Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp luật sư
Khuôn khổ pháp lý và sự cần thiết về việc bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
luật sư Một trong những nguyên tắc hành nghề luậtđược quy định trong
khoản 5 điều 5 Luật Luật sư năm 2006 là luật sư phải “chịu trách nhiệm trước
pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư”.
I/- Khuôn khổ pháp lý và sự cần thiết về việc bảo hiểm trách nhiệm nghề
nghiệp luật sư Một trong những nguyên tắc hành nghề luật sư được quy định
trong khon 5 điều 5 Luật Luật sư năm 2006 là luật sư phải “chịu trách nhiệm
trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư”.
Các thành viên của tchức hành nghluật sư phải chu trách nhiệm liên đới
bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư.
Khoản 5 6 điều 40 Luật Luật quy định, một trong những nghĩa vcủa
tổ chức hành nghề luật sư là phải bồi thường thiệt hại do lỗi mà luật sư của tổ
chc nh gây ra cho khách hàng trong khi thực hiện vấn pháp lut, đại
diện ngoài ttụng, dịch vụ pháp khác và phải mua bảo hiểm trách nhiệm
nghnghiệp cho luật của tổ chức mình theo quy định của pháp luật. Liên
quan việc hành nghề tư vấn pháp luật của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt
Nam, điều 38 và 39 Ngh định số 87/2003/NĐ-CP ngày 22-7-2003 của
Chính phquy định tchức hành nghluật sư nước ngoài phải chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất do lỗi của luật sư của tổ chức mình gây ra
cho khách hàng nghĩa vụ mua bảo hiểm tch nhiệm nghề nghiệp cho
luật sư của mình hành nghề tại Việt Nam.
Nhìn tkhía cạnh kinh doanh bảo hiểm, đó là hoạt động của doanh nghiệp
bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm,
trên sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm đdoanh nghiệp bảo hiểm
trtiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo
hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Sự kiện bảo hiểm được hiểu là skiện
khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó
xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng
hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm. Việt Nam đã ban hành Luật kinh
doanh bảo hiểm, hiệu lực từ 1-4-2001, nhưng chưa các quy định pháp
điều chỉnh đối với loại hình nghiệp vụ bảo hiểm tch nhiệm nghề nghiệp
luật sư.Trong thực tiễn hành nghề luật sư, đã có nhiều trường hợp khách hàng
khiếu nại về những thiệt hại nảy sinh từ việc tư vấn pháp luật không đúng ca
luật sư, về việc luật sư làm mất tài liệu, chng từ có giá trị… Vì thế, nhu cầu
v việc lut nghĩa v phải mua bảo him trách nhiệm nghề nghiệp
không chxuất phát t sự đảm bảo việc bồi thường cho khách hàng khi luật
vấn sai, sai phạm trách nhiệm nghề nghip do bất cn hoặc khinh sut
phạm phải, mà còn nâng cao uy tín hội của chính lut sư và tổ chức hành
nghluật sư, tạo được stin cậy nơi khách hàng đến nhờ vấn. Khi đcập
đến hoạt động luật như một nghề cao quý và tdo, mang nh dịch vụ có
thu, điều đó tự bản thân đã chứa đng những trách nhiệm xã hội và srủi
ro rất lớn. Thực hiện chế độ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư một
biện pháp quan trọng nhằm nn ngừa và hạn chế bớt những rủi ro trong
hành nghluật sư lành mạnh hoá s cạnh tranh trong thtrường dịch vụ
pháp lý. Xuất phát từ bản cht của hoạt động luật mang tính độc lập, nên
một luật sư sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhim với các quyết định độc lập của
mình, cũng như phải bảo mật thông tin, giữ gìn tài sản và tài liệu, hồ sơ của
khách hàng hoặc người thứ ba liên quan mà luật sư có trách nhiệm cầm giữ.
Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghip luật sư là một loại hình của bảo hiểm
trách nhiệm ngh nghiệp. Có thể khẳng định, xây dựng và hoàn thin chế đ
bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư là một trong những tiêu chí đánh
giá nghề luật sư nước ta đã phát triển đến mức độ nào. Trong điều kiện
khuôn khpháp lý liên quan đến lĩnh vực này còn nhiu hạn chế, Công ty
Bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh) đã đi tiên phong trong việc
xây dựng mẫu “Quy tắc bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp lut sư”, trên cơ
sở có tham khảo ý kiến ca một số chuyên gia pháp lý, một số tổ chức hành
nghề luật sư và thực tiễn của một số nước. Cùng vi việc hoàn thin khuôn
khổ pháp cho chế đbảo hiểm trách nhiệm lut sư, cần nhận diện bản chất
một số khía cạnh liên quan như sau:
1.1.- Về hp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghip luật sư:
Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp lut sư là thoả thuận giữa luật
sư và một Công ty bảo hiểm hoạt động phù hợp với Lut doanh nghiệp và
Luật kinh doanh bảo hiểm, trong đó xác định, khi phát sinh sự kiện bảo hiểm,
người được bảo hiểm khiếu nại và được Công ty bảo hiểm đn bù vi hạn
mức bồi thường hain đã thothuận, hạn mức bi thường, những trường
hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm. Thỏa thuận này bao gồm các điều khoản,
hạn mức trách nhiệm, các điểm loại trừ và các điều kiện khác được quy định
trong Đơn bảo hiểm và Giấy chứng nhn bảo hiểm và trên cơ sở người được
bảo hiểm đã nộp đủ tiền bảo hiểm.
Vấn đề cần nhn mạnh là Công ty bảo hiểm chỉ có thể bồi thường cho người
được bảo hiểm các trách nhim pháp lý phát sinh do “vi phạm trách nhiệm
nghề nghip luật sư”, dù đó là nghĩa vụ theo hp đồng hay phát sinh bởi bất
k hành động bt cẩn, sai lầm hoặc thiếu sót nào do người được bảo hiểm,
các nhân viên trực thuộc quyền quản lý của người được bảo hiểm, các chi
nhánh trực thuộc… Theo mô tả ca bản Quy tắc bảo him trách nhiệm nghề
nghiệp lut sư do Công ty Bảo Minh ấn hành, người bảo hiểm chấp nhận bồi
thường cho người được bảo hiểm, nhưng không vượt quá hạn mức trách
nhiệm quy định trong Giấy chứng nhận bảo hiểm:
(1) Trong giới hạn trách nhiệm bồi thường quy định trong Giấy chứng nhận
bảo hiểm đối với các khoản tiền mà người được bảo hiểm có trách nhiệm
pháp lý phải thanh toán phát sinh từ bt kỳ yêu cầu bồi thường nào được đưa
ra lần đầu tiên bằng văn bản trong thời hạn bảo hiểm quy định trong Giấy
chứng nhận bảo hiểm, do sai phạm tch nhiệm nghề nghiệp quy định trong
Giấy chứng nhận bảo hiểm do bất cẩn, sai sót hoặc khinh suất phạm phải
hoặc được cho là phm phải trong thời gian hiệu lực của hợp đồng (và thi
gian có hiệu lực trở về trước, nếu được quy định) và trong phạm vi lãnh th
được quy định trong Giấy chng nhận bảo hiểm, của:
a) Người được bảo hiểm và, hoặc
b) Bất kỳ nhân viên nào ca người được bảo hiểm khi thực hin nghip vụ
nhân danh người được bảo hiểm trong khả năng nghnghiệp quy định trong
Giấy chứng nhận bảo hiểm (kể cả các nghiệp vụ với tư cách là người thừa
hành, quản lý hoặc thanh toán, nếu được quy định, miễn là các hot động này
cấu thành mt phần thu nhập của người được bảo hiểm);
(2) Các khoản chi phí người được bảo hiểm đã chi ra vi sự đồng ý bằng văn
bản của người bảo hiểm để biện hộ và/hoc giải quyết bồi thường.
Tuy nhiên, trường hợp người được bảo hiểm phải trả một stiền vượt quá
giới hạn trách nhiệm quy định trong đơn bảo hiểm để giải quyết bồi thường,
trách nhiệm ca người bảo hiểm đi với các khoản chi phí, phí tổn này sẽ là
t lệ tiền bồi thường quy định trong đơn bảo hiểm trên tng chi phí người
được bảo hiểm phải chi để giải quyết bồi thường.
1.2.- Các s kiện phát sinh và loại trừ trách nhiệm bảo hiểm:
Công ty bảo hiểm s chi trả toàn bộ chi phí bi thường và các phí tổn chi trả
cho người được bo hiểm đối với mỗi một sự cố, theo hạn mức bồi thường
được nêu trong phụ lục đính kèm hợp đồng bảo hiểm. Công ty bảo hiểm sẽ
thực hiện trách nhiệm bồi thường đối với các khiếu nại phát sinh trong thời
hạn quy định của đơn bảo hiểm; người được bảo hiểm thông báo bằng văn
bản cho Công ty bảo hiểm. Các trường hợp được coi là sự kiện phát sinh
trách nhiệm ca Công ty bảo hiểm chi trả các khoản bồi thường cho người
được bảo hiểm, có thể bao gồm: