Khế ước xã hội của Thomas Hobbes
5
Triết học chính trị quyền lực được xác lập dựa trên sự hiể
Triết học chính trị quyền lực được xác lập dựa trên shiểu biết bản chất con
người
Cách đặt vấn đề như thế thhiện ước muốn của Hobbes xây dựng “khoa học v
quyền lực” thực sự cần thiết, nhằm đảm bảo cho con người quyền thiêng liêng
nhất là quyền được sống trong hòa bình. Liệu ông có thành công không?
Điểm đặc biệt trong triết học chính trị của Hobbes là học thuyết Khế ước xã hội,
tức học thuyết phân tích hai trạng thái trạng thái tự nhiên và trạng thái công dân.
Những vấn đề triết học chính trị đã được tìm hiểu ngay từ thời cổ đại, và th
thấy rằng tư tưởng về nhà nước, các quan hệ quyền lực Hobbes là skế thừa
chọn lọc, sự phát triển và c thể hóa các phương án khác nhau về nguồn gốc và
bản chất nhà nước, vốn mầm mống từ liên minh Pythagore đến Epicure, cũng
như vấn đề quan hệ giữa chủ thể đối tượng quan hệ quyền lực, từ Socrate đến
Aristote. Chẳng hạn quan niệm về quyền tự nhiên và tính khế ước của nhà nước
thể tìm thấy ở Liên minh Pythagore và Epicure, còn sự phân loại các hình thức nhà
nước điểm nổi bật trong triết học chính trị của Platon và Aristote. Vấn đề đạo
đức hóa kết hợp với duy hóa quyền lực nhà nước được Socrate nêu ra trước
tiên, nhưng chỉ Platon mới biến nó thành nguyên tắc cai trị. Các nhà nghiên cứu có
thể so sánh chủ nghĩa lý tưởng của Platon với quan điểm thực tế của Aristote trong
việc xác lập hình nhà nước tương lai; hoặc so sánh Aristote với Epicure trong
cách hiểu về quan hệ giữa nhân và chthể quyền lực: một người nhấn mạnh
tính nhà nước trong quan hệ với các công dân, người kia chú trọng đến tính cá thể,
sự tự do của cá nhân. Trong lý luận về nhà nưc và quan h quyền lực của Hobbes
đều hiện diện, với những mức độ khác nhau, các cách tiếp cận vừa nêu. Song dấu
ấn rõ nét nhất vẫn là hình ảnh “Quân vương” của Machiavelli, người được xem là
cha đẻ thực sự của khoa học chính trị. Kế thừa tư tưởng chính trị của Machiavelli,
Hobbes đem đối lập nguyên tắc thhóa quyền lực với Aristote, chỉ giữ lại một
luận điểm nền tảng, mà hầu như nhà tư tưởng nào của thời đại khai sáng cũng đều
chấp nhận, đó là: một nhà nước tốt đẹp phải phụng sự lợi ích của con người. Lẽ cố
nhiên Hobbes không chấp nhận hoàn toàn cách tiếp cận của Machiavelli, vốn được
biết đến dưới tên gọi chủ nghĩa Machiavelli.
Học thuyết hai trạng thái của Hobbes thhiện mặt tích cực lẫn hạn chế của triết
học chính trị của Hobbes. Đặ trưng của trạng thái tự nhiên không có bất kỳ thiết
chế nhà nước nào, đó trạng thái “bên ngoài hội công dân” như Hobbes đặt
tên. Trên thực tế “trạng thái tự nhiên” trước hết là một sự trừu tượng hóa duy lý,
nhđó mà Hobbes mong m sáng tcác đặc trưng của bản tính tự nhiên của con
người trong dạng thuần khiết nhất. Khái niệm “quyền tự nhiên” (jus naturale)
Hobbes thường xuyên sdụng mang ý nghĩa nhân hình hội, bởi lẽ tính xã hội
được gán cho tự nhiên. Khái nim này cũng hàm chứa cả thái độ của Hobbes đối
với tình trạng “không luật pháp”, “không nhà nước” ngay trong thời điểm hiện
tại. Do đó nên cý đến phép n dụ chính trị trong học thuyết hai trạng thái của
Hobbes, ch không chỉ đơn giản là cách tiếp cận phi lịch sử, như một số nhà
nghiên cứu lầm tưởng.
Trạng thái tnhiên của đời sống con người được đặt trưng bởi sthống trị của
quyền tự nhiên. Đó trạng thái không đạo đức, trạng thái của “bản năng ph
biến”, gần với thế gới loài vật. Trong trạng thái ấy tất cdường như đạt đến s
tuyệt đối: tdo tuyệt đối, ham thích tuyệt đối, quyền lực tuyệt đối. Nhưng thực ra
những cái tuyệt đối ấy chỉ mang tính hình thức, không bền vững. Tự do sở hữu?
Không phải, vì mọi nời đều muốn điều lợi cho mình, do đó sẵn sàng chiếm
đọat của người khác những gì thchiếm đọat. Trong trạng thái tự nhiên không
sphân định “của tôi” và “của anh”. Tự do hoạt động? Cũng chưa hẳn, bởi lẽ
tầm hoạt động của mỗi nhân tùy thuộc vào điều kiện sức khỏe và kh năng
tranh giành với những thực thể khác cùng ham muốn. Bình đẳng tự nhiên (t
nhiên sinh ra mọi người bình đẳng như nhau)? Khó thực hiện, bởi lẽ không ai
muốn người khác như mình. Quyền lực vô hạn? Hoàn toàn không đơn giản, bởi lẽ
anh chquyền, nếu anh là kmạnh. Trong trạng thái tự nhiên phi đạo đức và
không luật lệ con người sẵn sàng m bất cứ điều tùy thích, nếu đủ sức và
không bị cản trở. Chỉ có một thứ luật, đó là lut của kẻ mạnh. Hai bản năng cơ bản
của con người trong trạng thái tự nhiên bn năng gây hấn, khi đủ mạnh, và bản
năng tự vệ, khi bị tấn công.
Hobbes khái quát bức tranh m đạm ấy bằng câu cách ngôn của người La Mã c
đai:"Con người với con người là chó sói”. Tác gi“Leviathan” viết:"…Từ đây có
ththấy rằng khi nào con người sống mà không quyền lực chung, buộc tất cả
mọi người khiếp sợ, họ trong trạng thái gọi là chiến tranh, mà chính trng thái
chiến tranh của tất cả chống lại tất cả" (Sđd, tr. 87). Tất cả những gì đặc trưng cho
thời k chiến tranh, Hobbes phân tích tiếp, khi mọi người trở thành kthù của
nhau, thì không bất kỳ sđảm bào an ninh nào khác, ngoài sđảm bảo do sức
mạnh vật và ssáng trí đem lại cho họ. Trong trạng thái này không chcho
tính cần cù, bởi lẽ không ai đứng ra đảm bảo cho con người những thành qulao
động, vì thế cũng không nghề nông, nghề thủ công, nghề đóng tàu, nghhàng
hải, nghthiên văn, các hoạt động sáng tạo văn chương, nghệ thuật, những ngôi
nhà tiện nghi, không phương tiện vận chuyển trao đổi đòi hỏi nhiều sức lực,
không hội, khắp i tràn ngập nỗi sợ hãi triền miên hiểm họa về cái chết
bo lực, còn cuộc sống con người thì đơn độc, nghèo đói, không lối thoát, tối
tăm và ngắn ngi.
Hóa ra, theo Hobbes, trong trạng thái tự nhiên mọi quyền của con người chỉ mang
tính hình thức: bình đẳng mà không bình đẳng thực sự, tự do mà không t do,
công bằng mà không công bằng. Trạng thái tự nhiên là trạng thái thú vật, không có
ý thức cộng đồng. Trạng thái ấy tiếp diễn u dài s đe dọa sự tự hủy diệt của
chính con người. Lối thoát duy nhất, tất yếu chỉ thể là thay trạng thái tự nhiên
bằng trạng thái công dân, trạng thái nhà nước. Sư thay thế đó xuất phát tnhu cầu
sinh tồn và duy trì nòi giống, cái nhu cầu không chỉ dựa trên trình độ cảm tính, mà
ctính của con người. Trong “Leviathan” Hobbes nhấn mạnh cả hai khả năng
ham thích tính đều giúp con người thoát khỏi trạng thái tnhiên. Hobbes
viết tiếp:"Những ham muốn m cho con người thiên hướng hòa bình, nỗi lo
scái chết, ước muốn đạt được những gì cần thiết, cho cuộc sống no đủ bằng sự
cần cù. trí thì gợi mở những nỗ lực phù hp của hòa bình, trên cơ sở ấy con
người có thể đi đến một thỏa thuận” (Sđd, tr. 89).
Dấu hiệu bản, chủ đạo của của trạng thái công dân là shiện diện một quyền
lực tối cao, hùng mạnh. Quyền lực được xác lập bằng con đường khế ước (thỏa
ước), được tất cả các ththừa nhận, các thể về sau trở thành các công dân,
chịu lệ thuộc vào quyn lực ấy. Khế ước ra đời một cách tất yếu, biểu thị quá trình
nhận thức của con người về sự bất ổn và cái chết trong trạng thái tự nhiên. Trong
“Leviathan” Hobbes chra m điểm khác nhau giữa người và vật (ong và kiến
chẳng hạn), như điều kiện để con người chuyển từ trạng thái tự nhiên sang trạng
thái công dân. Con người khác với loài vật việc nhận thức, thứ nhất, về sự nguy