TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ GIÁO DỤC
HỒ THỊ PHƯƠNG DUNG
PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC ĐỐI VỚI THANH THIẾU
NIÊN PHẠM PHÁP TẠI TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG SỐ 4
TỈNH ĐỒNG NAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC Thạc sĩ: VŨ THỊ SAI
TP. HCM. 5/2006
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ Viết tắt
Chưa bao giờ: CBG
Ít khi: IK
Thỉnh thoảng: TT
Thường xuyên: TX
Rất thường xuyên: RTX
Rất không hài lòng: RKHL
Không hài lòng: KHL
Phân vân PV
Hài lòng: HL
Rất hài lòng: RHL
Mức độ ý nghĩa quan sát: Sig
MỤC LỤC
212TDANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT212T ......................................................................... 2
212TMỤC LỤC212T .................................................................................................................... 3
212TMỞ ĐẦU212T ....................................................................................................................... 5
212T1. Lí do chọn đề tài212T .............................................................................................................. 5
212T2. Mục đích nghiên cứu212T ...................................................................................................... 7
212T3. Khách thể và đối tượng nghiên cửu212T .............................................................................. 7
212T4. Giả thuyết nghiên cứu212T .................................................................................................... 7
212T5. Nhiệm vụ nghiên cứu212T ...................................................................................................... 8
212T6. Giới hạn đề tài.212T ................................................................................................................ 8
212T7. Phương pháp nghiên cứu212T ............................................................................................... 8
212T8. Tiến độ thực hiên đề tài212T .................................................................................................. 9
212TCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU212T .......................... 11
212T1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề212T ........................................................................................ 11
212T1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới212T................................................................. 11
212T1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam212T ................................................................. 14
212T1.2. Cơ sở lí luận212T ................................................................................................................ 17
212T1.2.1 Một số đặc điểm cơ bản ở lứa tuổi thanh thiếu niên212T .............................................. 17
212T1.2.2 Khái niêm về trẻ phạm pháp.212T ................................................................................. 22
212T1.2.3 Một số đặc điểm tâm lý của trẻ phạm pháp212T ........................................................... 23
212T1.2.4 Nguyên nhân dẫn đến tình trang trẻ phạm pháp212T .................................................... 26
212T1.2.5 Phương pháp giáo dục212T ........................................................................................... 29
212T1.2.6 Một số phương pháp giáo dục lại đôi với trẻ phạm pháp.212T ..................................... 40
212TCHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC ĐỐI VỚI THANH THIẾU NIÊN PHẠM PHÁP TẠI TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG SỐ 4 - TỈNH ĐỒNG NAI212T .......................................................................................... 50
212T2.1 Một số nét cơ bản trong công tác quản lý giáo dục học sinh trường Giáo dưỡng số 4 – tỉnh Đồng Nai212T .......................................................................................................... 50
212T2.1.1 Đặc điểm tình hình chung212T ...................................................................................... 50
212T2.1.2 Đối tượng đưa vào trường Giáo dưỡng (TGD)212T ...................................................... 50
212T2.1.3 Công tác tổ chức hành chính212T .................................................................................. 51
212T2.1.4 Công tác tiếp nhân và quản lý học sinh TGD K212T .................................................... 51
212T2.1.5 Công tác giáo dục học sinh212T .................................................................................... 53
212T2.1.6 Công tác giảng dạy văn hóa212T ................................................................................... 54
212T2.1.7 Lao đông hướng nghiệp dạy nghề212T ......................................................................... 54
212T2.1.8 Tố chức quản lý, giáo dục học sinh chuẩn bị ra trường212T ......................................... 55
212T2.2. Thực trạng sử dung các phương pháp giáo dục tại trường Giáo dưỡng số4 - tỉnh Đồng Nai212T ............................................................................................................................ 56
212T2.2.1 Một số nét về mẫu nghiên cứu212T ............................................................................... 56
212T2.2.2 Kết quả nghiên cứu về thực trạng sử dung phương pháp giáo dục:212T ...................... 57
212T2.2.3 So sánh đánh giá của giáo viên và đánh giá của học sinh về thực trạng sử dụng các phương pháp giáo dục.212T ........................................................................................... 101
212T2.2.4 Đánh giá của giáo viên về một số kết quả, rèn luyện của học sinh212T ..................... 115
212T2.2.5 Những khó khăn gây cản trở đến việc sử dụng các phương pháp giáo dục.212T ....... 120
212TKẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ212T................................................................................. 125
212T1. Kết luận chung212T ............................................................................................................ 125
212T2. Kiến nghị:212T .................................................................................................................... 130
212TTÀI LIỆU THAM KHẢO212T ...................................................................................... 132
212TPHỤ LỤC212T ................................................................................................................. 134
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thanh thiếu niên là một lực lượng to lớn, chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu dân số và
lực lượng lao động trong xã hội. Đồng thời đây cũng là lực lượng nòng cốt trong
công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Tổng Bí thư Đỗ Mười đã nhận định: "Sự
nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước ta bước vào thế kỷ 21 có vị trí
xứng đáng trong cộng đồng hay không, chủ yếu là do lực lượng thanh niên ngày nay
quyết định". Bên cạnh những thanh thiếu niên đã học tập, rèn luyện và có nhiều cống
hiến thì cũng có một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên có lối sống không lành
mạnh, coi thường các giá trị đạo đức, nhân văn. Thậm chí có nhiều thanh thiếu niên
đã đi vào con đường phạm pháp. Theo số liệu của Viện kiểm soát nhân dân tối cao,
chỉ riêng năm 1998 cơ quan kiểm soát các cấp trong toàn quốc đã tiếp nhận hồ sơ và
xử lý 5133 em, trong số đó đã truy tố 3.533 bị can, đưa ra xét xử 2919 trường hợp.
Theo thống kê của bộ Công an, số thanh thiếu niên làm trái pháp luật chiếm khoảng
13% đến 15% tổng số vụ án hình sự.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thanh thiếu niên phạm pháp. Chúng
ta thấy rằng khi xã hội đang có những biến đổi to lớn về nhiều mặt, cùng với sự phát
triển của cơ chế thị trường. Bên cạnh sự phát triển nhanh chóng về kinh tế thì đây
cũng chính là môi trường làm nảy sinh những thuận lợi và khó khăn cho quá trình
giáo dục. Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực thì cũng có quá nhiều những ảnh
hưởng tiêu cực tác động đến sự hình thành, phát triển nhân cách của trẻ em.
Ở lứa tuổi thanh thiếu niên, một lứa tuổi đầy biến động, một lứa tuổi không còn
là trẻ con nhưng lại chưa đủ sức để trở thành người lớn, một lứa tuổi ham khẳng định
và tìm tòi cái mới thì sự ảnh hưởng của những tác động tiêu cực là rất lớn.
Để trẻ em nói chung và thanh thiếu niên nói riêng có khả năng chống lại những
tác động tiêu cực từ điều kiện, môi trường sống thì hơn ai hết trách nhiệm thuộc về
gia đình. Cha mẹ không chỉ nuôi dưỡng, chăm sóc mà còn phải giáo dục con cái về
mọi mặt. Nhưng ngày nay có một thực tế đáng phải quan tâm là: Do phải bôn ba vất
vả với cuộc sống mưu sinh, với cơm áo gạo tiền, vì chức năng kinh tế mà không ít
cha mẹ đã khoán trắng việc giáo dục con cái cho nhà trường. Một nơi mà thực tế
không đủ sức để giáo dục toàn diện nhân cách cho trẻ. Và cha mẹ đã bù đắp cho con
em mình những thiếu hụt bằng vật chất. Đôi khi vì thiếu sự quan tâm đúng mức cha
mẹ đã không thấy được những thay đổi, những khác lạ trong tính cách của con em
mình. Đến khi trẻ bắt đầu xa chân vào con đường phạm tội, khi phải đứng trước vành
móng ngựa thì cha mẹ mới bắt đầu "thức tỉnh".
Không phải ai sinh ra đã mang sẵn trong mình những hành vi phạm tội. Đó là
kết quả của những biến đổi tâm lí, những biến đổi mà không được quan tâm, thấu
hiểu, và được cư xử phù hợp. Là kết quả của sự ảnh hưởng tiêu cực từ điều kiện môi
trường, xã hội. Mà quan trọng hơn hết đó là kết quả của những sai lệch trong giáo dục
gia đình.
Khi thanh thiếu niên chưa có sự trưởng thành về mặt nhận thức, kinh nghiệm
sống, khi lứa tuổi còn có nhiều biến động, nhiều sự thay đổi thì những hành vi làm
trái pháp luật của các em đáng được tha thứ. Bởi hơn ai hết các em chính là nạn nhân
của của những bất ổn trong gia đình và ngoài xã hội.
Đứng trước thực trạng thanh thiếu niên phạm pháp ngày một tăng thì lực lượng
Công an là những người tiên phong trong công tác phòng chống tội phạm, loại trừ
những băng nhóm lưu manh, trộm cắp, đồng thời còn tiến hành tập trung cải tạo các
loại đối tượng phạm pháp hình sự, đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên, nhằm giữ
vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Để thực hiện những chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với đối tượng thanh
thiếu niên phạm pháp thì các trường Giáo dưỡng là những lực lượng đóng vai trò
quan trọng và tiên phong trong công tác cải tạo, giáo dục các em. Giúp các em trở
thành những người có phẩm chất tốt đẹp, có trình độ văn hóa, có khả năng lao động
để có thể tái hòa nhập cộng đồng.
Đó là những nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết đòi hỏi các cán bộ, giáo viên ở
trường không chỉ bằng tình thương mà còn phải có những phương pháp giáo dục phù
hợp và hiệu quả. Phương pháp giáo dục phù hợp và hiệu quả chính là những nhân tố
quan trọng tạo tiền đề giúp các em có đủ sự tự tin, bản lĩnh, có thái độ tích cực để trở
thành những công dân có ích cho xã hội.
Quá trình giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp ở các trường Giáo dưỡng
chắc chắn sẽ có những nét đặc thù. Vậy, các giáo viên tại trường đã sử dụng những
phương pháp gì để giáo dục cho các em? Hiệu quả của những phương pháp đó ra
sao? Các thầy cô trong quá trình giáo dục các em có những khó khăn nào?
Đứng trước những băn khoăn đó, người nghiên cứu đã tiến hành thực hiện đề
tài: Phương pháp giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp tại trường Giáo dưỡng
số 4 - Tỉnh Đồng Nai.
2. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng sử dụng các phương pháp giáo dục đối với thanh thiếu niên
phạm pháp tại trường Giáo dưỡng số 4 - Tỉnh Đồng Nai trên cơ sở đó phân tích
những khó khăn khách quan và chủ quan gây ảnh hưởng đến việc sử dụng các
phương pháp giáo dục để từ đó đưa ra các ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả công tác
giáo dục tại trường.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cửu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục tại trường Giáo dưỡng số 4 - Tỉnh Đồng Nai.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các phương pháp giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp.
4. Giả thuyết nghiên cứu
- Phần lớn các giáo viên tại trường Giáo dưỡng số 4 đã sử dụng phù hợp các
phương pháp giáo dục tuy nhiên việc sử dụng các phương pháp giáo dục này vẫn còn
một số hạn chế.
- Các phương pháp giáo dục đặc thù trong quá trình giáo dục này đã được các
giáo viên sử dụng song vẫn chưa được quan tâm đúng mức.
- Trong quá trình giáo dục lại đối với thanh thiếu niên phạm pháp thì các giáo
viên tại trường còn gặp nhiều khó khăn khách quan và chủ quan khiến cho việc sử
dụng các phương pháp giáo dục còn nhiều hạn chế nên hiệu quả giáo dục mang lại
chưa cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Khảo sát thực trạng sử dụng các phương pháp giáo dục tại trường.
- Đánh giá hiệu quả sử dụng các phương pháp giáo dục tại trường thông qua sự
đánh giá của giáo viên và học sinh.
-Đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đối với thanh thiếu
niên phạm pháp.
6. Giới hạn đề tài.
1. Về mẫu nghiên cứu
-Nghiên cứu trên giáo viên: Chủ nhiệm,Văn hóa, dạy nghề, trực ban.
-Nghiên cứu trên học sinh : Chỉ nghiên cứu ở lứa tuổi thiếu niên và lứa tuổi đầu
thanh niên tại trường Giáo dưỡng số4- Tỉnh Đồng Nai.
2. Về đối tương nghiên cứu
Chỉ nghiên cứu các phương pháp giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp.
7. Phương pháp nghiên cứu
7. 1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
7.2.Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a/ Phương pháp trò chuyện-phỏng vấn
b/ Phương pháp quan sát
c/ Phương pháp điều tra bằng bảng Angket Công cụ nghiên cứu được tiến hành
qua 2 giai đoạn:
+Giai đoan 1: Dựa vào việc nghiên cứu lí luân và qua quan sát thực tế, người
nghiên cứu soạn thảo một bảng thăm dò mở với một số câu hỏi (phần phụ lục).
+Giai đoan 2: Từ kết quả thăm dò mở, kết hợp với sự tham kháo tài liệu, các
công trình nghiên cứu có liên quan người nghiên cứu tiến hành xây dựng bảng thăm
dò chính thức.
Trong tất cả các phương pháp trên thì điều tra bằng bảng Angket là phương pháp
chính.
7.3. Phương pháp xử lí số liệu bằng phần mềm SPSS 11.5
Phương pháp thống kê tần số, tính tỉ lệ phần trăm.
Kiểm nghiệm Chi- Square
Kiểm nghiệm T- Test
8. Tiến độ thực hiên đề tài
Tháng 9:
+Xác định tên đề tài và xây dựng đề cương
Tháng 10-11:
+Nghiên cứu tài liệu.
+Viết cơ sở lí luận
+Xây dựng bảng câu hỏi mở
Tháng 12-1:
+Trò chuyện với giáo viên và học sinh.
+Xây dựng bảng câu hỏi chính thức .
Tháng 2-3:
+Phát và thu phiếu điều tra
+Hoàn thành cơ sở lí luận
Tháng 4:
+Xử lí và phân tích số liệu thu được
+Tổng hợp viết thành luận văn
Tháng 5:
+Hoàn chỉnh luận văn và báo cáo.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới
- A.x Macarencô (1888-1939)
Macarencô được biết đến là nhà giáo nhân đạo lớn của thế giới, ông là bậc thầy
trong việc giáo dục học sinh hư, phạm pháp.
Quan điểm giáo dục của Macarencô được thể hiện sâu sắc nhất thông qua tác
phẩm "Bài ca sư phạm". Đó là bài ca chiến thắng của những quan điểm giáo dục
Macxit. Đó là thành công rực rỡ của Macarencô trong việc cải tạo hàng ngàn trẻ lưu
manh, tội lỗi, biến chúng từ chỗ là "cặn bã" của xã hội thành những công dân tích cực
của xã hội Xô Viết đó là những công dân, những nhà sử học, nhà địa chất, nhà giáo
dục, những kỹ sư, bác học, thầy thuốc, nghệ sỹ, những người được thưởng huân
chương, có người trở thành anh hùng Xô Viết.
Bài ca sư phạm thể hiện những quan điểm cơ bản nhất về giáo dục chủ nghĩa
Mác-LêNin. Quan điểm quan trọng nhất của Macarencô là ý niệm về con người, thái
độ MacXit đối với con người, có thể coi quan điểm này là quan điểm xuất phát cho tư
tưởng giáo dục chủ đạo của ông. Đó là lòng nhân đạo đối với con người. Theo ông
khái niệm "trẻ hư" là điều vô nghĩa. Ông không công nhận có trẻ xấu từ lúc lọt lòng
mẹ, có trẻ phạm tội mà không thể cứu chữa được. Với tài năng sư phạm kiệt xuất và
tấm lòng cao cả cuối cùng Macarencô đã thành công với kết quả giáo dục đáng khâm
phục. Ồng đã giáo dục hàng ngàn trẻ em phạm pháp trở thành người tốt, có ích cho xã
hội. Từ kết quả đó Macarencô có nhận xét rằng: "Tôi thấy rằng không có trẻ phạm
pháp đặc biệt nào hết, chỉ có những người rơi vào khó khăn. Tôi hiểu rất rõ ràng, nếu
thời thơ ấu tôi cũng rơi vào hoàn cảnh giống vậy thì tôi cũng trở thành như các em.
Và bất cứ một đứa trẻ nào bị ném ra hè phố không có người giúp đỡ, không có xã hội,
không có tập thể, không có bạn bè, không có kinh nghiệm, không có tương lai, thần
kinh bị cạn kiệt và mệt mỏi và đói khát, mọi đứa trẻ bình thường thì cũng xử sự như
các em đó" [8, 260]. Nhờ có tầm nhìn biện chứng về con người, luôn luôn mong
muốn nâng đỡ dìu dắt, thông cảm và thương yêu con người nên Macarencô đã đạt
được những thành công rực rỡ trong việc cải tạo hàng ngàn trẻ em hư, phạm pháp cơ
nhỡ không gia đình, không nơi nương tựa.
Vì vậy theo Macarencô nhà sư phạm phải đến với từng người với một giả thiết
lạc quan, dù có phải lầm lẫn chăng nữa. Cũng như Gorki, ông từ chối không dựa trên
những khía cạnh tiêu cực và ốm yếu của con người. Ông luôn tìm ra ở mỗi trẻ, mặt
dù cảnh ngộ bi đát tuyệt vọng đến chừng nào, một niềm hi vọng, một khía cạnh tích
cực để phát huy lên, làm nảy nở ra mọi tiến bộ. Yêu cầu đối với đứa trẻ biểu thị sự
tôn trọng đối với sức lực và khả năng của trẻ ngược lại tôn trọng phải đòi hỏi, phải
yêu cầu đối với trẻ. Điều quan trọng là phải kết hợp một cách đúng đắn sự đòi hỏi cao
ở một con người với sự tôn trọng đối với con người.
Quan điểm thứ hai là giáo dục trong lao động. Đây là nguyên lý cơ bản nhất của
nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, một nền giáo dục dựa trên học thuyết Mac-Lenin. Qua
giáo dục lao động nhiều trẻ "tội lỗi", "phạm pháp" "đã được cải tạo về tư tưởng và về
sau đã trở thành những nhà chuyên môn giỏi, công nhân lành nghề, bác sĩ, kỹ sư, giáo
viên dạy nghề..."
Quan điểm thứ ba là giáo dục trong tập thể: đây là tư tưởng giáo dục trung tâm
của ông xuất phát từ lời dạy của Lênin về những quan hệ mới giữa cá nhân và tập thể
trong xã hội chủ nghĩa. Macarencô đã nghiên cứu những mối quan hệ từ đó rút ra
những ứng dụng thực tế tại trại Gorki. Macarencô đã xây dựng một luận lý đồ sộ về
sự phát triển của một tập thể, phong cách của tập thể. Trong bức thư gởi cho Gorki,
Macarencô viết: "tôi đã được kết quả vì đã xuất phát từ nguyên tắc sau đây: tập thể
phải hoạt động và chính trong hoạt động đó các thành viên tự biến đổi...". Sự thành
công của nguyên tắc giáo dục trong tập thể được Macarencô khẳng định "dần dần quá
trình giáo dục tự biến thành quá trình giáo dục của tập thể, thật là đặc sắc và không
ngờ" [8,10].
Tư tưởng chủ yếu của Macarencô trong tác phẩm "Bài ca sư phạm" là giáo dục
những đứa trẻ lưu manh, phạm pháp, sản phẩm của xã hội bóc lột thành những công
dân yêu nước, giác ngộ, trung thành với chế độ xã hội chủ nghĩa. Để đạt được những
mục đích đó ông cho rằng những nhà giáo dục phải tin tưởng sâu sắc vào bản chất tốt
đẹp của con người, phải nắm vững quan điểm giáo dục trong lao động, giáo dục trong
tập thể và bằng tập thể. Bên cạnh những quan điểm trên, nội dung của tác phẩm "Bài
ca sư phạm" còn chứa đựng những bài học quý giá như: nghệ thuật giáo dục, phương
pháp giáo dục. Một trong những đóng góp quan trọng nhất vào kho tàng lý luận cũng
như thực tiễn giáo dục là ông đã sáng tạo ra những phương pháp giáo dục, thể hiện
được nghệ thuật, tài năng, khéo léo, điêu luyện của một nhà giáo dục. Đó là các
phương pháp giáo dục như: phương pháp bùng nổ sư phạm, phương pháp giáo dục
bằng tác động song song, phương pháp giáo dục bằng viễn cảnh, bằng khen thưởng,
trách phạt...
-Tác giả A.I CôChêTôp đã bàn đến quá trình giáo dục lại trong tác phẩm
''Những vấn đề lý luận đức dục". Côchêtốp đã nhấn mạnh vị trí quan trọng của vấn đề
giáo dục lại trong việc giáo dục cộng sản. Ông cho rằng công tác giáo dục lại bao
gồm việc giáo dục những trẻ em vô kỷ luật, cũng như việc tăng cường, chăm sóc
những trẻ em lêu lổng và việc cải tạo những trẻ em phạm pháp.
Trong tác phẩm, tác giả đã đi sâu phân tích những nguyên nhân của trẻ có biểu
hiện tính chất khó dạy. Ông đã chỉ ra ba dạng nguyên nhân dẫn đến trẻ "khó dạy":
nguyên nhân xã hội, nguyên nhân tâm lý, nguyên nhân giáo dục. Trong đó ông nhấn
mạnh đến nguyên nhân giáo dục, ông chỉ ra một số thiếu sót, sai phạm trong giáo dục
gia đình cũng như là giáo dục ở nhà trường. "Thông thường nguyên nhân của sự
khó dạy là những sai lầm sư phạm trong việc giáo dục, là sự lạc hậu, sự vụng về về
mặt giáo dục "1 1,80]. Trên cơ sở đó, ông cũng chỉ ra một số đặc điểm tâm lý của trẻ
"khó dạy". Trong đó thì đặc điểm nổi bật nhất ở trẻ khó dạy là sự phát triển, thể hiện
các nhu cầu (tinh thần và vật chất) dưới những phương thức lệch lạc khác nhau.
Từ việc tìm hiểu nguyên nhân cũng như cách nhìn nhận về các đặc điểm tâm lý
của đối tượng giáo dục lại, tác giả cũng đã bàn đến hệ thống phương pháp giáo dục
như phương pháp khuyến khích và trách phạt, phương pháp "bùng nổ", phương pháp
chuyển hướng trong giáo dục lại, và cuối cùng là phương pháp tự hoàn thiện. Tác giả
cũng đi sâu phân tích khái niệm, nội dung cũng như là đề ra những yêu cầu cần thiết
trong quá trình sử dụng các phương pháp giáo dục đó.
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam
-Một công trình nghiên cứu đồ sộ của tập thể tác giả Đặng Vũ Hoạt, Phạm Lăng,
Bùi Thiện Cơ, Phạm Hạnh được thể hiện thông qua tác phẩm "Cơ sở lí luận và thực
tiễn của quá trình giáo dục lại học sinh hư, học sinh phạm pháp". Trong tác phẩm
các tác giả đã bàn đến khái niệm học sinh hư, học sinh phạm pháp. Trong đó các tác
giả cho rằng học sinh phạm pháp là những học sinh có một dấu hiệu rất cơ bản là có
hành vi vi phạm một hoặc nhiều qui phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp lý. Các tác
giả cũng xét đến mối quan hệ giữa học sinh hư, học sinh phạm pháp. Học sinh hư nếu
cứ đi sâu vào con đường vi phạm các chuẩn mực xã hội thì có thể đi đến con đường
phạm pháp, như vậy thì học sinh phạm pháp thường vốn là học sinh hư, .song cũng
có trường hợp học sinh phạm pháp vốn không phải là học sinh hư như trong trường
hợp phạm pháp ngẫu nhiên, không cố ý. Học sinh hư, học sinh phạm pháp được gọi
chung là học sinh chậm tiến.
Các tác giả cũng bàn đến những đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi thiếu niên nói
chung và các đặc điểm tâm lý của học sinh hư, phạm pháp nói riêng. So với quá trình
giáo dục bình thường thì quá trình giáo dục đối với học sinh hư, học sinh phạm pháp
mang tính đặc thù, quá trình đó nhằm mục đích phục hồi, xây dựng lại nhân cách nói
chung và các hành vi nói riêng cho phù hợp với chuẩn mực xã hội đã được quy định.
Theo các tác giả thì quá trình giáo dục lại là một quá trình khó khăn, phức tạp,
lâu dài, mang tính phức hợp đặc biệt, có tính cá biệt cao, đồng thời cũng đòi hỏi rất
cao ở nhà giáo dục là sự lạc quan, tin tưởng, khéo léo và tấm lòng yêu thương trẻ sâu
sắc.
Các tác giả cũng đi sâu phân tích các nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh
hư, học sinh phạm pháp, các tác giả nhận thấy rằng môi trường kinh tế xã hội ở nước
ta bên cạnh các yếu tố tích cực còn chứa nhiều yếu tố tiêu cực như sự phân hóa giàu
nghèo, quan hệ giữa người với người là quan hệ "tiền trao, cháo múc", sự ảnh hưởng
của các văn hóa phẩm đồi trụy... Bên cạnh đó thì sự thiếu tình thương, tinh thần trách
nhiệm, sự thiếu hiểu biết về việc giáo dục con cái, những quan hệ gia đình bị rối loạn
cũng như sự thiếu quan tâm của nhà trường đối với học sinh chậm tiến, học sinh cá
biệt là những nguyên nhân quan trọng đưa trẻ đến tình trạng hư, phạm pháp. Đặc biệt
các tác giả cũng bàn đến các phương pháp giáo dục đặc thù đối với học sinh hư, học
sinh phạm pháp trong đó có các phương pháp như phương pháp xây dựng lại niềm
tin, phương pháp bùng nổ, phương pháp khuyến khích, trách phạt.
Về công tác thực tiễn trên cơ sở nghiên cứu về thực trạng học sinh hư, học sinh
phạm pháp ở một số trường phổ thông và công tác giáo dục đối với đối tượng này thì
các tác giả cũng đã xây dựng mô hình tổ chức giáo dục học sinh hư, học sinh phạm
pháp trên địa bàn dân cư. Mô hình này theo các tác giả là con đường giáo dục - liên
kết các lực lượng giáo dục như nhà trường, gia đình, xã hội. Các tác giả cũng đã nhấn
mạnh học sinh hư, học sinh phạm pháp là một hiện tượng xã hội. Vì vậy việc ngăn
chặn, giáo dục đối tượng này là nhiệm vụ của toàn xã hội, cho nên mỗi đoàn thể, cá
nhân cần nhận thức đầy đủ ý nghĩa và trách nhiệm của mình trong công tác giáo dục
các em. Một xã hội văn minh, hiện đại là một xã hội mà mọi quan tâm chăm sóc bảo
vệ trẻ em được đề cao, tất cả đều hướng đến việc làm cho các em không bị thiệt thòi,
bất hạnh.
-Tác giả Võ Quang Phúc trong tác phẩm "Muốn trẻ em hư thành công dân tốt"
đã dùng khái niệm trẻ hư để chỉ trẻ chưa thành niên (vị thành niên) thuộc hai nhóm:
trẻ chưa ngoan và trẻ phạm pháp. Tác giả đã bàn đến khái niệm trẻ chưa ngoan và trẻ
phạm pháp. Qua đó tác giả cũng xác định được mối liên hệ giữa hai khái niệm này.
Tác giả cho rằng mối quan hệ giữa hai khái niệm này vừa có tích chất rõ ràng vừa có
tính chất tương đối. Xét về mặt ảnh hưởng qua lại giữa hai nhóm, những sai lầm
trong hành động của trẻ chưa ngoan là cái nền mà trên đó sẽ dựng nên những tội lỗi
của trẻ phạm pháp. Trong điều kiện những trái ngược xã hội bộc lộ ra gay gắt, trật tự
xã hội không ổn định, các tệ nạn xã hội ở người lớn ngày càng trầm trọng hơn, thì
những lỗi lầm của trẻ chưa ngoan sẽ chuyển thành những tội lỗi của trẻ phạm pháp.
Trong trường hợp này khoảng cách giữa "cái chưa ngoan" và "cái phạm pháp" là
rất nhỏ. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là trẻ chưa ngoan sẽ trở thành trẻ phạm
pháp, bởi vì đó là một bước sa sút nghiêm trọng trong nhân cách trẻ. Trong tác phẩm
tác giả đã thể hiện sự thấu hiểu một cách sâu sắc về các quan điểm giáo dục của
Macarencô, đồng thời tác giả cũng đúc kết những kinh nghiệm thực tiễn trong công
tác giáo dục trẻ em chưa ngoan, trẻ em phạm pháp.
-Trong bài viết "Sự giao thoa một số đặc điểm tâm lý trẻ em hư, trẻ em phạm
pháp với các yếu tô không lành mạnh trong xã hội" của tác giả Phạm Lăng - Viện
khoa học giáo dục. Tác giả đã chỉ ra một số đặc điểm nổi bật ở trẻ em hư, trẻ em
phạm pháp như chỉ số trí tuệ giảm sút, học vấn thấp, hầu hết đang học dở dang, sự tập
trung chú ý khó khăn, thiếu óc phê phán, năng lực trừu tượng hóa hoặc tư duy logic
hạn chế, tính tình thất thường, cư xử thô bạo với người khác, thích các trò chơi giải trí
thiếu khả năng kiềm chế... Từ đó tác giả cũng nêu lên một số nguyên nhân dẫn đến
tình trạng trẻ em hư, trẻ em phạm pháp. Tác giả cho rằng nguyên nhân chủ yếu là do
các em học kém, lưu ban nhiều lần rồi chán học và thường do các em bị cuốn hút vào
các trò tiêu khiển có hại. Tác giả cũng nhấn mạnh đến nguyên nhân xã hội đó là
những yếu tố không lành mạnh từ môi trường bên ngoài như: sự xâm nhập ngày càng
mạnh mẽ của các văn hóa phẩm đồi trụy, của các hàng hóa có hại của các nhà doanh
nghiệp vì mục đích làm giàu. Tác giả cũng chỉ ra rằng một nguyên nhân quan trọng
nữa là do trẻ bị xúi giục, chỉ huy của người lớn và sự rủ rê của bạn bè.
"Thực trạng phạm tội của học sinh - sinh viên Việt Nam trong mấy năm gần
đây và vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trường " của tác giả Vương Thanh
Hương (Viện nghiên cứu phát triển giáo dục) đã nêu lên thực trạng tình hình phạm tội
của học sinh - sinh viên trong đó nổi lên hàng đầu là các tội như trộm cắp tài sản công
dân, cố ý gây thương tích, trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, tội gây rối trật tự công
cộng... Qua đó tác giả cũng nêu lên những nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội
như thanh niên không có việc làm, đời sống của học sinh - sinh viên còn nhiều khó
khăn thiếu thốn, thậm chí vì không đủ điều kiện có những em phải bỏ học giữa
chừng. Trong khi đó thì công tác quản lý học sinh - sinh viên còn nhiều thiếu sót,
nặng về hình thức, chủ yếu quản lý học sinh trong những giờ lên lớp còn ngoài thời
gian đó thì nhà trường không quản lý nổi. Qua đó tác giả đã nêu lên tầm quan trọng
trong công tác giáo dục nhận thức nói chung và công tác giáo dục pháp luật nói riêng
cho học sinh - sinh viên, đây cũng là biện pháp để ngăn chặn tình trạng học sinh -
sinh viên phạm pháp.
Trên thực tế hiện nay chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu thực trạng sử
dụng các phương pháp giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp tại các trường
Giáo dưỡng. Đây là đối tượng vi phạm pháp luật nhiều lần từ mức chưa nghiêm trọng
đến mức rất nghiêm trọng do đó việc giáo dục các em chắc chắn phải được tổ chức và
có những phương pháp, hình thức giáo dục đặc thù. Vì vậy mà chúng tôi đã tiến hành
thực hiện đề tài "Phương pháp giáo dục đối với thanh thiếu niên phạm pháp tại
trường Giáo dưỡng số 4 Tỉnh Đồng Nai".
1.2. Cơ sở lí luận
1.2.1 Một số đặc điểm cơ bản ở lứa tuổi thanh thiếu niên
1.2.1.1 Đặc điểm phát triển sinh lý ở lứa tuổi thanh thiếu niên .
Lứa tuổi thiếu niên (từ 10-11 đến 14-15 tuổi):
-Có sự nhảy vọt về chiều cao, có năm các em nữ có thể cao lên 5 -6 cm, các em
nam cao lên từ 8 - 10 cm. Tuy nhiên sự phát triển của cơ bắp không theo kịp sự phát
triển của chiều cao nên dẫn đến tình trạng chiều cao và chiều ngang của cơ thể bị mất
cân đối.
-Thiếu niên thường có những cơn xúc động mạnh, những phản ứng nóng nảy vô
cớ, những hành vi bất thường. Do quá trình hưng phấn mạnh hơn ức chế nên thiếu
niên ít làm chủ được bản thân, khó kiềm chế những cơn xức động mạnh.
-Đặc điểm nổi bật trong sự phát triển sinh lý ở tuổi thiếu niên là hiện tượng dậy
thì. Hiện tượng này đánh dấu bước phát triển và khá hoàn thiện về cấu tạo và chức
năng của các cơ quan nội tiết. Dấu hiệu của hiện tượng dậy thì ở nữ là sự xuất hiện
kinh nguyệt, ở nam là sự xuất hiện của hiện tượng xuất tinh.
Nhìn chung thì sự cải tổ của các cơ quan nội tiết và hệ thống thần kinh là cơ sở
quan trọng để gây ra sự mất cân bằng chung, tính dễ kích thích, dễ nổi nóng, gây gổ,
tính hiếu động, hay tính uể oải và thờ ơ có chu kì ở thiếu niên. Cũng trong thời gian
này, do đặc điểm thiếu niên rất dễ bị lôi kéo, sa vào các nhóm tự phát, các "băng
đảng" có những hành động không lành mạnh, thậm chí vi phạm pháp luật vì những
hành vi thiếu suy nghĩ.
Lứa tuổi đầu thanh niên (từ 15-16 đến 17-18 tuổi):
Tuổi đầu thanh niên là thời kỳ mà sự phát triển thể chất của các em đang đi vào
giai đoạn hoàn chỉnh như sự gia tăng chiều cao giảm dần, nữ từ khoảng 16-17 tuổi,
nam khoảng 17-18 tuổi (±13 tháng).
-Trọng lượng cơ thể phát triển nhanh, các tố chất thể lực như sức mạnh, sức bền,
sự dẻo dai được tăng cường, cơ bắp phát triển mạnh.
-Thời kỳ trưởng thành về giới tính, thời kỳ chấm dứt giai đoạn khủng hoảng của
thời kỳ phát dục để chuyển sang thời kỳ ổn định hơn, cân bằng hơn.
Như vậy, xét về mặt sinh lý thì ở lứa tuổi đầu thanh niên đã có sự
phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện hơn so với giai đoạn trước. Sự phát triển của
cơ thể mang tính ổn định là cơ sở quan trọng tạo tiền đề cho sự phát triển tâm lý -
nhân cách ở tuổi thanh niên.
1.2.1.2 Đặc điểm phát triển tâm lý - nhân cách ở lứa tuổi thanh thiếu niên
Đăc điểm chung về sự phát triển tâm lý
- Những thay đổi cơ bản về mặt cơ thể làm cho thiếu niên nghĩ rằng "Mình
không còn là trẻ con nữa". Thiếu niên ý thức và đánh giá được những biến chuyển
trong sự phát triển thể chất, trong sự phát dục của mình.
- Ở thiếu niên xuất hiện nguyện vọng muốn được làm người lớn và được đối
xử như người lớn.
- Thiếu niên thường có tâm lý "phóng đại" các năng lực của mình. Thiếu niên
thường đánh giá bản thân mình cao hơn hiện thực. Tuy nhiên, nhìn chung người lớn
thường vẫn xem thiếu niên như những đứa trẻ nhỏ, trong khi đó thì bản thân thiếu
niên đã tự coi mình là người lớn, muốn được đối xử như người lớn. Để thể hiện sự
bất bình của bản thân với người lớn, thiếu niên thường tỏ ra ngang bướng, tỏ ra "anh
hùng" hay bất cần trong quan hệ với người lớn, trong những công việc hằng ngày hay
như những thất bại mà thiếu niên đã trải qua.
Những khó khăn mà thiếu niên mắc phải có tính chất tạm thời. Tuy nhiên, nếu
người lớn vẫn tiếp tục giữ thái độ và cách cư xử với thiếu niên như ở giai đoạn trước
thì mối quan hệ giữa người lớn và thiếu niên sẽ chuyển sang kiểu quan hệ đối lập dẫn
đến những va chạm, xung khắc. Vì thiếu niên tin rằng người lớn không thể hiểu được
chúng, từ đó dễ đưa thiếu niên đến chỗ xa lánh người lớn và phủ định người lớn.
-Sang lứa tuổi đầu thanh niên thì cùng với sự thay đổi về vị trí xã hội thì các đặc
điểm tâm lý trên đã dần đi vào ổn định.
Đặc điểm giao tiếp ở lứa tuổi thanh thiếu niên:
Lứa tuổi thiếu niên:
-Hoạt động giao tiếp là hoạt động chủ đạo ở tuổi thiếu niên. Thiếu niên muốn
giao tiếp, muốn quan hệ với tất cả mọi người. Tuy nhiên, giao tiếp với bạn bè cùng
tuổi luôn được thiếu niên hướng tới. Giao tiếp với bạn bè ở thiếu niên có ý nghĩa và
có sự "hấp dẫn lạ lùng". Đôi khi, nó đẩy lùi hoạt động học tập xuống hàng thứ yếu,
hạ thấp sự giao tiếp với những người thân trong gia đình. Mặt khác, khi quan hệ của
thiếu niên và người lớn càng không suôn sẻ thì sự giao tiếp với bạn bè càng lớn và
ảnh hưởng đến thiếu niên càng mạnh mẽ.
-Bên cạnh khát vọng được giao tiếp, hoạt động chung với bạn cùng tuổi, thiếu
niên còn có khát vọng được bạn bè tôn trọng và công nhận. Sự bất hòa, sự thiếu bạn
thân, hoặc tình bạn bị phá vỡ đều sinh ra những cảm xúc nặng nề. Thiếu niên khó
chịu đối với sự phê phán của tập thể, của bạn bè, sự đơn độc là trải nghiệm nặng nề
và hầu như không chịu đựng nổi.
-Điều quan trọng nhất đối với thiếu niên trong mối quan hệ bạn bè là những
phẩm chất của người bạn, một người bạn tốt là người bạn trung thành, thủy chung,
không bao giờ "phản lại" bạn bè của mình. Trong "Bộ luật tình bạn", thiếu niên lên
án sự "thay lòng đổi dạ", sự ích kỷ, tham lam, khát vọng chỉ huy, phô trương ưu điểm
của mình...
Hoạt động giao tiếp với bạn bè chiếm một vị trí và ý nghĩa quan trọng. Do đó,
nếu thiếu niên không được định hướng đúng đắn và nếu không có những nhóm bạn
tích cực thì sự ảnh hưởng tiêu cực là rất lớn.
Lứa tuổi đầu thanh niên:
- Đặc điểm nổi bật ở lứa tuổi này là sự giao tiếp với người lớn, bạn bè ngày càng
bình đẳng và độc lập, thanh niên thường cho rằng người lớn không đánh giá đúng
đắn, nghiêm túc những gì mình nghĩ, những việc họ làm cũng như sự trưởng thành
của họ. Bởi vậy, thanh niên thường có xu hướng lạnh nhạt xa lánh người lớn mà tìm
kiếm sự đồng cảm, đồng tình ở các bạn cùng lứa tuổi.
Như vậy, có thể thấy rằng hoạt động giao tiếp ở giai đoạn đầu thanh niên đã có
sự phát triển đáng kể hơn so với giai đoạn thiếu niên.
Đăc điểm về sự tự ý thức, tự đánh giá, ở lứa tuổi thanh thiếu niên:
Ở tuổi thiếu niên:
-Trên cơ sở của sự phát triển về mặt cơ thể và vị trí xã hội mới, thiếu niên tự ý
thức bản thân mình có quyền được tôn trọng, được độc lập và được tin cậy như người
lớn.
-Thiếu niên đã bắt đầu biết phân tích những ưu khuyết điểm của bản thân. Khi
đánh giá về bản thân mình thì sự đánh giá của thiếu niên có xu hướng cao hơn so với
hiện thực.
-Bên cạnh việc đánh giá đối với bạn đồng lứa, thiếu niên thường quan sát đánh
giá những người xung quanh trong đó có bố mẹ, thầy cô. Biểu hiện của sự đánh giá
thường kín đáo, thường được thể hiện thông qua sự trao đổi ở nhóm bạn thân.
-Sự đánh giá về người khác, đặc biệt là đánh giá về người lớn như bố mẹ, thầy
cô nói chung khá chính xác và hơi hà khắc. Thiếu niên thường đánh giá không chỉ
trên lời nói mà chủ yếu trong cách ứng xử.
Có thể nói tuổi thiếu niên là thời kỳ mà "cái tôi" được hình thành và phát triển
mạnh mẽ, quá trình này tạo ra những phẩm chất mới, đánh dấu sự chuyển tiếp sang
giai đoạn khác về chất trong sự phát triển nhân cách của thiếu niên.
Ở lứa tuổi đầu thanh niên:
-Khả năng tự ý thức đến tuổi đầu thanh niên đã phát triển mạnh. Thanh niên ý
thức được những đặc điểm và phẩm chất của mình trong xã hội. Ở mức cao hơn các
em còn có khả năng tự đánh giá về mình theo những chuẩn mực của xã hội về mặt thể
chất, tâm lý, đạo đức.
-Sự tự đánh giá về bản thân ở lứa tuổi đầu thanh niên được bộc lộ mạnh mẽ hơn
so với tuổi thiếu niên. Thường thì thanh niên không hài lòng với đặc điểm, phẩm chất
của bản thân. Đặc điểm này nếu được định hướng đúng đắn thì sẽ giúp các em có
những bước phát triển tích cực về mặt nhân cách. Ngược lại, nếu nhận thức không
đúng đắn, đầy đủ thì rất dễ dẫn thanh niên đi lệch hướng, ảnh hưởng tiêu cực đến sự
phát triển nhân cách.
-Việc đánh giá bản thân ở thanh niên đôi khi gặp ít khó khăn và ngộ nhận như sự
bướng bỉnh, ngang tàng đôi khi được hiểu là gan dạ, dũng cảm.
-Việc đánh giá những người xung quanh đặc biệt là sự đánh giá về bạn bè, về
cha mẹ, về thầy cô đã tương đối hoàn thiện, chính xác và tỉ mỉ. -Sự tự ý thức, tự đánh
giá ở thanh niên đã phát triển đầy đủ hơn so với thiếu niên, song sự tự ý thức, tự đánh
giá này vẫn chưa thực sự ổn định.
-Trong sự tự đánh giá của thanh niên khi mà kinh nghiệm sống còn hạn chế, nếu
thanh niên không đánh giá đúng bản thân mình và người khác thì thanh niên rất dễ bị
lôi kéo và những nhóm tự phát không lành mạnh, và thanh niên rất dễ bị hư hỏng do
tâm lý của họ rất ưa thích cái mới lạ. Trên thực tế, không ít thanh niên bị lôi kéo khá
sâu vào những vũng bùn tội lỗi, khi tỉnh lại thì đã quá muộn. Điều này có thể gây ra
những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách.
-Đặc biệt trong giai đoạn này ở thanh niên còn xuất hiện một đặc tính quan trọng
của nhân cách đó là tính tự trọng. Thanh niên thường không chịu được sự xúc phạm
của người khác đối với mình. Một câu nói hay một hành động xúc phạm của người
khác có thể là nguyên nhân gây ra xung đột, thậm chí ẩu đả ở lứa tuổi này.
Như vậy, so với giai đoạn lứa tuổi thiêu niên thì lứa tuổi đầu thanh niên đã có sự
phát triển hoàn thiện hơn, ổn định hơn về mặt sinh lý cũng như tâm lý.
Tuổi thanh thiếu niên là lứa tuổi có nhiều biến đổi quan trọng và sâu sắc về
nhiều mặt. Thanh Thiếu niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con sang người lớn. Do
đó, sự cư xử thiếu tế nhị, thiếu hiếu biết về đặc điểm lứa tuổi là những nguyên nhân
quan trọng đưa trẻ đến sự phát triển nhân cách lệch lạc, gây ra những hậu quả nghiêm
trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách của thanh thiếu niên.
1.2.2 Khái niêm về trẻ phạm pháp.
-Theo tác giả Lưu Song Hà (Viện tâm lý học) cho rằng: ''Trẻ phạm pháp là trẻ
có các hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội đến mức độ phạm tội, vi phạm nghiêm
trọng luật pháp có thể phải truy tố trước các cơ quan pháp luật nhà nước ".
-Theo giáo sư Võ Quang Phúc: "Trẻ phạm pháp là trẻ có những hành động vi
phạm pháp luật, có những hành động xấu lặp đi lặp lại nhiều lần và mức độ sai
lầm trong nhân cách là quan trọng, khiến cho trẻ trở thành "nguồn gây bệnh”.
-Theo tác giả Bùi Thiện Cơ (Viện KHGD): "Trẻ em phạm pháp được hiểu là
những trẻ em có hành vi lệch chuẩn nhà trường và xã hội qui định (đặc biệt là
chuẩn mực đạo đức, pháp luật). Ngoài ra còn có các hành vi vi phạm pháp luật".
-Theo tác giả Nguyễn Sinh Huy: "Trẻ phạm pháp là trẻ có những hành vi
chống đối, phản xã hội, nguy hiểm cho xã hội, những hành vi đó vi phạm hoặc trái
với qui chế, pháp luật của xã hội".
-Theo tác giả Phạm Lăng "Trẻ phạm pháp là những thanh thiếu niên dưới 18
tuổi đã vi phạm những qui định của nhà nước đang có hiệu lực pháp lý " (Vấn đề
gia đình và trẻ em phạm pháp ).
-Theo tác giả Trần Kiểm: "Trẻ phạm pháp là trẻ có những hành vi
vi phạm cấc chuẩn mực phấp luật được xã hội thừa nhận và có pháp lý,
những hành vi vi phạm này làm tổn hại đến lợi ích xã hội, nhà nước, cá nhân ".
Từ những định nghĩa trên, chúng tôi có thể định nghĩa trẻ phạm pháp như sau:
"Trẻ phạm pháp là những trẻ có hành vi vi phạm các chuẩn mực pháp luật của xã
hội đang có hiệu lực pháp lý và cần phải được giáo dục lại".
1.2.3 Một số đặc điểm tâm lý của trẻ phạm pháp
Những qui luật chung về sự hình thành và biến đổi nhân cách bị khúc xạ một
cách rất độc đáo trong sự phát triển của trẻ phạm pháp.
-Những hành vi phạm pháp của trẻ thường do những nhu cầu như: nhu cầu tự
khẳng định, nhu cầu về ấn tượng tự quyết định.
-Nhưng sự xuất hiện về hành vi phạm pháp bao giờ cũng gắn liền với các
phương thức không bình thường để thỏa mãn các nhu cầu (nhu cầu vật chất và nhu
cầu tinh thần) hoặc ở trẻ có những sai lệch lớn trong sự phát triển các nhu cầu. Chẳng
hạn khi trẻ có nhu cầu giao tiếp với người khác nhưng sự bộc lộ nhu cầu giao tiếp này
lại được thể hiện bằng các xung đột, những va chạm thô lỗ, dữ dằn. Khi sự bộc lộ
giao tiếp bằng những phương thức xung đột, va chạm thành thói quen, đôi khi trẻ tạo
ra xung đột một cách vô ý thức. Từ đó nhu cầu giao tiếp biến thành nhu cầu cãi lộn,
va chạm.
-Nhu cầu tự khẳng định ở trẻ phạm pháp thường biểu hiện dưới dạng muốn tỏ ra
độc lập, can đảm. Nhưng sự thể hiện nhu cầu này thường bằng những phương thức
lệch lạc như bắt chước người lớn hút thuốc lá, uống rượu bia, chơi cờ bạc...
-Nhu cầu về ấn tượng ở trẻ phát triển kém hoặc phát triển phiến diện. Ở trẻ
thường chỉ phản ứng với những thông tin nào rõ ràng, gây được hiệu quả. Từ đó trẻ
thường ham mê chơi mạo hiểm, chạy theo ấn tượng mạnh của trò chơi cờ bạc, hút
chích...
-Trẻ phạm pháp học tập kém không phải do năng lực trí tuệ của trẻ kém mà phần
lớn do trẻ không hoàn toàn tập trung vào công việc học tập của mình. Trẻ thường giữ
vững và bảo vệ cái "tôi" tiêu cực, đảm bảo thỏa mãn những nhu cầu không lành
mạnh.
-Sự thiếu xu hướng xã hội hay thiếu mục đích trong cuộc sống cũng là một đặc
điểm đặc trứng ở trẻ phạm pháp. Sự thiếu mục đích dẫn đến sự vô nguyên tắc, sự nhu
nhược, nhát gan trước những khó khăn của cuộc sống. Khi không có mục đích sống
tích cực, trẻ không thể nào chống lại được những ảnh hưởng tiêu cực, trẻ dễ dàng
chịu những tác động ảnh hưởng tiêu cực đầy rẫy trong xã hội.
-Trẻ thường có thái độ bất chấp mọi ảnh hưởng giáo dục từ phía người lớn, của
thầy cô. Trẻ cũng thường phản ứng lại sự chỉ dạy ấy. Đặc điểm này xuất hiện là do
kết quả giáo dục của gia đình, của người lớn mà trong đó có nhiều mối quan hệ bất
đồng, không đúng đắn giữa cha và mẹ, giữa cha mẹ với con cái. Sự bất ổn trong các
mối quan hệ với người lớn được tích tụ dần dần qua nhiều năm tháng dẫn đến sự mất
mát, đổ vỡ niềm tin. Hơn thế nữa có nhiều trẻ phải sống trong cảnh thiếu tình thương,
thái độ thờ ơ, dửng dưng hoặc sự đối xử bất công, vô lý của người lớn và ngay cả của
thầy cô giáo. Từ đó thái độ coi thường bất chấp ở trẻ ngày một nghiêm trọng. Sự chu
đáo và tin cậy trong các mối quan hệ qua lại với con người đã bị thay thế cho sự sợ
hãi và lòng căm ghét. Sự tan vỡ uy tín của người lớn, đặc biệt là của các bậc cha mẹ
đã làm công tác giáo dục trở nên phức tạp rất nhiều.
-Từ sự xung đột với người lớn, với cha mẹ hay với thầy cô giáo ở trẻ phạm pháp
còn có sự xung đột với tập thể. Đối với trẻ, những đứa trẻ ngoan khác là những đứa
trẻ thiếu bản lĩnh, đáng châm chọc và những hoạt động tập thể thường không có ý
nghĩa. Để chứng tỏ bản lĩnh trẻ thường đứng ngoài các hoạt động tập thể. Không
những thế trẻ còn cố gắng lôi kéo những đứa trẻ khác tạo thành một "băng nhóm" đối
đầu với lợi ích tập thể.
-Sự thiếu thốn về những tiêu chuẩn đạo đức vững chắc, sự xung đột với môi
thường giáo dục, sự nhượng bộ ảnh hưởng của "những cá nhân khác " - tất cả
những điều đó dễ đưa trẻ vào những ảnh hưởng nguy hại của những nhóm vi phạm
pháp luật bên ngoài
-Tính mâu thuẫn trong hành vi do những mâu thuẫn gay gắt trong sự phát triển
nhân cách tạo nên như :
♦ Trí tuệ phát triển nhưng tình cảm không phát triển và ngược lại. Chẳng hạn
mặc dù trẻ có nhiều hiểu biết về các chuẩn mực ứng xử với gia đình nhưng lại thờ ơ,
nhạt nhẽo, thậm chí coi thường hoặc có tình bạn nhưng không hiểu đầy đủ hoặc hiểu
sai về tình bạn nên trẻ thường có những hành vi bắt chước bạn hoặc lôi kéo bạn vào
những hành vi sai lệch.
♦ Lòng yêu lao động kém phát triển nhưng nhu cầu lại cực kỳ phát
triển, chẳng hạn như lười lao động nhưng nhu cầu tiêu xài so với khả năng lại rất
lớn, dẫn đến hành vi ăn cắp, ăn quỵt...
♦ Tầm hiểu biết rất hạn chế nhưng kinh nghiệm xấu trong cuộc sống hàng ngày
lại rất phong phú chẳng hạn như những hiểu biết về nội dung học tập ở trường thì rất
có hạn, kết quả kiểm tra thì yếu nhưng lại có những kinh nghiệm xấu phong phú như
có sự hiểu biết về các phim đen, cách chơi bài bịp bợm, cách nói xiên nói xỏ...
-Tích cực kỳ không ổn định của hứng thú, nguyện vọng chẳng hạn, nay có nhu
cầu và thích thú đối với rượi chè, mai lại có nhu cầu thích thú đối với cờ bạc, ngày
khác lại có nhu cầu và thích thú với các kiểu ăn mặc lập dị...
-Trẻ phạm pháp thường có trạng thái căng thẳng, trẻ luôn có những hành vi
ngông cuồng, thiếu khả năng tự kiềm chế, thiên về cảm tính và mang tính chất bản
năng hoặc có một số trẻ phạm pháp liên quan đến bệnh tật như loạn thần kinh chức
năng, bệnh tâm thần, trầm uất... do đó khi có điều kiện, cơ hội thuận lợi trẻ dễ rơi vào
tình trạng "hưng phấn" và có thể phạm tội. Đó cũng chính là tác nhân dẫn đèn hành vi
vi phạm pháp luật.
Do vậy khi đánh giá đối tượng cần tìm hiểu cụ thể đúng đắn đặc điểm tâm sinh
lý của từng em để từ đó có những biện pháp xử lý và giáo dục phù hợp, tránh đánh
đồng mọi đối tượng như nhau, qui hết tất cả các mức độ phạm tội.
Bất kỳ đứa trẻ phạm pháp nào cũng có những đặc điểm tâm lý lứa tuổi chung,
những đặc điểm này chỉ bị môi trường bên ngoài và môi trường giáo dục làm cho sai
lệch mà thôi. Thậm chí một đứa trẻ phạm tội nghiêm trọng nhất cũng luôn luôn có
nhiều phẩm chất tích cực mà nhà giáo dục có thể dựa vào, bao giờ ở trẻ cũng chứa
nhiều đặc điểm lứa tuổi mà có thể sử dụng để giáo dục trẻ, bao giờ cũng có những
sức mạnh, nhiều điều kiện mà nhờ đó chúng ta có thể ngăn ngừa hoặc khắc phục sự
khó dạy. Dựa theo quan điểm của Macarencô: "không có những đứa trẻ không thể
sửa chữa được mà chỉ có sự giáo dục tổ chức không đúng đắn, những thầy giáo
thờ ơ, nhiều bậc cha mẹ vô trách nhiệm. Điều chủ yếu trong việc giáo dục trẻ
phạm pháp là phải làm cho các bậc cha mẹ, các nhà giáo dục và chính bản thân
đứa trẻ có tinh thần trách nhiệm về công việc, về hành vi của mình ".
1.2.4 Nguyên nhân dẫn đến tình trang trẻ phạm pháp
Theo quan điểm lí luận giáo dục thì trẻ phạm pháp là đối tượng của việc giáo
dục lại. Việc tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến trẻ phạm pháp là cơ sở quan trọng để
ngăn ngừa cũng như để có nhiều biện pháp tác động phù hợp với đối tượng này.
Những công trình nghiên cứu về vấn đề trẻ em phạm pháp đã đưa ra nhiều
nguyên nhân dưới nhiều góc độ khác nhau. Từ việc tìm hiểu phân tích, tổng hợp các
nguyên nhân chúng tôi đã khái quát và rút ra một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình
trạng thanh thiếu niên phạm pháp.
Nguyên nhắn từ phía xã hội:
Việc chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã gây ra
nhiều biến đổi xã hội to lớn. Bên cạnh những yếu tố tích cực thì những yếu tố tiêu
cực đã và đang xâm nhập vào đời sống xã hội. Các tác động của tệ nạn xã hội như
buôn lậu, tham nhũng, mại dâm, sách báo đen, phim sex... cùng với một số hàng hóa
không có lợi như rượu, thuốc lá... đã làm tha hóa một bộ phận không nhỏ thanh thiếu
niên. Sự xuống cấp về đạo đức trong xã hội và ảnh hưởng của những mặt trái trong
cơ chế thị trường, coi trọng đồng tiền và các giá trị vật chất thì con người vì muốn
làm giàu mà bất chấp luân thường và đạo lý.
Những yếu tố tiêu cực từ môi trường xã hội có thể xâm nhập vào trẻ bằng con
đường này hay con đường khác. Bên cạnh sự tiếp nhận một cách bừa bãi, không chọn
lọc những ảnh hưởng tiêu cực thi việc sống trong một môi trường đầy rẫy những tiêu
cực đấy thì sự tiêm nhiễm những thói hư tật xấu cũng trở nên dễ dàng.
Khi đời sống kinh tế, xã hội có nhiều khó khăn phức tạp, sự phân hóa giàu
nghèo tăng lên thì vấn đề tạo việc làm cho thanh thiếu niên trở nên khò khăn và cấp
bách. Thiếu việc làm, trình độ văn hóa thấp là những nguyên nhân đưa thanh thiếu
niên đi vào con đường phạm pháp.
Bên cạnh đó thì sự quản lý kém hiệu quả của các cấp chính quyền đối với các
hàng hóa, văn hóa phẩm đồi trụy đang du nhập vào thị trường, cũng như những thiếu
sót, hạn chế trong công tác quản lý và giáo dục thanh thiếu niên là những nguyên
nhân quan trọng dẫn đến tình trạng thanh thiếu niên phạm pháp như ngày nay
Nguyên nhân từ phía nhà trường:
Thanh thiếu niên phạm tội ở nước ta còn do môi trường nhà trường chưa hoàn
thiện, chất lượng giáo dục nhất là giáo dục đạo đức bị xuống cấp. Giáo viên chưa
quan tâm sâu sắc và có những biện pháp thích hợp để giúp đỡ những học sinh yếu
kém. Những học sinh yếu kém do không đáp ứng được những yêu cầu của nhà trường
đã trở nên lưu ban, thất học.
Theo các kết quả nghiên cứu cho thấy thì nhìn chung trình độ văn hóa của thanh
thiếu niên phạm pháp thấp hơn nhiều so với thanh thiếu niên bình thường cùng lứa
tuổi.
Việc quản lý học sinh có nhiều thiếu sót, nhà trường thường khoán trắng việc
giáo dục học sinh cho giáo viên chủ nhiệm, số học sinh lưu ban, chậm tiến, chưa
ngoan về mặt đạo đức chưa có những phương pháp giáo dục đặc thù, trong khi đó thì
các môn giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật chưa được chú ý như các môn khác và
chưa có sự phát triền toàn diện hệ thống trong khắp cả nước.
Nguyên nhân từ phía gia đình
Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên và rất quan trọng ảnh hưởng đến nhân
cách thanh thiếu niên. Từ khi sinh ra đến khi trưởng thành phần phần lớn thanh thiếu
niên sống trong gia đình vì thế mà gia đình đóng vai trò trọng yếu trong việc giáo dục
thanh thiếu niên. Thanh thiếu niên phạm pháp chủ yếu chịu ảnh hưởng xấu của gia
đình, trong đó có thái độ bàng quan, thờ ơ, vô trách nhiệm của các bậc cha mẹ và
người lớn.
Ngược lại với thái độ thờ ơ vô trách nhiệm của gia đình thì sự nuông chiều con
quá mức, hay sự đối xử hà khắc như đánh đập, chửi mắng là những phương pháp giáo
dục không phù hợp làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân cách của trẻ em.
Thực tế cho thấy thanh thiếu niên phạm pháp thường xuất thân trong những gia
đình làm ăn phi pháp, cha mẹ nghiện ngập, cờ bạc, anh chị có tiền án, tiền sự, hay cha
mẹ ly hôn.
Một điều quan trọng khác là kinh tế gia đình khó khăn, con cái không được học
hành, nhà ở quá chật hẹp, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn... cũng là nhân tố góp phần
thúc đẩy thanh thiếu niên phạm tội.
Một khi tác động của giáo dục gia đình và nhà trường ngày một yếu đi thì những
ảnh hưởng tự phát, những ảnh hưởng tiêu cực ở những nhóm bạn bè xấu càng tăng
dần và nhanh chóng thâm nhập vào quá trình hình thành và phát triển nhân cách ở
thanh thiếu niên.
Nguyên nhân từ bản thân thanh thiếu niên
Nguyên nhân này biểu hiện ở những thanh thiếu niên có khuyết tật bẩm sinh.
Các em có mặc cảm về vị thế, vị trí xã hội, tính tình không ổn định, có những biểu
hiện muốn tách biệt với mọi người, với xã hội. Bên cạnh đó còn là thái độ chống đối
xã hội, chống đối những ảnh hưởng của giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội.
Phần lớn thanh thiếu niên phạm pháp là những em chậm tiến, thua kém bạn bè
cùng lớp, cùng trang lứa về mặt trí tuệ. Chính vì thua kém bạn bè trong lĩnh vực học
tập, để khẳng định bản thân các em thường tỏ ra mình có nhiều kinh nghiệm, tỏ ra
hiểu đời, tỏ ra mạnh mẽ hơn những bạn cùng tuổi. Do vậy mà ở các em luôn muốn
bộc lộ sức mạnh của sự trưởng thành, và nhu cầu bộc lộ sức mạnh này lại được thực
hiện bằng những phương thức khó được chấp nhận.
Việc tìm kiếm nguyên nhân của tình trạng phạm pháp ở thanh thiếu niên đối với
nhà giáo dục cũng cần thiết như việc chuẩn đoán bệnh đối với người thầy thuốc.
Trong khoa học giáo dục thì cơ sở của việc tìm hiếu nguyên nhân là nghiên cứu các
dạng hoạt động muôn hình muôn vẻ và việc quan sát, tìm hiểu thanh thiếu niên trong
những tình huống khác nhau.
1.2.5 Phương pháp giáo dục
1.2.5.1 Khái niệm chung về phương pháp giáo dục:
Giáo dục con người là một quá trình hết sức khó khăn và phức tạp. Trong đó thì
nghệ thuật giáo dục tập trung chủ yếu ở phương pháp giáo
Trong quá trình giáo dục thì phương pháp giáo dục có mối quan hệ biện chứng
với mục đích, nhiệm vụ và nội dung giáo dục. Vì vậy, để thực hiện quá trình giáo dục
thì nhà giáo dục cần phải xác định được mục đích, mục tiêu và nội dung giáo dục.
Tuy nhiên, để chuyển hóa những yêu cầu giáo dục đó đến với đối tượng giáo dục thì
quan trọng là cần phải có những phương pháp giáo dục phù hợp.
Phương pháp: Là cách thức, con đường thực hiện một hoạt động cụ thể để
nhằm đạt được mục đích của hoạt động đó.
Phương pháp giáo dục: Là cách thức hoạt động của nhà giáo dục và của người
được giáo dục, được thực hiện trong sự thống nhất với nhau, nhằm hoàn thành những
nhiệm vụ giáo dục phù hợp với mục đích giáo dục đã định. [3,95]
Phương pháp giáo dục mang tính chủ thể rất cao, cùng một nội dung hoạt động
nhưng mỗi chủ thể có những con đường, cách thức tác động khác nhau. Hiệu quả
giáo dục phụ thuộc vào khả năng vận dụng linh hoạt, mềm dẻo, khéo léo các phương
pháp giáo dục, chủ thể giáo dục. Vì vậy, có thể nói phương pháp giáo dục mang tính
"động" và quyết định đến chất lượng giáo dục. Phương pháp giáo dục thể hiện sự
thống nhất biện chứng giữa cách thức hoạt động của nhà giáo dục và người được giáo
dục. Trong đó thì nhà giáo dục đóng vai trò chủ đạo, người được giáo dục đóng vai
trò chủ động chuyển hóa tích cực những yêu cầu của xã hội dưới sự tác động của nhà
giáo dục.
Dưới sự tự giác vận động và phát triển theo định hướng giáo dục đã định thi đối
tượng giáo dục hình thành được ý thức, tình cảm, tích cực đối với các chuẩn mực xã
hội và trên cơ sở đó hình thành được hành vi và thói quen phù hợp.
Phương pháp giáo dục bao gồm các biện pháp giáo dục. Biện pháp giáo dục là
yếu tố hợp thành của phương pháp. Trong những tình huống sư phạm cụ thể thì
phương pháp giáo dục và biện pháp có thể chuyển hóa chức năng cho nhau.
1.2.5.2 Đặc điểm của phương pháp giáo dục
Quá trình giáo dục về bản chất là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động
và giao lưu cho con người. Vì vậy phương pháp giáo dục chính là cách thức tổ chức
cuộc sống, cách thức tổ chức hoạt động và giao lưu cho đối tượng giáo dục theo mục
đích giáo dục của xã hội.
Quá trình giáo dục diễn ra theo ba khâu, từ nhận thức, đến thái độ, tình cảm,
niềm tin và cuối cùng là hành vi thói quen trong cuộc sống. Vì thế mà phương pháp
sẽ tác động vào từng khâu và đồng thời tác động vào tất cả các khâu của quá trình
giáo dục.
Đối tượng của giáo dục là con người, bao gồm mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề,
mỗi con người có những nét riêng, độc đáo về mặt tâm lý, ý thức, về hoàn cảnh môi
trường sống, môi trường giáo dục, về trình độ nhận thức lẫn kinh nghiệm sống. Vì thế
mà đối với mỗi đối tượng, mỗi tình huống cụ thể cần phải có những phương pháp
giáo dục khác nhau. Không có một phương pháp nào chung cho tất cả mọi người. Vì
vậy mà nghệ thuật sử dụng phương pháp giáo dục không cho phép một sự rập khuôn
máy móc, có những phương pháp đối với đối tượng này có thể thành công song đối
với đối tượng khác có thể sẽ kém hiệu quả. Vì vậy, việc sử dụng phương pháp đòi hỏi
một sự tế nhị, khéo léo, sáng tạo.
Phương pháp giáo dục rất đa dạng và phức tạp. Vì vậy nhà giáo dục cần phải sử
dụng các phương pháp một cách linh hoạt phù hợp với mục đích, và từng đối tượng
nhất định.
1.2.5.3 Hệ thống các phương pháp giáo dục
Nhóm phương pháp xây dựng ý thức nhân cách
Những phương pháp giáo dục ý thức nhân cách là những phương pháp giáo dục
tác động đến nhận thức và tình cảm của đối tượng giáo dục mà mục đích cuối cùng là
hình thành niềm tin đối với các chuẩn mực xã hội đã được quy định. Sự cần thiết của
nhóm phương pháp này xuất phát từ nguyên tắc thống nhất giữa ý thức và hoạt động.
UĐàm thoại:U Có đàm thoại riêng và thảo luận
Có thể xây dựng ý thức bằng các phương pháp: Đàm thoại, giảng giải, nêu gương.
Đàm thoại là phương pháp được thực hiện bằng lời nói để trao đối ý kiến với
nhau giữa nhà giáo dục với học sinh hoặc giữa học sinh với nhau về một vấn đề nào
đó (về chính trị, tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ, xã hội, đời sống).
Trong đàm thoại, nhà giáo dục và đối tượng giáo dục đặt ra những câu hỏi cho
nhau để đôi bên cùng phát biểu ý kiến của mình.
Với phương pháp đàm thoại, nhà giáo dục tạo cơ hội cho người được giáo dục
giải thích, đánh giá những sự kiện, những hiện tượng xã hội có liên quan đến các
hành vi tiêu cực hay tích cực, giải quyết các tình huống đạo đức, pháp luật... để từ đó
rút ra được những kết luận bổ ích. Đồng thời, củng cố ý thức cá nhân và hình thành
niềm tin đối với các chuẩn mực xã hội đã được quy định.
+Thảo luân: là hình thức đặc biệt của đàm thoại giữa học sinh với nhau do nhà
giáo dục hay cán bộ lớp điều khiển nhằm trao đổi ý kiến về một vấn đề nào đó.
+Đàm thoại riêng: Là biện pháp đặc biệt trong phương pháp đàm thoại. Biện
pháp này giúp nhà giáo dục hiểu biết sâu sắc về hoàn cảnh và cá tính của từng em,
nhất là những vấn đề mà những học sinh đó không muốn đưa ra bàn bạc trong tập thể
mà chỉ muốn nói riêng với giáo viên. Biện pháp này chỉ có tác dụng tốt trong điều
kiện quan hệ thầy trò dựa trên sự tin cậy, yêu thương, dân chủ, ân cần.
Thử thách lớn nhất đối với người giáo viên là trong đàm thoại riêng với các học
sinh bướng bỉnh, chậm tiến, khó dạy. Trong những trường hợp đó, đòi hỏi nhà giáo
dục phải biết cách giao tiếp khéo léo, tế nhị, thận trọng, và đánh giá học sinh một
cách có tình, có lý, nhất là phải có thái độ thật sự yêu thương, trân trọng, chân thành
và tin tưởng, tuyệt đối tránh thái độ thô bạo, cưỡng bức, cứng nhắc, khuôn sáo công
thức.
Để đạt được hiệu quả cao, trong đàm thoại nhà giáo dục cần phải:
-Trước khi đàm thoại, phải xác định mục tiêu, chủ đề, nội dung đàm thoại, xây
dựng hệ thống những câu hỏi phù hợp.
-Khi tiến hành đàm thoại cần nêu lại chủ đề, mục tiêu, nội dung đàm thoại và
các câu hỏi đàm thoại. Trong quá trình đàm thoại, người được giáo dục phát biểu ý
kiến với nhau và với nhà giáo dục.
-Khi kết thúc đàm thoại, nhà giáo dục cần khuyến khích những người được giáo
UPhương pháp giảng giải:
dục viết ra những kết luận cần thiết, đồng thời tổng kết và đánh giá chung.
Là phương pháp trong đó nhà giáo dục dùng lời nói để giải thích, chứng minh
các chuẩn mực xã hội đã được quy định nhằm giúp cho người được giáo dục hiểu và
nắm được ý nghĩa, nội dung và quy tắc thực hiện các chuẩn mực đó. Nhờ vậy, người
được giáo dục có cơ hội lĩnh hội những chuẩn mực xã hội, đồng thời hình thành được
niềm tin đối với các chuẩn mực đó.
Để giảng giải, khuyên bảo có hiệu quảy nhà giáo dục cần chú ý đến những
vấn đề sau:
-Nhà giáo dục cần chọn thời điểm thích hợp để giảng giải, khuyên bảo, cần
chuẩn bị nội dung cho đầy đủ, chính xác.
-Khi diễn giảng nhà giáo dục cần dùng lời nói rõ ràng, chính xác dễ hiểu, logíc,
tạo được sự đồng cảm giữa nhà giáo dục và người được giáo dục
-Nên thu hút người được giáo dục tham gia giải thích, chứng minh các sự kiện,
UPhương pháp nêu gương:
hiện tượng có liên quan từ đó rút ra kết luận.
Nêu gương là phương pháp dùng những tấm gương sáng của các cá nhân hoặc
của tập thể để kích thích những người được giáo dục học tập và làm theo, phương
pháp nêu gương dựa trên cơ chế của sự bắt chước.
Phương pháp nêu gương có tác dụng giúp người được giáo dục phát triển năng
lực phê phán, đánh giá được những hành vi của người khác, đồng thời rút ra những
kết luận bổ ích cho bản thân. Từ đó, người được giáo dục biết học tập những tấm
gương tốt, tránh những tấm gương xấu, hình thành niềm tin về những chuẩn mực xã
hội và mong muốn có những hành vi phù hợp.
Để phát huy tác dụng của phương pháp nêu gương,nhà giáo dục cần chú ý:
-Căn cứ vào mục tiêu, nội dung giáo dục cụ thể,vào đặc điểm tâm sinh lý của
người được giáo dục, lựa chọn những tấm gương sáng và những tấm gương phản diện
phù hợp. Song, những tấm gương sáng là chủ yếu, không được lạm dụng những
gương phản diện vì dễ gây ra kết quả phản giáo dục.
-Những tâm gương nêu ra phải gần gũi với cuộc sống hằng ngày và phải mang
tính chất điển hình, tránh tràn lan, chung chung.
-Phải có tính khả thi đối với người được giáo dục, tránh nêu "những tấm gương
quá lý tưởng”
-Nhà giáo dục có thể nêu gương tốt từ bạn bè, người thân, những tấm gương trên
báo, đài, các tác phẩm văn học...
-Bản thân nhà giáo dục phải là tấm gương sáng cho con cái noi theo. Sự gương
mẫu của nhà giáo dục sẽ tác động trực tiếp đến nhận thức, tình cảm, niềm tin và hành
động của trẻ.
Như vậy, các phương pháp xây dựng ý thức nhân cách có tác dụng giúp cho
người được giáo dục có những tri thức cần thiết về các giá trị chuẩn mực xã hội.
Đồng thời, các phương pháp này còn giúp đối tượng giáo dục nhận thấy được những
hành vi lệch chuẩn xã hội, không được xã hội chấp nhận, đi ngược với đạo đức và
truyền thống của mỗi quốc gia.
Trên cơ sở những tri thức về các chuẩn mực, giá trị xã hội, người được giáo dục
sẽ dần dần hình thành thái độ niềm tin tương ứng. Từ những tri thức và niềm tin về
các chuẩn mực, giáo dục xã hội thống nhất với nhau làm cơ sở định hướng rèn luyện
hành vi và thói quen tương ứng.
Nhóm phương pháp tổ chức hoạt đông và hình thành kinh nghiêm ứng
sử xã hội
Hoạt động và giao tiếp là những yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển
nhân cách con người. Hoạt động là quá trình con người xác lập các mối quan hệ giữa
mình với thế giới xung quanh, trong đó có cả bản thân chủ thể. Chính trong quá trình
hoạt động, chủ thể mới bộ lộ ra bên ngoài năng lực, ý chí, tình cảm, hứng thú, tính
cách... của bản thân. Đồng thời, thế giới bên ngoài cũng tác động ngược trở lại, làm
phong phú thế giới nội tâm, hình thành và phát triển nhân cách của bản thân.
Chính vì vậy, trong quá trình giáo dục, nhà giáo dục cần tổ chức và hướng dẫn
các hoạt động nhằm chuyển hóa ý thức về các chuẩn mực xã hội thành hành vi, thói
quen tương ứng.
Trong nhóm phương pháp tổ chức hoạt động và hình thành kinh nghiệm ứng xử
xã hội gồm các phương pháp: phương pháp giao việc, phương pháp tập luyện.
+Phương pháp giao việc:
Là phương pháp nhà giáo dục lôi cuốn người được giáo dục và những hoạt động
đa dạng với những công việc nhất định, với những nghĩa vụ nhất định, qua đó hình
thành được những hành vi ứng xử phù hợp với những yêu cầu của công việc được
giao.
Khi giao việc nhà giáo dục cần chú ý:
-Đưa ra những yêu cầu cụ thể mà người được giáo dục phải hoàn thành, giúp
cho họ có thể định hướng đúng đắn cho toàn bộ hoạt động của mình nhằm thực hiện
công việc được giao.
-Cần giải thích cho người được giáo dục biết ý nghĩa của công việc để từ đó kích
thích họ tự giác, tích cực thực hiện công việc.
-Khi giao việc nhà giáo dục còn phái tính đến hứng thú, năng khiếu của đối
tượng nhằm phát huy được thế mạnh của họ trong hoạt động.
-Theo dõi, giúp đỡ và uốn nắn những sai sót để người được giáo dục hoàn thành
mọi yêu cầu của công việc.
Nhà giáo dục có thể để tập thể giao việc cho cá nhân với những yêu cầu rõ ràng
nhằm tạo điều kiện cho họ phát huy ý thức và năng lực tự quản.
-Nhà giáo dục cần phải kiểm tra, đánh giá công khai kết quả hoàn thành công
việc của cá nhân hay tập thể những người được giáo dục
+Phương pháp tập luyện:
Là phương pháp tổ chức cho người được giáo dục thực hiện một cách đều đặn
và có kế hoạch đối với những hành động nhất định nhằm biến những hành động đó
thành thói quen ứng xử [3, 106].
Thói quen ứng xử là nền tảng của giáo dục. Nó có thể hình thành và biến đổi
được kinh nghiệm thực tiễn chứng tỏ rằng: phương pháp tập luyện đặc biệt có hiệu
quả trong thời kỳ đầu của quá trình giáo dục và sẽ phát triển thành hành vi đúng đắn.
Phương pháp tập luyện được tiến hành dưới những hình thức khác nhau tùy theo
từng đối tượng giáo dục.
Để thực hiện phương pháp luyện tập có hiệu quả cần chú ý đến những điểm
sau:
-Nhà giáo dục phải cho người được giáo dục biết được quy tắc hành vi, nghĩa là
làm cho đối tượng hình dung rõ hành vi cần được thực hiện như thế nào để người
được giáo dục có thể tự định hướng cho việc thực hiện hành vi.
-Khi cần thiết có thể làm mẫu cho người được giáo dục về những hành vi cần
tập luyện.
-Tạo điều kiện cho người được giáo dục tập luyện thường xuyên, lặp đi lặp lại
những hành vi đã được tập luyện qua quá trình thực hiện chế độ sinh hoạt và các hoạt
động.
-Nhà giáo dục cần tiến hành kiểm tra, uốn nắn thường xuyên. Đồng thời, khuyến
khích họ tự kiểm tra, tự uốn nắn hành vi của mình.
Thói quen gắn với nhu cầu, một thói quen khi đã được hình thành thì rất khó
thay đổi. Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tập luyện thói quen, Uxinxky đã nói:
"Giáo dục mà không có thói quen, ví như lâu đài xây trên cát”
Nhóm phương pháp kích thích hoạt đông và điều chỉnh hành vi ứng xử
của người được giáo dục.
Trong quá trình giáo dục, người được giáo dục tham gia nhiều hoạt động khác
nhau như học tập, lao động, thể dục thể thao... qua đó rèn luyện những hành vi ứng
xử. Trong quá trình hoạt động đó thì mỗi chủ thể giáo dục sẽ tham gia với những thái
độ khác nhau. Có những người tham gia hoạt động một cách tự giác, có những hành
vi ứng xử phù hợp với các chuẩn mực xã hội. Nhưng cũng có những người không tự
giác tham gia các hoạt động, hay có những hành vi ứng xử không phù hợp. Thậm chí
có những hành vi lệch chuẩn, không được xã hội thừa nhận. Vì vậy, vấn đề được đặt
ra là những thái độ hành vi tích cực cần được kích thích và những thái độ, hành vi
tiêu cực cần được điều chỉnh, uốn nắn. Do đó, trong quá trình giáo dục chúng ta cần
vận dụng nhóm phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của
người được giáo dục.
Nhóm phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của
người được giáo dục bao gồm: phương pháp khen thưởng và phương pháp trách
UPhương pháp khen thưởng
phạt.
Là phương pháp biểu thị sự đánh giá tích cực đối với những hành vi ứng xử của
người được giáo dục.
Phương pháp khen thưởng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giáo dục. Nó
khẳng định hành vi của mỗi chủ thể là đúng đắn, là phù hợp với các chuẩn mực xã
hội đã được quy định, giúp cho người được giáo dục tự khẳng định những hành vi tốt
của mình, giúp cho họ có thêm sức mạnh, niềm tin. Từ đó, kích thích người được
giáo dục tiếp tục duy trì và phát triển những hành vi tích cực, đồng thời tránh được
những hành vi tiêu cực không phù hợp với các chuân mực xã hội.
Trong thực tiễn giáo dục, khen thưởng được thực hiện dưới những hình thức
khác nhau tùy theo tính chất, mức độ, phạm vi ảnh hưởng của những hành vi tích cực
và sự nỗ lực riêng của người được giáo dục. Các hình thức có thể là:
-Tỏ thái độ đồng tình, ủng hộ những hành vi tốt một cách trực tiếp hoặc gián
tiếp như mỉm cười, gật đầu...
-Tỏ lời khen đúng lúc và đúng mức.
-Biểu dương trước tập thể.
-Tặng giấy khen, bằng khen, thưởng bằng vật chất. Muôn áp dụng phương
pháp khen thưởng có kết quả nhà giáo dục cần chú ý:
-Đảm bảo khen thưởng trên cơ sở những hành vi thực tế của người được giáo
dục.
-Đảm bảo khen thưởng công bằng, khách quan.
-Đảm bảo khen thưởng kịp thời, đúng lúc, đúng chỗ.
-Đảm bảo kết hợp khen thưởng thường xuyên với khen thưởng quá trình.
-Đảm bảo gây được dư luận tập thể (xã hội) đồng tình với việc khen thưởng.
Tuy nhiên, không phải bất cứ việc khen thưởng, biểu dương nào cũng có ý nghĩa
giáo dục tích cực. Ý nghĩa giáo dục của việc khen thưởng càng lớn khi khen thưởng
không đơn giản là đánh giá kết quả mà còn nêu bật được sự nỗ lực của cá nhân và cả
UPhương pháp trách phạt:
động cơ, phương thức hoạt động.
Là phương pháp biểu thị sự không đồng tình, sự phản đối, sự phê phán những
hành vi sai trái của người được giáo dục, buộc người được giáo dục phải từ bỏ những
hành vi sai trái, có hại cho xã hội và điều chỉnh các ứng xử của mình theo đúng các
chuẩn mực xã hội đã quy định [3,112].
Trách phạt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giáo dục, bởi nó tạo cơ hội
buộc những người có lỗi lầm trong ứng xử phải điều chỉnh hành vi của mình theo
đúng những chuẩn mực đã được quy định. Đồng thời cũng tạo cơ hội nhắc nhở những
người không vi phạm, không rơi vào những hành vi sai trái như những người đã bị
trách phạt. Trách phạt có thể thực hiện dưới những hình thức như nhắc nhở, phê bình,
cảnh báo...
Khi vận dụng phương pháp trách phạt, nhà giáo dục cần chú ý đến những
điểm sau:
-Trách phạt phải công bằng, khách quan, đúng tội, đúng mức độ của hành vi sai
trái và lỗi lầm, tỏ thiện ý mong muốn và tin tưởng người bị trách phạt sau này sẽ trở
thành người tốt.
-Khi trách phạt, nhà giáo dục cần đảm bảo cho người bị trách phạt thấy rõ sai
lầm của mình và chấp nhận hình thức, mức độ trách phạt đối với mình.
-Đảm bảo tôn trọng nhân phẩm của người bị trách phạt như không làm đau đớn
về thể xác, không dùng hình phạt để trả thù cá nhân.
-Việc trách phạt không nên vội vàng, hấp tấp, cần để cho người bị trách phạt có
thời gian suy ngẫm, không bao giờ được nhắc đi nhắc lại những lỗi lầm cũ đã qua,
không máy móc, hình thức, không trách phạt theo một hình thức sáo mòn. Nhà giáo
dục cần phải linh hoạt nhạy bén, thay đổi hình thức trách phạt và cần phải cá biệt hoa
trong cách thức trách phạt thì mới đạt hiệu quả.
Như vậy, phương pháp khen thưởng và trách phạt có tác dụng kích thích, điều
chỉnh những hành vi ứng xử của người được giáo dục theo định hướng của những
chuẩn mực xã hội đã được quy định.
Trong các phương pháp này thì phương pháp khen thưởng là chủ yếu, phương
pháp trách phạt là cần thiết nhằm giúp cho người được giáo dục phát huy ưu điểm,
khắc phục khuyết điểm.
1.2.6 Một số phương pháp giáo dục lại đôi với trẻ phạm pháp.
Quá trình giáo dục lại đối với trẻ phạm pháp về bản chất là quá trình trong đó
dưới tác động chủ đạo của các phương pháp giáo dục, học sinh tự giác xây dựng lại
nhân cách nói chung, những hành vi nói riêng phù hợp với những chuẩn mực đạo
đức, pháp luật, góp phần thực hiện mục đích giáo dục.
Quá trình giáo dục lại là một quá trình mang tính đặc thù. Tính đặc thù đó do
bản chất, mục đích giáo dục qui định. Mục đích của quá trình giáo dục lại xét đến
cùng-là nhằm khôi phục lại các phẩm chất nhân cách. Đồng thời giúp cho nhân cách
phát triển đúng hướng, ổn định và bình thường. Vì vậy mà trong quá trình giáo dục
lại thì các phương pháp giáo dục cũng mang tính đặc thù.
Phương pháp giáo dục lại: Là cách thức hoạt động của nhà giáo dục và của
người được giáo dục, được thực hiện trong sự thống nhất với nhau, nhằm giúp cho
người được giáo dục tự giác xây dựng, khôi phục lại nhân cách cho phù hợp với
những chuẩn mực xã hội.
1.2.6.1 Phương pháp xây dựng lại niềm tin
Đối với các chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp luật thì ở trẻ phạm pháp có
sự mất niềm tin ở những chừng mực khác nhau. Vì vậy trong quá trình giáo dục lại,
việc xây dựng lại niềm tin cho các em có ý nghĩa rất quan trọng nhằm tạo ra một tác
nhân kích thích mạnh mẽ sự phục hồi những hành vi tích cực. Để xây dựng lại niềm
tin cho các em có thể sử dụng các phương pháp giáo dục thông thường với nhiều cách
thức khác nhau như:
Tổ chức cho các em nhận thức lại chân giá trị của các chuẩn mực đạo đức, pháp
luật đồng thời thấy rõ những sai lệch trong những hành vi của mình và tác hại do sai
lệch đó đem lại cho cá nhân, gia đình, xã hội.
+Tổ chức kể chuyện, giảng giải, hỏi đáp...về các chuẩn mực.
+Tổ chức thảo luận, tranh luận... để các em tự rút ra kết luận cái nên làm, cái
làm được, cái không nên làm, cái không làm được.
+Để xây dựng lại niềm tin cho các em có thể sử dụng những cuộc gặp gỡ với
những em đã từng phạm pháp, dự các phiên tòa xét xử, gặp gỡ trò chuyện với nhân
viên tòa án...
Trong quá trình xây dựng lại niềm tin, đặc biệt không ép buộc trẻ phải nghe theo
ý kiến của mình. cần phải biết đưa ra các sự kiện, đánh giá những sự kiện đó và giúp
cho trẻ tự rút ra được kết luận, tự mình phê phán mình, khiến cho ý kiến chung trở
thành niềm tin riêng của trẻ.
Quá trình xây dựng lại niềm tin bao gồm cả việc giúp cho trẻ nhận ra những
thiếu sót cũng như những tác hại, hậu quả của những hành vi do các em gây ra.
Nhà giáo dục phải có thái độ thận trọng với thế giới bên trong của trẻ. Tuyệt đối
không chế nhạo những quan điểm sai lầm của các em, không bác bỏ thẳng thừng bất
kỳ quan niệm sai nào của các em. Sự khéo léo đối xử cần thiết ở mọi nơi nhưng trong
việc xây dựng lại niềm tin cho trẻ phạm pháp thì càng đặc biệt cần thiết.
Xây dựng lại niềm tin cho trẻ vừa là mục đích, vừa là kết quả, đồng thời cũng là
yếu tố cốt lõi xuyên suốt trong quá trình giáo dục lại.
1.2.6.2 Phương pháp giáo dục bằng bùng nổ
Là phương pháp mà nhà sư phạm dùng nhiều tác động mạnh đặc biệt, bất thần
tạo ra nhiều chuyển biến về mặc tâm lý, điều chỉnh quá trình hưng phấn và ức chế để
phá vỡ những suy nghĩ thói quen, hành vi xấu, tạo ra những suy nghĩ, những tình
cảm, những hành vi mới theo yêu cầu giáo dục.
Thực chất của phương pháp này (do A.Y Makarenko sáng tạo) là đặt trẻ vào một
tình thế bất ngờ. Làm các em nhìn thấy chiều sâu của tình thế thảm hại của mình, bất
bình sâu sắc với bản thân, với lỗi lầm của mình, chán ghét kiểu sống xấu xa cũ và dần
dần có nhu cầu trở thành người tốt.
Phương pháp "bùng nổ " có thể thực hiện như sau:
-Chuẩn bị một tình thế bất ngờ nhưng thích hợp với trẻ phạm pháp.
-Bất ngờ đưa trẻ vào tình thế này, tạo cho trẻ một cú sốc tâm lý, từ đó có đột
biến trong nhận thức và thái độ theo hướng tích cực.
-Tiếp tục củng cố và phát triển niềm tin đã được phục hồi.
-Đưa trẻ vào hoạt động để tự rèn luyện hành vi và thói quen hành vi tích cực.
-Có hai phương pháp "bùng nổ"
"Bùng nổ cảm xúc tích cực": là phương pháp gây cho trẻ phạm pháp một cú
sốc tâm lý với xúc cảm tích cực trước những tác động bất ngờ. Trong "bùng nổ"
cảm xúc tích cực, điều quan trọng là tính chát bát ngờ trong những hành động của các
nhà giáo dục. Mỗi sự thích thú đều tăng lên gấp đôi vì nó bất ngờ và khác thường,
mọi sự rung cảm xúc cảm dâng cao dưới dạng mới điều tác động mạnh hơn đến tâm
lý. Trong những trường hợp này đứa trẻ tự cảm thấy hài lòng, tự thỏa mãn với mình,
nó tự mình tiếp nhận sự giúp đỡ phá vỡ những phẩm chất tiêu cực mà trước đó đã
quên tha thứ hoặc không cho là xấu.
Trong "bùng nổ" cảm xúc tích cực, đứa trẻ phải tham gia một cách tích cực.
Trong và sau khi "bùng nổ" trẻ có khả năng biểu hiện các phẩm chất tích cực và thỏa
mãn nhu cầu về những ấn tượng xúc cảm tích cực.
"Bùng nổ cảm xúc tiêu cực": là phương pháp gây cho trẻ phạm pháp một cú
sốc tâm lý với xúc cảm tiêu cực trước tác động gây ấn tượng mạnh mẽ bất ngờ của
một nhà giáo dục. Nhờ vậy ở trẻ có một sự đột biến về thái độ theo hướng tích cực.
Trong thực tiễn giáo dục Makarenko đã sử dụng phương pháp này trong việc chỉ
trích kẻ phạm tồi tại cuộc họp chung (gọi ra giữa hội nghị),hoặc đuổi ra khỏi trại. Đối
với bùng nổ xúc cảm tiêu cực phải có những yêu cầu sau:
Mục đích hành động của nhà giáo dục là kích thích ở đứa trẻ sự không bằng
lòng với mình, sự tự chỉ trích, không được làm cho "Bùng nổ" nó gây ra sự bất mãn
với cuộc sống nói chung, hoặc sự lãnh đạm, sự ác cảm với nhà giáo dục.
Vạch kế hoạch cẩn thận toàn bộ tiến trình của "bùng nổ". Xúc cảm tiêu cực để
cho ý kiến khỏi tản mạn, việc đánh giá hành vi khỏi bất đồng. Bùng nổ chỉ xảy ra khi
tất cả hoặc tuyệt đại đa số những người xung quanh, kể cả những người mà trẻ kính
trọng đều nói lên sự không bằng lòng với những hành vi, thói quen, cách cư xử của
trẻ.
Cá biệt hóa tính cách của bùng nổ tùy theo đặc điểm của đứa trẻ, hiểu biết mức
độ kiềm chế những rung động tiếu cực đôi với những trẻ có tính tự phụ không lành
mạnh, đối với trẻ có tính xúc cảm cao, với trẻ có ý chí kém và với những trẻ mới
phạm tội lần đầu tiên.
Khi nào bùng nổ chưa bắt đầu và sự không bằng lòng bản thân chưa xuất hiện
thì chưa lí luận, chưa nói đến đạo đức. Chỉ sau đó mới cần phải giải thích cái gì là
xấu, cái gì là tốt, do đâu mà xuất hiện cái xấu, cái xấu CÓ thể dẫn đến hậu quả như
thế nào.
Vấn đề quan trọng của việc sử dụng phương pháp bùng nổ là chọn thời cơ, thời
điềm bùng nổ chính xác, đúng lúc, bỏ lỡ thời cơ là không thể bùng nể. Nhà giáo dục
phải nắm bắt thời cơ, phải xây dựng nội dung bùng nổ một cách hệ thông, liên tiếp,
cường độ tác động mạnh theo nhiêu cách nhất định.
1.2.6.3 Phương pháp giáo dục bằng hệ thống viễn cảnh
Phương pháp giáo dục bằng hệ thống viễn cảnh là dựa trên yêu cầu của quá trình
giáo dục, căn cứ vào nhu câu của tập thể và cá nhân, xuất phát từ đặc điểm của tập
thể đối tượng, nhà giáo dục giúp cho tập thể xây dựng một hệ thống mục tiêu, một
chương trình nội dung, kế hoạch giáo dục, hoạt động, tổ chức thực hiện để đạt đến
những dự định đã vạch ra.
Cơ sở khoa học của phương pháp này là căn cứ vào đặc diêm ý thức của con
người luôn luôn mong muốn có một cuộc sống tốt đẹp. Makarenko từng cho rằng "sự
kích thích chân chính của cuộc sống con người là niềm vui ở ngày mai".
Về thực chất phương pháp giáo dục bằng hệ thống viễn cảnh chính là giúp cho
tập thể và mỗi cá nhân xây dựng hệ thống mục tiêu và chủ động thực hiện những dự
án với tư cách là chủ thể của quá trình giáo dục. Thậm chí không cần có sự động
viên, kích thích của nhà sư phạm thì bản thân hệ thống viễn cảnh có sức mạnh như
một động lực thúc đấy con người vươn đến tương lai.
Hệ thống viễn cảnh bao gồm từ viễn cảnh gần, trung bình đến xa.
Viễn cảnh gần: là những mục tiêu đơn giản, thời gian thực hiện ngắn, thỏa mãn
nhu cầu cá nhân, thậm chí đó là những nhu cầu vật chất có thể bắt đầu từ một bữa ăn
ngon hoặc một buổi xem xiếc nhưng phải luôn gợi ra và mở rộng từng bước những
viễn cảnh triển vọng của tập thể, đồng thời phải hạn chế những tham vọng vật chất và
quyền lợi cá nhân.
Nhiệm vụ của nhà sư phạm cũng như các cơ quan giáo dục là tổ chức những
viễn cảnh tươi đẹp, nghĩa là luôn luôn mơ ước đến một ngày mai tràn đây thắng lợi
của tập thể. Với ý nghĩa đó cuộc sống của tập thể sẽ chan chứa niềm vui, niềm vui
không phải của sự giải trí, của sự thỏa mãn chốc lát vì cá nhân mà là niềm vui của sự
cố gắng, của sự lao động căng thẳng vì tin tưởng vào thắng lợi thành công của tập thể
và bản thân trong tương lai.
Hệ thống viễn cảnh gần phải đa dạng, nhiều hình thức và phải thực hiện có hiệu
quả. Những thành công nhỏ được thực hiện cũng sẽ là nguồn kích thích mạnh mẽ con
người trong cuộc sống và hoạt động.
Viễn cảnh trung bình: là một dự án kế hoạch tập thể mà thời gian hoàn thành
muộn hơn một chút lâu hơn, đòi hỏi sự nỗ lực chung nhiều hơn vì danh dự của tập thể
nên quan tâm đến mục tiêu xã hội. Viền cảnh trung bình là cơ sở để tiến đến viễn
cảnh xa.
Khi xây dựng hệ thống mục tiêu, kế hoạch cho viễn cảnh trung bình cần dựa trên
quyền lợi chung của tập thể, lấy kích thích tinh thần như danh hiệu, cuộc sống văn
hóa, giảm dần kích thích vật chất ngay cả đối với trẻ nhỏ như phấn đấu hoạt động vì
sự vui chung của tập thể.
Viễn cảnh xa: là tương lai, tiền đề của sự phát triển tập thể lớn, nói rộng ra là
tương lai của đất nước, của dân tộc mà tương lai của mỗi cá nhân nằm trong đó, đòi
hỏi họ phải nỗ lực, cố gắng với ý thức trách nhiệm rất lớn để góp phần thực hiện
những dự kiến của đất nước.
Nhà giáo dục cần giáo dục học sinh có nhận thức và tự bản thân họ chủ động
xây dựng phương hướng sống, học tập, lao động trên cơ sơ những yêu cầu của xã hội.
1.2.6.4 Phương pháp giáo dục bằng tác động song song
Có thể hiểu tác động song song là hình thức tác động gián tiếp tới đối tượng giáo
dục thông qua sự nhận thức tác động của các thành viên trong tập thể cơ sở để các
thành viên trong tập thê tác động lẫn nhau.
Đây là phương pháp giáo dục Macarencô đề xuất. Macarencô đã giải thích như
sau: "chỉ tiếp xúc với đội (tức là tập thể cơ sở), không tiếp xúc với cá nhân riêng lẻ,
đó là cách biểu hiện chính thức, còn thực chất là hình thức tác động chính đến cá
nhân nhưng biểu hiện thì lại diễn ra song song với thực chất".
Tác động song song về mục đích là nhằm giáo dục các cá nhân nhưng thông qua
tác động của tập thể cơ sở mà trong đó cá nhân sống và hoạt động. Dùng dư luận của
tập thể lành mạnh để điều chỉnh hành vi, suy nghĩ và hoạt động của mỗi cá nhân.
Macarencô sử dụng phương pháp này trong 3 trường hợp:
+ Thông qua đội ngũ tự quản.
+ Thông qua tác động đối với cả đội - tập thể cơ sở.
+ Mời lên phòng ông uống trà, ông nói một điều gì đó mà không ám chỉ một ai,
hoặc một đội nào đó mà các em liên hệ và đoán ra Macarencô định nói gì?
Các hình thức này được sử dụng khi các tập thể cơ sở có đội ngũ tự quản vững
vàng, có dư luận lành mạnh, các thành viên có ý thức trách nhiệm cao đối với những
công việc chung của tập thể.
Về hình thức gây dư luận thì mỗi tập thể cơ sở và cá nhân có nhiều cách sáng
tạo khác nhau nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục đặt ra.
Hình thức tổ chức tốt nhất trong phương pháp giáo dục bằng tác động song song
là để biểu lộ sự tác động của tập thể tới các học sinh là tổ chức hội nghị chung của cả
đội, của lớp. Trong đó sẽ bàn mọi công việc của đội, lớp và giải quyết mọi vấn đề
nghiêm trọng nhất.
Trong thực tiễn công tác của Macarencô ông đã đánh giá cao vai trò của các hội
nghị chung. Macarencô đã từng nói "tôi cho rằng các hội nghị chung cần thiết bao
nhiêu để quyết định mặt hình phạt đúng đắn thì chúng cũng cần thiết bấy nhiêu để
cho mỗi thành viên của hội nghị tự thấy trách nhiệm của mình trước quyết định đó".
Phương pháp tác động song song có ý nghĩa to lớn nó sẽ tạo ra ảnh hưởng dây
chuyền. Đối tượng cần tác động được cả tập thể giám sát, giúp đỡ, quản lý. Tập thể
phải có trách nhiệm đối với cá nhân đó và ngược lại cá nhân cần giáo dục cũng nhận
thấy trách nhiệm trước tập thể. Hội nghị chung được triệu tập để giải quyết những
vấn đề khác nhau, trong hội nghị đó mặc dù chỉ có một số học sinh bị phê phán
nhưng những em khác có mặt ở hội nghị cũng sẽ bắt đầu suy nghĩ rằng mình không
phải là không có khuyết điểm, rằng mình cũng rút kinh nghiệm cho bản thân. Sự tự
phê phán nội tâm, sự liên hệ tự phê bình như vậy có ý nghĩa giáo dục rất lớn. Việc áp
dụng phương pháp này còn có ý nghĩa cho việc chống lại sự bao che cho nhau trong
tập thể, sự bao che này xuất hiện ở ngay những tập thể tốt do các em hiểu sai ý nghĩa
của tình bạn.
Phương pháp này chỉ có thể sử dụng khi tập thể cơ sở đã phát triển ở giai đoạn
cao. Nghĩa là những yêu cầu của nhà giáo dục luôn luôn có một lực lượng nòng cốt
sẵn sàng giúp đỡ thực hiện, có dư luận tập thể lành mạnh sẵn sàng ủng hộ phần tử
tích cực và hành vi tích cực. Đồng thời dư luận không tha thứ cho những ai xâm
phạm đến truyền thống danh dự quyền lợi chung của tập thể. Và vấn đề quan trọng là
nhà sư phạm phải có uy tín, có kinh nghiệm, được tập thể tin yêu.
Phương pháp tác động song song có thể dùng đối với cả nhóm hoặc tập thể cơ
sở trong tập thể lớn. Chẳng hạn nếu nhà sư phạm muốn đập tan một nhóm hoặc một
bè phái có hại thì không nên tác động trực tiếp tới nhóm mà nên tiến hành tác động
toàn tập thể để cả tập thể chú ý đến nhóm hoặc bè phái dư luận có hại đó.
Tóm lại phương pháp giáo dục bằng tác động song song là phương pháp nhà
giáo dục sử dụng sức mạnh của dư luận tập thể nhằm điều chỉnh suy nghĩ, hành động
của cá nhân hoặc của một nhóm theo yêu cầu giáo dục. Cùng một tác động giáo dục
cả tập thể và đối tượng giáo dục đều chịu ảnh hưởng. Hiệu quả của phương pháp này
như một mũi tên bắn 2 đích (cả tập thể và cá nhân).
1.2.6.5 Phương pháp khuyến khích và trách phạt
UPhương pháp khuyến khích
- Phương pháp khuyến khích giúp cho học sinh phạm pháp:
+ Dần dần hạn hết mặc cảm với những người xung quanh.
+ Dần dần tự tin vào sự vươn lên của mình.
+ Có cơ sở thực tiễn để định hướng cho những hành vi đúng đắn
- Những yêu cầu khi thực hiện
+ Khuyến khích phải có tính cá biệt.
+ Sự khuyến khích phải do tập thể hoặc do người có uy tín với đứa trẻ thực hiện,
bất kỳ khuyến khích nào do nhà giáo dục có xung đột với đứa trẻ áp dụng thì đều bị
đứa trẻ coi là sự mua chuộc, hoặc giả tạo, không thành thật và bị bác bỏ.
+ Khuyến khích những hành động hoặc những hành vi nào của học sinh đã thực
hiện đòi hỏi em đó phải có ý chí và nỗ lực cao, chứ không phải là khuyến khích
những hành động mà các em đó làm được do năng lực tự nhiên, không mất sức lực và
thời gian đặc biệt gì cả.
+ Sự khuyến khích phải giúp cho trẻ thấy được những chỗ mạnh của mình, tự tin
ở mình, có nguyện vọng trở thành tốt hơn, cần tránh tình trạng làm phát triển ở trẻ
tính tự phụ, tính tự ái không lành mạnh.
+ Kết hợp việc khuyến khích với việc thu hút các em vào hoạt động thường
UPhương pháp trách phạt
xuyên.
- Phương pháp trách phạt giúp cho học sinh phạm pháp :
+ Ý thức được khuyết điểm của mình.
+ Hiểu rõ ràng khuyết điểm này không thể dung thứ được.
+ Có nhu cầu điều chỉnh hành vi, phục vụ hành vi tốt phù hợp với những chuẩn
mực đã được qui định.
- Nội dung yêu cầu:
+ Sự trách phạt được coi như một hình thức đặc biệt của yêu cầu chung về hành
vi đối với học sinh trong đó vừa có lời chê trách về hành vi sai trái, đồng thời vừa có
lời chỉ dẫn phải làm gì, làm như thế nào và nhắc nhở không được tái phạm.
+ Sự trách phạt phải công minh, phải tỏ rõ niềm tin của nhà giáo dục đối với sự
tiến bộ của học sinh, không được xúc phạm nhân cách của các em.
+ Sự trách phạt không được rập khuôn, lần nào cũng như lần nào.
+ Sự trách phạt phải được quyết định đúng lúc, kịp thời, không vội vàng, không
chậm trễ.
+ Sự trách phạt phải gây được dư luận lành mạnh trong tập thể học sinh.
Quá trình giáo dục lại là một quá trình phức tạp, khó khăn, lâu dài, mang tính cá
biệt cao. Do đó trong quá trình giáo dục cần sử dụng nhiều phương pháp khác nhau,
việc lựa chọn và vận dụng các phương pháp đạt hiệu quả khi nhà giáo dục biết gắn
với mục tiêu, nội dung giáo dục cụ thể, dựa vào đặc điểm của đối tượng giáo dục
cũng như là những điều kiện môi trường thực tế.
Mỗi nhóm phương pháp và ngay ở mỗi phương pháp giáo dục đều có những ưu
nhược điểm riêng của nó. Không có phương pháp giáo dục nào là vạn năng cả do đó
cần phải phối hợp các phương pháp giáo dục một cách hợp lí, đảm bảo được sự thống
nhất giữa hoạt động giáo dục, vai trò chủ đạo của nhà giáo dục với hoạt động tự giáo
dục, vai trò tự giác, tích cực, năng động của người được giáo dục.
Suy cho cùng thì toàn bộ quá trình giáo dục lại có thu được kết quả tốt hay
không phụ thuộc phần lớn vào ý thức tự hoàn thiện của mỗi đứa trẻ. Nói cách khác là
bản thân đứa trẻ phải hiểu được mức độ, hậu quả của những hành vi tiêu cực. Đồng
thời có mong muốn tự rèn luyện, tự khắc phục, tự sửa chữa những hành vi tiêu cực
ấy. Bằng nhiều phương thức, hình thức khác nhau nhà giáo dục phải biến quá trình
giáo dục thành quá trình tự giáo dục nhằm khôi phục, điều chỉnh và phát triển các
phẩm cách nhân cách của trẻ một cách bình thường, ổn định.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP
GIÁO DỤC ĐỐI VỚI THANH THIẾU NIÊN PHẠM PHÁP TẠI
TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG SỐ 4 - TỈNH ĐỒNG NAI
2.1 Một số nét cơ bản trong công tác quản lý giáo dục học sinh trường Giáo
dưỡng số 4 – tỉnh Đồng Nai
2.1.1 Đặc điểm tình hình chung
Trường Giáo dưỡng số 4 - Cục V26 - Bộ Công an, tiền thân là Trường phổ
thông công nông nghiệp Xuân An, được thành lập ngày 28/6/1977 Theo quyết định
số 15/QĐ-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) đóng tại xã An phước
- Long thành - Đồng Nai. Trường có nhiệm vụ "Quản lý, giáo dục đạo đức, giáo dục
pháp luật, dạy văn hóa, giáo dục hướng nghiệp dạy nghề và tổ chức lao động phù
hợp với từng lứa tuổi nhằm giúp đỡ học sinh sửa chữa những vi phạm của mình,
phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ để trở thành những công dân lương thiện
có ích cho xã hội".
2.1.2 Đối tượng đưa vào trường Giáo dưỡng (TGD)
Đối tượng học sinh được đưa vào TGD được thực hiện theo Điều 2 Nghị định
của Chính phủ số 33/ CP ngày 14/4/1997:
Đưa vào TGD là biện pháp xử lý hành chính do Chủ tịch ủy ban nhân dân
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) quyết định đối với
người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào TGD
là từ sáu tháng đến hai năm.
Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào TGD bao gồm:
+ Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một
tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật hình sự.
+ Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một
tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng quy định tại Bộ luật hình sự mà
trước đó đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng
biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định.
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp vặt,
lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng mà trước đó đã áp dụng biện
pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng
không có nơi cư trú nhất định.
2.1.3 Công tác tổ chức hành chính
- Tổng số cán bộ, giáo viên, công nhân viên trường là 145
- Cơ cấu nhân lực: Ban giám hiệu 3 người, đội tham mưu tổng hợp 5 người, đội
giảng dạy văn hóa 31 người, đội giáo viên chủ nhiệm 27 người, đội lao động hướng
nghiệp và dạy nghề 10 người, đội giáo vụ 14 người, đội hậu cần 17 người, y tế 4
người, trung đội cảnh sát bảo vệ 37 người.
- Trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ: Đại học 34 người, trung cấp 77
người, chưa qua đào tạo 4 người, nghĩa vụ quân sự 25 người.
2.1.4 Công tác tiếp nhân và quản lý học sinh TGD K
Công tác tiếp nhận.
Học sinh được Công an các Quận, huyện, thị đưa đến bộ phận Hồ sơ tiếp nhận
đối tượng theo quy định tại điều 5,6,7,8 Nghị định số 52/2001/NĐ-CP ngày
23/8/2001, điều 18 Nghị định 142/2003 NĐ-CP ngày 24/11/2002 của Chính phủ, các
văn bản hướng dẫn của Bộ Công an và Cục V26.
Quản lý giáo dục học sinh mới vào trường:
- Học sinh mới vào trường được bố trí thành một đội riêng (gọi là đội học sinh
mới) để theo dõi, quản lý giáo dục do một giáo viên có trình độ, năng lực và kinh
nghiệm phụ trách.
- Tùy tình hình học sinh vào trường mà nhà trường sẽ bố trí thời gian và số
lượng đội học sinh mới phù hợp, số lượng có thể từ 20 đến 40 em, số thời gian ở đội
mới có thể từ 25 đến 45 ngày.
- Đội học sinh mới được học tập, huấn luyện theo chương trình riêng.
- Học nội quy TGD và những quy định của nhà trường về nề nếp sống, chế độ
sinh hoạt, trật tự vệ sinh, trật tự nội vụ và tập làm quen với cuộc sống, nề nếp, sinh
hoạt, học tập, rèn luyện ở trường.
- Tập đội ngũ, tập các bài tập thể dục, tập chào hỏi, tập các bài hát bắt buộc và
các bài hát truyền thống của TGD, tập gấp chăn, màn, quần áo...
- Giáo viên chủ nhiệm đội mới và tổ tư vấn gặp gỡ từng em một để làm công tác
tư vấn và gặp gỡ, động viên, giáo dục đồng thời nắm những diễn biến tư tưởng, tâm
tư nguyện vọng để có kế hoạch giáo dục tiếp theo. Những học sinh thuộc nhóm có
nguy cơ lây nhiễm cao (nghiện ma túy, mại dâm...) thì tổ chức xét nghiệm máu để
biết và bố trí vào các đội phù hợp với yêu cầu phòng chữa bệnh và quản lý giáo dục.
- Tổ chức cho học sinh viết bản đăng ký rèn luyện, đề xuất nguyện vọng, tự khai
lý lịch, quá trình hoạt động của bản thân, khai giác, tố cáo tội phạm có hành vi vi
phạm pháp luật ở ngoài xã hội mà học sinh biết.
- Tổ chức học Chương 1 "Làm quen với cuộc sống ở trường" của chương trình
giáo dục công dân, kết hợp cho tham quan phòng truyền thống của nhà trường và một
số đội học sinh mẫu.
- Tổ chức cho học sinh được làm quen với một số công việc lao động đơn giản
như: Nhổ cỏ, làm vệ sinh...
- Phân loại đề xuất quyết định phân bổ học sinh về các đội phù hợp (căn cứ vào
tuổi, sức khỏe, tính chất, mức độ vi phạm, trình độ học vấn và kết quả học tập, rèn
luyện của học sinh trong thời gian đầu để phân bổ phù hợp).
♦ Công tác tổ chức, quản lý đội học sinh:
- Tính đến ngày 31/3/2006 TGD số 4 đang quản lý giáo dục 1253 học sinh (27
nữ) được tổ chức biên chế thành 21 đội (trong đó có một đội học sinh nữ) bình quân
mỗi đội trên 60 em.
- Mỗi đội học sinh do 1 giáo viên chủ nhiệm trực tiếp quản lý, giáo dục và tổ
chức lao động, hướng nghiệp dạy nghề phù hợp với đôi tượng theo quy định của pháp
luật.
- Trong tập thể đội học sinh được chia thành 3 đến 4 phân tổ, môi phân tổ có từ
10 đến 15 học sinh, được bố trí vị trí ngủ, vị trí lao động theo từng phân tổ, mỗi phân
tổ có một phân tổ trưởng, một phân tổ phó chịu trách nhiệm quản lý điều hành. Mỗi
tập thể đội có BCH đội gồm 3 em, một đội trưởng và 2 đội phó, có nhiệm vụ giúp
giáo viên chủ nhiệm trong việc quản lý, điều hành đội trong mọi hoạt động quản lý
giáo dục. BCH đội do đại hội đội học sinh bầu ra mỗi năm một nhiệm kỳ đại hội
(BCH đội có tiêu chuẩn đảm bảo và có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy
định).
- Đối với tập thể học sinh toàn trường có ban tự quản học sinh, có từ 20 đến 25
học sinh, được đại hội đại biểu học sinh bình bầu qua các kỳ đại hội mỗi năm 1 lần có
tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định.
2.1.5 Công tác giáo dục học sinh
-Các bộ phận giáo vụ, giáo viên văn hóa, giáo viên chủ nhiệm có nhiệm vụ tổ
chức tuyên truyền các chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước... để học sinh
hiểu rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong quá trình học tập và rèn luyện tại
trường.
-Bộ phận thi đua thực hiện công tác thi đưa khen thưởng, tất cả các phong trào
thi đua đều được sơ kết, trao giải thưởng.
-Tổ chức giáo dục chuyên đề, thi tìm hiểu, tư vấn, gặp gỡ học sinh, các hoạt
động vui chơi, giải trí, thể dục thể thao, văn nghệ nhằm tạo ra không khí vui tươi lành
mạnh giúp học sinh an tâm ở lại trường học tập, rèn luyện.
2.1.6 Công tác giảng dạy văn hóa
-Việc tổ chức giảng dạy văn hóa cho học sinh được tổ chức theo chương trình
của Bộ giáo dục đào tạo, những học sinh chưa phổ cập tiểu học phải học văn hóa là
yêu cầu bắt buộc, đối với những học sinh học chương trình phổ thông cơ sở hoặc có
thể học cao hơn thì tùy điều kiện của trường mà tố chức học cho phù hợp.
-Trường tổ chức dạy văn hóa từ lớp 1 đến lớp 9, trong đó khối phổ cập từ 12 đến
14 lớp, khối phổ thông cơ sở từ 7 đến 9 lớp.
-Các buổi lên lớp học sinh phải xếp hàng theo tập thể đội, mỗi đội một hàng dọc
đi đều về khu văn hóa sau đó tỏa đều về các lớp.
-Khi vào lớp đội trưởng tiến hành điểm danh sau đó báo cáo giáo viên trực ban
và giáo viên chủ nhiệm lớp trước khi vào học.
-Buổi tối các đội học sinh tổ chức ôn bài từ 7h đến 8h30 có sự giám sát của giáo
viên văn hóa, giáo viên chủ nhiệm đội và tiểu ban học tập.
-Hàng tháng tổ chức kiểm tra để lấy điểm xếp loại thi đua tháng cho học sinh.
-Ngoài việc học tập theo chương trình của Bộ thì học sinh còn phải học môn
giáo dục công dân và sức khỏe sinh sản, chương trình dành riêng cho hệ TGD.
2.1.7 Lao đông hướng nghiệp dạy nghề
-Đây là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình quản lý giáo dục học sinh. Hoạt
động hướng nghiệp được thực hiện thông qua các nội dung giảng dạy tại các lớp học,
thông qua việc thực hành kỹ thuật công nghiệp, nông nghiệp.
-Hoạt động lao động, hướng nghiệp được tổ chức trong nhà trường:
+ Trồng trọt: Trồng rừng, cây ăn trái, cây nông nghiệp, rau xanh...
+ Chăn nuôi: Nuôi bò thịt, bò sữa, heo, gà...
+ Lao động thủ công nghiệp như cắt, tách hạt điều, sấy cá da bò, đóng gói các
dụng cụ nilon, mây tre đan xuất khẩu...
Việc tổ chức dạy nghề ở trường được thực hiện trên cơ sở "Trung tâm dạy nghề
và giải quyết việc làm " do Bộ Công an quyết định.
-Nhà trường tổ chức dạy 4 nghề cho học sinh như: Sữa chữa xe gắn máy, tiện
công nghiệp, uốn sấy tóc, và cắt may quần áo.
-Hiện nay thì số học sinh theo học các nghề là: Sữa chữa xe gắn máy 18 học
sinh, tiện công nghiệp 11 học sinh, uốn sấy tóc 18 học sinh và cắt may quần áo là 24
học sinh.
2.1.8 Tố chức quản lý, giáo dục học sinh chuẩn bị ra trường
Nhà trường căn cứ vào số lượng học sinh, tình hình thực tế mà tổ chức đội học
sinh chuẩn bị ra trường phù hợp với từng thời điếm.
-Học sinh khi sắp ra trường được xắp xếp ở trong đội chuẩn bị ra trường 7 đến
10 ngày. số lượng học sinh chuẩn bị ra trường từ 15- 40 học sinh. Học sinh chuẩn bị
ra trường đều được học chương VUI chương trình giáo dục công dân (Nội dung trở
lại đời thường). Nếu học sinh đang học dở chương trình thì tiếp tục học văn hóa, giáo
dục sức khỏe sinh sản. Đồng thời học sinh phải viết bài thu hoạch kết quả học tập, rèn
luyện ở trường, nêu cảm tưởng, đề xuất, kiến nghị cũng như phản ánh những thông
tin, tình hình có liên quan đến công tác quản lý, giáo dục, chăm sóc học sinh tại
trường, sau đó thì viết cam kết không vi phạm pháp luật sau khi ra trường. Bên cạnh
đó học sinh còn được tư vấn, giải đáp những thắc mắc, tư vấn những vấn đề có liên
quan đến việc tìm kiếm việc làm sau khi ra trường. Những học sinh gặp khó khăn
được hỗ trợ kinh phí, phương tiện, các dụng cụ phục vụ sinh hoạt, lao động... Sau đó
thì giáo viên nhận xét thái độ học tập, rèn luyện của học sinh. Nhà trường tổ chức
thông báo cho địa phương và gia đình biết đồng thời làm các thủ tục liên quan giúp
cho học sinh ra trường.
2.2. Thực trạng sử dung các phương pháp giáo dục tại trường Giáo dưỡng số4 -
tỉnh Đồng Nai
2.2.1 Một số nét về mẫu nghiên cứu
Sử dụng phiếu câu hỏi chúng tôi thu được một số kết quả như sau:
-Số phiếu phát ra cho giáo viên: 58
-Số phiếu thu vào xử lý: 54
-Số phiếu phát ra cho học sinh: 290
-Số phiếu thu vào xử lý: 259
Bảng 1: Đặc điểm giáo viên được điều tra
Đặc điểm giáo viên N %
Giới tính:
-Nam 32 59.3
-Nữ 22 40.7
Chuyên môn:
-Chủ nhiệm 21 38.9
-Văn hóa 21 38.9
-Dạy nghề 8 14.8
-Trực ban 4 7.4
Thâm niên:
-1-5 năm 11 20.4
-5 - 10 năm 13 24.1
-10- 15 năm 6 11.1
-Trên 15 năm 24 44.4
Trình đô:
-Trung cấp 29 53.7
-Cao đẳng 14 25.9
-Đại hoc 11 20.4
Bảng 2: Đặc điểm học sinh được điều tra.
Đặc điểm học sinh % N
Giới tính
-Nam 237 91.5
-Nữ 22 8.5
Tuổi
-12- 14 35 13.5
-15-18 4 224 86.5
Cấp học
-Cấp 1 98 37.9
-Cấp 2 150 57.9
-Cấp 3 11 4.2
2.2.2 Kết quả nghiên cứu về thực trạng sử dung phương pháp giáo dục:
2.2.2.1 Mức đô sử dụng phương pháp giáo dục:
Báng 3: Mức độ sử dụng phương pháp giáo dục
Mức độ
Nội dung CBG IK TT
2 TX RTX XP
Sig
phương pháp N N N N N df
% % % % %
l.Trò chuyện 0 3 36 15 31.000 0.000 0
riêng với các em 0 5.6 66.7 27.7 2 0
2.Thảo luân với 13 28 9 23.778 0.000 4 0
các em 7.4 24.1 51.9 16.6 3 0
3.Thầy cô nêu 3 30 21 21.000 0.000 0 0
gương 5.6 55 6 38.8 2 0 0
4.Giao công việc 0 7 27 15 22.148 0.000 5
cho các em 0 9.3 13.0 50.0 27.7 3
5.Luyện tập thói 0 1 6 36 11 53.704 0.000
quen 1.9 11.1 66.7 20.3 3 0
6.Khen thưởng 16 29 9 11.444 0.003 0 0
0 các em 29.6 53.7 16.7 2 0
7.Trách phạt các 0 10 20 17 7 8.074 0.045
em 0 18.5 37.0 31.5 13.0 3
8.Phương pháp 27 17 8 2 0 26.444 0.000
bùng nổ 50.0 31.5 14.8 3.7 0 3
16 15 20 3 0 9.556 0.023
9.Phương pháp tác
động song song 29.6 27.8 27.4 22.2 0 3
10.Tổ chức các 1 17 29 7 33.407 0.000 0
1.9 31.5 53.7 13.0 3 0
hoạt động tập thể
Kiểm nghiệm Chi - Square với mức ý nghĩa quan sát (sig
phương pháp cho thấy có sự khác biệt về mức độ sử dụng các phương pháp giáo dục của giáo viên. Các phương pháp được sử dụng với tỉ lệ cao nhất là phương pháp trò chuyện riêng với học sinh (TX,RTX 94.4%), phương pháp nêu gương (TX, RTX 94.4%), phương pháp giao việc (TX, RTX 77.7%), phương pháp luyện tập thói quen (TX,RTX 87%). Các phương pháp được sử dụng với tỉ lệ thấp hơn là phương pháp thảo luận (TX,RTX 68.5%), phương pháp khen thưởng (TX,RTX 70.4%), tổ chức các hoạt động tập thể (TX, RTX 66.7%). Các phương pháp được sử dụng với tỉ lệ thấp nhất là phương pháp trách phạt (TX, RTX 44.5%), phương pháp tác động song song (TX 27.4), phương pháp bùng nổ (TX 3.7%). Căn cứ vào kết quả, chúng tôi có những nhận xét như sau: -Trong việc giáo dục học sinh tại trường, phần lớn các giáo viên đã sử dụng nhiều phương pháp ở các mức độ khác nhau. -Trong quá trình giáo dục, đặc biệt là đối với việc giáo dục học sinh phạm pháp thì điều quan trọng là giáo viên phải gần gũi, phải hiểu được tâm lý học sinh. Phải hình thành cho các em những hành vi, thói quen đúng đắn. Do đó mà các phương pháp trò chuyện riêng, phương pháp nêu gương phương pháp giao việc, phương pháp rèn luyện thói quen được sử dụng nhiều nhất. -Một số các phương pháp đặc thù trong quá trình giáo dục lại như phương pháp bùng nổ, phương pháp tác động song song chưa được quan tâm sử dụng. 2.2.2.2.1 Phương pháp trò chuyện riêng Qua kiểm nghiệm Chi - square cho thấy, với mức ý nghĩa quan sát ở các nội dung (sig
Khi học sinh vi phạm nội quy nhà trường được giáo viên trò chuyện có mức độ cao nhất (TX, RTX 79.6%). xếp thứ hai là khi học sinh gặp chuyện buồn (TX, RTX 75.9%). Tiếp đó là khi học sinh mới đến trường (TX, RTX 61.1%). Các nội dung khác được trò chuyện ít hơn. Khi trò chuyện với chúng tôi, giáo viên cho rằng việc trò chuyện giữa giáo viên và học sinh phần lớn là do giáo viên chủ động. Do đó mà yếu tô Học sinh tìm đến thầy cô để hỏi han, chia sẻ được sử dụng ở mức độ thấp nhất (TT 51.9%). Báng 5: Đánh giá của giáo viên về mức độ sử dụng và thái độ của học sinh ở phương pháp trò chuyện ♦ Mức độ sử dụng của giáo viên và thái độ của học sinh trong phương Với mức ý nghĩa quan sát (sig
khác biệt ý nghĩa giữa các mức độ lựa chọn của giáo viên. - 98.1% giáo viên lắng nghe ý kiến của học sinh ở mức độ TX, RTX, cách thức này được xếp ở vị trí cao nhất. Giáo viên cho rằng khi trò chuyện với học sinh điều quan trọng là giáo viên phải biết lắng nghe những suy nghĩ của học sinh, thông qua việc giáo viên gợi mở, đặt câu hỏi để học sinh trình bày. Việc lắng nghe để giáo viên có thể hiểu rõ hơn những suy nghĩ, tâm tư, những nguyện vọng, những quan điểm sống của học sinh. Qua đó, giúp giáo viên có thể định hướng tốt trong việc đưa ra những biện pháp tác động phù hợp đến nhận thức, tình cảm của học sinh cũng như để kịp thời điều chỉnh những suy nghĩ, thái độ và những hành vi lệch lạc của các em. - 85.2% giáo viên đánh giá học sinh RHL, HL khi giáo viên sử dụng cách thức lắng nghe. Đây là cách thức được đánh giá ở mức độ HL cao nhất. Khi trò chuyện với chúng tôi, các giáo viên cho rằng học sinh rất thích thú khi được lắng nghe, bởi vì điều đó giúp học sinh tự bộc lộ được mình. - 90.1% giáo viên quan sát thái độ của học sinh ở mức độ TX, RTX. Cách thức này được xếp ở vị trí thứ hai. Giáo viên cho rằng việc quan sát thái độ học sinh giúp giáo viên nắm được diễn biến tâm lý, cũng như những suy nghĩ đôi khi vì e ngại mà học sinh không dám nói ra. Qua đó giúp giáo viên có thể hiểu học sinh sâu sắc hơn. -81.5% giáo viên xác nhận học sinh HL, RHL khi thầy cô quan sát thái độ của các em (xếp vị trí thứ hai). -50% giáo viên sử dụng cách thức không nói nhiều chỉ đặt câu hỏi giúp học sinh bộc lộ suy nghĩ với mức độ TX, RTX. Cách thức này được sử dụng kết hợp với cách thức lắng nghe. Tuy nhiên, bên cạnh đó có đèn 46.3% giáo viên chỉ sử dụng cách thức này ở mức độ TT, 3.7% ở mức độ IK, yếu tố này được xếp ở vị trí thứ ba. - 61.1% giáo viên đánh giá là học sinh RHL, HL khi giáo viên không nói nhiều chỉ đặt câu hỏi để cấc em bộc lộ suy nghĩ. Tuy nhiên, bên cạnh đó có đến 37% giáo viên tỏ ra PV về thái độ của học sinh . Giải thích điều này, giáo viên cho rằng học sinh ở trường có tâm lý rất phức tạp. Các em thường có những nhận thức, những suy nghĩ sai lầm. Đôi khi việc đặt câu hỏi của giáo viên lại khiến cho học sinh nghĩ đó là sự "tra khảo", do đó đôi khi các em còn e dè trong việc trả lời các câu hỏi của thầy cô - 33.3% giáo viên IK Làm cho học sinh phải chấp nhận những điều thầy cô nói, 9.3% ở mức độ CBG. Giáo viên cho rằng khi trò chuyện với học sinh điều quan trọng là phải tạo ra sự cởi mở, thân thiện và bình đẳng. Như vậy sẽ làm cho học sinh tin tưởng và kính trọng thầy cô hơn. Việc làm cho học sinh phải chấp nhận những ý kiến của mình (dù là đúng) thì vẫn mang tính chất uy quyền, áp đặt, thiếu tôn trọng học sinh. Thầy cô giảng giải, phân tích, nhằm hướng đến việc giúp học sinh tự ý thức, tự thay đổi. Tuy nhiên vẫn có đến 31.5% giáo viên sử dụng cách thức này ở mức độ TX, RTX, 25.9% ở mức độ TT. Đây là tỉ lệ khá cao. Điều này được giáo viên cho rằng vì học sinh ở trường là đối tượng phạm pháp. Do đó, cần phải đưa các em vào trong khuôn phép, giúp các em nhận ra đúng sai, để từ đó giúp các em thay đổi. - 48.1% giáo viên đánh giá học sinh RKHL, KHL khi giáo viên sử dụng cách thức Làm cho các em phải chấp nhận những điều thầy cô nói. Giáo viên cho rằng, dù là học sinh bình thường hay học sinh phạm pháp thì các em vẫn không chấp nhận việc thầy cô áp đặt, buộc các em phải chấp nhận ý kiến của thầy cô. Tuy nhiên, có đến 31.5% giáo viên tỏ ra PV và 20.4% giáo viên đánh giá học sinh RHL, HL với cách thức này. Giải thích điều này thầy cô cho rằng phần lớn học sinh thường rất "cứng đầu", do đó giáo viên phải giảng giải và phân tích rất nhiều cho các em hiểu. Khi được giảng giải và phân tích những điều đúng sai thì học sinh chấp nhận và ngoan ngoãn nghe theo. Nhìn chung thì phần lớn giáo viên đã sử dụng những cách thức trò chuyện phù hợp, không nói nhiều mà chỉ đặt câu hỏi để gợi mở các em trả lời, lắng nghe và quan sát thái độ của các em, giúp các em thoải mái bộc lộ tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của bản thân. Bên cạnh đó, trong cách thức trò chuyện vẫn còn một ít hạn chế, đó là: trò chuyện còn hướng đến việc làm cho học sinh phải chấp nhận ý kiến của giáo viên. 2.2.2.2.2 Phương pháp thảo luân Báng 6: Nội dung khi sử dụng phương pháp thảo luận 3 24 27 l.Cuộc sống sinh 19.000 0.000 0 0 2 hoạt hằng ngày. 5.6 44.4 50.0 2 0 0 2.Phương pháp học 7 38 8 61.407 0.000 0 1 6 tập. 1.9 13.0 70.4 14.8 3 0 3.Sinh hoạt giá trị 1 17 29 1 33.407 0.000 0 8 1.9 31.5 53.7 13.0 3 0 4.Pháp luật 2 12 28 12 25.704 0.000 0 7 3.7 22.2 51.9 22.2 3 0 5.Các tệ nạn xã hội 1 7 32 14 40.407 0.000 0 mà lứa tuổi các em 1.9 13.0 59.3 25.9 0 6 hay mắc phải 6.Các phong trào 36 14 29.778 0.000 0 0 4 3 thi đua ở trường 7.4 66.7 25.9 2 0 0 7.Bổn phận học 2 34 18 28.444 0.000 0 0 sinh trong nhà 3.7 63.0 33.3 2 0 0 1 trường 8.Bổn phận con cái 40 9 71.778 0.000 0 1 4 trong gia đình 1.9 7.4 74.1 16.7 3 0 4 9.Tình ban - tình 1 22 29 2 44.519 0.000 0 yêu 1.9 40.7 53.7 3.7 3 0 9 10.Con đường 6 40 7 70.889 0.000 1 0 0 tương lai của các 1.9 11.1 74.1 13.0 3 5 em ♦ Về nội dung được thảo luận: Qua kết quả kiêm nghiệm Chi - square cho thấy, với các mức ý nghĩa quan sát (sig
Những nội dung được sử dụng nhiều để thảo luận là những vấn đề về bổn phận của học sinh trong nhà trường (TX, RTX 96.3%), cuộc sống sinh hoạt hằng ngày (TX, RTX 94.4%), về các phong trào thi đua (TX,RTX 92.6%), bển phận con cái trong gia đình (TX,RTX 90.8%), con đường tương lai của các em (TX,RTX 87.7%) về các tệ nạn xã hội (TX, RTX 85.2%). Những nội dung ít được thảo luận hơn là những vấn đề về pháp luật (TX, RTX 74.1%), về tình bạn - tình yêu (TX, RTX 57.4%). Báng 7: Đánh giá của giáo viên về mức độ sử dụng, về thái độ của học sinh ở phương pháp thảo luận 17 4 36 2 1.9 7.4 42.6 31 5 16.7 4 3.7 14.8 66.7 14.8 3 1.Trình bày
theo
tổ 0 15 30 0.000
52.852 31 12 0.000
34.148 4 2 3 9 2 0 7.4 27.8 55.6 5.6 4 3.7 16.7 57.4 22.2 3 2.Cá nhân
chuẩn
bị và trình bày 3.7 0 0 0 5 20 29 0.000
16.333 6 0 1 38 9 0.000
61.704 0 0 3.Thầy cô
phân
tích theo kinh 0 37 53.7 9.3 2 1.9 11.1 70.4 16.7 3 1 1 23 25 4 0.000
54.519 4 1 0 42 7 0.000
81.556 0 1.9 42.6 46.3 7.4 1.9 4 1.9 7.4 77.8 13.0 3 nghiệm
4.Mời người
có
kinh nghiệm
trao
đổi với các 0.000 0.000 ♦ Về mức đô sử dụng và thái độ của học sinh trong phương pháp thảo luận: - 48.2% giáo viên TX,RTX Trình bày theo tổ. Các thầy cô cho rằng việc cho học sinh thảo luận theo nhóm, theo tổ sẽ giúp các em phát triển tinh thần hoạt động tập thể, giúp cho các em biết cách làm việc nhóm cũng như giúp cho các em tiếp nhận được nhiều cách suy nghĩ khác nhau từ phía bè bạn. - 81.5% giáo viên đánh giá học sinh RHL, HL với cách thức trình bày theo tổ. Các thầy cô cho rằng qua cách thức làm việc nhóm học sinh không những học hỏi được nhiều điều từ phía bạn bè mà còn giúp các em rèn luyện và phát huy được tinh thần trách nhiệm. Tuy nhiên, 14.8% giáo viên đánh giá ở mức độ PV, 3.7% đánh giá ở mức độ KHL. Giáo viên cho rằng phần lớn học sinh tích được độc lập hơn. Bên cạnh đó thì có ít học sinh có khả năng điều khiển việc thảo luận nhóm. Cách thức này đòi hỏi nhiều thời gian hơn so với các cách thức khác. - 61.2 % giáo viên sử dụng cách thức cá nhân chuẩn bị trước và trình bày ở mức độ TX, RTX. -79.6% giáo viên xác nhận học sinh RHL, HL đối với cách thức mà thầy cô đã sử dụng.Thầy cô cho rằng khi được trình bày trước tập thể về một vấn đề nhỏ nào đó, tuy cách thể hiện chưa được tốt lắm nhưng đã giúp học sinh tích cực hơn, nhận thức sâu sắc hơn về những vấn đề. Qua đó, giúp các em mạnh dạn, tự tin, năng động và cởi mở hơn. Tuy nhiên, có 14.8% giáo viên tỏ ra PV và 3.7% giáo viên cho rằng học sinh KHL khi giáo viên sử dụng cách thức này. Bởi vì theo các thầy cô, học sinh ở trường phần lớn đều có trình độ thấp, do đó để các em chuẩn bị và trình bày sẽ gặp nhiều khó khăn, sợ các em "bị quá sức". - 63% giáo viên TX, RTX phân tích theo kinh nghiệm của bản thân. Đây là cách thức được các giáo viên sử dụng nhiều nhất. Lí giải điều này các thầy cô cho rằng, học sinh ở trường phần lổn có trình độ văn hóa thấp, có nhiều em còn chưa biết chữ. Do đó, khi thảo luận phần lớn giáo viên phải phân tích nhiều. - 87.1% giáo viên đánh giá khi thầy cô phân tích theo kinh nghiệm được học sinh HL, RHL. Học sinh thường chăm chú lắng nghe, đôi lúc lại phát biểu ý kiến. Việc phân tích đó giúp các em nhận thức được nhiều vấn đề mà trước đây các em không có điều kiện để nghe. - 53.7% giáo viên TX, RTX mời người có kình nghiệm trao đối với các em. Mức độ TT được sử dụng là 42.6%. Lý giải về điều này thầy cô cho rằng, giáo viên ở trường là những người trực tiếp giáo dục các em, mọi vấn đề phần lớn đều do giáo viên đảm nhiệm. Bên cạnh đó, giáo viên cũng ít có điều kiện mời những người có kinh nghiệm về trao đổi với các em. -91.8% giáo viên đánh giá là học sinh HL, RHL khi Mời người có kinh nghiệm trao đổi với các em. Đây là cách thức được đánh giá có tỉ lệ HL, RHL cao nhất. Thầy cô nhận xét: do được trang bị tốt về những kiến thức chuyên môn, cũng như là những kinh nghiệm trong việc thảo luận với học sinh nên việc mời người có kinh nghiệm (báo cáo viên) sẽ giúp học sinh thu nhận được nhiều thông tin bổ ích. Bên cạnh đó, thì học sinh cũng phát huy được tính tích cực hơn trong quá trình thảo luận. Bên cạnh việc giáo viên phân tích theo kinh nghiệm chiếm tỉ lệ cao nhất thì những cách thức phát huy được tính tích cực của học sinh như: Trình bày theo tổ, cá nhân chuẩn bị và trình bày, mời người có kinh nghiệm trao đổi với các em cũng được giáo viên quan tâm sử dụng. Nhìn chung thì những cách thức thảo luận của giáo viên đã được sử dụng phù hợp. 2.2.2.2.3 Phương pháp nêu gương: Bảng 8: Những nội dung được giáo viên nêu gương: Qua kiểm nghiệm Chi - square, với mức ý nghĩa quan sát (sig
nội dung cho thấy có sự khác biệt cao ở các mức độ lựa chọn. -Sự giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, rèn luyện là nội dung được các giáo viên quan tâm sử dụng nhiều nhất (TX, RTX 85.2%). Sau đó là những tấm gương về tinh thần phê và tự phê (TX, RTX 79.6%), gương về những học sinh nghèo - vượt khó - học giỏi - rèn luyện tốt (TX, RTX 75.9%). Các giáo viên cho rằng việc giáo dục học sinh tại trường điều quan trọng hình thành ở các em tinh thần đoàn kết, biết yêu hương và giúp đỡ mọi người. Đồng thời phải giáo dục cho các em biết tự nhận thức, tự phê phán những hành vi sai trái của bản thân, có tinh thần và có ý chí vươn lên, vượt qua những mặc cảm của bản thân để trở thành một người có ích. Bảng 9: Đánh giá của giáo viên về mức độ sử dụng, thái độ của học sinh ở phương pháp nêu gương ♦ Về mức độ sử dụng và thái độ của học sinh trong phương pháp nêu gương -87% giáo viên xác nhận Nêu gương trên loa phát thanh là cách thức được sử dụng TX, RTX . Mỗi tuần 2 lần, những tấm gương sáng được chọn lọc và phát trên loa phát thanh của trường. -88.9% giáo viên xác nhận học sinh HL, RHL với cách thức nêu gương trên loa. -79.7% giáo viên lựa chọn cách thức thầy cô làm gương thông qua những hành vi, cử chỉ, cách sống hằng ngày ở mức độ TX, RTX .Thầy cô xác nhận rằng để giáo dục học sinh trước hết bản thân người thầy phải là tấm gương sáng. Cho nên có đến yếu tố này được xếp thứ hai. Bên cạnh đó thì việc nêu gương trong các buổi sinh hoạt toàn trường, nêu gương qua các buổi sinh hoạt đội, lớp cũng được sử dụng TX, 2 yếu tố này được xếp thứ 3 và thứ 4. -90.7% giáo viên xác nhận học sinh HL, RHL với cách thức thầy cô làm gương -64.8% Mời những học sinh cũ thành đạt về thăm trường là cách thức được sử dụng ở mức độ TT yếu tố này được xếp thứ 5. -87% giáo viên xác nhận học sinh HL, RHL với cách thức mời học sinh cũ về trường . -46.3% giáo viên lựa chọn cách thức Nêu gương qua phim ảnh, báo chí ở mức độ TT. Bên cạnh đó thì 22.2 % giáo viên sử dụng ở mức độ TX, RTX. Thầy cô cho rằng đây là những cách thức hay. Tuy nhiên, do không gắn liền với các hoạt động của trường nên cũng ít được sử dụng hơn so với các cách thức nêu gương khác. -83.4% giáo viên xác nhận học sinh HL, RHL với cách thức nêu gương qua phim ảnh, báo chí. Nhìn chung thì giáo viên ở trường đã sử dụng nhiều cách thức khác nhau, phù hợp để nêu gương cho học sinh. Những cách thức nêu gương thường gắn liền với các hoạt động TX ở trường như: hoạt động phát thanh, hoạt động sinh hoạt toàn trường vào thứ hai hàng tuần, hoạt động sinh hoạt đội - sinh hoạt lớp. Tuy nhiên thì những cách thức nêu gương đòi hỏi nhiều sự đầu tư thì chưa được sử dụng TX. Phần lớn giáo viên đánh giá thái độ của học sinh là RHL, HL khi giáo viên sử dụng các cách thức nêu gương. 2.2.2.2.4 Phương pháp giao việc: Báng 10: Nội dung của phương pháp giao việc 1 .Giữ gìn nề nếp, nội 9 12 0.429 0.513 0 0 0 quy trong đội. 42.9 57.4 1 0 0 0 2.Làm vệ sinh trong 9 10 5.429 0.066 0 0 2 đội 9.5 42.9 47.6 2 0 0 1 15 5 14.857 0.01 0 0 4.8 71.4 23.8 2 0 0 những bạn gặp khó khăn
trong đội 4.Bảo quản các đồ 15 6 3.857 0.05 0 0 0 dùng 71.4 28.6 1 0 0 0 5.Lao động sản xuất 13 7 10.286 0.006 0 0 1 4.8 61.9 33.3 2 0 0 1 .Học bài, làm bài 6 15 3.857 0.05 0 0 0 28.6 71.4 1 0 0 0 2.Giữ gìn nề nếp, nội 7 14 2.333 0.127 0 0 0 quy 0 0 0 33.3 66.7 1 3.Làm vệ sinh trong lớp 0 0 0 0 7 33.3 0.006 1
4.8 13
61.9 10.286
2 4.Giúp đỡ những bạn 4 16 1 18.000 0.000 0 0 gặp khó khăn trong 19.0 76.2 4.8 0 0 2 học tập 5.Bảo quản cơ sở vật 9 12 0.429 0.513 0 0 0 chất trong lớp 42.9 57.1 1 0 0 0 0 0 0 0 0 0 3 37.5 0.500 1 0.480 l.Theo dõi viêc thức
hành nghề của các ban 5
62.5 2.Giữ gìn nề nếp, nội 7 1 4.5 0.34 0 0 0 87.5 12.5 1 0 0 0 quy 4.5 0.034 0 0 1 7 0 3.Làm vê sinh khu học nghề 12.5 87.5 0 0 1 0 0 0 0 8 0 4.Học sinh cũ giúp đỡ 0 0 0 100 0 0 0 0 8 0 Học sinh mới
5.Bảo quản cơ sở vật 0 0 0 100 0 chất khu học nghề 0 0 1 3 0 1.000 0.317 l.Theo dõi, giúp đỡ 0 0 1 0 25 75 học sinh mới vào
trường 0 0 0 2.Theo dõi việc thi 1 3 0.500 0.480 0 0 1 0 đua của đội 25 75 Qua kiểm nghiệm Chi - Square cho thấy ở các nội dung giao việc của giáo viên chủ nhiệm thì chỉ có nội dung tìm hiểu, giúp đỡ bạn khó khăn trong đội và hoạt động lao động sản xuất là có sự khác biệt ý nghĩa. Những nội dung này giáo viên giao việc cho học sinh RTX. Hoạt động lao động sản xuất là một trong những hoạt động chính của học sinh khi học tập, rèn luyện tại trường. Nội dung giao việc của giáo viên văn hóa: chỉ ở nội dung giữ gìn nề nếp, nội quy trong lớp và nội dung giúp đỡ những bạn gặp khó khăn trong học tập là có sự khác biệt ý nghĩa ở các mức độ lựa chọn. Cũng như giáo viên chủ nhiệm thì những nội dung này được giao cho học sinh ở mức độ TX. Giáo viên day nghề: Làm vệ sinh khu dạy nghề là nội dung có sự khác biệt ý nghĩa ở các mức độ lựa chọn. Nội dung này được sử dụng TX. Giáo viên trực ban: ở các nội dung giao việc không có sự khác biệt ý nghĩa ở các mức độ lựa chọn. Nhìn chung thì nội dung giao việc của giáo viên cho học sinh phần lớn là những nội dung về hoạt động lao động như: hoạt động sản xuất, lao động làm vệ sinh. Thầy cô cho rằng việc giáo dục ý thức lao động, là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình giáo dục học sinh, đặc biệt là đối với học sinh phạm pháp. Bên cạnh đó thì giáo viên cũng rất quan tâm đến việc giao cho học sinh những việc như: tìm hiểu và giúp đỡ những bạn khó khăn trong đội, lớp. Những công việc này khơi gợi ở học sinh tinh thần đoàn kết, yêu thương và giúp đỡ bạn bè. Báng 11: Đánh giá của giáo viên về mức độ sử dụng, thái độ của học sinh ở phương thức giao việc l.Đồng đều 4 8 34 8 42.296 2 10 39 3 67.037 0 0 cho từng cá 7.4 14.8 63.0 14.8 3 3.7 18.5 72.2 5.6 3 0 0 nhân 0.000 0.000 2.Giao việc 17 30 4 35.926 1 10 37 3 83.778 3 3 0 theo nhóm có 5.6 31.5 55.6 7.4 3 1.9 5.6 18.5 68.5 5.6 4 0 nhóm trưởng 0.000 0.000 3.Giao việc 10 37 4 56.667 1 11 33 7 63.037 2 3 0 theo lứa tuổi, 5.6 18.5 68.5 7.4 3 1.9 3.7 20.4 61.1 13.0 4 0 khả năng 0.000 0.000 4.Chỉ giao cho 14 26 12 2 21.556 5 21 11 15 2 21.556 0 những em lớn, 0 25.9 48.1 22.2 3.7 3 9.3 38.9 20.4 27.8 3.7 4 có uy tín 0.000 0.000 81T-81T77.8% giáo viên TX, RTX giao việc Đồng đều cho từng cá nhân. Đây là cách thức được giáo viên sử dụng ở mức độ cao nhất. Mức độ TT 14.8%. Thầy cô cho rằng trong quá trình giáo dục để hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen tích cực thì trước hết giáo viên phải giao việc cho các em. Việc giao việc phải đảm bảo đồng đều cho mọi học sinh, không được thiên vị, trù dập. -77.8% giáo viên đánh giá học sinh RHL, HL với cách thức giáo viên giao việc đồng đều cho từng cá nhân. Giáo viên cho rằng học sinh khi nhận được những nhiệm vụ được giao thì rất vui vẻ và cố gắng hoàn thành những công việc được giao. Bên cạnh đó, có đến 18.5% giáo viên đánh giá ở mức độ PV, 3.7% ở mức độ KHL. Giáo viên xác định rằng tuy khi nhận công việc học sinh rất vui vẻ, nhưng trong quá trình thực hiện đôi khi học sinh cũng làm chưa đến nơi đến chốn, làm ảnh hưởng đến kết quả công việc. -75.9% giáo viên xác nhận TX, RTX phân công nhiệm vụ theo lứa tuổi, khả năng. Thầy cô cho rằng khi phân công nhiệm vụ phải căn cứ vào lứa tuổi, sức khỏe và đặc điểm tâm lý của từng cá nhân. Giao việc vừa sức thì mới giúp học sinh phát huy tính tích cực và phát triển năng lực ở học sinh. -74,1% giáo viên xác nhận học sinh RHL , HL với cách thức giao việc theo khả năng. Tuy nhiên thì có 20.4% giáo viên tỏ ra PV khi đánh giá thái độ của học sinh. -63% giáo viên cho rằng việc giao việc theo nhóm có nhóm trưởng cũng được sử dụng ở mức độ TX, RTX. Trò chuyện với chúng tôi, thầy cô xác nhận rằng trong các hoạt động lao động sản xuất thì kết quả phụ thuộc rất nhiều vào từng thành viên. Do dó, giao việc theo nhóm có tác dụng rất lớn trong việc phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Trên cơ sở đó giúp các em có đủ khả năng để tái hòa nhập vào các hoạt động lao động ở môi trường bên ngoài. - 74.1% giáo viên đánh giá học sinh HL, RHL khi làm việc theo nhóm -48.1% giáo viên đánh giá cách thức Chỉ giao việc cho những em lớn, có uy tín được sử dụng ở mức độ TT. Tuy nhiên, bên cạnh đó thì có đến 25.9% giáo viên xác nhận rằng đây là cách thức sử dụng TX, RTX. Theo các thầy cô với một số việc quan trọng thì những việc giao cho các em lớn, có uy tín thường sẽ thành công hơn, sẽ được các học sinh khác ủng hộ, giúp đỡ. Tuy nhiên, với cách giao việc như vậy sẽ không phát hiện ra được những học sinh khác cũng có năng lực. Điều này sẽ làm giảm đi tính tích cực hoạt động của một số học sinh trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường. - 48.2% xác nhận rằng học sinh RKHL, KHL khi giáo viên sử dụng cách thức Chỉ giao việc cho những học sinh lớn, có uy tín. Nhìn chung thì các giáo viên đã sử dụng nhiều cách thức phù hợp để giao việc cho học sinh như: giao việc theo lứa tuổi, khả năng, giao việc theo nhóm, giao việc đồng đều cho từng cá nhân. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số giáo viên chỉ giao việc chủ yếu cho những học sinh lớn, có uy tín. Đây là một hạn chế trong quá trình giao việc. 2.2.2.2.5 Phương pháp khen thưởng Báng 12: Nội dung của phương pháp khen thưởng 0.000 1
1.9 4
7.4 9
16.7 28
51.9 12
22.2 41.000
4 7 1.Lễ phép với thầy cô,
khách đến thăm
trường 0.000 2.Giúp đỡ các bạn gặp
khó khăn, tiến bộ 4
7.4 11
20.5 27
50.0 12
22.2 20.815
3 0
0 6 0.000 1
1.9 13
24.1 22
40.7 18
33.3 18.444
3 0
0 5 3.Nhát được của rơi
trả
lại người mất 0.000 1 4.Đấu tranh phê và tự
phê tốt 4
7.4 2
3.7 30
55.6 18
33.3 38.148
3 0
0 0.000 3 0
0 7
13.0 33
61.1 14
25.9 20.111
2 0
0 5.Hoàn thành nhiệm
vụ
được giao 0.001 0
0 6
11.1 29
53.7 19
35.2 14.778
2 0
0 1 6.Có thành tích trong
học tập, lao động, rèn
luyện 0.001 0
0 7
13 30
55.6 17
31.5 14.778
2 0
0 2 7.Đấu tranh tố giác
các việc làm sai trái
của bạn 8.Giao nộp các vật
cấm 0.009 4 0
0 0
0 8
14.8 26
48.1 20
37.0 9.333
2 ♦ Về nội dung khen thưởng: Hầu hết những nội dung khen thưởng đều được sử dụng ở mức độ TX, RTX (trên 70%). Thầy cô khen thưởng TX cho học sinh khi các em có thành tích cao trong học tập, lao động, rèn luyện (TX , RTX 88.9%) (xếp thứ 1), khi các em có tinh thần phê và tự phê tốt (TX , RTX 87.1%) (xếp thứ 2), hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao (TX , RTX 87%), giao nộp các vật cấm (TX, RTX 85.1%) (xếp thứ 3 và 4). Những nội dung được sử dụng ít hơn: nhặt được của rơi trả lại người mất, lễ phép với thầy cò (TX ,RTX 72.2%), biết giúp đỡ bạn bè trong những lúc khó khăn (TX, RTX 70.1%) (xếp thứ 6 và 7). Báng 13: Đánh giá của giáo viên về mức độ sử dụng phương pháp, thái độ của học sinh ở phương pháp khen thưởng ♦ Về mức độ sử dụng và thái độ của học sinh trong phương pháp khen thưởng Qua kiểm nghiệm Chi - Square, với mức ý nghĩa quan sát (sig
thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa các mức độ lựa chọn ở các cách thức. -92.6% giáo viên xác nhận cách thức biểu dương khen thưởng trước tập thể đội được sử dụng ở mức độ TX, RTX. Đây là cách thức được sử dụng nhiều nhất. Sinh hoạt lớp - đội là hoạt động thường xuyên ở trường. Trong những lần sinh hoạt thì bên cạnh việc đánh giá kết quả những hoạt động của đội, lớp diễn ra trong tuần, giáo viên còn đánh giá và khen thưởng đối với những thành viên có những việc làm tích cực. -88.9% giáo viên đánh giá học sinh HL, RHL khi được biểu dương trước tập thể đội. -88.9% giáo viên đánh giá cách thức Thể hiện thái độ đồng tình được sử dụng ở mức độ TX , RTX, cách thức này được xếp ở vị trí thức 2. 94.4% giáo viên đánh giá học sinh HL, RHL với cách thức mà thầy cô đã sử dụng. -85.2% giáo viên xác nhận sử dụng ở mức độ TX, RTX cách thức Biểu dương trên loa phát thanh. 96.3% giáo viên cho rằng học sinh HL, RHL khi được Biểu dương trên loa phát thanh. -81.5% giáo viên TX, RTX biểu dương trước toàn trường 96.3% giáo viên xác nhận RHL, HL với cách biểu dương này. -74.1 % giáo viên TX, RTX giảm thời gian ở lại trường cho học sinh. Và theo xác nhận của giáo viên một tỉ lệ rất cao (94.4% học sinh RHL, HL với cách thức khen thưởng này. Ngoài ra thì các cách thức như là cho 5 ngày phép về nhà, tặng giấy khen và thưởng tiền, cho đi tham quan được sử dụng ở mức độ thấp hơn. Nhìn chung thì giáo viên cho rằng học sinh hài lòng đối với những cách thức mà thầy cô khen thưởng. Học sinh hài lòng cao đối với những cách thức mang tính lâu dài như được về thăm gia đình, giảm thời hạn ở lại trường, còn ở những cách thức khác thì học sinh hài lòng ở mức độ thấp hơn. Kết quả cho thấy phần lớn giáo viên đã sử dụng phù hợp các cách thức khen thưởng. 2.2.2.2.6 Phương pháp trách phạt Bảng 14: Đánh giá của giáo viên về nội dung bị trách phạt ♦ Về nội dung trách phạt: -68.6% giáo viên cho rằng việc trách phạt được sử dụng TX, RTX nhất khi học sinh có tư tưởng và hành vi trốn trường. Trốn trường là hành vi vi phạm nặng đến nội quy của nhà trường. Hành vi này bị nghiêm cấm tuyệt đối khi học sinh đang học tập và rèn luyện tại trường. -63% giáo viên xác nhận rằng khi học sinh Đánh nhau gây mất đoàn kết và bị giáo viên quan tâm trách phạt mức độ trách phạt là TX, RTX. -64.8% giáo viên đánh giá việc học sinh lười học tập, lao động, rèn luyện thì bị trách phạt ở mức độ TX, RTX. Các nội dung như vô lễ với giáo viên, phá hoại tài sản nhà trường, không hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng bị trách phạt, tuy nhiên thì mức độ có ít hơn. Nhìn chung thì hầu như những hành vi vi phạm nội quy của nhà trường đều là những nội dung mà buộc thầy cô phải trách phạt. Trong hoạt động giáo dục tại trường thì việc thực hiện tốt những nội quy của nhà trường, việc đoàn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, việc tích cực học tập, lao động và rèn luyện là những nội dung quan trọng trong quá trình xây dựng lại nhân cách cho học sinh. -81.5% giáo viên đánh giá rằng Nhắc nhở nhẹ nhàng là cách thức được sử dụng TX, RTX, mức độ TT 14.8%. Nhận xét về vấn đề này, thầy cô cho rằng: học sinh
phạm pháp phần lớn đã chịu nhiều tổn thương trong cuộc sống. Do đó, việc nhắc nhở
nhẹ nhàng sẽ có tác động mạnh giúp các em điều chỉnh các hành vi sai phạm của bản
-Nhắc nhở nhẹ nhàng là cách thức được 88.5% giáo viên đánh giá là học sinh RHL, HL. Thái độ hài lòng của học sinh theo giáo viên ở cách thức này là cao nhất. Thầy cô đã xác nhận rằng khi vi phạm những nội quy của nhà trường và được giáo viên nhắc nhở thì phần lớn học sinh đều nhận ra lỗi lầm của mình và đã sửa chữa. -Phê bình trước tập thể đội là cách thức được sử dụng nhiều ở mức độ TX, RTX 70.4%, mức độ TT 25.9%, xếp ở vị trí thứ 2. Nhận xét về vấn đề này, thầy cô cho rằng đối với những hành vi vi phạm thông thường như: lười học tập, lao động, đánh nhau giữa các thành viên trong đội... thì giáo viên có thể trách phạt các em trước tập thể đội trong các buôi sinh hoạt hằng tuần. -66.7% giáo viên cho rằng học sinh HL khi giáo viên sử dụng hình thức trách phạt bằng cách phê bình trước tập thể đội, -51.9% giáo viên cho rằng việc phê bình trên loa phát thanh là cách thức được sử dụng ở mức độ TX, RTX, xếp vị trí thứ 3. 59.3% học sinh HL với cách thức phế bình này. Tuy nhiên có 13% học sinh KHL, RKHL với cách thức này. -Cách thức trách phạt mạnh như phê bình trước toàn trường được 46.3% giáo viên xác nhận là sử dụng ở mức độ TX. Trong khi đó thì mức độ TT chiếm 42.6%, IK chiếm 11.1%. Các cách thức khác như cảnh cáo trước toàn trường, cảnh cáo trước tập thể đội cũng được sử dụng chủ yếu ở mức độ TX. -14.9% giáo viên đánh giá học sinh RKHL, KHL ở cách thức phê bình trước toàn trường. -Cách ly tại buồng kỷ luật 5 ngày được giáo viên đánh giá chủ yếu ở mức độ IK 31.5%. Tuy nhiên thì có 27.8% giáo viên sử dụng ở mức độ TT, 29.7% giáo viên sử dụng ở mức độ TX, RTX. Theo các thầy cô thì giao tiếp là nhu cầu rất quan trọng của con người, đặc biệt là ở lứa tuổi thành thiếu niên. Việc cách ly với môi trường xung quanh một mặt giúp các em có thời gian để suy nghĩ về những hành động sai trái của mình. Mặt khác việc không được thỏa mãn nhu cầu giao tiếp với mọi người, đặc biệt là với bạn bè sẽ tạo ra ở các em "sự bức xúc" về mặt tinh thần. Qua đó,giúp các em tự nhận thức và tự điều chỉnh hành vi vi phạm của bản thân. -14.8% giáo viên cho rằng học sinh RKHL, KHL ở cách thức cách ly tại buồng kỷ luật Nhìn chung thì phần lớn giáo viên đánh giá học sinh HL với các cách thức trách phạt mà thầy cô đã sử dụng. Các cách thức được HL nhất chủ yêu tập trung ở cách thức nhắc nhở nhẹ nhàng, phê bình trước tập thể đội. Tuy nhiên, vẫn còn một số học sinh KHL với các cách thức như cảnh cáo trước toàn trường, cách ly tại buồng kỷ luật, phê bình trước toàn trường. 2.2.2.2.7 Phương pháp bùng nổ Khi khảo sát về phương pháp bùng nổ chúng tôi đã gửi đến thầy cô câu chuyện mẫu mà nhà giáo dục Macarenko đã sử dụng (câu chuyện có cải biên). Căn cứ vào đặc điểm, tình hình và quy định chung của trường Giáo dưỡng là không được phép cho học sinh đi ra ngoài nếu không có sự đồng ý của Ban lãnh đạo nhà trường. Trong câu chuyện này chúng tôi không có ý định đưa cách thức bùng nổ mà nhà giáo dục Macarencô đã sử dụng để áp dụng cho việc "bùng nổ" của giáo viên ở trường. Bởi vì như thế là máy móc, là áp đặt và thật sự không phù hợp. Thông qua câu chuyện, chúng tôi muốn giúp các thầy cô hình dung được thế nào là phương pháp bùng nổ. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát ý kiến của thầy cô về những cách làm được đánh giá là phương pháp bùng nổ sư phạm. Kết quả cho thấy: -50% giáo viên đánh giá rằng các thầy cô CBG sử dụng những cách thức bùng nổ tương tự. -31.5% thầy cô cho rằng IK sử dụng những cách thức bùng nổ. -14.8% thầy cô đánh giá sử dụng cách thức bùng nổ ở mức độ TT. -3.7% thầy cô xác nhận là có sử dụng ở mức độ TX. Qua tìm hiểu bằng phiếu thăm dò, kết hợp với trò chuyện - phỏng vấn, Ban lãnh đạo nhà trường xác nhận là đã từng sử dụng cách thức bùng nổ trong quá trình giáo dục lại. Cụ thể như sau: ♦ Trường hợp thứ nhất: Em Cao Văn Thừa, quê ở Ninh Thuận, là một học sinh "nổi tiếng” rất quậy phá, em thường xuyến gây rối và là nguyên nhân chủ yếu rây ra sự mất đoàn kết giữa các thành viên trong đội. Để khắc phục tình trạng này, giáo viên đã kết hợp với Ban lãnh đạo nhà trường, với hội đồng giáo dục đê tìm cách giải quyết. Khi bàn bạc, các giáo viên đã phân tích điểm mạnh của Cao Văn Thừa, em tuy là một học sinh chuyên gây rối nhưng là một người có trách nhiệm, những công việc bắt buộc đối với trách nhiệm của người học sinh được em hoàn thành tốt và có hiệu quả. Nắm được điểm mạnh của học sinh, các thầy cô đã thống nhất với nhau và quyết định yêu cầu gặp riêng Cao Văn Thừa. Các thầy cô đã giao cho em làm Đội trưởng đội sao đỏ trong nhà trường. Qua quá trình theo dõi các thầy cô nhận thấy rằng Cao Văn Thừa đã có sự tiến bộ rõ rệt. Em không những không còn gây rối trật tự nữa mà ngược lại em đã ngăn ngừa và dập tắt được những rắc rối gây mất đoàn kết ở trong đội. Em đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một Đội trưởng đội sao đỏ. Cao Văn Thừa đã trở thành một niềm tự hào của cả đội nói riêng và của nhà trường nói chung. ♦ Trường hợp thứ hai: "Học sinh Nguyên Tân Cường sau khi vào đội được 16 tháng (thời hạn 24 tháng) kết quả rèn luyện của em chỉ có 1 tháng TB, còn lại là kém. Để khắc phục tình trạng này giáo viên chủ nhiệm đã phân công em làm nhiệm vụ đội phó. Sau khi nhận nhiệm vụ, em đã hoàn thành tốt, bản thân lại rất ngoan". ♦ Trường hợp thứ ba: "Có một học sinh mới vào trường vì nhớ nhà và sợ khổ nên có tư tưởng trốn trường. Sau khi phát hiện để ngăn chặn tình trạng này sẽ xảy ra, tôi đã giao cho em làm nhiệm vụ đội trưởng. Công việc đội trưởng đòi hỏi phải rèn luyện các mặt như: học tập, lao động, chăm lo đời sống của các thành viên... Bên cạnh đó, tôi còn ai ủi em mọi lúc mọi nơi, những lúc ăn ngủ, vui chơi cũng như là thường xuyên tâm sự, chia sẻ về mặt tinh thần. Kết quả học sinh đã chuyển biến tích cực, an tâm tư tưởng rèn luyện". Qua kết quả tìm hiểu chúng tôi nhận thấy giáo viên ở trường Giáo dưỡng đã ý thức trong việc sử dụng những biện pháp tác động mạnh, bất ngờ trong quá trình giáo dục lại đội với đối tượng là học sinh phạm pháp. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy việc sử dụng những cách thức tác động này chỉ tập trung ở những giáo viên có thâm niên cao, có kinh nghiệm trong việc giáo viên học sinh ở trường. Những biện pháp tác động mạnh, bất ngờ tuy đã được sử dụng nhưng nhìn chung vẫn được quan tâm đúng mức ở một số thầy cô. 2.2.2.2.8 Phương pháp tác đông song song Qua kết quả tìm hiểu băng phiếu thăm dò với mức ý nghĩa quan sát (Sig = 0.023 < ót = 0.05), chúng tôi nhận thấy: -29.6% giáo viên xác nhận là CBG sử dụng phương pháp tác động song song. -27.8% giáo viên IK sử dụng phương pháp tác động này. -27.4% giáo viên đánh giá ở mức độ TT. -22.2% giáo viên được xác nhận ở mức độ TX. Những trường hợp mà thầy cô đã sử dung: ♦ Trường hợp 1: "Em A hai lần không làm bài tập - giáo viên nhắc trước lớp là em A đã không làm bài tập hai lần. Sau khi giáo viên nêu tên trước lớp, vì được sự nhắc nhở của các bạn trong lớp thì hôm sau A đã làm bài tập đầy đủ". ♦ Trường hợp 2: Khi trả lời phiêu thăm dò ý kiến một giáo viên đã xác nhận giáo viên còn đưa ra sự so sánh về hai trường hợp đã sử dụng. "Phương pháp tác động song song đã không những có tác dụng đối với em Hiếu mà còn có tác dụng đối với học sinh khác trong đội, đây là phương pháp giáo dục tốt nhất". "Có hai học sinh ra sân bãi tập thể dục muộn. Một học sinh được tác động trực tiếp. Một học sinh khác thông qua sự tác động của tập thể. Kết quả cho thấy học sinh thứ 2 tiến bộ nhanh hơn học sinh thứ nhất. ♦ Trường hợp 3: "Có một học sinh TX lười học văn hóa. Tuần nào cũng có tên nhắc nhở trong sổ liên lạc. Tôi đã cho tập thể đội kiểm điểm mà không cần có sự hiện diện của tôi. Qua một vài lần học sinh này có tiến bộ rõ rệt và còn được biểu dương trên loa truyên thanh". Nhìn chung thì giáo viên ở trường đã ý thức trong việc sử dụng phương pháp giáo dục bằng tác động song song. Tuy nhiên thì phương pháp giáo dục này vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Báng 16: Đánh giá của học sinh về mức độ sử dụng các phương pháp giáo dục. Qua kiểm nghiệm Chi – Square cho thấy có sự khác biệt ở các mức độ lựa chọn (sig
Căn cứ vào điểm trung bình của các phương pháp, chúng tôi nhận thấy, các phương pháp được sử dụng TX nhất là phương pháp nêu gương (TX, RTX 82.6%), phương pháp luyện tập thói quen (TX, RTX 86.5%), phương pháp trò chuyện (48.6%). Các phương pháp như: tổ chức các hoạt động tập thể (xếp thứ 4), thảo luận, giao việc được sử dụng ở mức độ thấp hơn (xếp thứ 5 và 6). Phương pháp khen thưởng và trách phạt được sử dụng ứ nhất (xếp thứ 7 và 8). 2.2.2.3.1 Phương pháp trò chuyện -71.5% học sinh cho rằng thầy cô TX, RTX lắng nghe các em, bên cạnh đó thì 14.7% học sinh đánh giá ở mức độ TT và 9.3% học sinh nhận xét ở mức độ IK, 4.6% học sinh cho rằng giáo viên CBG lắng nghe các em. 86.9% học sinh có thái độ HL, RHL khi giáo viên đã lắng nghe các em, tuy nhiên có 9.7% học sinh có thái độ PV và 3.5% học sinh có thái độ KHL và RKHL vì giáo viên chưa lắng nghe các em. -Khi trò chuyện thầy cô luôn Quan sất thái độ của các em được 78.4% học sinh xác nhận là TX, RTX, bên cạnh đó thì 14.3% học sinh xác nhận ở mức độ TT về yếu tố này và có 5.4% học sinh cho rằng giáo viên IK quan sát thái độ các em, 1.9% nhận xét ở mức độ CBG. 67.5% học sinh có thái độ HL, RHL khi được thầy cô quan sát trong lúc trò chuyện, bên cạnh đó thì 25.5% học sinh tỏ ra PV và 6.9% học sinh có thái độ RKHL, KHL đối với việc quan sát thái độ của thầy cô. -Khi trò chuyện giáo viên không nói nhiều chỉ đặt câu hỏi để các em bộc lộ suy nghĩ được 25.9% học sinh xác nhận là TX, RTX. Trong khi đó thì có đến 34.4% học sinh đánh giá ở mức độ TT, và 30.5% học sinh xác nhận điều này ở mức độ IK và 9.3% ở mức độ CBG. 44% học sinh có thái độ HL, RHL khi được thầy cô đặt nhiều câu hỏi trong quá trình trò chuyện, trong khi đó có 39% học sinh có thái độ PV và 17% có thái độ RKHL, KHL vì các em ít được bộc lộ suy nghĩ khi trò chuyện với thầy cô. -39.8% học sinh xác nhận rằng trong khi trò chuyện thầy cô TX, RTX làm cho các em phải chấp nhận ý kiến của thầy cô, 15.4% học sinh đánh giá ở mức độ TT, 23.9% học sinh nhận xét ở mức độ IK và 20.8% ở mức độ CBG. 55.2% học sinh có thái độ HL, RHL vì giáo viên làm các em phải chấp nhận ý kiến của cấc thầy cô, trong khi đó thì có 22.4% học sinh có thái độ PV và 22.4% học sinh có thái độ RKHL, KHL với cách thức trò chuyện này của thầy cô. Nhìn chung, theo đánh giá của học sinh chúng tôi nhận thấy giáo viên đã sử dụng cách thức lắng nghe phù hợp, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế trong quá trình trò chuyện giữa giáo viên và học sinh. 2.2.2.3.2 Phương pháp thảo luận Qua kiểm nghiệm Chi - Square cho thấy có sự khác biệt trong đánh giá về các mức độ lựa chọn của học sinh. -53.7% học sinh xác nhận là giáo viên TX, RTX cho học sinh thảo luận theo tổ. Bên cạnh đó thì có 25.1% tỏ ra PV, 13.5% học sinh nhận xét ở mức độ IK và 7.7% ở mức độ CBG. -81.1% học sinh có thái độ HL, RHL khi giáo viên cho học sinh thảo luận theo tổ, 12% học sinh có thái độ PV và 6.9% học sinh có thái độ KHL. -49.1% học sinh nhận xét rằng giáo viên TX, RTX cho mỗi cá nhân chuẩn bị trước và trình bày, trong khi đó thì có 29.7% học sinh nhận xét cách thức này được thực hiện ở mức độ TT, 13.5% ồ mức độ IK và 7.7% học sinh cho rằng giáo viên CBG thực hiện điều này. 69.5% học sinh có thái độ HL, RHL khi giáo viên cho các em chuẩn bị trước và trình bày, trong khi đó thì 23.6% học sinh có thái độ PV và 6.9% có thái độ KHL và RKHL. -79.5% học sinh xác nhận rằng giáo viên TX, RTX phân tích, trình bày với các em theo kinh nghiệm của thầy cô, 12.7% học sinh nhận xét ở mức độ TT và 5.8% các em cho rằng giáo viên IK làm việc này và 1 .9% ở mức độ CBG. 52.6% học sinh nhận xét là các em RHL, HL với việc trình bày của giáo viên, bên cạnh đó thì 12.7% học sinh tỏ ra PV, 4.6% học sinh có thái độ RKHL, KHL với việc phân tích và trình bày của giáo viên. -35.2% học sinh xác nhận rằng giáo viên TX, RTX mời người có kinh nghiệm về thảo luận với các em, 38.2% học sinh xác nhận ở mức độ TT và 15.8% ở mức độ IK và 10.8% các em cho rằng giáo viên CBG thực hiện cách thức này. 72.5% học sinh RHL, HL với cách làm này của giáo viên, bên cạnh đó thì có 18.9% tỏ ra PV, 8.5% học sinh có thái độ RKHL, KHL với cách thức này của giáo viên. -Qua sự xác nhận và thái độ của học sinh, chúng tôi nhận thấy giáo viên đã sử dụng nhiều cách thức khác nhau để làm phong phú cho những vấn đề được thảo luận. Tuy nhiên, thầy cô phân tích theo kinh nghiệm của mình là cách thức được sử dụng TX nhất trong những lần thảo luận. Giáo viên đã sử dụng phù hợp phương pháp thảo luận tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế dẫn đến sự KHL của học sinh. 2.2.2.3.3 Phương pháp nêu gương -Nêu gương thông qua các buổi sinh hoạt đội - lớp được 78% học sinh xác nhận giáo viên sử dụng ở mức độ RTX, TX, 15.4% học sinh cho rằng giáo viên sử dụng cách thức này ở mức độ TT, 2.3% là IK va 4.2% ở mức độ CBG.88.8% học sinh RHL, HL với cách thức nêu gương qua các buôi sinh hoạt đội mà giáo viên đã sử dụng, 1.1% học sinh có thái độ PV và 3.5% học sinh RKHL, KHL với cách thức nêu gương này. -72.6% học sinh cho rằng giáo viên TX, RTX nêu gương trên loa phát thanh, 16.6% ở mức độ TT, 6.2 học sinh cho rằng giáo viên IK nêu gương trên loa và 4.6% là CBG. 83.1% học sinh có thái độ RHL, HL với cách thức nêu gương trên loa mà thầy cô đã sử dụng. Bên cạnh đó thì 10.8% PV với cách thức này va 5.8% học sinh có thái độ RKHL, KHL với cách thức nêu gương này. -71.5% học sinh xác nhận rằng giáo viên TX, RTX nêu gương thông qua các buổi sinh hoạt toàn trường, 20.1% xác nhận ở mức độ TT, 5% học sinh cho rằng cách thức này IK được sử dụng và 2.7% xác nhận ở mức độ CBG. 84.2% học sinh có thái độ RHL, HL với việc nêu gương trong các buổi sinh hoạt toàn trường mà giáo viên đã sử dụng, 8.9% có thái độ PV và 6.2% học sinh có thái độ RKHL, KHL với cách thức nêu gương này. -Mời học sinh cũ về trường được học sinh xác nhận cách thức này giáo viên sử dụng chủ yếu ở mức độ TT, 15.1% học sinh nhận xét ở mức độ TX, RTX, 32% học sinh cho rằng cách thức này ít được sử dụng, 13.5% lựa chọn ở mức độ CBG. 63% học sinh cho rằng các em RHL, HL với cách thức nêu gương này, 22.5% tỏ ra PV, và 10.8% các em có thái độ RKHL, KHL. -30.5% học sinh cho rằng giáo viên IK nêu gương qua phim ảnh, báo chí, 16.2% xác định ở mức độ CBG và 28.6% xác nhận ở mức độ TX, RTX. - 54.4% học sinh RHL, HL với cách thức nêu gương qua phim ảnh -báo chí mà thầy cô đã sử dụng. Bên cạnh đó có 33.2% học sinh tỏ ra PV, 12.4% học sinh RKHL, KHL với cách thức mà thầy cô đã sử dụng. -48.3% học sinh cho rằng thầy cô TX, RTX làm gương cho các em thông qua cách sống, cách cư xử của chính thầy cô, 29% học sinh xác nhận ở mức độ TT, 14.7% học sinh cho rằng giáo viên IK làm gương cho các em và 7.7% xác nhân là CBG. 69.1% học sinh có thái độ RHL, HL vì sự gương mẫu của thầy cô, tuy nhiên có 24.3% học sinh có thái độ PV, và 6.2% học sinh RKHL, KHL vì thầy cô chưa làm gương cho các em. Nhìn chung thì giáo viên đã sử dụng phù hợp nhiều cách thức khác nhau để nêu gương cho học sinh. 2.2.2.3.4 Phương pháp giao việc -78.2% học sinh cho rằng giáo viên đã giao việc đồng đều cho các em ở mức độ TX, RTX. Bên cạnh đó thì 14.4% nhận xét ở mức độ TT, 4.7% học sinh nhận xét ở mức độ IK, và 2.7% là CBG. 90.3% học sinh RHL, HL khi giáo viên Giao việc đồng đều cho các em, bên cạnh đó thì 6.6% học sinh tỏ ra PV và 3.2% RKHL, KHL với cách thức này. - Giao việc theo nhóm được 65.2% xác nhận là sử dụng TX, RTX, 17.8% được sử dụng ở mức độ TT, 12.3% học sinh cho rằng giáo viên IK thực hiện cách thức này và 4.3% cho là CBG. 77.9% học sinh RHL, HL với cách thức giao việc theo nhóm của giáo viên, trong khi đó thì có 15.4% học sinh có thái độ PV và 5.5% học sinh RKHL, KHL với cách thức mà thầy cô đã sử dụng. -54.9% học sinh nhận xét rằng giáo viên TX, RTX giao việc theo lứa tuổi, khả năng, 17.8% lựa chọn ở mức độ TT, 15.8% học sinh cho rằng giáo viên IK thực hiện điều này, 11.1% lựa chọn ở mức độ CBG. 69% học sinh có thái độ RHL, HL với cách thức giao việc theo lứa tuổi, theo khả năng mà giáo viên đã sử dụng. Trong khi đó thì 18.4% học sinh có thái độ PV, 11.3% học sinh RKHL, KHL vì giáo viên đã không giao việc theo lứa tuổi - khả năng. -41.1% học sinh cho rằng giáo viên TX, RTX Chỉ giao việc cho những em lớn, có uy tín, 19.4% nhận xét ở mức độ TT, 22.9% học sinh xác nhận giáo viên IK giao việc như vậy, và 16.2% là CBG. 52% học sinh xác nhận là RKHL, KHL với cách thức giao việc này của giáo viên, 22.7% có thái độ PV và chỉ có 23.2% học sinh HL, RHL cách thức giao việc này. Như vậy, qua cách đánh giá của học sinh có thê thây rằng giáo viên đã sử dụng phù hợp các cách thức giao việc như giao việc đồng đều cho từng cá nhân, giao việc theo nhóm, giao việc theo lứa tuồi. Bên cạnh đó thì vẫn còn có sự hạn chế trong cách thức giao việc của giáo viên. 2.2.2.3.5 Phương pháp khen thưởng Báng 21: Đánh giá của học sinh về mức độ sử dụng, thái độ của các em ở phương pháp khen thưởng. l.Thể hiện thái 22 22 63 126 28 156.309 3 15 31 155 54 392.822 7.7 8.5 24.3 48.6 10.8 4 1.2 5.8 12.0 59.8 20.8 5 0.000 0.000 độ đồng tình,
ủng
hộ như: gật đầu, xoa đầu 2.Biểu dương 14 13 48 125 59 161.367 2 6 21 152 78 313.761 5.4 5.0 18.5 48.3 22.8 4 0.8 2.3 8.1 58.7 30.1 4 trước tập thể
đội,
lớp 0.000 0.000 3.Biểu dương 20 15 49 125 50 149.320 2 10 27 137 83 252.409 7.7 5.8 18.9 48.3 19.3 0.8 3.9 10.4 52.9 32.0 trước toàn
trường 4
0.000 4
0.000 4.Biểu dương 25 11 43 124 56 148.471 1 6 17 159 76 346.849 trên loa phát 9.7 4.2 16.6 47.9 21.6 4 0.4 2.3 6.6 61.4 29.3 4 thanh 0.000 0.000 5.Cho các em đi 30 54 98 55 22 67.815 3 12 42 127 74 285.934 tham quan 11.6 20.8 37.8 21.2 8.5 1.2 4.6 16.2 49.0 28.6 4
0.000 5
0.000 31 51 88 65 23 113.069 1 15 43 127 72 282.830 6.Tặng giấy
khen
kèm theo tiền 12.0 19.7 34.0 25.1 8.9 5 0.4 5.8 16.6 49.0 27.8 5 0.000 0.000 hoặc hiện vật 35 44 74 77 29 38.432 5 11 35 104 102 264.436 13.5 17.0 28.5 29.7 11.2 4 1.9 4.2 13.5 40.2 39.4 5 0.000 0.000 7.Thưởng 5
ngày
phép về thăm
gia
đình 22 24 47 102 63 149.718 5 7 22 109 116 240.903 8.5 9.3 18.1 39.4 24.3 1.9 2.7 8.5 42.1 44.8 8.Giảm thời
gian
ở lại trường 5
0.000 4
0.000 Qua kiểm nghiệm Chi - Square cho thấy có sự có sự khác biệt giữa các mức độ lựa chọn của học sinh. -59.4% học sinh đánh giá rằng giáo viên TX, RTX thể hiện thái độ đồng tình như gật đầu, xoa đầu khi các em có những hành vi tích cực. Bên cạnh đó thì 24.3% học sinh PV với sự thể hiện này, 8.5% các em xác nhận là giáo viên ít thể hiện điều này và 7.7% học sinh xác nhận là CBG. 80.6% học sinh cho rằng các em RHL, HL khi được giáo viên thể hiện thái độ đồng tình, 12% học sinh tỏ thái độ PV và 7% học sinh RKHL, KHL với cách thức này. -Biểu dương trước tập thể đội được 81.1% học sinh nhận xét giáo viên sử dụng ở mức độ TX, RTX, 18.5% các em lựa chọn ở mức độ TT và 5% các em cho rằng thầy cô IK biếu dương trước tập thể đội. 88.8% học sinh tỏ thái độ RHL, HL khi giáo viên biểu dương trước tập thể đội, 8.1% tỏ ra PV và 3.1% học sinh RKHL, KHL ở cách thức mà thầy cô đã sử dụng. -67.6% học sinh cho rằng giáo viên RTX, TX biểu dương trước toàn trường, 18.9% học sinh xác nhận ở mức độ TT, 5.8% học sinh lựa chọn ở mức độ IK và 7.7% là CBG. 84.9% học sinh RHL, HL khi giáo viên sử dụng cách thức biểu dương trước toàn trường, 10.4% có thái độ PV và 4.7% học sinh RKHL, KHL khi giáo viên sử dụng cách thức biểu dương này. -Cho đi tham quan được học sinh đánh giá giáo viên sử dụng chủ yếu ở mức độ TT, 29.7% học sinh xác nhận ở mức độ TX, RTX, 20.8% ở mức độ IK và 11.6% là CBG. 17.6% học sinh có thái độ RHL, HL khi giáo viên cho các em đi tham quan, 42% các em tỏ ra PV và 5.8% các em RKHL, KHL. -Học sinh đánh giá tặng giấy khen kèm theo tiền được sử dụng ở mức độ TT, TX, RTX là ngang nhau (34%), ở mức độ IK là 19.7%. -76.8% học sinh HL, RHL với cách thức Tặng giấy khen kèm theo thưởng tiền mà thầy cô đã sử dụng, 16.6% học sinh có thái độ PV và 5.8% có thái độ KHL. -40.9% học sinh đánh giá cách thức thưởng 5 ngày về thăm gia đình được sử dụng ở mức độ TX, RTX. Bên cạnh đó thì có 28.5% học sinh xác nhận ỏ mức độ TT, 17.0% ở mức độ IK và 13.5% là CBG. 79.6% đánh giá các em có thái độ RHL, HL đối với cách thức thầy cô thưởng 5 ngày về thăm gia đình, 13.5% có thái độ PV, và 6. 1 % học sinh RKHL, KHL đối với cách thức này. -63.7% học sinh đánh giá Giảm thời gian ở lại trường là cách thức sử dụng ở mức độ TX, RTX, ở mức độ TT là 18.1 % và 9.3% ở mức độ IK. 86.9% học sinh RHL, HL đối với cách thức Giảm thời gian ở lại trường, bên cạnh đó 8.5% học sinh có thái độ PV, 4.6% học sinh KHL. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giáo viên đã sử dụng phù hợp các cách thức khen thưởng. 2.2.2.3.6 Phương pháp trách phạt Bảng 22: Đánh giá của học sinh về mức độ sử dụng, thái độ của các em ở phương pháp trách phạt. -Nhắc nhở nhẹ nhàng là cách thức được 61.8% học sinh đánh giá ở mức độ TX, RTX, 23.9% đánh giá ở mức TT, 11.5% ở mức IK và 2.7% là CBG. 77.2% học sinh xác nhận rằng các em RHL, HL khi được thầy cô nhắc nhở nhẹ nhàng, bên cạnh đó có 59.1% học sinh có thái độ PV, 9.2% có thái độ RKHL, KHL. -Theo đánh giá của 37% học sinh, thầy cô TX, RTX phê bình các em trước toàn trường, 29.3% xác nhận ở mức độ TT, ở mức độ IK là 20.1%, 13.1% học sinh xác nhận ở mức CBG. Phần lớn các em có thái độ HL, RHL khi thầy cô phê bình trước toàn trường (54.1%), ở mức độ TT là 22.8%, và có 22.4% học sinh xác nhận rằng các em RKHL, KHL với cách thức trách phạt này của thầy cô. -Học sinh xác nhận rằng việc cảnh cáo trước tập thể đội được sử dụng ở mức độ TX, RTX (35.5%), 27.8% các em đánh giá ở mức độ TT. 21.6% ở mức độ IK, ở mức độ CBG là 15.1%. Hơn một nửa học sinh (54%) có thái độ RHL, HL khi giáo viên cảnh cáo trước tập thể đội, bên cạnh đó có 30.1% học sinh xác nhận các em có thái độ PV và 41.3% các em RKHL, KHL với cách thức mà giáo viên đã thực hiện. -32.4% học sinh cho rằng thầy cô sử dụng TX, RTX cách thức cảnh cáo trước toàn trường, ở mức độ TT có 26.3% học sinh xác nhận, ở mức độ IK là 22.4% và 18.9% với mức độ CBG. Phần lớn học sinh RHL, HL (52.5%) với cách thức cảnh cáo học sinh trước toàn trường khi các em vi phạm, 25.1% các em có thái độ PV và 22.% các em RKHL - KHL với cách thức này. -Phê bình trên loa được phần lớn học sinh (44.4%) xác nhận là ở mức độ TX, RTX, 20.8% ở mức độ TT, 17.8% ở mức độ CBG và IK là 17%. Trên một nửa học sinh (58.3%) các em có thái độ HL, RHL khi giáo viên phê bình các em trên loa phát thanh của trường. Các em có thái độ PV là 23.9%, trong khi đó có 17.3% học sinh RKHL, KHL với cách thức phê bình trên. -Cách ly tại buồng kỉ luật 5 ngày được phần lớn học sinh (25.9%) đánh giá là thầy cô sử dụng ở mức độ IK, đây là cách thức chỉ áp dụng với những học sinh vi phạm nặng nội quy của nhà trường như: trốn trường, nhiều lần đánh nhau gây rối trật tự... 25.5% học sinh xác nhận ở mức độ TT, CBG, 23.1% học sinh xác nhận đây là cách thức sử dụng TX, RTX. Theo đánh giá của học sinh thì có 49% các em RHL, HL khi giáo viên đưa những học sinh vi phạm vào buồng kỷ luật 5 ngày, các em có thái độ PV là 27.8% và 23.2% học sinh cho rằng các em RKHL, KHL với cách thức trách phạt này của giáo viên. Qua kết quả đánh giá của học sinh, chúng tôi thấy rằng phần lớn giáo viên đã sử dụng hợp lý các cách thức trách phạt đối với học sinh. 2.2.3 So sánh đánh giá của giáo viên và đánh giá của học sinh về thực trạng sử dụng các phương pháp giáo dục. Bảng 23: Đánh giá của giáo viên và học sinh về mức độ sử dụng các phương pháp Nội dung phương pháp Giáo viên Học sinh Sig 1 .Trò chuyện 4.2222 3.7778 3 0.001 2 2.Thảo luận 3.7778 3.5000 5 0.145 6 3.Thầy cô làm gương 4.3333 4.0185 1 0.040 1 4.Giao công việc 3.9630 3.2222 6 0.001 4 5.Luyện tập thói quen 4.0556 3.8333 2 0.135 3 5 6.Khen thưởng 3.8704 3.0556 7 0.000 8 7.Trách phạt 3.3889 2.6852 8 0.001 7 8.Tố chức các hoạt động tập thể 3.7778 3.6481 4 0.468 Qua kiểm nghiệm T - Test với mức ý nghĩa quan sát (sig
nhận thấy có sự khác biệt ý nghĩa về thống kê ở các phương pháp như: trò chuyện, thảo luận, giao việc, khen thưởng, trách phạt. Các phương pháp còn lại như: thảo luận, tổ chức các hoạt động thập thể, luyện tập thói quen thì không có sự khác biệt ý nghĩa. Căn cứ vào điểm trung bình cho thấy ở phương pháp trò chuyện thì giáo viên đánh giá sử dụng phương pháp ở mức độ TX cao đánh giá của học sinh, sự chênh lệch này là 0.4444. Giáo viên đánh giá cao hơn so với học sinh về mức độ sử dụng TX ở phương pháp nêu gương (sự chênh lệch 0.3148). Học sinh đánh giá về mức độ sử dụng phương pháp giao việc thấp hơn so với sự đánh giá của giáo viên (0.7408). Căn cứ vào điểm trung bình của giáo viên và học sinh chúng tôi nhận thấy, giáo viên đánh giá phương pháp giao việc chủ yếu ở mức độ TX, trong khi đó thì học sinh lại đánh giá phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở mức độ TT. Phương pháp khen thưởng được giáo viên đánh giá cao hơn so với học sinh về mức độ sử dụng phương pháp, sự chênh lệch này khá cao 0.8148. Giáo viên cho rằng phương pháp khen thưởng được sử dụng chủ yếu ở mức độ TX, trong khi đó thì học sinh lại cho rằng phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở mức độ TT. Học sinh đánh giá thấp hơn so với giáo viên về mức độ TT khi sử dụng phương pháp trách phạt (chênh lệch là 0.7037). Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy: các phương pháp sau đây có sự khác biệt nhiều về thứ hạng, chỉ chênh lệch 1 bậc. Phương pháp trò chuyện xếp thứ 2 (ở giáo viên) so với xếp thứ 3 (ở học sinh). Phương pháp tập luyện thói quen xếp thứ 3 (giáo viên) so với xếp thứ 2 (ở học sinh), phương pháp thảo luận xếp thứ 6 (ở giáo viên) so với xếp thứ 5 (ở học sinh). Như vậy, thông qua sự đánh giá của giáo viên và học sinh về nhưng phương pháp đó, cho thấy có sự tương đồng về mặt thứ hạng. Căn cứ vào bảng 16, chúng tôi nhận thấy sự khác biệt thể hiện rõ nhất ở các phương pháp giáo dục sau: -Phương pháp giao việc: xếp thứ 4 ở giáo viên và xếp thứ 6 ở học sinh. Điều này có thể hiểu như sau: trong quá trình giáo dục học sinh, các thầy cô với những nhiệm vụ công tác khác nhau, do đó đã phân công cho học sinh với những công việc thuộc về lĩnh vực của mình. Tuy nhiên, có thể thấy rằng ngoài những công việc mà mọi học sinh bắt buộc phải làm như lao động sản xuất, học bài và làm bài, thực hành nghề thì những công việc khác ngoài sự bắt buộc như tìm hiểu giúp đỡ bạn khó khăn trong đội, lớp, hay bảo quản đồ dùng trong đội - lớp... là nhiệm vụ của đội ngũ ban tự quản hay đội ngũ cán sự trong đội - lớp. Vì vậy, thực tế cho thấy có sự khác biệt trong đánh giá của giáo viên và học sinh về các mức độ giao việc. -Phương pháp khen thưởng ở vị trí thứ 5 ở giáo viên và xếp thứ 7 ở học sinh. Qua quá trình tìm hiểu thực tế chúng tôi nhận thấy rằng, khi học sinh có những hành vi tích cực hay quá trình rèn luyện có sự tiến bộ thì đều được giáo viên khen thưởng và do đó giáo viên cho rằng khen thưởng là một việc làm TX. Tuy nhiên, đối với học sinh thì những việc làm tích cực hằng ngày ít được thể hiện, mà kết quả học tập, rèn luyện tích cực, tiến bộ chủ yếu được đánh giá sau mỗi tháng, mỗi quý, mỗi năm. Và do đó thì việc khen thưởng được sử dụng chủ yếu theo định kỳ, với các mức độ khen thưởng khác nhau phụ thuộc vào quá trình học tập và rèn luyện của học sinh. Mặc khác, với số lượng học sinh quá đông thì giáo viên khó có thể nắm bắt hết những hành vi tích cực của các em để thực hiện sự khen thưởng. Vì thế, đứng ở vị trí khác nhau thì giáo viên và học sinh đánh giá về mức độ khen thưởng có khác nhau cũng là một điều tất yếu. -Tổ chức các hoạt động tập thể được xếp vị trí thứ 7 ở giáo viên và thứ 4 ở học sinh. Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng trong quá trình giáo dục học sinh thì nhà trường mà đại diện là các giáo viên trực ban kết hợp với tiểu ban phong trào đã tổ chức nhiều hoạt động tập thể cho học sinh. Những hoạt động được tổ chức TX là hội thi đố em, chiếc nón kì diệu, thi hát karaoke, thi đá banh, đánh bóng chuyền. Với rất nhiều hoạt động tập thể phong phú và đa dạng đã lôi kéo được nhiều học sinh tham gia và hưởng ứng tích cực. Trong khi đó thì khi đánh giá về mức độ sử dụng các phương pháp giáo dục, cân nhắc với các phương pháp khác mà giáo viên đã sử dụng thì giáo viên cho rằng việc tổ chức những hoạt động tập thể ít được sử dụng TX hơn so với các phương pháp khác. Vì vậy mà trong sự đánh giá của giáo viên và học sinh có sự khác biệt về mức độ sử dụng đối với phương pháp này. Nhìn chung thì sự đánh giá của giáo viên và học sinh có sự khác biệt về mức độ sử dụng ở một số phương pháp như: phương pháp trò chuyện, phương pháp nêu gương, phương pháp giao việc, phương pháp khen thưởng và phương pháp trách phạt. Phần lớn thì giáo viên thường đánh giá cao hơn so với học sinh về mức độ sử dụng TX đối với các phương pháp. Đứng ở mỗi góc độ và vị trí khác nhau, do đó mà trong sự đánh giá về mức độ TX của các phương pháp thì có sự khác biệt về thứ hạng ở một số phương pháp như:phương pháp giao việc,khen thưởng,tổ chức các hoạt động tập thể. 2.2.3.2.1 Phương pháp trò chuyện Bảng 24: Đánh giá của giáo viên và học sinh về mức độ sử dụng, thái độ của các em ở phương pháp trò chuyện. l.Lắng nghe 4.1481 2 3.5741 2 0.000 3.9815 1 4.0370 1 0.659 2.Quan sát thái độ 4.2593 1 3.7963 1 0.006 3.9259 2 3.8333 2 0.527 3.Đặt câu hỏi 3.5741 3 3.0000 4 0.000 3.7407 3 3.5000 3 0.189 3.1296 4 3.374 3 0.291 3.3889 4 2.4852 4 0.005 4.Làm các em chấp
nhận ♦ Xét ở mức đô sử dụng cách thức: Kết quả kiểm nghiệm T- Test cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa đánh giá của giáo viên với đánh giá của học sinh về mức độ sử dụng ở các cách thức: lắng nghe, quan sát thái độ học sinh, không nói nhiều chỉ đặt câu hỏi để các em bộc lộ suy nghĩ. Còn ở cách thức Làm cho học sinh chấp nhận ý kiên của giáo viên thì không có sự khác biệt. -Quan sát thái độ học sinh là cách thức được giáo viên và học sinh đánh giá ở mức độ TX nhất. Tuy nhiên thì sự đánh giá của giáo viên ở mức độ sử dụng TX cao hơn so với sự đánh giá của học sinh (độ chênh lệch 0.463). điều này có thể hiểu rằng trong quá trình trò chuyện giữa giáo viên và học sinh thì việc quan sát thái độ học sinh TX một mặt định hướng cho quá trình trò chuyện, mặt khác giáo viên cũng hướng đến mục đích tìm hiểu những biểu hiện tâm lý của các em để có những biện pháp tác động phù hợp, phần lớn thì sự quan sát này được thể hiện một cách kín đáo. -Lắng nghe ý kiến của học sinh là một yếu tố quan trọng được cả giáo viên và học sinh đánh giá ở mức độ sử dụng là TX, yếu tố này cả giáo viên và học sinh đều xếp ở vị trí thứ 2. -Đặt câu hỏi để học sinh bộc lộ suy nghĩ được giáo viên đánh giá chủ yếu ở mức độ TX, trong khi đó thì học sinh lại đánh giá ở mức độ TT. Có sự chênh lệch trong đánh giá của giáo viên so với học sinh về cách thức này (0.5741). Điều này có thể hiểu rằng trong quá trình trò chuyện, học sinh có nhu cầu rất cao trong việc mong muốn được chia sẻ, bộc lộ ý kiến, suy nghĩ của bản thân. Tuy nhiên thì việc đặt nhiều câu hỏi gợi mở để làm các em bộc lộ tâm tư tình cảm của thầy cô chưa đáp ứng hoàn toàn nhu cầu của học sinh. Nhìn chung thì sự đánh giá về mức độ sử dụng các cách thức trò chuyện của giáo viên phần lớn là cao hơn so với sự đánh giá của học sinh. Tuy nhiên, cả giáo viên và học sinh đều đánh giá cách thức lắng nghe, quan sát thái độ ở mức độ sử dụng TX, bên cạnh đó thì cách thức đặt câu hỏi của giáo viên phần lớn được nhận định ở mức độ TX, còn ở học sinh thì ở mức độ TT. Giáo viên và học sinh đều xác nhận cách thức Làm cho các em chấp nhận ý kiến của thầy cô được sử dụng ở mức độ TT. ♦ Thái độ của học sinh đối với cách thức trò chuyện: Qua kiểm nghiệm T - Test, với mức ý nghĩa quan sát (sig
không có sự khác biệt ý nghĩa giữa đánh giá của giáo viên và học sinh về thái độ của học sinh đối với các cách thức: Lắng nghe, quan sát thái độ, đặt câu hỏi để học sinh bộc lộ suy nghĩ. Riêng ở cách thức Làm cho học sinh chấp nhận ý kiến của thầy cô là có sự khác biệt ý nghĩa. Thầy cô tỏ ra PV khi đánh giá thái độ của học sinh đối với cách thức Làm cho các em phải chấp nhận ý kiến của thầy cô, trong khi đó thì học sinh KHL với cách thức trò chuyện này của thầy cô. Như vậy, trong quá trình trò chuyện thì giáo viên đã sử dụng phù hợp các cách thức: Lắng nghe, quan sát thái độ học sinh, đặt câu hỏi để gợi mở cho học sinh trả lời. Tuy nhiên thì phương pháp trò chuyện vẫn còn hạn chế ở chỗ phương pháp trò chuyện TT cũng mang tính áp đặt. 2.2.3.2.2 Phương pháp thảo luận Qua kiểm nghiệm T - Test với mức ý nghĩa (sig
khác biệt trong đánh giá của giáo viên và học sinh đối với các cách thức thảo luận như: Thảo luận theo tổ, cá nhân chuẩn bị trước và trình bày. Thầy cô phân tích theo kinh nghiệm của bản thân. Riêng ở cách thức Mời người có kinh nghiệm thảo luận với các em là có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê. Học sinh đánh giá mức độ sử dụng cách thức Mời người có kinh nghiệm ở mức cao hơn so với sự đánh giá mức độ sử dụng của giáo viên. Tuy nhiên thì cả giáo viên và học sinh đều đánh giá cách thức này được sử dụng ở mức độ TT. Không có sự khác biệt trong đánh giá về thứ bậc giữa giáo viên và học sinh ở các cách thức thảo luận. Giáo viên và học sinh đều cho rằng thầy cô phân tích theo kinh nghiệm của bản thân là cách thức được sử dụng TX nhất. Sau đó là cách thức thảo luận theo tổ (vị trí 2), cá nhân chuẩn bị trước và trình bày (vị trí 3) và cuối cùng là mời người có kinh nghiệm về thảo luận với các em. ♦ So sánh sự đánh giá của giáo viên và học sinh về thái độ của học sinh đối với phương pháp thảo luận: Kết quả kiểm nghiệm T - Test cho thấy không có sự khác biệt giữa đánh giá của giáo viên với đánh giá của học sinh (sig>ct= 0.05). Phần lớn thì giáo viên và học sinh đều đánh giá là có thái độ HL đối với các cách thức thảo luận mà giáo viên đã sử dụng. Có sự chênh lệch trong việc đánh giá thái độ của giáo viên và học sinh về thứ bậc cách thức. Học sinh HL với cách thức thảo luận, theo tổ hơn (xếp thứ 2) so với sự đánh giá của giáo viên (xếp thứ 4). Giáo viên và học sinh đều đánh giá mức độ HL cao (xếp thứ i) đối với việc mời người có kinh nghiệm về trao đổi với các em. Nhìn chung thì không có sự khác biệt ý nghĩa về đánh giá của giáo viên và học sinh đối với mức độ sử dụng các cách thức cũng như là sự đánh giá về thái độ của học sinh đối với các cách thức thảo luận mà thầy cô đã sử dụng. 2.2.3.2.3 Phương pháp nêu gương Kiểm nghiệm T - Test cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa ở cách thức nêu gương: Nêu gương trong các buổi sinh hoạt đội, nêu gương trên loa phát thanh. Các cách thức còn lại không có sự khác biệt ý nghĩa (sig>a = 0.05). Nêu gương qua các buổi sinh hoạt đội - lớp được học sinh đánh giá ở mức độ sử dụng TX hơn so với đánh giá của giáo viên. Trong khi đó thì giáo viên lại đánh giá cách thức nêu gương trên loa được sử dụng ở mức độ TX cao hơn so với sự đánh giá của học sinh. Giáo viên và học sinh đều đánh giá các cách thức nêu gương được sử dụng chủ yếu ở mức độ TX. Trừ hai cách thức như: Mời học sinh cũ về trường, nêu gương qua phim ảnh, báo chí được sử dụng chủ yêu ở mức độ TT. Không có sự khác biệt về vị trí xếp hạng ở các cách thức: Nêu gương trên loa phát thanh, nêu gương qua phim ảnh - báo chí, nêu gương qua sinh hoạt toàn trường, sự chênh lệch này chỉ ở một bậc. Tuy nhiên có sự chênh lệch về thứ hạng ở cách nêu gương qua các buổi sinh hoạt đội, qua loa phát thanh, thầy cô làm gương. ♦ So sánh sự đánh giá của giáo viên và học sinh về thái độ của học sinh về phương pháp nêu gương: Với mức ý nghĩa quan sát (sig>a= 0.05) thì không có sự khác biệt trong đánh giá giữa giáo viên và học sinh về thái độ đối với các cách thức nêu gương. Riêng cách thức nêu gương qua các buổi sinh hoạt là có sự khác biệt ý nghĩa (sig = 0.016
0.05). Nêu gương qua các buổi sinh hoạt đội, lớp được học sinh đánh giá là HL cao hơn so với sự đánh giá của giáo viên (chênh lệch 0.3148). Nhìn chung thì sự đánh giá của giáo viên và học sinh về các cách thức nêu gương cũng như là các thái độ đều không có sự khác biệt cao. Các cách thức nêu gương chủ yếu được sử dụng ở mức độ TX, và thái độ là HL. 2.2.3.2.4 Phương pháp giao việc Qua kiểm nghiệm T - Test, với mức ý nghĩa quan sát (sig>a= 0.05) cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa giữa đánh giá của giáo viên và học sinh về sử dụng các cách thức giao việc. Riêng ở cách thức Giao việc theo lứa tuổi, khả năng là có sự khác biệt ý nghĩa (sig
Giáo viên đánh giá cao hơn so với học sinh trong mức độ sử dụng cách thức giao việc theo lứa tuổi, khả năng. Giáo viên đánh giá cách thức này được sử dụng ở mức độ TX, trong khi đó thì học sinh lại đánh giá cách thức này chủ yếu được sử dụng ở mức độ TT. Qua trò chuyện với chúng tôi, giao việc theo lứa tuổi, khả năng là yếu tố quan trọng hàng đầu trong quá trình phân công nhiệm vụ cho học sinh. Đây là nguyên tắc cần thiết mà giáo viên rất quan tâm để giao việc mang lại hiệu quả cao. Phần lớn thì giáo viên và học sinh đều đánh giá cách thức giao việc đồng đều cho từng cá nhân, giao việc theo nhóm được sử dụng TX. Bên cạnh đó thì Chỉ giao việc cho những em lớn, có uy tín được đánh giá sử dụng chủ yếu ở mức độ TT. Không có sự khác biệt lớn trong thứ tự xếp hạng ở các cách thức giao việc. ♦ So sánh đánh giá của giáo viên và học sinh đối với thái độ của các em đối với cách thức giao việc: Với mức ý nghĩa quan sát (sig
đối với các cách thức như: Giao việc đồng đều cho từng cá nhân, chỉ giao việc cho những em lớn, uy tín. Các cách thức còn lại như giao việc theo nhóm, giao việc theo lứa tuổi thì không có sự khác biệt ý nghĩa (sig>a= 0.05). Học sinh HL hơn so với sự đánh giá của giáo viên ở cách thức giao việc đồng đều cho từng cá nhân (mức độ chênh lệch 0.3889). Giáo viên phần lớn tỏ ra PV khi chỉ giao việc cho những em lớn, có uy tín, trong khi đó thì phần lớn học sinh lại KHL với cách thức giao việc này. Không có sự khác biệt cao về thứ hạng trong đánh giá thái độ HL của giáo viên và học sinh ở các cách thức. Nhìn chung thì các cách thức giao việc được giáo viên và học sinh đánh giá ở mức độ HL. Tuy nhiên thì việc giáo viên chỉ giao việc cho những em lớn, có uy tín được học sinh KHL. 2.2.2.3.5 Phương pháp khen thưởng Bảng 28: Đánh giá của giáo viên và học sinh về mức độ sử dụng, thái độ của các em ở phương pháp khen thưởng Kiểm nghiệm T - Test cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa trong đánh giá của giáo viên và học sinh về các cách thức khen thưởng Phần lớn giáo viên đánh giá cao hơn học sinh về mức độ sử dụng các cách thức khen thưởng, trừ cách thức Tặng giấy khen và tiền thì học sinh đánh giá cao hơn so với giáo viên. Các cách thức khen thưởng được cả giáo viên và học sinh đánh giá ở mức độ sử dụng TX là: Thể hiện sự đồng tình, biểu dương trước tập thể đội, giảm thời hạn ở lại trường. Bên cạnh đó thì có sự chênh lệch trong các cách thức: Khen thưởng trên loa được giáo viên xác nhận sử dụng chủ yếu ở mức độ TT, trong khi đó thì học sinh đánh giá cách thức này ở mức độ TT; khen thưởng 5 ngày về thăm gia đình được giáo viên đánh giá là sử dụng ở mức độ TX, trong khi đó học sinh đánh giá ở mức độ TT. Không có sự chênh lệch cao (chỉ chênh lệch 1 bậc) về thứ hạng ở các cách thức khen thưởng: thể hiện sự đồng tình (giáo viên và học sinh đều xếp thứ 2), biểu dương trước toàn trường, cho nghỉ 5 ngày phép về thăm gia đình, giảm thời gian ở lại trường, cho đi tham quan. Có sự chênh lệch cao ở cách thức Khen thưởng trên loa: xếp thứ 3 ở giáo viên và xếp thứ 6 ở học sinh. Qua quá trình tìm hiểu thực tế, chúng tôi nhận thấy rằng khen thưởng trên loa được giáo viên sử dụng rất TX (mỗi tuần 2 lần). Bên cạnh đó, tặng giấy khen và tiền chỉ sử dụng mang tính chất định kỳ. ♦ So sánh sự đánh giá của giáo viên và học sinh về thái độ của các em đối với cách thức khen thưởng: Kết quả kiểm nghiệm cho thấy không có sự khác biệt trong đánh giá của giáo viên và học sinh về thái độ của các em đối với cách thức khen thưởng. Phần lớn giáo viên và học sinh đều đánh giá là các em có thái độ HL đối với việc sử dụng các cách thức khen thưởng. Nhìn chung thì không có sự khác biệt nhiều trong đánh giá của giáo viên và học sinh ở cách thức khen thưởng, ở thái độ của học sinh. 2.2.2.3.6 Phương pháp trách phạt Kết quả kiểm nghiệm T- Test, với mức ý nghĩa 5 quan sát(sig>a = 0.05) cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa trong đánh giá của giáo viên và học sinh về mức độ của các cách thức trách phạt. Giáo viên đánh giá cao hơn học sinh trong mức độ sử dụng các cách thức trách phạt. Tuy nhiên thì nhắc nhở nhẹ nhàng đều được đánh giá ở mức độ sử dụng TX. Các cách thức như phê bình trước tập thể đội, phê bình trước toàn trường, cảnh cáo trước tập thể đội đều được đánh giá ở mức độ TT. Trong đánh giá của giáo viên và học sinh không có sự chênh lệch cao về vị trí thứ hạng ở các cách thức: Nhắc nhở nhẹ nhàng, phê bình trước tập thể độ, phê bình trước toàn trường, cảnh cáo trước toàn trường, cách ly 5 ngày tại buồng kỷ luật. ♦ So sánh đánh giá của giáo viên và học sinh về thái đọ của các em đỏi vời các cách thức trách phạt: Với các mức ý nghĩa quan sát (sig>oc= 0.05) ở các cách thức cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa trong đánh giá của giáo viên và học sinh, trừ cách thức phê bình2.2.2.2 Đánh giá của giáo viên về nội dung, cách thức được sử dụng ở các phương
pháp:
Mức độ
Xếp
CBG
IK
TT
TX
RTX
2
XP
Sig
Nội dung
hạng
N
N
N
df
N
N
%
%
%
%
%
Mức độ
Thái độ
PV HL
RK K
HL HL
R
HL
Cách thức CBG IK TT TX RTX
N
N
N
N
N
N
N
N
N
2
XP
df
Sig
2
XP
df
Sig
N
% % % % %
9
23
1
30.814
% % % % %
8
8
0
51.778
Mức độ
Giáo
Nội dung
CBG
IK
TT
TX RTX
Sig
2
XP
viên
N
N
df
N
N
N
%
%
%
%
%
Chủ
nhiệm 3.Tìm hiểu, giúp đỡ
Văn
hóa
Dạy
nghề
Trực
ban
♦ Về nội dung giao việc:
Mức độ
Thái độ
Cách thức
IK TT TX
PV HL
CB
G
RT
X
2
XP
df
RK
HL
K
HL
R
HL
2
XP
df
N N N N N
Sig
N N N N N
Sig
% % % % %
% % % % %
♦ Về mức độ sử dụng, thái độ của học sinh ở phương thức giao việc
Nội dung
Mức độ
Sig
2
XP
df
Xếp
hạng
CBG
IK
TT
TX RTX
N
N
N
N
N
% % % % %
thân.
2.2.2.3 Đánh giá của học sinh về mức độ sử dụng phương pháp, về thái độ của các
em.
2.2.2.3 Đánh giá của học sinh về mức độ sử dụng phương pháp, về thái độ của các
em
Mức độ
Thái độ
Cách thức
CBG IK TT TX RTX
PV HL
2
XP
df
RK
HL
K
HL
R
HL
2
XP
df
N N N N N
Sig
N N N N N
Sig
% % % % %
% % % % %
2.2.3.1 So sánh đánh giá của giáo viên và học sinh về mức độ sử dụng các phương
pháp giáo dục.
2.2.3.2 So sánh đánh giá giữa giáo viên và học sinh về mức độ sử dụng, thái độ
của học sinh ở các phương pháp giáo dục.
Mức độ
Thái độ
Cách thức
Giáo viên Học sinh
Giáo viên Học sinh
Sig
Sig
TB XH TB XH
TB XH TB XH

