 của Bị đơn gửi cho Nguyên đơn đã nhận được hàng thì Bị đơn có nghĩa vụ trả tiền hàng cho Nguyên đơn. Đồng thời trong bản fax ngày 24/12/1999 Bị đơn đề nghị kéo dài thêm một thời gian nữa cho việc thanh toán 195.380USD. Như vậy, rõ ràng Bị đơn đã thừa nhận là Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng là 195.380USD cho Nguyên đơn. Đến ngày trọng tài xét xử vụ kiện (8/7/2000) Bị đơn vẫn chưa trả tiền hàng cho Nguyên đơn, rõ ràng Bị đơn đã cố tình vi phạm nghĩa vụ trả tiền hàng. Vì vậy trọng tài quyết định buộc Bị đơn phải trả cho Nguyên đơn 195.380USD tiền hàng. - Về tiền lãi suất: Ngày 10/9/1999 là ngày Bị đơn nhận xong hàng, do đó nếu Bị đơn làm thủ tục trả tiền hàng ngay thì tiền hàng cũng phải qua hệ thống ngân hàng rồi mới tới tay Nguyên đơn. Vì thế, trọng tài xác định mốc thời gian hợp lý để tính lãi suất sẽ là từ ngày 20/9/1999. Mức lãi suất 9%/năm do Nguyên đơn tính toán là quá cao và không phù hợp với mức lãi suất tiền vay do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố. Từ đó, trọng tài chấp nhận đối với thời gian chậm trả tiền hàng từ ngày 20/9/1999 đến ngày 8/7/2000 (ngày trọng tài xét xử) Nguyên đơn chỉ được hưởng lãi suất theo mức lãi suất tiền vay trung bình do ngân hàng Nhà nước Việt nam công bố vào thời gian này là 5%/năm. (Nguồn số liệu trích từ sách Tranh chấp từ hợp đồng XNK án lệ trọng tài và kinh nghiệm của PGS.TS Hoàng Ngọc Thiết) Vụ tranh chấp thứ 2: Là vụ tranh chấp giữa Xí nghiệp muối Phương Cự và Xí nghiệp muối trộn Iốt số 2 sau đây phát sinh cũng do nguyên nhân không thanh toán sòng phẳng và dứt điểm tiền hàng cho bên kia: Ngày 29/5/1993, Xí nghiệp muối Phương Cự (bên A) ký hợp đồng số 41/HĐ với xí nghiệp trộn muối Iốt số 2 (Bên B), theo đó bên A bán cho bên B 2000 tấn muối hạt với đơn giá 70.000 đồng/tấn thành tiền là 140.000.000 đồng. Hợp đồng quy định bên B phải giao tiền cho bên A ngay sau khi ký hợp đồng và hàng sẽ được giao tại kho T1, T2, T3 của Bên A vào tháng 11 và 12 năm 1993 nếu trong tháng 12/1993 bên B không nhận hết hàng thì phải chịu chi phí lưu kho 500đ/tấn/tháng - 41 -
  14. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp theo số lượng còn lại. Thực hiện hợp đồng này, bên B tiến hành vay tiền của ngân hàng và đến ngày 3/12/1993 thì cắt séc chuyển tiền cho bên A. Do khó khăn về nguồn tiêu thụ, bên B đã đặt vấn đề với bên A ngày 27/11/1993 hai bên đã gặp nhau và thống nhất kéo dài thời hạn giao hàng sang năm 1994. Sau đó bên B vẫn không chịu nhận hàng với lý do là chưa tìm được nguồn tiêu thụ. Với thiện chí thực hiện hợp đồng và muốn tạo điều kiện thuận lợi cho bên B, bên A lại cho phép bên B thoả thuận lại. Ngày 26/4/1994 Giám đốc của hai bên đã thống nhất phương hướng giải quyết như sau: Cho bên B tiến hành khảo sát tìm thị trường tiêu thụ và thông báo cho bên A biết để thống nhất và tiến hành thực hiện hợp đồng từ tháng 5 đến tháng 12/1994 và sẽ không bắt bên B trả tiền lưu kho trong khoảng thời gian trên. Nếu quá 31/12/1994 bên B không nhận hàng thì hai bên sẽ tiến hành thanh lý hợp đồng và bên B phải bồi thường cho bên A kể cả những thiệt hại do thiên tai, bão lụt gây ra sau ngày 31/12/1994 với điều kiện bên A phải cung cấp đủ bằng chứng hợp lý. Sau khi thoả thuận như vậy bên B vẫn chưa thoả mãn và vẫn tiếp tục đưa ra yêu sách, xin bên A gia hạn thêm với quyết tâm thực hiện hợp đồng, một lần nữa bên A đã chấp nhận yêu cầu của bên B, Ngày 30/4/1994 hai bên lại hẹn gặp nhau để ký phụ lục số 19/HĐ bổ xung và điều chỉnh hợp đồng số 41 HĐ với tinh thần cụ thể hoá những thoả thuận hai bên đã đạt được trong ngày 26/4/1994 và bên A tiếp tục gia hạn thực hiện hợp đồng đối với bên B. Nội dung của phụ lục là: Bên A gia hạn thực hiện hợp đồng số 41/HĐ đến hết ngày 31/5/1995; + Bên B không phải chịu chi phí lưu kho từ ngày ký phụ lục số 19/HĐ cho đến + ngày 31/5/1995; Khi nhận hàng bên B phải thông báo trước 5 ngày để bên A tổ chức thực + hiện; Phụ lục hợp đồng này có hiệu lực từ ngày 1/5/1994 đến 31/5/1995. + Tuy đã được gia hạn nhiều lần nhưng bên B vẫn không chịu nhận hàng. Ngày 10/5/1994 bên B có công văn số 53/XN gửi bên A đề nghị huỷ bỏ hợp đồng số 41/HĐ và phụ lục kèm theo. Nhận được công văn đòi huỷ hợp đồng số 41/HĐ và phụ lục 19/HĐ ngày 3/6/1994 bên A có văn bản số 26/XNM không chấp nhận huỷ bỏ HĐKT số 41/HĐ - 42 -
  15. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp và phụ lục số 19/HĐ theo đề nghị của bên B, văn bản này còn nói rõ rằng nếu bên B huỷ hợp đồng thì phải bồi thường những thiệt hại do việc huỷ hợp đồng gây ra. Ngày 9/7/1994 bên B có đơn số 61/XN gửi Toà án Nhân dân Tỉnh Ninh Thuận đề nghị Toà án xử lý huỷ hợp đồng số 41/HĐ và phụ lục số 19/HĐ, bên B đưa ra lý do là bên A đã tự ý bán hàng và khi bên B đưa khách hàng đến kho của bên A để nhận hàng thì bên A không còn hàng tốt để giao, bên B yêu cầu bên A hoàn lại số tiền đã nhận là 140.000.000 đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (khoản lãi phát sinh trong quá trình bên A giữ tiền). Nhận được đơn kiện của bên B, Toà án nhân dân Tỉnh Ninh Thuận đã tổ chức hoà giải giữa hai bên. Ngày 18/7/1994 Giám đốc xí nghiệp muối trộn Iốt số 2 uỷ quyền cho Ông L với nội dung thay mặt Giám đốc, Ông L đòi huỷ hợp đồng số 41/HĐ và phụ lục 19/HĐ và yêu cầu bên A bồi thường thiệt hại cho bên B. Tại giấy uỷ quyền số 42/UQ ngày 13/7/1993, Giám đốc xí nghiệp muối Phương Cự uỷ quyền cho Ông T tham gia hoà giải trên tinh thần hiệp thương đã thống nhất trong hội đồng xí nghiệp, văn bản uỷ quyền này không nêu rõ lý do nội dung cụ thể trong văn bản uỷ quyền của Giám đốc xí nghiệp muối trộn Iốt số 2. Khi đại diện hai bên đến hoà giải, Toà án nhân dân Tỉnh Ninh Thuận không yêu cầu hai bên xuất trình bất kỳ bằng chứng gì về việc uỷ quyền mà chỉ tiến hành hoà giải giữa hai bên. Sau nhiều lần hoà giải không thành, ngày 12/8/1994 hai bên đã đi đến thoả thuận. Huỷ hợp đồng số 41/HĐ ký ngày 29/5/1993 và phụ lục hợp đồng số 19/HĐ + ký ngày 30/4/1994; Xí nghiệp muối Phương Cự có nghĩa vụ trả lại số tiền 140.000.000 đồng cho + Xí nghiệp muốn trộn Iốt 2. Xí nghiệp muối trộn Iốt số 2 có nghĩa vụ trả cho xí nghiệp muối Phương Cự + 4.000.000 đồng phí lưu kho của 2000 tấn muối từ 30/4/1994 đến 12/8/1994 và 2.000.000 đồng các thiệt hại khác. Ngày 13/8/1994 Toà án Nhân dân Tỉnh Ninh Thuận đã ra quyết định số 01/QĐCNSTT công nhận sự thoả thuận của hai bên với nội dung như trong biên bản hoà giải thành mà hai bên đã ký ngày 12/8/1994. Sau khi quyết định trên đã có - 43 -
  16. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp hiệu lực ngày 22/8/1994, Giám đốc Xí nghiệp muối trộn Iốt số 2 có đơn kháng cáo gửi đến Toà án nhân dân tối cao đề nghị xét xử lại theo hướng huỷ hợp đồng 41/HĐ và phụ lục 19/HĐ, buộc xí nghiệp muối Phương Cự bồi thường thiệt hại. Kháng cáo cũng nêu rằng việc Ông L ký vào biên bản hoà giải thành có nội dung như đã nêu trên là vượt quá phạm vi uỷ quyền. Nhận được đơn kháng cáo của Xí nghiệp muối trộn Iốt số 2 và sau khi xem xét vụ việc ngày 31/12/1994 Phó Chánh toà án nhân dân tối cao có kháng nghị số 02/KT kháng nghị phần quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 01/QĐCNSTT ngày 13/8/1994 của Toà án Nhân dân Tỉnh Ninh Thuận buộc xí nghiệp muối trộn Iốt số 2 bồi thường cho xí nghiệp muối Phương Cự 4.000.000 đồng phí lưu kho và 2.000.000 đồng chi phí thiệt hại khác do vượt quá phạm vi uỷ quyền, đề nghị Toà án kinh tế Toà án nhân dân tối cao xét xử theo trình tự Giám đốc thẩm, huỷ bỏ phần quyết định nói trên để giải quyết lại theo thủ tục chung phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của xí nghiệp muối trộn Iốt số 2. Tại phiên toà Giám đốc thẩm ngày 2/3/1995 sau khi nghiên cứu hồ sơ, nghe các bên trình bày, nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đã chấp nhận kháng nghị của Phó chánh án Toà án nhân dân tối cao huỷ phần quyết định công nhận sự thoả thuận vượt quá phạm vi ủy quyền nhưng không chấp nhận đơn kháng cáo số 07 ngày 22/8/1994 của Xí nghiệp muối trộn Iốt số 2. Trong vụ việc này bên A đã luôn thực hiện đúng những thoả thuận giữa hai bên, những điều bên B đã trình bày như: Bên A đã tự ý bán hàng khi bên B đưa khách hàng đến để nhận hàng thì bên A không có hàng để giao đều không được chấp nhận vì không có bất kỳ một bằng chứng nào để chứng minh, Bên B đã đơn phương đình chỉ hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên A theo đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử Giám đốc thẩm Toà án nhân dân tối cao giao vụ việc cho Toà án nhân dân Tỉnh Ninh Thuận xét xử lại từ giai đoạn Sơ thẩm. Theo định hướng này, Toà án Nhân dân Tỉnh Ninh Thuận đã xét xử tranh chấp như sau: Huỷ hợp đồng số 41/HĐ và phụ lục số 19/HĐ; + Bên A trả lại cho bên B 140.000.000 đồng; + - 44 -
  17. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp Bên B trả cho Bên A những chi phí phát sinh do việc huỷ hợp đồng số 41/HĐ + và phụ lục 19/HĐ. Cụ thể là 4.000.000 đồng phí lưu kho của 2.000 tấn muối từ 30/4/1994 đến 8/1994 theo mức phạt hai bên đã thoả thuận là 500 đồng/tấn/tháng và 2.000.000 đồng các chi phí khác. Về thực chất bản án này có nội dung giống quyết định số 01/QĐCNSTT Một vài nhận xét từ vụ tranh chấp trên: Trong vụ tranh chấp trên mục đích của bên B là huỷ hợp đồng, bên B xin gia hạn thực hiện không phải để tạo điều kiện cho việc thực hiện hợp đồng mà để tìm cớ để huỷ hợp đồng. Phụ lục số 19/HĐ mới có hiệu lực được 10 ngày, bên B đã gửi đơn đòi huỷ hợp đồng và phụ lục đó, không những đã đơn phương huỷ hợp đồng mà bên B còn yêu cầu bên A bồi thường thiệt hại. Bên A rất có thiện chí với khách hàng của mình, vừa gia hạn hợp đồng nhiều lần vừa không tính phí lưu kho đến hết ngày 31/5/1995 nhằm giảm bớt khó khăn, tạo điều kiện cho bên B thực hiện cam kết của mình nhưng bên A đã gặp phải một khách hàng không biết điều. Lẽ ra sau nhiều lần bên B vi phạm cam kết giữa hai bên, bên A có quyền huỷ hợp đồng và yêu cầu bên B bồi thường thiệt hại, làm như vậy, quyền lợi của bên A chắc chắn sẽ được pháp luật bảo đảm. Một điểm nữa cũng cần phải đề cập đến qua vụ tranh chấp này, là thiết sót của Toà án nhân dân Tỉnh Ninh Thuận. Khi tổ chức hoà giải, đại diện của Toà án đã không yêu cầu đại diện các bên xuất trình các giấy uỷ quyền và xen xét đầy đủ nội dung uỷ quyền cũng như các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, do đó đã ra quyết định công nhận sự thoả thuận vượt quá phạm vi uỷ quyền, trái với quy định của pháp luật (vi phạm Điều 9 Pháp lệnh HĐKT và Điều 22 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế). Tuy nhiên, bản án cuối cùng do Toà án nhân dân Tỉnh Ninh Thuận tuyên xử có nội dung giống như nội dung của quyết định số 01/QĐ CNSTT mà quyết định 01/QĐCNSTT lại bị huỷ bỏ điều này thật giản đơn là vì yêu cầu của bên B được ghi trong giấy uỷ quyền không có lý do bên B không có bất kỳ một bằng chứng nào chứng minh được rằng bên A đã vi phạm hợp đồng và phải bồi thường cho bên B, giá như khi tổ chức hoà giải Toà án nhân dân Tỉnh Ninh Thuận xét xử kỹ lưỡng nội - 45 -
  18. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp dung uỷ quyền và các chứng cứ kèm theo thì vụ tranh chấp đã có thể được giải quyết một cách nhanh chóng. 3. Tranh chấp liên quan đến hợp đồng kinh tế vô hiệu: Hợp đồng kinh tế vô hiệu là kết quả của việc ký kết HĐKT trái pháp luật. Về mặt lý thuyết, khi một hợp đồng kinh tế vô hiệu thì các bên không được phép thực hiện nhưng trong thực tế nhiều HĐKT vô hiệu vẫn được thực hiện và chỉ bị phát hiện và xử lý khi giữa các bên phát sinh tranh chấp và đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại Toà án kinh tế. HĐKT vô hiệu dưới đây cũng chỉ được phát hiện và xử lý khi có tranh chấp xảy ra. Ngân hàng thương mại cổ phần Sài gòn Thương Tín (Ngân hàng SGTT) cùng với Công ty chuối và rau qủa xuất khẩu Pan Việt (Công ty Pan Việt) đã ký với nhau 2 bản HĐKT có nội dung cơ bản giống nhau, cùng mang số 133/HĐMB - SGTT nhưng một hợp đồng đề ngày 4/4/1995, một hợp đồng đề ngày 12/4/1995. Theo hai bản hợp đồng này, Ngân hàng SGTT mua của công ty Pan Việt 6 bộ khung kho có bao che và các phụ tùng kèm theo, với tổng diện tích là 28.140 m2 đơn giá USD/m2 và tổng trị giá hợp đồng là 1.125.600 USD. Hai hợp đồng trên còn quy định: trong thời hạn 6 tháng (kể từ ngày 12/4/1995 đến 12/10/1995) công ty Pan Việt phải mua lại toàn bộ 6 bộ khung kho kể trên với giá 42USD/m2, thành tiền là 1.181.880USD, trong trường hợp công ty Pan Việt không mua lại 6 bộ khung kho thì sẽ phải bồi thường thiệt hại cho ngân hàng SGTT là 5USD/m2. Ngược lại, nếu ngân hàng SGTT không bán lại 6 bộ khung kho cho công ty Pan Việt thì phải trả cho công ty Pan Việt 5 USD/m2. Hợp đồng có hiệu lực không quá 6 tháng, thực chất của giao dịch này là: Công ty Pan Việt là một công ty có vốn đầu tư nước ngoài, ngày 14/9/1992 Phòng giấy phép XNK Bộ Thương mại đã cấp giấy phép số 18 và ngày 23/121992 cấp giấy phép số 21 cho công ty Pan Việt được nhập 6 bộ khung kho cùng phụ kiện để phục vụ dự án đầu tư tại Việt nam, theo Giấy phép đầu tư số 325/CP ngày 17/2/1992 của Uỷ ban nhà nước về hợp tác và đầu tư. Tổng trị giá lô hàng nhập khẩu này là1.157.294,78 USD. Sau khi nhập về, số hàng kể trên được Pan Việt đưa vào gửi tại kho cảng sông I (Tân Thuận) - Thành phố Hồ Chí Minh và cho đến đầu năm 1995 vẫn chưa sử dụng đến. Do cần tiền mà lại không có - 46 -
  19. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp tài sản thế chấp để vay nên Pan Việt đã ký 02 hợp đồng với ngân hàng SGTT như đã nêu trên, mục đích là để sử dụng vốn ngân hàng SGTT trong khoảng thời gian 6 tháng, khoản chênh lệch giữa 2 mức giá 40 USD/m2 và 42 USD/m2 được coi là khoản tiền lãi Pan Việt phải trả cho ngân hàng SGTT. Thực hiện hợp đồng, ngày 11/4/1994 hai bên đã lập biên bản số 151/BB - SGTT giao nhận hàng hoá theo hợp đồng nhưng hàng vẫn để tại kho sông I - Cảng Tân Thuận. Ngày 13/4/1995, Ngân hàng SGTT đã giao cho Pan Việt số tiền là 1.125.600 USD tương đương 12.432.252.000 đồng (theo tỷ giá 11.045 VND/USD) gồm những khoản sau: - Vào tài khoản của Pan Việt: 200.000 USD - Tiền mặt giao cho Ông Chang Che Pha: 315.500.000 đồng - Vào tài khoản tiết kiệm của Ông Chang Che Pha: 3.000.000.000 đồng - Vào tài khoản của công ty Hải Dương: 6.909.752.000 đồng theo yêu cầu của Pan Việt. Sau đó, Ngân hàng SGTT còn giao tiếp cho Pan Việt 162.000.000 đồng tiền lãi trên 3.000.000.000 đồng tại tài khoản tiền tiết kiệm của Ông Chang Che Pha trong 3 tháng như sau: - Ngày 15/9/1995: 54.000.000 đồng - Ngày 17/6/1995: 54.000.000 đồng - Ngày 15/7/1995: 54.000.000 đồng Như vậy, tổng cộng ngân hàng SGTT đã giao cho Pan Việt 12.594.252.000 đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng. Ngày 21/7/1995, Pan Việt gửi văn bản số 159/PV - 95 thông báo và cam kết với Ngân hàng SGTT rằng từ ngày 15/8/1995 đến ngày 20/8/1995 Pan Việt sẽ mua lại hai bộ khung kho và sẽ tiếp tục nhận nốt số khung kho còn lại. Ngày 29/7/1995, Ngân hàng SGTT gửi công văn số 469/CV - SGTT chấp nhận đề nghị của Pan Việt, đồng thời yêu cầu Pan Việt thực hiện hợp đồng chậm nhất vào ngày 12/10/1995. Nhưng sau đó công ty Pan Việt không thực hiện cam kết trong hợp đồng số 133/HĐMB - SGTT và văn bản số 159/PV - 95 mà Pan Việt gửi cho - 47 -
  20. Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp Ngân hàng SGTT ngày 21/7/1995, vì vậy Ngân hàng SGTT đã khởi kiện công ty Pan Việt ra Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi xem xét hồ sơ vụ án, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy: Pan Việt nhập 6 bộ khung kho kèm theo phụ tùng là để phục vụ dự án đầu tư tại Việt nam, nhưng tại thời điểm Công ty Pan Việt ký hợp đồng để bán lại cho Ngân hàng SGTT, Pan Việt chưa xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền Pan Việt chỉ được phép dùng 6 bộ khung kho đó để xây dựng cơ sở vật chất, phục vụ dự án đầu tư, không được phép mua đi bán lại. Đồng thời cho tới tháng 6/1996, Pan Việt vẫn chưa kê khai và nộp các loại thuế về lô hàng nhập khẩu 6 bộ khung kho theo quy định của Điều 35 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam và Điều 76 khoản 4 Nghị định 18/CP ngày 16/4/1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam. Điều này có nghĩa là 6 bộ khung kho là đối tượng cấm mua bán theo quy định của pháp luật. Các hợp đồng kinh tế số 133/HĐMB - SGTT đề ngày 4/4/1995 và 12/4/1995 là vô hiệu toàn bộ theo quy định của Điều 8 Khoản a Pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Với nhận định như vậy, tại bản án Sơ thẩm số 13/KTST ngày 12/6/1996 Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử: ♦ Hai bản hợp đồng kinh tế số 133/HĐMB - SGTT đề ngày 4/4/1995 và 12/4/1995 giữa công ty Pan Việt và Ngân hàng SGTT là vô hiệu toàn bộ. ♦ Công ty Pan Việt phải chuyển trả Ngân hàng SGTT số tiền là 1.125.600 USD ♦ Ngân hàng SGTT phải giao hàng trả cho công ty Pan Việt 6 bộ khung kho đúng như tình trạng giao nhận ban đầu giữa hai bên theo biên bản số 151/BB - SGTT ngày 11/4/1995. Côngty Pan Việt không được bán, chuyển nhượng cho nơi khác để đảm bảo thi hành án. ♦ Mọi thiệt hại phát sinh các bên phải tự chịu; ♦ Buộc công ty Pan Việt phải nộp ngân sách nhà nước số tiền là 162.000.000 đồng từ khoản tiết kiệm của Ông Chang Che Pha trong 3 tháng ngày 19/6/1996. Công ty Pan Việt có đơn kháng cáo cho rằng 2 hợp đồng kinh tế đã ký giữa hai bên là hợp pháp, Pan Việt không có khả năng hoàn trả Ngân hàng SGTT số tiền 1.125.600 USD theo quyết định của án Sơ thẩm, đề nghị xét xử cho hợp tình hợp lý. - 48 -

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản