ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ----------------------
TÒNG THỊ KIM
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA SỬ DỤNG CÂY THUỐC
CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ PHÚ XUYÊN,
HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGHUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : NLKH
Khoa : Lâm Nghiệp
Khóa : 2016 - 2020
Thái Nguyên, năm 2020
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ----------------------
TÒNG THỊ KIM
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA SỬ DỤNG CÂY THUỐC
CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ PHÚ XUYÊN,
HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : NLKH
Lớp : K48 - NLKH
Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2016 - 2020
Giảng viên hướng dẫn : TS. Đặng Kim Tuyến
Thái Nguyên, năm 2020
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân
tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn
toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu trách
nhiệm hoàn toàn.
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 06 năm 2020
XÁC NHẬN CỦA GVHD NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Đặng Kim Tuyến Nguyễn Thị Thu Hiền Tòng Thị Kim
Xác nhận của giáo viên chấm phản biện
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót sau khi
hội đồng chấm yêu cầu.
(Ký, ghi rõ họ tên)
ii
LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Nhà trường, Khoa Lâm Nghiệp, Trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên, sau 5 tháng thực tập em đã hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp “Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc của đồng
bào dân tộc thiểu số tại xã Phú Xuyên, Huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên”.
Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, ngoài sự nỗ lực học hỏi của bản
thân còn có sự hướng dẫn tận tình của thầy cô, bạn bè, cô chú, anh chị tại địa
bàn xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Xin cảm ơn hai cô giáo – TS. Đặng Kim Tuyến, TS. Nguyễn Thị Thu
Hiền, người đã hướng dẫn cho em trong suốt thời gian thực tập đã chỉ dẫn,
định hướng đi cho em để em hoàn thành tốt nhiệm vụ. Xin cảm ơn sự giúp đỡ
của cán bộ Ủy ban Nhân dân xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
và cán bộ Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Đại Từ, cùng sự chỉ bảo tận tình
của các thầy lang, bà mế thuộc xã Phú Xuyên.
Đồng thời xin cảm ơn thầy cô giáo Khoa Lâm nghiệp, các bộ phận liên
quan thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và người thân trong gia
đình cùng bạn bè thân thiết đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp.
Mặc dù đã nỗ lực cố gắng, tuy nhiên do hạn chế về kinh nghiệm cũng
như về thời gian và trình độ nghiên cứu nên khóa luận tốt nghiệp không thể
tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý, chỉ bảo của
thầy cô cũng như các bạn đọc khác để khóa luận được hoàn thiện hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 06 năm 2020
Sinh viên
Tòng Thị Kim
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Mẫu bảng điều tra nguồn cây thuốc được cộng đồng một số dân tộc
thiểu số ở khu vực nghiên cứu sử dụng trong phòng và điều trị bệnh .. Error!
Bookmark not defined.
Bảng 4.1. Số loài cây thuốc đã phát hiện ở khu vực nghiên cứu .................... 27
Bảng 4.2. Số lượng họ, chi, loài thuộc hai lớp trong ngành Ngọc lan ............ 28
Bảng 4.3. Sự phân bố số lượng loài cây thuốc trong các họ ........................... 30
Bảng 4.4. Các họ đa dạng nhất ở khu vực nghiên cứu ................................... 31
Bảng 4.5. So sánh các họ có nhiều loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu (1)
với số loài của từng họ trong hệ thực vật Việt Nam (2) ........................ 32
Bảng 4.6. Đa dạng về dạng sống của nguồn cây thuốc ở khu vực nghiên cứu..... 33
Bảng 4.7. Sự phân bố nguồn cây thuốc theo môi trường sống ở khu vực
nghiên cứu .............................................................................................. 35
Bảng 4.8. Danh lục cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ghi nhận ..................... 37
Bảng 4.9. Đa dạng của các bộ phận cây được sử dụng làm thuốc .................. 40
Bảng 4.10. Tỷ lệ số loài có công dụng chữa các nhóm bệnh cụ thể ............... 42
Bảng 4.11. Danh sách cây thuốc được cả 2 dân tộc Nùng, Dao tại xã Phú
Xuyên sử dụng ....................................................................................... 44
Bảng 4.12. Số lượng thầy thuốc được phỏng vấn theo từng dân tộc ở KVNC ..... 46
Bảng 4.13. Tỷ lệ về độ tuổi và giới tính của các thầy thuốc ở KVNC ........... 46
Bảng 4.14. Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết từ cây Mã tiền lông và cây
Vẩy ốc .................................................................................................... 48
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Các dụng cụ sử dụng cho nghiên cứu trong đề tài .......................... 23
Hình 4.1: Hình ảnh một số loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu .................. 29
Hình 4.2: Tỷ lệ nhóm bệnh chữa trị từ nguồn cây thuốc theo kinh nghiệm sử
dụng trong cộng đồng dân tộc……………………………………………...46
Hình 4.3: Hoạt tính ức chế E. coli và S. aureus của cây Mã tiền lông và cây
Vẩy ốc…………………………………………………………………….....49
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt/ký hiệu
Cụm từ đầy đủ
(1)
Dân tộc Nùng
(2)
Dân tộc Dao
Cc
Cả cây
Ha,Ho
Quả, hoa
HTKK
Hoạt tính kháng khuẩn
KBT
Khu bảo tồn
KVNC
Khu vực nghiên cứu
KH&CN
Khoa học & công nghệ
L
Lá
Lp
Dây leo
Me
Cây gỗ trung bình
Mi
Cây gỗ nhỏ
Na
Cây bụi
NCTN & MT
Nghiên cứu tài nguyên & môi trường
NĐ - CP
Nghị định Chính phủ
R
Rễ
R
Sống ở rừng
ST & TNSV
Sinh thái & tài nguyên sinh vật
Th
Thân thảo/thân
UBND
Ủy ban nhân dân
V
Vỏ
Vs
Sống ven sông ven suối
Vu
Sống ở vườn
vi
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC BẢNG .............................................................................. iii
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................ iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................... v
PHẦN 1. MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 2
PHẦN 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ...................................... 3
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu ...................................................... 3
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước ..................................... 3
2.2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới....................... 3
2.2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở trong nước ..................... 7
2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu ................................................................ 17
2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu ................................................ 17
2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu ..................................... 19
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP . 20
NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 20
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 20
3.2. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 20
3.3. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 21
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................... 27
vii
4.1. Đa dạng các bậc taxon nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong
cộng đồng các dân tộc thiểu số xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên ............................................................................................................ 27
4.1.1. Đa dạng các bậc taxon .......................................................................... 27
4.1.2. Đa dạng về dạng sống của thực vật làm thuốc ...................................... 33
4.1.3. Đa dạng về môi trường sống của thực vật làm thuốc ........................... 35
4.2 Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam đã ghi nhận được tại
xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh thái Nguyên ............................................. 37
4.3. Vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc
thiểu số ở xã Phú Xuyên, Huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên ........................ 39
4.3.1. Kinh nghiệm sử dụng bộ phận làm thuốc của cộng đồng dân tộc thiểu
sốở xã Phú Xuyên ........................................................................................... 39
4.3.2. Kinh nghiệm về nhóm bệnh chữa trị của cộng đồng dân tộc thiểu số ở
xã Phú Xuyên .................................................................................................. 42
4.3.3. Ảnh hưởng của sự giao thoa giữa các dân tộc đến vốn tri thức bản địa
trong việc sử dụng cây thuốc ở xã Phú Xuyên ............................................... 44
4.3.4 Vấn đề truyền thụ kiến thức về cây thuốc trong cộng đồng các dân tộc ở
xã Phú Xuyên .................................................................................................. 45
4.4. Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc được sử dụng
trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu .......................... 47
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................... 50
5.1. Kết luận .................................................................................................... 50
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 53
PHỤ LỤC
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia có 3/4 diện tích đồi núi, là nơi có nguồn tài
nguyên cây thuốc đa dạng và là nơi cư trú của 54 dân tộc mà phần lớn là dân
tộc thiểu số với khoảng 24 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số quốc gia (Trần
Thúy và cs., 2005) [21]. Chính sự đa dạng về dân tộc người cùng với sự khác
biệt về điều kiện, thổ nhưỡng, khí hậu, phong tục tập quán, văn hóa từng cộng
đồng dân tộc thiểu số đã tạo nên sự đa dạng và phong phú trong vốn tri thức
dân gian về kinh nghiệm sử dụng cây cỏ xung quanh mình làm cây thuốc
chữa bệnh.
Đại Từ là huyện có tài nguyên rừng tương đối phong phú và đa dạng so
với các huyện khác của tỉnh Thái Nguyên. Huyện Đại Từ có diện tích rừng là
24.469 ha chiếm khoảng 23.94% tổng diện tích rừng toàn tỉnh, chủ yếu là
rừng hệ thứ sinh. Hệ sinh thái ở Đại Từ còn tương đối tốt, nhiều động thực vật
quý hiếm còn tồn tại đặc biệt là ở vùng cao Quân Chu , Phúc Lương, Phục
Linh, Quân Chu, Tân Linh, Tân Thái và Phú Xuyên. Huyện Đại Từ có 30 đơn
vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 2 thị trấn và 28 xã. Người dân ở đây
chủ yếu là các đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán
Dìu ,Thái, Hoa . Trong đó đời sống người Sán Dìu và người Dao có quan hệ
mất thiết với tài nguyên thiên nhiên. Mỗi dân tộc lại mang bản sắc và kinh
nghiệm chữa bệnh bằng thực vật làm thuốc rất đa dạng. Trong đó, cộng đồng
dân tộc thiểu số ở xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cũng có
nhiều kinh nghiệm độc đáo về việc chữa bệnh bằng cây thuốc. Tuy nhiên,
hiện nay tình trạng khai thác tài nguyên rừng (Cây thuốc, cây cảnh, rau
rừng,…) của người dân địa phương bán cho các khách du lịch, tham quan dẫn
đến nguồn tài nguyên cây thuốc ngày càng bị suy giảm. Mặt khác những bài
2
thuốc được cộng đồng dân tộc thiểu số sử dụng từ lâu đời trong việc phòng và
trị một số bệnh nhưng hoạt tính sinh học và cơ sở khoa học của các bài thuốc
chưa được nghiên cứu, chứng minh bằng con đường khoa học. Vì vậy, để
cung cấp các cơ sở khoa học góp phần bảo vệ nguồn gen cây thuốc, bảo tồn
và phát triển các bài thuốc của một số cộng đồng dân tộc thiểu số tại xã Phú
Xuyên, huyện Đại Từ, tôi đề xuất ý tưởng đề tài: “Nghiên cứu tri thức bản
địa sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc tại xã Phú Xuyên, huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Đánh giá được tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh
nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao,Nùng tại xã Phú
Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có giá
trị cao được của cộng đồng dân tộc Dao,Nùng tại xã Phú Xuyên, huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên sử dụng trong phòng và trị bệnh.
- Xác định được những cây thuốc thuộc diện quý hiếm ở Việt Nam,
hiện có ở khu vực nghiên cứu.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Xác định được tri thức bản địa sử dụng các loài cây thuốc của cộng
đồng dân tộc tại xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Xác định được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có giá
trị cao tại khu vực nghiên cứu.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả thu được sẽ là cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất công tác bảo
tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc của của cộng đồng dân tộc tại xã Phú
Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Phòng và chữa bệnh bằng các loài thảo dược đã được con người sử
dụng từ hàng ngàn năm nay. Nó vẫn đang tồn tại và ngày càng phát triển
mạnh mẽ. Hàng năm, con người đã tìm ra được những hoạt chất quý trong các
loài thảo dược có thể phòng và chữa trị được những căn bệnh từ đơn giản
hàng ngày như cảm cúm, ho sốt đến những căn bệnh nan y như ung thư, bệnh
tim, suy thận,... hay những căn bệnh nhiệt đới nguy hiểm như dịch cúm A
H5N1, H1N1,... Các cây thuốc và bài thuốc có được nhờ kinh nghiệm tích lũy
qua nhiều thế hệ giờ đây đang dần mất đi theo thời gian. Do đó việc gìn giữ
vốn kiến thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc và bài thuốc từ thảo dược
là việc hết sức cần thiết. Theo tổ chức y tế thế giới WHO, khoảng 80% dân số
hiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm
sóc sức khỏe cộng đồng (Nguyễn Hoàng Sơn, 2014) [51]. Trong tuyên ngôn
Alma Ata năm 1978 và “Hướng dẫn đánh giá y học cổ truyền” năm 1991,
WHO luôn khuyến nghị dùng các thuốc cổ truyền vào chăm sóc sức khỏe ban
đầu (Nguyễn Hoàng Sơn, 2014) [51]. Vậy, nghiên cứu về các loài cây thuốc
là hết sức cần thiết cho việc bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc và bài
thuốc cho thế hệ hôm nay và mai sau.
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
2.2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới
Tổ tiên loài người từ khi xuất hiện đã gắn bó với thiên nhiên, trải qua
quá trình đấu tranh với thiên nhiên và bệnh tật để sinh tồn. Trong quá trình
đó, tổ tiên chúng ta ngay từ khi còn là các tộc người đã sớm phát hiện ra
những cây cỏ trong tự nhiên có thể sử dụng làm thuốc, đồng thời trong cuộc
4
sống lao động, đấu tranh với bệnh tật đã sáng tạo ra những bài thuốc và
phương pháp chữa bệnh.
Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về sử dụng cây thuốc cho
mục đích chữa bệnh của người dân bản địa ở các khu vực, các quốc gia được
các nhà khoa học thực hiện trên khắp các châu lục trên thế giới:
Ở Châu Á:
Châu Á là châu lục có nhiều dân tộc bản địa sinh sống, với vốn tri
thức bản địa về việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc phong phú và đa
dạng, đã có những nghiên cứu cụ thể ở các cộng đồng người, các khu vực
khác nhau như:
Arshad Abbasi và cs. (2012) [37] khi thẩm định về thực vật học và các
giá trị văn hóa của các loại rau ăn được hoang dã quan trọng trong y học
của Lesser dãy Hymalaya đã ghi nhận 45 loại rau ăn được hoang dã thuộc
38 chi và 24 họ đã được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau
và tiêu thụ.
Auemporn Junsongduang và cs. (2013) [38] nghiên cứu về cây thuốc từ
nương rẫy và rừng thiêng của dân tộc Karen và Lawa ở Thái Lan đã chỉ ra
365 loài thực vật thuộc 244 chi và 82 họ được sử dụng làm thuốc, trong đó
các cây thuộc họ Euphorbiaceae và Lauraceae được người dân sử dụng
nhiều nhất.
Homervergel G. Ong và Young - Dong Kim (2014) [49] nghiên cứu về
thực vật học định lượng của các cây thuốc được sử dụng bởi các nhóm bản
địa Ati Negrito ở đảo Guimaras, Philippin đã tìm thấy 142 loài cây dược liệu
thuộc 55 họ được sử dụng trong 16 loại bệnh.
Dol Luitel và cs. (2014) [44] khi nghiên cứu cây thuốc được sử dụng
bởi cộng đồng người Tamang ở quận Makawanpur của Trung tâm Nepal đã
5
tìm thấy 161 loài thực vật thuộc 144 chi và 86 họ đã được người dân sử dụng
để điều trị các loại bệnh khác nhau.
Ở Châu Âu: Y học dân gian châu Âu có một lịch sử lâu dài, những tri
thức dân gian bản địa được truyền lại cho các thế hệ sau bằng việc ghi chép
lại và thông qua truyền miệng qua nhiều thế kỉ. Những năm gần đây, đã có
nhiều công trình nghiên cứu khoa học về việc sử dụng các loài thực vật để
điều trị các loại bệnh của người dân bản địa được thực hiện:
Behxhet Mustafa và cs. (2012) [40] nghiên cứu về các loài thực vật
được sử dụng làm thuốc của dãy núi Alps Albania ở Kosovo đã ghi nhận 98
loài thực vật thuộc 39 họ được người dân sử dụng để điều trị các loại bệnh
khác nhau, trong đó các cây được sử dụng nhiều nhất chủ yếu thuộc các họ
Rosaceae, Asteraceae và Lamiaceae.
Gorka Menedez-Baceta và cs. (2014) [48] nghiên cứu về cây dược liệu
truyền thống được sử dụng ở phía Tây Bắc của xứ Basque, bán đảo Iberia đã
chỉ ra 139 loài thực vật thuộc 58 họ được người dân sử dụng để điều trị bệnh,
trong đó các cây được sử sụng nhiều nhất thuộc họ Asteraceae.
Ở Châu Mĩ:
Việc nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc của người dân bản địa cũng
được thực hiện:
Cecilia Almeida và cs. (2006) [42] nghiên cứu cây thuốc phổ biến được
sử dụng trong các khu vực Xingo – một khu vực khô hạn ở Đông Bắc Brazil
đã tìm thấy 187 loài thực vật thuộc 128 chi và 64 họ được người dân sử dụng
để điều trị các bệnh: cảm lạnh thông thường, viêm phế quản, bệnh tim mạch,
bệnh thận, viêm và an thần.
Gabriele Volpato và cs. (2009) [46] nghiên cứu sử dụng cây thuốc của
người nhập cư Haiti và con cháu của họ ở tỉnh Camaguey, Cuba đã chỉ ra 123
6
loài thực vật thuộc 112 chi và 63 họ được người nhập cư Haiti sử dụng để
điều trị các bệnh khác nhau.
Gaia Luziatelli và cs. (2010) [47] nghiên cứu cây thuốc của cộng đồng
Ashaninka (một nghiên cứu từ các cộng đồng bản địa của Bajo Quimiriki,
Junin, Peru đã tìm thấy 402 loài thực vật được cộng đồng sử dụng để điều trị
các loại bệnh, trong đó các cây được sử dụng nhiều nhất chủ yếu thuộc các
họ: Asteraceae, Araceae, Rubiaceae, Euphorbiaceae, Solanaceae và
Piperaceae.
Theo nghiên cứu “Thực vật dân tộc của người dân Rayones, Nuevo
León, Mexico” năm 2014, đã ghi nhận 252 loài thực vật thuộc 228 chi và 91
họ được người dân Rayones sử dụng để điều trị các bệnh, trong đó các họ
được sử dụng chủ yếu là: Asteraceae và Fabaceae (Eduardo Estrada -
Castillón và cs., 2014) [45].
Ở Châu Phi:
Người dân Châu Phi đã sử dụng cây thuốc bản địa hàng nghìn năm nay
để bảo vệ sức khỏe của họ, những nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng
cây thuốc của những người dân bản địa ở châu Phi rất đa dạng và phong phú
(Cây thuốc Châu Phi, 2013) [36].
Theo nghiên cứu của David J Simbo “Một cuộc khảo sát về các loài
thực vật được sử dụng làm thuốc trong Babungo, khu vực Tây Bắc,
Cameroon”, đã xác định và ghi nhận 107 loài thực vật thuộc 98 chi và 54 họ
được người dân địa phương sử dụng để điều trị các bệnh, trong đó họ được sử
dụng chủ yếu là họ Asteraceae (David J Simbo, 2010) [43].
“Nghiên cứu về thực vật học và kiến thức bản địa về sử dụng cây thuốc
của các thầy lang trong khu vực Oshikoto, Namibia”, đã tìm thấy 61 loài cây
thuốc thuộc 25 họ được các thầy lang trong khu vực sử dụng để điều trị các
7
bệnh khác nhau như: Tâm thần, nhiễm trùng da, vết thương ngoài da, rắn cắn
và các vấn đề tim mạch (Ahmad Cheikhyoussef và cs., 2011) [36].
Nghiên cứu “cây thuốc được sử dụng bởi phụ nữ từ rừng ven biển
Agnalazaha Đông Nam Madagascar”, đã thống kê được 152 loài cây thuốc
được sử dụng bởi người dân địa phương để điều trị các bệnh, trong đó ghi
nhận 8 loài được sử dụng bởi những người phụ nữ để điều trị các biến chứng
trong khi sinh, các bệnh nhiệt đới như: sốt rét, giun chỉ và các bệnh liên quan
đến tình dục như bệnh lậu và giang mai.
Nghiên cứu về “sử dụng và quản lý cây thuốc truyền thống của cộng
đồng dân tộc Maale và Ari, ở miền nam Ethiopia”, đã ghi nhận 128 loài cây
thuốc thuộc 111 chi và 49 họ được cộng đồng người Maale và Ari sử dụng để
điều trị các loại bệnh khác nhau (Berhane Kidane và cs., 2014) [41].
Kết quả nghiên cứu về cây thuốc được sử dụng trong y học cổ truyền
bởi những người Oromo, quận Ghimbi, Tây Nam Ethiopia đã thống kê được
49 loài cây thuốc thuộc 31 họ và 46 chi được người Oromo sử dụng để điều
trị các loại bệnh khác nhau (Balcha Abera, 2014) [39].
Như vậy, việc điều tra và thống kê các loài cây thuốc đã để lại
những công trình mang tính khoa học, tính dân tộc sâu sắc, cho thấy vốn
tri thức dân gian bản địa về sử dụng cây thuốc trên thế giới là vô cùng đa
dạng và phong phú.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở trong nước
Ở Việt Nam, tập quán sử dụng cây thuốc đã có từ rất lâu đời. Trải qua
hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã phải trải qua các
cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đấu tranh với thiên nhiên và bệnh tật.
Từ những buổi đầu sơ khai, từ khi con người còn sống theo lối nguyên thủy,
trong quá trình tìm tòi thức ăn, tổ tiên chúng ta đã phát hiện ra công dụng và
tác hại của nhiều loại cây. Suốt một quãng thời gian dài như vậy, tổ tiên
8
chúng ta đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm, biết lợi dụng tính chất của
các loài cây rừng để làm thức ăn và làm thuốc chữa bệnh (Trần Thúy và cs.,
2005) [21].
Thế kỷ thứ XI (TCN), Người dân Việt Nam ta có tục ăn trầu cho ấm
người, thơm miệng, uống nước chè xanh cho mát và nụ vối cho dễ tiêu,…
điều đó nói lên những hiểu biết về dinh dưỡng và sử dụng thuốc của dân tộc
(Lê Trần Đức, 1997) [9].
Từ xa xưa, thời Hùng Vương, tổ tiên ta đã biết nấu rượu, biết dùng
Thủy ngân để ướp xác và sử sách đã ghi chép về một lương y tên là Thôi Vỹ
đã biết chữa bệnh lao hạch ở thời An Dương Vương (257 – 207) (Trần Thúy
và cs., 2005) [21].
Thời nhà Lý (1010 – 1221) đã có tổ chức Ty Thái Y chăm lo và bảo vệ
sức khỏe cho nhà vua, có nhiều thầy thuốc chuyên lo việc chữa bệnh cho nhân
dân và phương pháp chữa bệnh bằng tâm lý liệu pháp phát triển. Trong sử
sách còn ghi lại năm 1136, vua Lý Thần Tông khi bị điên đã được lương y
Nguyễn Chí Thành người Gia Viễn – Ninh Bình dùng tâm lý liệu pháp và tắm
nước Bồ hòn chữa cho khỏi bệnh. Nhà Lý đặt quan hệ với Tống Huy Tông
(Trung Quốc) trao đổi thuốc Nam lấy thuốc Bắc (Trần Thúy và cs., 2005)
[21]. Ở thời này, làng Đại Yên là một làng thuốc nổi tiếng, chuyên trồng và
bán các loại cây thuốc Nam phục vụ công tác chữa bệnh (Viện dược liệu,
1993) [27].
Thời nhà Trần (1224 – 1399), y học cũng khá phát triển, đã có kế hoạch
tự túc thuốc Nam để kháng chiến. Tướng Phạm Ngũ Lão đã trồng cây thuốc ở
Vạn An và Dược Sơn (xã Hưng Đạo – Chí Linh – Hải Dương) để cung cấp
cho quân y (Lê Trần Đức, 1997) [9]. Nổi bật ở thời này là nhà sư Tuệ Tĩnh
(Nguyễn Bá Tĩnh) – được nhân dân tôn trọng, gọi là “Ông thánh thuốc Nam”.
Tuệ Tĩnh đã xây dựng 74 ngôi chùa chữa bệnh cho nhân dân không lấy tiền
9
và gây phong trào trồng thuốc ở gia đình. Ông là một đại sư nước Việt dùng
thuốc Nam giảm giá trị của thuốc Bắc, sắc thuốc chữa bệnh cho nhân dân với
phương châm: “thuốc Nam chữa bệnh người Nam” ông đã truyền bá y dược
cổ truyền cho nhân dân trong các tác phẩm (Lê Trần Đức, 1997) [9]. Thời kỳ
nhà Lê (1428 – 1876) đã có những chủ trương tiến bộ trong việc chăm sóc và
bảo vệ sức khỏe của nhân dân, tổ chức Thái Y Viện, có lương y chăm lo việc
chữa bệnh cho quân đội, hàng năm tổ chức các đợt phòng và chống dịch bệnh
cho nhân dân. Trong giai đoạn này có làng thuốc ở thôn Nghĩa Trai, huyện Văn
Lâm, hiện nay vẫn còn tồn tại và phát triển (Trần Thúy và cs., 2005) [21].
Thế kỷ XVIII, Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (1729 –
1791) đã thừa kế dược học của Tuệ Tĩnh chép vào tập “Lĩnh Nam bản thảo”
nội dung gồm 496 vị thuốc Nam của “Nam dược thần hiệu” và phát hiện thêm
hơn 300 vị nữa. Tác giả đã để lại bộ sách thuốc rất có giá trị là: “Tân Hoa Hải
Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh dương an toàn trạch” gọi tắt là “Lãn Ông Y
Nghiệp” hay “Lãn Ông Y Tập” gồm 66 quyển (Nguyễn Nhân Thống, 2008)
[19]. Suốt 30 năm của cuộc dời mình, tác giả đã xây dựng được nền móng cho
nền y học cổ truyền Việt Nam toàn diện cả về lý luận, phương pháp điều trị
và dược liệu.
Ngoài các bộ sách nêu trên, còn kể đến tập “Vạn phương thập nghiệm”
của Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh gồm 8 tập, xuất bản 1763. Tập “Nam bang
thảo mộc” của Trần Nguyệt Phương mô tả 100 loài cây thuốc Nam, xuất bản
năm 1858 (Lê Trần Đức, 1997) [9].
Thời kỳ Tây Sơn (1788 – 1808) Nguyễn Hoành đã để lại tập “Nam
dược” với 620 vị thuốc, với các phương thuốc kinh nghiệm gia truyền (Lê
Trần Đức, 1997) [9].
Thời kỳ từ năm 1802 – 1883, nhà Nguyễn cũng tổ chức Thái Y Viện, tổ
chức điều trị bệnh phong tập trung, mở trường dạy thuốc ở Huế (Trần Thúy
10
và cs., 2005) [21]. Nguyễn Quang Lượng, Nguyễn Kinh,… là những danh y
nổi tiếng thời này, đã góp phần phát triển nền y học với quyển: “Nam dược
tập nghiệm quốc âm” bằng chữ Nôm của Nguyễn Quang Lượng về phương
thuốc dân gian.
Thời kỳ Pháp thuộc (1848 – 1945), y học cổ truyền nước ta có một số
hoạt động như: Thành lập các hội y học ở Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ; mở các
lớp huấn luyện y học cổ truyền, mở các phòng chữa bệnh, tổ chức triển lãm y
học cổ truyền,… (Trần Thúy và cs., 2005) [21]. Đến đầu thế kỷ XX, đã cho
xuất bản một số sách Y học cổ truyền bằng chữ quốc ngữ như “Việt Nam
dược học” của Phó Đức Thành. Nhiều nhà thực vật học người Pháp và người
Việt góp công nghiên cứu cây thuốc Việt Nam, như: bộ “Trung Việt dược
tính hợp biên” của Đinh Nho Chân với 1.600 vị thuốc Nam Bắc. Công trình
nghiên cứu của Crévót, Pétélot. Pétélot đã cho xuất bản bộ “Catalogue des
produits de L’Indochine” (1928 – 1935), trong đó tập V (Produits
medicinaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc là các loài thực vật có
hoa. Năm 1952, tác giả đã cho bổ sung và xây dựng thành bộ “Les plantes de
médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam”, gồm 4 tập và thống kê
được 1.482 vị thuốc thảo mộc ở ba nước Đông Dương (Lê Thị Thanh Hương,
2007) [12].
Sau cách mạng tháng 8 – 1945, y dược học cổ truyền đạt được những
thành tựu to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Bộ y tế cùng y học hiện đại, sức khỏe
của người dân được quan tâm và chăm lo chu đáo hơn. Chỉ thị số 210
TTG/VG ngày 06/12/1966 của thủ tướng chính phủ đã nhận định như sau:
“Dược liệu nước ta rất nhiều, gồm các loài cây thuốc và một số động vật. Có
nhiều loài quý, hiếm ở trên thế giới. Dược liệu ở nước ta chẳng những là cơ
sở cho nền y học dân tộc mà còn có một vị trí quan trọng trong nền y học hiện
đại, chẳng những là nguồn tự cung tự cấp về các loài cây thuốc Nam, thuốc
11
Bắc, thuốc Tây, mà còn là loại hàng xuất khẩu có giá trị… phải coi trọng
dược liệu như cây công nghiệp cao cấp” (Võ Văn Chi, 1996) [5].
Chính vì vậy, sau khi nước nhà thống nhất, việc nghiên cứu cây thuốc ở
nước ta được quan tâm nhiều hơn. Có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu, tìm tòi
và phát hiện thêm nhiều loài cây thuốc mới. Tiêu biểu có thể kể đến bộ sách
“Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập, do Đỗ Tất Lợi biên
soạn năm 1957 và đến năm 1961, cuốn sách này được tái bản in thành 2 tập.
Trong đó, tác giả đã mô tả chi tiết và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc
nam (Nguyễn Tập, 2007) [15]. Đỗ Tất Lợi đã tiếp tục dày công nghiên cứu và
trrong những năm từ 1962 – 1965, tác giả cho xuất bản bộ “Những cây thuốc
và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập, năm 1969 tái bản trong 2 tập. Cuốn sách
này của tác giả đã đề cập đến trên 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động
vật và khoáng vật. Tác giả đã kiên trì nghiên cứu, bổ sung liên tục các loài
cây thuốc trong các công trình nghiên cứu của mình và sách đã được tái bản
nhiều lần và các năm 1970, 1977, 1981, 1986, 1995, 1999, 2001 và năm 2003.
Lần tái bản thứ 7 vào năm 1995 số cây thuốc của ông nghiên cứu đã
lên tới 792 loài và gần đây nhất là lần tái bản lần thứ 13 (dẫn theo Lê Thị
Thanh Hương, 2007) [12]. Bộ sách của ông đã mang lại giá trị khoa học và
giá trị thực tiễn sâu sắc, thể hiện sự kết hợp giữa khoa học dân gian và
khoa học hiện đại.
Trong những năm này, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa
học đã được xuất bản thành các tập sách như: “Tài Nguyên cây thuốc Việt
Nam” vào 1993 của Viện Dược liệu, với khoảng 300 loài cây thuốc (Phạm
Hoàng Hộ, 2006) [11]; Trần Đình Lý với cuốn “1900 loài cây có ích” năm
1995, đã thống kê ở Việt Nam có khoảng 76 loài cho nhựa thơm, 260 loài cho
dầu béo, 160 loài có tinh dầu, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây (dẫn theo Lê
Thị Thanh Hương, 2007) [12]. Lương y lão thành, thầy thuốc ưu tú Lê Trần
12
Đức với cuốn: “Cây thuốc Việt Nam” năm 1995 đã giới thiệu hơn 830 loài
cây thuốc chính, phụ (Lê Trần Đức, 1997) [9]. Võ Văn Chi là một nhà thực
vật lớn của Việt Nam, đã đóng góp rất nhiều trong quá trình nghiên cứu về
các loài thực vật ở Việt Nam và ông đã biên soạn cuốn “Từ điển cây thuốc
Việt Nam”, trong đó ông mô tả rất tỷ mỷ về các cây được sử dụng làm thuốc
ở Việt Nam bao gồm 3.200 cây (Nguyễn Thượng Dong và cs., 2006) [8].
Ngoài ra, cuốn “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” tập I, II đề cập đến rất nhiều cây
cỏ có ích như làm gỗ, làm lương thực, làm thuốc (Nguyễn Thượng Dong và
cs., 2006) [8].
Từ những năm 2000 cho đến nay, đã có nhiều cuốn sách và các tài liệu
về cây thuốc được xuất bản nhằm đáp ứng nhu cầu của nhiều người quan tâm
tới cây thuốc trên khắp đất nước Việt Nam như: “577 bài thuốc dân gian gia
truyền” (Âu Anh Khâm, 2001) [13]; “Thuốc Nam, thuốc Bắc và các phương
thang chữa bệnh” (Tào Duy Cần, 2001) [1] và cuốn “Thuốc bệnh 24 chuyên
khoa” (Tào Duy Cần, 2006) [2]; “Nghiên cứu cây thuốc từ thảo dược”
(Nguyễn Thượng Dong và cs., 2006) [8]; “Cây có vị thuốc ở Việt Nam” do
Phạm Hoàng Hộ nghiên cứu và tập hợp (Phạm Hoàng Hộ, 2006) [11]; “cây
thuốc, bài thuốc và biệt dược” của Phạm Thiệp và cs. (2000) [16] đề cập tới
327 cây thuốc phổ biến,… Đồng thời, có nhiều công trình nghiên cứu về cây
thuốc trên cả nước công bố trên các tạp chí về cây thuốc như: Đặng Quang
Châu đã công bố một số dẫn liệu về cây thuốc của dân tộc Thái ở huyện
Nghĩa Đàn (Nghệ An) gồm 177 loài, thuộc 149 chi, thuộc 71 họ khác nhau
(Đặng Quang Châu, 2011) [4]. Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải khi điều tra
các loài cây của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu (Nghệ An) đã thu được 93
loài thuộc 7 chi, 42 họ (Đặng Quang Châu và Bùi Hồng Hải, 2003) [3].
Các tác giả đã phân loại cây được sử dụng theo các nhóm bệnh: bệnh
ngoài da, bệnh về đường tiêu hóa, bệnh về gan, bệnh về xương… Lưu Đàm
13
Cư và cs. (2004) [7] khi điều tra các loài cây có ích của dân tộc H’mông ở
vùng núi cao phía Bắc đã phân loại được 4 nhóm theo công dụng: cây lương
thực – thực phẩm, cây làm thuốc, cây có độc, cây để nhuộm màu, cây ăn quả.
Trong nhóm này cây làm thuốc đã thống kê được 657 loài thuộc 118 họ mà
người H’mông sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho người và gia súc. Nguyễn
Thị Thủy và Phạm Văn Thỉnh (2004) [20] đã xây dựng các mô hình vườn bảo
tồn cây thuốc ở vùng cao Sa Pa, như vườn rừng, trang trại, vườn các hộ gia
đình. Bước đầu đã bảo tồn được 52 loài cây thuốc thuộc 28 họ, trong đó có
nhiều loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Trong Hội nghị Khoa học Toàn quốc lần thứ 4 năm 2011 tại Hà Nội, đã
có nhiều báo cáo khoa học về tài nguyên cây thuốc và cách sử dụng các loài
cây thuốc trong điều trị các bệnh của cộng đồng dân tộc ở Việt Nam được
công bố như: một số kết quả nghiên cứu “Các loài thực vật được đồng bào
dân tộc Mường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò sử dụng làm
thuốc trị bệnh thận” của các tác giả Đỗ Sĩ Hiến và Đỗ Thị Xuyến đã chỉ ra 65
loài thực vật được đồng bào dân tộc Mường sử dụng làm thuốc chữa bệnh về
thận (dẫn theo Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4, 2011) [25]. “Đánh giá
đa dạng nguồn gen cây thuốc của người Sán Chí ở xã Tức Tranh, huyện Phú
Lương, tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Lê Thị Thanh Hương và cs. đã xác định
được 90 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 82 chi, 50 họ thực vật của 2
ngành thực vật bậc cao có mạch được đồng bào dân tộc Sán Chí ở xã Tức
Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên dùng làm thuốc (dẫn theo Hội
nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4, 2011) [25]. “Những cây thuốc được sử
dụng thay thế mật gấu theo kinh nghiệm dân gian và đông y ở một số địa bàn
tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Lê Thị Thanh Hương và Nguyễn Thị Thuận đã
thu được 35 loài thuộc 27 chi, 21 họ của 2 ngành thực vật bậc cao được sử
dụng làm thuốc chữa bệnh thay thế mật gấu ở một số địa bàn tỉnh Thái
14
Nguyên (dẫn theo Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4, 2011) [25]. “Điều
tra các loài cây thuốc và giá trị sử dụng của chúng ở một số xã thuộc huyện
Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp” của tác giả Võ Thị Phượng và Ngô Trực Nhã đã
điều tra và thống kê 232 loài cây được sử dụng làm thuốc thuộc 186 chi, 90
họ tại các xã của huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (dẫn theo Hội nghị Khoa
học toàn quốc lần thứ 4, 2011) [25]. Nguyễn Xuân Hoà, Nguyễn Thị Thanh
Thuỷ, Nguyễn Nhật Như Thuỷ (2013) khi nghiên cứu hiện trạng hệ sinh thái
rừng ngập mặn và thảm cỏ biển ở khu vực đầm thuỷ triều tỉnh Khánh Hoà đã
cho thấy thành phần loài cây khá nghèo nàn với 26 loài được xác định, trong
đó có 16 loài cây ngập mặn thực sự và 10 loài cây tham gia rừng ngập mặn.
Nguyễn Thị Kim Oanh (2015) [28], khi nghiên cứu tri thức bản địa và
sử dụng tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao tại khu rừng du lịch
văn hóa xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã xác định được 73
loài cây thực vật làm thuốc tại cộng đồng dân tộc Dao và đã xác định được
tương đối về tên địa phương, tên phổ thông, tên khoa học, gồm 43 họ thực vật
thuộc 3 ngành thực vật. Tác giả còn thống kê được 15 bài thuốc với 36 loài
cây được sử dụng trong bài thuốc xác định được bộ phận cây thuốc mà người
dân thường dùng và cách pha chế của mỗi bài thuốc. Trong đó xác định được
8 bài thuốc cần được lưu giữ bảo tồn: chữa bệnh tim, chữa băng huyết, tắm
cho bà đẻ, chữa khớp và toái hóa cột sống, trị cảm và đau bụng, giúp dễ sinh,
chữa mất ngủ, chữa sỏi thận và đái vàng, đây là các bài thuốc được người dân
sử dụng phổ biến và có hiệu quả cao trong chữa trị bệnh.
Bùi Thị Ngân (2018) [29] khi nghiên cứu tri thức bản địa trong sử
dụng, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày
tại xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã thống kê được
108 loài cây thực vật làm thuốc tại cộng đồng dân tộc Tày và đã được xác
15
định tương đối về tên phổ thông, tên địa phương, tên khoa học của các loài
thực vật.
Khi nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong
cộng đồng dân tộc Dao ở xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
của Nguyễn Minh Hiếu và cs. (2018) [30] đã thu được 71 loài thực vật bậc
cao có mạch thuộc ngành Ngọc lan có 67 loài thuộc 60 chi và 42 họ, thuộc
ngành Dương sỉ với 2 loài thuộc 2 chi và 2 họ , ngành Mộc tặc có 1 loài thuộc
1 chi và 1 họ , thuộc ngành Thạch tùng có 1 loài thuộc 1 chi và 1 họ, thuộc
ngành Dây gắm có 1 loài thuộc 1 chi và 1 họ có công dụng làm thuốc.
Nông Thái Hòa (2018) [31] khi nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt
tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc tại xã Hoàng Nông, huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên xác định được 137 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc
ngành Ngọc lan thuộc 129 chi và 72 họ có công dụng làm thuốc. Số họ thực
vật làm thuốc là 72 họ, Trong đó, họ nhiều loài nhất là họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae) với 10 loài; họ Cúc (Asteraceae) và họ Hòa thảo (Poaceae)
với 7 loài. Trong 129 chi, có tới 13 chi có 2 loài được sử dụng làm thuốc.
Dương Văn Hưng (2018) [32] khi nghiên cứu cây thuốc và đánh giá
hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc tại xã Yên Ninh, huyện Phú
Lương, tỉnh Thái Nguyên đã thu được 149 loài thực vật bậc cao có mạch,
thuộc ngành Thông có 1 loài thuộc 1 chi và 1 họ, thuộc ngành Dương xỉ có 3
loài thuộc 3 chi và 3 họ, thuộc ngành Mộc lan có 145 loài thuộc 133 chi và 70
họ có công dụng làm thuốc.
Ma Văn Khiêm (2018) [33] khi nghiên cứu tri thức bản địa trong sử
dụng, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao
tại xã Tân An, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã thống kê được 73 loài
cây thực vật làm thuốc tại cộng đồng dân tộc Dao và đã xác định được tương
đối về tên địa phương, tên phổ thông, tên khoa học. Phát hiện được 18 bài
16
thuốc trong tổng số hơn 22 loài cây được sử dụng trong bài thuốc, xác định
được bộ phận cây thuốc mà người dân thường dùng và cách pha chế của mỗi
bài thuốc.
Vàng A Lả (2018) [34] khi nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính
kháng khuẩn của một số loài cây thuốc tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương,
tỉnh Thái Nguyên đã xác định được 183 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc
ngành Dương xỉ có 2 loài thuộc 2 họ và 2 chi. Thuộc ngành Nấm có 1 loài
thuộc 1 chi và 1 họ, Thuộc ngành Mộc Lan có 180 loài thuộc 156 chi và 87 họ
có công dụng làm thuốc chữa bệnh.
Lục Thanh Sắc (2018) [35] Khi nghiên cứu về tri thức bản địa trong sử
dụng, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao
tại xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã thống kê được 85
loài cây thực vật làm thuốc tại cộng đồng dân tộc Dao và đã xác định được
tương đối về tên địa phương, tên phổ thông, tên khoa học. Ngoài ra, Tác giả
còn phát hiện ra 22 bài thuốc trong tổng số hơn 57 loài cây được sử dụng
trong bài thuốc, xác định được bộ phận cây thuốc mà người dân thường dùng
và cách pha chế của mỗi bài thuốc.
Việt Nam là một nước có tài nguyên rừng rất đa dạng và phong phú
nhưng vì ở trong những khu rừng hay gần rừng lại thường tập trung nhiều
cộng đồng các dân tộc sinh sống, có nhiều nền văn hóa đặc sắc khác nhau, tri
thức bản địa trong việc sử dụng cây làm thuốc cũng rất đa dạng và phong phú,
mỗi dân tộc có các cây thuốc và bài thuốc riêng biệt, cách pha chế và sử dụng
khác nhau. Nên hiện nay, nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị giảm
sút nghiêm trọng, kéo theo sự đa dạng sinh học cũng bị suy giảm trong đó có
cả một số cây thuốc bản địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần,
vậy việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn sử dụng tài nguyên cây thuốc bản
địa là một việc rất cần thiết. Các cộng đồng dân tộc thiểu số, họ có những bài
17
thuốc kinh nghiệm rất hay và đơn giản nhưng lại chữa bệnh hiệu quả rất cao.
Lào Cai cũng là một tỉnh tập trung nhiều dân tộc thiểu số sinh sống đặc biệt là
huyện Đại Từ, nơi giáp với khu bảo tồn thiên nhiên Tam Đảo và nhiều cộng
đồng dân tộc thiểu số sinh sống trong khu bảo tồn và gần khu bảo tồn, trong
đó có dân tộc, Nùng, Dao. Vì vậy, đây là một nơi lý tưởng cho nghiên cứu
kiến thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc, các bài thuốc
dân gian từ thiên nhiên của cộng đồng dân tộc địa phương nơi đây. Việc điều
tra và thống kê các loài cây thuốc, các bài thuốc không những mang lại những
giá trị khoa học, giá trị thực tiễn sâu sắc mà còn đóng góp và công tác bảo tồn
nguồn dược liệu nước nhà, bảo tồn những bài thuốc hay. Nhằm góp phần, bảo
tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
* Vị trí địa lý
Xã Phú Xuyên cách trung tâm huyện Đại Từ 40 km về phía Tây Nam,
vị trí địa lý có các mặt tiếp giáp như sau:
Phía đông giáp xã Bản Ngoại và xã Phú Thịnh
Phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang
Phía nam giáp xã La Bằng
Phía bắc giáp xã Na Mao và xã Yên Lãng.
18
* Địa hình, địa mạo
Xã Phú Xuyên có địa hình tương đối đặc trưng :
Phía Tây là núi cao và phía Đông là cánh đồng bằng phẳng ven theo
quốc lộ QL37. Địa hình thấp dần từ phía Tây xuống Đông Bắc với đồi núi
thấp, đồng bằng xen kẽ sông, suối, ao hồ. Trên địa bàn xã Phú Xuyên có 3
con suối bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo có tổng chiều dài khoảng 9 km. Đặc
điểm về địa hình của xã phần lớn là đồi núi, địa hình dốc dần theo hướng Tây
Bắc - Đông Nam.
* Địa chất, thổ nhưỡng
Theo báo cáo tổng kết của UBND xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên năm 2019 [22] đã thống kê được như sau: tổng diện tích tự
nhiên của xã là 2.320,06 ha, trong đó:
Đất nông nghiệp 2.095,33 ha;
Đất phi nông nghiệp 216,25 ha;
Đất chưa sử dụng 1,84 ha.
* Đặc điểm khí hậu
Là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11,
khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, gió Đông
Bắc chiếm ưu thế, lượng mưa ít, thời tiết hanh khô. Đặc trưng khí hậu nhiệt
đới nóng ẩm thể hiện rõ qua các chỉ số: Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng
230C; tổng lượng mưa bình quân hàng năm 1.700 - 2.200mm, phân bố không
đều có chênh lệch lớn giữa mùa mưa và mùa khô.
* Chế độ thủy văn
Tổng diện tích mặt nước trên địa bàn xã hiện trạng là 32,85 ha, trong
đó: diện tích ao, hồ, đầm 9,2 ha, diện tích đất sông suối 23,65 ha gồm 2 con
suối bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo chảy theo hướng Tây - Bắc và Đông
Nam. Toàn bộ diện tích ao, hồ, đầm hiện tại đã và đang được các hộ dân sử
dụng để nuôi trồng thủy sản kết hợp việc tưới tiêu sản xuất nông nghiệp. Các
19
con suối chảy trên địa bàn xã là nguồn cung cấp nước chủ yếu phục vụ sản
xuất và sinh hoạt của nhân dân.
* Hiện trạng thảm thực vật
Điều kiện sinh thái và địa hình xã Phú Xuyên có thảm thực vật chủ yếu
ở trên địa bàn xã là rừng tự nhiên.
2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
* Dân cư, dân tộc
Xã Phú Xuyên được chia thành 18 xóm có 7 dân tộc cùng sinh sống, cả
xã có 2079 hộ, 7608 khẩu trong đódân tộc Kinh là chiếm 58% còn lại là các
dân tộc thiểu số như
Dao, Tày, Nùng, Cao Lan, Sán Chỉ, Ngái. Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 6,32%
với 119 hộ.
* Kinh tế
Cuộc sống của đồng bào dân tộc tại địa phương gắn với sản xuất nông
lâm nghiệp, đặc biệt là gắn với cây lúa, rừng và đất rừng. Các hoạt động sinh
kế truyền thống chính là khai thác sản phẩm tự nhiên, canh tác lúa nước,
nương rẫy, chăn nuôi. Rừng và đất rừng là nguồn tài nguyên đặc biệt quan
trọng đối với sinh kế, cuộc sống của đồng bào người Nùng và Dao.
20
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Dao,
Nùng tại xã Phú Xuyên sử dụng làm thuốc chữa bệnh; kinh nghiệm sử dụng
cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao, Nùng tại xã tại xã Phú Xuyên, huyện
Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Công tác điều tra thực địa được tiến hành tại xã Phú Xuyên, huyện
Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
+ Nghiên cứu thực nghiệm (xác định hoạt tính khánh khuẩn) được tiến
hành tại phòng thí nghiệm Khoa công nghệ sinh học - trường Đại học Khoa
học Thái nguyên.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2020 đến tháng 05/2020.
- Nghiên cứu tri thức dân tộc thiểu số: Dân tộc Dao, Nùng.
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng tại xã
Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên:
+ Đánh giá đa dạng các bậc taxon của nguồn tài nguyên cây thuốc: đa
dạng bậc họ; đa dạng bậc chi.
+ Đánh giá đa dạng về dạng sống của thực vật làm thuốc.
+ Đánh giá về môi trường sống của thực vật làm thuốc.
- Xác định những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn: Đánh giá ở mức độ
quý hiếm của các loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu.
21
- Vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của các cộng đồng
dân tộc thiểu số ở xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
+ Kinh nghiệm sử dụng bộ phận làm thuốc của cộng đồng dân tộc thiểu
số ở Phú Xuyên.
+ Kinh nghiệm về nhóm bệnh chữa trị của cộng đồng dân tộc thiểu số ở
xã Phú Xuyên.
+ Ảnh hưởng của sự giao thoa giữa các dân tộc đến vốn tri thức bản địa
trong việc sử dụng cây thuốc.
+ Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu. 3.3. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các kết quả gắn với các nội dung nghiên cứu trên, cách
thức và giải pháp thực hiện ý tưởng bao gồm như sau:
* Phương pháp kế thừa
- Kế thừa những những tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội ở khu vực nghiên cứu và các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu.
- Kế thừa kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các ông lang, bà mế
người dân tộc Nùng, Dao ở khu vực nghiên cứu.
* Phương pháp điều tra thực địa
- Điều tra phỏng vấn thu thập cây thuốc: tại khu vực nghiên cứu, phỏng
vấn các ông lang, bà mế, người dân có kinh nghiệm sử dụng cây thuốc và sử
dụng các bài thuốc gia truyền của cộng đồng dân tộc ít người tại địa bàn
nghiên cứu. Mẫu phiếu điều tra dựa theo: phiếu điều tra cây thuốc trong cộng
đồng và phiếu điều tra bài thuốc gian dân (Viện Dược liệu, Bộ Y tế) [27].
Bảng 3.1. Mẫu bảng điều tra nguồn cây thuốc được cộng đồng một số dân
tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu sử dụng trong phòng và điều trị bệnh
Thời gian điều tra: Người điều tra:
22
Cán bộ được phỏng vấn
TT
Tên địa phương
Dạng cây
Công dụng
Tên phổ thông
Môi trường sống
Cách sử dụng
Bộ phận sử dụng
Số hiệu mẫu / ảnh
Họ tên
Địa chỉ
Điên thoại
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
(8)
(9)
(10)
(11)
(12)
……. …… …. ….. ……. …… ….. ….. ….. …. …..
Địa điểm điều tra: Địa chỉ điều tra:
- Thu thập đầy đủ các thông tin cây thuốc gồm: tên phổ thông, tên dân
tộc Nùng, Dao; số hiệu mẫu/ảnh cây thuốc; dạng sống; môi trường sống; bộ
phận sử dụng làm thuốc (thân, rễ, hoa, quả, hạt, nhựa, vỏ); công dụng. Đồng
thời ghi chép những đặc điểm dễ nhận biết của cây ngoài thiên nhiên, ghi rõ
thời gian, địa điểm và người thu thập thông tin.
- Định danh tên cây: định danh loài cây theo các bước: (i) định danh tại
thực địa; (ii) sử dụng kiến thức kinh nghiệm của các chuyên gia và nguồn tài
liệu tin cậy đã công bố giám định lại.
+ Bước 1: xác định sơ bộ tên địa phương, tên thường gọi được thực
hiện ngay ở lần điều tra đầu tiên. Đối với những loài chưa chắc chắn thì ghi
chú để kiểm định lại ở bước sau. Các loài không biết tên cần phải lấy mẫu (lá,
hoa, quả,...) và ghi vào biểu điều tra bằng ký hiệu sp1, sp2,... để giám định.
+ Bước 2: Tất cả các cây được thẩm định lại tên cây, lập danh mục cây
thuốc bằng sử dụng kiến thức kinh nghiệm của các chuyên gia về thực vật và
nguồn tài liệu tin cậy đã công bố gồm: Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ,
2001) [10], Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 2012) [6], Những cây
thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2005) [14], Danh lục các loài thực
vật Việt Nam (Trung tâm NCTN&MT – Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện
ST&TNSV, 2001 – 2005) [26]. Danh sách tên cây thuốc sẽ được hoàn thiện ở
bước này.
23
* Phương pháp thu thập mẫu: Đối với loài cây chưa xác định được tên
ở ngoài thực địa và loài cần giám định lại tên.
- Tiến hành thu mẫu ở thực địa: Mỗi cây thuốc thu từ 3 đến 10 mẫu ( lá,
hoa, quả, thân, rễ,...) và được gắn nhãn ghi rõ các thông tin về ký hiệu mẫu,
địa điểm, thời gian và người thu mẫu (các mẫu cùng cây đánh số cùng số hiệu
mẫu).
- Dụng cụ thu mẫu: bản gỗ ép mẫu, túi đựng mẫu, bao tải dứa, kéo cắt
cây, giấy báo, dây buộc, etyket, bút chữ A, sổ ghi chép, máy ảnh (Nguyễn
Nghĩa Thìn, 1997) [17].
Hình 3.1: Các dụng cụ sử dụng cho nghiên cứu trong đề tài
* Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc
Để đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của cộng đồng
dân tộc Nùng, Dao tại khu vực nghiên cứu, tôi sử dụng phương pháp đánh giá
của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [18]:
- Đa dạng về bậc phân loại: ngành, lớp, họ, chi, loài.
- Đa dạng về dạng sống: dây leo, gỗ trung bình, gỗ nhỏ, thảo, bụi.
- Đa dạng về môi trường sống: rừng, đồi, vườn, ven suối.
24
- Đa dạng về bộ phận sử dụng làm thuốc: thân, rễ, lá, hoa, quả, hạt, vỏ,
cả cây.
- Đa dạng về các nhóm bệnh chữa trị: bệnh về khớp, tim, dạ dày, gan,
giải độc, xương,…
* Phương pháp đánh giá mức độ nguy cấp
Đánh giá mức độ nguy cấp của các loài cây thuốc, xác định những cây
thuốc thuộc diện bảo tồn ở khu vực nghiên cứu theo: Sách đỏ Việt Nam, phần
thực vật rừng (Bộ KH&CN, 2007) [23], Nghị định 06/2019/NĐ-CP (Chính
phủ nước Việt Nam, 2019) [24], Danh sách đỏ cây thuốc Việt Nam trong
Cực kỳ nguy cấp (CE): Critically Endangered Nhóm nguy cấp (EN): Endangered Sẽ nguy cấp (VU): Vulnerable Sắp bị đe dọa (NT): Near Threatened Mức độ hiếm ( R): Rare Bị đe dọa (T): Threatened Nhóm thiếu dữ liệu thống kê (K): Insufficiently known
Cẩm nang cây thuốc cần được bảo vệ ở Việt Nam (Nguyễn Tập, 2007) [15]. Các mức đánh giá về độ nguy cấp được liệt kê trong Sách Đỏ Việt Nam bao gồm:
Nhóm I: Các loài động thực vật rừng đang có nguy cơ tuyệt chủng, nghiêm cấm mọi hành vi khai thác và sử dụng với mục đích thương mại. Nhóm IA là các loài thực vật còn nhóm IB là động vật rừng.
Nhóm II: Bao gồm những loài động thực vật rừng chưa bị đe dọa tuyệt chủng nhưng cần được bảo vệ và hạn chế khai thác, sử dụng với mục đích thương mại. Nhóm IIA là các loài thực vật còn IIB là các động vật rừng.
Ngoài ra, theo Nghị định 06/2019 của Chính phủ thì các loài động, thực vật rừng sẽ được chia thành các nhóm chính sau:
* Phương pháp nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn
- Bước 1: Chuẩn bị nguyên liệu
25
Nguyên liệu lá, thân, rễ cây thuốc sau khi thu hái được rửa sạch, để ráo
nước sau đó đem sấy khô ở 900C đến khối lượng không đổi.
- Nguyên liệu sau khi sấy khô được nghiền trong máy xay đa năng loại
nhỏ thành bột dạng mịn, bảo quản nơi khô ráo để sử dụng trong các nghiên
cứu tiếp theo.
- Bước 2: Tạo cao chiết
Nguyên liệu được tách chiết theo phương pháp ngâm nóng. Nguyên
liệu dạng bột khô được đem đi chiết với tỷ lệ 10 g/100 ml bằng dung môi
methanol, sau đó cho vào máy lắc với tần số 200 vòng/phút (để các chất có
hoạt tính sinh học tan đều trong dung môi) ở các điều kiện thời gian 24 giờ,
sau đó tiến hành lọc qua giấy lọc, 80 ml dịch lọc được đem đi cô đặc bằng
máy cô quay (hoặc sấy khô) đến khi có khối lượng khô không đổi và được
bảo quản ở 40C để sử dụng trong các nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn.
- Bước 3: Chuẩn bị giống vi khuẩn
Sử dụng 2 chủng vi khuẩn gồm 1 chủng gram dương là S.a
(Staphylococcus aureus) và 1 chủng gram âm là E.coli (Escherichia coli), lấy
từ phòng thí nghiệm Vi sinh - Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên. Bảo
quản giống trên môi trường thạch nghiêng: vi sinh vật được hoạt hóa trong
môi trường LB, sau đó được cấy chuyển sang môi trường thạch nghiêng, nuôi
24 giờ ở 370C, giữ trong tủ lạnh để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo.
- Bước 4: Thử khả năng kháng khuẩn
Kiểm tra khả năng kháng khuẩn của cao chiết bằng phương pháp
khuếch tán trên đĩa thạch, thí nhiệm được bố trí 3 lần nhắc lại trên một chủng
vi khuẩn 3 đĩa petri trên 1 lần nhắc lại.
Pha cao chiết của toàn thân cây thuốc với nước ở nồng độ 100 mg/ml
sau đó dùng cao đã pha để thử hoạt tính kháng khuẩn.
26
Các thao tác được thực hiện trong tủ cấy vô trùng. Khi mật độ vi khuẩn đạt
đến nồng độ 106 tế bào/ml, lắc đều ống nghiệm chứa vi khuẩn. Môi trường LB đã
được hóa lỏng trong lò vi sóng, khi còn lỏng đổ đều môi trường vào các đĩa Petri,
sau đó để nguội để môi trường đông đặc lại tạo thành mặt phẳng. Dùng micropipet
hút 100μl dịch vi khuẩn vào giữa đĩa thạch chứa môi trường LB (Thành phần của
môi trường LB là như sau (g/l): Peptone - 10; Cao nấm men - 5; NaCl -10; pH:
7,0), dùng que cấy tam giác trang đều cho đến khi mặt thạch khô. Sau 15 phút đục
giếng trên môi trường thạch với đường kính 6 mm, đục 2 giếng, mỗi giếng cách
nhau 2 – 3 cm. Mỗi giếng thạch nhỏ 100μl dịch cao chiết cần nghiên cứu bằng
micropipet, sử dụng đối chứng dương là kháng sinh Kanamycin và Akamicin
với nồng độ 5mg/ml để so sánh, để các đĩa thạch trong tủ lạnh 30 phút để dịch
cao chiết khuếch tán ra môi trường nuôi cấy vi khuẩn, sau đó nuôi cấy trong
tủ ấm 370C, sau 24h mang ra đo kích thước vòng kháng khuẩn. Hoạt tính
kháng khuẩn được xác định bằng cách đo kích thước vùng kháng khuẩn (BK)
bằng công thức: BK = D - d, trong đó D là đường kính vòng kháng khuẩn, d
là đường kính giếng thạch.
27
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đa dạng các bậc taxon nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng
trong cộng đồng các dân tộc thiểu số xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên
4.1.1. Đa dạng các bậc taxon
4.1.1.1. Đa dạng về bậc ngành
Kết quả điểu tra, nghiên cứu cây thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm
của đồng bào dân tộc Nùng, Dao tại khu vực nghiên cứu đã ghi nhận được
103 loài thực vật thuộc 3 ngành đó là: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta),
Ngành Thông – (Pinophyta) và Ngành Dây gắm – (Gnetophyta) được đồng
bào dân tộc ở đây sử dụng làm thuốc, thuộc 91 chi, 59 họ. Các loài cây này
đều là những cây mọc phổ biến quanh làng bản, ở đồi và ở rừng, cũng là
những loài mà người dân thường gặp, nên họ đã lựa chọn để làm thuốc nhiều
hơn các loài thực vật khác. Kết quả được tổng hợp từ phụ lục 3 thể hiện trong
bảng dưới đây:
Bảng 4.1. Số loài cây thuốc đã phát hiện ở khu vực nghiên cứu
Họ Chi Loài
TT Ngành thực vật
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
1 1,69 1 1,10 1 0,97 1
1 1,69 1 1,10 1 0,97 2
57 96,61 89 97,80 101 98,06 3
Ngành Thông - 1 Pinophyta 2 Ngành Dây gắm - Gnetophyta 3 Ngành Ngọc lan - Magnoliophyta Tổng 59 100 91 100 103 100
Kết quả bảng 4.1 cho thấy, Ngành Ngọc lan (Magoliophyta) có số loài
được sử dụng làm thuốc tối ưu hơn 2 ngành còn lại, Ngành Ngọc lan có 57
họ, (chiếm 96,61% tổng số họ), có 89 chi (chiếm 97,80% tổng số chi), có 101
28
loài, (chiếm 98,06% tổng số loài). Tiếp theo là ngành Dây gắm (Gnetophyta)
và ngành Thông cùng có 1 loài, (chiếm 1,69% tổng số họ), 1 họ (chiếm 1,10%
tổng số chi), và 1 chi (chiếm 0,97% tổng số chi).
Sự phân bố không đồng đều nhau của các taxon không chỉ được thể
hiện giữa các ngành mà còn thể hiện qua sự chiếm ưu thế của các lớp trong
ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) như sau:
Bảng 4.2. Số lượng họ, chi, loài thuộc hai lớp trong ngành Ngọc lan
Họ
Chi
Loài
Lớp
SL
SL
SL
Tỉ lệ %
43 75,44 14 24,56 100 57
72 17 89
Tỉ lệ % 80,90 19,10 100
81 20 101
Tỉ lệ % 80,20 19,80 100
Lớp Hai lá mầm- Magnoliopsida Lớp Một lá mầm - Liliopsida Ngành Ngọc lan - Magnoliophyta Tỉ lệ lớp Ngọc lan/lớp Hành
3,07
4,24
4,05
Kết quả cho thấy, lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida) chiếm ưu thế với 43
họ, chiếm 75,44% số họ trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta); số chi là 72,
chiếm 80,90%; và số loài là 81 loài chiếm 80,20%. Một số loài thuộc lớp
Ngọc lan có thể kể đến như: cây giảo cổ lam - Gynostemma pentaphyllum
(Thunb.) Makino được dùng để chữa các bệnh huyết áp cao, mỡ máu; Dây
đau xương - Tinospora sinensis (Lour.) Merr được dùng để chữa các bệnh đau
lưng, đau nhức xương khớp.
Lớp Một lá mầm (Liliopsida) chiếm tỉ trọng thấp hơn với 20 loài, 17
chi và 14 họ. Có thể kể đến một số loài thuộc lớp Hành là: cây Huyết dụ -
Cordyline fruticosa (L.) Goepp được sử dụng để chữa bệnh kinh nguyệt, mát
thận, phụ khoa, xấu máu; cây ráy - Alocasia macrorhizos (L.) G. Don được sử
dụng để chữa bệnh gút.
Tỉ lệ họ giữa lớp Hai lá mầm với lớp Một lá mầm là 3,07 nghĩa là trung
bình cứ 3 đến 4 họ thuộc lớp Hai lá mầm thì sẽ có 1 họ thuộc lớp Một lá
mầm; tương tự tỉ lệ các bậc chi và bậc loài lần lượt là 4,24 và 4,05 có nghĩa
29
là: trung bình cứ 4 chi và 4 loài thuộc lớp Ngọc lan sẽ có 1 chi và 1 họ thuộc
lớp Hành.
Tóm lại, Các loài cây trong ngành Ngọc lan, nhất là các loài thuộc lớp
Hai lá mầm (Magnoliopsida) chiếm một tỷ lệ lớn và đóng vai trò quan trọng
trong các loài thực vật làm thuốc được cộng đồng dân tộc ở khu vực nghiên
cứu sử dụng trong phòng và chữa trị bệnh.
Dưới đây là một số hình ảnh một số loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu:
A. Gối hạc (Leea rubra Blume) B. Vẩy ốc (Ficus pumila)
C. Cây tai chuột D. Thạch xương bồ (Dischidia acuminate) (Acorus gramineus Soland)
Hình 4.1: Hình ảnh một số loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu
30
4.1.1.2. Phân bố số lượng loài trong từng họ
Số lượng họ cây thuốc thu được ở khu vực nghiên cứu bao gồm 59 họ.
Sự phân bố các họ trong các lớp như sau:
Bảng 4.3. Sự phân bố số lượng loài cây thuốc trong các họ
Ngành thực vật
1 loài 2 loài
3 loài
4 loài
5 loài
6 loài
7 loài
8 loài
9 loài
trên 10 loài
2
10
38
0
3
2
1
0
0
0
2
2
10
0
0
0
0
0
0
0
0
8
28
0
3
2
1
0
0
1
0 0 0
1 1 1
0 0 0
0 0 0
0 0 0
0 0 0
0 0 0
0 0 0
0 0 0
0 0 0
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
40
10
2
2
3
0
0
40
20
6
1 5,08 3,39 1,69 0,00 0,00 6 12
10
0
0
1 1,69 9
0 0,00 0
38,83 19,42 5,83 11,65 9,71 5,83 0,00 0,00
8,74
0,00
Magnoliophyta Lớp Một lá mầm - Liliopsida Lớp Hai lá mầm - Magnoliopsida Pinophyta Lớp Thông - Pinopsida Gnetophyta Lớp Dây gắm - Gnetopsida Tổng số họ Tỷ lệ số họ/tổng số họ % 67,80 16,95 3,39 Số loài Tỷ lệ số loài/tổng số loài%
Qua bảng 4.3 cho thấy, sự phân bố số lượng loài cây trong các họ tập
trung chủ yếu ở hai lớp của nghành Ngọc Lan gồm có 38 họ có 1 loài cây, 10
họ có 2 loài cây chiếm 16,95% so với tổng số họ và chiếm 5,83% trên tổng số
loài. Số lượng các họ có từ 3 loài cây trở lên là khá ít, trong đó có duy nhất 1
họ là có 9 loài cây chiếm 8,74% trên tổng số các loài cây thuốc đã được thu
thập số liệu. Lớp Hai lá mầm, chiếm 5,83% số loài so với tổng số loài, số họ
chiếm 1,69% so với tổng số họ điều tra được. Có 2 họ 5 loài là họ Đậu
(Fabaceae) và họ Cà phê (Rubiaceae), chiếm 3,39% so với tổng số họ được
điều tra, cả 2 họ đều thuộc lớp Hai lá mầm, và cả 2 họ có 5 loài này chiếm
3,39% so với số loài điều tra được, có 3 họ 4 loài chiếm 5,08% trong tổng số
họ và chiếm 11,65% trong tổng số loài điều tra được, cả 2 họ đều thuộc lớp
31
Hai lá mầm. Có 2 họ có 3 loài chiếm 3,39% so với tổng số họ và chiếm 5,83%
trong tổng số loài điều tra được, cả 2 họ đều thuộc lớp Một lá mầm đó là họ
Gừng và họ Hòa thảo. Có 10 họ có 2 loài chiếm 16,95% so với tổng số họ và
chiếm 19,42% trong tổng số loài điều tra được, 2 họ thuộc lớp Một lá mầm và
8 họ thuộc lớp Hai lá mầm. Có 40 họ có 1 loài chiếm 67,80% so với tổng số
họ và chiếm 38,83% trong tổng số loài điều tra được, 10 họ thuộc lớp Một lá
mầm, 28 họ thuộc lớp Hai lá mầm ngành Ngọc Lan - 1 họ thuộc lớp Thông
(Pinopsida) ngành Thông - 1 họ lớp Dây gắm (Gnetopsida) ngành Gắm.
Sự đa dạng họ của các loài tại khu vực nghiên cứu được thu thập và tổng
4.1.1.3 Đa dạng họ
hợp trong bảng sau:
Bảng 4.4. Các họ đa dạng nhất ở khu vực nghiên cứu
Số loài
Số chi
STT
Tên Việt nam
Số
Tỷ lệ
Số
Tỷ lệ
lượng
lượng
%
%
Họ Cúc - Asteraceae
1
8,73
7
7,69
9
Họ Đại Kích - Euphorbiacea
2
5,82
5
5,49
6
Họ Đậu - Fabaceae
3
4,85
5
5,49
5
Họ Cà phê - Rubiaceae
4
4,85
5
5,49
5
Họ Rau Dền - Amaranthaceae
5
3,88
3
3,29
4
Họ Bông Bụp - Malvaceae
6
3,88
2
2,19
4
Họ Ngũ Da Bì - Araliaceae
7
3,88
3
3,29
4
7 họ đa dạng nhất (11,86%)
30
37
Tổng số được phát hiện:
91
103
Trong số 7 họ được xác định ở xã Phú Xuyên thì phần lớn cũng được
gặp trong các họ giàu loài của hệ thực vật Việt Nam. Các họ cây thuốc giàu
loài tại khu vực nghiên cứu có 3 họ nằm trong 10 họ giàu loài nhất của hệ
thực vật Việt Nam là: họ Đậu - fabaceae, họ Cúc – asteraceae và họ Thầu dầu
32
– euphorbiaceae; 4 họ còn lại không nằm trong 10 họ lớn nhất Việt Nam đó là
họ Ngũ da bì, họ Cà phê, họ Rau dền và họ Bông bụp điều này chứng minh
nguồn cây thuốc tại xã Phú Xuyên khá phong phú nhưng vấn có nét khác biệt
so với tính đa dạng chung của thực vật Việt Nam.
Kết quả điều tra đã thu được những loài cây thuốc nằm trong những họ
có nhiều loài nhất ở Việt Nam
(Bảng 10 họ giàu loài nhất theo danh lục thực vật Việt Nam phụ lục 4
trang 3)
Số lượng thống kê và so sánh được thể hiện ở Bảng 4.5:
Bảng 4.5. So sánh các họ có nhiều loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu (1)
với số loài của từng họ trong hệ thực vật Việt Nam (2)
KVNC DLTV Tỷ lệ % giữa Họ nhiều loài (1) VN (2) (1) và (2)
1 Asteraceae - Họ cúc 9 380 2,37
2 Euphorbiacea - Họ đại kích 6 477 1,26
3 Fabaceae -Họ Đậu 5 471 1,06
4 Rubiaceae -Họ cà phê 5 492 1,02
5 Amaranthaceae - Họ Rau dền 4 32 12,50
6 Malvaceae - Họ Bông bụp 4 69 5,80
7 Araliaceae - Họ Ngũ da bì 4 158 2,53
Chú thích: (2) theo Danh lục các loài thực vật Việt Nam (Trung tâm NCTN & MT – Đại
học Quốc gia Hà Nội và Viện ST&TNSV, 2009)
Tổng số được phát hiện: 103
Kết quả Bảng 4.5 cho thấy, có 7 họ có nhiều loài được cộng đồng dân
tộc ở khu vực nghiên cứu sử dụng làm thuốc phòng và chữa trị bệnh. Tỷ lệ số
loài trong cùng một họ có nhiều loài được sử dụng làm thuốc tại khu vực
nghiên cứu so với tổng số loài trong cùng họ đó có tại Việt Nam có sự chênh
33
lệch rất lớn, cụ thể tỷ lệ của từng họ là: với họ có nhiều loài được sử dung làm
thuốc nhất là họ Cúc (Asteraceae) chiếm tỷ lệ 2,37% có các loài như: Nhọ nồi
(Eclipta prostrata L.) có tác dụng giải độc gan; Ngải cứu (Artemisia vulgaris
L.) chữa đau thận,...họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có 6 loài, chiếm tỷ lệ 1,26
%; (Fabaceae) - Họ Đậu (Rubiaceae) - Họ cà phê cùng có 5 loài được sử dụng
làm thuốc, chiếm tỷ lệ lần lượt là 1,06% và 1,02% – (Amaranthaceae) - Họ
Rau dền (Malvaceae) - Họ Bông bụp (Araliaceae) - Họ Ngũ da bì cùng có 4
loài sử dụng làm thuốc chiếm tỷ lệ lần lượt là 12,50%; 5,80%; 2,53%.
Như vậy, số loài được sử dụng làm thuốc còn chiếm tỷ lệ rất thấp so
với số lượng loài trong cùng một họ đó có tại Việt Nam, nên khả năng phát
hiện ra thêm nhiều loài có thể sử dụng làm thuốc là rất lớn.
Một công trình khác của Dương Văn Hưng (2018) [32] khi nghiên cứu
về tri thức bản địa của người dân tại xã Yên Ninh, Huyện Phú Lương, tỉnh
Thái Nguyên cho thấy các họ có nhiều loài được sử dụng làm thuốc tại khu
xã Phú Xuyên phong phú hơn ở địa bàn xã Yên Ninh, Huyện Phú Lương,
tỉnh Thái Nguyên. Cụ thể là ở xã Phú Xuyên có 59 họ có nhiều loài được
sử dụng làm thuốc, còn ở xã Yên Minh có 74 họ có nhiều loài được sử
dụng làm thuốc.
4.1.2. Đa dạng về dạng sống của thực vật làm thuốc
Sự đa dạng về dạng sống của loài thực vật làm thuốc tại khu vực nghiên
cứu được thể hiện trong Bảng 4.6 như sau:
Bảng 4.6. Đa dạng về dạng sống của nguồn cây thuốc ở khu vực nghiên cứu
STT 1 2 3 4 5 Dạng sống Thân thảo Bụi Dây leo Gỗ nhỏ Gỗ lớn Số lượng 41 37 13 11 1 Tỉ lệ % 39,81 35,92 12,62 10,69 1
34
Dữ liệu trên cho thấy, nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng theo
kinh nghiệm của 2 cộng đồng dân tộc Nùng, Dao tại KNNC tập trung vào 5
dạng sống, trong đó tập trung nhiều nhất vào 3 dạng sống cây thân thảo, cây
bụi và dây leo.
Thân thảo là dạng sống có số lượng loài nhiều nhất với 41/103 so với
tổng số loài (chiếm 39,806% so với tổng số loài). Các cây thuộc nhóm này tập
trung chủ yếu vào họ Cúc (Asteraceae) được dùng để chữa các bệnh như hạ
sốt, viêm khớp, thấp khớp, giải độc gan..., họ Hòa thảo (Poaceae) được dùng để
chữa các bệnh như viêm thận, đái rắt, hậu sản... và họ Rau dền (Amaranthaceae)
dùng để chữa trị các bệnh đau thận, xơ gan, cam sài trẻ con, đau bụng, viêm
nhiễm phụ khoa, gai cột sống... Ngoài ra có họ Đại kích (Euphorbiacea) được
dùng để chữa các bệnh tắc sữa, viêm đại tràng, sinh lý nam...
Đứng thứ hai dạng cây bụi với 37/103 loài (chiếm 35,92%), dạng cây
này tập trung chủ yếu các loài thuộc họ Bông bụp (Malvaceae), họ Cà phê
(Rubiaceae), họ Ngũ da bì (Araliaceae), họ Đậu (Fabaceae)... Một số loài cây
thuốc thuộc nhóm này như sau: Đinh lăng lá to - Polyscias grandifolia
Volkens được công đồng dân tộc Dao dùng để trị chữa mất ngủ; Dâm bụt hoa
trắng - Hibiscus syriacu L. sử dụng ở dân tộc Nùng làm thuốc chữa bệnh tiểu
dắt và cây Giao - Euphorbia tirucalli L. được cả 2 dân tộc Nùng, Dao dùng
chữa để diều trị bệnh xoang và lợi sữa ở trong cộng đồng…
Đứng thứ ba là dạng sống cây Dây leo với số lượng 13/103 loài (chiếm
12,62%) dạng sống này tập trung chủ yếu các loài cây thuộc nhóm cây dây
leo như họ tiết Dê (Menispermaceae), họ Thiên Lý (Asclepiadaceae) và họ
Bầu bí (Cucurbitaceae). Có thể kể đến một số loài đại diện như: cây Giảo cổ
lam - Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino sử dụng để chữa bệnh
huyết áp cao, mỡ máu; cây Hoàng đằng - Fibraurea recisa Pierre dùng chữa
bệnh viêm đường tiết niệu, đau khớp...
35
Như vậy dựa vào nghiên cứu khoa học điều tra cây thuốc và kinh
nghiệm sử dụng cây thuốc của Nguyễn Minh Hiếu và cs. (2018) [30] khi
nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây
thuốc tại xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên cho thấy các dạng
sống của các cây thuốc ở xã Phú Xuyên đa dạng tương tự nhau với các dạng
sống ở xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Nhìn chung, vấn đề sử dụng các dạng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh của 2
dân tộc Nùng, và Dao tại khu vực nghiên cứu khá đa dạng và phong phú.
Như vậy, các dạng sống chủ yếu của thực vật được sử dụng làm thuốc
tại khu vực nghiên cứu là thân thảo, dây leo và cây bụi. Vì các dạng sống này
mọc rất phổ biến quanh nhà, quanh làng bản, rất dễ mọc và dễ trồng nên các
dạng sống này cũng rất dễ thu hái để sử dụng.
4.1.3. Đa dạng về môi trường sống của thực vật làm thuốc
Để phục vụ cho công tác bảo tồn các loài cây thuốc ở khu vực nghiên
cứu, tôi đã tiến hành đánh giá sự đa dạng về môi trường sống của các loài cây
thuốc. Việc phân chia các loại môi trường sống được căn cứ vào địa hình, đất
đai, khí hậu, nơi mà cây thuốc đó phát triển. Có các dạng môi trường sau:
- Làng xóm, làng bản, vườn (Vu)
- Rừng (trồng, tái sinh, tự nhiên) (R)
- Ven suối (Vs)
Bảng 4.7. Sự phân bố nguồn cây thuốc theo môi trường sống ở khu vực
nghiên cứu
Stt
Môi trường sống
Số loài
Tỷ lệ %
1
Rừng (trồng, tái sinh, tự nhiên) (R)
84
81,55
2
Làng xóm, làng bản, vườn (Vu)
36
34,95
3
Ven suối (Vs)
1
0,97
36
Ghi chú: Tỉ lệ % trong Bảng hơn 100% do một số loài có thể sống ở nhiều môi
trường khác nhau
Kết quả Bảng 4.7 cho thấy, có 3 môi trường sống chính của cây
thuốc ở KVNC là: sống ở vườn (Vu), sống ở rừng (R) và sống ở ven sông
ven suối (Vs).
Nơi sống chiếm tỷ lệ cao nhất so với tổng số loài điều tra được là môi
trường rừng, người dân ở đây từ bao đời nay đã có cuộc sống gắn bó với núi
rừng, hiểu biết của họ về các loài cây trong rừng là vô cùng phong phú.
Tỷ lệ số loài sống ở từng môi trường so với tổng số loài điều tra được:
Sống ở rừng chiếm tỷ lệ cao nhất 81,55% với 84/103 loài, hơn nửa số loài điều
tra được có thể kể đến các loài như: Gắm (Gnetum montanum Markgr) chữa
viêm đại tràng; Ráy (Alocasia macrorhizos (L.) G. Don) chữa bệnh gút; Thài lài
tía (Tradescantia zebrina Hort. ex Loud) có tác dụng chữa viêm nhiễm âm
đạo;... Nhờ hiểu biết về nhiều loài cây có giá trị làm dược liệu cuộc sống cộng
đồng dân tộc nơi đây cững được cải thiện.Tuy nhiên việc gắn bó và phụ thuộc
chủ yếu vào rừng trong tương lai sẽ làm giảm đa dạng sinh thái rừng, nguồn tài
nguyên cây thuốc cũng sễ bị cạn kiệt dẫn đến tri thức sử dụng cây thuốc của
cộng đồng nơi đây sẽ bị mai một. Thấy được người dân tại địa bàn nghiên cứu
cũng đã ý thức được giá trị, tầm quan trọng của cây thuốc khi đã đem cây thuốc
về vườn nhà trồng thuận tiện cho việc thu hái và sử dụng. Với tỷ lệ cây thuốc
sống ở vườn chiếm 34,95% với (36/103) loài bao gồm các loài đơn giản như:
Nghệ (Curcuma longa L.) chữa dải vàng; Mã đề (Plantago major L.) chữa mát
gan; Sâm cau (Peliosanthes teta Andr) chữa sinh lý nam; Lá lốt (Piper lolot C.
DC) chữa đau nhức lưng;... Chỉ có 1/103 loài sống ven sông ven suối với tỷ lệ rất
ít 0,97% đó là loài Sung đất (Ficus var. badiostrigosa Corn) dùng để tắm đẻ.
Như vậy nơi sống chiếm tỷ lệ cao nhất so với tổng số loài điều tra được
là môi trường rừng. Tuy nhiên, số lượng cây thuốc được trồng ở vườn nhà còn
37
ít nguồn cây thuốc chủ yếu lấy trong rừng, nhưng theo người dân nơi đây cây
thuốc trong rừng giờ rất khó tìm, phải vào sâu trong rừng mới tìm được cây
thuốc như ý muốn, trong đó có những loài quý hiếm Paris chinensis Franch
(Thất diệp) dùng để trị ho, hen suyễn, Fibraurea recisa Pierre (Hoàng đằng)
dùng để chữa viêm đường tiết niệu, đau khớp. Số lượng loài cây thuốc sống ở
rừng chiếm tỷ lệ cao hơn so với số lượng loài cây thuốc sống ở môi trường
sống ở vườn, nhiều loài mọc hoang ở môi trường này đều đã được người dân
đem về vườn nhà trồng. Tuy nhiên các cây thuốc điều tra được tại địa phương
thì không có loài nào là đặc hữu của Việt Nam.
4.2. Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam đã ghi nhận
được tại xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh thái Nguyên
Kết quả điều tra đã xác định các loài cây thuốc thuộc diện cần bảo vệ ở
khu vực xã Phú Xuyên được ghi tại Bảng 4.8.
Bảng 4.8. Danh lục cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ghi nhận
Cấp quy định
TT Tên phổ thông
Thuộc họ
NĐ - CP
SĐVN 2007
DLĐCT VN 2006
1
EN
VU
Bầu bí - Cucurbitaceae
2
EN
VU
3
IIA
IIA
4
VU
Đơn nem - Myrsinaceae Tiết dê - Menispermaceae Trọng lâu - Trilliaceae
5
EN
VU
Ngũ da bì - Araliaceae
6
VU
Giảo cổ lam - Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino Khôi - Ardisia silvestris Pitard Hoàng đằng - Fibraurea recisa Pierre Thất diệp - Paris chinensis Franch Ngũ da bì - Acanthopanax trifoliatus (L.) Voss Sâm cau - Peliosanthes teta Andr
Hạnh môn đông - Convallariaceae
38
Ghi chú: SĐVN: Sách đỏ Việt Nam; EN – Nguy cấp – Endangered; 06/NĐ – CP: Nghị định 06 của chính phủ; VU- Sắp nguy cấp – Vulnerable; DLĐCT: Danh lục đỏ cây thuốc
Để xác định được loài cây thuộc diện bảo tồn sử dụng pp tra tên việt
nam của loài, tên khoa học của loài trong từng danh mục của danh lục đỏ vn,
nghị định 06 nghị định cp loài cây thuộc cấp bậc bảo tồn và sách đỏ vn 2007.
Ở khu vực nghiên cứu có 6 loài cây thuốc quý hiếm, bị đe dọa tuyệt
chủng ở Việt Nam, thuộc 6 chi, 6 họ của một ngành thực vật bậc cao là ngành
Ngọc lan (Magnoliophyta). Trong đó: 4 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam
(2007) và trong Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam, 2 loài trong Nghị định 06
Dựa vào bảng trên đã thống kê được:
Cấp VU - Sắp nguy cấp trong sách đỏ Việt Nam năm 2007 có 1 loài là
Sâm cau - Peliosanthes teta Andr. thuộc họ Mạnh môn đông, có tác dụng
chữa bệnh sinh lý nam.
Cấp VU – Sắp nguy cấp trong danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam 2006 có
4 loài là Giảo cổ lam - Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino thuộc họ
Bầu bí – Cucurbitaceae có tác dụng chữa huyết áp cao; Khôi - Ardisia
silvestris Pitard thuộc họ Đơn nem – Myrsinaceae tác dụng chữa trào ngược
dạ dày; Thất diệp - Paris chinensis Franch thuộc họ Trọng lâu – Trilliaceae có
tác dụng trị ho, hen suyễn; Ngũ da bì - Acanthopanax trifoliatus (L.) Voss
thuộc họ Ngũ da bì – Araliaceae tác dụng chữa viêm khớp.
Cấp EN - nguy cấp trong sách đỏ Việt Nam năm 2007 có 3 loài đó là
loài Giảo cổ lam - Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino thuộc họ Bầu
bí – Cucurbitaceae có tác dụng chữa huyết áp cao; Khôi - Ardisia silvestris
Pitard thuộc họ Đơn nem – Myrsinaceae tác dụng chữa trào ngược dạ dày;
Ngũ da b - Acanthopanax trifoliatus (L.) Voss thuộc họ Ngũ da bì –
Araliaceae tác dụng chữa viêm khớp.
- Nghị định 06/NĐ - CP có 2 loài:
39
+ Thất diệp - Paris chinensis Franch thuộc họ Trọng lâu – Trilliaceae
có tác dụng trị ho, hen suyễn.
+ Hoàng đằng - Fibraurea recisa Pierre thuộc họ Tiết dê, có tác dụng
chữa viêm đường tiết niệu, đau khớp.
Trong quá trình thực hiện đề tài ở xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên tôi nhận thấy có 6 loài cây thuốc thuộc diện đang bị đe dọa tuyệt
chủng ở Việt Nam. Chính vì vậy, cần phải nâng cao ý thức bảo vệ của mọi
người để bảo tồn nguồn gen quý hiếm, phục vụ cho công tác chữa bệnh lâu
dài của người dân nơi đây.
Theo kết quả nghiên cứu công trình của Nguyễn Minh Hiếu và cs.
(2018) [30] tại xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên về điều tra
cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc tại khu vực
nghiên cứu, cho thấy loài cây thuốc cần được bảo vệ ở xã Phú Xuyên, huyện
Đại từ, tỉnh Thái Nguyên còn nhiều hơn và đa dạng hơn loài cây thuốc có ở
xã Liên Minh. Cụ thể là ở xã Liên Minh chỉ phát hiện được 2 loài cần bảo tồn,
còn ở xã Phú Xuyên phát hiện được 6 loài cần bảo tồn.
4.3. Vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân
tộc thiểu số ở xã Phú Xuyên, Huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên
4.3.1. Kinh nghiệm sử dụng bộ phận làm thuốc của cộng đồng dân tộc
thiểu sốở xã Phú Xuyên
Nghiên cứu về bộ phận sử dụng của các loài cây thuốc không chỉ cho
thấy tính chất phong phú và đa dạng trong khả năng chữa bệnh của các bộ
phận đó, mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với công tác bảo tồn, đồng thời, việc
nghiên cứu các bộ phận sử dụng làm thuốc của cây phần nào đánh giá được
tính bền vững trong thực trạng khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc
trong cộng đồng các dân tộc thiểu số. Kết quả thống kê về các bộ phận được
sử dụng làm thuốc theo kinh nghiệm của dân tộc.Trong quá trình thực tập tại
40
khu vực nghiên cứu, tôi nhận thấy kinh nghiệm sử dụng các loại cây cỏ làm
thuốc chữa bệnh của dân người đồng bào dân tộc tại xã Phú Xuyên, huyện
Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên khá phong phú và đặc sắc.
Để thấy rõ được tính đa dạng và phong phú về việc sử dụng các bộ
phận khác nhau của cây để chữa bệnh của người dân tộc ở khu vực nghiên
cứu,kết quả được tổng hợp tại Bảng 4.9.
Bảng 4.9. Đa dạng của các bộ phận cây được sử dụng làm thuốc
Dao Nùng Bộ phận STT sử dụng Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ %
1 Cả cây 67 69,07 6 60,00
2 Lá 43 44,33 3 30,00
3 Thân 28 28,87 2 20,00
4 Hạt 4 4,12 1 10,00
5 Rễ 3 3,09 0 0,00
6 Củ 2 2,06 1 10,00
7 Hoa 2 2,06 0 0,00
8 Vỏ 1 1,03 0 0,00
9 Bẹ 1 1,03 0 0,00
Tổng số 151 155,67 13 130
Tổng số loài phát hiện 97 10 của mỗi dt
(Ghi chú: Tỉ lệ % trong Bảng hơn 100% do một số loài có thể sử dụng
nhiều bộ phận khác nhau làm thuốc): Dân tộc: 1 – Nùng, 2 – Dao.
(Bảng loài cây cụ thể theo từng bộ phận sử dụng của từng dân tộc trích
phụ lục 4 trang 1).
41
Kết quả Bảng 4.9 cho thấy, đã xác định được có 9 bộ phận cây thuốc
được cộng đồng dân tộc Nùng, Dao sử dụng trong chữa trị bệnh cho người
dân, trong đó có 2 bộ phận được sử dụng nhiều nhất lần lượt là cả cây và lá.
Bộ phận sử dụng là cả cây được cả 2 dân tộc sử dụng nhiều nhất trong đó dân
tộc Dao có số lượng nhiều nhất với 67/97 loài, chiếm 69,07% so với tổng số loài
điều tra được từ dân tộc Dao, bên cạnh đó dân tộc Nùng cũng biết sử dụng với số
lượng và tỷ lệ là 6/10 (60,0%). Trong đó phải kể đến những loài cây có giá trị như:
Móc (còng giòng) – Caryota urens L, cây Kim giao (2.Miền đìa chai) – Nageia
fleuryi (Hickel) de Laub chữa các bênh ngộ độc thức ăn, xoang.
Cụ thể như sau:
- Đối với bộ phận lá dân tộc Dao biết sử dụng với số lượng nhiều nhất
với 40/97 loài, chiếm 44,33% so với tổng số loài điều tra được từ dân tộc
Dao, dân tộc Nùng có số lượng ít hơn với số lượng và tỷ lệ lần lượt là 3/10
loài (30,00%) so với tổng số loài điều tra được từ cộng đồng Nùng. Trong
nhóm này có thể kể đến một số loài như sau: cây Sổ (2.Sổ bà) -
Dillenniaceae được dân tộc Dao sử dụng để tắm đan giật, cây Đu đủ rừng
(2.Nhiềm đèng kem)- Trevesia palmata (Roxb. ex Lindl.) Visan được sử
dụng để chữa bênh đau lưng,…
- Đối với bộ phận thân: Cộng đồng dân tộc Dao đã biết sử dụng 28/97
loài (chiếm 28,87%), còn cộng đồng Nùng biết sử dụng 2/10 loài dùng làm
thuốc (chiếm 20,00%). Trong nhóm này có thể kể đến một số loài như: cây
Mắc ca (2.Mắc ca) – Macadamia integrifolia được dừng để chữa tim đập thất
thường và bảo vệ tim khỏe, cây Khế (2.Lố lằng) - Averrhoa carambola L
dùng để chữa dị ứng cây sơn,…
Có sự phân bố không đồng đều trong các bộ phận sử dụng là thuốc là
do đặc tính về thời vụ, do quan niệm chữa bệnh, do loại bệnh và do hạn chế
về số lượng các loài cây thuốc.
42
4.3.2. Kinh nghiệm về nhóm bệnh chữa trị của cộng đồng dân tộc thiểu số
ở xã Phú Xuyên
Kết quả nghiên cứu đã thống kê được 16 nhóm bệnh mà cộng đồng
dân tộc Dao, Nùng ở khu vực nghiên cứu đã sử dụng cây thuốc để phòng
và chữa bệnh.
Kết quả chi tiết được ghi tại Bảng 4.10:
Bảng 4.10. Tỷ lệ số loài có công dụng chữa các nhóm bệnh cụ thể
Nùng
Dao
STT
Nhóm bệnh chữa trị
Tỷ lệ %
Tỷ lệ %
Số loài
Số loài
1
1
10,00
20
20,62
2
0
0,00
24
24,74
3
3
13
13,40
30,00
4
2
14
14,43
20,00
5
1
10,00
9
9,28
6
0
0,00
6
6,19
7
0
0,00
6
6,19
8
0
0,00
4
4,12
Nhóm bệnh đường tiêu hóa (viêm đại tràng, trĩ, nhiễm trùng đường ruột, loét dạ dày, viêm đường ruột,…) Nhóm bệnh về xương khớp, hệ vận động (gai cột sống, thấp khớp, phong thấp, đau cơ khớp, gút,…) Nhóm bệnh đường tiết niệu (viêm thận, tan sỏi thận, thận hư, phù thận, suy thận,…) Nhóm bệnh phụ nữ, sinh sản, sinh dục, sinh lý (viêm nhiễm phụ khoa, tắc sữa, điều kinh,…) Nhóm bệnh về gan (viêm gan B, đau gan, xơ gan, giải độc gan, mát gan) Nhóm bệnh của trẻ em (tắm trẻ em, cam sài trẻ con, tắm đan giật, cam trẻ con) Nhóm bệnh ngoài da (dị ứng ngoài da, mụn nhọt, đắp nhọt,…) Nhóm bệnh đường hô hấp (ho, hen suyễn, viêm họng)
9 Nhóm bệnh về mắt (sạch mắt) 10 Nhóm bệnh về mũi (xoang, viêm xoang mũi)
0 1
0,00 10,00
1 3
1,03 3,09
11
1
10,00
3
3,09
12
0
0,00
4
4,12
Nhóm bệnh về tim mạch (suy tim, tim đập thất thường, loan nhịp tim, bảo về tim khỏe) Nhóm bệnh về thần kinh ( huyết áp cao, mỡ máu, máu trắng ) 13 Thuốc bổ ( Thanh nhiệt ) 14 Nhóm bệnh do thời tiết (Trúng gió )
1 0
10,00 0,00
0 1
0,00 1,03
15
0
0,00
2
2,06
Nhóm bệnh về ung bướu (…Ung thư lá nách, Trị u tán bướu…)
16 Nhóm về ngộ độc ( giải độc )
10,00 110,000
113,402
Tổng số: Tổng số loài phát hiện của mỗi dt:
1 11 10
110 97
Chú thích: Tỷ lệ % ở bảng lớn hơn 100 do một số loài có thể sử dụng chữa.
43
(Bảng tên chi tiết các loài cây theo bộ nhóm bệnh trích phụ lục 4 trang 2).
Hình 4.2: Tỷ lệ nhóm bệnh chữa trị từ nguồn cây thuốc theo kinh nghiệm
sử dụng trong cộng đồng dân tộc
Theo kết quả điều tra thì người dân nơi đây sử dụng cây thuốc để chữa
trị 16 nhóm bệnh khác nhau. Có những căn bệnh nan y như bệnh gan, thận,
tim,... Trong đó, số lượng cây thuốc được sử dụng để chữa trị tập trung phần
lớp vào 4 nhóm bệnh là:
Với cộng đồng dân tộc Nùng: số lượng cây thuốc được sử dụng để chữa
trị tập trung lớn vào 2 nhóm bệnh là nhóm bệnh đường tiết niệu với 3/11 loài cây
(chiếm 30% so với tổng số loài được dùng theo kinh nghiệm người Nùng) đứng
thứ hai là nhóm bệnh phụ nữ, sinh sản, sinh dục, sinh lý với 2/11 loài cây (chiếm
20% so với tổng số loài được dùng theo kinh nghiệm người Nùng).
Tương tự, với cộng đồng dân tộc Dao: số lượng cây thuốc được sử dụng để
chữa trị tập trung lớn vào 3 nhóm bệnh là nhóm bệnh là nhóm bệnh đường tiêu
hóa với 20/110 loài cây (chiếm 20,62% so với tổng số loài được dùng theo kinh
nghiệm người) tiếp theo là nhóm bệnh về xương khớp, hệ vận động với 24/110
loài cây (chiếm 24,74% so với tổng số loài được dùng theo kinh nghiệm người
44
Dao). Cuối cùng là nhóm bệnh phụ nữ, sinh sản, sinh dục, sinh lý với 14/110 loài
cây (chiếm 14,43% so với tổng số loài được dùng theo kinh nghiệm người Dao).
Nhìn chung, kinh nghiệm sử dụng nguồn tài nguyên cây cỏ làm thuốc
các dân tộc thiểu số Nùng, Dao ở xã Phú Xuyên rất đa dạng và phong phú.
Trong đó, dân tộc Dao thể hiện tính nổi bật hơn về kinh nghiệm sử dụng cây
thuốc thông qua số lượng loài cây thuốc biết cách sử dụng và số lượng nhóm
bệnh chữa trị cho người dân.
4.3.3. Ảnh hưởng của sự giao thoa giữa các dân tộc đến vốn tri thức bản
địa trong việc sử dụng cây thuốc ở xã Phú Xuyên
Trải qua quá trình sinh sống lâu dài, cùng với lịch sử chinh phục thiên
nhiên và phòng chống bệnh tật, mỗi cộng đồng dân tộc đều thể hiện được
những sự sáng tạo riêng biệt của mình. Mỗi dân tộc đã tìm ra những phương
thức ứng xử khác nhau để vượt qua sự khắc nghiệt của thiên nhiên, trong đó
không thể không kể đến việc sử dụng nguồn tài nguyên cây cỏ có sẵn trong tự
nhiên để chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng. Việc khai thác nguồn tài nguyên
cây thuốc để đáp ứng như cầu chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng đã là một tập
quán lâu đời của cộng đồng dân tộc Nùng và Dao tại xã Phú Xuyên. Cùng với
đó, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc để chữa bệnh cũng được tích lũy từ thế hệ
này sang thế hệ khác. Trong quá trình điều tra cho thấy cả 2 dân tộc Nùng và
Dao đều cùng sử dụng một số cây thuốc chữa bệnh tại bảng kết quả dưới đây:
Bảng 4.11. Danh sách cây thuốc được cả 2 dân tộc Nùng, Dao
tại xã Phú Xuyên sử dụng
STT
Tên khoa học
Tên việt nam
Tên dân tộc
Công dụng
Huyết dụ
Cordyline fruticosa (L.) 1 Goepp
1,2. Quyền diềm sĩ
1
2
Euphorbia tirucalli L.
1,2. Giao
Giao (xương khô, xương cá )
2
1. Kinh nguyệt 2. Mát thận, phụ khoa xấu máu 1,2. Lợi sữa, xoang
3
1,2. Cà gai leo
Solanum procumbens Lour
Cà gai leo (cà quạnh, cà gai dây)
3
2,1. Viêm gan B, đau gan
45
Qua Bảng 4.11 cho thấy, cả 2 dân tộc đều sử dụng chung 3 loài cây
thuộc 3 họ thực vật khác nhau. Phần lớn những loài cây thuốc này mọc phổ
biến ở trong tự nhiên, sống ở trong rừng, quanh làng xóm, quanh làng bản,
đồi cây bụi, đồi trọc, trảng cỏ, ven suối.
Những kinh nghiệm sử dụng cây thuốc này chỉ được sử dụng qua
phương thức lưu truyền trong phạm vi từng cộng đồng, cùng với đặc trưng
truyền miệng từ đời này sang đời khác do đó có nguy cơ mai một cao, vì vậy
rất cần có những biện pháp thu thập nguồn tri thức quý giá này để phổ biến
cho cộng đồng, phục vụ công tác chữa bệnh. Mặc dù ngôn ngữ của mỗi dân
tộc thuộc nhiều nhóm khác nhau, song do các dân tộc sống xen kẽ nhau nên
có sự ảnh hưởng giao thoa nhất định về mặt ngôn ngữ cũng như tri thức bản
địa trong việc sử dụng tài nguyên cây thuốc để chữa bệnh.
Nhiều cây thuốc được gọi tên dựa theo kinh nghiệm của dân tộc nào đó.
Mặt khác, cũng nhiều cây thuốc được các dân tộc cùng gọi một tên dựa vào
các đặc điểm hình thái của cây như cây Giao (xương khô, xương cá) -
Euphorbia tirucalli L, cây cà gai leo (cà quạnh, cà gai dây) - Solanum
procumbens Lour.
Ngoài việc giao thoa trong cách gọi tên của các thầy lang bà mế giữa
các dân tộc Nùng, Dao tại xã Phú Xuyên còn có sự giao thoa trong cách sử
dụng chữa bệnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có nhiều loài cây được cả 2
cộng đồng dân tộc sử dụng để chữa trị cùng một nhóm bệnh.
Vì vậy kinh nghiệm sử dụng cây cỏ của các dân tộc cư trú tại xã Phú
Xuyên là đáng tin cậy và cần được nhân rộng trong cộng đồng.
4.3.4. Vấn đề truyền thụ kiến thức về cây thuốc trong cộng đồng các dân
tộc ở xã Phú Xuyên
Kết quả điều tra cho thấy, tại khu vực nghiên cứu hầu hết nam giới có
kinh nghiệm sử dụng cây thuốc nhiều hơn nữ giới bởi vì trong nhiều dân tộc
46
thì nam giới được ưu tiên với việc chuyển giao kiến thức về cây thuốc từ đời
trước sang đời sau.
Bảng 4.12. Số lượng thầy thuốc được phỏng vấn theo từng dân tộc
ở KVNC
Stt
Dân tộc
Số thầy thuốc phỏng vấn Tỷ lệ %
1
1
Nùng
7.69
12
2
Dao
92.31
13
Tổng
100
Dữ liệu cho thấy, số lượng thầy thuốc chiếm đa số hơn là người dân tộc
Dao có 12 người được phỏng vấn có tỷ lệ 92.31% so với tổng thầy thuốc được
phỏng vấn. Tại xã Phú Xuyên những thầy thuốc chủ yếu là nữ giới và thuộc
nhóm tuổi từ 50 - 75 tuổi.
Bảng 4.13. Tỷ lệ về độ tuổi và giới tính của các thầy thuốc ở KVNC
Nhóm tuổi
Giới tính
Số người
Tổng
>75
Nam
1
3
Nữ
2
50-75
Nam
2
8
Nữ
6
25-49
Nam
2
2
Nữ
0
<25
Nam
0
Nữ
0
Tổng số nam
5
Tổng số nữ
8
Về độ tuổi, từ 50 - 70 đây là độ tuổi mà con người thường tích lũy được
nhiều kinh nghiệm sống, trong đó có việc thu lượm những kiến thức thực tế từ
47
những người xung quanh hoặc từ sự truyền đạt những bí quyết của những
người cao tuổi trong gia đình, dòng họ liên quan đến việc chữa trị các bệnh.
Điều này đã lý giải tỉ lệ thầy thuốc nằm trong độ tuổi 50 – 75 so với nhóm có
độ tuổi trẻ hơn là lớn hơn. Mặt khác người ở độ tuổi từ 25 đến dưới 50 tuổi là
nguồn lao động chính trong gia đình, do vậy họ thường chú tâm vào các hoạt
động sản xuất chính như làm nương rẫy, chăn nuôi, kinh doanh tạo nguồn thu
nhập để đảm bảo cuộc sống hàng ngày của gia đình. Những người dưới 25
tuổi chưa tham gia vào việc sử dụng cây cỏ làm thuốc theo kinh nghiệm theo
ông cha đi trước bởi vì ở độ tuổi này chủ yếu là độ tuổi còn đang đi học, tham
gia các hoạt động xã hội, chưa tích lũy được nhiều kinh nghiệm, vốn sống và
những kiến thức bản địa của các bậc cao nhân truyền lại.
Như vậy, qua kết quả phỏng vấn 13 thầy thuốc ở xã Phú Xuyên, huyện
Đại Từ cho thấy hầu hết các kiến thức về cây thuốc của cộng đồng Nùng, Dao
đều được truyền miệng qua các thế hệ. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng,
việc chuyển giao kinh nghiệm chữa bệnh chỉ được truyền lại cho con cháu
trong gia đình. Do đó việc giữ gìn các giá trị truyền thống về y học dược thảo
thì việc hệ thống hóa lại kiến thức thực vật và chuyển giao kiến thức đảm bảo
tính liên tục trong các cộng đồng dân tộc là thực sự cần thiết
4.4. Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc được sử
dụng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu
Từ kết quả nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng
một số dân tộc ở khu vực nghiên cứu trong việc phòng và điều trị một số bệnh
nhiễm khuẩn, tôi tiến hành lựa chọn cây Mã tiền lông - Strychnos ignatii Berg và
cây Vẩy ốc - Phyllanthus virgatus Forst. & Forst. F để tiến hành đánh giá hoạt
tính kháng khuẩn (HTKK) của cây. Kết quả thể hiện ở bảng 4.14 và hình 4.4
48
Bảng 4.14. Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết từ cây Mã tiền lông
và cây Vẩy ốc
Đơn vị tính: mm
Cao chiết
Đối chứng
Đối chứng
Đối chứng
Mã tiền lông
Vỏ ốc
dương - K1
dương - K2
âm (Dung
(MTL)
(VO)
Vi khuẩn
(Amikacin)
(Kanamicin)
môi)
S. aureus
23,4±0,8
10,7±0,3
20,1±0,5
24,2±0,9
0
E. coli
25,1±0,5
23,1±0,6
19,2±0,3
21,7±0,4
0
Qua dữ liệu trên cho thấy, hai loài khảo sát (Mã tiền lông và Vẩy ốc)
đều có hoạt tính ức chế đối với chế với cả 2 vi khuẩn gây bệnh Gram dương
(S. Aureus) và Gram âm (E. coli) với vòng ức chế đạt được với loài Mã tiền
lông là 23,4 mm với vi khuẩn Gram dương (S. aureus) và 25,1mm với vi
khuẩn Gram âm (E. Coli). Trương tự với cây Vẩy ốc là 10,7mm với vi khuẩn
Gram dương (S.aureus) và 23mm, vi khuẩn gây bệnh. Cả 2 loài Mã tiền lông
và Vẩy ốc đều có hoạt tính cao ức 1 mm với vi khuẩn Gram âm (E. Coli).
So sánh giữa 2 loài cho thấy loài Mã tiền lông có hoạt tính kháng
khuẩn mạnh hơn loài Vẩy ốc. Cả 2 loài này có hoạt tính kháng khuẩn khá
mạnh, tuy nhiên hoạt tính ức chế vi khuẩn gây bệnh Gram dương của 2 loài
vẫn yếu hơn so với kháng sinh Kanamicin cùng so sánh (đối với loài Mã tiền
lông yếu hơn không đáng kể). So với đối chứng âm (dung môi) thì cả 2 loài
cây mẫu đều có tính kháng khuẩn, ngược lại đối chứng âm (dung môi)
không có tính kháng khuẩn đối với 2 vi khuẩn gây bệnh Gram dương (S.
Aureus) và Gram âm (E. coli).
Từ kết quả phân tích hoạt tính kháng khuẩn tôi đề xuất, có thể sử dụng
cây Mã tiền lông và Vẩy ốc để phòng ngừa và kiểm soát một số bệnh nhiễm
khuẩn do S. aureus (Tụ cầu vàng) và E. coli gây ra. Kết quả này là một bằng
chứng khoa học chứng minh kinh nghiệm sử dụng các cây thuốc này trong
49
việc phòng chống một số bệnh nhiễm khuẩn của cộng đồng các dân tộc thiểu
số ở xã Phú Xuyên, huyện Đại Tư, tỉnh Thái Nguyên.
Hình 4.3: Hoạt tính ức chế E. coli và S. aureus của cây Mã tiền lông
và cây Vẩy ốc
Chú thích: TVC: Staphylococus aureus; E. coli: Escherichia coli; ĐC:
Đối chứng âm (Dung môi); K1: Đối chứng dương (Amikacin); K2: Đối chứng
dương (Kanamicin); MTL: Mã tiền lông; VO: Vẩy ốc
50
PHẦN 5
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
Nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong cộng
đồng dân tộc tại xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, tôi đã thu
được những kết quả sau:
- Xác định được 103 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc ngành Ngọc
lan có 101 loài thuộc 89 chi và 57 họ, thuộc ngành Thông với 1 loài thuộc 1 chi
và 1 họ, thuộc ngành Gắm có 1 loài thuộc 1 chi và 1 họ có công dụng làm thuốc.
Số họ thực vật làm thuốc là 59 họ. Trong đó, họ nhiều loài nhất là họ Cúc
(Asteraceae) với 9 loài, họ Đại kích (Euphorbiacea) 6 loài, họ Đậu (Fabaceae) và
họ Cà Phê (Rubiaceae) với 5 loài.Trong 91 chi, có 1 chi có 3 loài được sử dụng
làm thuốc đó là chi Hibiscus thuộc họ Bông bụp (cẩm quỳ).
- Dạng cây thuốc được người dân sử dụng nhiều nhất là dạng cây
thảo với 41 loài, cây bụi có 37 loài, dây leo có 13 loài, cây nhỏ 11 và gỗ
lớn có 1 loài.
- Nơi sống chủ yếu của cây thuốc là chủ yếu ở rừng với 84 loài, ở rừng
36 loài và ở ven suối là ít nhất 1 loài.
Số lượng cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn có 6 loài chiếm 6,18% tổng
số loài cây thuốc thu được, gồm các loài: Thất diệp (2.Bảy lá một hoa) - Paris
chinensis Franch; Hoàng đằng (2.Nàng nhà) - Fibraurea recisa Pierre; Giảo
cổ lam (1.Giảo cổ lam) - Gynostemma pentaphyllum (Thunb.); Dracaena
cambodianaPierre ex Gagnep Huyết giác) (2.Huyết giác) ; Khôi (2.Đìa giàng
phản, đèng phản, lì sàng phản, đùng phản) - Ardisia silvestris Pitard; Ngũ da
bì (2.Đèng tây hây, chân chim) - Acanthopanax trifoliatus (L.) Voss.
51
- Sử dụng các bộ phận để làm thuốc bao gồm: Cả cây có 73 loài, lá có
46 loài, thân có 30 loài, rễ có 3 loài, hoa có 2, củ có 3, hạt có 5, loài và cuối
cùng cả bẹ và vỏ đều có 1 loài. Trong đó một số loài cây được cả hai dân tộc
cùng sử dụng để chữa các bệnh giống và khác nhau, như cây Giao (xương
khô, xương cá) - Euphorbia tirucalli L cùng được sử dụng để chữa xoang và
lợi sữa. Có sự giao thoa về kiến thức sử dụng cây thuốc của các dân tộc trong
khu vực nghiên cứu.
- Đã thống kê được 16 nhóm bệnh khác nhau được chữa trị bằng kinh
nghiệm sử dụng cây thuốc trong cộng đồng dân tộc Nùng, Dao tại khu vực
nghiên cứu. Trong đó số lượng cây thuốc được sử dụng để chữa trị tập trung
phần lớp vào các nhóm bệnh là: bệnh về tiêu hóa; bệnh về đường tiết niệu;
bệnh về xương khớp, nhóm bệnh phụ nữ sinh sản,sinh dục,sinh lý.
- Đã xác định được có 3 loài cây cùng được cả 2 dân tộc Nùng và Dao tại khu
vực nghiên cứu sử dụng trong phòng và chữa trị bệnh.
- Qua kết quả phân tích hoạt tính kháng khuẩn, cho thấy có thể sử dụng
cây Vảy ốc và cây Dây gió để phòng ngừa và kiểm soát một số bệnh nhiễm
khuẩn do S. aureus (Tụ cầu vàng) và kiểm soát một số bệnh nhiễm khuẩn do
E. coli gây ra.
5.2. Đề nghị
- Cần tiếp tục mở rộng khu vực điều tra và nghiên cứu về tài nguyên
cây thuốc để có kế hoạch bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu cho tương lai.
- Tiếp tục nghiên cứu và đánh giá tính hiệu quả của các loài cây
thuốc mà đồng bào dân tộc tại xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên sử dụng.
- Xây dựng những vườn thuốc trong gia đình cho những gia đình
lương y hay những gia đình có những người biết sử dụng thuốc ở các thôn
52
bản để bảo vệ nguồn gen quý và hướng dẫn cách trồng hái, chế biến cho
phù hợp.
- Với những loài cây thuốc thuộc dạng quý hiếm cần hướng dẫn nhân
dân nhận biết và tiến hành bảo vệ rừng, hạn chế khai thác một cách cạn kiệt
các loài cây thuốc để bán sang Trung Quốc.
53
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A.TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT.
1. Tào Duy Cần (2001), Thuốc Nam, thuốc Bắc và các phương thang chữa
bệnh, Nxb Khoa học và Kỹ Thuật.
2. Tào Duy Cần (2006), Thuốc bệnh 24 chuyên khoa, Nxb Y học, Hà Nội.
3. Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải (2003), “Điều tra cây thuốc của đồng
bào dân tộc Thái, xã Xuân Hạnh, huyện Quỳ Châu – Nghệ An”, Nxb
Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội.
4. Đặng Quang Châu (2011), “Một số dẫn liệu về cây thuốc của dân tộc
Thái ở huyện Nghĩa Đàn – Nghệ An”, Tạp chí Sinh học, tập 23.
5. Võ Văn Chi (1996), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội.
6. Võ Văn Chi (2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb Hà Nội, tập 1-2.
7. Lưu Đàm Cư, Hà Tuấn Anh, Trương Anh Thư (2004), “Các cây có ích
của dân tộc H’mông và khả năng ứng dụng trong phát triển kinh tế”, Nxb
Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội.
8. Nguyễn Thượng Dong (chủ biên) và nhiều tác giả (2006), “Nghiên cứu
thuốc từ thảo dược”, Nxb Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội.
9. Lê Trần Đức (1997), Cây thuốc Việt Nam, trồng hái chế biến và trị bệnh
ban đầu, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
10. Phạm Hoàng Hộ (2001), Cây cỏ Việt Nam, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.
11. Phạm Hoàng Hộ (2006), Cây có vị thuốc ở Việt Nam, Nxb Trẻ, Tp Hồ
Chí Minh.
12. Lê Thị Thanh Hương (2007), “Điều tra và đánh giá tính đa dạng nguồn
tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc Tày ở một số xã của huyện
Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại
học Quốc gia Hà Nội.
54
13. Âu Anh Khâm (2001), 577 bài thuốc dân gian gia truyền (sách dịch),
Nxb Thanh niên, Hà Nội.
14. Đỗ Tất Lợi (2005), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Hà Nội,
Hà Nội.
15. Nguyễn Tập (2007), Cẩm nang cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam, Nxb
Mạng lưới lâm sản ngoài gỗ Việt Nam, Hà Nội.
16. Phạm Thiệp, Lê Văn Thuần, Bùi Xuân Chương (2000), Cây thuốc, bài
thuốc và biệt dược, Nxb Y học, Hà Nội.
17. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật, Nxb
Nông nghiệp, Hà nội.
18. Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp nghiên cứu thực vật, Nxb
Đại Học Quốc gia Hà Nội.
19. Nguyễn Nhân Thống (2008), Danh y tuổi tý, Hội Đông y Việt Nam –
Tạp chí Đông y – số 405/2008.
20. Nguyễn Thị Thủy, Phạm Văn Thỉnh (2004), “Nghiên cứu xây dựng và
bảo tồn cây thuốc ở Sa Pa”, Thái Nguyên, Nxb Khoa học và Kỹ thuật,
Hà Nội.
21. Trần Thúy, Vũ Nam, Nguyễn Văn Toại (2005), Lý luận Y học cổ truyền,
Nxb Y học, Hà Nội.
22. UBND xã Phú Xuyên (2020), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh
tế xã hội năm 2019 và phương hướng nhiệm vụ năm 2020
23. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Sách đỏ Việt Nam, phần Thực vật.
Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ.
24. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019), Nghị định
06/2019/CP – NĐ về nghiêm cấm, hạn chế khai thác và sử dụng các loài
động thực vật hoang dã.
55
25. Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4 (2011), Báo cáo Khoa học về
Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
26. Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà
Nội (2009). Danh lục các loài thực vật Việt nam. Nxb Nông nghiệp, Hà
nội, tập 2 – 3.
27. Viện Dược Liệu (1993), Tài Nguyên cây thuốc Việt Nam, Nxb Khoa học
và Kỹ thuật, Hà Nội.
28. Nguyễn Thị Kim Oanh (2015), “Tri thức bản địa về khai thác và sử dụng
tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại khu rừng du lịch văn
hóa xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn”, Khóa luận tốt nghiệp
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
29. Bùi Thị Ngân (2018) “Tri thức bản địa trong sử dụng, bảo tồn và phát
triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Hà Lang,
huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên.
30. Nguyễn Minh Hiếu, Vàng Sảo Hai, Lồ Di Mềnh, Giàng A Cắng, Hờ A
Bình (2018) “Điều tra cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của
cộng đồng dân tộc Dao tại xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái
Nguyên”
31. Nông Thái Hòa (2018) “nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính
kháng khuẩn của một số loài cây thuốc tại xã Hoàng Nông, huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên.
32. Dương Văn Hưng (2018) “Nghiên cứu tri thức sử dụng cây thuốc tại xã
Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”, Khóa luận tốt nghiệp
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
56
33. Ma Văn Khiêm (2018) “Tri thức bản địa trong sử dụng, bảo tồn và phát
triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại xã Tân An,
huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên.
34. Vàng A Lả (2018) “Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng
khuẩn của một số loài cây thuốc tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh
Thái Nguyên”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
35. Lục Thanh Sắc (2018) “Tri thức bản địa trong sử dụng, bảo tồn và phát
triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại xã Hà Lang,
huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên.
B.TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI
36. Ahmad Cheikhyoussef, Martin Shapi, Kenneth Matengu và Hina Mu
Ashekele (2011), “Research on the botany of indigenous knowledge of
medicinal plants used by traditional healers in the area Oshikoto,
Namibia”, Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine.
37. Arshad Abbasi, Mir Khan, Munir H Shah, Mohammad Shah, Arshad
Pervez, Mushtaq Ahmad (2012), “Ethnobotanical appraisal and cultural
values of medicinally important wild edible vegetables of Lesser
Himalayas - Pakistan”, Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine.
38. Auemporn Junsongduang, Henrik Balslev, Angkhana Inta, Arunothai
Jampeetong, Prasit Wangpakapattanawong (2013), “Medicinal plants
from swidden fallows and sacred forest of the Karen and the Lawa in
Thailand”, Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine.
39. Balcha Abera (2014), “Medicinal plants used in traditional medicine by
Oromo people, Ghimbi District, Southwest Ethiopia”, Journal of
Ethnobiology and Ethnomedicine.
57
40. Behxhet Mustafa, Avni Hajdari , Feriz Krasniqi, Esat Hoxha, Hatixhe
Ademi, Cassandra L Quave và Andrea Pieroni (2012), “Medical
ethnobotany of the Albanian Alps in Kosovo”, Journal of Ethnobiology
and Ethnomedicine.
41. Berhane Kidane, Tinde van Andel, Laurentius van der Maesen, Zemede
Asfaw (2014), “Use and management of traditional medicinal plants by
Maale and Ari ethnic communities in southern Ethiopia”, Journal of
Ethnobiology and Ethnomedicine.
42. Cecilia Almeida, Elba de Amorim, Ulysses de Albuquerque, Maria Maia
(2006), “Medicinal plants commonly used in the area Xingo - a place in
the semi - arid northeastern Brazil”, Journal of Ethnobiology and
Ethnomedicine.
43. David J Simbo (2010), “A survey of the botany of medicinal plants in
Babungo, northwestern region, Cameroon”, Journal of Ethnobiology and
Ethnomedicine.
44. Dol Luitel, Maan B Rokaya, Binu Timsina, Zuzana Münzbergová
(2014), “Medicinal plants used by the Tamang community in the
Makawanpur district of central Nepal”, Journal of Ethnobiology and
Ethnomedicine.
45. Eduardo Estrada-Castillón, Miriam Garza-López, José
VillarrealQuintanilla, María Salinas-Rodríguez, Brianda Soto-Mata,
Humberto González-Rodríguez, Dino González-Uribe, Israel Cantú-
Silva, Artemio Carrillo-Parra, César CantúAyala (2014), “Ethnobotany
in Rayones, Nuevo León, México”, Journal of Ethnobiology and
Ethnomedicine.
46. Gabriele Volpato, Daimy Godínez, Angela Beyra, Adelaida Barreto
(2009), “Use of medicinal plants of Haitian immigrants and their
58
descendants in the province of Camagüey, Cuba”, Journal of
Ethnobiology and Ethnomedicine.
47. Gaia Luziatelli, Marten Sørensen, Ida Theilade, Per Mølgaard (2010),
“Ashaninka medicinal plants: a case study from the indigenous
communities of the Bajo Quimiriki, Junín, Peru”, Journal of
Ethnobiology and Ethnomedicine.
48. Gorka Menendez-Baceta, Laura Aceituno-Mata, María Molina, Victoria
ReyesGarcía, Javier Tardío, Manuel Pardo-de-Santayana (2014),
“Medicinal plants traditionally used in the northwest of the Basque
Country (Biscay and Alava), the Iberian Peninsula”, Journal of
Ethnopharmacology.
49. Homervergel G. Ong, Young-Dong Kim (2014), “The study of botany
quantification of the medicinal plants used by indigenous Ati Negrito
groups in the island of Guimaras, Philippines”, Journal of
Ethnopharmacology.
C. TÀI LIỆU INTERNET
50. Nghiên cứu tài nguyên thực vật rừng Việt Nam (2009)
http://botanyvn.com/cnt.asp?param=news&newsid=735
51. Nguyễn Hoàng Sơn (2014), “Sự cần thiết phát triển dược liệu”
https://baomoi.com/su-can-thiet-phat-trien-duoc-lieu
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1
Một số hình ảnh chụp cùng thầy lang bà mế tại khu vực nghiên cứu
Phỏng vấn bà Lương Thị Hoa, xóm Quyên (dân tộc Nùng).
Phỏng vấn bà Lương Thị Vinh dân tộc Dao xóm Tân Lập
Phỏng vấn ông Phùng Văn Lập tại xóm Tân Lập (dân tộc Dao).
Bà Lương Thị Thanh (dân tộc Dao) tại xóm Tân Lập.
Phỏng vấn ông Bàn Văn Thanh tại xóm Tân Lập (dân tộc Dao).
PHỤ LỤC 2
Một số hình ảnh trong quá trình thu mẫu cây phân thích HTKK
1. Cây Vẩy ốc ở tọa độ tại KVNC (21.6545953, 105.5424286) 2. Cây Dây gió ở tọa độ tại KVNC (21.6583839, 105.5356906)
3. Rửa cây mẫu 4. Băm cây mẫu
5. Mẫu cây Vảy ốc sau khi băm 6. Mẫu cây Dây gió sau khi băm
7. Phơi mẫu cây phân thích
Phụ lục 3 Bảng danh sách các cây thuốc đã thu thập được tạị xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Stt
Tên khoa học
Tên phổ thông
Dạng sống
MT sống
BPS D
Cách SD
Công đụng
NĐ- 32
Tên khoa học của họ
Tên VN của họ
Tên dân tộc
SĐV N (1996)
IUCN Ređ list (2004)
đL đỏ cây Thuốc VN (2001)
A
Dân tộc (1 Nùng ; 2 Dao )
NGÀNH THÔNG - Pinophyta
A1 Lớp
1
Pinopsida Podocarpa ceae
Mi
2.R
1
2
Podocarpa ceae
2.Cc, L
2.T, K
2.Miề n đìa chai
HỌ THÔNG TRE Kim giao, (Kim giao đá vôi )
HỌ THÔN G TRE
Nageia fleuryi (Hickel) de Laub
VU.B1a, b (i-v ).c1.c2a( i)
B
2.Ngộ độc thức ăn, xoang
Ngành Dây Gắm - Gnetophyt a B1 Lớp Dây
2
gắm - Gnetopsid a Gnetaceae HỌ DÂY
2
Gnetaceae HỌ
Lp
2.R
2.Th
2.K
2
2.Mu m pây
Gnetum montanum Markgr
DÂY GẮM
2.Viêm đại tràng
C
Ngành
GẮM Gắm ( Rau bép, Rau ranh, Bét, )
Ngọc lan - MAGNOL IOPHYtA
3
C1 Lớp Một lá mầm - Liliopsida Asteliacea e
HỌ HUYẾT DỤ Huyết dụ Asteliacea
Na
3
1,2
e
1,2.V u,R
1,2.C c,L
Cordyline fruticosa (L.) Goepp
HỌ HUYẾ T DỤ
1,2.Q uyền diềm sĩ
Na
4
2
Cordyline stricta Endl
Asteliacea e
2.Vu, R
2.Cc, L
1,2.K 1.Kinh nguyệt 2.Mát thận, phụ khoa , xấu máu 2.Máu trắng
2.T, K
HỌ HUYẾ T DỤ
Huyết dụ thắng (huyết dụ hẹp) Alliaceae HỌ
2.Quy ền diêm pe
4
HÀNH Hẹ
2.Hẹ
Th
2.Vu
2.Cc
2.T
5
2
Allium odorum L
2.Sinh lý nam
Alliaceae HỌ HÀN H
Tỏi
Th
2.Vu
2.Cc
6
2
Allium sativum L
2.Phủ n
2.T, K
Alliaceae HỌ HÀN H
5
Cannaceae HỌ
2.Viêm xong mũi
DONG RiỀNG
7
Th
1,2
1.Củ 2.Cc
Canna edulis Ker- Gawl
Dong đỏ ( dong rềng ,chuối củ )
1,2.D ong đỏ
1.R 2.Vu, R
1.T, K 2.T
1. Suy Tim 2. Giải rượu
6 8
HỌ RÁY Ráy
Araceae
Th
2.R
2.Th
2.K
2.Gút
2
Cannaceae HỌ DON G RiỀN G HỌ RÁY
2. Ráy
7
Araceae Alocasia macrorhizo s (L.) G. Don Iridaceae HỌ
9
Iridaceae HỌ
Th
2.Cc
2.K
2
2.Rẻ quạt
2.Vu, R
2.Viêm họng
Belamcand a chinensis (L.) DC
DIÊN VĨ ( LAY ƠN ) Rẻ quạt ( Xạ can,Lưỡi lòng )
DIÊN VĨ ( LAY ƠN )
8
Costaceae HỌ MÍA
10 Costus
Th
2.Vu
2.Th
2.K
2
2.Sỏi thận
2.Điề n dạy lình
speciosus (Koenig) Smith
DÒ ( ĐÓT ĐẮNG ) Mía dò ( sẹ vàng,đót đắng)
Costaceae HỌ MÍA DÒ ( ĐÓT ĐẮN G )
9
Poaceae
HỌ HÒA THẢO ( LÚA )
11
Saccharum Mía tím (
Poaceae
HỌ
1.Mía Th
1.Vu
1.Cc
1.K
1.Viêm 1
cam giá )
tím
officinaru m L
thận,đá i dắt
Poaceae
Th
2.R
2.Th
2
Sả đỏ ( sả tía )
2.T, K
2.Hậu sản
2.Đìa sản kía
HÒA THẢO ( LÚA ) HỌ HÒA THẢO ( LÚA )
Poaceae
Na
2.R
2.Cc
2.K
2
13
Sậy ( Sậy trúc )
2.Tắm trẻ con
2.Cột tị
12 Cymbopog on pendulus (Nees ex Steud.) Wats Arundo donax L
HỌ HÒA THẢO ( LÚA )
10 Zingiberac eae 14 Curcuma
Th
2.Vu
2.Củ
2.T
2
longa L
Zingiberac eae
2.Dải vàng
2.Vàn g chang
HỌ GỪN G
Th
2.Vu
2.Cc
2.T
2
HỌ GỪNG Nghệ ( Nghệ nhà,nghệ trồng ) Sa nhân ( Trúc sa )
Zingiberac eae
2.Thù ng sà đẻng
HỌ GỪN G
15 Amomum repens Sonn
2
Th
2.R
2.Thi ều đất
2.Đau nhức xương khớp 2.Đau nhức
Thiều đất (Sẹ đất )
Zingiberac eae
2.Ha, Th
2.T, K
16 Amomum vespertilio Gagnep
HỌ GỪN G
11 Convallari aceae
HỌ MẠNH MÔN ĐÔNG Peliosanthe Sâm cau
17
Convallari HỌ
2.Pằn Th
2.Vu
2.Cc
2.K
2.Sinh
2
VU.A1a,
s teta Andr
aceae
lý nam
c,d
lòng kiềm
(Sâm mây, huệ đá )
MẠN H MÔN ĐÔN G
12 Acoraceae HỌ
Proteaceae HỌ
Mi
XƯƠNG BỒ Mắc ca
2
83 Macadamia integrifolia
2.Mắc ca
2.Vu, R
2.Th, Ha
2.T, K
CHẸO THUI ( CƠM VÀN G )
2.Tim đập thất thường, bảo vệ tim khỏe
13 Commelin aceae
Th
2.R
2.Cc
2.T
19 Tradescanti
2
Commelin aceae
HỌ THÀI LÀI
2.Thà i lài tía
HỌ THÀI LÀI Thài lài tía ( hồng trai )
2.Viêm nhiễm âm đạo
a zebrina Hort. ex Loud
14 Trilliaceae HỌ HẮC
20
2
Trilliaceae HỌ
Th
2.R
2.Cc
2.K
Paris chinensis Franch
2.Bảy lá một hoa
2.Trị ho, hen suyễn
DƯỢC HOA ( TRỌNG LÂU ) Thất diệp ( bảy lá 1 hoa,tảo hưu)
HẮC DƯỢ C HOA ( TRỌN G
LÂU )
Arecaceae HỌ
Mi
2.R
2.bẹ
2.K
2
15 Arecaceae HỌ CAU 21 Caryota urens L
CAU
2.Còn g giòng
2.Cao huyết áp
16 Dracaenac eae
Na
2.R
2.K
2
Dracaenac eae
2.Cc, L
2.Huy ết giác
2.Máu tụ đau nhức
22 Dracaena cambodian a Pierre ex Gagnep
HỌ HUYẾ T GIÁC
Móc (đùng đình ngứa,móc đen ) HỌ HUYẾT GIÁC Huyết giác ( Xó nhà,Phất dủ miên )
Th
2.R
2.Cc
2
C2 Lớp hai lá mầm - Magnoliop sida 17 Amaranth aceae 23 Achyranthe s aspera L
2.T, K
Amaranth aceae
HỌ RAU DỀN Cỏ xước ( Nam ngưu tất )
HỌ RAU DỀN
2. Chẻ cọng ghìm
Th
2.R
2.Cc
2.K
2
Dền gai ( giền gai )
Amaranth aceae
2.Cam sài trẻ con, đau bụng, viêm nhiễm phụ khoa. 2.Đau khớp,g ai cột
24 Amaranthu s spinosus L
HỌ RAU DỀN
2. Dền gai
sống
25 Celosia
Th
2.R
2.K
2
argentea L
Amaranth aceae
2.Ha, r
HỌ RAU DỀN
2.Xơ gan, da vàng
2.Chà y cỏng hun
Th
2.Cc
2.K
26 Celosia
2
2.Vu, R
Amaranth aceae
2.Con g hun sĩ
HỌ RAU DỀN
2.Đau thận,trẹ o tay
var. cristata (L.) Kuntze 18 Verbenace ae
Na
2.R
2.K
27 Clerodendr
2
2.Cc, Th,L
2.Sỏi thận
Verbenace ae
Mào gà trắng ( Mồng gà,thanh tương tử ) Mào gà đỏ ( quan hoa ) HỌ CỎ ROI NGỰA Bạch đồng nữ
2.Lày may dày
um var. simplex (Mold.) S. L. Chen
Na
2.Vu
2
2.Rau đắng
Verbenace ae
2.Cc, Th,L
2.T, K
2.Thấp khớp
28 Clerodendr um cyrtophyllu m Turcz
Bọ mẩy( Đắng cảy,mạy kì cáy )
HỌ CỎ ROI NGỰ A HỌ CỎ ROI NGỰ A
29
2
Th
2.R
2.L
2.T
Acanthace ae
HỌ Ô RÔ
2.Tu lình
2.Cầm máu
HỌ Ô RÔ Tu lình ( xuân hoa vòm )
Na
2.R
2.T
2
Acanthace ae
HỌ Ô RÔ
2.Xươ ng khỉ
2.Cc, L
2.Tắm trẻ em
19 Acanthace ae Pseuderant hemum palatiferum (Nees) Radlk 30 Clinacanth us nutans (Brm. f.) Lindau
Bìm bịp ( Mảnh cộng,Lá cấm )
20 Mimosace ae
Th
2.Cc
2.K
2
31 Mimosa pudica L
Mimosace ae
2.Xấu hổ
2.Vu, R
HỌ TRINH NỮ Trinh nữ ( xấu hổ,e thẹn)
HỌ TRIN H NỮ
2.Đau lưng,ng ức xương khớp
21 Erythropa laceae
Lp
2.Cc
2.K
2
Erythropal aceae
2.Bò khai
2.Vu, R
32 Erythropal um scandens Blume
HỌ DÂY HƯƠNG ( HẠ HÒA ) Bò khai ( Hạ hòa , hồng trục )
2.Viêm thận,ta n sỏi thận
HỌ DÂY HƯƠ NG ( HẠ HÒA )
2
Fabaceae HỌ
Na
2.Th
2.K
2.Trĩ
ĐẬU
22 Fabaceae HỌ ĐẬU Cam thảo 33. ( chi chi ) 0
2.Vu, R
Fabaceae HỌ
Na
2.R
2
2.K
ĐẬU
2.Cc, Th,L
2.Phù thận
35
Fabaceae HỌ
Na
2.R
2
2.T
ĐẬU
2.Cc, L
2.Mất ngủ
Abrus precatorius L 34 Desmodiu m gangeticum (L.) DC Sesbania sesban (L.) Merr
Thóc lép ( Lá sém, tràng quả ) Điên điển ( Muồng gỗ,kiềm thanh )
36
2
Fabaceae HỌ
Na
2.R
2.T
Indigofera tinctoria L
Chàm (Chàm
ĐẬU
2.Ca m thảo 2.Chà ng nghe m 2.Điề n tòng gòn( mất ngủ) 2.Hùn g tỉa
2.Cc, L
2.Bong gân
gàm
nhuộm,ch àm đậu)
Acoraceae HỌ
Th
2.R
2.Cc
2.K
18 Acorus
2
Thạch xương bồ
gramineus Soland
2.Sìn h pầu kiềm
2.Loạn nhịp tim
XƯƠ NG BỒ
Ngải cứu Asteraceae HỌ
Th
2.L
2
23 Asteraceae HỌ CÚC 38 Artemisia vulgaris L
2.Vu, R
CÚC
2.Ngọ i
2.T, K
Asteraceae HỌ
Th
2.R
2.Cc
39 Eclipta
2
CÚC
2.Nhọ nồi
2.T, K
prostrata (L.) L
2.Đau thận,trẹ o tay 2.Giải độc gan
40 Blumea
Asteraceae HỌ
Na
2.R
2.T
2
CÚC
2.Ìn bọt
2.Cc, L
balsamifera (L.) DC
Nhọ nồi ( Cỏ mực,hạn niên thảo) Đại bi ( từ bi xanh,Băn g phiến )
41 Vernonia
Asteraceae HỌ
Na
2.R
2.K
2
Mật gấu ( Lá đắng )
CÚC
2.Mật gấu
2.Cc, L
2.Tắm ghẻ ngứa trừ bà đẻ 2.Viêm gan
Amygdalin a 42 Blumea
Asteraceae HỌ
Th
2.R
2.Cc
2.K
2
CÚC
Xương sông ( rau ăn gỏi )
lanceolaria (Roxb.) Druce
2.Lày cừu vèng (quề đài mây)
2.Thấp khớp,đ ầy bụng khó tiêu, giải độc gan
Asteraceae HỌ
Th
1.R
1.Cc
1
CÚC
1.Sài đất tía
1.T, K
1.Hạ sốt
Asteraceae HỌ
Mi
2.R
2.K
43 Wedelia chinensis (Osbeck) Merr 44 Vernonia
2
CÚC
2.Cc, Th,L
2. Bông bạc
2.Sỏi thận,Th ận hư
Sài đất ( Sơn cúc bò, Húng trám ) Bông bạc ( cúc đại,bạc đầu đỏ )
45
Asteraceae HỌ
Th
2.Cc
2.K
2
CÚC
2.Vu, R
2.Viêm khớp
2.Mù ng cai sá
arborea Buch.- Ham. ex D. Don Sigesbecki a orientalis L
46
Asteraceae HỌ
Th
2.R
2.L,r
2
CÚC
2.T, K
2.Trún g gió
2.Uy linh tiên
Chó đẻ hoa vàng ( hy thiêm,cỏ đĩ) Uy linh tiên (Thảo uy linh )
HỌ SỔ
Mp
2.R
2.L
2
Inula nervosa Wall. ex DC 24 Dillenniac eae 47 Dillenia indica L
Dillenniac eae
HỌ SỔ
2.Sổ bà
2.T, K
Sổ ( Sổ bà,co má sản )
Vitaceae HỌ
Na
2.R
2.K
2
NHO
2.Cc, Th,L
2.Dây Chìa vôi
25 Vitaceae HỌ NHO Dây Chìa 48 Cissus vôi ( Na repens rừng,chìa Lamk vôi bò )
2.Tắm đan giật 2.Trĩ, đau xương khớp, thấp khớp
26 Euphorbia cea
HỌ ĐẠI KÍCH ( THẦU
DẦU )
Cỏ sữa
Th
2.R
2.Cc
2
Euphorbia cea
2.T, K
2.Phà m nhỏ mia
49 Euphorbia arenarioide s Gagnep
2.Tắc sữa, viêm đại tràng
Na
2.K
2
Euphorbia cea
2.Vu, R
2.Cc, L
2.Tịu nòm sĩ
50 Excoecaria cochinchin ensis Lour
Đơn mặt trời ( đơn đỏ,đơn tướng quân )
HỌ ĐẠI KÍCH ( THẦU DẦU ) HỌ ĐẠI KÍCH ( THẦU DẦU )
2.Dị ứng, cam sài trẻ em, dị ứng máu, dị ứng ngoài da
Na
1,2.R 1.Th
1,2.T 1,2.Lợi
1,2
51 Euphorbia tirucalli L
Euphorbia cea
1,2 Giao
sữa, xoang
Giao ( xương khô,xươn g cá )
52
Na
2.R
2
Euphorbia cea
2.Mẹ lình
2.Cc, Th,L
2.T, K
Jatropha podagrica Hook
Ngô đồng ( sen lục bình,dầu lai có củ)
HỌ ĐẠI KÍCH ( THẦU DẦU ) HỌ ĐẠI KÍCH ( THẦU DẦU )
53 Ricinus
Na
2
Euphorbia cea
2.Puồ ng sĩ
2.Vu, R
2.Cc, L
2.T, K
HỌ ĐẠI KÍCH
communis L
Thầu dầu ( Đu đủ tía, bí ma
2.Trừ phong thấp, cầm máu, đắp nhọt 2.Đều kinh, Viêm
tử )
( THẦU DẦU )
54
Th
2.R
2.Cc
2.K
2
Vẩy ốc ( chân dê )
Euphorbia cea
2.Sùn g thằn lằn
Phyllanthu s virgatus Forst. & Forst. f
HỌ ĐẠI KÍCH ( THẦU DẦU )
gan, xấu máu, thận hư 2.Viêm khớp xương, nhức mỏi chân tay, sinh lý nam
27 Malvaceae HỌ
Th
2.Vu
2.Cc
2.K
2
2.Cối xay
2.Giải vàng
55 Abutilon indicum (L.) Sweet
BÔNG BỤP ( CẨM QUỲ ) Cối xay ( Nhĩ hường,Ma mãnh )
Malvaceae HỌ BÔN G BỤP ( CẨM QUỲ )
Na
2.R
2.K
2
2.Cc, Th,L
56 Hibiscus rosa- sinensis L
2. Dâm bụt
2.Đánh tan sỏi thận
Dâm bụt ( hoa dâm bụt,bông bụt )
Malvaceae HỌ BÔN G BỤP ( CẨM QUỲ )
57
Na
1.R
1.T
1
Hibiscus syriacu L
1.Cc, Th,L
1.Tiểu dắt
Malvaceae HỌ BÔN G BỤP (
1. Dâm bụt hoa
Dâm bụt hoa trắng ( Dâm bụt kép )
trắng
CẨM QUỲ )
58 Hibiscus
Na
2.R
2
mutabilis L
2.Phù dung
2.Cc, L
2.T, K
2.Tắm ngứa
Phù dung ( mộc liên )
Malvaceae HỌ BÔN G BỤP ( CẨM QUỲ )
28 Polygonac eae 59 Reynoutria
Th
2.R
2.Cc
2.K
2
Polygonac eae
japonica Houtt
HỌ RAU RĂM
HỌ RAU RĂM Cốt khí củ ( điền thất,Hổ trượng )
2.Goa ng lin (đìa ùi sĩ)
60
Th
1.R
1.Cc
1.K
1
Polygonum chiensis L
Polygonac eae
2.Nhiễ m trùng đường ruột, thấp khớp, đau lưng 1.Sỏi thận
HỌ RAU RĂM
1.Thu ồm lồm
Thuồm lồm ( lá lồm,/mía bẻm,nghế trung )
29 Rubiaceae HỌ CÀ
Th
2.R
2.Cc
2.K
2
2. Dạ cẩm
Rubiaceae HỌ CÀ PHÊ
PHÊ Dạ cẩm ( An điền đẩu,bòi ngòi đẩu )
61 Hedyotis capitellata Wall. ex G. Don
62 Gardenia
Na
2.R
2.K
2
augusta
Dành dành (
Rubiaceae HỌ CÀ
2.Dàn h
2.Cc, L
2.Viêm đại tràng,lo ét dạ dày 2.Đều kinh
(L.) Merr
PHÊ
dành
63
Lp
2.R
2.Cc
2.K
2
2.Viêm ruột
Paederia lanuginosa Wall
64 Randia
Na
2.R
2.K
2
2.Cc, L
2.Mơ lông tam 2.Mỏ quạ
Rubiaceae HỌ CÀ PHÊ Rubiaceae HỌ CÀ PHÊ
65
Na
2.R
2.T
2
canthioides Champ. ex Benth Pavetta indica L
2.Cc, Th,L
Rubiaceae HỌ CÀ PHÊ
2.Đau gan, hậu sơ sinh 2.Gãy chân tay
2.Bùn g nau mia
Lp
2.R
2.Th
2.K
2
Cucurbitac eae
Vu,A1c, d,B2a,b( ii,iii,v)
HỌ BẦU BÍ ( BÍ )
2.Huyế t áp cao,mỡ máu
1. Giảo cổ lam
30 Cucurbita ceae 66 Gynostem ma pentaphyll um (Thunb.) Makino
Dành tàu,Phi tử ) Mơ lông tam ( Mơ tam thế ) Mỏ quạ ( Găng gai nhọn,chim chích ) Thanh táo ( cắng gà,ba mia) HỌ BẦU BÍ ( BÍ ) Giảo cổ lam ( Thư tràng năm lá,Nhân sâm phương nam )
31 Moraceae HỌ DÂU
67 Morus alba
Moraceae HỌ
Mi
2.R
2.K
2.Trĩ
2
TẰM Dâu tằm ( tằm tang )
L
2.Dâu tằm
2.Cc, L
DÂU TẰM
68
Moraceae HỌ
Mi
2.T
2
Sung đất ( Ngái rễ )
2.Sun g đất
2.R, Vs
2.Tắm đẻ
2.Cc, L
Ficus var. badiostrigo sa Corn
DÂU TẰM
32 Loganiace ae
HỌ MÃ TiỀN
Lp
2.R
2.Th
2.K
2.Trĩ
2
69
Loganiace ae
2.Dây gió
Strychnos ignatii Berg
HỌ MÃ TiỀN
33 Menisper
maceae
Lp
2.R
2.Th
2.K
2
70 Tinospora
Menisper maceae
HỌ TiẾT DÊ
2.Pu chặt mia
sinensis (Lour.) Merr
Lp
2.R
2.Cc
2.K
2
71
Menisper maceae
2.Nàn g nhà
Fibraurea recisa Pierre
HỌ TiẾT DÊ
2.Đau lưng,đa u nhức xương khớp 2.Viêm đường tiết niệu,đa u khớp
Dây gió ( đậu gió,mã tiền đông ) HỌ TiẾT DÊ Dây đau xương ( khoan cân,tục cốt đằng ) Hoàng đằng ( Nam hoàng,Và ng giang ) 34 Rutaceae HỌ CAM
Rutaceae HỌ
Na
2.R
2.Th
2.Ho
2
2.T, K
2.Nhà n hây
72 Zanthoxyly m nitidum (Roxb.) DC
QUÝT ( CỬU LÝ HƯƠNG ) Dây hoàng lực ( xuyên tiêu,Trưng ,Xưng )
CAM QUÝT ( CỬU LÝ HƯƠ NG )
Rutaceae HỌ
Na
2.R
2
2.K
2.Quý t gai
2.Cc, Th,L
73 Atalantia buxifolia (Poir.) Oliv
2.Suy thận,th ận hư
Quýt gai ( cúc keo,quýt hôi )
CAM QUÝT ( CỬU LÝ
35 Leeaceae HỌ GỐI
HƯƠ NG )
Na
2.R
2
2.Cc, Th,L
2.T, K
74 Leea rubra Blume ex Spreng
2.Viêm khớp ,thấp khớp
2.Tầ m dày mia (mầy pẹ)
HẠC ( TRÚC VÒNG ) Gối hạc ( Bí dại, Mũn, Phỉ tử, Kim lê)
Leeaceae HỌ GỐI HẠC ( TRÚC VÒN G )
36 Theaceae HỌ CHÈ
( TRÀ ) Hải đường Theaceae HỌ
Na
2.R
2
75 Camellia
2.Ho, L
2.T, K
CHÈ ( TRÀ )
2.Hải đườn g
2.Huyế t áp cao
amplexicau lis (Ptard) Cohen- Stuart 37 Oxalidace ae
Mi
2.Vu
2.T
2
HỌ CHUA ME ĐẤT ( ME ĐẤT ) Khế ( Khế gianh )
Oxalidace ae
2.Lố lằng
2.Th, L
76 Averrhoa carambola L
2.Dị ứng cây sơn
HỌ CHU A ME ĐẤT ( ME ĐẤT )
38 Myrsinace ae
HỌ ĐƠN NEM ( XAY )
77 Ardisia
Na
2.R
2
Myrsinace ae
2.Cc, L
2.T, K
silvestris Pitard
Lá khôi( đơn tướng quân )
HỌ ĐƠN NEM ( XAY )
2.Trào ngược dạ dày,viê m loét dạ dày
2.Đìa giàng phản (đèng phản, lì sàng phản, đùng phản)
39 Caprifolia ceae
Lp
1.R
1.Cc
1.K
1
Caprifolia ceae
1.Kim ngân
78 Lonicera japonica Thunb
1.Than h nhiệt giải độc
HỌ KIM NGÂN ( CƠM CHÁY ) Kim ngân ( Nhẫn đông, kim ngân nhật )
HỌ KIM NGÂ N ( CƠM CHÁ Y )
40 Convolvul aceae
79
Th
2.R
2.Cc
2.T
2
Convolvul aceae
Ipomoea pes-caprae (L.) R. Br
2.Giù ng gay đẻng
2.Tiện táo, cam trẻ con
HỌ KHOAI LANG ( BÌM BÌM ) Chân dê ( rau muống biển, Mã đề thảo )
HỌ KHO AI LANG ( BÌM BÌM )
41 Piperaceae HỌ HỒ
TIÊU
80
Th
2.Vu
2.r
2.K
2
Piper lolot C. DC
2.Lá lốt
Piperaceae HỌ HỒ TIÊU
2. Đau nhức lưng
81
Th
2.Vu
2.Cc
2
42 Plantagina ceae Plantago major L
Plantagina ceae
2.T, K
Lá lốt ( Lốt, Tất bát ) HỌ MÃ ĐỀ Mã đề ( Bông mã đề )
HỌ MÃ ĐỀ
2.Sằn g chầy
2.Mát gan, kinh nguyệt, trị tiêu chảy
Lp
2.Cc
2.K
82
2
Passiflorac eae
2.Lạc tiên
2.Vu, R
43 Passiflorac eae Passiflora foetida L
HỌ LẠC TIÊN
HỌ LẠC TIÊN Lạc tiên ( Chùm bao, Nhẵn lông )
44 Proteaceae HỌ
2.Mất ngủ, viêm thận
2
Fabaceae HỌ
Mi
2.R
ĐẬU
2.Vôn g
2.Cc, Th,L
2.T, K
37 Abroma augusta (L.) L. f
CHẸO THUI ( CƠM VÀNG ) Vông ( Thung thang,vôn g thẳng )
2.Trĩ, tim mạch, mất ngủ
45 Asclepiada ceae
HỌ THIÊN LÝ ( LA BỐ MA,BÔN G TAI )
Lp
2.Trĩ
Thiên lý ( hoa lý )
Asclepiad aceae
2.Thi ên lý
2.Vu, R
2.Ho, L
2.T, K
84 Telosma cordata (Burm. f.) Merr
Lp
2.R
2.Cc
2.K
2
Asclepiad aceae
2.Tai chuột
2.Ung thư Lá nách
85 Dischidia acuminata Cost
Tai chuột ( dây hạt bí, Mộc tienf nhọn )
HỌ THIÊ N LÝ ( LA BỐ MA,B ÔNG TAI ) HỌ THIÊ N LÝ ( LA BỐ MA,B ÔNG TAI )
46 Melastom
HỌ MUA
ataceae
Na
2.K
2.Trĩ
2
HỌ MUA
2.Mu a
2.Vu, R
2.Cc, Th,L
Melastom ataceae
86 Melastoma dodecandru m Lour
47
Scrophula riaceae
Th
2.Vu
2.Cc
Mua ( Mua lùn,mua thấp ) HỌ HOA MÕM CHÓ Nhân trần Scrophular
2
2.T, K
2.Viêm gan
iaceae
2.Nhâ n trần
87 Adenosma caeruleum R. Br
88 Adenosma
Th
2.R
2.Cc
2
2.Sìn pầu
Scrophular iaceae
2.T, K
2.Thấp khớp
indiana (Lour.) Merr
HỌ HOA MÕM CHÓ HỌ HOA MÕM CHÓ
Bồ bồ ( Tuyến hương ấn,Nhân trần hoa
đầu )
48 Araliaceae HỌ NGŨ
Araliaceae HỌ
Na
2.R
2
2.Cc, L
2.T, K
DA BÌ ( NHÂN SÂM ) Ngũ gia bì ( Ngũ da hương,Xu yên da bì )
89 Acanthopa nax trifoliatus (L.) Voss
2.Đèn g tây hây (chân chim)
2.Khớp xương co cứng,vi êm khớp
NGŨ DA BÌ ( NHÂ N SÂM )
90
Araliaceae HỌ
Na
2.Vu
2.Củ
Đinh lăng lá to
2.T, K
2.Mất ngủ
Polyscias grandifolia Volkens
2. Đinh lăng
NGŨ DA BÌ ( NHÂ N SÂM )
91
Araliaceae HỌ
Na
2.Vu
2.L
2.K
2
2.Đin h lăng
Polyscias fruticosa (L.) Harms
2.Đau lưng,đa u cơ khớp
Đinh lăng lá nhỏ ( đinh lăng bụi ,dương lâm )
NGŨ DA BÌ ( NHÂ N SÂM )
Araliaceae HỌ
Mi
2.R
2.L
2.K
2
2.Đau lưng
2.Nhi ềm đèng kem
92 Trevesia palmata (Roxb. ex Lindl.) Visan
Đu đủ rừng ( Thông thảo gai, thích thông thảo
NGŨ DA BÌ ( NHÂ N
)
SÂM )
49
Schisandr aceae
Lp
2.R
2.Cc
2.K
2
93 Kadsura
Schisandra ceae
2.Đìa thản
heteroclita (Roxb.) Craib
HO NGŨ VỊ TỬ ( NGŨ VỊ TỬ,XƯN XE ) Răng ngựa ( Na leo,Hải phong đằng )
2.Viêm loét dạ dày, cam đường ruột
50 Lauraceae HỌ
HO NGŨ VỊ TỬ ( NGŨ VỊ TỬ,X ƯN XE )
Lauraceae HỌ
2.Quế Mi
2.Vu
2.K
2
2.Mụn nhọt
94 Cinnamom um verum Presl
2.Cc, Th,L, Vo
LONG NÃO ( NGUYỆ T QuẾ ) Quế ( Quế rành,qué hồi )
51
LONG NÃO ( NGU YỆT QuẾ )
Lamiaceae
Th
2.Vu
2.Ha
2.K
2
Lamiaceae
2.Sạch mắt
95 Ocimum basilicum L
HỌ BẠC HÀ ( HOA MÔI ) Rau húng ( Húng quế ,húng
HỌ BẠC HÀ (
2.Lừa lạ nghim
chó )
HOA MÔI )
52 Apiaceae HỌ HOA
Apiaceae HỌ
Th
2.Cc
2.T
2.Ho
2
2.Vu, ,R
TÁN ( NGÒ ) Rau má ( xà lách dây )
2.Tằn g chan
96 Centella asiatica (L.) Urb. in Mart
53 Olipiaceae HỌ SƠN
HOA TÁN ( NGÒ )
Olipiaceae HỌ
Na
2.R
2.L
2
2.T, K
SƠN CAM
2.Rau ngót rừng
2.Tử cung co thắt
Th
2.R
2.Cc
2.K
2
2.Rễ gió
Aristoloch iaceae
CAM Rau ngót rừng ( rau sắng ) HỌ MỘC HƯƠNG Rễ gió ( Sơn địch vặn )
97 Melientha suavis Pierre 54 Aristoloch iaceae 98 Aristolochi a contorta Bunge
HỌ MỘC HƯƠ NG
2.Khán g viêm đường ruột
55 Myrtaceae HỌ SIM
1
Myrtaceae HỌ
1.Sim Na
1.R
1.L
1.K
( ĐÀO KIM CƯƠNG ) Sim ( sim hồng )
1.Đau dạ dày
99 Rhodomyrt us tomentosa (Ait.) Hassk
SIM ( ĐÀO KIM CƯƠ NG )
56 Rhamnace ae
HỌ TÁO ( TÁO
2.Táo Na
2.Vu
2.K
2.Trĩ
2
10 0
Rhamnace ae
2.Cc, Th
Ziziphus oenoplia (L.) Mill
TA ) Táo ( táo dại ,Táo dai )
HỌ TÁO ( TÁO TA )
HỌ BAN
Mi
2.R
2.K
2
10 1
Hypericac eae
HỌ BAN
2.Cc, Th,L
2.Trào ngược dạ dày
2. Thành ngạnh lông
57 Hypericac eae Cratoxylu m prunifloru m (kurz) Kurz
Na
2.R
2.K
2
10 2
Boraginac eae
2.Xạ đen
2.Cc, Th,L
HỌ VÒI VOI
58 Boraginac eae Ehretia asperula Zoll. & Mor
Thành ngạnh lông ( Lành ngạnh,Đỏ ngọn ) HỌ VÒI VOI Xạ đen ( bạch vạn hoa,bách giải )
59
HỌ CÀ
2.Viêm gan B, trị u tán bướu
Lp
1,2
10 3
Solanacea e
HỌ CÀ
1,2.V u,R
1. Ha 2.Cc
Solanacea e Solanum procumbe ns Lour
Cà gai leo ( cà quạnh,cà gai dây )
1,2. Cà gai leo
1,2.K 2,1.Viê m gan B,đau gan
Phụ lục 4
Bảng: Loài cây cụ thể theo từng bộ phận sử dụng của từng dân tộc
Nùng Dao
Bộ phận sử dụng Cả cây Huyết dụ,
Mía tím, Sài đất , Sài đất, Thuồm lồm, Kim ngân.
Lá
Huyết dụ, Sim, Dâm bụt hoa trắng.
Thân
Dâm bụt hoa trắng, Giao
Kim giao, Huyết dụ, Huyết dụ thắng, Hẹ , Tỏi, Rẻ quạt, Sậy, Sa nhân, Sâm cau, Thạch xương bồ, Thài lài tía, Thất diệp, Huyết giác, Cỏ xước, Dền gai, Mào gà đỏ, Bạch đồng nữ, Bọ mẩy, Bìm bịp, Trinh nữ, Bò khai, Thóc lép, Điên điển, Chàm, Vông, Nhọ nồi, Đại bi, Mật gấu, Xương sông, bông bạc, Chó đẻ hoa vàng, Dây chìa vôi, Đơn mặt trời, Ngô đồng, Thầu dầu, Vẩy ốc, Cối xay, Dâm bụt, Phù dung, Cốt khí củ, Dạ cẩm, Dành dành, Mơ lông tam, Mỏ quạ, Thanh táo, Dâu tằm, Sung đất, Hoàng đằng, Quýt gai, Gối hạc, Lá khôi, Chân dê, Mã đề, Lạc tiên, Tai chuột, Mua, Nhân trần, Bồ bồ, Ngũ da bì, Răng ngựa, Quế, Rau má, Rễ gió, Táo, Thành ngạnh, Xạ đen. Kim giao, Huyết dụ, Huyết dụ thắng, Huyết giác, Bạch đồng nữ, Bọ mẩy, Tu lình, Bìm bịp, Thóc lép, Điên điển, Chàm, Vông, Ngải cứu, Đại bi, Mật gấu, Bông bạc, Uy linh tiên, Sổ, Day chìa vôi, Đơn mặt trời, Ngô đồng, Thầu dầu, Dâm bụt, Phù dung, Dành dành, Mỏ quạ, Thanh táo, Dâu tằm, Sung đất, Quýt gai, Gối hạc, Hải dường, Khế, Lá khôi, Thiên lý, Mua, Ngũ da bì, Đinh lăng lá nhỏ ,Đu đủ rừng, Quế, Rau ngót rừng, Thành ngạnh, Xạ đen. Gắm, Ráy, Mía dò, Xả đỏ, Thiều đất, Bạch đồng nữ, Bọ mẩy, Cam thảo, Thóc lép, Vông, Bông bạc, Chìa vôi, Ngô đồng, Dâm bụt, Thanh táo, Giảo cổ lam, Dây gió, Dây đau xương, Dây hoàng lực, Quýt gai, Gối hạc, Khế, Mắc ca, Mua, Quế, Táo, Thành ngạnh, Xạ đen. Mào gà trắng, Uy linh tiên, Lá lốt. Quế
Hải đường, Thiên lý.
Dong riềng Nghệ, Đinh lăng lá to. Cà gai leo Thiều đất, Mào gà trắng, Mắc ca, Rau húng. Móc Rễ Vỏ Củ Hoa Hạt Bẹ
Bảng: Tên chi tiết các loài cây theo bộ nhóm bệnh
Stt Nhóm bệnh
Nùng
Sim 1 Bệnh tiêu hóa
2 Xương khớp
Dao Gắm, Cam thảo, Vông, Xương sông, Dây chìa vôi, Cốt khí củ, Cỏ sữa, Dạ cẩm, Mơ lông tam, Dâu tằm, Dây gió, Chân dê, Thiên lý, Mua, Rễ gió, Táo, Lá khôi, Răng ngựa, Thành ngạnh Sa nhân, Thiều đất, Dền gai, Mào gà đỏ, Bọ mẩy, Trinh nữ, Chàm, Ngải cứu, Xương sông, Chó đẻ hoa vàng, Dây chìa vôi, Ngô đồng, Vẩy ốc, Cốt khí củ, Thanh táo, Dây đau xương, Hoàng đằng, Gối hạc, Lá lốt, Bồ bồ, Ngũ da bì, Đinh lăng lá nhỏ, Đu đủ rừng, Ráy.
Mía tím,Dâm bụt hoa trắng,Thuồm lồm. 3 Bệnh đường tiết niệu
4 Huyết dụ, Giao Bệnh phụ nữ , sinh sản
Cà gai leo 5 Bệnh về Gan
6 Bệnh trẻ em
7 Bệnh ngoài da
8 Bệnh đường hô hấp
Huyết dụ, sả đỏ, Thài lài tía, Cỏ xước, Cỏ sữa, Thầu dầu, Dành dành, Mỏ quạ, Sung đất, Mã đề, Rau ngót rừng, Hẹ, Sâm cau, Vẩy ốc. Mào gà trắng, Nhọ nồi, Mật gấu, Mỏ quạ, Mã đề, Nhân trần, Xạ đen, Cà gai leo, Thầu dầu. Sậy, Cỏ xước, bìm bịp, Sổ, Đơn mặt trời, Chân dê Đơn mặt trời, Phù dung, Khế, Quế, Ngô đồng, Đại bi Thất diệp, Dây hoàng lực, Rau má, Rẻ quạt Rau húng Kim giao, Tỏi,Giao Giao
Dong đỏ Thạch xương bồ, Vông, Mắc ca 11
Huyết dụ thắng, Móc, Hải đường 12
Kim ngân
Uy Linh tiên
Tai chuột, Xạ đen 15
16 Kim ngân 9 Bệnh về mắt 10 Bệnh về mũi Bệnh về tim mạch Bệnh về thần kinh 13 Thuốc bổ 14 Bệnh thời tiết Bệnh về u bướu Nhóm về ngộ độc
Bảng: 10 họ giàu loài nhất theo danh lục thực vật Việt Nam
STT 1 2 3 4 5 6 7 8 Tên họ Mãn cầu - Annonaceae Long não - Lauraceae Dâu tằm - Moraceae Dẻ - Fagaceae Cúc - Asteraceae Thầu dầu - Euphorbiaceae Hoa hồng - Rosaceae Đậu - Fabaceae Hòa thảo - Poaceae Ráy - Araceae Số lượng Loài 201 278 180 221 380 478 169 472 610 175

