KHO TÀNG LỤC BÁT DÂN GIAN
Tính thống nhất và sắc thái riêng của thể thơ lục bát
trong ca dao ba miền Bắc, Trung, Nam
Trong bài tựa sách Quốc âm từ điệu, Phạm Đình Toái đã nhận xét: ''Thể thơ
lục bát đâu đâu cũng quen thuộc không hẹn mà giống nhau, tao nhân mặc
khách mmiệng nên thơ, gái dệt, trai cày nói lời hợp điệu, cho đến câu hát của
xóm làng, lời đùa của trẻ con cũng không gì là không nhịp nhàng, hợp vần''.
I. Tính thống nhất của thể lục bát trong ca dao ba miền Bắc, Trung, Nam
1. Ca dao Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ đều sử dụng thể lục bát ở mức độ rất cao
Trong bài tựa sách Quốc âm từ điệu, Phạm Đình Toái đã nhận xét: "Thể thơ lục
bát đâu đâu cũng quen thuộc không hẹn mà giống nhau, tao nhân mặc khách mở
miệng nên thơ, gái dệt, trai cày nói lời hợp điệu, cho đến câu hát của xóm làng,
lời đùa của trẻ con cũng không gì là không nhịp nhàng, hợp vần".(1)
Trong sách Kho tàng ca dao người Việt, có 10.305 li ca dao trên tổng số 11.825
lời được sáng tác theo thể lục bát, chiếm 87%(2).
Trong sách Ca dao Việt Nam,973 li trên tổng số 1015 lời được sáng tác theo
thể lục bát, chiếm 95%.(3)
Trong sách Ca dao Việt Nam trước Cách mạng, có 1125 lời được sáng tác theo
thể lục bát, chiếm 94%(4).
2. Thể lục bát trong ca dao ba miền Bắc, Trung, Nam đều ngắn gọn
Đây là kết quả thống kê độ dài các tác phẩm ca dao trong hai cuốn sách biên soạn
ca dao:
Chúng ta thấy trong số 2310 lời ca dao (được ghi trong hai cuốn sách), số lời có độ
dài từ 2 đến 4 dòng chiếm 81%.
Do yêu cầu phản ánh, thể hiện tình cảm cần lời ít mà ý sâu, càng ngắn gọn càng d
nhớ, dễ lưu truyền, phổ biến nên tính kiệm lời,đọng, ngắn gọn là đặc điểm nổi
bật trong nghệ thuật biểu hiện của ca dao.
Khác với truyện cổ, phương thức biểu hiện tình cảm của ca dao ngắn gọn, cô đọng
nhưng giàu sức chứa chở cảm xúc. Ví dụ: khi đề cập đến thân phận, cuộc đời,
tương lai.
Các cô gái miền Bắc nói về tâm trạng mình:
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?
Cùng tâm trạng, tình cảm đó, cô gái Trung B thhiện:
Thân em như chiếc thuyền tình
Mười hai bến nước linh đinh
Biết đâu trong đục nương mình gửi thân.
Trên miền đất Nam B, dù thiên nhiên có hào phóng ban tặng nhiều sản vật phong
phú thì người con gái vẫn có nỗi lo:
Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu?
Nhng thân phận mong manh, lênh đênh như "tấm lụa đào", "chiếc thuyền tình",
"trái bần trôi" đã mangm hồn, tình cảm, dấu ấn thiên nhiên miền đất sinh sống
của những người con gái không có quyền định đoạt số phận, hạnh phúc, cuộc đời.
Nỗi đau khổ, cay đắng cht chứa trong tiếng thở than nghẹn ngào đã m rung lên
niềm thương cảm của trái tim bao người nghe. Nỗi khổ đau đó cũng được đại thi
hào Nguyễn Du thể hiện trong tác phẩm Truyn Kiều với độ dài 3254 dòng lục bát
đầy những niềm cảm thông thương xót:
Đau đớn thay phận đàn
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
Do đặc điểm ngắn gọn nên dung lượng phản ánh của mỗi lời ca dao có phần hạn
chế. Bởi hiện thực cuộc sống vô cùng phong phú, đa dạng, phức tạp. Tâm hồn,
cảm xúc của con người rất tinh tế, nhiều cung bậc. Mỗi lời ca dao chỉ phản ánh
được một khía cạnh của cuộc sống nên tđó có hiện tượng trái nghĩa, hay có
nhiều cách biểu hiện khác nhau.
Hãy nghe một cô gái miền Bắc nói về bổn phận:
Có chồng thì phải theo chồng
Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng đi.
Tương tự, cô gái miền Nam cũng nói:
Có chồng phải luỵ cùng chồng
Nắng mưa phải chịu, mặn nồng phải theo.
Thực tế lại có lời ca dao biểu hiện thái độ:
Có chồng thì mặc có chồng
ở đây vắng vẻ tơ hồng cứ xe.
Lẳng lơ thì cũng chẳng mòn
Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ.
Bên cạnh lời ca dao ca ngợi người phụ nữ chung thuỷ:
Lên non thiếp cũng lên theo
Tay vịn chân trèo hái trái nuôi nhau
thì lại có những lời có nội dung trái ngược:
Chính chuyên chết cũng ra ma
Lẳng lơ chết cũng khiêng ra ngoài đồng.
Thái độ tương phản đó là sự phản kháng quyết liệt chống đối lại lễ giáo nghiệt
ngã, những quan niệm cực đoan.
Phải tập hợp được một số lượng đủ đến mức cần thiết những lời ca dao về người
phụ nữ thì mới nhận thức được tương đối đầy đủ quan niệm dân gian về họ.
Như vậy, qua nhiều lời ca dao, tính thống nhất nổi bật đó là sự ngắn gọn, kiệm lời,
cô đọng, hàm súc. Tính chất ngắn gọn là một đặc điểm chung, thống nhất của ca
dao ba miền, có liên quan chặt chẽ với hoàn cảnh, điều kiện của việc sáng tác và
sinh hoạt văn mghệ.
3. Thể lục bát trong ca dao ba miền Bắc, Trung, Nam đều có hình thức biến thể
Có nhiều cách hiểu rộng, hẹp khác nhau về lục bát biến thể, chúng tôi đồng tình
với cách hiểu của Mai Ngọc Chừ "Lục bát biến thể ở đây được quan niệm là
những câu ca dao có hình thức lục bát nhưng không khít khịt "trên sáu dưới tám"
mà có sự co giãn nhất định về số lượng âm tiết(tiếng)".