ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ----------------------

TÒNG THỊ KIM

NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA SỬ DỤNG CÂY THUỐC

CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ PHÚ XUYÊN,

HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGHUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : NLKH

Khoa : Lâm Nghiệp

Khóa : 2016 - 2020

Thái Nguyên, năm 2020

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ----------------------

TÒNG THỊ KIM

NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA SỬ DỤNG CÂY THUỐC

CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ PHÚ XUYÊN,

HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : NLKH

Lớp : K48 - NLKH

Khoa : Lâm nghiệp

Khóa học : 2016 - 2020

Giảng viên hướng dẫn : TS. Đặng Kim Tuyến

Thái Nguyên, năm 2020

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân

tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn

toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu trách

nhiệm hoàn toàn.

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 06 năm 2020

XÁC NHẬN CỦA GVHD NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN

Đặng Kim Tuyến Nguyễn Thị Thu Hiền Tòng Thị Kim

Xác nhận của giáo viên chấm phản biện

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót sau khi

hội đồng chấm yêu cầu.

(Ký, ghi rõ họ tên)

ii

LỜI CẢM ƠN

Được sự phân công của Nhà trường, Khoa Lâm Nghiệp, Trường Đại

học Nông Lâm Thái Nguyên, sau 5 tháng thực tập em đã hoàn thành khóa

luận tốt nghiệp “Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc của đồng

bào dân tộc thiểu số tại xã Phú Xuyên, Huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên”.

Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, ngoài sự nỗ lực học hỏi của bản

thân còn có sự hướng dẫn tận tình của thầy cô, bạn bè, cô chú, anh chị tại địa

bàn xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Xin cảm ơn hai cô giáo – TS. Đặng Kim Tuyến, TS. Nguyễn Thị Thu

Hiền, người đã hướng dẫn cho em trong suốt thời gian thực tập đã chỉ dẫn,

định hướng đi cho em để em hoàn thành tốt nhiệm vụ. Xin cảm ơn sự giúp đỡ

của cán bộ Ủy ban Nhân dân xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

và cán bộ Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Đại Từ, cùng sự chỉ bảo tận tình

của các thầy lang, bà mế thuộc xã Phú Xuyên.

Đồng thời xin cảm ơn thầy cô giáo Khoa Lâm nghiệp, các bộ phận liên

quan thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và người thân trong gia

đình cùng bạn bè thân thiết đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành khóa

luận tốt nghiệp.

Mặc dù đã nỗ lực cố gắng, tuy nhiên do hạn chế về kinh nghiệm cũng

như về thời gian và trình độ nghiên cứu nên khóa luận tốt nghiệp không thể

tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý, chỉ bảo của

thầy cô cũng như các bạn đọc khác để khóa luận được hoàn thiện hơn nữa.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 30 tháng 06 năm 2020

Sinh viên

Tòng Thị Kim

iii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1. Mẫu bảng điều tra nguồn cây thuốc được cộng đồng một số dân tộc

thiểu số ở khu vực nghiên cứu sử dụng trong phòng và điều trị bệnh .. Error!

Bookmark not defined.

Bảng 4.1. Số loài cây thuốc đã phát hiện ở khu vực nghiên cứu .................... 27

Bảng 4.2. Số lượng họ, chi, loài thuộc hai lớp trong ngành Ngọc lan ............ 28

Bảng 4.3. Sự phân bố số lượng loài cây thuốc trong các họ ........................... 30

Bảng 4.4. Các họ đa dạng nhất ở khu vực nghiên cứu ................................... 31

Bảng 4.5. So sánh các họ có nhiều loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu (1)

với số loài của từng họ trong hệ thực vật Việt Nam (2) ........................ 32

Bảng 4.6. Đa dạng về dạng sống của nguồn cây thuốc ở khu vực nghiên cứu..... 33

Bảng 4.7. Sự phân bố nguồn cây thuốc theo môi trường sống ở khu vực

nghiên cứu .............................................................................................. 35

Bảng 4.8. Danh lục cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ghi nhận ..................... 37

Bảng 4.9. Đa dạng của các bộ phận cây được sử dụng làm thuốc .................. 40

Bảng 4.10. Tỷ lệ số loài có công dụng chữa các nhóm bệnh cụ thể ............... 42

Bảng 4.11. Danh sách cây thuốc được cả 2 dân tộc Nùng, Dao tại xã Phú

Xuyên sử dụng ....................................................................................... 44

Bảng 4.12. Số lượng thầy thuốc được phỏng vấn theo từng dân tộc ở KVNC ..... 46

Bảng 4.13. Tỷ lệ về độ tuổi và giới tính của các thầy thuốc ở KVNC ........... 46

Bảng 4.14. Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết từ cây Mã tiền lông và cây

Vẩy ốc .................................................................................................... 48

iv

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Các dụng cụ sử dụng cho nghiên cứu trong đề tài .......................... 23

Hình 4.1: Hình ảnh một số loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu .................. 29

Hình 4.2: Tỷ lệ nhóm bệnh chữa trị từ nguồn cây thuốc theo kinh nghiệm sử

dụng trong cộng đồng dân tộc……………………………………………...46

Hình 4.3: Hoạt tính ức chế E. coli và S. aureus của cây Mã tiền lông và cây

Vẩy ốc…………………………………………………………………….....49

v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ cái viết tắt/ký hiệu

Cụm từ đầy đủ

(1)

Dân tộc Nùng

(2)

Dân tộc Dao

Cc

Cả cây

Ha,Ho

Quả, hoa

HTKK

Hoạt tính kháng khuẩn

KBT

Khu bảo tồn

KVNC

Khu vực nghiên cứu

KH&CN

Khoa học & công nghệ

L

Lp

Dây leo

Me

Cây gỗ trung bình

Mi

Cây gỗ nhỏ

Na

Cây bụi

NCTN & MT

Nghiên cứu tài nguyên & môi trường

NĐ - CP

Nghị định Chính phủ

R

Rễ

R

Sống ở rừng

ST & TNSV

Sinh thái & tài nguyên sinh vật

Th

Thân thảo/thân

UBND

Ủy ban nhân dân

V

Vỏ

Vs

Sống ven sông ven suối

Vu

Sống ở vườn

vi

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii

DANH MỤC CÁC BẢNG .............................................................................. iii

DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................ iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................... v

PHẦN 1. MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1

1.1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1

1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ................................................................... 2

1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2

1.3.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 2

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 2

PHẦN 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ...................................... 3

2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu ...................................................... 3

2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước ..................................... 3

2.2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới....................... 3

2.2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở trong nước ..................... 7

2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu ................................................................ 17

2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu ................................................ 17

2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu ..................................... 19

PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP . 20

NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 20

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 20

3.2. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 20

3.3. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 21

PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................... 27

vii

4.1. Đa dạng các bậc taxon nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong

cộng đồng các dân tộc thiểu số xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái

Nguyên ............................................................................................................ 27

4.1.1. Đa dạng các bậc taxon .......................................................................... 27

4.1.2. Đa dạng về dạng sống của thực vật làm thuốc ...................................... 33

4.1.3. Đa dạng về môi trường sống của thực vật làm thuốc ........................... 35

4.2 Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam đã ghi nhận được tại

xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh thái Nguyên ............................................. 37

4.3. Vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc

thiểu số ở xã Phú Xuyên, Huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên ........................ 39

4.3.1. Kinh nghiệm sử dụng bộ phận làm thuốc của cộng đồng dân tộc thiểu

sốở xã Phú Xuyên ........................................................................................... 39

4.3.2. Kinh nghiệm về nhóm bệnh chữa trị của cộng đồng dân tộc thiểu số ở

xã Phú Xuyên .................................................................................................. 42

4.3.3. Ảnh hưởng của sự giao thoa giữa các dân tộc đến vốn tri thức bản địa

trong việc sử dụng cây thuốc ở xã Phú Xuyên ............................................... 44

4.3.4 Vấn đề truyền thụ kiến thức về cây thuốc trong cộng đồng các dân tộc ở

xã Phú Xuyên .................................................................................................. 45

4.4. Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc được sử dụng

trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu .......................... 47

PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................... 50

5.1. Kết luận .................................................................................................... 50

5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 53

PHỤ LỤC

1

PHẦN 1

MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia có 3/4 diện tích đồi núi, là nơi có nguồn tài

nguyên cây thuốc đa dạng và là nơi cư trú của 54 dân tộc mà phần lớn là dân

tộc thiểu số với khoảng 24 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số quốc gia (Trần

Thúy và cs., 2005) [21]. Chính sự đa dạng về dân tộc người cùng với sự khác

biệt về điều kiện, thổ nhưỡng, khí hậu, phong tục tập quán, văn hóa từng cộng

đồng dân tộc thiểu số đã tạo nên sự đa dạng và phong phú trong vốn tri thức

dân gian về kinh nghiệm sử dụng cây cỏ xung quanh mình làm cây thuốc

chữa bệnh.

Đại Từ là huyện có tài nguyên rừng tương đối phong phú và đa dạng so

với các huyện khác của tỉnh Thái Nguyên. Huyện Đại Từ có diện tích rừng là

24.469 ha chiếm khoảng 23.94% tổng diện tích rừng toàn tỉnh, chủ yếu là

rừng hệ thứ sinh. Hệ sinh thái ở Đại Từ còn tương đối tốt, nhiều động thực vật

quý hiếm còn tồn tại đặc biệt là ở vùng cao Quân Chu , Phúc Lương, Phục

Linh, Quân Chu, Tân Linh, Tân Thái và Phú Xuyên. Huyện Đại Từ có 30 đơn

vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 2 thị trấn và 28 xã. Người dân ở đây

chủ yếu là các đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán

Dìu ,Thái, Hoa . Trong đó đời sống người Sán Dìu và người Dao có quan hệ

mất thiết với tài nguyên thiên nhiên. Mỗi dân tộc lại mang bản sắc và kinh

nghiệm chữa bệnh bằng thực vật làm thuốc rất đa dạng. Trong đó, cộng đồng

dân tộc thiểu số ở xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cũng có

nhiều kinh nghiệm độc đáo về việc chữa bệnh bằng cây thuốc. Tuy nhiên,

hiện nay tình trạng khai thác tài nguyên rừng (Cây thuốc, cây cảnh, rau

rừng,…) của người dân địa phương bán cho các khách du lịch, tham quan dẫn

đến nguồn tài nguyên cây thuốc ngày càng bị suy giảm. Mặt khác những bài

2

thuốc được cộng đồng dân tộc thiểu số sử dụng từ lâu đời trong việc phòng và

trị một số bệnh nhưng hoạt tính sinh học và cơ sở khoa học của các bài thuốc

chưa được nghiên cứu, chứng minh bằng con đường khoa học. Vì vậy, để

cung cấp các cơ sở khoa học góp phần bảo vệ nguồn gen cây thuốc, bảo tồn

và phát triển các bài thuốc của một số cộng đồng dân tộc thiểu số tại xã Phú

Xuyên, huyện Đại Từ, tôi đề xuất ý tưởng đề tài: “Nghiên cứu tri thức bản

địa sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc tại xã Phú Xuyên, huyện Đại

Từ, tỉnh Thái Nguyên”.

1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

- Đánh giá được tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh

nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao,Nùng tại xã Phú

Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đánh giá được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có giá

trị cao được của cộng đồng dân tộc Dao,Nùng tại xã Phú Xuyên, huyện Đại

Từ, tỉnh Thái Nguyên sử dụng trong phòng và trị bệnh.

- Xác định được những cây thuốc thuộc diện quý hiếm ở Việt Nam,

hiện có ở khu vực nghiên cứu.

1.3. Ý nghĩa của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa khoa học

- Xác định được tri thức bản địa sử dụng các loài cây thuốc của cộng

đồng dân tộc tại xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Xác định được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có giá

trị cao tại khu vực nghiên cứu.

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả thu được sẽ là cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất công tác bảo

tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc của của cộng đồng dân tộc tại xã Phú

Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

3

PHẦN 2

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

Phòng và chữa bệnh bằng các loài thảo dược đã được con người sử

dụng từ hàng ngàn năm nay. Nó vẫn đang tồn tại và ngày càng phát triển

mạnh mẽ. Hàng năm, con người đã tìm ra được những hoạt chất quý trong các

loài thảo dược có thể phòng và chữa trị được những căn bệnh từ đơn giản

hàng ngày như cảm cúm, ho sốt đến những căn bệnh nan y như ung thư, bệnh

tim, suy thận,... hay những căn bệnh nhiệt đới nguy hiểm như dịch cúm A

H5N1, H1N1,... Các cây thuốc và bài thuốc có được nhờ kinh nghiệm tích lũy

qua nhiều thế hệ giờ đây đang dần mất đi theo thời gian. Do đó việc gìn giữ

vốn kiến thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc và bài thuốc từ thảo dược

là việc hết sức cần thiết. Theo tổ chức y tế thế giới WHO, khoảng 80% dân số

hiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm

sóc sức khỏe cộng đồng (Nguyễn Hoàng Sơn, 2014) [51]. Trong tuyên ngôn

Alma Ata năm 1978 và “Hướng dẫn đánh giá y học cổ truyền” năm 1991,

WHO luôn khuyến nghị dùng các thuốc cổ truyền vào chăm sóc sức khỏe ban

đầu (Nguyễn Hoàng Sơn, 2014) [51]. Vậy, nghiên cứu về các loài cây thuốc

là hết sức cần thiết cho việc bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc và bài

thuốc cho thế hệ hôm nay và mai sau.

2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

2.2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới

Tổ tiên loài người từ khi xuất hiện đã gắn bó với thiên nhiên, trải qua

quá trình đấu tranh với thiên nhiên và bệnh tật để sinh tồn. Trong quá trình

đó, tổ tiên chúng ta ngay từ khi còn là các tộc người đã sớm phát hiện ra

những cây cỏ trong tự nhiên có thể sử dụng làm thuốc, đồng thời trong cuộc

4

sống lao động, đấu tranh với bệnh tật đã sáng tạo ra những bài thuốc và

phương pháp chữa bệnh.

Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về sử dụng cây thuốc cho

mục đích chữa bệnh của người dân bản địa ở các khu vực, các quốc gia được

các nhà khoa học thực hiện trên khắp các châu lục trên thế giới:

Ở Châu Á:

Châu Á là châu lục có nhiều dân tộc bản địa sinh sống, với vốn tri

thức bản địa về việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc phong phú và đa

dạng, đã có những nghiên cứu cụ thể ở các cộng đồng người, các khu vực

khác nhau như:

Arshad Abbasi và cs. (2012) [37] khi thẩm định về thực vật học và các

giá trị văn hóa của các loại rau ăn được hoang dã quan trọng trong y học

của Lesser dãy Hymalaya đã ghi nhận 45 loại rau ăn được hoang dã thuộc

38 chi và 24 họ đã được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau

và tiêu thụ.

Auemporn Junsongduang và cs. (2013) [38] nghiên cứu về cây thuốc từ

nương rẫy và rừng thiêng của dân tộc Karen và Lawa ở Thái Lan đã chỉ ra

365 loài thực vật thuộc 244 chi và 82 họ được sử dụng làm thuốc, trong đó

các cây thuộc họ Euphorbiaceae và Lauraceae được người dân sử dụng

nhiều nhất.

Homervergel G. Ong và Young - Dong Kim (2014) [49] nghiên cứu về

thực vật học định lượng của các cây thuốc được sử dụng bởi các nhóm bản

địa Ati Negrito ở đảo Guimaras, Philippin đã tìm thấy 142 loài cây dược liệu

thuộc 55 họ được sử dụng trong 16 loại bệnh.

Dol Luitel và cs. (2014) [44] khi nghiên cứu cây thuốc được sử dụng

bởi cộng đồng người Tamang ở quận Makawanpur của Trung tâm Nepal đã

5

tìm thấy 161 loài thực vật thuộc 144 chi và 86 họ đã được người dân sử dụng

để điều trị các loại bệnh khác nhau.

Ở Châu Âu: Y học dân gian châu Âu có một lịch sử lâu dài, những tri

thức dân gian bản địa được truyền lại cho các thế hệ sau bằng việc ghi chép

lại và thông qua truyền miệng qua nhiều thế kỉ. Những năm gần đây, đã có

nhiều công trình nghiên cứu khoa học về việc sử dụng các loài thực vật để

điều trị các loại bệnh của người dân bản địa được thực hiện:

Behxhet Mustafa và cs. (2012) [40] nghiên cứu về các loài thực vật

được sử dụng làm thuốc của dãy núi Alps Albania ở Kosovo đã ghi nhận 98

loài thực vật thuộc 39 họ được người dân sử dụng để điều trị các loại bệnh

khác nhau, trong đó các cây được sử dụng nhiều nhất chủ yếu thuộc các họ

Rosaceae, Asteraceae và Lamiaceae.

Gorka Menedez-Baceta và cs. (2014) [48] nghiên cứu về cây dược liệu

truyền thống được sử dụng ở phía Tây Bắc của xứ Basque, bán đảo Iberia đã

chỉ ra 139 loài thực vật thuộc 58 họ được người dân sử dụng để điều trị bệnh,

trong đó các cây được sử sụng nhiều nhất thuộc họ Asteraceae.

Ở Châu Mĩ:

Việc nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc của người dân bản địa cũng

được thực hiện:

Cecilia Almeida và cs. (2006) [42] nghiên cứu cây thuốc phổ biến được

sử dụng trong các khu vực Xingo – một khu vực khô hạn ở Đông Bắc Brazil

đã tìm thấy 187 loài thực vật thuộc 128 chi và 64 họ được người dân sử dụng

để điều trị các bệnh: cảm lạnh thông thường, viêm phế quản, bệnh tim mạch,

bệnh thận, viêm và an thần.

Gabriele Volpato và cs. (2009) [46] nghiên cứu sử dụng cây thuốc của

người nhập cư Haiti và con cháu của họ ở tỉnh Camaguey, Cuba đã chỉ ra 123

6

loài thực vật thuộc 112 chi và 63 họ được người nhập cư Haiti sử dụng để

điều trị các bệnh khác nhau.

Gaia Luziatelli và cs. (2010) [47] nghiên cứu cây thuốc của cộng đồng

Ashaninka (một nghiên cứu từ các cộng đồng bản địa của Bajo Quimiriki,

Junin, Peru đã tìm thấy 402 loài thực vật được cộng đồng sử dụng để điều trị

các loại bệnh, trong đó các cây được sử dụng nhiều nhất chủ yếu thuộc các

họ: Asteraceae, Araceae, Rubiaceae, Euphorbiaceae, Solanaceae và

Piperaceae.

Theo nghiên cứu “Thực vật dân tộc của người dân Rayones, Nuevo

León, Mexico” năm 2014, đã ghi nhận 252 loài thực vật thuộc 228 chi và 91

họ được người dân Rayones sử dụng để điều trị các bệnh, trong đó các họ

được sử dụng chủ yếu là: Asteraceae và Fabaceae (Eduardo Estrada -

Castillón và cs., 2014) [45].

Ở Châu Phi:

Người dân Châu Phi đã sử dụng cây thuốc bản địa hàng nghìn năm nay

để bảo vệ sức khỏe của họ, những nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng

cây thuốc của những người dân bản địa ở châu Phi rất đa dạng và phong phú

(Cây thuốc Châu Phi, 2013) [36].

Theo nghiên cứu của David J Simbo “Một cuộc khảo sát về các loài

thực vật được sử dụng làm thuốc trong Babungo, khu vực Tây Bắc,

Cameroon”, đã xác định và ghi nhận 107 loài thực vật thuộc 98 chi và 54 họ

được người dân địa phương sử dụng để điều trị các bệnh, trong đó họ được sử

dụng chủ yếu là họ Asteraceae (David J Simbo, 2010) [43].

“Nghiên cứu về thực vật học và kiến thức bản địa về sử dụng cây thuốc

của các thầy lang trong khu vực Oshikoto, Namibia”, đã tìm thấy 61 loài cây

thuốc thuộc 25 họ được các thầy lang trong khu vực sử dụng để điều trị các

7

bệnh khác nhau như: Tâm thần, nhiễm trùng da, vết thương ngoài da, rắn cắn

và các vấn đề tim mạch (Ahmad Cheikhyoussef và cs., 2011) [36].

Nghiên cứu “cây thuốc được sử dụng bởi phụ nữ từ rừng ven biển

Agnalazaha Đông Nam Madagascar”, đã thống kê được 152 loài cây thuốc

được sử dụng bởi người dân địa phương để điều trị các bệnh, trong đó ghi

nhận 8 loài được sử dụng bởi những người phụ nữ để điều trị các biến chứng

trong khi sinh, các bệnh nhiệt đới như: sốt rét, giun chỉ và các bệnh liên quan

đến tình dục như bệnh lậu và giang mai.

Nghiên cứu về “sử dụng và quản lý cây thuốc truyền thống của cộng

đồng dân tộc Maale và Ari, ở miền nam Ethiopia”, đã ghi nhận 128 loài cây

thuốc thuộc 111 chi và 49 họ được cộng đồng người Maale và Ari sử dụng để

điều trị các loại bệnh khác nhau (Berhane Kidane và cs., 2014) [41].

Kết quả nghiên cứu về cây thuốc được sử dụng trong y học cổ truyền

bởi những người Oromo, quận Ghimbi, Tây Nam Ethiopia đã thống kê được

49 loài cây thuốc thuộc 31 họ và 46 chi được người Oromo sử dụng để điều

trị các loại bệnh khác nhau (Balcha Abera, 2014) [39].

Như vậy, việc điều tra và thống kê các loài cây thuốc đã để lại

những công trình mang tính khoa học, tính dân tộc sâu sắc, cho thấy vốn

tri thức dân gian bản địa về sử dụng cây thuốc trên thế giới là vô cùng đa

dạng và phong phú.

2.2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở trong nước

Ở Việt Nam, tập quán sử dụng cây thuốc đã có từ rất lâu đời. Trải qua

hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã phải trải qua các

cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đấu tranh với thiên nhiên và bệnh tật.

Từ những buổi đầu sơ khai, từ khi con người còn sống theo lối nguyên thủy,

trong quá trình tìm tòi thức ăn, tổ tiên chúng ta đã phát hiện ra công dụng và

tác hại của nhiều loại cây. Suốt một quãng thời gian dài như vậy, tổ tiên

8

chúng ta đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm, biết lợi dụng tính chất của

các loài cây rừng để làm thức ăn và làm thuốc chữa bệnh (Trần Thúy và cs.,

2005) [21].

Thế kỷ thứ XI (TCN), Người dân Việt Nam ta có tục ăn trầu cho ấm

người, thơm miệng, uống nước chè xanh cho mát và nụ vối cho dễ tiêu,…

điều đó nói lên những hiểu biết về dinh dưỡng và sử dụng thuốc của dân tộc

(Lê Trần Đức, 1997) [9].

Từ xa xưa, thời Hùng Vương, tổ tiên ta đã biết nấu rượu, biết dùng

Thủy ngân để ướp xác và sử sách đã ghi chép về một lương y tên là Thôi Vỹ

đã biết chữa bệnh lao hạch ở thời An Dương Vương (257 – 207) (Trần Thúy

và cs., 2005) [21].

Thời nhà Lý (1010 – 1221) đã có tổ chức Ty Thái Y chăm lo và bảo vệ

sức khỏe cho nhà vua, có nhiều thầy thuốc chuyên lo việc chữa bệnh cho nhân

dân và phương pháp chữa bệnh bằng tâm lý liệu pháp phát triển. Trong sử

sách còn ghi lại năm 1136, vua Lý Thần Tông khi bị điên đã được lương y

Nguyễn Chí Thành người Gia Viễn – Ninh Bình dùng tâm lý liệu pháp và tắm

nước Bồ hòn chữa cho khỏi bệnh. Nhà Lý đặt quan hệ với Tống Huy Tông

(Trung Quốc) trao đổi thuốc Nam lấy thuốc Bắc (Trần Thúy và cs., 2005)

[21]. Ở thời này, làng Đại Yên là một làng thuốc nổi tiếng, chuyên trồng và

bán các loại cây thuốc Nam phục vụ công tác chữa bệnh (Viện dược liệu,

1993) [27].

Thời nhà Trần (1224 – 1399), y học cũng khá phát triển, đã có kế hoạch

tự túc thuốc Nam để kháng chiến. Tướng Phạm Ngũ Lão đã trồng cây thuốc ở

Vạn An và Dược Sơn (xã Hưng Đạo – Chí Linh – Hải Dương) để cung cấp

cho quân y (Lê Trần Đức, 1997) [9]. Nổi bật ở thời này là nhà sư Tuệ Tĩnh

(Nguyễn Bá Tĩnh) – được nhân dân tôn trọng, gọi là “Ông thánh thuốc Nam”.

Tuệ Tĩnh đã xây dựng 74 ngôi chùa chữa bệnh cho nhân dân không lấy tiền

9

và gây phong trào trồng thuốc ở gia đình. Ông là một đại sư nước Việt dùng

thuốc Nam giảm giá trị của thuốc Bắc, sắc thuốc chữa bệnh cho nhân dân với

phương châm: “thuốc Nam chữa bệnh người Nam” ông đã truyền bá y dược

cổ truyền cho nhân dân trong các tác phẩm (Lê Trần Đức, 1997) [9]. Thời kỳ

nhà Lê (1428 – 1876) đã có những chủ trương tiến bộ trong việc chăm sóc và

bảo vệ sức khỏe của nhân dân, tổ chức Thái Y Viện, có lương y chăm lo việc

chữa bệnh cho quân đội, hàng năm tổ chức các đợt phòng và chống dịch bệnh

cho nhân dân. Trong giai đoạn này có làng thuốc ở thôn Nghĩa Trai, huyện Văn

Lâm, hiện nay vẫn còn tồn tại và phát triển (Trần Thúy và cs., 2005) [21].

Thế kỷ XVIII, Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (1729 –

1791) đã thừa kế dược học của Tuệ Tĩnh chép vào tập “Lĩnh Nam bản thảo”

nội dung gồm 496 vị thuốc Nam của “Nam dược thần hiệu” và phát hiện thêm

hơn 300 vị nữa. Tác giả đã để lại bộ sách thuốc rất có giá trị là: “Tân Hoa Hải

Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh dương an toàn trạch” gọi tắt là “Lãn Ông Y

Nghiệp” hay “Lãn Ông Y Tập” gồm 66 quyển (Nguyễn Nhân Thống, 2008)

[19]. Suốt 30 năm của cuộc dời mình, tác giả đã xây dựng được nền móng cho

nền y học cổ truyền Việt Nam toàn diện cả về lý luận, phương pháp điều trị

và dược liệu.

Ngoài các bộ sách nêu trên, còn kể đến tập “Vạn phương thập nghiệm”

của Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh gồm 8 tập, xuất bản 1763. Tập “Nam bang

thảo mộc” của Trần Nguyệt Phương mô tả 100 loài cây thuốc Nam, xuất bản

năm 1858 (Lê Trần Đức, 1997) [9].

Thời kỳ Tây Sơn (1788 – 1808) Nguyễn Hoành đã để lại tập “Nam

dược” với 620 vị thuốc, với các phương thuốc kinh nghiệm gia truyền (Lê

Trần Đức, 1997) [9].

Thời kỳ từ năm 1802 – 1883, nhà Nguyễn cũng tổ chức Thái Y Viện, tổ

chức điều trị bệnh phong tập trung, mở trường dạy thuốc ở Huế (Trần Thúy

10

và cs., 2005) [21]. Nguyễn Quang Lượng, Nguyễn Kinh,… là những danh y

nổi tiếng thời này, đã góp phần phát triển nền y học với quyển: “Nam dược

tập nghiệm quốc âm” bằng chữ Nôm của Nguyễn Quang Lượng về phương

thuốc dân gian.

Thời kỳ Pháp thuộc (1848 – 1945), y học cổ truyền nước ta có một số

hoạt động như: Thành lập các hội y học ở Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ; mở các

lớp huấn luyện y học cổ truyền, mở các phòng chữa bệnh, tổ chức triển lãm y

học cổ truyền,… (Trần Thúy và cs., 2005) [21]. Đến đầu thế kỷ XX, đã cho

xuất bản một số sách Y học cổ truyền bằng chữ quốc ngữ như “Việt Nam

dược học” của Phó Đức Thành. Nhiều nhà thực vật học người Pháp và người

Việt góp công nghiên cứu cây thuốc Việt Nam, như: bộ “Trung Việt dược

tính hợp biên” của Đinh Nho Chân với 1.600 vị thuốc Nam Bắc. Công trình

nghiên cứu của Crévót, Pétélot. Pétélot đã cho xuất bản bộ “Catalogue des

produits de L’Indochine” (1928 – 1935), trong đó tập V (Produits

medicinaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc là các loài thực vật có

hoa. Năm 1952, tác giả đã cho bổ sung và xây dựng thành bộ “Les plantes de

médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam”, gồm 4 tập và thống kê

được 1.482 vị thuốc thảo mộc ở ba nước Đông Dương (Lê Thị Thanh Hương,

2007) [12].

Sau cách mạng tháng 8 – 1945, y dược học cổ truyền đạt được những

thành tựu to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Bộ y tế cùng y học hiện đại, sức khỏe

của người dân được quan tâm và chăm lo chu đáo hơn. Chỉ thị số 210

TTG/VG ngày 06/12/1966 của thủ tướng chính phủ đã nhận định như sau:

“Dược liệu nước ta rất nhiều, gồm các loài cây thuốc và một số động vật. Có

nhiều loài quý, hiếm ở trên thế giới. Dược liệu ở nước ta chẳng những là cơ

sở cho nền y học dân tộc mà còn có một vị trí quan trọng trong nền y học hiện

đại, chẳng những là nguồn tự cung tự cấp về các loài cây thuốc Nam, thuốc

11

Bắc, thuốc Tây, mà còn là loại hàng xuất khẩu có giá trị… phải coi trọng

dược liệu như cây công nghiệp cao cấp” (Võ Văn Chi, 1996) [5].

Chính vì vậy, sau khi nước nhà thống nhất, việc nghiên cứu cây thuốc ở

nước ta được quan tâm nhiều hơn. Có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu, tìm tòi

và phát hiện thêm nhiều loài cây thuốc mới. Tiêu biểu có thể kể đến bộ sách

“Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập, do Đỗ Tất Lợi biên

soạn năm 1957 và đến năm 1961, cuốn sách này được tái bản in thành 2 tập.

Trong đó, tác giả đã mô tả chi tiết và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc

nam (Nguyễn Tập, 2007) [15]. Đỗ Tất Lợi đã tiếp tục dày công nghiên cứu và

trrong những năm từ 1962 – 1965, tác giả cho xuất bản bộ “Những cây thuốc

và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập, năm 1969 tái bản trong 2 tập. Cuốn sách

này của tác giả đã đề cập đến trên 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động

vật và khoáng vật. Tác giả đã kiên trì nghiên cứu, bổ sung liên tục các loài

cây thuốc trong các công trình nghiên cứu của mình và sách đã được tái bản

nhiều lần và các năm 1970, 1977, 1981, 1986, 1995, 1999, 2001 và năm 2003.

Lần tái bản thứ 7 vào năm 1995 số cây thuốc của ông nghiên cứu đã

lên tới 792 loài và gần đây nhất là lần tái bản lần thứ 13 (dẫn theo Lê Thị

Thanh Hương, 2007) [12]. Bộ sách của ông đã mang lại giá trị khoa học và

giá trị thực tiễn sâu sắc, thể hiện sự kết hợp giữa khoa học dân gian và

khoa học hiện đại.

Trong những năm này, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa

học đã được xuất bản thành các tập sách như: “Tài Nguyên cây thuốc Việt

Nam” vào 1993 của Viện Dược liệu, với khoảng 300 loài cây thuốc (Phạm

Hoàng Hộ, 2006) [11]; Trần Đình Lý với cuốn “1900 loài cây có ích” năm

1995, đã thống kê ở Việt Nam có khoảng 76 loài cho nhựa thơm, 260 loài cho

dầu béo, 160 loài có tinh dầu, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây (dẫn theo Lê

Thị Thanh Hương, 2007) [12]. Lương y lão thành, thầy thuốc ưu tú Lê Trần

12

Đức với cuốn: “Cây thuốc Việt Nam” năm 1995 đã giới thiệu hơn 830 loài

cây thuốc chính, phụ (Lê Trần Đức, 1997) [9]. Võ Văn Chi là một nhà thực

vật lớn của Việt Nam, đã đóng góp rất nhiều trong quá trình nghiên cứu về

các loài thực vật ở Việt Nam và ông đã biên soạn cuốn “Từ điển cây thuốc

Việt Nam”, trong đó ông mô tả rất tỷ mỷ về các cây được sử dụng làm thuốc

ở Việt Nam bao gồm 3.200 cây (Nguyễn Thượng Dong và cs., 2006) [8].

Ngoài ra, cuốn “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” tập I, II đề cập đến rất nhiều cây

cỏ có ích như làm gỗ, làm lương thực, làm thuốc (Nguyễn Thượng Dong và

cs., 2006) [8].

Từ những năm 2000 cho đến nay, đã có nhiều cuốn sách và các tài liệu

về cây thuốc được xuất bản nhằm đáp ứng nhu cầu của nhiều người quan tâm

tới cây thuốc trên khắp đất nước Việt Nam như: “577 bài thuốc dân gian gia

truyền” (Âu Anh Khâm, 2001) [13]; “Thuốc Nam, thuốc Bắc và các phương

thang chữa bệnh” (Tào Duy Cần, 2001) [1] và cuốn “Thuốc bệnh 24 chuyên

khoa” (Tào Duy Cần, 2006) [2]; “Nghiên cứu cây thuốc từ thảo dược”

(Nguyễn Thượng Dong và cs., 2006) [8]; “Cây có vị thuốc ở Việt Nam” do

Phạm Hoàng Hộ nghiên cứu và tập hợp (Phạm Hoàng Hộ, 2006) [11]; “cây

thuốc, bài thuốc và biệt dược” của Phạm Thiệp và cs. (2000) [16] đề cập tới

327 cây thuốc phổ biến,… Đồng thời, có nhiều công trình nghiên cứu về cây

thuốc trên cả nước công bố trên các tạp chí về cây thuốc như: Đặng Quang

Châu đã công bố một số dẫn liệu về cây thuốc của dân tộc Thái ở huyện

Nghĩa Đàn (Nghệ An) gồm 177 loài, thuộc 149 chi, thuộc 71 họ khác nhau

(Đặng Quang Châu, 2011) [4]. Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải khi điều tra

các loài cây của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu (Nghệ An) đã thu được 93

loài thuộc 7 chi, 42 họ (Đặng Quang Châu và Bùi Hồng Hải, 2003) [3].

Các tác giả đã phân loại cây được sử dụng theo các nhóm bệnh: bệnh

ngoài da, bệnh về đường tiêu hóa, bệnh về gan, bệnh về xương… Lưu Đàm

13

Cư và cs. (2004) [7] khi điều tra các loài cây có ích của dân tộc H’mông ở

vùng núi cao phía Bắc đã phân loại được 4 nhóm theo công dụng: cây lương

thực – thực phẩm, cây làm thuốc, cây có độc, cây để nhuộm màu, cây ăn quả.

Trong nhóm này cây làm thuốc đã thống kê được 657 loài thuộc 118 họ mà

người H’mông sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho người và gia súc. Nguyễn

Thị Thủy và Phạm Văn Thỉnh (2004) [20] đã xây dựng các mô hình vườn bảo

tồn cây thuốc ở vùng cao Sa Pa, như vườn rừng, trang trại, vườn các hộ gia

đình. Bước đầu đã bảo tồn được 52 loài cây thuốc thuộc 28 họ, trong đó có

nhiều loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.

Trong Hội nghị Khoa học Toàn quốc lần thứ 4 năm 2011 tại Hà Nội, đã

có nhiều báo cáo khoa học về tài nguyên cây thuốc và cách sử dụng các loài

cây thuốc trong điều trị các bệnh của cộng đồng dân tộc ở Việt Nam được

công bố như: một số kết quả nghiên cứu “Các loài thực vật được đồng bào

dân tộc Mường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò sử dụng làm

thuốc trị bệnh thận” của các tác giả Đỗ Sĩ Hiến và Đỗ Thị Xuyến đã chỉ ra 65

loài thực vật được đồng bào dân tộc Mường sử dụng làm thuốc chữa bệnh về

thận (dẫn theo Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4, 2011) [25]. “Đánh giá

đa dạng nguồn gen cây thuốc của người Sán Chí ở xã Tức Tranh, huyện Phú

Lương, tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Lê Thị Thanh Hương và cs. đã xác định

được 90 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 82 chi, 50 họ thực vật của 2

ngành thực vật bậc cao có mạch được đồng bào dân tộc Sán Chí ở xã Tức

Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên dùng làm thuốc (dẫn theo Hội

nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4, 2011) [25]. “Những cây thuốc được sử

dụng thay thế mật gấu theo kinh nghiệm dân gian và đông y ở một số địa bàn

tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Lê Thị Thanh Hương và Nguyễn Thị Thuận đã

thu được 35 loài thuộc 27 chi, 21 họ của 2 ngành thực vật bậc cao được sử

dụng làm thuốc chữa bệnh thay thế mật gấu ở một số địa bàn tỉnh Thái

14

Nguyên (dẫn theo Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4, 2011) [25]. “Điều

tra các loài cây thuốc và giá trị sử dụng của chúng ở một số xã thuộc huyện

Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp” của tác giả Võ Thị Phượng và Ngô Trực Nhã đã

điều tra và thống kê 232 loài cây được sử dụng làm thuốc thuộc 186 chi, 90

họ tại các xã của huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (dẫn theo Hội nghị Khoa

học toàn quốc lần thứ 4, 2011) [25]. Nguyễn Xuân Hoà, Nguyễn Thị Thanh

Thuỷ, Nguyễn Nhật Như Thuỷ (2013) khi nghiên cứu hiện trạng hệ sinh thái

rừng ngập mặn và thảm cỏ biển ở khu vực đầm thuỷ triều tỉnh Khánh Hoà đã

cho thấy thành phần loài cây khá nghèo nàn với 26 loài được xác định, trong

đó có 16 loài cây ngập mặn thực sự và 10 loài cây tham gia rừng ngập mặn.

Nguyễn Thị Kim Oanh (2015) [28], khi nghiên cứu tri thức bản địa và

sử dụng tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao tại khu rừng du lịch

văn hóa xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã xác định được 73

loài cây thực vật làm thuốc tại cộng đồng dân tộc Dao và đã xác định được

tương đối về tên địa phương, tên phổ thông, tên khoa học, gồm 43 họ thực vật

thuộc 3 ngành thực vật. Tác giả còn thống kê được 15 bài thuốc với 36 loài

cây được sử dụng trong bài thuốc xác định được bộ phận cây thuốc mà người

dân thường dùng và cách pha chế của mỗi bài thuốc. Trong đó xác định được

8 bài thuốc cần được lưu giữ bảo tồn: chữa bệnh tim, chữa băng huyết, tắm

cho bà đẻ, chữa khớp và toái hóa cột sống, trị cảm và đau bụng, giúp dễ sinh,

chữa mất ngủ, chữa sỏi thận và đái vàng, đây là các bài thuốc được người dân

sử dụng phổ biến và có hiệu quả cao trong chữa trị bệnh.

Bùi Thị Ngân (2018) [29] khi nghiên cứu tri thức bản địa trong sử

dụng, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày

tại xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã thống kê được

108 loài cây thực vật làm thuốc tại cộng đồng dân tộc Tày và đã được xác

15

định tương đối về tên phổ thông, tên địa phương, tên khoa học của các loài

thực vật.

Khi nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong

cộng đồng dân tộc Dao ở xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

của Nguyễn Minh Hiếu và cs. (2018) [30] đã thu được 71 loài thực vật bậc

cao có mạch thuộc ngành Ngọc lan có 67 loài thuộc 60 chi và 42 họ, thuộc

ngành Dương sỉ với 2 loài thuộc 2 chi và 2 họ , ngành Mộc tặc có 1 loài thuộc

1 chi và 1 họ , thuộc ngành Thạch tùng có 1 loài thuộc 1 chi và 1 họ, thuộc

ngành Dây gắm có 1 loài thuộc 1 chi và 1 họ có công dụng làm thuốc.

Nông Thái Hòa (2018) [31] khi nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt

tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc tại xã Hoàng Nông, huyện Đại

Từ, tỉnh Thái Nguyên xác định được 137 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc

ngành Ngọc lan thuộc 129 chi và 72 họ có công dụng làm thuốc. Số họ thực

vật làm thuốc là 72 họ, Trong đó, họ nhiều loài nhất là họ Thầu dầu

(Euphorbiaceae) với 10 loài; họ Cúc (Asteraceae) và họ Hòa thảo (Poaceae)

với 7 loài. Trong 129 chi, có tới 13 chi có 2 loài được sử dụng làm thuốc.

Dương Văn Hưng (2018) [32] khi nghiên cứu cây thuốc và đánh giá

hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc tại xã Yên Ninh, huyện Phú

Lương, tỉnh Thái Nguyên đã thu được 149 loài thực vật bậc cao có mạch,

thuộc ngành Thông có 1 loài thuộc 1 chi và 1 họ, thuộc ngành Dương xỉ có 3

loài thuộc 3 chi và 3 họ, thuộc ngành Mộc lan có 145 loài thuộc 133 chi và 70

họ có công dụng làm thuốc.

Ma Văn Khiêm (2018) [33] khi nghiên cứu tri thức bản địa trong sử

dụng, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao

tại xã Tân An, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã thống kê được 73 loài

cây thực vật làm thuốc tại cộng đồng dân tộc Dao và đã xác định được tương

đối về tên địa phương, tên phổ thông, tên khoa học. Phát hiện được 18 bài

16

thuốc trong tổng số hơn 22 loài cây được sử dụng trong bài thuốc, xác định

được bộ phận cây thuốc mà người dân thường dùng và cách pha chế của mỗi

bài thuốc.

Vàng A Lả (2018) [34] khi nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính

kháng khuẩn của một số loài cây thuốc tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương,

tỉnh Thái Nguyên đã xác định được 183 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc

ngành Dương xỉ có 2 loài thuộc 2 họ và 2 chi. Thuộc ngành Nấm có 1 loài

thuộc 1 chi và 1 họ, Thuộc ngành Mộc Lan có 180 loài thuộc 156 chi và 87 họ

có công dụng làm thuốc chữa bệnh.

Lục Thanh Sắc (2018) [35] Khi nghiên cứu về tri thức bản địa trong sử

dụng, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao

tại xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã thống kê được 85

loài cây thực vật làm thuốc tại cộng đồng dân tộc Dao và đã xác định được

tương đối về tên địa phương, tên phổ thông, tên khoa học. Ngoài ra, Tác giả

còn phát hiện ra 22 bài thuốc trong tổng số hơn 57 loài cây được sử dụng

trong bài thuốc, xác định được bộ phận cây thuốc mà người dân thường dùng

và cách pha chế của mỗi bài thuốc.

Việt Nam là một nước có tài nguyên rừng rất đa dạng và phong phú

nhưng vì ở trong những khu rừng hay gần rừng lại thường tập trung nhiều

cộng đồng các dân tộc sinh sống, có nhiều nền văn hóa đặc sắc khác nhau, tri

thức bản địa trong việc sử dụng cây làm thuốc cũng rất đa dạng và phong phú,

mỗi dân tộc có các cây thuốc và bài thuốc riêng biệt, cách pha chế và sử dụng

khác nhau. Nên hiện nay, nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị giảm

sút nghiêm trọng, kéo theo sự đa dạng sinh học cũng bị suy giảm trong đó có

cả một số cây thuốc bản địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần,

vậy việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn sử dụng tài nguyên cây thuốc bản

địa là một việc rất cần thiết. Các cộng đồng dân tộc thiểu số, họ có những bài

17

thuốc kinh nghiệm rất hay và đơn giản nhưng lại chữa bệnh hiệu quả rất cao.

Lào Cai cũng là một tỉnh tập trung nhiều dân tộc thiểu số sinh sống đặc biệt là

huyện Đại Từ, nơi giáp với khu bảo tồn thiên nhiên Tam Đảo và nhiều cộng

đồng dân tộc thiểu số sinh sống trong khu bảo tồn và gần khu bảo tồn, trong

đó có dân tộc, Nùng, Dao. Vì vậy, đây là một nơi lý tưởng cho nghiên cứu

kiến thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc, các bài thuốc

dân gian từ thiên nhiên của cộng đồng dân tộc địa phương nơi đây. Việc điều

tra và thống kê các loài cây thuốc, các bài thuốc không những mang lại những

giá trị khoa học, giá trị thực tiễn sâu sắc mà còn đóng góp và công tác bảo tồn

nguồn dược liệu nước nhà, bảo tồn những bài thuốc hay. Nhằm góp phần, bảo

tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu

2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

* Vị trí địa lý

Xã Phú Xuyên cách trung tâm huyện Đại Từ 40 km về phía Tây Nam,

vị trí địa lý có các mặt tiếp giáp như sau:

Phía đông giáp xã Bản Ngoại và xã Phú Thịnh

Phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang

Phía nam giáp xã La Bằng

Phía bắc giáp xã Na Mao và xã Yên Lãng.

18

* Địa hình, địa mạo

Xã Phú Xuyên có địa hình tương đối đặc trưng :

Phía Tây là núi cao và phía Đông là cánh đồng bằng phẳng ven theo

quốc lộ QL37. Địa hình thấp dần từ phía Tây xuống Đông Bắc với đồi núi

thấp, đồng bằng xen kẽ sông, suối, ao hồ. Trên địa bàn xã Phú Xuyên có 3

con suối bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo có tổng chiều dài khoảng 9 km. Đặc

điểm về địa hình của xã phần lớn là đồi núi, địa hình dốc dần theo hướng Tây

Bắc - Đông Nam.

* Địa chất, thổ nhưỡng

Theo báo cáo tổng kết của UBND xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh

Thái Nguyên năm 2019 [22] đã thống kê được như sau: tổng diện tích tự

nhiên của xã là 2.320,06 ha, trong đó:

Đất nông nghiệp 2.095,33 ha;

Đất phi nông nghiệp 216,25 ha;

Đất chưa sử dụng 1,84 ha.

* Đặc điểm khí hậu

Là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11,

khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, gió Đông

Bắc chiếm ưu thế, lượng mưa ít, thời tiết hanh khô. Đặc trưng khí hậu nhiệt

đới nóng ẩm thể hiện rõ qua các chỉ số: Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng

230C; tổng lượng mưa bình quân hàng năm 1.700 - 2.200mm, phân bố không

đều có chênh lệch lớn giữa mùa mưa và mùa khô.

* Chế độ thủy văn

Tổng diện tích mặt nước trên địa bàn xã hiện trạng là 32,85 ha, trong

đó: diện tích ao, hồ, đầm 9,2 ha, diện tích đất sông suối 23,65 ha gồm 2 con

suối bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo chảy theo hướng Tây - Bắc và Đông

Nam. Toàn bộ diện tích ao, hồ, đầm hiện tại đã và đang được các hộ dân sử

dụng để nuôi trồng thủy sản kết hợp việc tưới tiêu sản xuất nông nghiệp. Các

19

con suối chảy trên địa bàn xã là nguồn cung cấp nước chủ yếu phục vụ sản

xuất và sinh hoạt của nhân dân.

* Hiện trạng thảm thực vật

Điều kiện sinh thái và địa hình xã Phú Xuyên có thảm thực vật chủ yếu

ở trên địa bàn xã là rừng tự nhiên.

2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

* Dân cư, dân tộc

Xã Phú Xuyên được chia thành 18 xóm có 7 dân tộc cùng sinh sống, cả

xã có 2079 hộ, 7608 khẩu trong đódân tộc Kinh là chiếm 58% còn lại là các

dân tộc thiểu số như

Dao, Tày, Nùng, Cao Lan, Sán Chỉ, Ngái. Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 6,32%

với 119 hộ.

* Kinh tế

Cuộc sống của đồng bào dân tộc tại địa phương gắn với sản xuất nông

lâm nghiệp, đặc biệt là gắn với cây lúa, rừng và đất rừng. Các hoạt động sinh

kế truyền thống chính là khai thác sản phẩm tự nhiên, canh tác lúa nước,

nương rẫy, chăn nuôi. Rừng và đất rừng là nguồn tài nguyên đặc biệt quan

trọng đối với sinh kế, cuộc sống của đồng bào người Nùng và Dao.

20

PHẦN 3

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Dao,

Nùng tại xã Phú Xuyên sử dụng làm thuốc chữa bệnh; kinh nghiệm sử dụng

cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao, Nùng tại xã tại xã Phú Xuyên, huyện

Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Phạm vi nghiên cứu:

- Địa điểm nghiên cứu:

+ Công tác điều tra thực địa được tiến hành tại xã Phú Xuyên, huyện

Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

+ Nghiên cứu thực nghiệm (xác định hoạt tính khánh khuẩn) được tiến

hành tại phòng thí nghiệm Khoa công nghệ sinh học - trường Đại học Khoa

học Thái nguyên.

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2020 đến tháng 05/2020.

- Nghiên cứu tri thức dân tộc thiểu số: Dân tộc Dao, Nùng.

3.2. Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng tại xã

Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên:

+ Đánh giá đa dạng các bậc taxon của nguồn tài nguyên cây thuốc: đa

dạng bậc họ; đa dạng bậc chi.

+ Đánh giá đa dạng về dạng sống của thực vật làm thuốc.

+ Đánh giá về môi trường sống của thực vật làm thuốc.

- Xác định những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn: Đánh giá ở mức độ

quý hiếm của các loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu.

21

- Vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của các cộng đồng

dân tộc thiểu số ở xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

+ Kinh nghiệm sử dụng bộ phận làm thuốc của cộng đồng dân tộc thiểu

số ở Phú Xuyên.

+ Kinh nghiệm về nhóm bệnh chữa trị của cộng đồng dân tộc thiểu số ở

xã Phú Xuyên.

+ Ảnh hưởng của sự giao thoa giữa các dân tộc đến vốn tri thức bản địa

trong việc sử dụng cây thuốc.

+ Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu. 3.3. Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các kết quả gắn với các nội dung nghiên cứu trên, cách

thức và giải pháp thực hiện ý tưởng bao gồm như sau:

* Phương pháp kế thừa

- Kế thừa những những tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã

hội ở khu vực nghiên cứu và các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến vấn

đề nghiên cứu.

- Kế thừa kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các ông lang, bà mế

người dân tộc Nùng, Dao ở khu vực nghiên cứu.

* Phương pháp điều tra thực địa

- Điều tra phỏng vấn thu thập cây thuốc: tại khu vực nghiên cứu, phỏng

vấn các ông lang, bà mế, người dân có kinh nghiệm sử dụng cây thuốc và sử

dụng các bài thuốc gia truyền của cộng đồng dân tộc ít người tại địa bàn

nghiên cứu. Mẫu phiếu điều tra dựa theo: phiếu điều tra cây thuốc trong cộng

đồng và phiếu điều tra bài thuốc gian dân (Viện Dược liệu, Bộ Y tế) [27].

Bảng 3.1. Mẫu bảng điều tra nguồn cây thuốc được cộng đồng một số dân

tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu sử dụng trong phòng và điều trị bệnh

Thời gian điều tra: Người điều tra:

22

Cán bộ được phỏng vấn

TT

Tên địa phương

Dạng cây

Công dụng

Tên phổ thông

Môi trường sống

Cách sử dụng

Bộ phận sử dụng

Số hiệu mẫu / ảnh

Họ tên

Địa chỉ

Điên thoại

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

(6)

(7)

(8)

(9)

(10)

(11)

(12)

……. …… …. ….. ……. …… ….. ….. ….. …. …..

Địa điểm điều tra: Địa chỉ điều tra:

- Thu thập đầy đủ các thông tin cây thuốc gồm: tên phổ thông, tên dân

tộc Nùng, Dao; số hiệu mẫu/ảnh cây thuốc; dạng sống; môi trường sống; bộ

phận sử dụng làm thuốc (thân, rễ, hoa, quả, hạt, nhựa, vỏ); công dụng. Đồng

thời ghi chép những đặc điểm dễ nhận biết của cây ngoài thiên nhiên, ghi rõ

thời gian, địa điểm và người thu thập thông tin.

- Định danh tên cây: định danh loài cây theo các bước: (i) định danh tại

thực địa; (ii) sử dụng kiến thức kinh nghiệm của các chuyên gia và nguồn tài

liệu tin cậy đã công bố giám định lại.

+ Bước 1: xác định sơ bộ tên địa phương, tên thường gọi được thực

hiện ngay ở lần điều tra đầu tiên. Đối với những loài chưa chắc chắn thì ghi

chú để kiểm định lại ở bước sau. Các loài không biết tên cần phải lấy mẫu (lá,

hoa, quả,...) và ghi vào biểu điều tra bằng ký hiệu sp1, sp2,... để giám định.

+ Bước 2: Tất cả các cây được thẩm định lại tên cây, lập danh mục cây

thuốc bằng sử dụng kiến thức kinh nghiệm của các chuyên gia về thực vật và

nguồn tài liệu tin cậy đã công bố gồm: Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ,

2001) [10], Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 2012) [6], Những cây

thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2005) [14], Danh lục các loài thực

vật Việt Nam (Trung tâm NCTN&MT – Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện

ST&TNSV, 2001 – 2005) [26]. Danh sách tên cây thuốc sẽ được hoàn thiện ở

bước này.

23

* Phương pháp thu thập mẫu: Đối với loài cây chưa xác định được tên

ở ngoài thực địa và loài cần giám định lại tên.

- Tiến hành thu mẫu ở thực địa: Mỗi cây thuốc thu từ 3 đến 10 mẫu ( lá,

hoa, quả, thân, rễ,...) và được gắn nhãn ghi rõ các thông tin về ký hiệu mẫu,

địa điểm, thời gian và người thu mẫu (các mẫu cùng cây đánh số cùng số hiệu

mẫu).

- Dụng cụ thu mẫu: bản gỗ ép mẫu, túi đựng mẫu, bao tải dứa, kéo cắt

cây, giấy báo, dây buộc, etyket, bút chữ A, sổ ghi chép, máy ảnh (Nguyễn

Nghĩa Thìn, 1997) [17].

Hình 3.1: Các dụng cụ sử dụng cho nghiên cứu trong đề tài

* Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc

Để đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của cộng đồng

dân tộc Nùng, Dao tại khu vực nghiên cứu, tôi sử dụng phương pháp đánh giá

của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [18]:

- Đa dạng về bậc phân loại: ngành, lớp, họ, chi, loài.

- Đa dạng về dạng sống: dây leo, gỗ trung bình, gỗ nhỏ, thảo, bụi.

- Đa dạng về môi trường sống: rừng, đồi, vườn, ven suối.

24

- Đa dạng về bộ phận sử dụng làm thuốc: thân, rễ, lá, hoa, quả, hạt, vỏ,

cả cây.

- Đa dạng về các nhóm bệnh chữa trị: bệnh về khớp, tim, dạ dày, gan,

giải độc, xương,…

* Phương pháp đánh giá mức độ nguy cấp

Đánh giá mức độ nguy cấp của các loài cây thuốc, xác định những cây

thuốc thuộc diện bảo tồn ở khu vực nghiên cứu theo: Sách đỏ Việt Nam, phần

thực vật rừng (Bộ KH&CN, 2007) [23], Nghị định 06/2019/NĐ-CP (Chính

phủ nước Việt Nam, 2019) [24], Danh sách đỏ cây thuốc Việt Nam trong

 Cực kỳ nguy cấp (CE): Critically Endangered  Nhóm nguy cấp (EN): Endangered  Sẽ nguy cấp (VU): Vulnerable  Sắp bị đe dọa (NT): Near Threatened  Mức độ hiếm ( R): Rare  Bị đe dọa (T): Threatened  Nhóm thiếu dữ liệu thống kê (K): Insufficiently known

Cẩm nang cây thuốc cần được bảo vệ ở Việt Nam (Nguyễn Tập, 2007) [15]. Các mức đánh giá về độ nguy cấp được liệt kê trong Sách Đỏ Việt Nam bao gồm:

 Nhóm I: Các loài động thực vật rừng đang có nguy cơ tuyệt chủng, nghiêm cấm mọi hành vi khai thác và sử dụng với mục đích thương mại. Nhóm IA là các loài thực vật còn nhóm IB là động vật rừng.

 Nhóm II: Bao gồm những loài động thực vật rừng chưa bị đe dọa tuyệt chủng nhưng cần được bảo vệ và hạn chế khai thác, sử dụng với mục đích thương mại. Nhóm IIA là các loài thực vật còn IIB là các động vật rừng.

Ngoài ra, theo Nghị định 06/2019 của Chính phủ thì các loài động, thực vật rừng sẽ được chia thành các nhóm chính sau:

* Phương pháp nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn

- Bước 1: Chuẩn bị nguyên liệu

25

Nguyên liệu lá, thân, rễ cây thuốc sau khi thu hái được rửa sạch, để ráo

nước sau đó đem sấy khô ở 900C đến khối lượng không đổi.

- Nguyên liệu sau khi sấy khô được nghiền trong máy xay đa năng loại

nhỏ thành bột dạng mịn, bảo quản nơi khô ráo để sử dụng trong các nghiên

cứu tiếp theo.

- Bước 2: Tạo cao chiết

Nguyên liệu được tách chiết theo phương pháp ngâm nóng. Nguyên

liệu dạng bột khô được đem đi chiết với tỷ lệ 10 g/100 ml bằng dung môi

methanol, sau đó cho vào máy lắc với tần số 200 vòng/phút (để các chất có

hoạt tính sinh học tan đều trong dung môi) ở các điều kiện thời gian 24 giờ,

sau đó tiến hành lọc qua giấy lọc, 80 ml dịch lọc được đem đi cô đặc bằng

máy cô quay (hoặc sấy khô) đến khi có khối lượng khô không đổi và được

bảo quản ở 40C để sử dụng trong các nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn.

- Bước 3: Chuẩn bị giống vi khuẩn

Sử dụng 2 chủng vi khuẩn gồm 1 chủng gram dương là S.a

(Staphylococcus aureus) và 1 chủng gram âm là E.coli (Escherichia coli), lấy

từ phòng thí nghiệm Vi sinh - Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên. Bảo

quản giống trên môi trường thạch nghiêng: vi sinh vật được hoạt hóa trong

môi trường LB, sau đó được cấy chuyển sang môi trường thạch nghiêng, nuôi

24 giờ ở 370C, giữ trong tủ lạnh để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo.

- Bước 4: Thử khả năng kháng khuẩn

Kiểm tra khả năng kháng khuẩn của cao chiết bằng phương pháp

khuếch tán trên đĩa thạch, thí nhiệm được bố trí 3 lần nhắc lại trên một chủng

vi khuẩn 3 đĩa petri trên 1 lần nhắc lại.

Pha cao chiết của toàn thân cây thuốc với nước ở nồng độ 100 mg/ml

sau đó dùng cao đã pha để thử hoạt tính kháng khuẩn.

26

Các thao tác được thực hiện trong tủ cấy vô trùng. Khi mật độ vi khuẩn đạt

đến nồng độ 106 tế bào/ml, lắc đều ống nghiệm chứa vi khuẩn. Môi trường LB đã

được hóa lỏng trong lò vi sóng, khi còn lỏng đổ đều môi trường vào các đĩa Petri,

sau đó để nguội để môi trường đông đặc lại tạo thành mặt phẳng. Dùng micropipet

hút 100μl dịch vi khuẩn vào giữa đĩa thạch chứa môi trường LB (Thành phần của

môi trường LB là như sau (g/l): Peptone - 10; Cao nấm men - 5; NaCl -10; pH:

7,0), dùng que cấy tam giác trang đều cho đến khi mặt thạch khô. Sau 15 phút đục

giếng trên môi trường thạch với đường kính 6 mm, đục 2 giếng, mỗi giếng cách

nhau 2 – 3 cm. Mỗi giếng thạch nhỏ 100μl dịch cao chiết cần nghiên cứu bằng

micropipet, sử dụng đối chứng dương là kháng sinh Kanamycin và Akamicin

với nồng độ 5mg/ml để so sánh, để các đĩa thạch trong tủ lạnh 30 phút để dịch

cao chiết khuếch tán ra môi trường nuôi cấy vi khuẩn, sau đó nuôi cấy trong

tủ ấm 370C, sau 24h mang ra đo kích thước vòng kháng khuẩn. Hoạt tính

kháng khuẩn được xác định bằng cách đo kích thước vùng kháng khuẩn (BK)

bằng công thức: BK = D - d, trong đó D là đường kính vòng kháng khuẩn, d

là đường kính giếng thạch.

27

PHẦN 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đa dạng các bậc taxon nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng

trong cộng đồng các dân tộc thiểu số xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh

Thái Nguyên

4.1.1. Đa dạng các bậc taxon

4.1.1.1. Đa dạng về bậc ngành

Kết quả điểu tra, nghiên cứu cây thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm

của đồng bào dân tộc Nùng, Dao tại khu vực nghiên cứu đã ghi nhận được

103 loài thực vật thuộc 3 ngành đó là: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta),

Ngành Thông – (Pinophyta) và Ngành Dây gắm – (Gnetophyta) được đồng

bào dân tộc ở đây sử dụng làm thuốc, thuộc 91 chi, 59 họ. Các loài cây này

đều là những cây mọc phổ biến quanh làng bản, ở đồi và ở rừng, cũng là

những loài mà người dân thường gặp, nên họ đã lựa chọn để làm thuốc nhiều

hơn các loài thực vật khác. Kết quả được tổng hợp từ phụ lục 3 thể hiện trong

bảng dưới đây:

Bảng 4.1. Số loài cây thuốc đã phát hiện ở khu vực nghiên cứu

Họ Chi Loài

TT Ngành thực vật

Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %

1 1,69 1 1,10 1 0,97 1

1 1,69 1 1,10 1 0,97 2

57 96,61 89 97,80 101 98,06 3

Ngành Thông - 1 Pinophyta 2 Ngành Dây gắm - Gnetophyta 3 Ngành Ngọc lan - Magnoliophyta Tổng 59 100 91 100 103 100

Kết quả bảng 4.1 cho thấy, Ngành Ngọc lan (Magoliophyta) có số loài

được sử dụng làm thuốc tối ưu hơn 2 ngành còn lại, Ngành Ngọc lan có 57

họ, (chiếm 96,61% tổng số họ), có 89 chi (chiếm 97,80% tổng số chi), có 101

28

loài, (chiếm 98,06% tổng số loài). Tiếp theo là ngành Dây gắm (Gnetophyta)

và ngành Thông cùng có 1 loài, (chiếm 1,69% tổng số họ), 1 họ (chiếm 1,10%

tổng số chi), và 1 chi (chiếm 0,97% tổng số chi).

Sự phân bố không đồng đều nhau của các taxon không chỉ được thể

hiện giữa các ngành mà còn thể hiện qua sự chiếm ưu thế của các lớp trong

ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) như sau:

Bảng 4.2. Số lượng họ, chi, loài thuộc hai lớp trong ngành Ngọc lan

Họ

Chi

Loài

Lớp

SL

SL

SL

Tỉ lệ %

43 75,44 14 24,56 100 57

72 17 89

Tỉ lệ % 80,90 19,10 100

81 20 101

Tỉ lệ % 80,20 19,80 100

Lớp Hai lá mầm- Magnoliopsida Lớp Một lá mầm - Liliopsida Ngành Ngọc lan - Magnoliophyta Tỉ lệ lớp Ngọc lan/lớp Hành

3,07

4,24

4,05

Kết quả cho thấy, lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida) chiếm ưu thế với 43

họ, chiếm 75,44% số họ trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta); số chi là 72,

chiếm 80,90%; và số loài là 81 loài chiếm 80,20%. Một số loài thuộc lớp

Ngọc lan có thể kể đến như: cây giảo cổ lam - Gynostemma pentaphyllum

(Thunb.) Makino được dùng để chữa các bệnh huyết áp cao, mỡ máu; Dây

đau xương - Tinospora sinensis (Lour.) Merr được dùng để chữa các bệnh đau

lưng, đau nhức xương khớp.

Lớp Một lá mầm (Liliopsida) chiếm tỉ trọng thấp hơn với 20 loài, 17

chi và 14 họ. Có thể kể đến một số loài thuộc lớp Hành là: cây Huyết dụ -

Cordyline fruticosa (L.) Goepp được sử dụng để chữa bệnh kinh nguyệt, mát

thận, phụ khoa, xấu máu; cây ráy - Alocasia macrorhizos (L.) G. Don được sử

dụng để chữa bệnh gút.

Tỉ lệ họ giữa lớp Hai lá mầm với lớp Một lá mầm là 3,07 nghĩa là trung

bình cứ 3 đến 4 họ thuộc lớp Hai lá mầm thì sẽ có 1 họ thuộc lớp Một lá

mầm; tương tự tỉ lệ các bậc chi và bậc loài lần lượt là 4,24 và 4,05 có nghĩa

29

là: trung bình cứ 4 chi và 4 loài thuộc lớp Ngọc lan sẽ có 1 chi và 1 họ thuộc

lớp Hành.

Tóm lại, Các loài cây trong ngành Ngọc lan, nhất là các loài thuộc lớp

Hai lá mầm (Magnoliopsida) chiếm một tỷ lệ lớn và đóng vai trò quan trọng

trong các loài thực vật làm thuốc được cộng đồng dân tộc ở khu vực nghiên

cứu sử dụng trong phòng và chữa trị bệnh.

Dưới đây là một số hình ảnh một số loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu:

A. Gối hạc (Leea rubra Blume) B. Vẩy ốc (Ficus pumila)

C. Cây tai chuột D. Thạch xương bồ (Dischidia acuminate) (Acorus gramineus Soland)

Hình 4.1: Hình ảnh một số loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu

30

4.1.1.2. Phân bố số lượng loài trong từng họ

Số lượng họ cây thuốc thu được ở khu vực nghiên cứu bao gồm 59 họ.

Sự phân bố các họ trong các lớp như sau:

Bảng 4.3. Sự phân bố số lượng loài cây thuốc trong các họ

Ngành thực vật

1 loài 2 loài

3 loài

4 loài

5 loài

6 loài

7 loài

8 loài

9 loài

trên 10 loài

2

10

38

0

3

2

1

0

0

0

2

2

10

0

0

0

0

0

0

0

0

8

28

0

3

2

1

0

0

1

0 0 0

1 1 1

0 0 0

0 0 0

0 0 0

0 0 0

0 0 0

0 0 0

0 0 0

0 0 0

1

0

0

0

0

0

0

0

0

0

40

10

2

2

3

0

0

40

20

6

1 5,08 3,39 1,69 0,00 0,00 6 12

10

0

0

1 1,69 9

0 0,00 0

38,83 19,42 5,83 11,65 9,71 5,83 0,00 0,00

8,74

0,00

Magnoliophyta Lớp Một lá mầm - Liliopsida Lớp Hai lá mầm - Magnoliopsida Pinophyta Lớp Thông - Pinopsida Gnetophyta Lớp Dây gắm - Gnetopsida Tổng số họ Tỷ lệ số họ/tổng số họ % 67,80 16,95 3,39 Số loài Tỷ lệ số loài/tổng số loài%

Qua bảng 4.3 cho thấy, sự phân bố số lượng loài cây trong các họ tập

trung chủ yếu ở hai lớp của nghành Ngọc Lan gồm có 38 họ có 1 loài cây, 10

họ có 2 loài cây chiếm 16,95% so với tổng số họ và chiếm 5,83% trên tổng số

loài. Số lượng các họ có từ 3 loài cây trở lên là khá ít, trong đó có duy nhất 1

họ là có 9 loài cây chiếm 8,74% trên tổng số các loài cây thuốc đã được thu

thập số liệu. Lớp Hai lá mầm, chiếm 5,83% số loài so với tổng số loài, số họ

chiếm 1,69% so với tổng số họ điều tra được. Có 2 họ 5 loài là họ Đậu

(Fabaceae) và họ Cà phê (Rubiaceae), chiếm 3,39% so với tổng số họ được

điều tra, cả 2 họ đều thuộc lớp Hai lá mầm, và cả 2 họ có 5 loài này chiếm

3,39% so với số loài điều tra được, có 3 họ 4 loài chiếm 5,08% trong tổng số

họ và chiếm 11,65% trong tổng số loài điều tra được, cả 2 họ đều thuộc lớp

31

Hai lá mầm. Có 2 họ có 3 loài chiếm 3,39% so với tổng số họ và chiếm 5,83%

trong tổng số loài điều tra được, cả 2 họ đều thuộc lớp Một lá mầm đó là họ

Gừng và họ Hòa thảo. Có 10 họ có 2 loài chiếm 16,95% so với tổng số họ và

chiếm 19,42% trong tổng số loài điều tra được, 2 họ thuộc lớp Một lá mầm và

8 họ thuộc lớp Hai lá mầm. Có 40 họ có 1 loài chiếm 67,80% so với tổng số

họ và chiếm 38,83% trong tổng số loài điều tra được, 10 họ thuộc lớp Một lá

mầm, 28 họ thuộc lớp Hai lá mầm ngành Ngọc Lan - 1 họ thuộc lớp Thông

(Pinopsida) ngành Thông - 1 họ lớp Dây gắm (Gnetopsida) ngành Gắm.

Sự đa dạng họ của các loài tại khu vực nghiên cứu được thu thập và tổng

4.1.1.3 Đa dạng họ

hợp trong bảng sau:

Bảng 4.4. Các họ đa dạng nhất ở khu vực nghiên cứu

Số loài

Số chi

STT

Tên Việt nam

Số

Tỷ lệ

Số

Tỷ lệ

lượng

lượng

%

%

Họ Cúc - Asteraceae

1

8,73

7

7,69

9

Họ Đại Kích - Euphorbiacea

2

5,82

5

5,49

6

Họ Đậu - Fabaceae

3

4,85

5

5,49

5

Họ Cà phê - Rubiaceae

4

4,85

5

5,49

5

Họ Rau Dền - Amaranthaceae

5

3,88

3

3,29

4

Họ Bông Bụp - Malvaceae

6

3,88

2

2,19

4

Họ Ngũ Da Bì - Araliaceae

7

3,88

3

3,29

4

7 họ đa dạng nhất (11,86%)

30

37

Tổng số được phát hiện:

91

103

Trong số 7 họ được xác định ở xã Phú Xuyên thì phần lớn cũng được

gặp trong các họ giàu loài của hệ thực vật Việt Nam. Các họ cây thuốc giàu

loài tại khu vực nghiên cứu có 3 họ nằm trong 10 họ giàu loài nhất của hệ

thực vật Việt Nam là: họ Đậu - fabaceae, họ Cúc – asteraceae và họ Thầu dầu

32

– euphorbiaceae; 4 họ còn lại không nằm trong 10 họ lớn nhất Việt Nam đó là

họ Ngũ da bì, họ Cà phê, họ Rau dền và họ Bông bụp điều này chứng minh

nguồn cây thuốc tại xã Phú Xuyên khá phong phú nhưng vấn có nét khác biệt

so với tính đa dạng chung của thực vật Việt Nam.

Kết quả điều tra đã thu được những loài cây thuốc nằm trong những họ

có nhiều loài nhất ở Việt Nam

(Bảng 10 họ giàu loài nhất theo danh lục thực vật Việt Nam phụ lục 4

trang 3)

Số lượng thống kê và so sánh được thể hiện ở Bảng 4.5:

Bảng 4.5. So sánh các họ có nhiều loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu (1)

với số loài của từng họ trong hệ thực vật Việt Nam (2)

KVNC DLTV Tỷ lệ % giữa Họ nhiều loài (1) VN (2) (1) và (2)

1 Asteraceae - Họ cúc 9 380 2,37

2 Euphorbiacea - Họ đại kích 6 477 1,26

3 Fabaceae -Họ Đậu 5 471 1,06

4 Rubiaceae -Họ cà phê 5 492 1,02

5 Amaranthaceae - Họ Rau dền 4 32 12,50

6 Malvaceae - Họ Bông bụp 4 69 5,80

7 Araliaceae - Họ Ngũ da bì 4 158 2,53

Chú thích: (2) theo Danh lục các loài thực vật Việt Nam (Trung tâm NCTN & MT – Đại

học Quốc gia Hà Nội và Viện ST&TNSV, 2009)

Tổng số được phát hiện: 103

Kết quả Bảng 4.5 cho thấy, có 7 họ có nhiều loài được cộng đồng dân

tộc ở khu vực nghiên cứu sử dụng làm thuốc phòng và chữa trị bệnh. Tỷ lệ số

loài trong cùng một họ có nhiều loài được sử dụng làm thuốc tại khu vực

nghiên cứu so với tổng số loài trong cùng họ đó có tại Việt Nam có sự chênh

33

lệch rất lớn, cụ thể tỷ lệ của từng họ là: với họ có nhiều loài được sử dung làm

thuốc nhất là họ Cúc (Asteraceae) chiếm tỷ lệ 2,37% có các loài như: Nhọ nồi

(Eclipta prostrata L.) có tác dụng giải độc gan; Ngải cứu (Artemisia vulgaris

L.) chữa đau thận,...họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có 6 loài, chiếm tỷ lệ 1,26

%; (Fabaceae) - Họ Đậu (Rubiaceae) - Họ cà phê cùng có 5 loài được sử dụng

làm thuốc, chiếm tỷ lệ lần lượt là 1,06% và 1,02% – (Amaranthaceae) - Họ

Rau dền (Malvaceae) - Họ Bông bụp (Araliaceae) - Họ Ngũ da bì cùng có 4

loài sử dụng làm thuốc chiếm tỷ lệ lần lượt là 12,50%; 5,80%; 2,53%.

Như vậy, số loài được sử dụng làm thuốc còn chiếm tỷ lệ rất thấp so

với số lượng loài trong cùng một họ đó có tại Việt Nam, nên khả năng phát

hiện ra thêm nhiều loài có thể sử dụng làm thuốc là rất lớn.

Một công trình khác của Dương Văn Hưng (2018) [32] khi nghiên cứu

về tri thức bản địa của người dân tại xã Yên Ninh, Huyện Phú Lương, tỉnh

Thái Nguyên cho thấy các họ có nhiều loài được sử dụng làm thuốc tại khu

xã Phú Xuyên phong phú hơn ở địa bàn xã Yên Ninh, Huyện Phú Lương,

tỉnh Thái Nguyên. Cụ thể là ở xã Phú Xuyên có 59 họ có nhiều loài được

sử dụng làm thuốc, còn ở xã Yên Minh có 74 họ có nhiều loài được sử

dụng làm thuốc.

4.1.2. Đa dạng về dạng sống của thực vật làm thuốc

Sự đa dạng về dạng sống của loài thực vật làm thuốc tại khu vực nghiên

cứu được thể hiện trong Bảng 4.6 như sau:

Bảng 4.6. Đa dạng về dạng sống của nguồn cây thuốc ở khu vực nghiên cứu

STT 1 2 3 4 5 Dạng sống Thân thảo Bụi Dây leo Gỗ nhỏ Gỗ lớn Số lượng 41 37 13 11 1 Tỉ lệ % 39,81 35,92 12,62 10,69 1

34

Dữ liệu trên cho thấy, nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng theo

kinh nghiệm của 2 cộng đồng dân tộc Nùng, Dao tại KNNC tập trung vào 5

dạng sống, trong đó tập trung nhiều nhất vào 3 dạng sống cây thân thảo, cây

bụi và dây leo.

Thân thảo là dạng sống có số lượng loài nhiều nhất với 41/103 so với

tổng số loài (chiếm 39,806% so với tổng số loài). Các cây thuộc nhóm này tập

trung chủ yếu vào họ Cúc (Asteraceae) được dùng để chữa các bệnh như hạ

sốt, viêm khớp, thấp khớp, giải độc gan..., họ Hòa thảo (Poaceae) được dùng để

chữa các bệnh như viêm thận, đái rắt, hậu sản... và họ Rau dền (Amaranthaceae)

dùng để chữa trị các bệnh đau thận, xơ gan, cam sài trẻ con, đau bụng, viêm

nhiễm phụ khoa, gai cột sống... Ngoài ra có họ Đại kích (Euphorbiacea) được

dùng để chữa các bệnh tắc sữa, viêm đại tràng, sinh lý nam...

Đứng thứ hai dạng cây bụi với 37/103 loài (chiếm 35,92%), dạng cây

này tập trung chủ yếu các loài thuộc họ Bông bụp (Malvaceae), họ Cà phê

(Rubiaceae), họ Ngũ da bì (Araliaceae), họ Đậu (Fabaceae)... Một số loài cây

thuốc thuộc nhóm này như sau: Đinh lăng lá to - Polyscias grandifolia

Volkens được công đồng dân tộc Dao dùng để trị chữa mất ngủ; Dâm bụt hoa

trắng - Hibiscus syriacu L. sử dụng ở dân tộc Nùng làm thuốc chữa bệnh tiểu

dắt và cây Giao - Euphorbia tirucalli L. được cả 2 dân tộc Nùng, Dao dùng

chữa để diều trị bệnh xoang và lợi sữa ở trong cộng đồng…

Đứng thứ ba là dạng sống cây Dây leo với số lượng 13/103 loài (chiếm

12,62%) dạng sống này tập trung chủ yếu các loài cây thuộc nhóm cây dây

leo như họ tiết Dê (Menispermaceae), họ Thiên Lý (Asclepiadaceae) và họ

Bầu bí (Cucurbitaceae). Có thể kể đến một số loài đại diện như: cây Giảo cổ

lam - Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino sử dụng để chữa bệnh

huyết áp cao, mỡ máu; cây Hoàng đằng - Fibraurea recisa Pierre dùng chữa

bệnh viêm đường tiết niệu, đau khớp...

35

Như vậy dựa vào nghiên cứu khoa học điều tra cây thuốc và kinh

nghiệm sử dụng cây thuốc của Nguyễn Minh Hiếu và cs. (2018) [30] khi

nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây

thuốc tại xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên cho thấy các dạng

sống của các cây thuốc ở xã Phú Xuyên đa dạng tương tự nhau với các dạng

sống ở xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Nhìn chung, vấn đề sử dụng các dạng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh của 2

dân tộc Nùng, và Dao tại khu vực nghiên cứu khá đa dạng và phong phú.

Như vậy, các dạng sống chủ yếu của thực vật được sử dụng làm thuốc

tại khu vực nghiên cứu là thân thảo, dây leo và cây bụi. Vì các dạng sống này

mọc rất phổ biến quanh nhà, quanh làng bản, rất dễ mọc và dễ trồng nên các

dạng sống này cũng rất dễ thu hái để sử dụng.

4.1.3. Đa dạng về môi trường sống của thực vật làm thuốc

Để phục vụ cho công tác bảo tồn các loài cây thuốc ở khu vực nghiên

cứu, tôi đã tiến hành đánh giá sự đa dạng về môi trường sống của các loài cây

thuốc. Việc phân chia các loại môi trường sống được căn cứ vào địa hình, đất

đai, khí hậu, nơi mà cây thuốc đó phát triển. Có các dạng môi trường sau:

- Làng xóm, làng bản, vườn (Vu)

- Rừng (trồng, tái sinh, tự nhiên) (R)

- Ven suối (Vs)

Bảng 4.7. Sự phân bố nguồn cây thuốc theo môi trường sống ở khu vực

nghiên cứu

Stt

Môi trường sống

Số loài

Tỷ lệ %

1

Rừng (trồng, tái sinh, tự nhiên) (R)

84

81,55

2

Làng xóm, làng bản, vườn (Vu)

36

34,95

3

Ven suối (Vs)

1

0,97

36

Ghi chú: Tỉ lệ % trong Bảng hơn 100% do một số loài có thể sống ở nhiều môi

trường khác nhau

Kết quả Bảng 4.7 cho thấy, có 3 môi trường sống chính của cây

thuốc ở KVNC là: sống ở vườn (Vu), sống ở rừng (R) và sống ở ven sông

ven suối (Vs).

Nơi sống chiếm tỷ lệ cao nhất so với tổng số loài điều tra được là môi

trường rừng, người dân ở đây từ bao đời nay đã có cuộc sống gắn bó với núi

rừng, hiểu biết của họ về các loài cây trong rừng là vô cùng phong phú.

Tỷ lệ số loài sống ở từng môi trường so với tổng số loài điều tra được:

Sống ở rừng chiếm tỷ lệ cao nhất 81,55% với 84/103 loài, hơn nửa số loài điều

tra được có thể kể đến các loài như: Gắm (Gnetum montanum Markgr) chữa

viêm đại tràng; Ráy (Alocasia macrorhizos (L.) G. Don) chữa bệnh gút; Thài lài

tía (Tradescantia zebrina Hort. ex Loud) có tác dụng chữa viêm nhiễm âm

đạo;... Nhờ hiểu biết về nhiều loài cây có giá trị làm dược liệu cuộc sống cộng

đồng dân tộc nơi đây cững được cải thiện.Tuy nhiên việc gắn bó và phụ thuộc

chủ yếu vào rừng trong tương lai sẽ làm giảm đa dạng sinh thái rừng, nguồn tài

nguyên cây thuốc cũng sễ bị cạn kiệt dẫn đến tri thức sử dụng cây thuốc của

cộng đồng nơi đây sẽ bị mai một. Thấy được người dân tại địa bàn nghiên cứu

cũng đã ý thức được giá trị, tầm quan trọng của cây thuốc khi đã đem cây thuốc

về vườn nhà trồng thuận tiện cho việc thu hái và sử dụng. Với tỷ lệ cây thuốc

sống ở vườn chiếm 34,95% với (36/103) loài bao gồm các loài đơn giản như:

Nghệ (Curcuma longa L.) chữa dải vàng; Mã đề (Plantago major L.) chữa mát

gan; Sâm cau (Peliosanthes teta Andr) chữa sinh lý nam; Lá lốt (Piper lolot C.

DC) chữa đau nhức lưng;... Chỉ có 1/103 loài sống ven sông ven suối với tỷ lệ rất

ít 0,97% đó là loài Sung đất (Ficus var. badiostrigosa Corn) dùng để tắm đẻ.

Như vậy nơi sống chiếm tỷ lệ cao nhất so với tổng số loài điều tra được

là môi trường rừng. Tuy nhiên, số lượng cây thuốc được trồng ở vườn nhà còn

37

ít nguồn cây thuốc chủ yếu lấy trong rừng, nhưng theo người dân nơi đây cây

thuốc trong rừng giờ rất khó tìm, phải vào sâu trong rừng mới tìm được cây

thuốc như ý muốn, trong đó có những loài quý hiếm Paris chinensis Franch

(Thất diệp) dùng để trị ho, hen suyễn, Fibraurea recisa Pierre (Hoàng đằng)

dùng để chữa viêm đường tiết niệu, đau khớp. Số lượng loài cây thuốc sống ở

rừng chiếm tỷ lệ cao hơn so với số lượng loài cây thuốc sống ở môi trường

sống ở vườn, nhiều loài mọc hoang ở môi trường này đều đã được người dân

đem về vườn nhà trồng. Tuy nhiên các cây thuốc điều tra được tại địa phương

thì không có loài nào là đặc hữu của Việt Nam.

4.2. Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam đã ghi nhận

được tại xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh thái Nguyên

Kết quả điều tra đã xác định các loài cây thuốc thuộc diện cần bảo vệ ở

khu vực xã Phú Xuyên được ghi tại Bảng 4.8.

Bảng 4.8. Danh lục cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ghi nhận

Cấp quy định

TT Tên phổ thông

Thuộc họ

NĐ - CP

SĐVN 2007

DLĐCT VN 2006

1

EN

VU

Bầu bí - Cucurbitaceae

2

EN

VU

3

IIA

IIA

4

VU

Đơn nem - Myrsinaceae Tiết dê - Menispermaceae Trọng lâu - Trilliaceae

5

EN

VU

Ngũ da bì - Araliaceae

6

VU

Giảo cổ lam - Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino Khôi - Ardisia silvestris Pitard Hoàng đằng - Fibraurea recisa Pierre Thất diệp - Paris chinensis Franch Ngũ da bì - Acanthopanax trifoliatus (L.) Voss Sâm cau - Peliosanthes teta Andr

Hạnh môn đông - Convallariaceae

38

Ghi chú: SĐVN: Sách đỏ Việt Nam; EN – Nguy cấp – Endangered; 06/NĐ – CP: Nghị định 06 của chính phủ; VU- Sắp nguy cấp – Vulnerable; DLĐCT: Danh lục đỏ cây thuốc

Để xác định được loài cây thuộc diện bảo tồn sử dụng pp tra tên việt

nam của loài, tên khoa học của loài trong từng danh mục của danh lục đỏ vn,

nghị định 06 nghị định cp loài cây thuộc cấp bậc bảo tồn và sách đỏ vn 2007.

Ở khu vực nghiên cứu có 6 loài cây thuốc quý hiếm, bị đe dọa tuyệt

chủng ở Việt Nam, thuộc 6 chi, 6 họ của một ngành thực vật bậc cao là ngành

Ngọc lan (Magnoliophyta). Trong đó: 4 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam

(2007) và trong Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam, 2 loài trong Nghị định 06

Dựa vào bảng trên đã thống kê được:

Cấp VU - Sắp nguy cấp trong sách đỏ Việt Nam năm 2007 có 1 loài là

Sâm cau - Peliosanthes teta Andr. thuộc họ Mạnh môn đông, có tác dụng

chữa bệnh sinh lý nam.

Cấp VU – Sắp nguy cấp trong danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam 2006 có

4 loài là Giảo cổ lam - Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino thuộc họ

Bầu bí – Cucurbitaceae có tác dụng chữa huyết áp cao; Khôi - Ardisia

silvestris Pitard thuộc họ Đơn nem – Myrsinaceae tác dụng chữa trào ngược

dạ dày; Thất diệp - Paris chinensis Franch thuộc họ Trọng lâu – Trilliaceae có

tác dụng trị ho, hen suyễn; Ngũ da bì - Acanthopanax trifoliatus (L.) Voss

thuộc họ Ngũ da bì – Araliaceae tác dụng chữa viêm khớp.

Cấp EN - nguy cấp trong sách đỏ Việt Nam năm 2007 có 3 loài đó là

loài Giảo cổ lam - Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino thuộc họ Bầu

bí – Cucurbitaceae có tác dụng chữa huyết áp cao; Khôi - Ardisia silvestris

Pitard thuộc họ Đơn nem – Myrsinaceae tác dụng chữa trào ngược dạ dày;

Ngũ da b - Acanthopanax trifoliatus (L.) Voss thuộc họ Ngũ da bì –

Araliaceae tác dụng chữa viêm khớp.

- Nghị định 06/NĐ - CP có 2 loài:

39

+ Thất diệp - Paris chinensis Franch thuộc họ Trọng lâu – Trilliaceae

có tác dụng trị ho, hen suyễn.

+ Hoàng đằng - Fibraurea recisa Pierre thuộc họ Tiết dê, có tác dụng

chữa viêm đường tiết niệu, đau khớp.

Trong quá trình thực hiện đề tài ở xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh

Thái Nguyên tôi nhận thấy có 6 loài cây thuốc thuộc diện đang bị đe dọa tuyệt

chủng ở Việt Nam. Chính vì vậy, cần phải nâng cao ý thức bảo vệ của mọi

người để bảo tồn nguồn gen quý hiếm, phục vụ cho công tác chữa bệnh lâu

dài của người dân nơi đây.

Theo kết quả nghiên cứu công trình của Nguyễn Minh Hiếu và cs.

(2018) [30] tại xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên về điều tra

cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc tại khu vực

nghiên cứu, cho thấy loài cây thuốc cần được bảo vệ ở xã Phú Xuyên, huyện

Đại từ, tỉnh Thái Nguyên còn nhiều hơn và đa dạng hơn loài cây thuốc có ở

xã Liên Minh. Cụ thể là ở xã Liên Minh chỉ phát hiện được 2 loài cần bảo tồn,

còn ở xã Phú Xuyên phát hiện được 6 loài cần bảo tồn.

4.3. Vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân

tộc thiểu số ở xã Phú Xuyên, Huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên

4.3.1. Kinh nghiệm sử dụng bộ phận làm thuốc của cộng đồng dân tộc

thiểu sốở xã Phú Xuyên

Nghiên cứu về bộ phận sử dụng của các loài cây thuốc không chỉ cho

thấy tính chất phong phú và đa dạng trong khả năng chữa bệnh của các bộ

phận đó, mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với công tác bảo tồn, đồng thời, việc

nghiên cứu các bộ phận sử dụng làm thuốc của cây phần nào đánh giá được

tính bền vững trong thực trạng khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc

trong cộng đồng các dân tộc thiểu số. Kết quả thống kê về các bộ phận được

sử dụng làm thuốc theo kinh nghiệm của dân tộc.Trong quá trình thực tập tại

40

khu vực nghiên cứu, tôi nhận thấy kinh nghiệm sử dụng các loại cây cỏ làm

thuốc chữa bệnh của dân người đồng bào dân tộc tại xã Phú Xuyên, huyện

Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên khá phong phú và đặc sắc.

Để thấy rõ được tính đa dạng và phong phú về việc sử dụng các bộ

phận khác nhau của cây để chữa bệnh của người dân tộc ở khu vực nghiên

cứu,kết quả được tổng hợp tại Bảng 4.9.

Bảng 4.9. Đa dạng của các bộ phận cây được sử dụng làm thuốc

Dao Nùng Bộ phận STT sử dụng Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ %

1 Cả cây 67 69,07 6 60,00

2 Lá 43 44,33 3 30,00

3 Thân 28 28,87 2 20,00

4 Hạt 4 4,12 1 10,00

5 Rễ 3 3,09 0 0,00

6 Củ 2 2,06 1 10,00

7 Hoa 2 2,06 0 0,00

8 Vỏ 1 1,03 0 0,00

9 Bẹ 1 1,03 0 0,00

Tổng số 151 155,67 13 130

Tổng số loài phát hiện 97 10 của mỗi dt

(Ghi chú: Tỉ lệ % trong Bảng hơn 100% do một số loài có thể sử dụng

nhiều bộ phận khác nhau làm thuốc): Dân tộc: 1 – Nùng, 2 – Dao.

(Bảng loài cây cụ thể theo từng bộ phận sử dụng của từng dân tộc trích

phụ lục 4 trang 1).

41

Kết quả Bảng 4.9 cho thấy, đã xác định được có 9 bộ phận cây thuốc

được cộng đồng dân tộc Nùng, Dao sử dụng trong chữa trị bệnh cho người

dân, trong đó có 2 bộ phận được sử dụng nhiều nhất lần lượt là cả cây và lá.

Bộ phận sử dụng là cả cây được cả 2 dân tộc sử dụng nhiều nhất trong đó dân

tộc Dao có số lượng nhiều nhất với 67/97 loài, chiếm 69,07% so với tổng số loài

điều tra được từ dân tộc Dao, bên cạnh đó dân tộc Nùng cũng biết sử dụng với số

lượng và tỷ lệ là 6/10 (60,0%). Trong đó phải kể đến những loài cây có giá trị như:

Móc (còng giòng) – Caryota urens L, cây Kim giao (2.Miền đìa chai) – Nageia

fleuryi (Hickel) de Laub chữa các bênh ngộ độc thức ăn, xoang.

Cụ thể như sau:

- Đối với bộ phận lá dân tộc Dao biết sử dụng với số lượng nhiều nhất

với 40/97 loài, chiếm 44,33% so với tổng số loài điều tra được từ dân tộc

Dao, dân tộc Nùng có số lượng ít hơn với số lượng và tỷ lệ lần lượt là 3/10

loài (30,00%) so với tổng số loài điều tra được từ cộng đồng Nùng. Trong

nhóm này có thể kể đến một số loài như sau: cây Sổ (2.Sổ bà) -

Dillenniaceae được dân tộc Dao sử dụng để tắm đan giật, cây Đu đủ rừng

(2.Nhiềm đèng kem)- Trevesia palmata (Roxb. ex Lindl.) Visan được sử

dụng để chữa bênh đau lưng,…

- Đối với bộ phận thân: Cộng đồng dân tộc Dao đã biết sử dụng 28/97

loài (chiếm 28,87%), còn cộng đồng Nùng biết sử dụng 2/10 loài dùng làm

thuốc (chiếm 20,00%). Trong nhóm này có thể kể đến một số loài như: cây

Mắc ca (2.Mắc ca) – Macadamia integrifolia được dừng để chữa tim đập thất

thường và bảo vệ tim khỏe, cây Khế (2.Lố lằng) - Averrhoa carambola L

dùng để chữa dị ứng cây sơn,…

Có sự phân bố không đồng đều trong các bộ phận sử dụng là thuốc là

do đặc tính về thời vụ, do quan niệm chữa bệnh, do loại bệnh và do hạn chế

về số lượng các loài cây thuốc.

42

4.3.2. Kinh nghiệm về nhóm bệnh chữa trị của cộng đồng dân tộc thiểu số

ở xã Phú Xuyên

Kết quả nghiên cứu đã thống kê được 16 nhóm bệnh mà cộng đồng

dân tộc Dao, Nùng ở khu vực nghiên cứu đã sử dụng cây thuốc để phòng

và chữa bệnh.

Kết quả chi tiết được ghi tại Bảng 4.10:

Bảng 4.10. Tỷ lệ số loài có công dụng chữa các nhóm bệnh cụ thể

Nùng

Dao

STT

Nhóm bệnh chữa trị

Tỷ lệ %

Tỷ lệ %

Số loài

Số loài

1

1

10,00

20

20,62

2

0

0,00

24

24,74

3

3

13

13,40

30,00

4

2

14

14,43

20,00

5

1

10,00

9

9,28

6

0

0,00

6

6,19

7

0

0,00

6

6,19

8

0

0,00

4

4,12

Nhóm bệnh đường tiêu hóa (viêm đại tràng, trĩ, nhiễm trùng đường ruột, loét dạ dày, viêm đường ruột,…) Nhóm bệnh về xương khớp, hệ vận động (gai cột sống, thấp khớp, phong thấp, đau cơ khớp, gút,…) Nhóm bệnh đường tiết niệu (viêm thận, tan sỏi thận, thận hư, phù thận, suy thận,…) Nhóm bệnh phụ nữ, sinh sản, sinh dục, sinh lý (viêm nhiễm phụ khoa, tắc sữa, điều kinh,…) Nhóm bệnh về gan (viêm gan B, đau gan, xơ gan, giải độc gan, mát gan) Nhóm bệnh của trẻ em (tắm trẻ em, cam sài trẻ con, tắm đan giật, cam trẻ con) Nhóm bệnh ngoài da (dị ứng ngoài da, mụn nhọt, đắp nhọt,…) Nhóm bệnh đường hô hấp (ho, hen suyễn, viêm họng)

9 Nhóm bệnh về mắt (sạch mắt) 10 Nhóm bệnh về mũi (xoang, viêm xoang mũi)

0 1

0,00 10,00

1 3

1,03 3,09

11

1

10,00

3

3,09

12

0

0,00

4

4,12

Nhóm bệnh về tim mạch (suy tim, tim đập thất thường, loan nhịp tim, bảo về tim khỏe) Nhóm bệnh về thần kinh ( huyết áp cao, mỡ máu, máu trắng ) 13 Thuốc bổ ( Thanh nhiệt ) 14 Nhóm bệnh do thời tiết (Trúng gió )

1 0

10,00 0,00

0 1

0,00 1,03

15

0

0,00

2

2,06

Nhóm bệnh về ung bướu (…Ung thư lá nách, Trị u tán bướu…)

16 Nhóm về ngộ độc ( giải độc )

10,00 110,000

113,402

Tổng số: Tổng số loài phát hiện của mỗi dt:

1 11 10

110 97

Chú thích: Tỷ lệ % ở bảng lớn hơn 100 do một số loài có thể sử dụng chữa.

43

(Bảng tên chi tiết các loài cây theo bộ nhóm bệnh trích phụ lục 4 trang 2).

Hình 4.2: Tỷ lệ nhóm bệnh chữa trị từ nguồn cây thuốc theo kinh nghiệm

sử dụng trong cộng đồng dân tộc

Theo kết quả điều tra thì người dân nơi đây sử dụng cây thuốc để chữa

trị 16 nhóm bệnh khác nhau. Có những căn bệnh nan y như bệnh gan, thận,

tim,... Trong đó, số lượng cây thuốc được sử dụng để chữa trị tập trung phần

lớp vào 4 nhóm bệnh là:

Với cộng đồng dân tộc Nùng: số lượng cây thuốc được sử dụng để chữa

trị tập trung lớn vào 2 nhóm bệnh là nhóm bệnh đường tiết niệu với 3/11 loài cây

(chiếm 30% so với tổng số loài được dùng theo kinh nghiệm người Nùng) đứng

thứ hai là nhóm bệnh phụ nữ, sinh sản, sinh dục, sinh lý với 2/11 loài cây (chiếm

20% so với tổng số loài được dùng theo kinh nghiệm người Nùng).

Tương tự, với cộng đồng dân tộc Dao: số lượng cây thuốc được sử dụng để

chữa trị tập trung lớn vào 3 nhóm bệnh là nhóm bệnh là nhóm bệnh đường tiêu

hóa với 20/110 loài cây (chiếm 20,62% so với tổng số loài được dùng theo kinh

nghiệm người) tiếp theo là nhóm bệnh về xương khớp, hệ vận động với 24/110

loài cây (chiếm 24,74% so với tổng số loài được dùng theo kinh nghiệm người

44

Dao). Cuối cùng là nhóm bệnh phụ nữ, sinh sản, sinh dục, sinh lý với 14/110 loài

cây (chiếm 14,43% so với tổng số loài được dùng theo kinh nghiệm người Dao).

Nhìn chung, kinh nghiệm sử dụng nguồn tài nguyên cây cỏ làm thuốc

các dân tộc thiểu số Nùng, Dao ở xã Phú Xuyên rất đa dạng và phong phú.

Trong đó, dân tộc Dao thể hiện tính nổi bật hơn về kinh nghiệm sử dụng cây

thuốc thông qua số lượng loài cây thuốc biết cách sử dụng và số lượng nhóm

bệnh chữa trị cho người dân.

4.3.3. Ảnh hưởng của sự giao thoa giữa các dân tộc đến vốn tri thức bản

địa trong việc sử dụng cây thuốc ở xã Phú Xuyên

Trải qua quá trình sinh sống lâu dài, cùng với lịch sử chinh phục thiên

nhiên và phòng chống bệnh tật, mỗi cộng đồng dân tộc đều thể hiện được

những sự sáng tạo riêng biệt của mình. Mỗi dân tộc đã tìm ra những phương

thức ứng xử khác nhau để vượt qua sự khắc nghiệt của thiên nhiên, trong đó

không thể không kể đến việc sử dụng nguồn tài nguyên cây cỏ có sẵn trong tự

nhiên để chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng. Việc khai thác nguồn tài nguyên

cây thuốc để đáp ứng như cầu chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng đã là một tập

quán lâu đời của cộng đồng dân tộc Nùng và Dao tại xã Phú Xuyên. Cùng với

đó, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc để chữa bệnh cũng được tích lũy từ thế hệ

này sang thế hệ khác. Trong quá trình điều tra cho thấy cả 2 dân tộc Nùng và

Dao đều cùng sử dụng một số cây thuốc chữa bệnh tại bảng kết quả dưới đây:

Bảng 4.11. Danh sách cây thuốc được cả 2 dân tộc Nùng, Dao

tại xã Phú Xuyên sử dụng

STT

Tên khoa học

Tên việt nam

Tên dân tộc

Công dụng

Huyết dụ

Cordyline fruticosa (L.) 1 Goepp

1,2. Quyền diềm sĩ

1

2

Euphorbia tirucalli L.

1,2. Giao

Giao (xương khô, xương cá )

2

1. Kinh nguyệt 2. Mát thận, phụ khoa xấu máu 1,2. Lợi sữa, xoang

3

1,2. Cà gai leo

Solanum procumbens Lour

Cà gai leo (cà quạnh, cà gai dây)

3

2,1. Viêm gan B, đau gan

45

Qua Bảng 4.11 cho thấy, cả 2 dân tộc đều sử dụng chung 3 loài cây

thuộc 3 họ thực vật khác nhau. Phần lớn những loài cây thuốc này mọc phổ

biến ở trong tự nhiên, sống ở trong rừng, quanh làng xóm, quanh làng bản,

đồi cây bụi, đồi trọc, trảng cỏ, ven suối.

Những kinh nghiệm sử dụng cây thuốc này chỉ được sử dụng qua

phương thức lưu truyền trong phạm vi từng cộng đồng, cùng với đặc trưng

truyền miệng từ đời này sang đời khác do đó có nguy cơ mai một cao, vì vậy

rất cần có những biện pháp thu thập nguồn tri thức quý giá này để phổ biến

cho cộng đồng, phục vụ công tác chữa bệnh. Mặc dù ngôn ngữ của mỗi dân

tộc thuộc nhiều nhóm khác nhau, song do các dân tộc sống xen kẽ nhau nên

có sự ảnh hưởng giao thoa nhất định về mặt ngôn ngữ cũng như tri thức bản

địa trong việc sử dụng tài nguyên cây thuốc để chữa bệnh.

Nhiều cây thuốc được gọi tên dựa theo kinh nghiệm của dân tộc nào đó.

Mặt khác, cũng nhiều cây thuốc được các dân tộc cùng gọi một tên dựa vào

các đặc điểm hình thái của cây như cây Giao (xương khô, xương cá) -

Euphorbia tirucalli L, cây cà gai leo (cà quạnh, cà gai dây) - Solanum

procumbens Lour.

Ngoài việc giao thoa trong cách gọi tên của các thầy lang bà mế giữa

các dân tộc Nùng, Dao tại xã Phú Xuyên còn có sự giao thoa trong cách sử

dụng chữa bệnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có nhiều loài cây được cả 2

cộng đồng dân tộc sử dụng để chữa trị cùng một nhóm bệnh.

Vì vậy kinh nghiệm sử dụng cây cỏ của các dân tộc cư trú tại xã Phú

Xuyên là đáng tin cậy và cần được nhân rộng trong cộng đồng.

4.3.4. Vấn đề truyền thụ kiến thức về cây thuốc trong cộng đồng các dân

tộc ở xã Phú Xuyên

Kết quả điều tra cho thấy, tại khu vực nghiên cứu hầu hết nam giới có

kinh nghiệm sử dụng cây thuốc nhiều hơn nữ giới bởi vì trong nhiều dân tộc

46

thì nam giới được ưu tiên với việc chuyển giao kiến thức về cây thuốc từ đời

trước sang đời sau.

Bảng 4.12. Số lượng thầy thuốc được phỏng vấn theo từng dân tộc

ở KVNC

Stt

Dân tộc

Số thầy thuốc phỏng vấn Tỷ lệ %

1

1

Nùng

7.69

12

2

Dao

92.31

13

Tổng

100

Dữ liệu cho thấy, số lượng thầy thuốc chiếm đa số hơn là người dân tộc

Dao có 12 người được phỏng vấn có tỷ lệ 92.31% so với tổng thầy thuốc được

phỏng vấn. Tại xã Phú Xuyên những thầy thuốc chủ yếu là nữ giới và thuộc

nhóm tuổi từ 50 - 75 tuổi.

Bảng 4.13. Tỷ lệ về độ tuổi và giới tính của các thầy thuốc ở KVNC

Nhóm tuổi

Giới tính

Số người

Tổng

>75

Nam

1

3

Nữ

2

50-75

Nam

2

8

Nữ

6

25-49

Nam

2

2

Nữ

0

<25

Nam

0

Nữ

0

Tổng số nam

5

Tổng số nữ

8

Về độ tuổi, từ 50 - 70 đây là độ tuổi mà con người thường tích lũy được

nhiều kinh nghiệm sống, trong đó có việc thu lượm những kiến thức thực tế từ

47

những người xung quanh hoặc từ sự truyền đạt những bí quyết của những

người cao tuổi trong gia đình, dòng họ liên quan đến việc chữa trị các bệnh.

Điều này đã lý giải tỉ lệ thầy thuốc nằm trong độ tuổi 50 – 75 so với nhóm có

độ tuổi trẻ hơn là lớn hơn. Mặt khác người ở độ tuổi từ 25 đến dưới 50 tuổi là

nguồn lao động chính trong gia đình, do vậy họ thường chú tâm vào các hoạt

động sản xuất chính như làm nương rẫy, chăn nuôi, kinh doanh tạo nguồn thu

nhập để đảm bảo cuộc sống hàng ngày của gia đình. Những người dưới 25

tuổi chưa tham gia vào việc sử dụng cây cỏ làm thuốc theo kinh nghiệm theo

ông cha đi trước bởi vì ở độ tuổi này chủ yếu là độ tuổi còn đang đi học, tham

gia các hoạt động xã hội, chưa tích lũy được nhiều kinh nghiệm, vốn sống và

những kiến thức bản địa của các bậc cao nhân truyền lại.

Như vậy, qua kết quả phỏng vấn 13 thầy thuốc ở xã Phú Xuyên, huyện

Đại Từ cho thấy hầu hết các kiến thức về cây thuốc của cộng đồng Nùng, Dao

đều được truyền miệng qua các thế hệ. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng,

việc chuyển giao kinh nghiệm chữa bệnh chỉ được truyền lại cho con cháu

trong gia đình. Do đó việc giữ gìn các giá trị truyền thống về y học dược thảo

thì việc hệ thống hóa lại kiến thức thực vật và chuyển giao kiến thức đảm bảo

tính liên tục trong các cộng đồng dân tộc là thực sự cần thiết

4.4. Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc được sử

dụng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu

Từ kết quả nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng

một số dân tộc ở khu vực nghiên cứu trong việc phòng và điều trị một số bệnh

nhiễm khuẩn, tôi tiến hành lựa chọn cây Mã tiền lông - Strychnos ignatii Berg và

cây Vẩy ốc - Phyllanthus virgatus Forst. & Forst. F để tiến hành đánh giá hoạt

tính kháng khuẩn (HTKK) của cây. Kết quả thể hiện ở bảng 4.14 và hình 4.4

48

Bảng 4.14. Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết từ cây Mã tiền lông

và cây Vẩy ốc

Đơn vị tính: mm

Cao chiết

Đối chứng

Đối chứng

Đối chứng

Mã tiền lông

Vỏ ốc

dương - K1

dương - K2

âm (Dung

(MTL)

(VO)

Vi khuẩn

(Amikacin)

(Kanamicin)

môi)

S. aureus

23,4±0,8

10,7±0,3

20,1±0,5

24,2±0,9

0

E. coli

25,1±0,5

23,1±0,6

19,2±0,3

21,7±0,4

0

Qua dữ liệu trên cho thấy, hai loài khảo sát (Mã tiền lông và Vẩy ốc)

đều có hoạt tính ức chế đối với chế với cả 2 vi khuẩn gây bệnh Gram dương

(S. Aureus) và Gram âm (E. coli) với vòng ức chế đạt được với loài Mã tiền

lông là 23,4 mm với vi khuẩn Gram dương (S. aureus) và 25,1mm với vi

khuẩn Gram âm (E. Coli). Trương tự với cây Vẩy ốc là 10,7mm với vi khuẩn

Gram dương (S.aureus) và 23mm, vi khuẩn gây bệnh. Cả 2 loài Mã tiền lông

và Vẩy ốc đều có hoạt tính cao ức 1 mm với vi khuẩn Gram âm (E. Coli).

So sánh giữa 2 loài cho thấy loài Mã tiền lông có hoạt tính kháng

khuẩn mạnh hơn loài Vẩy ốc. Cả 2 loài này có hoạt tính kháng khuẩn khá

mạnh, tuy nhiên hoạt tính ức chế vi khuẩn gây bệnh Gram dương của 2 loài

vẫn yếu hơn so với kháng sinh Kanamicin cùng so sánh (đối với loài Mã tiền

lông yếu hơn không đáng kể). So với đối chứng âm (dung môi) thì cả 2 loài

cây mẫu đều có tính kháng khuẩn, ngược lại đối chứng âm (dung môi)

không có tính kháng khuẩn đối với 2 vi khuẩn gây bệnh Gram dương (S.

Aureus) và Gram âm (E. coli).

Từ kết quả phân tích hoạt tính kháng khuẩn tôi đề xuất, có thể sử dụng

cây Mã tiền lông và Vẩy ốc để phòng ngừa và kiểm soát một số bệnh nhiễm

khuẩn do S. aureus (Tụ cầu vàng) và E. coli gây ra. Kết quả này là một bằng

chứng khoa học chứng minh kinh nghiệm sử dụng các cây thuốc này trong

49

việc phòng chống một số bệnh nhiễm khuẩn của cộng đồng các dân tộc thiểu

số ở xã Phú Xuyên, huyện Đại Tư, tỉnh Thái Nguyên.

Hình 4.3: Hoạt tính ức chế E. coli và S. aureus của cây Mã tiền lông

và cây Vẩy ốc

Chú thích: TVC: Staphylococus aureus; E. coli: Escherichia coli; ĐC:

Đối chứng âm (Dung môi); K1: Đối chứng dương (Amikacin); K2: Đối chứng

dương (Kanamicin); MTL: Mã tiền lông; VO: Vẩy ốc

50

PHẦN 5

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Kết luận

Nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong cộng

đồng dân tộc tại xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, tôi đã thu

được những kết quả sau:

- Xác định được 103 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc ngành Ngọc

lan có 101 loài thuộc 89 chi và 57 họ, thuộc ngành Thông với 1 loài thuộc 1 chi

và 1 họ, thuộc ngành Gắm có 1 loài thuộc 1 chi và 1 họ có công dụng làm thuốc.

Số họ thực vật làm thuốc là 59 họ. Trong đó, họ nhiều loài nhất là họ Cúc

(Asteraceae) với 9 loài, họ Đại kích (Euphorbiacea) 6 loài, họ Đậu (Fabaceae) và

họ Cà Phê (Rubiaceae) với 5 loài.Trong 91 chi, có 1 chi có 3 loài được sử dụng

làm thuốc đó là chi Hibiscus thuộc họ Bông bụp (cẩm quỳ).

- Dạng cây thuốc được người dân sử dụng nhiều nhất là dạng cây

thảo với 41 loài, cây bụi có 37 loài, dây leo có 13 loài, cây nhỏ 11 và gỗ

lớn có 1 loài.

- Nơi sống chủ yếu của cây thuốc là chủ yếu ở rừng với 84 loài, ở rừng

36 loài và ở ven suối là ít nhất 1 loài.

Số lượng cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn có 6 loài chiếm 6,18% tổng

số loài cây thuốc thu được, gồm các loài: Thất diệp (2.Bảy lá một hoa) - Paris

chinensis Franch; Hoàng đằng (2.Nàng nhà) - Fibraurea recisa Pierre; Giảo

cổ lam (1.Giảo cổ lam) - Gynostemma pentaphyllum (Thunb.); Dracaena

cambodianaPierre ex Gagnep Huyết giác) (2.Huyết giác) ; Khôi (2.Đìa giàng

phản, đèng phản, lì sàng phản, đùng phản) - Ardisia silvestris Pitard; Ngũ da

bì (2.Đèng tây hây, chân chim) - Acanthopanax trifoliatus (L.) Voss.

51

- Sử dụng các bộ phận để làm thuốc bao gồm: Cả cây có 73 loài, lá có

46 loài, thân có 30 loài, rễ có 3 loài, hoa có 2, củ có 3, hạt có 5, loài và cuối

cùng cả bẹ và vỏ đều có 1 loài. Trong đó một số loài cây được cả hai dân tộc

cùng sử dụng để chữa các bệnh giống và khác nhau, như cây Giao (xương

khô, xương cá) - Euphorbia tirucalli L cùng được sử dụng để chữa xoang và

lợi sữa. Có sự giao thoa về kiến thức sử dụng cây thuốc của các dân tộc trong

khu vực nghiên cứu.

- Đã thống kê được 16 nhóm bệnh khác nhau được chữa trị bằng kinh

nghiệm sử dụng cây thuốc trong cộng đồng dân tộc Nùng, Dao tại khu vực

nghiên cứu. Trong đó số lượng cây thuốc được sử dụng để chữa trị tập trung

phần lớp vào các nhóm bệnh là: bệnh về tiêu hóa; bệnh về đường tiết niệu;

bệnh về xương khớp, nhóm bệnh phụ nữ sinh sản,sinh dục,sinh lý.

- Đã xác định được có 3 loài cây cùng được cả 2 dân tộc Nùng và Dao tại khu

vực nghiên cứu sử dụng trong phòng và chữa trị bệnh.

- Qua kết quả phân tích hoạt tính kháng khuẩn, cho thấy có thể sử dụng

cây Vảy ốc và cây Dây gió để phòng ngừa và kiểm soát một số bệnh nhiễm

khuẩn do S. aureus (Tụ cầu vàng) và kiểm soát một số bệnh nhiễm khuẩn do

E. coli gây ra.

5.2. Đề nghị

- Cần tiếp tục mở rộng khu vực điều tra và nghiên cứu về tài nguyên

cây thuốc để có kế hoạch bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu cho tương lai.

- Tiếp tục nghiên cứu và đánh giá tính hiệu quả của các loài cây

thuốc mà đồng bào dân tộc tại xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái

Nguyên sử dụng.

- Xây dựng những vườn thuốc trong gia đình cho những gia đình

lương y hay những gia đình có những người biết sử dụng thuốc ở các thôn

52

bản để bảo vệ nguồn gen quý và hướng dẫn cách trồng hái, chế biến cho

phù hợp.

- Với những loài cây thuốc thuộc dạng quý hiếm cần hướng dẫn nhân

dân nhận biết và tiến hành bảo vệ rừng, hạn chế khai thác một cách cạn kiệt

các loài cây thuốc để bán sang Trung Quốc.

53

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A.TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT.

1. Tào Duy Cần (2001), Thuốc Nam, thuốc Bắc và các phương thang chữa

bệnh, Nxb Khoa học và Kỹ Thuật.

2. Tào Duy Cần (2006), Thuốc bệnh 24 chuyên khoa, Nxb Y học, Hà Nội.

3. Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải (2003), “Điều tra cây thuốc của đồng

bào dân tộc Thái, xã Xuân Hạnh, huyện Quỳ Châu – Nghệ An”, Nxb

Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội.

4. Đặng Quang Châu (2011), “Một số dẫn liệu về cây thuốc của dân tộc

Thái ở huyện Nghĩa Đàn – Nghệ An”, Tạp chí Sinh học, tập 23.

5. Võ Văn Chi (1996), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội.

6. Võ Văn Chi (2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb Hà Nội, tập 1-2.

7. Lưu Đàm Cư, Hà Tuấn Anh, Trương Anh Thư (2004), “Các cây có ích

của dân tộc H’mông và khả năng ứng dụng trong phát triển kinh tế”, Nxb

Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội.

8. Nguyễn Thượng Dong (chủ biên) và nhiều tác giả (2006), “Nghiên cứu

thuốc từ thảo dược”, Nxb Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội.

9. Lê Trần Đức (1997), Cây thuốc Việt Nam, trồng hái chế biến và trị bệnh

ban đầu, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

10. Phạm Hoàng Hộ (2001), Cây cỏ Việt Nam, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.

11. Phạm Hoàng Hộ (2006), Cây có vị thuốc ở Việt Nam, Nxb Trẻ, Tp Hồ

Chí Minh.

12. Lê Thị Thanh Hương (2007), “Điều tra và đánh giá tính đa dạng nguồn

tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc Tày ở một số xã của huyện

Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại

học Quốc gia Hà Nội.

54

13. Âu Anh Khâm (2001), 577 bài thuốc dân gian gia truyền (sách dịch),

Nxb Thanh niên, Hà Nội.

14. Đỗ Tất Lợi (2005), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Hà Nội,

Hà Nội.

15. Nguyễn Tập (2007), Cẩm nang cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam, Nxb

Mạng lưới lâm sản ngoài gỗ Việt Nam, Hà Nội.

16. Phạm Thiệp, Lê Văn Thuần, Bùi Xuân Chương (2000), Cây thuốc, bài

thuốc và biệt dược, Nxb Y học, Hà Nội.

17. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật, Nxb

Nông nghiệp, Hà nội.

18. Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp nghiên cứu thực vật, Nxb

Đại Học Quốc gia Hà Nội.

19. Nguyễn Nhân Thống (2008), Danh y tuổi tý, Hội Đông y Việt Nam –

Tạp chí Đông y – số 405/2008.

20. Nguyễn Thị Thủy, Phạm Văn Thỉnh (2004), “Nghiên cứu xây dựng và

bảo tồn cây thuốc ở Sa Pa”, Thái Nguyên, Nxb Khoa học và Kỹ thuật,

Hà Nội.

21. Trần Thúy, Vũ Nam, Nguyễn Văn Toại (2005), Lý luận Y học cổ truyền,

Nxb Y học, Hà Nội.

22. UBND xã Phú Xuyên (2020), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh

tế xã hội năm 2019 và phương hướng nhiệm vụ năm 2020

23. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Sách đỏ Việt Nam, phần Thực vật.

Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ.

24. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019), Nghị định

06/2019/CP – NĐ về nghiêm cấm, hạn chế khai thác và sử dụng các loài

động thực vật hoang dã.

55

25. Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4 (2011), Báo cáo Khoa học về

Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

26. Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà

Nội (2009). Danh lục các loài thực vật Việt nam. Nxb Nông nghiệp, Hà

nội, tập 2 – 3.

27. Viện Dược Liệu (1993), Tài Nguyên cây thuốc Việt Nam, Nxb Khoa học

và Kỹ thuật, Hà Nội.

28. Nguyễn Thị Kim Oanh (2015), “Tri thức bản địa về khai thác và sử dụng

tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại khu rừng du lịch văn

hóa xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn”, Khóa luận tốt nghiệp

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.

29. Bùi Thị Ngân (2018) “Tri thức bản địa trong sử dụng, bảo tồn và phát

triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã Hà Lang,

huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học

Nông Lâm Thái Nguyên.

30. Nguyễn Minh Hiếu, Vàng Sảo Hai, Lồ Di Mềnh, Giàng A Cắng, Hờ A

Bình (2018) “Điều tra cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của

cộng đồng dân tộc Dao tại xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái

Nguyên”

31. Nông Thái Hòa (2018) “nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính

kháng khuẩn của một số loài cây thuốc tại xã Hoàng Nông, huyện Đại

Từ, tỉnh Thái Nguyên”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học Nông Lâm Thái

Nguyên.

32. Dương Văn Hưng (2018) “Nghiên cứu tri thức sử dụng cây thuốc tại xã

Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”, Khóa luận tốt nghiệp

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.

56

33. Ma Văn Khiêm (2018) “Tri thức bản địa trong sử dụng, bảo tồn và phát

triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại xã Tân An,

huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học

Nông Lâm Thái Nguyên.

34. Vàng A Lả (2018) “Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng

khuẩn của một số loài cây thuốc tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh

Thái Nguyên”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.

35. Lục Thanh Sắc (2018) “Tri thức bản địa trong sử dụng, bảo tồn và phát

triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại xã Hà Lang,

huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học

Nông Lâm Thái Nguyên.

B.TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI

36. Ahmad Cheikhyoussef, Martin Shapi, Kenneth Matengu và Hina Mu

Ashekele (2011), “Research on the botany of indigenous knowledge of

medicinal plants used by traditional healers in the area Oshikoto,

Namibia”, Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine.

37. Arshad Abbasi, Mir Khan, Munir H Shah, Mohammad Shah, Arshad

Pervez, Mushtaq Ahmad (2012), “Ethnobotanical appraisal and cultural

values of medicinally important wild edible vegetables of Lesser

Himalayas - Pakistan”, Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine.

38. Auemporn Junsongduang, Henrik Balslev, Angkhana Inta, Arunothai

Jampeetong, Prasit Wangpakapattanawong (2013), “Medicinal plants

from swidden fallows and sacred forest of the Karen and the Lawa in

Thailand”, Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine.

39. Balcha Abera (2014), “Medicinal plants used in traditional medicine by

Oromo people, Ghimbi District, Southwest Ethiopia”, Journal of

Ethnobiology and Ethnomedicine.

57

40. Behxhet Mustafa, Avni Hajdari , Feriz Krasniqi, Esat Hoxha, Hatixhe

Ademi, Cassandra L Quave và Andrea Pieroni (2012), “Medical

ethnobotany of the Albanian Alps in Kosovo”, Journal of Ethnobiology

and Ethnomedicine.

41. Berhane Kidane, Tinde van Andel, Laurentius van der Maesen, Zemede

Asfaw (2014), “Use and management of traditional medicinal plants by

Maale and Ari ethnic communities in southern Ethiopia”, Journal of

Ethnobiology and Ethnomedicine.

42. Cecilia Almeida, Elba de Amorim, Ulysses de Albuquerque, Maria Maia

(2006), “Medicinal plants commonly used in the area Xingo - a place in

the semi - arid northeastern Brazil”, Journal of Ethnobiology and

Ethnomedicine.

43. David J Simbo (2010), “A survey of the botany of medicinal plants in

Babungo, northwestern region, Cameroon”, Journal of Ethnobiology and

Ethnomedicine.

44. Dol Luitel, Maan B Rokaya, Binu Timsina, Zuzana Münzbergová

(2014), “Medicinal plants used by the Tamang community in the

Makawanpur district of central Nepal”, Journal of Ethnobiology and

Ethnomedicine.

45. Eduardo Estrada-Castillón, Miriam Garza-López, José

VillarrealQuintanilla, María Salinas-Rodríguez, Brianda Soto-Mata,

Humberto González-Rodríguez, Dino González-Uribe, Israel Cantú-

Silva, Artemio Carrillo-Parra, César CantúAyala (2014), “Ethnobotany

in Rayones, Nuevo León, México”, Journal of Ethnobiology and

Ethnomedicine.

46. Gabriele Volpato, Daimy Godínez, Angela Beyra, Adelaida Barreto

(2009), “Use of medicinal plants of Haitian immigrants and their

58

descendants in the province of Camagüey, Cuba”, Journal of

Ethnobiology and Ethnomedicine.

47. Gaia Luziatelli, Marten Sørensen, Ida Theilade, Per Mølgaard (2010),

“Ashaninka medicinal plants: a case study from the indigenous

communities of the Bajo Quimiriki, Junín, Peru”, Journal of

Ethnobiology and Ethnomedicine.

48. Gorka Menendez-Baceta, Laura Aceituno-Mata, María Molina, Victoria

ReyesGarcía, Javier Tardío, Manuel Pardo-de-Santayana (2014),

“Medicinal plants traditionally used in the northwest of the Basque

Country (Biscay and Alava), the Iberian Peninsula”, Journal of

Ethnopharmacology.

49. Homervergel G. Ong, Young-Dong Kim (2014), “The study of botany

quantification of the medicinal plants used by indigenous Ati Negrito

groups in the island of Guimaras, Philippines”, Journal of

Ethnopharmacology.

C. TÀI LIỆU INTERNET

50. Nghiên cứu tài nguyên thực vật rừng Việt Nam (2009)

http://botanyvn.com/cnt.asp?param=news&newsid=735

51. Nguyễn Hoàng Sơn (2014), “Sự cần thiết phát triển dược liệu”

https://baomoi.com/su-can-thiet-phat-trien-duoc-lieu

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1

Một số hình ảnh chụp cùng thầy lang bà mế tại khu vực nghiên cứu

Phỏng vấn bà Lương Thị Hoa, xóm Quyên (dân tộc Nùng).

Phỏng vấn bà Lương Thị Vinh dân tộc Dao xóm Tân Lập

Phỏng vấn ông Phùng Văn Lập tại xóm Tân Lập (dân tộc Dao).

Bà Lương Thị Thanh (dân tộc Dao) tại xóm Tân Lập.

Phỏng vấn ông Bàn Văn Thanh tại xóm Tân Lập (dân tộc Dao).

PHỤ LỤC 2

Một số hình ảnh trong quá trình thu mẫu cây phân thích HTKK

1. Cây Vẩy ốc ở tọa độ tại KVNC (21.6545953, 105.5424286) 2. Cây Dây gió ở tọa độ tại KVNC (21.6583839, 105.5356906)

3. Rửa cây mẫu 4. Băm cây mẫu

5. Mẫu cây Vảy ốc sau khi băm 6. Mẫu cây Dây gió sau khi băm

7. Phơi mẫu cây phân thích

Phụ lục 3 Bảng danh sách các cây thuốc đã thu thập được tạị xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Stt

Tên khoa học

Tên phổ thông

Dạng sống

MT sống

BPS D

Cách SD

Công đụng

NĐ- 32

Tên khoa học của họ

Tên VN của họ

Tên dân tộc

SĐV N (1996)

IUCN Ređ list (2004)

đL đỏ cây Thuốc VN (2001)

A

Dân tộc (1 Nùng ; 2 Dao )

NGÀNH THÔNG - Pinophyta

A1 Lớp

1

Pinopsida Podocarpa ceae

Mi

2.R

1

2

Podocarpa ceae

2.Cc, L

2.T, K

2.Miề n đìa chai

HỌ THÔNG TRE Kim giao, (Kim giao đá vôi )

HỌ THÔN G TRE

Nageia fleuryi (Hickel) de Laub

VU.B1a, b (i-v ).c1.c2a( i)

B

2.Ngộ độc thức ăn, xoang

Ngành Dây Gắm - Gnetophyt a B1 Lớp Dây

2

gắm - Gnetopsid a Gnetaceae HỌ DÂY

2

Gnetaceae HỌ

Lp

2.R

2.Th

2.K

2

2.Mu m pây

Gnetum montanum Markgr

DÂY GẮM

2.Viêm đại tràng

C

Ngành

GẮM Gắm ( Rau bép, Rau ranh, Bét, )

Ngọc lan - MAGNOL IOPHYtA

3

C1 Lớp Một lá mầm - Liliopsida Asteliacea e

HỌ HUYẾT DỤ Huyết dụ Asteliacea

Na

3

1,2

e

1,2.V u,R

1,2.C c,L

Cordyline fruticosa (L.) Goepp

HỌ HUYẾ T DỤ

1,2.Q uyền diềm sĩ

Na

4

2

Cordyline stricta Endl

Asteliacea e

2.Vu, R

2.Cc, L

1,2.K 1.Kinh nguyệt 2.Mát thận, phụ khoa , xấu máu 2.Máu trắng

2.T, K

HỌ HUYẾ T DỤ

Huyết dụ thắng (huyết dụ hẹp) Alliaceae HỌ

2.Quy ền diêm pe

4

HÀNH Hẹ

2.Hẹ

Th

2.Vu

2.Cc

2.T

5

2

Allium odorum L

2.Sinh lý nam

Alliaceae HỌ HÀN H

Tỏi

Th

2.Vu

2.Cc

6

2

Allium sativum L

2.Phủ n

2.T, K

Alliaceae HỌ HÀN H

5

Cannaceae HỌ

2.Viêm xong mũi

DONG RiỀNG

7

Th

1,2

1.Củ 2.Cc

Canna edulis Ker- Gawl

Dong đỏ ( dong rềng ,chuối củ )

1,2.D ong đỏ

1.R 2.Vu, R

1.T, K 2.T

1. Suy Tim 2. Giải rượu

6 8

HỌ RÁY Ráy

Araceae

Th

2.R

2.Th

2.K

2.Gút

2

Cannaceae HỌ DON G RiỀN G HỌ RÁY

2. Ráy

7

Araceae Alocasia macrorhizo s (L.) G. Don Iridaceae HỌ

9

Iridaceae HỌ

Th

2.Cc

2.K

2

2.Rẻ quạt

2.Vu, R

2.Viêm họng

Belamcand a chinensis (L.) DC

DIÊN VĨ ( LAY ƠN ) Rẻ quạt ( Xạ can,Lưỡi lòng )

DIÊN VĨ ( LAY ƠN )

8

Costaceae HỌ MÍA

10 Costus

Th

2.Vu

2.Th

2.K

2

2.Sỏi thận

2.Điề n dạy lình

speciosus (Koenig) Smith

DÒ ( ĐÓT ĐẮNG ) Mía dò ( sẹ vàng,đót đắng)

Costaceae HỌ MÍA DÒ ( ĐÓT ĐẮN G )

9

Poaceae

HỌ HÒA THẢO ( LÚA )

11

Saccharum Mía tím (

Poaceae

HỌ

1.Mía Th

1.Vu

1.Cc

1.K

1.Viêm 1

cam giá )

tím

officinaru m L

thận,đá i dắt

Poaceae

Th

2.R

2.Th

2

Sả đỏ ( sả tía )

2.T, K

2.Hậu sản

2.Đìa sản kía

HÒA THẢO ( LÚA ) HỌ HÒA THẢO ( LÚA )

Poaceae

Na

2.R

2.Cc

2.K

2

13

Sậy ( Sậy trúc )

2.Tắm trẻ con

2.Cột tị

12 Cymbopog on pendulus (Nees ex Steud.) Wats Arundo donax L

HỌ HÒA THẢO ( LÚA )

10 Zingiberac eae 14 Curcuma

Th

2.Vu

2.Củ

2.T

2

longa L

Zingiberac eae

2.Dải vàng

2.Vàn g chang

HỌ GỪN G

Th

2.Vu

2.Cc

2.T

2

HỌ GỪNG Nghệ ( Nghệ nhà,nghệ trồng ) Sa nhân ( Trúc sa )

Zingiberac eae

2.Thù ng sà đẻng

HỌ GỪN G

15 Amomum repens Sonn

2

Th

2.R

2.Thi ều đất

2.Đau nhức xương khớp 2.Đau nhức

Thiều đất (Sẹ đất )

Zingiberac eae

2.Ha, Th

2.T, K

16 Amomum vespertilio Gagnep

HỌ GỪN G

11 Convallari aceae

HỌ MẠNH MÔN ĐÔNG Peliosanthe Sâm cau

17

Convallari HỌ

2.Pằn Th

2.Vu

2.Cc

2.K

2.Sinh

2

VU.A1a,

s teta Andr

aceae

lý nam

c,d

lòng kiềm

(Sâm mây, huệ đá )

MẠN H MÔN ĐÔN G

12 Acoraceae HỌ

Proteaceae HỌ

Mi

XƯƠNG BỒ Mắc ca

2

83 Macadamia integrifolia

2.Mắc ca

2.Vu, R

2.Th, Ha

2.T, K

CHẸO THUI ( CƠM VÀN G )

2.Tim đập thất thường, bảo vệ tim khỏe

13 Commelin aceae

Th

2.R

2.Cc

2.T

19 Tradescanti

2

Commelin aceae

HỌ THÀI LÀI

2.Thà i lài tía

HỌ THÀI LÀI Thài lài tía ( hồng trai )

2.Viêm nhiễm âm đạo

a zebrina Hort. ex Loud

14 Trilliaceae HỌ HẮC

20

2

Trilliaceae HỌ

Th

2.R

2.Cc

2.K

Paris chinensis Franch

2.Bảy lá một hoa

2.Trị ho, hen suyễn

DƯỢC HOA ( TRỌNG LÂU ) Thất diệp ( bảy lá 1 hoa,tảo hưu)

HẮC DƯỢ C HOA ( TRỌN G

LÂU )

Arecaceae HỌ

Mi

2.R

2.bẹ

2.K

2

15 Arecaceae HỌ CAU 21 Caryota urens L

CAU

2.Còn g giòng

2.Cao huyết áp

16 Dracaenac eae

Na

2.R

2.K

2

Dracaenac eae

2.Cc, L

2.Huy ết giác

2.Máu tụ đau nhức

22 Dracaena cambodian a Pierre ex Gagnep

HỌ HUYẾ T GIÁC

Móc (đùng đình ngứa,móc đen ) HỌ HUYẾT GIÁC Huyết giác ( Xó nhà,Phất dủ miên )

Th

2.R

2.Cc

2

C2 Lớp hai lá mầm - Magnoliop sida 17 Amaranth aceae 23 Achyranthe s aspera L

2.T, K

Amaranth aceae

HỌ RAU DỀN Cỏ xước ( Nam ngưu tất )

HỌ RAU DỀN

2. Chẻ cọng ghìm

Th

2.R

2.Cc

2.K

2

Dền gai ( giền gai )

Amaranth aceae

2.Cam sài trẻ con, đau bụng, viêm nhiễm phụ khoa. 2.Đau khớp,g ai cột

24 Amaranthu s spinosus L

HỌ RAU DỀN

2. Dền gai

sống

25 Celosia

Th

2.R

2.K

2

argentea L

Amaranth aceae

2.Ha, r

HỌ RAU DỀN

2.Xơ gan, da vàng

2.Chà y cỏng hun

Th

2.Cc

2.K

26 Celosia

2

2.Vu, R

Amaranth aceae

2.Con g hun sĩ

HỌ RAU DỀN

2.Đau thận,trẹ o tay

var. cristata (L.) Kuntze 18 Verbenace ae

Na

2.R

2.K

27 Clerodendr

2

2.Cc, Th,L

2.Sỏi thận

Verbenace ae

Mào gà trắng ( Mồng gà,thanh tương tử ) Mào gà đỏ ( quan hoa ) HỌ CỎ ROI NGỰA Bạch đồng nữ

2.Lày may dày

um var. simplex (Mold.) S. L. Chen

Na

2.Vu

2

2.Rau đắng

Verbenace ae

2.Cc, Th,L

2.T, K

2.Thấp khớp

28 Clerodendr um cyrtophyllu m Turcz

Bọ mẩy( Đắng cảy,mạy kì cáy )

HỌ CỎ ROI NGỰ A HỌ CỎ ROI NGỰ A

29

2

Th

2.R

2.L

2.T

Acanthace ae

HỌ Ô RÔ

2.Tu lình

2.Cầm máu

HỌ Ô RÔ Tu lình ( xuân hoa vòm )

Na

2.R

2.T

2

Acanthace ae

HỌ Ô RÔ

2.Xươ ng khỉ

2.Cc, L

2.Tắm trẻ em

19 Acanthace ae Pseuderant hemum palatiferum (Nees) Radlk 30 Clinacanth us nutans (Brm. f.) Lindau

Bìm bịp ( Mảnh cộng,Lá cấm )

20 Mimosace ae

Th

2.Cc

2.K

2

31 Mimosa pudica L

Mimosace ae

2.Xấu hổ

2.Vu, R

HỌ TRINH NỮ Trinh nữ ( xấu hổ,e thẹn)

HỌ TRIN H NỮ

2.Đau lưng,ng ức xương khớp

21 Erythropa laceae

Lp

2.Cc

2.K

2

Erythropal aceae

2.Bò khai

2.Vu, R

32 Erythropal um scandens Blume

HỌ DÂY HƯƠNG ( HẠ HÒA ) Bò khai ( Hạ hòa , hồng trục )

2.Viêm thận,ta n sỏi thận

HỌ DÂY HƯƠ NG ( HẠ HÒA )

2

Fabaceae HỌ

Na

2.Th

2.K

2.Trĩ

ĐẬU

22 Fabaceae HỌ ĐẬU Cam thảo 33. ( chi chi ) 0

2.Vu, R

Fabaceae HỌ

Na

2.R

2

2.K

ĐẬU

2.Cc, Th,L

2.Phù thận

35

Fabaceae HỌ

Na

2.R

2

2.T

ĐẬU

2.Cc, L

2.Mất ngủ

Abrus precatorius L 34 Desmodiu m gangeticum (L.) DC Sesbania sesban (L.) Merr

Thóc lép ( Lá sém, tràng quả ) Điên điển ( Muồng gỗ,kiềm thanh )

36

2

Fabaceae HỌ

Na

2.R

2.T

Indigofera tinctoria L

Chàm (Chàm

ĐẬU

2.Ca m thảo 2.Chà ng nghe m 2.Điề n tòng gòn( mất ngủ) 2.Hùn g tỉa

2.Cc, L

2.Bong gân

gàm

nhuộm,ch àm đậu)

Acoraceae HỌ

Th

2.R

2.Cc

2.K

18 Acorus

2

Thạch xương bồ

gramineus Soland

2.Sìn h pầu kiềm

2.Loạn nhịp tim

XƯƠ NG BỒ

Ngải cứu Asteraceae HỌ

Th

2.L

2

23 Asteraceae HỌ CÚC 38 Artemisia vulgaris L

2.Vu, R

CÚC

2.Ngọ i

2.T, K

Asteraceae HỌ

Th

2.R

2.Cc

39 Eclipta

2

CÚC

2.Nhọ nồi

2.T, K

prostrata (L.) L

2.Đau thận,trẹ o tay 2.Giải độc gan

40 Blumea

Asteraceae HỌ

Na

2.R

2.T

2

CÚC

2.Ìn bọt

2.Cc, L

balsamifera (L.) DC

Nhọ nồi ( Cỏ mực,hạn niên thảo) Đại bi ( từ bi xanh,Băn g phiến )

41 Vernonia

Asteraceae HỌ

Na

2.R

2.K

2

Mật gấu ( Lá đắng )

CÚC

2.Mật gấu

2.Cc, L

2.Tắm ghẻ ngứa trừ bà đẻ 2.Viêm gan

Amygdalin a 42 Blumea

Asteraceae HỌ

Th

2.R

2.Cc

2.K

2

CÚC

Xương sông ( rau ăn gỏi )

lanceolaria (Roxb.) Druce

2.Lày cừu vèng (quề đài mây)

2.Thấp khớp,đ ầy bụng khó tiêu, giải độc gan

Asteraceae HỌ

Th

1.R

1.Cc

1

CÚC

1.Sài đất tía

1.T, K

1.Hạ sốt

Asteraceae HỌ

Mi

2.R

2.K

43 Wedelia chinensis (Osbeck) Merr 44 Vernonia

2

CÚC

2.Cc, Th,L

2. Bông bạc

2.Sỏi thận,Th ận hư

Sài đất ( Sơn cúc bò, Húng trám ) Bông bạc ( cúc đại,bạc đầu đỏ )

45

Asteraceae HỌ

Th

2.Cc

2.K

2

CÚC

2.Vu, R

2.Viêm khớp

2.Mù ng cai sá

arborea Buch.- Ham. ex D. Don Sigesbecki a orientalis L

46

Asteraceae HỌ

Th

2.R

2.L,r

2

CÚC

2.T, K

2.Trún g gió

2.Uy linh tiên

Chó đẻ hoa vàng ( hy thiêm,cỏ đĩ) Uy linh tiên (Thảo uy linh )

HỌ SỔ

Mp

2.R

2.L

2

Inula nervosa Wall. ex DC 24 Dillenniac eae 47 Dillenia indica L

Dillenniac eae

HỌ SỔ

2.Sổ bà

2.T, K

Sổ ( Sổ bà,co má sản )

Vitaceae HỌ

Na

2.R

2.K

2

NHO

2.Cc, Th,L

2.Dây Chìa vôi

25 Vitaceae HỌ NHO Dây Chìa 48 Cissus vôi ( Na repens rừng,chìa Lamk vôi bò )

2.Tắm đan giật 2.Trĩ, đau xương khớp, thấp khớp

26 Euphorbia cea

HỌ ĐẠI KÍCH ( THẦU

DẦU )

Cỏ sữa

Th

2.R

2.Cc

2

Euphorbia cea

2.T, K

2.Phà m nhỏ mia

49 Euphorbia arenarioide s Gagnep

2.Tắc sữa, viêm đại tràng

Na

2.K

2

Euphorbia cea

2.Vu, R

2.Cc, L

2.Tịu nòm sĩ

50 Excoecaria cochinchin ensis Lour

Đơn mặt trời ( đơn đỏ,đơn tướng quân )

HỌ ĐẠI KÍCH ( THẦU DẦU ) HỌ ĐẠI KÍCH ( THẦU DẦU )

2.Dị ứng, cam sài trẻ em, dị ứng máu, dị ứng ngoài da

Na

1,2.R 1.Th

1,2.T 1,2.Lợi

1,2

51 Euphorbia tirucalli L

Euphorbia cea

1,2 Giao

sữa, xoang

Giao ( xương khô,xươn g cá )

52

Na

2.R

2

Euphorbia cea

2.Mẹ lình

2.Cc, Th,L

2.T, K

Jatropha podagrica Hook

Ngô đồng ( sen lục bình,dầu lai có củ)

HỌ ĐẠI KÍCH ( THẦU DẦU ) HỌ ĐẠI KÍCH ( THẦU DẦU )

53 Ricinus

Na

2

Euphorbia cea

2.Puồ ng sĩ

2.Vu, R

2.Cc, L

2.T, K

HỌ ĐẠI KÍCH

communis L

Thầu dầu ( Đu đủ tía, bí ma

2.Trừ phong thấp, cầm máu, đắp nhọt 2.Đều kinh, Viêm

tử )

( THẦU DẦU )

54

Th

2.R

2.Cc

2.K

2

Vẩy ốc ( chân dê )

Euphorbia cea

2.Sùn g thằn lằn

Phyllanthu s virgatus Forst. & Forst. f

HỌ ĐẠI KÍCH ( THẦU DẦU )

gan, xấu máu, thận hư 2.Viêm khớp xương, nhức mỏi chân tay, sinh lý nam

27 Malvaceae HỌ

Th

2.Vu

2.Cc

2.K

2

2.Cối xay

2.Giải vàng

55 Abutilon indicum (L.) Sweet

BÔNG BỤP ( CẨM QUỲ ) Cối xay ( Nhĩ hường,Ma mãnh )

Malvaceae HỌ BÔN G BỤP ( CẨM QUỲ )

Na

2.R

2.K

2

2.Cc, Th,L

56 Hibiscus rosa- sinensis L

2. Dâm bụt

2.Đánh tan sỏi thận

Dâm bụt ( hoa dâm bụt,bông bụt )

Malvaceae HỌ BÔN G BỤP ( CẨM QUỲ )

57

Na

1.R

1.T

1

Hibiscus syriacu L

1.Cc, Th,L

1.Tiểu dắt

Malvaceae HỌ BÔN G BỤP (

1. Dâm bụt hoa

Dâm bụt hoa trắng ( Dâm bụt kép )

trắng

CẨM QUỲ )

58 Hibiscus

Na

2.R

2

mutabilis L

2.Phù dung

2.Cc, L

2.T, K

2.Tắm ngứa

Phù dung ( mộc liên )

Malvaceae HỌ BÔN G BỤP ( CẨM QUỲ )

28 Polygonac eae 59 Reynoutria

Th

2.R

2.Cc

2.K

2

Polygonac eae

japonica Houtt

HỌ RAU RĂM

HỌ RAU RĂM Cốt khí củ ( điền thất,Hổ trượng )

2.Goa ng lin (đìa ùi sĩ)

60

Th

1.R

1.Cc

1.K

1

Polygonum chiensis L

Polygonac eae

2.Nhiễ m trùng đường ruột, thấp khớp, đau lưng 1.Sỏi thận

HỌ RAU RĂM

1.Thu ồm lồm

Thuồm lồm ( lá lồm,/mía bẻm,nghế trung )

29 Rubiaceae HỌ CÀ

Th

2.R

2.Cc

2.K

2

2. Dạ cẩm

Rubiaceae HỌ CÀ PHÊ

PHÊ Dạ cẩm ( An điền đẩu,bòi ngòi đẩu )

61 Hedyotis capitellata Wall. ex G. Don

62 Gardenia

Na

2.R

2.K

2

augusta

Dành dành (

Rubiaceae HỌ CÀ

2.Dàn h

2.Cc, L

2.Viêm đại tràng,lo ét dạ dày 2.Đều kinh

(L.) Merr

PHÊ

dành

63

Lp

2.R

2.Cc

2.K

2

2.Viêm ruột

Paederia lanuginosa Wall

64 Randia

Na

2.R

2.K

2

2.Cc, L

2.Mơ lông tam 2.Mỏ quạ

Rubiaceae HỌ CÀ PHÊ Rubiaceae HỌ CÀ PHÊ

65

Na

2.R

2.T

2

canthioides Champ. ex Benth Pavetta indica L

2.Cc, Th,L

Rubiaceae HỌ CÀ PHÊ

2.Đau gan, hậu sơ sinh 2.Gãy chân tay

2.Bùn g nau mia

Lp

2.R

2.Th

2.K

2

Cucurbitac eae

Vu,A1c, d,B2a,b( ii,iii,v)

HỌ BẦU BÍ ( BÍ )

2.Huyế t áp cao,mỡ máu

1. Giảo cổ lam

30 Cucurbita ceae 66 Gynostem ma pentaphyll um (Thunb.) Makino

Dành tàu,Phi tử ) Mơ lông tam ( Mơ tam thế ) Mỏ quạ ( Găng gai nhọn,chim chích ) Thanh táo ( cắng gà,ba mia) HỌ BẦU BÍ ( BÍ ) Giảo cổ lam ( Thư tràng năm lá,Nhân sâm phương nam )

31 Moraceae HỌ DÂU

67 Morus alba

Moraceae HỌ

Mi

2.R

2.K

2.Trĩ

2

TẰM Dâu tằm ( tằm tang )

L

2.Dâu tằm

2.Cc, L

DÂU TẰM

68

Moraceae HỌ

Mi

2.T

2

Sung đất ( Ngái rễ )

2.Sun g đất

2.R, Vs

2.Tắm đẻ

2.Cc, L

Ficus var. badiostrigo sa Corn

DÂU TẰM

32 Loganiace ae

HỌ MÃ TiỀN

Lp

2.R

2.Th

2.K

2.Trĩ

2

69

Loganiace ae

2.Dây gió

Strychnos ignatii Berg

HỌ MÃ TiỀN

33 Menisper

maceae

Lp

2.R

2.Th

2.K

2

70 Tinospora

Menisper maceae

HỌ TiẾT DÊ

2.Pu chặt mia

sinensis (Lour.) Merr

Lp

2.R

2.Cc

2.K

2

71

Menisper maceae

2.Nàn g nhà

Fibraurea recisa Pierre

HỌ TiẾT DÊ

2.Đau lưng,đa u nhức xương khớp 2.Viêm đường tiết niệu,đa u khớp

Dây gió ( đậu gió,mã tiền đông ) HỌ TiẾT DÊ Dây đau xương ( khoan cân,tục cốt đằng ) Hoàng đằng ( Nam hoàng,Và ng giang ) 34 Rutaceae HỌ CAM

Rutaceae HỌ

Na

2.R

2.Th

2.Ho

2

2.T, K

2.Nhà n hây

72 Zanthoxyly m nitidum (Roxb.) DC

QUÝT ( CỬU LÝ HƯƠNG ) Dây hoàng lực ( xuyên tiêu,Trưng ,Xưng )

CAM QUÝT ( CỬU LÝ HƯƠ NG )

Rutaceae HỌ

Na

2.R

2

2.K

2.Quý t gai

2.Cc, Th,L

73 Atalantia buxifolia (Poir.) Oliv

2.Suy thận,th ận hư

Quýt gai ( cúc keo,quýt hôi )

CAM QUÝT ( CỬU LÝ

35 Leeaceae HỌ GỐI

HƯƠ NG )

Na

2.R

2

2.Cc, Th,L

2.T, K

74 Leea rubra Blume ex Spreng

2.Viêm khớp ,thấp khớp

2.Tầ m dày mia (mầy pẹ)

HẠC ( TRÚC VÒNG ) Gối hạc ( Bí dại, Mũn, Phỉ tử, Kim lê)

Leeaceae HỌ GỐI HẠC ( TRÚC VÒN G )

36 Theaceae HỌ CHÈ

( TRÀ ) Hải đường Theaceae HỌ

Na

2.R

2

75 Camellia

2.Ho, L

2.T, K

CHÈ ( TRÀ )

2.Hải đườn g

2.Huyế t áp cao

amplexicau lis (Ptard) Cohen- Stuart 37 Oxalidace ae

Mi

2.Vu

2.T

2

HỌ CHUA ME ĐẤT ( ME ĐẤT ) Khế ( Khế gianh )

Oxalidace ae

2.Lố lằng

2.Th, L

76 Averrhoa carambola L

2.Dị ứng cây sơn

HỌ CHU A ME ĐẤT ( ME ĐẤT )

38 Myrsinace ae

HỌ ĐƠN NEM ( XAY )

77 Ardisia

Na

2.R

2

Myrsinace ae

2.Cc, L

2.T, K

silvestris Pitard

Lá khôi( đơn tướng quân )

HỌ ĐƠN NEM ( XAY )

2.Trào ngược dạ dày,viê m loét dạ dày

2.Đìa giàng phản (đèng phản, lì sàng phản, đùng phản)

39 Caprifolia ceae

Lp

1.R

1.Cc

1.K

1

Caprifolia ceae

1.Kim ngân

78 Lonicera japonica Thunb

1.Than h nhiệt giải độc

HỌ KIM NGÂN ( CƠM CHÁY ) Kim ngân ( Nhẫn đông, kim ngân nhật )

HỌ KIM NGÂ N ( CƠM CHÁ Y )

40 Convolvul aceae

79

Th

2.R

2.Cc

2.T

2

Convolvul aceae

Ipomoea pes-caprae (L.) R. Br

2.Giù ng gay đẻng

2.Tiện táo, cam trẻ con

HỌ KHOAI LANG ( BÌM BÌM ) Chân dê ( rau muống biển, Mã đề thảo )

HỌ KHO AI LANG ( BÌM BÌM )

41 Piperaceae HỌ HỒ

TIÊU

80

Th

2.Vu

2.r

2.K

2

Piper lolot C. DC

2.Lá lốt

Piperaceae HỌ HỒ TIÊU

2. Đau nhức lưng

81

Th

2.Vu

2.Cc

2

42 Plantagina ceae Plantago major L

Plantagina ceae

2.T, K

Lá lốt ( Lốt, Tất bát ) HỌ MÃ ĐỀ Mã đề ( Bông mã đề )

HỌ MÃ ĐỀ

2.Sằn g chầy

2.Mát gan, kinh nguyệt, trị tiêu chảy

Lp

2.Cc

2.K

82

2

Passiflorac eae

2.Lạc tiên

2.Vu, R

43 Passiflorac eae Passiflora foetida L

HỌ LẠC TIÊN

HỌ LẠC TIÊN Lạc tiên ( Chùm bao, Nhẵn lông )

44 Proteaceae HỌ

2.Mất ngủ, viêm thận

2

Fabaceae HỌ

Mi

2.R

ĐẬU

2.Vôn g

2.Cc, Th,L

2.T, K

37 Abroma augusta (L.) L. f

CHẸO THUI ( CƠM VÀNG ) Vông ( Thung thang,vôn g thẳng )

2.Trĩ, tim mạch, mất ngủ

45 Asclepiada ceae

HỌ THIÊN LÝ ( LA BỐ MA,BÔN G TAI )

Lp

2.Trĩ

Thiên lý ( hoa lý )

Asclepiad aceae

2.Thi ên lý

2.Vu, R

2.Ho, L

2.T, K

84 Telosma cordata (Burm. f.) Merr

Lp

2.R

2.Cc

2.K

2

Asclepiad aceae

2.Tai chuột

2.Ung thư Lá nách

85 Dischidia acuminata Cost

Tai chuột ( dây hạt bí, Mộc tienf nhọn )

HỌ THIÊ N LÝ ( LA BỐ MA,B ÔNG TAI ) HỌ THIÊ N LÝ ( LA BỐ MA,B ÔNG TAI )

46 Melastom

HỌ MUA

ataceae

Na

2.K

2.Trĩ

2

HỌ MUA

2.Mu a

2.Vu, R

2.Cc, Th,L

Melastom ataceae

86 Melastoma dodecandru m Lour

47

Scrophula riaceae

Th

2.Vu

2.Cc

Mua ( Mua lùn,mua thấp ) HỌ HOA MÕM CHÓ Nhân trần Scrophular

2

2.T, K

2.Viêm gan

iaceae

2.Nhâ n trần

87 Adenosma caeruleum R. Br

88 Adenosma

Th

2.R

2.Cc

2

2.Sìn pầu

Scrophular iaceae

2.T, K

2.Thấp khớp

indiana (Lour.) Merr

HỌ HOA MÕM CHÓ HỌ HOA MÕM CHÓ

Bồ bồ ( Tuyến hương ấn,Nhân trần hoa

đầu )

48 Araliaceae HỌ NGŨ

Araliaceae HỌ

Na

2.R

2

2.Cc, L

2.T, K

DA BÌ ( NHÂN SÂM ) Ngũ gia bì ( Ngũ da hương,Xu yên da bì )

89 Acanthopa nax trifoliatus (L.) Voss

2.Đèn g tây hây (chân chim)

2.Khớp xương co cứng,vi êm khớp

NGŨ DA BÌ ( NHÂ N SÂM )

90

Araliaceae HỌ

Na

2.Vu

2.Củ

Đinh lăng lá to

2.T, K

2.Mất ngủ

Polyscias grandifolia Volkens

2. Đinh lăng

NGŨ DA BÌ ( NHÂ N SÂM )

91

Araliaceae HỌ

Na

2.Vu

2.L

2.K

2

2.Đin h lăng

Polyscias fruticosa (L.) Harms

2.Đau lưng,đa u cơ khớp

Đinh lăng lá nhỏ ( đinh lăng bụi ,dương lâm )

NGŨ DA BÌ ( NHÂ N SÂM )

Araliaceae HỌ

Mi

2.R

2.L

2.K

2

2.Đau lưng

2.Nhi ềm đèng kem

92 Trevesia palmata (Roxb. ex Lindl.) Visan

Đu đủ rừng ( Thông thảo gai, thích thông thảo

NGŨ DA BÌ ( NHÂ N

)

SÂM )

49

Schisandr aceae

Lp

2.R

2.Cc

2.K

2

93 Kadsura

Schisandra ceae

2.Đìa thản

heteroclita (Roxb.) Craib

HO NGŨ VỊ TỬ ( NGŨ VỊ TỬ,XƯN XE ) Răng ngựa ( Na leo,Hải phong đằng )

2.Viêm loét dạ dày, cam đường ruột

50 Lauraceae HỌ

HO NGŨ VỊ TỬ ( NGŨ VỊ TỬ,X ƯN XE )

Lauraceae HỌ

2.Quế Mi

2.Vu

2.K

2

2.Mụn nhọt

94 Cinnamom um verum Presl

2.Cc, Th,L, Vo

LONG NÃO ( NGUYỆ T QuẾ ) Quế ( Quế rành,qué hồi )

51

LONG NÃO ( NGU YỆT QuẾ )

Lamiaceae

Th

2.Vu

2.Ha

2.K

2

Lamiaceae

2.Sạch mắt

95 Ocimum basilicum L

HỌ BẠC HÀ ( HOA MÔI ) Rau húng ( Húng quế ,húng

HỌ BẠC HÀ (

2.Lừa lạ nghim

chó )

HOA MÔI )

52 Apiaceae HỌ HOA

Apiaceae HỌ

Th

2.Cc

2.T

2.Ho

2

2.Vu, ,R

TÁN ( NGÒ ) Rau má ( xà lách dây )

2.Tằn g chan

96 Centella asiatica (L.) Urb. in Mart

53 Olipiaceae HỌ SƠN

HOA TÁN ( NGÒ )

Olipiaceae HỌ

Na

2.R

2.L

2

2.T, K

SƠN CAM

2.Rau ngót rừng

2.Tử cung co thắt

Th

2.R

2.Cc

2.K

2

2.Rễ gió

Aristoloch iaceae

CAM Rau ngót rừng ( rau sắng ) HỌ MỘC HƯƠNG Rễ gió ( Sơn địch vặn )

97 Melientha suavis Pierre 54 Aristoloch iaceae 98 Aristolochi a contorta Bunge

HỌ MỘC HƯƠ NG

2.Khán g viêm đường ruột

55 Myrtaceae HỌ SIM

1

Myrtaceae HỌ

1.Sim Na

1.R

1.L

1.K

( ĐÀO KIM CƯƠNG ) Sim ( sim hồng )

1.Đau dạ dày

99 Rhodomyrt us tomentosa (Ait.) Hassk

SIM ( ĐÀO KIM CƯƠ NG )

56 Rhamnace ae

HỌ TÁO ( TÁO

2.Táo Na

2.Vu

2.K

2.Trĩ

2

10 0

Rhamnace ae

2.Cc, Th

Ziziphus oenoplia (L.) Mill

TA ) Táo ( táo dại ,Táo dai )

HỌ TÁO ( TÁO TA )

HỌ BAN

Mi

2.R

2.K

2

10 1

Hypericac eae

HỌ BAN

2.Cc, Th,L

2.Trào ngược dạ dày

2. Thành ngạnh lông

57 Hypericac eae Cratoxylu m prunifloru m (kurz) Kurz

Na

2.R

2.K

2

10 2

Boraginac eae

2.Xạ đen

2.Cc, Th,L

HỌ VÒI VOI

58 Boraginac eae Ehretia asperula Zoll. & Mor

Thành ngạnh lông ( Lành ngạnh,Đỏ ngọn ) HỌ VÒI VOI Xạ đen ( bạch vạn hoa,bách giải )

59

HỌ CÀ

2.Viêm gan B, trị u tán bướu

Lp

1,2

10 3

Solanacea e

HỌ CÀ

1,2.V u,R

1. Ha 2.Cc

Solanacea e Solanum procumbe ns Lour

Cà gai leo ( cà quạnh,cà gai dây )

1,2. Cà gai leo

1,2.K 2,1.Viê m gan B,đau gan

Phụ lục 4

Bảng: Loài cây cụ thể theo từng bộ phận sử dụng của từng dân tộc

Nùng Dao

Bộ phận sử dụng Cả cây Huyết dụ,

Mía tím, Sài đất , Sài đất, Thuồm lồm, Kim ngân.

Huyết dụ, Sim, Dâm bụt hoa trắng.

Thân

Dâm bụt hoa trắng, Giao

Kim giao, Huyết dụ, Huyết dụ thắng, Hẹ , Tỏi, Rẻ quạt, Sậy, Sa nhân, Sâm cau, Thạch xương bồ, Thài lài tía, Thất diệp, Huyết giác, Cỏ xước, Dền gai, Mào gà đỏ, Bạch đồng nữ, Bọ mẩy, Bìm bịp, Trinh nữ, Bò khai, Thóc lép, Điên điển, Chàm, Vông, Nhọ nồi, Đại bi, Mật gấu, Xương sông, bông bạc, Chó đẻ hoa vàng, Dây chìa vôi, Đơn mặt trời, Ngô đồng, Thầu dầu, Vẩy ốc, Cối xay, Dâm bụt, Phù dung, Cốt khí củ, Dạ cẩm, Dành dành, Mơ lông tam, Mỏ quạ, Thanh táo, Dâu tằm, Sung đất, Hoàng đằng, Quýt gai, Gối hạc, Lá khôi, Chân dê, Mã đề, Lạc tiên, Tai chuột, Mua, Nhân trần, Bồ bồ, Ngũ da bì, Răng ngựa, Quế, Rau má, Rễ gió, Táo, Thành ngạnh, Xạ đen. Kim giao, Huyết dụ, Huyết dụ thắng, Huyết giác, Bạch đồng nữ, Bọ mẩy, Tu lình, Bìm bịp, Thóc lép, Điên điển, Chàm, Vông, Ngải cứu, Đại bi, Mật gấu, Bông bạc, Uy linh tiên, Sổ, Day chìa vôi, Đơn mặt trời, Ngô đồng, Thầu dầu, Dâm bụt, Phù dung, Dành dành, Mỏ quạ, Thanh táo, Dâu tằm, Sung đất, Quýt gai, Gối hạc, Hải dường, Khế, Lá khôi, Thiên lý, Mua, Ngũ da bì, Đinh lăng lá nhỏ ,Đu đủ rừng, Quế, Rau ngót rừng, Thành ngạnh, Xạ đen. Gắm, Ráy, Mía dò, Xả đỏ, Thiều đất, Bạch đồng nữ, Bọ mẩy, Cam thảo, Thóc lép, Vông, Bông bạc, Chìa vôi, Ngô đồng, Dâm bụt, Thanh táo, Giảo cổ lam, Dây gió, Dây đau xương, Dây hoàng lực, Quýt gai, Gối hạc, Khế, Mắc ca, Mua, Quế, Táo, Thành ngạnh, Xạ đen. Mào gà trắng, Uy linh tiên, Lá lốt. Quế

Hải đường, Thiên lý.

Dong riềng Nghệ, Đinh lăng lá to. Cà gai leo Thiều đất, Mào gà trắng, Mắc ca, Rau húng. Móc Rễ Vỏ Củ Hoa Hạt Bẹ

Bảng: Tên chi tiết các loài cây theo bộ nhóm bệnh

Stt Nhóm bệnh

Nùng

Sim 1 Bệnh tiêu hóa

2 Xương khớp

Dao Gắm, Cam thảo, Vông, Xương sông, Dây chìa vôi, Cốt khí củ, Cỏ sữa, Dạ cẩm, Mơ lông tam, Dâu tằm, Dây gió, Chân dê, Thiên lý, Mua, Rễ gió, Táo, Lá khôi, Răng ngựa, Thành ngạnh Sa nhân, Thiều đất, Dền gai, Mào gà đỏ, Bọ mẩy, Trinh nữ, Chàm, Ngải cứu, Xương sông, Chó đẻ hoa vàng, Dây chìa vôi, Ngô đồng, Vẩy ốc, Cốt khí củ, Thanh táo, Dây đau xương, Hoàng đằng, Gối hạc, Lá lốt, Bồ bồ, Ngũ da bì, Đinh lăng lá nhỏ, Đu đủ rừng, Ráy.

Mía tím,Dâm bụt hoa trắng,Thuồm lồm. 3 Bệnh đường tiết niệu

4 Huyết dụ, Giao Bệnh phụ nữ , sinh sản

Cà gai leo 5 Bệnh về Gan

6 Bệnh trẻ em

7 Bệnh ngoài da

8 Bệnh đường hô hấp

Huyết dụ, sả đỏ, Thài lài tía, Cỏ xước, Cỏ sữa, Thầu dầu, Dành dành, Mỏ quạ, Sung đất, Mã đề, Rau ngót rừng, Hẹ, Sâm cau, Vẩy ốc. Mào gà trắng, Nhọ nồi, Mật gấu, Mỏ quạ, Mã đề, Nhân trần, Xạ đen, Cà gai leo, Thầu dầu. Sậy, Cỏ xước, bìm bịp, Sổ, Đơn mặt trời, Chân dê Đơn mặt trời, Phù dung, Khế, Quế, Ngô đồng, Đại bi Thất diệp, Dây hoàng lực, Rau má, Rẻ quạt Rau húng Kim giao, Tỏi,Giao Giao

Dong đỏ Thạch xương bồ, Vông, Mắc ca 11

Huyết dụ thắng, Móc, Hải đường 12

Kim ngân

Uy Linh tiên

Tai chuột, Xạ đen 15

16 Kim ngân 9 Bệnh về mắt 10 Bệnh về mũi Bệnh về tim mạch Bệnh về thần kinh 13 Thuốc bổ 14 Bệnh thời tiết Bệnh về u bướu Nhóm về ngộ độc

Bảng: 10 họ giàu loài nhất theo danh lục thực vật Việt Nam

STT 1 2 3 4 5 6 7 8 Tên họ Mãn cầu - Annonaceae Long não - Lauraceae Dâu tằm - Moraceae Dẻ - Fagaceae Cúc - Asteraceae Thầu dầu - Euphorbiaceae Hoa hồng - Rosaceae Đậu - Fabaceae Hòa thảo - Poaceae Ráy - Araceae Số lượng Loài 201 278 180 221 380 478 169 472 610 175