
HỆ THỐNG CÂU HỎI ÔN TẬP
MÔN: QUẢN TRỊ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
Câu 1: Hệ thống khái niệm có liên quan trong công tác quản trị điểm đến du lịch ở Việt
Nam ; phân tích và chứng minh những khái niệm này.
1. Điểm đến du lịch
Theo Luật Du lịch 2017: « Điểm du lịch là nơi có các tài nguyên du lịch được đầu tư, khai
thác phục vụ khách du lịch»
Theo PGS.TS Dương Văn Sáu : « Điểm đến du lịch là các không gian cụ thể, khách quan, ở
đó chứa đựng các tài nguyên và nguồn lực du lịch đã được tổ chức nghiên cứu, xúc tiến đầu
tư, khai thác, phát huy giá trị truyền thống qua các dịch vụ xác định để tạo ra các hàng hóa
văn hóa với tư cách là sản phẩm du lịch để đáp ứng nhu cầu của các đối tượng du khách khác
nhau đồng thời định hướng và tạo ra nhu cầu mới cho cả du khách và người tổ chức kinh
doanh, đảm bảo các lợi ích cung – cầu, tạo sự phát triển du lịch bền vững.
Sự giống và khác nhau giữa điểm đến du lịch và điểm tham quan du lịch.
- Điểm tham quan du lịch là không gian chủ yếu cho du khách thẩm nhận các giá trị của điểm
đó
- Điểm đến du lịch là nơi để du khách thẩm nhận và trải nghiệm các sản phẩm du lịch tại
điểm đến đó.
- Điểm đến du lịch thường có không gian lớn hơn một điểm tham quan du lịch.
- Điểm đến du lịch thường có nhiều dịch vụ hơn điểm tham quan du lịch để đáp ứng các nhu
cầu của du khách khi họ tới du lịch tại điểm đó.
- Một điểm đến lịch là điểm tham quan du lịch, nhưng một điểm tham quan du lịch chưa chắc
là một điểm đến du lịch
- Điểm tham quan du lịch chứa đựng tài nguyên du lịch, điểm đến chứa đựng tài nguyên và
nguồn lực du lịch
2. Khái niệm Kinh doanh điểm đến du lịch
- Kinh doanh điểm đến du lịch là kinh doanh các dịch vụ thích hợp tại các điểm đến du lịch.
Hoạt động này nhằm mục đích đáp ứng và cân đối các lợi ích cung – cầu của du khách và
người kinh doanh đồng thời góp phần định hướng và tạo ra những nhu cầu mới cho các đối
tượng du khách, tạo ra sự phát triển du lịch bền vững mà vẫn bảo tồn được nguồn tài nguyên
thiên nhiên và các giá trị của văn hóa bản địa. – PGS.TS Dương Văn Sáu
- Quá trình kinh doanh điểm đến du lịch là quá trình đưa lý thuyết của « lục biến» của khoa
học văn hóa du lịch vào thực tiễn hoạt động.
+ Biến di sản văn hóa thành tài sản

+ Biến văn hóa thành hàng hóa
+ Biến tài nguyên thành tài chính ( gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa)
+ Biến nguồn lực thành động lực
+ Biến môi trường thành thị trường
+ Biến giá trị thành giá cả
*Quy trình để biến văn hóa thành hàng hóa
Đầu tiên là khai thác giá trị của tài nguyên bản địa , phát triển các dịch vụ thích hợp, phát
triển các
sản phẩm du lịch đặc trưng, tạo ra hàng hóa văn hóa bản địa
* Các nguồn lực cho phát triển du lịch
- Nguồn lực con người
- Nguồn lực tài chính
- Nguồn lực có sở vật chất, hạ tầng du lịch
- Nguồn lực khoa học và công nghệ
- Nguồn lực kinh nghiệm tổ chức sản xuất, kinh doanh
- Nguồn lực chính trị ( thể chế, đường lối chính sách, thời cơ, cơ hội)
3. Quản trị điểm đến du lịch
Theo từ điển tiếng Việt: « Quản trị là việc tổ chức, điều hành công việc của một cơ quan tổ
chức»
Quản trị điểm đến du lịch là phương cách tổ chức, quản lý vận hành điểm đến thông qua việc
đầu tư, tôn tạo, khai thác phát huy giá trị các tài nguyên và nguồn lực du lịch của điểm đến
một cách tốt nhất: đảm bảo các lợi ích cung – cầu của các đối tượng có liên quan mà vẫn bảo
tồn được các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các giá trị văn hóa bản địa, tạo sự phát triển du
lịch bền vững –[ Dương Văn Sáu ]
• Phát triển du lịch bền vững : là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh
tế - xã hội và môi trường bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch,
không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai.
4.Khái niệm Dịch vụ
Dịch vụ là những hoạt động nhất định nhằm phục vụ, cung ứng, đưa ra các sản phẩm hàng
hóa đến các đối tượng khách hàng, đáp ứng, phục vụ các nhu cầu của họ, đồng thời góp phần
định hướng và tạo ra những nhu cầu mới cho khách hàng để đạt được các lợi ích cung – cầu
của khách hàng và người kinh doanh trong những không gian và thời gian xác định – Dương
Văn Sáu

*Các loại dịch vụ du lịch
- Dịch vụ vận chuyển: an toàn, hiện đại, bản sắc
- Dịch vụ lưu trú - ẩm thực: vệ sinh, an toàn, tiện nghi, ngon, giá cả phù hợp, độc đáo, bản sắc
Dịch vụ du lịch lữ hành: tham quan, khám phá, trài nghiệm: an toàn, hấp dẫn - Dịch vụ bổ
sung trong du lịch: chăm sóc sức khỏe, shopping, làm đẹp.
5.Giá trị cốt lõi của điểm đến du lịch
Giá trị cốt lõi của điểm đến du lịch là những giá trị đặc sắc, hấp dẫn, tạo ra sự khác biệt so
với các điểm đến du lịch khác. Những giá trị này được thiên nhiên, trời – đất ban tặng và
được hình thành trong lịch sử kiến tạo của cộng đồng cư dân bản địa. Điều đó hấp dẫn và thu
hút du khách, đem lại cho du khách sự thẩm nhận và trải nghiệm trong môi trường sinh thái –
văn hóa hiện hữu của điểm đến, giúp thỏa mãn những nhu cầu của cá nhân và cộng đồng trên
những không gian và thời gian xác định trong nhịp sống của xã hội đương đại
(Dương Văn Sáu )
6. Thương hiệu
- Là tên gọi, thuật ngữ, thiết kế,hình tượng hoặc các dấu hiệu khác giúp phân biệt một tổ chức
hoặc một sản phẩm với đối thủ trong mắt của người tiêu dùng
Câu 2: Phân tích, đánh giá vai trò của điểm đến du lịch trong hoạt động du lịch ở Việt
Nam.
Vai trò của điểm đến DL
Thứ nhất, điểm đến DL là nơi hội tụ, kết tinh và lan toả những giá trị văn hoá – lịch sử của 1
địa phương, dân tộc và đất nước. Nơi gìn giữ và tôn vinh những truyền thống tốt đẹp của văn
hiến dân tộc
• Điểm đến du lịch góp phần bảo tồn, khai thác những giá trị di sản văn hóa, lịch sử truyền
thống của dân tộc không chỉ để phục vụ cho du lịch mà còn để cho những thế hệ mai sau.
• Điểm đến du lịch góp phần bảo vệ và phát triển các loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian
truyền thống nhằm phục vụ khách du lịch. Mục tiêu của con người khi đi du lịch là tìm hiểu
văn hóa và phong tục tập quán của địa phương thông qua các làn điệu dân ca, âm nhạc dân
tộc, múa, kịch... đặc sắc, độc đáo và hấp dẫn.
• Điểm đến du lịch góp phần thúc đẩy việc nâng cao nhận thức và văn minh tinh thần cho
người dân thông qua việc mở rộng tầm nhìn, tăng cường sự hiểu biết, nâng cao lòng tự hào
dân tộc, truyền thống lịch sử, văn hóa của địa phương.
Thứ 2, các điểm đến DL là yếu tố cốt lõi để tạo nên các chương trình tham quan DL ở địa
phương trên khắp miền đất nước
• Điểm đến du lịch đóng vai trò quan trọng cho việc thu hút khách du lịch đến tham quan và
du lịch. Không có điểm đến du lịch hấp dẫn thì sức thu hút khách từ mọi điểm dân cư trên trái
đất sẽ hạn chế. Các doanh nghiệp lữ hành trong nước và nước ngoài sẽ không có cơ sở để xây

dựng các chương trình du lịch thu hút khách. Địa phương và đất nước không thể khai thác các
giá trị của thiên nhiên, của văn hóa phục vụ khách du lịch đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội
cao.
Thứ 3, điểm đến DL là nơi đem đến sự thẩm nhận và trải nghiệm các giá trị sinh thái tự nhiên
và sinh thái nhân văn bản địa cho các đối tượng khu khách khác nhau
• Các giá trị tự nhiên và giá trị văn hóa, đặc biệt là các giá trị văn hóa vật thể và giá trị văn
hóa phi vật thể là tài sản của quốc gia, của địa phương và của cộng đồng cần được gìn giữ
không chỉ cho thế hệ mai sau mà cho cả toàn nhân loại. Những giá trị này không thể mang ra
thị trường bán được mà chỉ có thể thu hút khách du lịch đến tham quan chiêm ngưỡng.
• Sau khi khách tham quan và cảm thụ các giá trị văn hóa và thiên nhiên này không mất đi,
mà ngày càng được tôn tạo và gìn giữ tốt hơn. Nguồn thu từ vé tham quan bằng ngoại tệ, các
nhà kinh tế gọi là “xuất khẩu vô hình”
Thứ 4, điểm đến DL là nơi ra đời và phát triển các dịch vụ thích hợp, đáp ứng nhu cầu của
các đối tượng du khách, đem lại các lợi ích cung – cầu trong những ko gian và thời gian nhất
định
Thứ 5, điểm đến DL là nơi quảng bá hình ảnh về thiên nhiên, đất nước, con người ở các địa
điểm đón tiếp, phục vụ
• Điểm đến du lịch góp phần giới thiệu về truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc, đất nước và
con người với bạn bè năm châu nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, xây dựng tình đoàn
kết hữu nghị, hòa bình với các dân tộc khác nhau trên thế giới.
Thứ 6, với điểm đến là các di tích lịch sử - văn hoá, các di sản văn hoá của đất nước,… hoạt
đông DL tại các điểm đến đó chính là hình thức “bảo tồn động” di sản văn hoá.
Câu 3: Phân loại các điểm đến du lịch ở Việt Nam. Những đối tượng du khách nào? thị
trường khách du lịch nào phù hợp với các loại điểm đến du lịch đó?
1. Các loại điểm đến DL phân theo quy mô
- Các điểm đến QG: VN, TQ,...
- Các điểm đến vùng: Tây Nguyên, BTB, TDMNBB,...
- Các điểm đến địa phương: Hạ Long, Sapa, Huế,...
- Điểm tham quan du lịch: Văn miếu QTG, Hoàng thành,...
2. Các loại điểm đến DL phân theo tính chất nội dung
a. . Điểm đến du lịch là di sản văn hóa
Di sản văn hóa được chia thành 3 loại bao gồm:
- Di sản văn hóa vật thể: Danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử – văn hóa, bảo vật quốc gia, cổ
vật, di vật. Ví dụ: Thành Nhà Hồ, Trống đồng Đông Sơn, 82 bia Văn Miếu Quốc Tử Giám,...

- Di sản văn hóa phi vật thể: tiếng nói, chữ viết, các loại nghệ thuật trình diễn dân gian. Ví
dụ: Nhã nhạc cung đình Huế, dân ca quan họ, ca trù, hát xoan Phú Thọ,...
- Di sản văn hóa hỗn hợp: là di sản thế giới kép, đáp ứng đủ cả hai yếu tố nổi bật về văn hóa
và thiên nhiên. Ví dụ: quần thể di thắng Tràng An - Ninh Bình
Di sản văn hoá là những di sản quý báu của dân tộc ta, có những nét đặc trưng riêng. Những
nét đặc trưng về văn hoá giúp con người Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế không bị
hoà tan. Từ đó cũng giúp cho bạn bè quốc tế mong muốn được tham quan, tìm hiểu những giá
trị đó của Việt Nam và tạo nên sự phát triển về du lịch kéo theo dịch vụ khách sạn, nhà
hàng,.... giúp nước ta phát triển về kinh tế.
Bàn về đối tượng du khách phù hợp với điểm đến này, có thể thấy di sản văn hóa là nét đặc
trưng riêng của mỗi dân tộc, nên trước hết, đây sẽ là nơi thu hút đông đảo bộ phận du khách
nước ngoài đến tham quan, tìm hiểu và được chúng ta quảng bá về những di sản văn hóa từ
xa xưa của ông cha ta. Ngoài ra, đây còn là nơi thích hợp với đông đảo các đối tượng du
khách khác nhau từ người trung niên, cao tuổi đến lớp trẻ với mong muốn tìm hiểu cội nguồn
dân tộc, khám phá những nét văn hóa đặc trưng của Việt Nam. Bên cạnh đó, điểm đến này
chưa thực sự phù hợp với đối tượng khách du lịch là trẻ em bởi đối tượng du khách này chưa
thực sự có thể hiểu được ý nghĩa của các di sản văn hóa.
Bên cạnh thị trường khách du lịch nội địa, thị trường khách du lịch quốc tế cũng đóng góp 1
phần không nhỏ vào phát triển du lịch tại các điểm đến di sản văn hóa. Và mọi khách du lịch
ở mọi quốc gia đều có thể đến với điểm đến di sản văn hóa. Điển hình có thể kể đến thị
trường khách du lịch đến từ Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản,... đã góp một phần
không nhỏ cho sự phát triển kinh tế du lịch tại những điểm này.
2.2. Điểm đến là các di sản thiên nhiên
Di sản thiên nhiên là một hệ sinh thái có cảnh quan đẹp, là nơi cư trú của một số lượng lớn
các loài sinh vật cần chúng sinh sống và nói chung là nơi có thể đóng góp rất nhiều cho xã
hội từ các khía cạnh khác nhau. Không chỉ thu hút số lượng lớn khách du lịch ghé thăm, và
tạo ra nền kinh tế của du lịch tự nhiên thì các di sản thiên nhiên còn cung cấp rất nhiều thông
tin theo quan điểm khoa học. Một số di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận ở
nước ta có thể kể đến như: Vịnh Hạ Long, VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, Quần thể di tích Cố
đô Huế, Phố cổ Hội An,...
Điểm đến là các di sản thiên nhiên phù hợp với mọi thị trường du khách; đối tượng khách từ
khách quốc tế đến nội địa; mọi lứa tuổi bởi sự đa dạng về cảnh quan. Đa dạng về các loại
hình du lịch. Du khách khi đến với điểm đến này không chỉ đơn thuần là tham quan cảnh đẹp
nữa mà còn có thể đắm chìm trong nhiều hoạt động trải nghiệm khác nhau.
2.3. Điểm đến du lịch là tổ hợp dịch vụ du lịch
Tổ hợp dịch vụ du lịch là một địa điểm bao gồm tất cả các dịch vụ du lịch như nghỉ dưỡng,
mua sắm, vui chơi giải trí, hội thảo,... Điểm đến này phù hợp với các đối tượng khách du lịch
là người trẻ tuổi, kể cả trẻ em đến đây để vui chơi giải trí, du khách là người trung niên đến
để nghỉ dưỡng, khách công vụ đến để nghỉ dưỡng hoặc tham gia hội thảo,... Thị trường khách

