KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
91
1. Đặt vấn đề
Triết học c - nin học phần được giảng dạy
cho sinh viên năm thứ nhất tạic trường cao đẳng, đại
học. Đó là mảng tri thức mang tính trừu tượng a, ki
quát a cao, nhất là những tri thức trong c cặp phạm
trù của phép biện chứng duy vật nên việc tiếp cận, nắm
bắt và lĩnh hội đối với sinh vn là một khó khăn rất lớn.
Sự ln hệ, vận dụng bởi triết của người Việt tng
qua các u ca dao, tục ngmột trong những thủ
pháp hay trong giảng dạy, giúp cho tri thức triết học
nhn lâm được gắn kết với thực tiễn cuộc sống sinh
động, từ đó nời học dễ cảm nhậnn.
Sở dĩ, thể thực hiện phương pháp này trong
giảng dạy trong ca dao, tục ngữ chứa đựng rất
nhiều những yếu tố của tưởng triết học biện
chứng. Rất nhiều câu ca dao, tục ngữ Việt Nam thể
hiện cách nhìn nhận các sự vật và hiện tượng không
phải ở trạng thái tồn tại biệt lập, tĩnh tại, bất biến mà
giữa chúng những mối liên hệ, tác động qua lại
lẫn nhau, chúng luôn trong trạng thái vận động
phát triển.
Vì vậy, việc vận dụng ca dao, tục ngữ trong giảng
dạy các cặp phạm trù bản của phép biện chứng
duy vật sẽ làm cho bài giảng trở nên sinh động,
tính thuyết phục cao hơn. Qua đó, khơi dậy niềm say
học tập cũng như rèn luyện cho sinh viên khả
năng liên hệ, phân tích, vận dụng tưởng triết học
vào thực tiễn cuộc sống; góp phần củng cố niềm tin,
tưởng, nhân cách sống cho thế hệ trẻ dưới tác
động của xu thế toàn cầu hóa hiện nay.
2. Nội dung
2.1. Khái niệm cao dao, tục ngữ
2.1.1. Khái niệm ca dao
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 1, thì “Ca
dao thường những câu thơ, bài t dân gian ý
nghĩa khái quát, phản ánh đời sống, phong tục, đạo
đức hoặc mang tính chất trữ tình, đặc biệt là tình yêu
nam nữ”[11, tr.303].
Trong Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý có
VẬN DỤNG CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM VÀO GIẢNG DẠY
CÁC CẶP PHẠM TRÙ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Tạ Thị M*
——————
* Trường Đại học Công đoàn
Ngày nhận: 09/01/2025
Ngày phản biện: 24/02/2025
Ngày duyệt đăng: 24/3/2025
Tóm tắt: Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật là một nội dung quan trọng trong học phần Triết học Mác -Lênin được
giảng dạy ở trình độ đại học. Việc vận dụng ca dao, tục ngữ trong giảng dạy là phương pháp cần thiết nhằm gắn lý luận với thực tiễn,
học đi đôi với hành; giảm bớt tính trừu tượng, khô khan, khó hiểu; giúp sinh viên nắm bắt được những tri thức của chủ nghĩa duy vật
biện chứng một cách sinh động và hiệu quả nhất. Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích vai trò của việc sử dụng ca dao, tục
ngữ vào giảng dạy; từ đó vận dụng cụ thể trong nội dung sáu cặp phạm trù bản nhằm nâng cao tính thuyết phục và tăng giá trị
khoa học của phép biện chứng duy vật, kích thích sự hứng thú, say mê học tập cho sinh viên hiện nay.
Từ khóa: các cặp phạm trù cơ bản; ca dao; tục ngữ; vận dụng.
APPLYING VIETNAMESE SONG AND PROVERBS IN TEACHING BASIC CATEGORY PAIRS OF MATERIALISTIC DIALECTICS
Abstract: The pairs of basic categories of materialist dialectics are an important content in the course Marxist-Leninist Philosophy
taught at the university level. The application of folk songs and proverbs in teaching is a necessary method to combine theory with
practice, learning with practice; reduce abstraction, dryness, and difficulty understanding; helps students grasp the knowledge of
dialectical materialism in the most vivid and effective way. In this article, the author focuses on analyzing the role of using folk songs
and proverbs in teaching; from there, specifically apply the content of six pairs of basic categories to enhance the persuasion and
scientific value of materialist dialectics, stimulating interest and passion for learning for today's students.
Keywords: pairs of basic categories; folk songs; byword; manipulate.
viết: “Ca dao là thể thơ dân gian được lưu truyền dưới
dạng những câu hát”[6, tr.165].
Còn theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, ca
dao “thơ ca dân gian truyền miệng dưới hình thức
những câu hát không theo một điệu nhất định,
thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ
thuộc”[3, tr.132].
Cũng bàn về khái niệm ca dao, trong cuốn “Tục
ngữ ca dao Việt Nam” tác giả Bùi Văn Vượng, nêu:
“Ca dao thơ ca dân gian Việt Nam, được truyền
miệng dưới dạng những câu hát không theo một giai
điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát
cho dễ nhớ, dễ thuộc”[2, tr.27].
nhiều quan điểm khác nhau, song ca dao
thhiểu là những i hát ngắn trong dân gian,
vần điệu, được làm theo thể thơ lục hoặc kiểu thơ
bốn chữ, thơ năm chữ; những bài thơ được
truyền miệng tả phong tục, tập quán, về thời
tiết, khí hậu, những kinh nghiệm thiên văn học của
người xưa.
2.2.2. Khái niệm tục ngữ
Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 4: “Tục ngữ
một bộ phận của văn học dân gian, gồm những
câu ngắn gọn, vần điệu, đúc kết tri thức, kinh
nghiệm sống, đạo đức thực tiễn của người dân”
[12, tr.676].
Còn theo Từ điển tiếng Việt (2010) của Hoàng
Phê, tục ngữ “câu ngắn gọn, thường vần điệu,
đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống đạo đức thực
tiễn của nhân dân”[3, tr.1361].
Trong Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý có
viết: “Tục ngữ những câu nói ngắn gọn, vần
điệu, lưu truyền trong dân gian, đúc kết tri thức, kinh
nghiệm thực tiễn của con người về tự nhiên, hội,
cuộc sống, đạo đời”[6, tr.1693] hay “Tục ngữ
những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, nhịp
điệu, hình ảnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về
mọi mặt (Tự nhiên, lao động sản xuất, hội, con
người...), được nhân dân ta vận dụng vào đời sống,
suy nghĩ lời ăn tiếng nói hằng ngày” [2, tr.68].
Như vậy, tục ngữ được hiểu là lời ăn tiếng nói của
nhân dân ta đã được đúc kết dưới hình thức tinh giản
súc tích; những câu nói ý nghĩa, dễ nhớ
vần điệu, được truyền miệng từ người này sang người
khác, từ nơi này đi nơi khác trong tự nhiên, lao động
sản xuất hội; những nhận xét giải thích của
nhân dân về các hiện tượng của tự nhiên liên quan
đến thời tiết, khí hậu.
2.2. Vai trò của ca dao, tục ngữ trong giảng dạy
các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng
duy vật
Từ ngàn đời nay ca dao, tục ngữ đã được cha ông
ta đúc kết thành kho tàng kinh nghiệm qua lao động
vất vả; qua đấu tranh quyết liệt với tự nhiên, với
hội. Đó là: “ăn kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa”[2, tr.171],
“làm ruộng ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng” [2,
tr.16] - kinh nghiệm được thể hiện trong quá trình lao
động sản xuất hàng ngày của người dân; “mau sao thì
nắng, vắng sao thì mưa”, “gió heo may, chuồn chuồn
bay thì bão”[2, tr.11] - kinh nghiệm về dự báo thời
tiết; hay câu “phép vua thua lệ làng”, “tức nước vỡ
bờ”[2, tr.26], “Đánh giặc thì đánh giữa sông/Chớ đánh
trong cạn, phải chông chìm”[13, tr.24] - kinh
nghiệm trong đấu tranh với tự nhiên hội.
Hơn nữa, ca dao, tục ngữ xuất phát từ chính thực
tiễn cuộc sống, chứa đựng những cái hay, cái đẹp
của cuộc sống con người “Vì cam cho quýt đèo
bòng/Vì em nhan sắc, nên lòng nhớ thương”[2,
tr.138] ; đặc biệt là những giá trị truyền thống, đạo
của dân tộc nên được coi là di sản quý báu trong đời
sống tinh thần nhân dân. Ca dao, tục ngữ còn bài
học về cách ứng xử giữa con người với con người
trong cộng đồng. Đó những lời răn dạy con cháu
về tình yêu đối với quê hương, đất nước, với thiên
nhiên; lời khuyên về cách ứng xử đối với lao động và
người lao động.
Nội dung trong mi câu ca dao, tục ng đều thể
hin, khái quát những yếu tố của triết học, qua “các
hin tưng cthđ nói lên ý nim tru tượng,
qua cái “đơn nhất, cái cá biệt đ i lên cái
“chung, cáiphổ biến, qua nhữngnguyên nhân
để nói lên “kết quả”, qua “hiện thực” để nói lên
“bản chất”.
vậy, ca dao, tục ngữ vẫn chưa phản ánh một
cách khái quát những kinh nghiệm ấy thành những
ngun lí, phạm trù, quy luật vthế giới hiện thực
khách quan giống như tri thức triết học nhưng
những tri thức đó cũng đem lại cho con người nhiều
nội dung khá phong phú như: những quan điểm
duy vật, duy m vthế giới; quan niệm biện chứng
92
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 37 thaáng 3/2025
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
về thế giới, quan niệm về nhân sinh quan, nguồn
gốc, bản chất của con người các mối quan h
giữa con người với tự nhiên, xã hội với chính bản
thân con người.
Qua những vần điệu trong ca dao, tục ngữ khi
được vận dụng vào bài giảng Triết học Mác - Lênin
nói chung, các cặp phạm phù bản của phép biện
chứng duy vật nói riêng sẽ giúp sinh viên thể gắn
tri thức khái quát, trừu tượng của triết học vào thực
tiễn cuộc sống hàng ngày; từ đó, dần hiểu được bản
chất của những khái niệm mang tính trừu tượng
trong triết học.
2.3. Vận dụng ca dao, tục ngữ trong giảng dạy
các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng
duy vật
Việc vận dụng ca dao, tục ngữ vào các cặp phạm
trù bản của phép biện chứng duy vật nhằm giúp
sinh viên nắm được ý nghĩa của các câu ca dao, tục
ngữ mà các em hay dùng hàng ngày nhưng có khi lại
không hiểu hết ý nghĩa của nó. Qua đó, cũng đồng
thời giúp sinh viên hiểu được nội dung của các cặp
phạm trù, từng bước nắm vững tri thức bản của
Triết học Mác - Lênin. Để hiểu hơn vấn đề này,
chúng ta sẽ đi tìm hểu từng cặp phạm trù cụ thể sau:
2.3.1. Vận dụng ca dao, tục ngữ để minh họa cho
phạm trù cái riêng và cái chung
Theo phép biện chứng duy vật, cái chung cái
được “lặp lại”[1, tr.208] ở các sự vật, hiện tượng; là cái
đặc điểm chung giữa những cái riêng nghĩa nói
đến thuộc tính giống nhau giữa các cái riêng. Chẳng
hạn “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn/xấu người đẹp nết còn
hơn đẹp người”[13, tr.80] - đây cái chung (tốt) thể
hiện đức tính của con người, cái giống nhau giữa
hai cái riêng (gỗ nước sơn); “thân chim cũng như
thân cò”[13, tr.71] - cũng để chỉ cái chung (thân) tồn
tại trong những cái riêng (chim, cò) nhất định, hay
câu “lòng vả cũng như lòng sung”[13, tr.72].
Bên cạnh đó, trong mỗi sự vật, hiện tượng cụ thể
thì ngoài cái chung chúng còn cái đơn nhất (mặt
khác biệt của cái riêng). Trong phép biện chứng duy
vật, cái đơn nhất được hiểu cái riêng, cái khác biệt,
“không lặp lại”[1,208] trong các sự vật, hiện tượng, đó
cái “Có một không hai”[4, tr.73] hay “một vợ, hai
nợ”[13, tr294]. Trong bất kỳ sự vật, hiện tượng nào
cũng tồn tại cái đơn nhất, chẳng hạn “Mỗi cây mỗi
hoa, mỗi nhà mỗi cảnh” [4, tr.200], hay “Sống mỗi
người một nết, chết mỗi người một mồ”[4, tr.277].
Về mối quan hệ giữa cái riêng cái chung cũng
được thể hiện như sự gắn giữa các thể, các
loài trong thế giới sinh vật “Lòng vả cũng như lòng
sung/một trăm lòng vả lòng sung một lòng”[13,
tr.72], hay “Bầu ơi thương lấy cùng/Tuy rằng khác
giống nhưng chung một giàn”[5, 44]. Câu ca dao ý
nói, bầu hai loại cây khác nhau, hai cái riêng
nhưng lại có phương thức sống giống nhau (cùng lấy
chất dinh dưỡng trong đất, trong không khí để nuôi
thể, đặc biệt cùng chung một giàn). Điều đó
thể hiện, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái
chung, không có cái riêng nào tồn tại độc lập tách rời
tuyệt đối với cái chung.
Trong cuộc sống, mặc dù cái chung thường là cái
bản, quy định bản chất, khuynh hướng vận động,
phát triển của sự vật nhưng không thế con
người tuyệt đối hóa cái chung đồng thời cũng không
được tuyệt đối hóa cái riêng hoặc tách rời giữa chúng
phải duy hài hòa giữa cái chung cái riêng
theo phương châm “hòa nhập mà không hòa tan”.
2.3.2. Vận dụng ca dao, tục ngữ để minh họa cho
phạm trù nguyên nhân và kết quả
Phép biện chứng duy vật cho chúng ta thấy,
nguyên nhân sự “tác động lẫn nhau” của những
mặt, những thuộc tính trong một sự vật, hiện tượng
hay các sự vật, hiện tượng với nhau. Trong sự tác
động ấy, nhất định gây nên những biến đổi nhất
định, tức gây ra kết quả, chẳng hạn “gieo gió gặt
bão”[4, tr.134], “trèo cao ngã đau”... Cùng với đó, kết
quả lại dùng để chỉ những “biến đổi” xuất hiện do sự
tương tác giữa các mặt, các sự vật, hiện tượng gây
nên, chẳng hạn: “Thế gian chẳng ít thì nhiều, không
dưng ai dễ đặt điều cho ai”[13, tr81], “Cháy rừng bởi
chưng tý lửa”[5, tr.168].
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, mối liên hệ nhân - quả luôn mang tính rất
phổ biến trong thế giới; vạn vật trong vũ trụ xuất
hiện luônnguyên nhân. Có câu: “Không có lửa sao
có khói?”[4, tr.161] - “khói” ở đây được xem là kết quả
do từ nguyên nhân “lửa” y nên; “Nguồn đục thì
dòng ng đục”[4, tr.222] - i lên mối liên hệ nhân
quả luôn có tính tất yếu. Do vậy, trong cuộc sống cần
phải bắt đầu từ việc đi tìm những nguyên nhân xuất
93
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
hiện sự vật, hiện tượng, như “Ở bầu thì tròn, ống
thì dài”[2, tr.137].
Bên cạnh đó, mối quan hệ nhân - quả còn mang
tính phức tạp. thể nhiều nguyên nhân tác động
góp phần tạo nên kết quả, chẳng hạn: “Nước, phân,
cần, giống” [2, tr.157] - để cây thể sinh trưởng
phát triển tốt thì cần rất nhiều yếu tố như “nước”,
“phân”, “cần”, “giống”. Ngược lại, một nguyên nhân
cũng có thể gây ra nhiều kết quả “Một công đôi việc”
(nhất cử lưỡng tiện)[4, tr.231], hay câu “thế gian còn
dại chưa khôn/ Sống mặc áo rách, chết chôn áo lành”
[13, tr81].
nhiều nguyên nhân góp phần thúc đẩy sự hình
thành kết quả như mong muốn, nhưng luôn có sự ưu
tiên cho nguyên nhân chủ yếu “Không nước, không
phân, chuyên cần ích”[2, tr.157]. Ngược lại, muốn
kết quả không xảy ra thì đừng “Đánh rắn giữa
khúc”[4, tr.104] phải cần loại bỏ tận gốc nguyên
nhân “Đánh rắn phải đánh dập đầu” [4, tr.104]. Thêm
nữa, quan hệ nhân quả sự kế tiếp về thời gian,
nhưng không phải mọi quan hệ nối tiếp về thời gian
nào cũng quan hệ nhân quả, do đó trong nhận
thức cần tránh sai lầm như “bới bèo ra bọ” [13, tr74].
2.3.3. Vận dụng ca dao, tục ngữ để minh họa cho
phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên
Vạn vật trong trụ cái diễn ra như một tất
nhiên (quy luật), “do những nguyên nhân cơ bản bên
trong của sự vật, hiện tượng quy định”, nó chắc chắn
xảy ra như thế “Một lần bất tín, vạn lần bất tin” [2,
tr72] - đã một lần “bất tín” thì “vạn lần” mất niềm tin.
Nhưng cũng có khi ngoại lệ tạo nên sự bất ngờ (ngẫu
nhiên) “học tài thi phận” [13, tr95] - người học tài giỏi
nhưng cũng lúc thi rớt lên rớt xuống; “tai bay vạ
gió” [13, tr95] - câu tục ngữ này nhằm nhắc nhở bên
cạnh cái tất nhiên thì không nên bỏ qua cái ngẫu
nhiên để phòng trừ những điều xui xẻo, không may
xảy ra.
Cái tất nhiên bao giờ cũng biểu hiện sự tồn tại của
mình thông qua số cái ngẫu nhiên, “Tình cờ gặp
mình anh đây/Như gặp nước như mây gặp
rồng”[5; tr.200]. Câu ca dao trên nói đến hai đối
tượng: một nam, một nữ. Sự gặp gỡ của hai người
điều ngẫu nhiên nhưng sự hòa hợp với nhau điều
tất nhiên. Tuy nhiên, cái tất nhiên này cũng không
phải tự nhiên sự tổng hợp của rất
nhiều những yếu tố khác, ngẫu nhiên nó lại biểu hiện
những nét tương đồng, hòa hợp ngay từ ngày đầu
tiên gặp nhau: từ ánh mắt, lời nói, đến cử chỉ, thái độ
ngẫu nhiên lại sự ăn nhập với nhau. những lẽ
ngẫu nhiên này tất nhiên họ phải lòng nhau
“Như cá gặp nước như mây gặp rồng”. Cái ngẫu nhiên
hình thức biểu hiện của cái tất nhiên đồng thời
cái bổ sung cho cái tất nhiên.
Sự chuyển hóa giữa tất nhiên và ngẫu nhiên còn
chỗ: sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ này, xét
trong mặt này thì là ngẫu nhiên nhưng xét trong mối
quan hệ khác, trong mặt khác lại tất nhiên. như:
“Ớt nào ớt chẳng cay/Gái nào gái chẳng hay
ghen chồng”[5, tr.403] hay “Vôi nào vôi chẳng
nồng/Gái nào gái chồng chẳng ghen”[5, tr.418]
- “Cay”, “nồng” thuộc tính khách quan, đặc tính
tất yếu của ớt, của vôi. Tuy nhiên, nếu xét đến sự đa
dạng sinh học thì “cay”, “nồng” ngẫu nhiên đặc
điểm của ớt” của “vôi”. ớt” “vôi” ngẫu nhiên
đặc tính “cay” “nồng” tạo hóa ban tặng chứ
không phải đặc tính “ngọt” hay “chua”; “ngọt”
và “chua” lại đặc tính của sự vật khác.
2.3.4. Vận dụng ca dao, tục ngữ để minh họa cho
phạm trù nội dung và hình thức
Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan
của chúng ta sự tổng hợp của các mặt, các yếu tố
cấu thành tạo nên nội dung sự vật “Đói cho sạch, rách
cho thơm” [2, tr23], còn những phương thức tồn tại,
biểu hiện, phát triển của chúng hình thức của sự
vật “Ăn no lâu, cày sâu tốt lúa” [13, tr78]. “Trông
mặt mà bắt hình dong”[2, tr20].
Nội dung hình thức luôn gắn chặt chẽ với
nhau trong một thể thống nhất. Sự vật vận động
phát triển chính là lúc giữa nội dung với hình thức có
sự phù hợp, thống nhất nhau, ví như “Y phục xứng
đức”[4, tr.352].
Trong mối quan hệ giữa nội dung hình thức,
không hình thức nào thuần túy không chứa đựng
nội dung, cũng không có nội dung nào lại không tồn
tại trong một hình thức xác định. Nội dung nào hình
thức ấy “Người khôn con mắt đen sì/Người dại con
mắt nửa chì nửa thau”[5, tr.138]; “Người khôn tiếng
nói cũng thanh/Chuông kêu khẽ đánh bên thành
cũng kêu”[5, tr.139].
Trong cuộc sống, với sự linh hoạt sáng tạo của
94
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 37 thaáng 3/2025
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
mình, con người thể sử dụng một nội dung trong
nhiều nh thức kc nhau như Khác lọ, ng
nước”[4, tr.153] hoặc ngược lại “Một khố hai người
đóng”[4, tr.203].
Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức
trong quá trình vận động và phát triển của sự vật. Nội
dung luôn quan trọng hơn hình thức “Tốt gỗ hơn tốt
nước sơn, xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người” - Gỗ
tốt mới giữ được nước sơn lâu bền, nếu nước sơn
tốt đến mấy cũng sẽ nhanh hỏng, bong tróc bởi gỗ
xấu. Hình thức không thể quyết định nội dung “Chiếc
áo không làm nên thầy tu”. Thế nhưng, không thế
bỏ qua hình thức, không chú trọng đến hình thức.
Tục ngữ câu “Người đẹp lụa”[4, tr.224], hay “Cái
răng, cái tóc góc con người”[4, tr.45]... Nếu bỏ qua
hoặc không chú trọng đến hình thức sẽ tạo nên độ
vênh, sự khập khiễng, gượng ép một cách giả tạo
khi lố bịch như “Râu ông nọ cắm cằm kia”[4,
tr.266]. Do vậy, sự biện chứng là ở chỗ con người luôn
biết tạo ra sự ứng xử phù hợp “Đi với Phật mặc sa,
đi với ma mặc áo giấy”[4, tr.114], hay “Lành làm gáo,
vỡ làm muôi”[4, tr.172].
thế, trong nhận thức hoạt động thực tiễn,
cha ông ta luôn đánh giá vai trò của nội dung cao hơn
hình thức “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn/Xấu người đẹp
nết, còn hơn đẹp người”[2, tr.187] hay “Rượu ngon
chẳng quản be sành/Áo rách khéo hơn lành vụng
may”[5, tr.165].
2.3.5. Vận dụng ca dao, tục ngữ để minh họa cho
phạm trù bản chất và hiện tượng
Mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng được đề
cập đến nhiều góc cạnh mức độ khác nhau, rất
thực tế linh hoạt. Trong ca dao, tục ngữ Việt Nam
đã khẳng định: bản chất bao giờ cũng bộc lộ qua hiện
tượng “Chim khôn kêu tiếng rảnh rang/Người khôn
nói tiếng dịu dàng dễ nghe”[5, tr.66] - tiếng kêu, tiếng
nói dịu dàng hiện tượng biểu hiện cho bản chất
chim khôn, người khôn, hay “Khôn ngoan hiện ra nét
mặt, què quặt hiện ra chân tay”[4, tr.159]. Nét mặt - là
hiện tượng biểu hiện cho bản chất khôn ngoan.
Bản chất với hiện tượng thường thống nhất nhau,
tuy nhiên giữa chúng cũng những mâu thuẫn,
những giả tạo của hiện tượng với bản chất, như:
“Miệng nam mô, bụng bồ dao găm”[4, tr.198] hay
“Việc bé, ra to” [2, tr.35].
Trong nhận thức, có thể căn cứ vào hiện tượng để
suy luận về bản chất sự vật: “Đàn không biết nuôi
heo đàn nhác, đàn ông không biết buộc lạt
đàn ông hư”[4, tr.101]. Thế nhưng, cũng đừng vội
vàng trông mặt bắt hình dong một cách chắc
chắn, tất yếu nhiều khi hiện tượng phản ánh sai
lệch bản chất hoặc có thể dẫn đến xuyên tạc bản chất
“Xanh vỏ, đỏ lòng”[4, tr.288]; “Xấu chữ nhưng lành
nghĩa”[5, tr.207]; “Ngoài thì thơn thớt nói cười/Bên
trong nham hiểm giết người không dao”[7, tr.150].
Trong thực tiễn cần phải cảnh giác với những hiện
tượng xuyên tạc bản chất “Tẩm ngẩm tầm ngầm
dẫm chết voi”[7, tr.160]. Do vậy, đừng thấy đỏ đã
nhanh kết luận là chín, không phải tất cả những gì lấp
lánh đều vàng nên nhiều thời gian trải
nghiệm xem xét cẩn thận, phải “Thức lâu mới biết
đêm dài, lâu mới biết lòng người dở hay”[4, tr.304].
2.3.6. Vận dụng ca dao, tục ngữ để minh họa cho
phạm trù khả năng và hiện thực
Khả năng hiện thực cặp phạm trù tồn tại
trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chúng không
tách rời nhau và có sự chuyển hóa lẫn nhau trong quá
trình phát triển của sự vật, chẳng hạn: “Cau già khéo
bổ thì non/Nạ dòng trang điểm lại giòn hơn xưa”
[5, tr.60] - Cau già thì dao sắc để bổ, gái nạ dòng
(đã đẻ), con chồng khi trang điểm lên vẫn trẻ
trung xinh đẹp như xưa; câu tục ngữ còn có ý nghĩa là
sự khôn khéo, thay đổi tình thế, biết lựa thời
ứng phó cho phù hợp hay câu: “Yêu nhau, cau sáu bổ
ba/Ghét nhau, cau sáu bổ ra làm mười”[13, tr.241] - ý
nói khi yêu thương, quý mến nhau thì dành cho nhau
những thứ ngon ngọt, đầy đặn “cau sáu bổ ba”; còn
khi đã ghét bỏ nhau thì xử với nhau nhạt nhẽo,
không tử tế sẵn sàng bổ quả cau kia ra làm nhiều
phần, quả cau trở thành cái cớ để người ta trút giận
“cau sáu bổ ra làm mười”.
Mối liên h giữa khả ng với hiện thực giống
như mối liên hệ giữa cái đang tồn tại, đang có với cái
còn ơng lai, m cho i hiện tại đó sẽ biến đổi
hoặc mất đi. Tuy nhn, con người để tồn tại và phát
triển thì trong cuộc sống trước tiên phải dựa o
hiện thực tn trọng hiện thực, như: “Quay thì
giữ mối /Dù năm bảy mối, ng chmối anh”[13,
tr.238]. n cạnh đó, cũng cần đánh giá đúng thực
(Xem tiếp trang 111)
95
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN