
Khế ước xã hội của Thomas Hobbes
4
Thuyết nhân bản của Thomas Hobbes
Thuyết nhân bản – con người vừa là vật thể giữa các vật thể tự nhiên, vừa là vật
thể chính trị, đạo đức
Các nguyên tắc của thuyết cơ giới được Hobbes vận dụng vào việc giải thích cơ
thể con người và toàn bộ hoạt động sinh tồn của con người, xem xét con người với
tính cách là vật thể giữa những vật thể tự nhiên. Ở phương diện này, Hobbes đến
gần với Descartes. Công thức “con người – cỗ máy” trở nên phổ biến trong triết
học thế kỷ XVII – XVIII, gắn với tên tuổi của Descartes, Hobbes, La Mettrie và
nhiều nhà duy vật khác, tạo thành nét đặc trưng đầu tiên của nó. Trong “Học
thuyết về con người” (De homine) Hobbes phân tích cơ chế hoạt động của cơ thể
người “phù hợp với các quy luật vận động của vật thể”, khả năng nhận thức, làm
sáng tỏ các đặc điểm tâm lý và các thiết xã hội, các hình thức tín ngưỡng trong đời
sống con người.Về cơ bản cách tiếp cận máy móc (theo nghĩa trực tiếp lẫn nghĩa

rộng của từ này) vẫn tiếp tục được thể hiện ở phần này của “Về những nguyên lý
triết học”. Chẳng hạn, theo Hobbes, các cảm giác xuất hiện nhờ sự tương tác của
vận động bên ngoài, xuất phát từ các vật thể, và vận động bên trong của các cơ
quan cảm giác, tiếp nhận vận động đầu tiên. Các hình ảnh đại lượng, vận động và
đứng im, phù hợp các đối tượng tác động. Tất cả các hình ảnh – ngẫu tính còn lại
như màu sắc, âm thanh, mùi... đều chỉ là những ngẫu tượng, đánh lừa cảm giác.
Trong phần I của Leviathan (Học thuyết về con người), Hobbes viết:"Nguyên
nhân của cảm giác là vật thể bên ngoài, hay khách thể tác động đến cơ quan phù
hợp với từng cảm giác một cách trực tiếp, như điều thường xảy ra với vị giác và
xúc giác, hoặc gián tiếp, như với thị giác, thính giác và khứu giác. Áp lực này, cái
áp lực tiếp diễn từ bên trong nhờ hệ thần kinh, các dây thần kinh và các màng khác
của cơ thể đến não và tim, gây ra tại đây sự kháng cự, hay áp lực ngược trở lại,
hay nỗ lực giải phóng của quả tim. Do chỗ nỗ lực này hướng vào bên trong, nên
chúng ta tưởng rằng nó là cái từ bên ngoài. Và cái cảm nhận này (seeming), hay
ngẫu tượng này (fancy, appearance)) được gọi là cảm giác. Với mắt đó là cảm giác
sáng, hay màu sắc nhất định với tai - cảm giác âm thanh, với mũi – cảm giác mùi,
với lưỡi – cảm giác vị, với phần còn lại của cơ thể – cảm giác nóng, lạnh, cứng,
mềm. Tất cả cái gọi là chất cảm giác ấy chỉ là những vận động phong phú của vật
chất đối tượng gây ra chúng những vận động mà nhờ đó khách thể bằng nhiều
cách khác nhau hướng đến các cơ quan (cảm giác)” (Sđd, tr. 10 – 11). Để làm sáng
tỏ thêm quan điểm về các hình ảnh – ngẫu tính như sự “đánh lừa cảm giác”,
Hobbes dẫn ra loạt khái niệm tâm lý – biểu tượng, tưởng tượng, ký ức, giấc mơ –

đặt các khái niệm đó trong mối liên hệ và chi phối lẫn nhau. Theo Hobbes, một khi
vật thể đang ở trong trạng thái vận động, nó sẽ vận động vĩnh cửu, và dù bị chặn
lại, nó vẫn không dừng lại ngay lập tức, mà dần dần, trong một khoảng thời gian
trung gian nhất định. Chẳng hạn, khi nhìn xuống nước, chúng ta nhận thấy sóng
vẫn còn trong một thời gian, dù gió đã ngừng thổi, tương tự như vậy đối với các
vận động diễn ra bên trong cơ thể người, khi nhìn thấy hiện thực trong lúc đang
ngủ. Điều này có thể hiểu được, bởi lẽ khi đối tượng đã rời xa, hay mắt đã nhắm
lại, chúng ta vẫn còn lưu giữ hình ảnh của vật đã nhìn thấy, cho dù mờ nhạt hơn so
với lúc nhìn thấy vật thực. Hiện tượng này được đặc trưng bằng khái niệm “sự
tưởng tượng” (fancy), hiểu như ngẫu tượng (appearance), vận dụng vào cảm giác.
Tưởng tượng, do đó, chỉ là cảm giác đã suy yếu đi, cố hữu ở cả người và vật trong
hiện thực lẫn trong giấc mơ. Để có được thứ cảm giác cấp hai đó ở mỗi chủ thể
cần hiện diện năng lực biểu tượng và ký ức. “Ký ức phong phú “ được Hobbes gọi
là kinh nghiệm. Nhưng cách lý giải không nhất quán và đầy mâu thuẫn như trên về
cảm giác và các biểu hiện tâm lý, ý thức khác lại điểm yếu của Hobbes. Ông cũng
không thành công khi vận dụng thuyết cơ giới vào việc phân tích đời sống tâm lý
của con người. Cách giải thích của Hobbes về nguồn gốc con người vừa đơn giản,
vừa mang tính phi lịch sử. “Sự xuất hiện của con người gần giống như sự xuất
hiện của cỏ cây. Vật chất của giới thực vật là đất. Đất được kích thích bởi những
tia nắng mặt trời, sau đó nhờ vận động tự nhiên của hạt giống mà một loài thực vật
tương ứng hình thành. Cũng như vậy đối với sự xuất hiện của con người, vật chất

nuôi bào thai là máu của người mẹ, dòng máu đó truyền dịch thụ tinh, tạo nên cơ
thể đứa trẻ…” (Sđd, tr. 225).
Nhưng con người không chỉ là vật thể giữa những vật thể tự nhiên, vật lý, mà còn
là “vật thể chính trị”, và với tính cách đó nó cần được xem xét như chủ thể đạo
đức và công dân (Sđd, tr. 220). Cần xây dựng một khoa học tìm hiểu bản chất con
người ở phương diện thứ hai – phương diện chính trị, đạo đức.
Hobbes xem xét con người từ quan điểm hoạt động, nghĩa là nói đến con người là
nói đến thực thể hoạt động, chính sự hoạt động sáng tạo, có ý thức làm nên sự
khác biệt căn bản giữa người và vật. Con người cũng khác với Thượng đế, bởi lẽ
con người không ngừng sáng tạo, từ thế hệ này sang thế hệ khác, chứ không sáng
tạo một lần. Trong hoạt động của mình con người từ chỗ “mô phỏng” tự nhiên đi
đến sáng tạo ra cái mà trong tự nhiên chỉ là những chất liệu hoang sơ. Trong tác
phẩm “Bản chất con người”, được đưa vào “Về những nguyên lý triết học”,
Hobbes viết về bản tính con người như sau:"Bản tính con người là tổng số khả
năng tự nhiên và sức mạnh của nó, như khả năng ăn uống, vận động, tư duy,
những khả năng như cảm tính, lý tính v.v..Chúng ta cùng nhất trí gọi những khả
năng ấy là những khả năng tự nhiên, và chúng thể hiện trong việc xác định con
người như một sinh vật biết tư duy” (Sđd, tr. 510).
Bản tính của con người, nhà nước (vật thể nhân tạo) và các thiết chế chính trị – xã
hội khác do con người tạo ra, là đối tượng của triết học đạo đức, hay triết học công

dân. Trong “Về bản tính con người” Hobbes nêu ra và phân tích các tố chất người,
cả những tố chất tốt lẫn những khuyết tật của lý trí. Ông cho rằng những tố chất
người, do chỗ hình thành trong mối quan hệ giữa người với người và giữa con
người với tự nhiên, nên biến đổi theo điều kiện tự nhiên và môi trường sinh hoạt
cộng đồng. Thói hám danh được hiểu là bản tính cố hữu ở mỗi người, thể hiện một
cách rõ ràng qua khát vọng hướng tới vinh quang, “cảm giác tự thỏa mãn bên
trong”, có nguồn gốc ở sự tưởng tượng của mỗi người về sức mạnh và ưu thế của
mình trước những người khác. Tiếp đó Hobbes nêu ra loạt những tố chất tâm lý –
tình cảm khác nhau như can đảm, tức giận, sự trả thù, sự sám hối, hy vọng, sự tin
cậy - không tin cậy, lòng trắc ẩn, sự phẫn uất, tiếng cười – sự đăm chiêu, buồn
chán… Hobbes quy sự đần độn, sự nhẹ dạ, sự ngu xuẩn, chứng điên rồ, thói ngông
cuồng…về nhóm những khuyết tật của lý trí. Sự liệt kê như thế không phải là vô
ích, bởi thông qua đó Hobbes phân tích “trạng thái tự nhiên” của con người. Theo
Hobbes, để xác lập một thiết chế xã hội phù hợp, điều cần thiết trước tiên là xác
lập khoa học về con người, chỉ ra bản tính của nó, khả năng hướng bản tính đó đến
chỗ phục vụ lợi ích chung, làm giảm bớt nỗi lo sinh tồn của mỗi người. Nếu Bacon
tuyên bố “tri thức là quyền lực”, thì Hobbes chủ trương “quyền lực phải dựa trên
sự hiểu biết bản tính con người”, nghĩa là cũng trở thành tri thức, thành khoa học
quyền lực.
Cũng như Machiavelli, Hobbes nhấn mạnh bản tính vị kỷ của con người, xem nó
như nguyên nhân của tình trạng xung đột triền miên trong lịch sử loài người. Cơ

