Khóa luận tốt nghiệp: Dịch vụ phân phối và những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO

Chia sẻ: Gdfb Gdfb | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:103

0
129
lượt xem
46
download

Khóa luận tốt nghiệp: Dịch vụ phân phối và những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài Dịch vụ phân phối và những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO nêu tổng quan về dịch vụ phân phối, dịch vụ phân phối trong WTO và nghĩa vụ của các nước thành viên. Cam kết của Việt Nam trong WTO về dịch vụ phân phối. Thực trạng dịch vụ phân phối ở nước ta trong thời gian và các tác động cụ thể. Những vấn đề đặt ra đối với việt nam trong quá trình thực hiện các cam kết trong WTO về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối. Dự báo sự phát triển của dịch vụ phân phối ở Việt Nam, giảip pháp để Việt Nam thực hiện tốt các cam kết trong WTO về mở cửa dịch vụ phân phối.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận tốt nghiệp: Dịch vụ phân phối và những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO

  1. TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ -------***------- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI : DỊCH VỤ PHÂN PHỐI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC THỰC HIỆN CAM KẾT CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO Sinh viên thực hiện : Bùi Thị Thanh Nhàn Lớp : Anh 2 – Luật KDQT Khóa : 44 Giáo viên hướng dẫn : GS.TS. Nguyễn Thị Mơ Hà Nội, tháng 5 – 2009
  2. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1 CHƢƠNG 1: DỊCH VỤ PHÂN PHỐI VÀ QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC NƢỚC THÀNH VIÊN .......................................... 4 I. Tổng quan về dịch vụ phân phối........................................................... 4 1. Khái niệm ............................................................................................ 4 1.1. Dịch vụ và đặc điểm của dịch vụ ................................................... 4 1.2. Khái niệm về dịch vụ phân phối ..................................................... 7 2. Vai trò của dịch vụ phân phối trong nền kinh tế quốc dân ................ 8 2.1. Dịch vụ phân phối một chiếm tý trọng đáng kể trong thu nhập quốc dân. ...................................................................................................... 8 2.2. Dịch vụ phân phối thu hút đông đảo lao động, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp. ................................................................................................. 9 2.3. Ngành dịch vụ phân phối góp phần tạo nên động lực phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế. ................................................................... 10 2.4. Vai trò của dịch vụ phân phối trong chuỗi giá trị ........................ 11 2.5. Vai trò của dịch vụ phân phối trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế................................................................................................ 11 3. Đặc điểm của dịch vụ phân phối ...................................................... 12 II. Dịch vụ phân phối trong WTO và nghĩa vụ của các nƣớc thành viên. .................................................................................................................. 15 1. Dịch vụ phân phối trong WTO ......................................................... 15 1.1. Dịch vụ đại lý hoa hồng ............................................................... 15 1.2. Dịch vụ bán buôn ........................................................................ 16 1.3. Dịch vụ bán lẻ ............................................................................. 17 1.4. Nhượng quyền thương mại .......................................................... 18 2. Các phương thức mở cửa dịch vụ phân phối theo quy định của WTO và nghĩa vụ của các nước thành viên ................................................... 20 2.1. Các phương thức mở cửa dịch vụ phân phối theo WTO/GATS .... 20 2.2. Nghĩa vụ của các nước thành viên theo quy định của GATS. ....... 21 i
  3. CHƢƠNG 2: CAM KẾT CỦA VIỆT NAM TRONG WTO VỀ DỊCH VỤ PHÂN PHỐI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH THỰC THI CAM KẾT .............................................................................. 29 I. Cam kết của Việt Nam trong WTO về dịch vụ phân phối ................ 29 1. Cam kết về mở cửa dịch vụ phân phối nói chung ............................ 29 2. Cam kết về mở cửa từng lĩnh vực dịch vụ phân phối cụ thể ............ 31 2.1. Cam kết về mở cửa dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ. ............................................................................................ 31 2.2. Cam kết về mở cửa dịch vụ nhượng quyền thương mại ................ 33 II. Thực trạng dịch vụ phân phối ở Việt Nam ....................................... 34 1. Thực trạng đại lý hoa hồng, bán buôn, bán lẻ ................................. 34 1.1. Những kết quả đạt được .............................................................. 34 1.2. Những tồn tại............................................................................... 37 2. Thực trạng nhượng quyền thương mại ............................................ 39 III. Thực trạng về mở cửa dịch vụ phân phối ở nƣớc ta trong thời gian qua và những tác động cụ thể. ................................................................ 42 1. Nhận xét chung về tình hình thực hiện cam kết mở cửa dịch vụ phân phối. ...................................................................................................... 42 2. Thực trạng mở cửa dịch vụ phân phối kể từ khi gia nhập WTO ..... 46 2.1. Đã tích cực phổ biến về các cam kết của Việt Nam trong WTO. .. 46 2.2. Đã từng bước mở cửa 4 phân ngành dịch vụ phân phối............... 47 3. Đánh giá những tác động do việc mở cửa dịch vụ phân phối .......... 50 3.1. Những tác động tích cực ............................................................. 50 3.2. Những tác động tiêu cực .............................................................. 53 IV. Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong quá trình thực hiện các cam kết trong WTO về mở cửa thị trƣờng dịch vụ phân phối ....... 57 1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ phân phối còn yếu. .......................................................................................... 57 1.1. Khả năng về vốn và huy động vốn còn gặp khó khăn. .................. 57 1.2. Nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế .............................................. 59 1.3. Khả năng liên kết giữa các nhà phân phối trong nước còn yếu.... 60 ii
  4. 1.4. Phương thức kinh doanh của các doanh nghiệp phân phối Việt Nam chưa đa dạng....................................................................................... 60 2. Cạnh tranh sẽ gay gắt hơn trong năm năm tới................................. 62 3. Chưa tận dụng được các quy định về S&D của WTO trong việc mở cửa dịch vụ phân phối .......................................................................... 65 CHƢƠNG 3 : GIẢI PHÁP ĐỂ VIỆT NAM THỰC HIỆN TỐT CÁC CAM KẾT TRONG WTO VỀ MỞ CỬA DỊCH VỤ PHÂN PHỐI ........ 70 I. Dự báo sự phát triển của dịch vụ phân phối ở Việt Nam .................. 70 1. Cơ sở để dự báo ................................................................................ 70 1.1. Dân số đông, thu nhập tăng sẽ thúc đẩy DVPP phát triển. .......... 70 1.2. Hệ thống phân phối ngày càng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội cũng sẽ thúc đẩy dịch vụ phân phối phát triển hơn. ........... 72 1.3. Các nhà phân phối nước ngoài thâm nhập vào thị trường phân phối Việt Nam khiến cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn sẽ tác động tích cực tới chất lượng của dịch vụ phân phối. .......................................... 72 2. Số liệu dự báo ................................................................................... 74 2.1. Sẽ xuất hiện ngày càng nhiều mô hình phân phối hiện đại. .......... 74 2.2. Chính sách của Đảng và Nhà nước sẽ có nhiều tác động tích cực đối với DVPP trong thời gian tới. ....................................................... 75 2. Các giải pháp cụ thể ......................................................................... 75 2.1. Nhóm giải pháp vĩ mô.................................................................. 75 2.2. Nhóm giải pháp đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ phân phối ............................................................................... 78 2.3. Một số giải pháp khác. ................................................................ 81 KẾT LUẬN ................................................................................................. 89 TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 90 iii
  5. DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DVPP Dịch vụ phân phối GATS Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ GATT Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại WTO Tổ chức thương mại Thế giới S&D Những quy định đối xử đặc biệt và khác biệt CPC Danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên Hợp Quốc BTA Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài NQTM Nhượng quyền thương mại ENT Kiểm tra nhu cầu kinh tế DN Doanh nghiệp iv
  6. LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việc trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO đã đánh dấu một bước tiến lớn của nền kinh tế Việt Nam. Kinh tế Việt Nam đã thực sự hội nhập với kinh tế thế giới với rất nhiều cơ hội để phát triển. Nhưng để đạt được điều đó, Việt Nam đã phải trải qua quá trình đàm phán kéo dài tới 11 năm mới có thể đưa ra được những cam kết cuối cùng của mình về mở cửa thị trường khi gia nhập WTO. Trong đó, Việt Nam cũng đã cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối. Dịch vụ phân phối là một ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Lĩnh vực phân phối là cầu nối mang tính sống còn giữa những nhà sản xuất và người tiêu dùng. Một khi vai trò này thực hiện thất bại thì nó có thể dẫn tới những sai lệch lớn trong việc phân bổ nguồn lực kinh tế và thiệt hại kinh tế đáng kể. Đối với Việt Nam, quy mô nền kinh tế còn nhỏ, dịch vụ phân phối hàng năm đóng góp tới 15% GDP1 thì bất cứ một sự xuất hiện các yếu tố nào có thể ảnh hưởng tới dịch vụ phân phối thì đều đáng quan tâm. Nhất là đối với những cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối trong tổ chức thương mại thế giới WTO thì lại càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở tìm hiểu về dịch vụ phân phối và nghiên cứu các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối trong WTO, đề tài sẽ phân tích những vấn đề mà Việt Nam gặp phải khi thực thi các cam kết đó đồng thời sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm thực thi tốt các cam kết gia nhập WTO và phát triển dịch vụ phân phối của Việt Nam. 1 Dịch vụ phân phối và bán lẻ chiếm 15% GDP hàng năm-Lao Động số 236 Ngày 13/10/2008 Cập nhật: 7:43 AM, 13/10/2008. 1
  7. Nhiệm vụ nghiên cứu - Làm rõ những vấn đề cơ bản về dịch vụ phân phối: khái niệm, đặc điểm, vai trò của dịch vụ phân phối. - Tìm hiểu các cam kết dịch vụ phân phối của Việt Nam trong WTO. - Thực trạng hoạt động dịch vụ phân phối tại Việt Nam. - Nghiên cứu những vấn đề mà Việt Nam gặp phải khi thực hiện các cam kết gia nhập WTO. - Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển dịch vụ phân phối. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là dịch vụ phân phối và các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của khoá luận là phân tích các cam kết về mở cửa dịch vụ phân phối nói chung theo bốn phương thức và khi tiến hành phân tích các cam kết từng lĩnh vực dịch vụ phân phối cụ thể, khoá luận giới hạn ở bốn loại hình dịch vụ phân phối là dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ và dịch vụ nhượng quyền thương mại. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Để hoàn thành công việc nghiên cứu, khoá luận sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: thống kê, tổng hợp, hệ thống hoá, phân tích, so sánh. 5. Bố cục của khoá luận Ngoài lời nói đầu, danh mục các từ viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khoá luận gồm 3 chương: Chƣơng 1: Tổng quan về dịch vụ phân phối Chƣơng 2: Cam kết mở cửa thị trƣờng dịch vụ phân phối của Việt Nam trong WTO và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi cam kết. Chƣơng 3: Giải pháp để Việt Nam thực hiện tốt các cam kết trong WTO về mở cửa dịch vụ phân phối 2
  8. Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới GS.TS. Nguyễn Thị Mơ, người đã nhiệt tình hướng dẫn em viết khoá luận, đồng thời em cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Quản trị kinh doanh đã tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt khoá luận này. 3
  9. CHƢƠNG 1: DỊCH VỤ PHÂN PHỐI VÀ QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC NƢỚC THÀNH VIÊN I. Tổng quan về dịch vụ phân phối Lĩnh vực phân phối chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường hiện đại ngày nay. Nó là sự liên kết mang tính sống còn giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng và đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành giá cả. Hoạt động của lĩnh vực này sẽ có những tác động mạnh mẽ tới lợi ích của người tiêu dùng. Đồng thời nó cũng cung cấp cho nhà sản xuất nhiều thông tin cần thiết để họ có thể điều chỉnh các quyết định của mình theo nhu cầu của người tiêu dùng nhằm giảm tối thiểu chi phí và nâng cao lợi nhuận. Một lĩnh vực phân phối hiệu quả sẽ hạn chế được một loạt các loại chi phí khác nhau và tạo cơ hội cho người tiêu dùng có được một sự lựa chọn hàng hoá đa dạng với giá cả cạnh tranh. Một sự hoạt động không hiệu quả của lĩnh vực phân phối có thể dẫn tới những sai lệch lớn trong việc phân bổ nguồn lực và thiệt hại về kinh tế như đã từng xảy ra ở nhiều nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. 1. Khái niệm 1.1. Dịch vụ và đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ phân phối trước hết là một trong nhiều loại hình dịch vụ nên nó sẽ mang những đặc điểm của dịch vụ. Chính vì vậy, điều đầu tiên là cần phải tìm hiểu về dịch vụ. Để đưa ra được một định nghĩa chính xác nhất về dịch vụ không phải là một điều dễ dàng. Hiện nay chưa có một định nghĩa nào về dịch vụ được chấp nhận trên phạm vi toàn cầu. Nguyên nhân là bởi chính những đặc điểm về tính vô hình, khó nhận biết, nắm bắt cũng như sự đa dạng và phức tạp của các loại hình dịch vụ khác nhau đã làm cho việc định nghĩa dịch vụ trở nên khó khăn. Ngoài ra, sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước cũng sẽ dẫn tới những cách hiểu khác nhau về dịch vụ. 4
  10. Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng là phi vật chất. Do vậy, dịch vụ có thể được định nghĩa “là hoạt động của con người được kết tinh thành các loại sản phẩm vô hình, được thực hiện nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống của chính con người”1 Từ định nghĩa này có thể rút ra một số đặc điểm nổi bật của dịch vụ. Đầu tiên, đặc điểm cơ bản nhất của dịch vụ đó là tính vô hình. Khác với sản phẩm vật chất mang tính hữu hình, dễ lượng hoá, dễ xác định và kiểm soát được chất lượng và có khả năng dự trữ thì sản phẩm dịch vụ thường là vô hình, khó lượng hoá, khó xác định được chất lượng và cũng khó và thường là không dự trữ được sản phẩm dịch vụ…Đặc điểm thứ hai đó là quá trình sản xuất hay cung ứng dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời. Bởi cung cấp dịch vụ chính là “quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm dịch vụ thông qua hoạt động tiếp xúc giữa bên cung cấp và bên sử dụng dịch vụ đó”2. Chính vì việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời và không thể tách rời như vậy nên dịch vụ rất khó dự trữ được. Chỉ khi có khách hàng yêu cầu dịch vụ thì người cung cấp dịch vụ mới tiến hành sản xuất. Trọng tâm của quá trình cung ứng dịch vụ là hoạt động, trong khi trọng tâm của quá trình sản xuất vật chất là sự biến đổi của vật chất. Dựa vào các tiêu chí khác nhau hoặc theo những quan điểm khác nhau về dịch vụ thì chúng ta cũng có những sự phân loại dịch vụ khác nhau: - Dựa vào mục đích là kinh doanh, thu lợi nhuận thì dịch vụ có thể phân loại thành dịch vụ mang tính thương mại và dịch vụ không mang tính thương mại. Dịch vụ mang tính chất thương mại là những dịch vụ được thực hiện, được cung ứng nhằm mục đích kinh doanh để thu lợi nhuận (như dịch vụ quảng cáo để bán hàng, dịch vụ môi giới…) còn dịch vụ không mang tính chất thương mại (hay dịch vụ phi thương mại) là những dịch vụ được cung ứng không nhằm mục đích kinh doanh, không vì mục đích thu lợi nhuận (như dịch vụ công cộng thường do các đoàn thể, 1 Nguyễn Thị Mơ (2005), Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại, NXB Lý luận Chính trị. 2 Bài giảng môn quản trị sản xuất và dịch vụ - Bộ môn quản trị doanh nghiệp, Khoa quản trị kinh doanh - trường ĐH Ngoại Thương 5
  11. các tổ chức xã hội phi lợi nhuận cung ứng hoặc do các cơ quan nhà nước cung ứng khi các cơ quan này thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình). - Dịch vụ cũng có thể phân loại thành dịch vụ về hàng hoá và dịch vụ về tiêu dùng dựa vào mục tiêu của dịch vụ 1. Theo đó, dịch vụ về hàng hoá bao gồm dịch vụ phân phối (bao gồm vận chuyển, lưu kho, bán buôn, bán lẻ, quảng cáo, môi giới…) và dịch vụ sản xuất (bao gồm ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, các dịch vụ về kỹ sư và kiến trúc công trình, dịch vụ kế toán kiểm toán, dịch vụ pháp lý…) do những dịch vụ này gắn kết chặt chẽ với việc sản xuất, trao đổi và buôn bán các loại sản phẩm – hàng hoá từ ngành nông – công nghiệp như phục vụ cho việc cung cấp đầu vào cho sản xuất hay phục vụ cho việc phân phối và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Các dịch vụ này còn được gọi là dịch vụ trung gian. Dịch vụ về tiêu dùng gồm dịch vụ xã hội (bao gồm dịch vụ sức khoẻ, y tế, giáo dục, dịch vụ vệ sinh, dịch vụ bưu điện, viễn thông, các dịch vụ nghe nhìn và các dịch vụ xã hội khác…) và dịch vụ cá nhân (gồm dịch vụ sửa chữa, dịch vụ khách sạn, nhà hàng, các dịch vụ giải trí, dịch vụ văn hoá, du lịch…) do các dịch vụ này được tiêu dùng trực tiếp bởi các cá nhân, tổ chức nhằm phục vụ nhu cầu xã hội và thường không liên quan đến thương mại hàng hoá nhưng vẫn mang tính thương mại. Các dịch vụ này còn được gọi là dịch vụ cuối cùng. - Còn trong thương mại quốc tế, theo sự phân loại của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì dịch vụ được phân chia thành 12 ngành dịch vụ và 155 phân ngành. Đó là: 1. Các dịch vụ kinh doanh, 2. Các dịch vụ thông tin, 3. Các dịch vụ xây dựng và các dịch vụ kỹ thuật liên quan, 4. Dịch vụ phân phối, 5. Dịch vụ giáo dục, 6. Dịch vụ môi trường, 7. Dịch vụ tài chính, 8. Dịch vụ y tế và xã hội, 9. Dịch vụ du lịch và và dịch vụ liên quan, 10. Dịch vụ giải trí, văn hoá và thể thao, 11. Dịch vụ vận tải, 12. Các dịch vụ khác 2. 1 Nguyễn Thị Mơ (2005), Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại, NXB Lý luận Chính trị. 2 Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế, Giải thích về biểu cam kết cụ thể trong thương mại dịch vụ của Việt Nam, http://www.nciec.gov.vn/index.nciec?1562. 6
  12. 1.2. Khái niệm về dịch vụ phân phối Khi hàng hoá được sản xuất ra để đến được với những người tiêu dùng thì phải trải qua một chuỗi các hoạt động mua và bán. Dịch vụ phân phối là thuật ngữ mô tả toàn bộ quá trình lưu thông tiêu thụ hàng hoá đó trên thị trường. Chúng là những dòng chuyển quyền sở hữu các hàng hoá qua các doanh nghiệp và tổ chức khác nhau để tới người mua cuối cùng. Quan niệm về DVPP có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Đối với người sản xuất thì DVPP là những cách thức và sự tổ chức hệ thống bên ngoài doanh nghiệp để quản lý các hoạt động phân phối phối giúp họ thực hiện được mục tiêu kinh doanh. Người sản xuất (hay người nhập khẩu) phải tìm ra các trung gian thương mại nào thích hợp để đưa sản phẩm của họ đến các khách hàng cuối cùng nếu như họ không muốn tự mình trực tiếp bán hàng hoá cho người tiêu dùng nhỏ lẻ. Nhà sản xuất có thể thông qua các trung gian như những người bán buôn rồi từ đó tới những người bán lẻ đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng tiêu dùng cuối cùng. Vì vậy, có thể nói DVPP là các hình thức lưu thông sản phẩm qua các trung gian khác nhau. Khi một doanh nghiệp soạn thảo một chính sách phân phối sản phẩm sản xuất ra cũng có nghĩa là doanh nghiệp đó đang lựa chọn những phương thức phân phối phù hợp nhất cho việc bán một hàng hoá hoặc dịch vụ. Đối với người tiêu dùng, dịch vụ phân phối được hiểu là những hoạt động thực hiện chủ yếu tại các cửa hàng bán lẻ-mắt xích cuối cùng của quá trình biến đổi, vận chuyển, dự trữ và đưa hàng hoá, dịch vụ tới tay người tiêu dùng. Còn đối với bản thân những nhà phân phối, DVPP là một lĩnh vực kinh tế riêng biệt có chức năng trung gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Từ những quan niệm trên có thể thấy DVPP là hệ thống các quan hệ của một tập hợp các doanh nghiệp và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau cùng tham gia vào quá trình đưa hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Nó là một chuỗi các mối quan hệ giữa các tổ chức liên quan trong quá trình mua và bán hàng hoá. Mỗi doanh nghiệp trong kinh doanh chắc chắn có sự tham gia vào một hoặc một số DVPP nhất định. Ví dụ, đối với một doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, DVPP của họ bao gồm: hệ thống thu mua nông sản từ những người nông dân và một hệ thống 7
  13. xuất khẩu nông sản ra thị trường nước ngoài...Như vậy, DVPP trở thành đối tượng để tổ chức, quản lý như một công cụ kinh doanh trọng yếu của các doanh nghiệp trên thị trường. Trên bình diện vĩ mô, các DVPP của vô số doanh nghiệp tạo nên một hệ thống thương mại, hệ thống phân phối hàng hoá chung cho toàn bộ nền kinh tế. Đây là hệ thống lưu thông, tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp trên thị trường, theo nhiều chiều, nhiều hướng khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường. DVPP vĩ mô của mỗi quốc gia có chức năng là tạo ra sự phù hợp giữa cung cầu hàng hoá trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế. DVPP vĩ mô bao gồm tất cả các dòng chảy hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế từ người sản xuất tới người tiêu dùng cuối cùng (cả tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng cho sản xuất) nhằm đảm bảo hàng hoá được lưu thông, cung cầu phù hợp và đạt các mục tiêu xã hội. Do đó toàn bộ DVPP vĩ mô là đối tượng nghiên cứu để hoạch định các chính sách tổ chức và quản lý lưu thông phân phối của nhà nước. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong danh mục phân loại ngành dịch vụ CPC (Provisional Central Product Classification) thì dịch vụ phân phối được phân thành bốn nhóm dịch vụ chính. Đó là: dịch vụ đại lý hoa hồng (Commission Agent’s Services), dịch vụ bán buôn (Wholesale Trade Services), dịch vụ bán lẻ (Retailing Services) và nhượng quyền thương mại (Franchising). 2. Vai trò của dịch vụ phân phối trong nền kinh tế quốc dân Là một trong những loại hình dịch vụ, làm cầu nối giữa nhà sản xuất và tiêu dùng, bên cạnh đó còn là cách thức để quá trình lưu thông hàng hoá diễn ra hiệu quả, do vậy DVPP ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. 2.1. Dịch vụ phân phối một chiếm tý trọng đáng kể trong thu nhập quốc dân. Có thể thấy, vai trò đầu tiên của dịch vụ phân phối là việc đóng góp một phần quan trọng trong tổng thu nhập GDP của nền kinh tế. Dịch vụ phân phối chịu trách nhiệm về lưu thông hàng hoá trong nền kinh tế, từ đó có tác dụng thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng phát triển, đồng thời là một yếu tố có tác động lớn tới định hướng phát triển của sản xuất. Sự tăng trưởng của ngành DVPP góp phần tạo nên động lực 8
  14. phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế. Trong tất cả các quốc gia có đầy đủ dữ liệu, lĩnh vực phân phối (bán buôn và bán lẻ cộng lại) chiếm một phần đáng kể trong các hoạt động kinh tế. Phần đóng góp của lĩnh vực phân phối trong tổng GDP nằm trong khoảng từ 8% ở Đức, Ailen đến trên 20% ở Hồng Kông, Trung Quốc và Panama1. Tại nhiều nền kinh tế, lĩnh vực này chỉ đứng thứ hai sau lĩnh vực chế tạo về mức đóng góp GDP và vượt trên các lĩnh vực khác như nông nghiệp, khai khoáng, vận tải, viễn thông và dịch vụ tài chính. Ở Việt Nam, lĩnh vực DVPP cũng đang ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển chung của nền kinh tế trong những năm gần đây. Từ năm 2000 trở lại đây, DVPP đã chiếm tỷ trọng lớn thứ 3 trong tổng mức GDP, khoảng 13-15%, chỉ đứng sau ngành công nghiệp chế biến (20%) và nông nghiệp (18%). 2.2. Dịch vụ phân phối thu hút đông đảo lao động, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp. Dịch vụ phân phối đang là một trong những lĩnh vực kinh tế thu hút nhiều lao động nhất trong nền kinh tế quốc dân. Luôn song hành với dịch vụ phân phối là hàng loạt các hoạt động phụ trợ khác như marketing, dịch vụ tài chính, khuyến mãi, chăm sóc khách hàng…do đó mà số lao động hoạt động trong lĩnh vực phân phối lại chiếm một tỷ lệ đáng kể. Thường thì DVPP tạo ra tới 15% tổng số việc làm. Chẳng hạn tính toán tới số lao động hoạt động trong ngành bán lẻ, mà cụ thể là trong các siêu thị có thể thấy rõ điều đó. Chúng ta có thể thấy được ở một siêu thị cần rất nhiều nhân viên như nhân viên kho, nhân viên thanh toán, nhân viên giám sát bán hàng…cùng với việc nhân với số ca làm việc và số siêu thị hoạt động thì sẽ nhận thấy số lao động nhiều thế nào. Đóng góp của lĩnh vực này trong việc tạo công ăn việc làm thường còn lớn hơn đóng góp vào GDP. Chỉ số thể hiện tầm quan trọng của lĩnh vực phân phối trong các hoạt động kinh doanh chính là tỷ lệ số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối trong tổng số các doanh nghiệp của một nền kinh tế: tỷ lệ này nằm trong khoảng từ ít hơn 20% tại Hoa Kỳ, Đan Mạch,….lên tới 40% tại Hy Lạp và Bồ Đào Nha. Tại Việt Nam, DVPP phát triển cũng đã góp 1 Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Tổng quan các vấn đề về tự do hoá thương mại dịch vụ, NXB Chính trị 2005. 9
  15. phần gia tăng số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, với khoảng 54.000 doanh nghiệp ngoài quốc doanh (chiếm 40% tổng số doanh nghiệp thuộc thành phần này) và không dưới 3.000 doanh nghiệp nhà nước tham gia kinh doanh. Một điều quan trọng nữa là lĩnh vực này đang tạo ra công ăn việc làm đáng kể cho những người lao động có tay nghề thấp. Điều này tạo ra một ý nghĩa rất lớn về mặt xã hội khi nó làm giảm sức ép của nghèo đói, góp phần ổn định xã hội. 2.3. Ngành dịch vụ phân phối góp phần tạo nên động lực phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế. Đúng như định nghĩa đã nêu, vai trò của dịch vụ phân phối là sự kết nối sống còn của nhà sản xuất với người tiêu dùng đặc biệt đặt trong nền kinh tế thị trường hiện đại, khi phân công lao động phát triển ở trình độ cao. Một nền kinh tế có hệ thống phân phối hiệu quả sẽ làm tăng lợi ích cho cả người sản xuất và tiêu dùng. Trong nền kinh tế vốn tồn tại nhiều mâu thuẫn cơ bản như là mâu thuẫn giữa sản xuất khối lượng lớn, chuyên môn hoá của các doanh nghiệp để đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô, chi phí sản xuất đơn vị sản phẩm thấp với nhu cầu tiêu dùng theo khối lượng nhỏ và ngày càng đặc biệt và đa dạng theo sự phát triển của xã hội, thu nhập của dân cư càng tăng lên. Hay là sự khác biệt về không gian giữa sản xuất và tiêu dùng do sản xuất tập trung tại một điểm còn tiêu dùng rộng khắp hoặc ngược lại. Hoặc cũng có thể là sự khác biệt về thời gian do sản xuất và thời gian tiêu dùng không trùng khớp, có thể sản xuất có tính thời vụ còn tiêu dùng quanh năm hoặc ngược lại, do đó người sản xuất phải dự trữ hàng hoá. Quá trình phân phối hàng hoá sẽ giải quyết được những mâu thuẫn này. Trong quá trình lưu thông hàng hoá gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường cả về sản phẩm, thời gian và không gian nên có thể chuyển tải những thông tin cần thiết về nhu cầu thị trường cho những người sản xuất và cung ứng hàng hoá để điều chỉnh theo những điều kiện của thị trường, tạo ra sự ăn khớp về không gian, thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng. Vì thế tạo lập những cầu nối để dẫn dắt người sản xuất định hướng vào nhu cầu thị trường, thúc đẩy phương thức kinh doanh theo nhu cầu của nền kinh tế thị trường, trên cơ sở đó mà tăng cường thương mại hoá và phát triển thị trường cho các ngành kinh tế sản 10
  16. phẩm có lợi thế, cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh cho nền kinh tế đất nước. 2.4. Vai trò của dịch vụ phân phối trong chuỗi giá trị Chuỗi giá trị là một hệ thống các hoạt động trao đổi được tổ chức chặt chẽ từ khâu thiết kế, sản xuất, bán hàng, giao hàng và hỗ trợ sản phẩm của doanh nghiệp nhằm mục đích tạo ra giá trị và tính cạnh tranh cao hơn. Chuỗi giá trị là liên kết cho người tiêu dùng. Theo tổ chức OECD thì quá trình phân phối hàng hoá tạo ra từ 10% cho đến 50% giá của một loại hàng hoá tiêu dùng1. Hay tại Việt Nam, theo một khảo sát của trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh, trong chuỗi giá trị hình thành sản phẩm thì khâu nghiên cứu sản xuất chiếm 30%, khâu sản xuất chiếm 30% trong khi đó khâu phân phối chiếm tới 40%2. Một hoạt động có hiệu quả của dịch vụ phân phối sẽ dẫn tới việc giảm giá, giảm sự méo mó trong cơ cấu giá, tạo điều kiện cho người tiêu dùng hưởng lợi, tạo sự ổn định cho nền kinh tế. 2.5. Vai trò của dịch vụ phân phối trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Một số doanh nghiệp có tiềm lực sẽ mở rộng hệ thống dịch vụ phân phối ra nước ngoài thông qua liên doanh, liên kết với các tập đoàn phân phối nước ngoài hoặc thông qua các trung tâm giới thiệu sản phẩm, trung tâm thương mại của họ ở nước ngoài để đưa sản phẩm của mình hoặc xuất khẩu sản phẩm trong nước tới những người tiêu dùng nước ngoài hay một số doanh nghiệp trong nước lại tiến hành nhập khẩu những hàng hoá từ thị trường nước ngoài để tiêu dùng trong nước thì lúc đó trên bình diện vĩ mô DVPP còn có vai trò liên kết thị trường của một nước với các thị trường còn lại trên thế giới. Điều này thật sự có ý nghĩa đối với các nước đang phát triển bởi họ luôn tìm kiếm cơ hội tham gia vào kênh phân phối toàn cầu như một công cụ cho sự hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế thế giới, tạo điều kiện phát triển kinh tế. 1 Regulation and Performance in the Distribution Sector, OECD Economics Department Working Paper No. 180, OECD/GD (97)145, OECD, Paris. Pilat, D. (1997), 2 Đặng Lê Anh, Thị trường bán lẻ Việt Nam: Nguy cơ thua ngay trên sân nhà, Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 23/2007. 11
  17. 3. Đặc điểm của dịch vụ phân phối Là một loại dịch vụ nên DVPP cũng mang đầy đủ những đặc điểm của dịch vụ nói chung. Bên cạnh đó với vai trò của mình, DVPP cũng có một số đặc điểm khác của một lĩnh vực dịch vụ chuyên ngành. Đó là: - DVPP mang tính chuyên môn hoá và phân công lao động cao. Để đảm bảo cho hàng hoá đến được tay người tiêu dùng thì trong quá trình lưu thông hàng hoá phải diễn ra các hoạt động như: chuyển quyền sở hữu, đàm phán, vận động vật chất của hàng hoá, thanh toán, xúc tiến đặt hàng, chia sẻ rủi ro, tài chính, thu hồi, tái sử dụng lại bao gói…Các hoạt động này diễn ra không ngừng, liên tục như những dòng chảy riêng biệt. Các dòng chảy này kết nối các thành viên của DVPP với nhau. Mỗi dòng chảy là một tập hợp các chức năng phân phối được thực hiện bởi các thành viên tham gia vào hệ thống phân phối. Tất cả các chức năng phân phối trong mỗi DVPP đều cần được thực hiện bởi một doanh nghiệp hoặc cá nhân nào đó. Tuy nhiên mọi doanh nghiệp không nhất thiết là phải tham gia vào tất cả các dòng chảy. Các tổ chức kinh doanh nhất định chuyên môn hóa vào một hoặc một số công việc phân phối nhất định. Với sự đòi hỏi phát triển mạnh mẽ trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới diễn ra rộng rãi thì từng dòng chảy này được đầu tư tập trung thực hiện dẫn tới các hoạt động này ngày một chuyên môn hoá cao và sự phân công lao động cũng vì thế mà tăng cao. Vì thế doanh nghiệp sản xuất và nhập khẩu sử dụng những trung gian thương mại hoặc tổ chức bổ trợ khác để thực hiện công việc phân phối là vì họ thực hiện các chức năng phân phối hiệu quả hơn. - DVPP vận hành theo mô hình chuỗi gồm nhiều cấp, tạo thành kênh phân phối. Điểm đầu của một kênh phân phối luôn là những nhà sản xuất ra sản phẩm và điểm cuối của kênh phân phối đó là những người tiêu dùng cuối cùng. Quá trình hàng hoá từ nhà sản xuất tới tay người tiêu dùng có thể đi qua các kênh phân phối dài, ngắn khác nhau; trực tiếp hay gián tiếp. Cấp kênh phân phối là một trung gian bất kỳ thực hiện một công việc nào đó nhằm đưa hàng hoá và quyền sở hữu hàng hoá đến gần người mua cuối cùng. Một công ty phân phối có thể đảm nhận một hoặc tất cả các cấp trong chuỗi phân phối, tuỳ thuộc vào tiềm năng tài chính hoặc mục tiêu kinh doanh của công ty (Xem hình 1). 12
  18. Hình 1. Các kênh phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất cho tới ngƣời tiêu dùng cuối cùng Kênh trực tiếp Kênh ngắn Kênh trung bình Kênh dài Nguồn: Bộ Công Thương - Trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại, WTO và hệ thống phân phối Việt Nam, NXB Lao Động (2008). Nhà sản xuất có thể đưa hàng hoá của mình trực tiếp đến người tiêu dùng, không qua trung gian nào cả thông qua việc bán sản phẩm của mình tại các cửa hàng giới thiệu sản phẩm của công ty hay qua điện thoại…hoặc bằng cách gián tiếp là có thể thông qua các trung gian như đại lý môi giới, người bán buôn, người bán lẻ để đưa tới tay người tiêu dùng sản phẩm của mình. - Cơ cấu ngành của dịch vụ phân phối Cơ cấu ngành phân phối thay đổi tuỳ theo mức độ phát triển, sự khác biệt đặc trưng về cấu trúc và các chính sách của mỗi quốc gia. Song chúng ta vẫn có thể khái quát hoá một số vấn đề chung về lĩnh vực phân phối. Thứ nhất, tại hầu hết các nước, phần lớn các doanh nghiệp bán lẻ chỉ có một cửa hàng và có quyền sở hữu duy nhất. Thứ hai, một phần lớn lĩnh vực này, cả về số doanh nghiệp lẫn doanh số bán lẻ, liên quan đến bán lẻ thực phẩm. Các mặt hàng quan trọng khác là vải sợi, quần áo và giày dép, các thiết bị gia dụng và phụ tùng ô tô. Thứ ba, đặc trưng của lĩnh vực này là các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm một số lượng lớn, lương thấp và sử dụng nhiều lao động có trình độ thấp. Tuy nhiên, với sự thay đổi về thị hiếu của người tiêu dùng và thay đổi công nghệ thể hiện ở các sản phẩm ngày càng phức tạp, tinh 13
  19. vi hơn đã tạo nên sự chuyển biến trong lĩnh vực phân phối theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ, và do vậy, cũng làm tăng nhu cầu đối với lao động có trình độ cao trong ngành này. Hiện nay đang có những thay đổi quan trọng diễn ra trong lĩnh vực phân phối, đặc biệt là tại các nước phát triển. Sự thay đổi này tác động đến cơ cấu của từng phân ngành trong lĩnh vực phân phối cũng như tầm quan trọng tương đối của mỗi phân ngành này. Trước hết, lĩnh vực phân phối ngày càng trở nên tập trung hơn. Điều này thể hiện cả ở việc xuất hiện một số doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực này và việc mối quan hệ giữa các nhà sản xuất, những người bán buôn và những người bán lẻ ngày càng gần gũi hơn, đặc biệt thông qua việc tạo ra các mạng lưới phân phối hàng hoá. Cụ thể như trong lĩnh vực bán lẻ, những cửa hàng nhỏ truyền thống bán những sản phẩm thiết yếu đã được thay thế bằng hệ thống các cửa hàng bách hoá lớn hơn. Thêm vào đó, quy mô trung bình của các cửa hàng cũng đã tăng nhiều cả về mặt doanh thu và số nhân công bán hàng, và mật độ các cửa hàng bán lẻ cũng giảm xuống. Các cửa hàng nhỏ đó không biến mất mà nhập vào thành một phần trong dây chuyền lớn các cửa hàng bán lẻ hoặc hoạt động theo thoả thuận nhượng quyền của các công ty lớn, hướng tới các phân đoạn chuyên biệt hơn trên thị trường. Thứ hai là vị thế của các nhà bán buôn truyền thống nhìn chung đã suy giảm trên thị trường, với ảnh hưởng mạnh nhất đối với phân đoạn thị trường của nhóm “hàng rẻ tiền mau hỏng”. Tuy nhiên, một vài loại hình bán buôn vẫn rất mạnh, ví dụ những hãng bán buôn chuyên cấp hàng cho những đối tượng sử dụng đặc thù như trường học, bệnh viện, những hãng cung cấp trọn gói hàng hoá trong những lĩnh vực như hàng tiêu dùng có giá trị cao và những hãng bán buôn trong những lĩnh vực vật liệu truyền thống và các sản phẩm có số lượng lớn. - DVPP chịu sự tác động mạnh mẽ của thương mại điện tử Sự phát triển của thương mại điện tử có thể mang lại sự thay đổi toàn diện trong lĩnh vực phân phối. Theo định nghĩa hẹp nhất phạm vi của thương mại điện tử chỉ bao gồm các sản phẩm mà có thể được giao qua mạng điện tử. Trong khi đó, định nghĩa rộng hơn lại gồm cả những sản phẩm được quảng cáo, đặt mua và thanh toán qua mạng điện tử. Thực tế có thể nhận thấy là các cửa hàng trên mạng bán hoa, 14
  20. sách báo, ôtô, băng đĩa, máy tính hoặc phần mềm máy tính và thậm chí cả hàng tạp hoá cũng đã và đang xâm nhập mạnh mẽ vào hệ thống bán lẻ truyền thống thông qua việc chuyên kinh doanh một số mặt hàng hoặc nhóm sản phẩm nhất định. Điều này có được là do những ưu thế của các cửa hàng trên mạng như giảm chi phí tìm kiếm, giao dịch và phí lưu kho, đa dạng hoá khả năng lựa chọn mặt hàng, doanh thu cao, nguồn cung cấp hàng rẻ hơn và thông tin thị trường chính xác hơn. Ví dụ, việc mua sách và hàng hoá khác qua mạng cho phép dễ dàng tìm kiếm nhóm mặt hàng cần mua và người bán có thể quảng cáo và đưa thông tin tới đúng khách hàng dựa trên những sở thích của họ. Nhờ đó, những dự báo về việc bán các sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng qua mạng rất lạc quan. II. Dịch vụ phân phối trong WTO và nghĩa vụ của các nƣớc thành viên. 1. Dịch vụ phân phối trong WTO Theo WTO, trong Danh mục Phân loại ngành dịch vụ, tài liệu mã số MTN.GNS/W/120 (hay W/120) được xây dựng trong Vòng Uruguay và phần lớn dựa trên Phân loại Danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên Hợp Quốc (CPC), thì DVPP được phân thành bốn nhóm dịch vụ chính: dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ và nhượng quyền thương mại (franchising) (Xem phụ lục 1). 1.1. Dịch vụ đại lý hoa hồng Dịch vụ đại lý hoa hồng là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao (hoa hồng)1. - Bên giao đại lý, bên đại lý: o Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hoá cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua hoặc là thương nhân uỷ quyền thực hiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ. 1 Điều 166-Luật Thương Mại Việt Nam năm 2005 15

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản