intTypePromotion=1

Giáo trình Giao tiếp với trẻ em: Phần 1

Chia sẻ: Lê Thị Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:60

0
143
lượt xem
24
download

Giáo trình Giao tiếp với trẻ em: Phần 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phần 1 Giáo trình Giao tiếp với trẻ em trình bày những vấn đề chung về giao tiếp như khái niệm giao tiếp, giao tiếp và sự phát triển nhân cách, các loại giao tiếp, các thành tố của hành vi giao tiếp, các nguyên tắc giao tiếp, một số kĩ năng giao tiếp cơ bản.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Giao tiếp với trẻ em: Phần 1

  1. ĐẠI HỌC HUẾ TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA NGUYỄN VĂN LŨY – TRẦN THỊ TUYẾT HOA Giáo trình GIAO TIẾP VỚI TRẺ EM (In lần thứ hai) NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
  2. Phần 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIAO TIẾP I. KHÁI NIỆM GIAO TIẾP 1. Giao tiếp là gì? Giao tiếp là một hoạt động rất phức tạp, là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học. Ở Mỗi góc độ khác nhau, người ta đưa ra định nghĩa khác về giao tiếp. Trong tâm lý học, Giao tiếp được hiểu là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người-người, hiện thực hóa quan hệ xã hội giữa người với nhau. Nói cách khác, giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin,về xúc cảm, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau. Giao tiếp là một dạng hoạt động đặc trưng của con người và tham gia vào tất cả các hoạt động (lao động, học tập, vui chơi…) với nhiều hình thức khác nhau: Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân;giữa cá nhân với nhóm;giữa nhóm với cộng dồng… Giao tiếp có những đặc trưng cơ bản sau: - Giao tiếp là một quá trình mà con người ý thức được mục đích, nội dung và những phương tiện cần thiết để đạt được mục đích khi kết thúc với người khác. Vì vậy, giao tiếp giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa các chủ thể. - Giao tiếp bao giờ cũng diễn ra sự trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, nhu cầu… giữa những người tham gia giao tiếp. nhờ vậy, qua giao tiếp, mỗi người đều chiếm lĩnh được nội dung của các mối quan hệ xã hội, nền văn hóa xã hội, hình thành và phát triển nhân cách. Đó chính là quá trình xã hội hóa cá nhân. - Giao tiếp vừa mang tính chất xã hội, vừa mang tính chất cá nhân. Tính chất xã hội của giao tiếp thể hiện ở chỗ, nó nảy sinh,hình thành trong xã hội và sử dụng các phương tiện do con người làm ra, được quyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tính chất cá ,nhân thể hiện ở nội dung, phạm vi, nhu cầu, phong cách kĩ năng… giao tiếp của mỗi người. - Giao tiếp không chỉ xảy ra trong hiện tại mà còn với cả quá khứ và tương lai.
  3. - Giao tiếp không chỉ là điều kiện phát triển nhân cách cá nhân mà còn là tiền đề cho sự phát triển của xã hội. cộng đồng,dân tộc,cho sự tiếp thu và hòa quyện lẫn nhau giữa các nền văn hóa, văn minh nhân loại. 2. Chức năng của giao tiếp. Giao tiếp có nhiều chức năng khác nhau phục vụ cho xã hội, cộng đồng hay từng thành viên của xã hội. có thể nêu lên những chức năng cơ bản sau: a) Chức năng thông tin. Qua giao tiếp, con người trao đổi, truyền đạt tri thức, kinh nghiệm với nhau. Mỗi cá nhân vừa là nguồn phát thông tin vừa là nơi tiếp nhận thông tin. Thu nhận và xử lý thông tin là con đường quan trọng hình thành nên thế giới tinh thần của mỗi người. Nguyễn Trãi từng nói: “Trải biến nhiều thì lo nghĩ sâu, tính toán xa thì thành công lớn”. b) Chức năng cảm xúc. Giao tiếp không chỉ bộc lộ cảm xúc mà còn tạo ra những ấn tượng, những cảm xúc mới với những người giao tiếp. Vì vậy giao tiếp là một trong những con đường hình thành tình cảm của con người. c) Chức năng nhận thức lẫn nhau và đánh giá lẫn nhau. Trong giao tiếp, mỗi chủ thể tự bộc lộ quan điểm, tư tưởng, thái độ, thói quen… của mình, do đó các chủ thể có thể nhận thức được vế nhau làm cơ sở đánh giá lẫn nhau. Một điều quan trọng hơn là trên cơ sở so sánh với người khác và ý kiến đánh giá của người khác, mỗi chủ thể có thể tự nhận thức, tự đánh giá được về bản thân mình. d) Chức năng điều chỉnh hành vi. Trên cơ sở nhận thức lẫn nhau và tự đánh giá dược bản thân,trong giao tiếp, mỗi chủ thể có khả năng tự điều chỉnh hành vi của mình cũng như có thể tác động đến động cơ, mục đích, quá trình ra quyết định và hành động của người khác. e) Chức năng phối hợp hoạt động. Nhờ có quá trình giao tiếp, con người có thể phối hợp hoạt động để cùng nhau giải quyết nhiệm vụ nào đó nhằm đạt tới mục tiêu chung. Ví dụ: Để tổ chức trò chơi cho trẻ, bằng giao tiếp, cô giáo và trẻ cũng như giữa các trẻ với nhau thống nhất cách chơi, luật chơi; Giao tiếp giữa các quốc gia, các cộng đồng trên thế giới để cùng hành động bảo vệ môi trường…
  4. Tóm lại, giao tiếp là quá trình quan hệ, tác động qua lại giữa con người và con người, trong đó con người trao đổi thông tin, cảm xúc, nhận thức, đánh giá và điều chỉnh hành vi lẫn nhau, đồng thời tự điều chỉnh hành vi của mình. II. GIAO TIẾP VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH 1. Giao tiếp là phương thức tồn tại của con người. Nhu cầu giao tiếp là một nhu cầu sống còn của con người và được xuất hiện sớm trong tiến trình phát triển của loài người cũng như của cá nhân. Nhu cầu này liên quan đến hầu hết các nhu cầu cơ bản của con người. giao tiếp là điều kiện cần thiết cho sự phát triển bình thường của con người như là mộ thành viên của xã hội, như là một nhân cách. Giao tiếp đảm bảo việc tổ chức hoạt động chung cho con người, tổ chức sự liên hệ qua lại của họ. đặc điểm cơ bản thể ở chỗ quá trình giao tiếp chính là quá trình trao đổi các ý đồ các tư tưởng… Chính trong quá trình giao tiếp các chủ thể trao đổi với nhau về quá trình và kết quả của phản ánh tâm lý. Nhờ vậy mỗi người có điều kiện lĩnh hội các năng lực người và phát triển nhân cách. C.Mác viết: “sự phát triển cá nhân được quy định bởi sự phát triển tất cả các cá thể khác mà anh ta tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp”. Trong giao tiếp, các cá nhân sáng tạo ra nhau, ở đó diễn ra sự tác động của con người bởi con người”, Hình thành những con người như là các chủ thể xã hội. Như vậy, cá nhân không được sống trong xã hội loài người, không được giao tiếp với người khác sẽ không thể tồn tại như một con người-chủ thể xã hội. 2. Giao tiếp là con đường tiếp thu nền văn hóa xã hội. Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng định: tâm lí con người có nguồn gốc từ bên ngoài, từ thế giới khách quan chuyển vào não người. Trong thế giới đó, các quan hệ xã hội, nền văn hóa xã hội là cái quyết định tâm lý người. Nền văn hóa xã hội là toàn bộ tri thức, kinh nghiệm của lịch sử loài người được vật chất hóa vào các sản phẩm lao động, trong đó có con người, Nói cách khác, mỗi con người, cộng đồng người đều mang trong mình ở một mức độ nào đó những kinh nghiệm xã hội lịch sử mang dấu ấn của nền văn hóa xã hội. thông qua giao tiếp, mỗi cá nhân được tiếp thu nội dung đó để chuyển thành vốn liếng riêng của mình. Ở góc độ này, giao tiếp được coi là một hoạt động đặc biệt của con người.-Trong đó diễn ra quá trình xuất tâm và
  5. nhập tâm. Nói cách khác, trong hành vi giao tiếp có sự trình diễn “thế giới nội tâm” của chủ thể cho các chủ thể khác, và đồng thời chính hành vi đó đòi hỏi sự tồn tại và phát triển của “thế giới nội tâm”này. Cứ như vậy thông qua giao tiếp, mỗi người dần nắm bắt được tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử, nắm bắt nội dung nền văn hóa xã hội, hình thành và phát triển nhân cách đồng thời góp phần phát triển nền văn hóa đó. Qua giao tiếp con người biết được các giá trị xã hội của người khác và của bản thân trên cơ sở đó, cá .nhân tự điều khiển, điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực xã hội do đó nhân cách con người ngày càng hoàn thiện hơn. 3. Giao tiếp thỏa mãn và phát triển các nhu cầu của con người. Giao tiếp là hình thái đặc trưng của sự tác động qua lại giữa người này và những người khác như là tác động qua lại của các chủ thể, trong đó diễn ra quá trình trao đổi thông tin. Nếu xét ở góc độ phát sinh cá thể, giao tiếp thỏa mãn nhu cầu đặc biệt và xuất hiện sớm ở con người – nhu cầu được tiếp xúc với người khác. Sự thỏa mãn này liên quan tới sự xuất hiện tình cảm vui sướng. Mong muốn được giao tiếp thường có vị trí đáng kể và dẫn dắt các động cơ, thúc đẩy con người tiến hành các hoạt động thực tiễn. Con người thường giao tiếp với người khác trong phần lớn trường hợp, không chỉ thỏa mãn nhu cầu giao tiếp mà còn thỏa mãn nhu cầu khác. Sự thỏa mãn bất kì nhu cầu nào của con người đều bao hàm phương diện giao tiếp. nhiều. nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng sự giao tiếp không đầy đủ về số lượng, nghèo nàn về nội dung của trẻ nhỏ với người lớn và người xung quanh dễ dẫn đến những hậu quả nặng nề. Trẻ mắc bệnh “hospitalision”(bệnh nằm viện lâu ngày), èo ruột. Mặc dù được chăm sóc chu đáo về mặt vệ sinh và y tế song những đứa trẻ lớn lên trong điều kiện “đói giao tiếp” đều chậm phát triển trí tuệ, tâm lý cũng như thể chất. Đúng như B.Ph. Lômôv đẵ từng khẳng định: “Khi con người rơi vào sự cô đơn kéo dài (không giao tiếp) có thể dẫn đến sự rối loạn tri giác, chú ý va lĩnh vực cảm xúc của con người, có thể dẫn đến quan niệm lệch lạc về bản thân và các hiện tượng của thế giới xung quanh”. Giao tiếp không chỉ thỏa mãn các nhu cầu mà còn phát triển các nhu cầu khác của con người. Thông qua giao tiếp, các nhu cầu bản năng được xã hội hóa, các nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng phát triển, làm phong
  6. phú, có ý nghĩa và hạnh phúc hay không tùy thuộc vào tính chất của các mối quan hệ giữa ta và những người khác. III. CÁC LOẠI GIAO TIẾP Có nhiều cách phân loại giao tiếp. 1. Căn cứ vào phương diện giao tiếp: có ba loại giao tiếp sau: a) Giao tiếp bằng ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết): Đây là hình thức giao tiếp đặc trưng của con người bằng cách sử dụng những tín hiệu chung là từ, ngữ. Từ, ngữ là những tín hiệu quy ước của con người dùng để chỉ chính bản thân sự vật, hiện tượng, tức là làm vật thay thế cho chúng, và do đó khác hẳn với tiếng kêu của con vật. Thông qua giao tiếp bằng ngôn ngữ, con người mới có thể lưu giữ, truyền đạt, lĩnh hội và phát triển kinh nghiệm xã hội – lịch sử. b) Giao tiếp bằng tín hiệu phi ngôn ngữ: Là giao tiếp bằng các tín hiệu không phải là ngôn ngữ mà bằng sự chuyển động của thân thể, của cơ mặt, trang phục, điệu bộ, giọng nói, bài trí không gian, âm nhạc và khoảng cách. Sự kết hợp giữa các tín hiệu phi ngôn ngữ khác nhau có thể hiện các sắc thái tâm lý khác nhau của con người. Ví dụ: “lắc đầu” đi cùng với “nét mặt hầm hầm” thì có nghĩa là tức giận; ở nữ giới, “lắc đầu” đi kèm với “cười tủm tỉm” thường thể hiện sự đồng ý kín đáo, hài lòng… c) Giao tiếp vật chất: Là giao tiếp thông qua hành động với vật thể. Ví dụ: cô giáo gõ mạnh thước lên mặt bàn là có dụng ý nhắc học sinh trât tự. 2. Căn cứ vào khoảng cách giao tiếp: Có thể có hai loại giao tiếp cơ bản: a) Giao tiếp trực tiếp: Là giao tiếp mặt đối mặt, các chủ thể trực tiếp phát và nhận tín hiệu của nhau. Ví dụ: Cô giáo giao tiếp trong lớp với học sinh. Trong quá trình giao tiếp trực tiếp, ngoài việc sử dụng ngôn ngữ, con người còn sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ để phụ họa và có thể biết ngay kết quả cuộc giao tiếp. b) Giao tiếp gián tiếp: Giao tiếp thông qua nhân vật trung gian, phương tiện kĩ thuật (thư từ, điện tín …) hoặc có khi qua ngoại cảm, thần giao cách cảm … 3. Căn cứ vào quy cách giao tiếp: Người ta chia làm hai loại: a) Giao tiếp chính thức: Giao tiếp diễn ra theo quy định, thể chế chức trách. Những người tham gia giao tiếp phải tuân thủ một số yêu cầu xá định. Ví dụ: Giao tiếp giữa giáo viên và học sinh; giao tiếp giữa các nguyên thủ quốc gia …
  7. b) Giao tiếp không chính thức: Giao tiếp không bị ràng buộc bởi các nghi thức mà dựa vào tính tự nguyện, tự giác, phụ thuộc vào nhu cầu, hứng thú, cảm xúc… của những người tham gia giao tiếp. Ví dụ: Giao tiếp trong nhóm bạn bè; giao tiếp giữa các cá nhân trên một chuyến xe, giao tiếp cùng xem bóng đá… IV. CÁC THÀNH TỐ CỦA HÀNH VI GIAO TIẾP 1.Nhân vật giao tiếp Những người tham gia giao tiếp được gọi là nhân vật giao tiếp, bao gồm: Nhân vật nguồn thông tin va nhân vật nhận thông tin. Để ý thức được nội dung giao tiếp, chúng ta phải tính đến những yếu tố có liên quan đến khoảng cách xã hội và mức gắn bó giữa những nhân vật giao tiếp. căn cứ vào đó, người ta có thể khái quát thành hai loại quan hệ giao tiếp là: Quan hệ vị thế và quan hệ thân hữu. Vị thế được xác định dựa trên những giá trị xã hội liên quan đến tuổi tác, giới tính và cương vị xã hội. Vai giao tiếp là biểu hiện rõ nét của vị thế xã hội. Phần lớn những nhân vật giao tiếp không gặp khó khăn khi xác định vị thế giao tiếp của mình (nhân viên – thủ trưởng, ông bà – cháu, cha mẹ – con cái, bạn bè, đồng nghiệp …). Mức độ thân hữu: Đó là nhân tố bên trong của giao tiếp và mang tính thương lượng hơn là quy định. Mỗi cách xưng hô có thể làm tăng hoặc giảm mức độ thân hữu giữa các nhân vật giao tiếp. Quá trình giao tiếp diễn ra khi nhân vật nguồn thông tin bị kích thích một cách có ý thức hay không ý thức bởi một sự việc, một khách thể hay một ý tưởng nào đó. Ở họ xuất hiện nhu cầu gửi thông điệp tới nhân vật nhận thông tin sau khi dùng trí nhớ để tìm ra thứ “tiếng” (ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ) thích hợp để mã hóa thông điệp. Các nhân tố như sự tri giác, kì vọng, thái độ tâm trạng… đều có thể ảnh hưởng đến việc gửi thông điệp. Thông thường trong các nhân vật giao tiếp đều chứa đựng các thông tin cần gửi. Do vậy đặc trưng của giao tiếp là có sự trao đổi thông tin, và cũng vì thế, giao tiếp mới có được vai trò quan trọng trong đời sống. 2.Hệ thống tín hiệu (kênh) Khi giao tiếp, thông điệp được mã hóa và được truyền tải qua một kênh hay nhiều kênh. Có thể phân biệt các loại kênh: Căn cứ vào cách thể hiện có thể
  8. có các kênh chữ, hình, âm thanh; căn cứ vào cách tiếp nhận có thể có kênh thị giác, thính giác, xúc giác… Chẳng hạn khi người ta lựa chọn phương tiện mang tính vật chất như bắt tay, vỗ vai, ôm hôn… Trong trường hợp này xúc giác được coi như là một “ kênh” giao tiếp . Hình thức truyền thông điệp có thể là trực tiếp ( mặt đối mặt ) hay gián tiếp qua những phương tiện kĩ thuật (vô tuyến truyền hình, điện thoại, radio… ). Việc chọn kênh ( hệ thống tín hiệu ) giao tiếp là một yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả giao tiếp. Các kênh giao tiếp khác nhau đòi hỏi phương pháp phát triển ý tưởng khác nhau và có thể dẫn đến hiệu quả giao tiếp khác nhau. Ví dụ: Giáo viên chọn kênh lời giảng giải một vấn đề với học sinh thì có thể có ảnh hưởng khác với lực chọn kênh hình để diễn tả vấn đề đó. Nhờ kênh giao tiếp phù hợp, thông điệp mới được nhân vật tiếp nhận trong giao tiếp giải mã. Thông điệp đã được giải mã này sẽ không giống hệ với thông điệp được người mã hóa (nhân vật nguồn ) thực hiện trong giao tiếp. Đây cũng là một trong những căn cứ minh chứng cho luận điểm “ tâm lí là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”. Việc giải mã và có thông điệp phản hồi đã tạo ra quá trình giao tiếp hoàn chỉnh. 3. Phản hồi Ngay sau khi hiểu được nội dung thông điệp người nhận thường có sự trả lời- phản hồi. Sự phản hồi có thể mang hình thức ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ hoặc cả hai. Trong giao tiếp, mỗi nhân vật cần quan sát sự phản hồi một cách cẩn thận để điều chỉnh hành vi giao tiếp của mình. Quá trình nhận và gửi thông điệp đã làm cho vai trò của các nhân vật giao tiếp luôn thay đổi, khi là chủ thể, khi lại trở thành khách thể ( đối tượng ) giao tiếp. 4. Hoàn cảnh giao tiếp Giao tiếp luôn xảy ra trong một tình huống, một môi trường hoàn cảnh nhất định. Hoàn cảnh đó có ảnh hưởng lớn tới cách thức, nội dung giao tiếp. Bởi lẽ hoàn cảnh giao tiếp có thể tạo ra các cảm xúc khác nhau ở các nhân vật giao tiếp. Kích thước, màu sắc của căn phòng, kiểu trang trí sắp đặt, số lượng người , kiểu trang điểm của nhân vật giao tiếp ….. đều ảnh hưởng tới cách giao tiếp của chúng ta.Vì vậy, để đạt hiệu quả giao tiếp cần chuẩn bị một hoàn cảnh giao tiếp thuận lợi về cả mặt không gian lẫn mặt tâm lí.
  9. V. CÁC NGUYÊN TẮC GIAO TIẾP Giao tiếp là một quá trình phức tạp bao hàm nhiều mặt, nhiều cấp độ tác động qua lại giữa con người với con người, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tâm lí – xã hội khác nhau. Vì vậy, để đạt được hiệu quả giao tiếp, cần tuân thủ một số nguyên tắc giao tiếp cơ bản. 1. Khái niệm nguyên tắc giao tiếp Nguyên tắc giao tiếp là hệ thống những quan điểm chỉ đạo định hướng thái độ và hành vi ứng xử, đồng thời chỉ đạo việc lựa chọn các phương pháp phương tiện giao tiếp của cá nhân. Nguyên tắc giao tiếp được hình thành ở mỗi cá nhân thông qua sự nhận thức lí luận, sự trải nghiệm và rèn luyện của họ. Nguyên tắc giao tiếp mang tính chất bền vững và tương đối ổn định, có tác dụng định hướng, chỉ đạo, điều khiển, điều chỉnh thái độ và các phản ứng hành vi của cá nhân trong giao tiếp. Tuy vậy việc vận dụng các nguyên tắc giao tiếp lại cần có sự linh hoạt sao cho phù hợp với tình huống, điều kiện và đối tượng giao tiếp. 2. Nguyên tắc giao tiếp cơ bản a) Tôn trọng nhân cách của đối tượng giao tiếp Trong quan hệ xã hội, ai cũng có nhu cầu được người khác tôn trọng. Vì vậy trong giao tiếp cần phải tôn trọng phẩm giá tâm tư, nguyện vọng và tính cách của nhau, không ép buộc nhau bằng cường quyền, vị thế, uy lực… Tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp là phải coi đối tượng giao tiếp là con người có đầy đủ các quyền học tập, lao động…, được bình đẳng với mọi người trong quan hệ xã hôi. Đối lập với tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp là thái độ coi thường, miệt thị, kiêu căng, tự phụ trong giao tiếp. Tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp được biểu hiện: - Có thái độ trân trọng, niềm nở khi tiếp xúc Dù ở cương vị nào, đối tượng nào, khi mới tiếp xúc chúng ta cũng cần thể hiện rõ sự trân trọng, mừng rỡ qua những hành vi chào đón: bắt tay, mỉm cười, gật đầ, mời ngồi….Thái độ trân trọng khi tiếp xúc luôn tạo ra những xúc tích cực ở đối tượng giao tiếp: tin tưởng, vui vẻ, tự tin…và nhờ đó quá trình giao tiếp diễn ra được thuận lợi. - Biết lắng nghe ý kiến của đối tượng giao tiếp. Bản chất của giao tiếp là trao đổi thông tin. Cùng với sự khẳng định tự thể hiện, trao đổi thông tin cũng là nhu cầu của người tham gia giao tiếp.
  10. Việc tỏ thái độ chú ý lắng nghe ý kiến của đối tượng giao tiếp thể hiện sự quan tâm, trân trọng nhu cầu của họ, thỏa mãn những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của đối tượng giao tiếp. việc thoả mãn nhu cầu bao giờ cũng làm nảy sinh các cảm xúc vui sướng, có tác dụng tích cực và nâng cao hiệu quả quá trình giao tiếp. Biết lắng nghe là một kĩ năng, một nghệ thuật, một văn hóa giao tiếp cần có ở mỗi người. Biết nghe sẽ làm cho đối tượng giao tiếp trở thành biết nói. Hành vi cụ thể của người biết lắng nghe trong giao tiếp hết sức phong phú: Không lơ đãng, không ngắt lời, không quay mặt đi, không nhìn đồng hồ, biết tàm thưởng, có lời nói ôn tồn… Biết lắng nghe còn giúp tránh sự hiểu lầm trong quan hệ. Hiểu lầm thường gây ra sự bất hòa, không lợi cho quá trình giao tiếp. - Có thái độ ân cần, thêt hiện các phản ứng biểu cảm một cách chân thành, trung thực. Những giả dối trong ngôn ngưc thường mâu thuẫn với nhũng biểu hiện của nét mặt, cử chỉ. Đó là lẽ tự nhiên vì tâm lí thống nhất với hoạt động. Do đó sự chân thành, trung thực, ân cần vừa thể hiện thái độ tôn trọng đối tượng giao tiếp, vừa là cơ sở duy trì quan hệ bền đẹp. - Tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp còn thể hiện qua hành vi giao tiếp có văn hóa. Bất luận trong trường hợp nào cũng không được dùng ngôn ngữ có tính miệt thị, xỉ vả, xúc phạm nhân cách của nhau, nhất là những chỗ công cộng, ở những nơi đông người. Ngoài ra, các cử chỉ, động tác…trong giao tiếp còn cần phải phù hợp với phong tục, truyền thống văn hóa địa phương, dân tộc của đối tượng giao tiếp. - Tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp còn được thể hiện ở trang phục, đầu tóc gọn gàng, sạch sẽ, đúng kiểu cách. Trong các điều kiện giao tiếp khác nhau, người ta có thể có trang phục, kiểu cách khác nhau. Song ăn mặc quần áo lôi thôi luộm thuộm, bẩn thỉu, nhàu nát …đều là biểu hiện thiếu tôn trọng đối tượng giao tiếp và cũng chính là thiếu tôn trọng bản thân, đồng thời minh chứng rằng bạn là người cẩu thả, lười biếng. Tôn trọng nhân cách đối tương giao tiếp là nguyên tắc cơ bản đòi hỏi mỗi người phải tuân thủ trong giao tiếp mới có thể gặt hái những thành công trong quan hệ xã hội.
  11. b) Có thiện ý trong giao tiếp Thiện ý trong giao tiếp là luôn mong muốn đem lại điều tốt đẹp cho người mà mình giao tiếp.Thiện ý được hiểu như cái “ tâm”. “tính thiện”, “ lòng nhân hậu”…của con người. -Thiện ý biểu hiện trước hết ở sự tin tưởng đối tượng giao tiếp. Mỗi con người đều có những mặt tốt và những nét xấu. Trong giao tiếp, chúng ta nên hi vọng và tin tưởng vào những mặt tốt, ưu điểm của đối tượng giao tiếp. Điều này có tác dụng khích lệ họ cố gắng để xứng đáng với lòng tin mà ta đã gửi gắm họ, nhờ vậy họ sẽ cố gắng vươn tới sự hoàn thiện hơn, tốt đẹp hơn. Tuy nhiên ở đây khác với tin tưởng một cách mù quáng để đối tượng giao tiếp lợi dụng. Cần nhạy bén xác định động cơ giao tiếp của đối tượng mà “ tạm ứng niềm tin” với mức độ thích hợp. - Một biểu hiện khác của thiện ý trong giao tiếp là chân thành và công bằng trong nhận xét đánh giá về nội dung vấn đề mà đối tượng giao tiếp đang trình bày, về nhân cách đối tượng giao tiếp. Điều đó giúp đối tượng giao tiếp thêm tin tưởng vào người mình giao tiếp và tựn nhận thức bản thân đầy đủ và chính xác hơn. Việc đánh giá nhận xát có phần “ cao hơn” thực tế mang động viên khuyến khích cũng là một biểu hiện của thiện ý trong giao tiếp song bao giờ cũng phải hết sức chân thành mới có ý nghĩa. - Thiện ý trong giao tiếp còn biểu hiện ở thái độ không thành kiến với đối tượng giao tiếp và dành tình cảm tốt đẹp cho họ. Bất cứ ai cũng có vài khuyết điểm nào đó.Trong giao tiếp cần cố gắng nhìn thấy những ưu điểm hơn là để ý tới những khuyết điểm của đối tượng giao tiếp. Đây là thài độ quan hệ thiện ý. Triết học Mác – Lênin khẳng định con người luôn vận động theo xu thế phát triển. Nếu chúng ta nhìn người theo con mắt động thì mọi thành kiến của chúng ta sẽ biến mất. Khi dứt bỏ những thành kiến, chúng ta sẽ có thái độ, hành vi độ lượng và khách quan hơn trong giao tiếp, chúng ta dễ dàng dành tình cảm tốt đẹp cho đối tượng giao tiếp, thiện ý của ta bộc lộ rõ hơn và tạo nên thiện cảm ở đối tượng, làm cho quan hệ hai bên thêm thuận lợi. C ) Đồng cảm trong giao tiếp Đồng cảm trong giao tiếp là có cùng chung cảm xúc, cảm nghĩ giữa các nhân vật trong quá trình giao tiếp. Để có sự đồng cảm , mỗi người phải biết đặt mình vào vị trí của người khác vào hoàn cảnh, lứa tuổi của người khác để suy nghĩ và cảm thông với niềm vui, nỗi buồn của họ.
  12. Đồng cảm bao giờ cũng xuất phát từ sự hiểu biết lẫn nhau. Tuy vậy, người có kinh nghiện giao tiếp có thể ngay từ lần gặp đầu tiên đã có khả năng đồng cảm với người khác. Đồng cảm tạo ra sự gần gũi, thân mật, tạo ra cảm giác an toàn và hứng thú khi giao tiếp với nhau. Đồng cảm là cơ sở của sự sẻ chia, của hành vi nhân hậu và khoan dung. Nhờ có sự đồng cảm mà chủ thể giao tiếp mới có hành vi ứng xử phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của đối tượng giao tiếp. Đồng cảm cũng là điều kiện thuận lợi để đối tượng giao tiếp dễ dàng bộc bạch tâm tư, cởi mở tấm lòng. Nắm được suy nghĩ sâu xa, tình cảm từ đáy lòng của đối tượng giao tiếp là mong muốn của mỗi chúng ta. VI. MỘT SỐ KĨ NĂNG GIAO TIẾP CƠ BẢN 1. Khái niệm a) Kĩ năng: là mức độ làm chủ phương pháp hành động trên cơ sở trí thức đã tiếp thu được và thể hiện trong quá trình giải quyết một nhiệm vụ xác định. Kĩ năng có nhiều mức độ khác nhau. Mức độ khởi đầu là tái hiện một cách có ý thức tri thức đã học, mức độ cao nhất là cận kĩ xảo. Đặc trưng của kĩ năng là vận dụng tri thức vào thực tiễn dưới dạng thao tác và hành động đúng. Nói cách khác, kĩ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm và những cách thức hành động đúng vào thực tiễn. Điều kiện chung đảm bảo hiệu quả cao nhất của việc hình thành kĩ năng là: - Sự lĩnh hội các tri thức đã được khái quát hóa - Mối quan hệ ngược trong quá trình giải quyết nhiệm vụ mới b) Kĩ năng giao tiếp: Là mức độ phối hợp lý nhất định các thao tác, cử chỉ, điệu bộ, hành vi (kể cả hành vi ngôn ngữ) đảm bảo đạt kết quả trong quá trình giao tiếp của con người. Kĩ năng giao tiếp vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo , tính linh hoạt, sáng tạo, vừa có tính mục đích. Bản chất của kĩ năng giao tiếp là sự phối hợp phức tạp giữa chuẩn mực hành vi xã hội của cá nhân với sự vận động của cơ thể (cơ mặt, ánh mắt, nụ cười , môi…, động tác tay, chân, đầu, cổ, vai, tư thế vận động…) và ngôn ngữ. Sự phối hợp đó có tính hài hòa, hợp lý có nghĩa là nó mang lại một nội dung
  13. thông tin nhất định, phù hợp với mục đích giao tiếp và mang lại hiệu quả trong quá trình giao tiếp. Kĩ năng giao tiếp được hình thành bằng các con đường: - Rèn luyện qua tiếp xúc với mọi người xung quanh - Tích lũy những kinh nghiệm qua tham gia các mối quan hệ xã hội - Tiếp thu những thói quen ứng xử được xây dựng trong gia đình 2. Các kĩ năng giao tiếp cơ bản Giao tiếp là một quá trình gồm nhiều giai đoạn được phân chia một cách tương đối như sau: - Giai đoạn định hướng trước khi thực hiện giao tiếp - Giai đoạn mở đầu cuả quá trình giao tiếp - Giai đoạn điều chỉnh, điều khiển và phát triển quá trình giao tiếp - Giai đoạn kết thúc quá trình giao tiếp Các giai đoạn trong quá trình giao tiếp luôn thống nhất với nhau, có tác động qua lại với nhau, cùng quyết định hiệu quả của quá trình giao tiếp. Căn cứ vào diễn biến của quá trình giao tiếp, người ta có thể phân chia thành các nhóm kĩ năng , trong đó bao hàm các kĩ năng cụ thể. a) Nhóm kĩ năng định hướng giao tiếp Nhóm kĩ năng này được biểu hiện ở khả năng dựa vào sự biểu cảm, ngữ điệu, thanh điệu của ngôn ngữ , cử chỉ , động tác , thời điểm và không gian giao tiếp mà phán đoán chính xác về nhân cách, về vai trò giao tiếp của đối tượng và mối quan hệ giữa chủ thể với đối tượng giao tiếp. Nhóm kĩ năng này bao gồm: - Kĩ năng đọc trên nét mặt, cử chỉ, lời nói. Nét mặt , cử chỉ, lời nói của con người luôn phản ánh cái tâm lý bên trong của họ. Đôi khi giữa ngôn ngữ và nét mặt, cử chỉ, dáng điệu (gọi chung là ngôn ngữ cơ thể) không ăn khớp với nhau, song trong hầu hết các trường hợp, ngôn ngữ cơ thể đều “thật” hơn lời nói. Nhờ tri giác tinh tế, nhạy bén các biểu hiện đó, chủ thể giao tiếp có thể xác định được thái độ của đối tượng giao tiếp. Ngôn ngữ diễn tả tình cảm hay còn gọi là ngôn ngữ biểu cảm rất phong phú. Nó thể hiện tính cách, trí tuệ, tình cảm, ý chí của con người: Tính chủ động hay bị động , tính chân thành hay giả dối, tính tin tưởng hay hoài nghi… đều in dấu trong giọng nói và nhịp điệu của lời nói. Ví dụ: Khi xúc
  14. động – giọng nói run run ngắt quãng, khi vui vẻ - giọng nói trong trẻo , nhịp độ nhanh, khi buồn – giọng trầm và nhịp chậm, khi giận giữ - giọng nói to, gay gắt. Nét mặt, cử chỉ, dáng điệu … cũng là phương tiện để biểu hiện các trạng thái cảm xúc. Ví dụ: Khi xấu hổ - nét mặt thường bối rối; khi tự ái – mặt đỏ bừng lên, khi sợ hãi – mặt tái khi căng thẳng – toát mồ hôi, nhiều động tác thừa… Tri giác những biểu hiện cảm xúc bên ngoài rất có ý nghĩa trong quá trình giao tiếp vì nó tạo ra ấn tượng ban đầu – cơ sở cho hành động giao tiếp cụ thể. Tuy nhiên điều quan trọng hơn là biết dựa vào các biểu hiện bề ngoài đó để nhận xét, đánh giá và phán đoán đúng nội tâm của đối tượng giao tiếp, nghĩa là chuyển từ tri giác bên ngoài vào nhận biết bản chất bên trong của nhân cách. - Kĩ năng chuyển từ tri giác bên ngoài vào nhận biết bản chất bên trong của nhân cách. Sự biểu hiện các trạng thái tâm lí của con nguời qua ngôn ngữ và điệu bộ là rất phức tạp. Cùng một trạng thái cảm xúc có thể được biểu lộ ra bằng ngôn ngữ và điệu bộ khác nhau. Ngược lại, có trường hợp ngôn ngữ, cử chỉ giống nhau lại bộc lộ tâm trạng cảm xúc khác nhau. Điều đó phụ thuộc vào kinh nghiệm giao tiếp của mỗi người, vào nền văn hóa xã hội mà người đó đang sống, phụ thuộc vào khả năng kiềm chế hay “đóng kịch” của mỗi người. Tuy nhiên, vì tâm lí thống nhất với hoạt động, cái tâm lí bên trong luôn được biểu hiện qua hành vi., cử chỉ, cách nói năng của con người với những dấu hiệu chung của nó, cho nên với sự tri giác tinh tế, nhạy cảm, sự bình tĩnh sáng suốt, người ta có thể phán đoán đúng trạng thái cảm xúc và đặc điểm tâm lí, nhân cách của đối tượng giao tiếp. - Kĩ năng định hường gồm: Định hướng trước khi tiếp xúc và định hướng trong khi tiếp xúc. + Kĩ năng định hướng trước khi tiếp xúc là khả năng phác thảo chân dung tâm lí của đối tượng giao tiếp xác định mục đích, nhiệm vụ , phương tiện, điều kiện và cách thức giao tiếp có hiệu quả. Phác thảo chân dung tâm lí là việc dựa vào kinh nghiệm và những thông tin ban đầu về đối tượng để xây dựng mô hình tâm lí về những phẩm chất, đặc điểm tâm lí đặc trưng và vai giao tiếp của đối tượng. Trên cơ sở đó, chủ thể giao tiếp có những phương án ứng xử khác nhau, dự đoán, lường trước những phản ứng của đối tượng giao tiếp để có sự ứng xử phù hợp nhằm đạt hiệu quả trong quá trình giao tiếp.
  15. Việc phác thảo chân dung tâm lí đối tượng giao tiếp càng đúng, càng chính xác thì quá trình giao tiếp diễn ra càng thuận lợi đạt hiệu quả cao. Người xưa từng dạy: “ Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng” . Trước khi tiếp xúc, chúng ta cần dành thời gian để hình dung về đối tượng giao tiếp, đồng thời định hướng thái độ giao tiếp tích cực: thiện cảm, tự tin, cởi mở, bình tĩnh, sáng suốt; tạo bầu không khí giao tiếp thân mật, cảm giác thoải mái cho đối phương giao tiếp để họ được tự nhiên bộc lộ nhu cầu, nguyện vọng và ý định của họ. + Kĩ năng định hướng trong tiếp xúc là khả năng thiết lập các thao tác trí tuệ, tư duy và liên tưởng trên cơ sở kinh nghiệm và những thông tin hiện thời vế đối tượng giao tiếp nhằm chuẩn bị sẵn sàng cho hành vi ứng xử phù hợp với các phản ứng liên tục của đối tượng giao tiếp. trong quá trình giao tiếp, những hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ cũng như nội dung giao tiếp của đối tượng luôn thay đổi, vì thế việc thiết lập các thao tác trí tuệ đòi hỏi phải mang tính linh hoạt, cơ động, mềm dẻo, nhờ thế chủ thể mới ứng xử kịp thời và họp lí trong quá trình giao tiếp. Tóm lại, định hướng giao tiếp có ý nghĩa quan trọng, nó quyết định thái độ và hành vi giao tiếp của con người. Người có kĩ năng định hướng giao tiếp sẽ xây dựng một cách có ý thức mô hình nhân cách giả định của đối tượng giao tiếp. Mức độ thống nhất giữa mô hình nhân cách với chính bản thân nhân cách đối tượng giao tiếp (kết quả của định hướng trong suốt quá trình giao tiếp ) là biểu hiện ban đầu kĩ năng định hướng giao tiếp của chủ. Sự thống nhất giữa mô hình nhân cách với chính bản thân nhân cách đối tượng giao tiếp mới là biểu hiện mức đọ cao của kĩ năng định hướng giao tiếp. Việc xác định mình sẽ làm gì, nói gì, như thế nào… đối tượng có nhu cầu mong muốn, nguyện vọng gì, phản ứng như thế nào…Trong quá trình giao tiếp hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng định hướng giao tiếp của mỗi người. - Rèn luyện kĩ năng định hướng giao tiếp: + Quan sát, học tập kinh nghiệm của những người giao tiếp có hiệu quả. + Tích cực vận dụng những hiểu biết về tâm lí người trong quá trình giao tiếp.
  16. + Rèn luyện óc quan sát tinh tế, nhạy cảm khi tri giác con người. + Luôn chú ý, quan tâm tới đối tượng giao tiếp, tỉnh táo, sáng suốt khái quát thông tin qua cử chỉ, hành vi của đối tượng giao tiếp. a) Nhóm kĩ năng định vị Kĩ năng định vị là khả năng xây dựng mô hình nhân cách đối tượng giao tiếp đạt mức độ chính xác và tương đối ổn ddingj dựa trên hoạt động nhận thức tích cực. Kĩ năng định vị đảm bảo sự đồng cảm giữa chủ thể và các đối tượng giao tiếp. Đồng cảm là điều kiện thuận lợi nhất cho cuộc giao tiếp thành công. Kĩ năng định vị có đặc điểm sau: - Mô hình nhân cách đối tượng giao tiếp được xây dựng trong giai đoạn này gần với hiện thực và tương đối ổn định. Nội dung chủ yếu của nhân cách ( tâm trạng, nhu cầu, nguyện vọng…) đối tượng giao tiếp cũng vai trò giao tiếp được xác định khác rõ, đúng với nhân cách thực của đối tượng giao tiếp cả về mặt khái quát lẫn cá biệt. - Mô hình nhân cách đối tượng giao tiếp ở đây tuy đã có sự điều chỉnh chính xác hóa mô hình nhân cách đối tượng đã có trước đây bằng một quá trình nhận thức tích cực trong sự nhập vai đối tượng của chủ thể. Biểu hiện cụ thể của của kĩ năng định vị là: - Xác định chính xác vai trò trong giao tiếp. - Xác định đúng không gian và thời gian giao tiếp, hiểu được ý nghĩa của chúng trong cuộc giao tiếp. - Biết đặt mình vào vị trí đối tượng giao tiếp để hiểu được tâm trạng, niềm vui, nỗi buồn, ước muốn, nguyện vọng của đối tượng giao tiếp. - Có những cảm xúc, cảm nghĩ chung với đối tượng giao tiếp – đồng cảm. - Có hành vi trong ứng xử phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng, đặc điểm tâm sinh lí của đối tượng giao tiếp mà vẫn đạt được mục đích giao tiếp.
  17. Cách rèn luyện kĩ năng định vị : - Tích cực huy động kinh nghiệm giao tiếp đã tiếp thu được. - Kiềm chế những phản ứng tức thời, thiếu suy nghĩ. - Trước khi thực hiện một hành vi giao tiếp, nên dành một thời gian tối thiểu để trả lời câu hỏi: “ Nếu là mình thì đối tượng sẽ phản ứng như thế nào?”. a) Nhóm kĩ năng điều chỉnh, điều khiển Điều chỉnh, điều khiển trong giao tiếp là quá trình tổ chức liên tục, hợp lí các hành vi giao tiếp trên cơ sở nhận thức, thái độ và những thói quen giao tiếp của con người. Về bản chất, kĩ năng giao tiếp là sự phối hợp các thành phần tâm lí nói trên đạt ở mức độ nhịp nhàng, hợp lí nhất trong quá trình giao tiếp nhằm đảm bảo cho quá trình đó đạt hiệu quả, nói rộng hơn kĩ năng điều khiển và điều chỉnh quá trình giao tiếp là kĩ năng điều khiển và điều chỉnh bản thân và đối tượng giao tiếp để tiến trình đó diễn ra thuận lợi, tốt đẹp. Nhóm kĩ năng này bao gồm nhiều kĩ năng cụ thể. Dưới đây là một số kĩ năng cơ bản: - Kĩ năng khởi đầu quá trình giao tiếp Khởi đầu cho quá trình giao tiếp cũng khó như mở đầu một bài văn vì nó cần có ý tứ và hấp dẫn tự nhiên đối tượng vào cuộc. Để khởi đầu giao tiếp thuận lợi nên đưa ra một đề tài trung tính, vô hại, nhẹ nhàng làm lời tựa cho chủ đề tiếp theo. Ví dụ : thời tiết, tin tức, thời trang… Một điều quan trọng trong khi khởi đầu giao tiếp là tạo ra ấn tượng ban đầu tốt đẹp. Những thực nghiệm tâm lí học từ năm 1946 về độ bền của ấn tượng ban đầu đã đưa ra kết luận rằng cá nhân bị in dấu ấn đầu tiên dưởng như bị “ áp đặt” và khó thay đổi ấn tượng đó. Vì vậy, khi khởi đầu giao tiếp cần tự thể hiện văn hóa bản thân trong trang phục, đầu tóc, nét mặt, lời chào… - Kĩ năng làm chủ trạng thái cảm xúc của bản thân Trạng thái cảm xúc là một hiện tượng tâm lí được hình thành bởi các kích thích mạnh có ý nghĩa với các cá nhân hoặc là những kích thích tuy yếu
  18. nhưng tác động lâu dài. Các trạng thái cảm xúc luôn liên quan tới việc thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Có nhiều loại trạng thái cảm xúc : + Trạng thái của cá nhân ( nói lên đặc điểm cá nhân ) và trạng thái do tình huống ( do hoàn cảnh gây ra ) + Trạng thái sâu sắc và trạng thái hời hợt ( ví dụ như ham mê và tâm trạng ) + Trạng thái có tác dụng tích cực và trạng thái có tác động tiêu cực ( ví dụ như cảm hứng và thờ ơ ) + Trạng thái lâu dài và trạng thái ngắn ngủi. + Trạng thái được ý thức đầy đủ và trạng thái được ý thức. Trạng thái cảm xúc thường trở thành cái phông chi phối hành vi và hoạt động của con người. Chính vì vậy, để giao tiếp đạt hiệu quả cần có kĩ năng làm chủ trạng thái cảm xúc của bản thân. - Kĩ năng làm chủ trạng thái cảm xúc biểu hiện: + Biết kiềm chế, che dấu tâm trạng khi cần thiết. Khi giao tiếp ai cũng muốn có được bầu không khí thân mật, thoải mái. Không khí giao tiếp phụ thuộc khá nhiều vào tâm trạng của những người tham gia giao tiếp. Nếu mỗi người đều biết kìm lại những cảm xúc có tác động tiêu cực hoặc trạng thái hưng phấn hết mức thì không giữ được sự sáng suốt trong giao tiếp mà còn tạo bầu không khí giao tiếp thuận lợi, đối tượng giao tiếp sẽ có cảm giác dễ chịu trong quá trình giao tiếp. Ví dụ: Giáo viên biết kiềm chế cảm giác bực dọc hoặc buồn bã của mình khi lên lớp sẽ làm không khí lớp học không bị căng thẳng. Bài giảng của giáo viên ít bị chi phối, học sinh tiếp thu bài tốt hơn. + Biết điều khiển các diễn biến tâm lí của bản thân. Trong quá trình giao tiếp, diễn biến tâm lí của mỗi người phụ thuộc vào yếu tố và luôn thay đổi theo diễn biến quá trình giao tiếp. Người giao tiếp tốt thường có khả năng điều khiển, điều chỉnh tâm lí của mình, phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh, mục đích, nội dung, nhiệm vụ giao tiếp. này việc kiềm chế chịu khó và tăng cường tính kiên trì là rất cần thiết.
  19. - Kĩ năng duy trì và kết thúc quá trình giao tiếp. + Duy trì quá trình giao tiếp là làm cho quá trình giao tiếp diễn ra liên tục, không ngắt quãng. Một cuộc giao tiếp thường có nhiều thời gian chết. có những khoảng trống là những cuộc giao tiếp tẻ nhạt, kém hiệu quả trong đó người tham gia thường bị gò bó, gượng gạo, khó chịu. để duy trì cuộc tiếp xúc đòi hỏi chúng ta phải biết lắng nghe, biết gợi mở vấn đề giao tiếp, biết khuyến khích đối tượng giao tiếp bộc bạch nội tâm của họ, tạo cảm giác an toàn, hứng thú cho đối tượng giao tiếp, tuy nhiên, duy trì giao tiếp không có nghĩa là nói năng huyên thuyên để lấp chỗ trống. những lời nói ba hoa, vô bổ, rỗng tuếch, xen với những tiếng lóng khó hiểu thường làm cho người ta bực tức, khó chịu. cần chú ý vào trọng tâm câu chuyện, đồng thời cố gắng nắm bắt nhu cầu của đối tượng từ đó có hành vi giao tiếp phù hợp để tiếp tục hay kết thúc quá trình giao tiếp. + Kết thúc cuộc giao tiếp đúng lúc là một kĩ năng quan trọng. Nếu chúng ta chỉ nghĩ đến ,bản thân thì việc kết thúc cuộc giao tiếp thường cứng nhắc lạnh lùng khó để lại hứng thú gặp lại của đối tượng giao tiếp. thời điểm kết thúc giao tiếp phụ thuộc trước tiên vào nhu cầu giao tiếp của người tham gia giao tiếp. khi nhận thấy mục đích giao tiếp đã đạt được cần khéo léo chuyển lên thật hào hứng, sôi nổi trước lúc tạm biệt. Điều đó sẽ để lại cho đối tượng cảm giác tiếc nuối phải chia tay. Lúc chia tay nên thể hiện mong muốn rõ ràng rằng mong sớm gặp lại đối tượng cũng như thái độ vui thích của mình. Ví dụ: bắt tay thật chặt nói câu (nhờ có anh tôi có được giây phút vui vẻ) d) kĩ năng sử dụng giao tiếp Trong giao tiếp, con người sử dụng nhiều phương tiện để truyền tải và thu nhận thông tin, trong đó hai phương tiện chủ yếu là ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. - Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp đặc trưng của con người. Một cách khái quát, có thể chia làm hai loại, ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bên trong. Ngôn ngữ bên ngoài là ngôn ngữ hướng về người khác, được dùng để truyền đạt và tiếp nhận thông tin, bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. ngôn ngữ bên trong là ngôn ngữ hướng vào bản thân giúp con người suy nghĩ, điều khiển, điều chỉnh bản thân, đồng thời chuẩn bị cho hoạt động giao tiếp bên ngoài.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản