CÂU HỎI ÔN TẬP
MÔN: QUẢN TRỊ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
Câu 1: Trình bày khái niệm điểm đến du lịch và quản lý điểm đến du lịch?
- Khái niệm Điểm đến du lịch:
Điểm đến du lịch (tourism destination) đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển du
lịch của một một địa phương, một quốc gia.
+ Theo Kotler (2006), một điểm đến một khu vực địa giới hành chính được luật
pháp công nhận hay có đường biên nằm trong nhận thức của mọi người.
+ Theo Tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO (2007) “điểm đến du lịch vùng không
gian địakhách du lịch ở lại ít nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các
dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du lịch thu hút khách, ranh giới hành chính để quản
lý và có sự nhận diện về hình ảnh để xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường”
+ Luật Du lịch (2017) của Việt Nam quy định về điểm du lịch (tourist site) mức độ
khái quát hơn: “Điểm du lịch nơi tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu
tham quan của khách du lịch”
- Khái niệm quản lý điểm đến du lịch:
+ Theo quan điểm chung nhất, quản lý được coi hoạt động nhằm tác động một cách
có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên một đối tượng quản lý để điều chỉnh
các quá trình hội hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định phát triển
của đối tượng quản lý theo những mục tiêu đã định.
+ Quản điểm đến du lịch thể được xác định là sự tác động tổ chức và điều chỉnh
liên tục bằng quyền lực công, chủ yếu thông qua pháp luật nhằm xác lập một trật tự ổn
định cho các hoạt đọng, quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực du lịch, hướng tới việc
phát triển du lịch tại điểm đến theo những mục tiêu đã được đặt ra.
+ Chủ thể quản lý điểm đến du lịch là các cơ quan đại diện của NN hoặc được NN trao
quyền, ủy quyền.
+ Đối tượng quản các hoạt động, quan hệ hội phát sinh trong lĩnh vực du lịch
như các đơn vị kinh doanh du lịch, khách sạn, khách du lịch,…
Câu 2: Phân tích đặc điểm của từng giai đoạn phát triển trong chu kỳ sống của
một điểm đến du lịch?
Theo R.W. Butler (1980), chu kỳ sống của một điểm đến du lịch được thể hiện bằng
hình “hình chữ S” hay còn gọi là Chuỗi Butler. Theo mô hình này, một điểm đến sẽ trải
qua 5 giai đoạn phát triển khác nhau trong điều kiện kinh tế tự do. Những giai đoạn này
là Khám phá, Tham gia, Phát triển, Củng cố và Đình trệ.
- Giai đoạn khám phá:
Đây giai đoạn đầu tiên trong chu kỳ sống của điểm đến, được thể hiện bằng một số
lượng nhỏ du khách - những người tới điểm đến rải rác và hiện tượng này duy trì trong
một thời gian tương đối dài. Điểm đến chưa nhận dạng sự xuất hiện của “ngành du lịch”
không các dịch vụ dành riêng cho du khách. Đôi khi giai đoạn này được gọi
giai đoạn “tiền du lịch”, trong đó du khách thích nghi với những điều kiện địa phương.
Đối tượng khách lúc này chủ yếu những người ưa mạo hiểm, họ muốn trải nghiệm
những khác biệt điểm đến du lịch không hay ít quan tâm đến những trang bị
nghèo nàn cũng như những thử thách của môi trường. Trong giai đoạn này, cộng đồng
chủ nhân của điểm đến nhìn chung mối quan hệ tốt với du khách bởi lúc này du
khách còn mới lạ với họ và mang lại nguồn thu nhập mới.
- Giai đoạn tham gia:
Trong giai đoạn tham gia, số lượng du khách tăng lên nhiều loại hình du lịch phát
triển. Cộng đồng địa phương cung cấp hàng hóa dịch vụ dành riêng cho du khách,
như cơ sở lưu trú nhỏ, nhà hànghướng dẫn viên, thể hiện rõ nhu cầu của du khách.
Mặc dù doanh thu du lịch tăng, tác động văn hóa và môi trường chưa rõ ràng.
Sự chuyển đổi từ giai đoạn khám phá sang tham gia được thúc đẩy bởi marketing truyền
miệng, truyền thông đưa tin về điểm đến chưa khám phá, sách hướng dẫn, sự phát
triển hạ tầng sở. Các yếu tố nội bộ bên ngoài ngành thể ảnh hưởng đến tính
bền vững của hoạt động du lịch trong tương lai.
- Giai đoạn phát triển:
Giai đoạn phát triển được thể hiện bằng sự tăng trưởng nhanh chóng và quan trọng của
số lượng khách tới điểm đến du lịch. rất nhiều thay đổi trong lĩnh vực du lịch
thông thường địa phương hay cộng đồng dần mất đi sự kiểm soát đối với sự phát triển
du lịch gia tăng sựnh hưởng đầu từ các tổ chứcn ngoài. Cũng những
thay đổi đáng kể trong môi trường vật chất với hạ tầng phục vụ du lịch mới được xây
dựng (khách sạn, các điểm tham quan, đường sá, ...)
Đất nông nghiệp thường được mua lại để phục vụ cho những hoạt động phát triển du
lịch. Cộng đồng địa phương đã quen với sự có mặt của du khách và thường tỏ ra thờ ơ
với họ. Nhưng vào cuối giai đoạn này, một bộ phận dân cư địa phương trở nên khó chịu
với sự tăng trưởng của du lịch bởi du khách làm ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các
dịch vụ của người dân địa phương làm thay đổi các đặc điểm văn hóa, môi trường
của điểm đến nơi họ sinh sống.
- Giai đoạn củng cố:
Trong giai đoạn củng cố, tốc độ tăng trưởng của du lịch chậm lại, nhưng số lượng các
hoạt động du lịch vẫn tiếp tục gia tăng, thậm chí số lượng khách du lịch còn vượt qua
số dân địa phương. Du lịch đã phát triển vượt quá khả năng chịu đựng của môi trường
sinh thái, văn hóa và xã hội của điểm đến với sự chuyển đổi từ khách ưa mạo hiểm sang
khách thích tiện nghi, thường mua tour trọn gói.
Du lịch chi phối kinh tế địa phương, thay thế trải nghiệm văn hóa bằng các công viên
sòng bạc. Phát sinh nhiều vấn đề, bao gồm tính mùa vụ trong hoạt động du lịch,
doanh thu tăng cao cho các chủ doanh nghiệp nhỏ như nhà hàng, sự gia tăng thất
vọng của dân địa phương đối với du khách. Thái độ tiêu cực của dân thể ảnh
hưởng không tốt đến marketing truyền miệng về điểm đến. Tác động tiêu cực đến môi
trường và cộng đồng địa phương trở nên rõ ràng hơn.
- Giai đoạn đình trệ:
giai đoạn này, số lượng khách đạt đến đỉnh cao không tăng trưởng nữa bởi điểm
đến trở nên ít giá trị hơn và có sự mất cân bằng cung cầu. Một số lượng lớn các đơn vị
kinh doanh như các khách sạn, nhà hàng có thể bị phá sản bởi cuộc cạnh tranh về giá cả
do nhu cầu sút giảm. Điểm đến bị phụ thuộc vào sự trở lại của lượng khách thích tiện
nghi.
- Giai đoạn suy thoái:
Giai đoạn này thể hiện rất rõ sự sút giảm nghiêm trọng số lượng khách du lịch. Có một
số nguyên nhân như: Lượng khách quay trở lại không hài lòng với trải nghiệm ở điểm
đến nhu cầu của họ không được đáp ứng; các nhà quản điểm đến không nỗ lực
thiết kế lại sản phẩm hay bị thất bại trong các nỗ lực của họ; những điểm đến mới xuất
hiện và trở thành đối thủ cạnh tranh thu hút khách. Thông thường, các khách sạn sẽ trở
thành căn hộ hay văn phòng cho thuê rất nhiều trang thiết bị phục vụ cho du lịch bị
quên lãng, còn cộng đồng địa phương trở nên phụ thuộc vào các ngành nghề khác.
- Giai đoạn phát triển mới:
Nếu một điểm đến không rơi vào trạng thái suy thoái (hay tiếp tục đình trệ) thể
bước sang một giai đoạn phát triển mới. Giai đoạn này có thể tiếp diễn sau giai đoạn
đình trệ hoặc suy thoái. Giai đoạn này được bắt đầu bằng việc khẩn trương hoàn thiện
các sản phẩm mới hay cải tiến các sản phẩm hiện tại.
Giai đoạn phát triển mới chỉ xảy ra nếu nhà quản lý của điểm đến hay các doanh nghiệp
ra quyết định chủ động làm mới lại điểm đến.
Theo Weaver và Lawton (2002), giai đoạn này chỉ thể thành công nếu sự phối hợp
giữa cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và các doanh nghiệp để tiến hành các nỗ lực
marketing cho điểm đến và cung cấp dịch vụ du lịch.
Dựa trên việc nhận diện giai đoạn phát triển của điểm đến du lịch, các tổ chức quản
điểm đến thể xây dựng các chiến lược phát triển điểm đến một cách phù hợp nhất,
đảm bảo mang lại lợi ích hài hòa về kinh tế, văn hóa – xã hội môi trường cho điểm
đến đó trong từng giai đoạn phát triển.
Câu 3: Trình bày nội dung quản lý điểm đến du lịch?
1. Tạo dựng một môi trường thuận lợi
Tạo dựng môi trường thuận lợi cho du lịch là nhiệm vụ nền tảng của quản lý điểm đến,
tạo điều kiện cho marketing cung cấp trải nghiệm hiệu quả. Trước khi du khách bị
thu hút bởi marketing, cầnmôi trường hội, kinh tế vật chất phù hợp. Việc thành
lập các tổ chức quản điểm đến du lịch cần thiết cho sự phát triển bền vững. Các
nội dung chính gồm:
- Hoạch định và phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch;
- Phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch;
- Phát triển sản phẩm du lịch;
- Phát triển công nghệ và các hệ thống hỗ trợ hoạt động du lịch;
- Phát triển các ngành kinh tế khác có liên quan.
2. Marketing
Marketing điểm đến du lịch các hoạt động hướng tới việc thu hút khách du lịch đến
với điểm đến. Các hoạt động này nên tập trung xúc tiến truyền thông những yếu tố
hấp dẫn nhất đối với các khách du lịch tiềm năng để thuyết phục họ lựa chọn điểm đến.
Các chức năng chính của hoạt động marketing điểm đến bao gồm:
- Xúc tiến truyền thông cho điểm đến (bao gồm xây dựng thương hiệu hình ảnh
tích cực về điểm đến);
- Triển khai các chiến dịch thúc đẩy hoạt động kinh doanh, đặc biệt hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ;
- Cung cấp các dịch vụ thông tin công khai, minh bạch;
- Điều hành, tạo thuận lợi cho việc đặt dịch vụ của khách hàng;
- Quản trị quan hệ khách hàng.
Hoạt động marketingthể chia theo tiểu khu nhưng cần đảm bảo sự nhất quán và hình
ảnh tích cực, tránh xung đột trong nhận thức của du khách.
3. Cung cấp các dịch vụ tại điểm đến
Quản điểm đến giúp đảm bảo chất lượng các dịch vụ cung cấp cho khách du lịch
trong quá trình lưu trú tại điểm đến, bao gồm:
- Điều phối và quản lý điểm đến nhằm mang lại chất lượng trải nghiệm cao nhất cho du
khách, đặc biệt là tại các khu vực công cộng;
- Phát triển các sản phẩm mới;
- Phát triển và quản lý các sự kiện;
- Phát triển và quản lý các điểm tham quan;
- Giáo dục và đào tạo;
- Tư vấn kinh doanh;
- Nghiên cứu và phát triển chiến lược.
Công tác quản điểm đến thường được tổ chức trong khu vực công cấp tiểu vùng,
tỉnh hoặc thành phố, do phần lớn hạ tầng du lịch được đầu từ ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, điểm đến du lịch cần được quản trong phạm vi hành chính rõ ràng hoặc
quanh các điểm tham quan, và phải chịu trách nhiệm về chất lượng trải nghiệm của du
khách khi tham gia hoạt động du lịch tại địa phương.
Câu 4: Trình bày nội dung phân tích nguồn lực, phân tích thị trường và phân tích
cạnh tranh của điểm đến du lịch?
Phân tích nguồn lực: Tối đa hóa nguồn lực điểm đến tìm cách khiến những
nguồn lực vốn trở thành lợi điểm cạnh tranh một trong những nhân tố thành
công trong chiến lược phát triển điểm đến du lịch.
1. Các yếu tố hữu hình: Bao gồm:
- Những yếu tố thu hút chính tại điểm đến: c điểm tham quan, di tích lịch sử - văn
hóa, bãi biển, vườn quốc gia, các nền tảng văn hóa, các sự kiện, các hoạt động thể thao...