ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ----------------------

LƯƠNG TUẤN TÀI

NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA SỬ DỤNG CÂY THUỐC

TẠI XÃ QUÂN CHU, HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGHUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Sinh Thái & BTĐDSH

Khoa : Lâm Nghiệp

Khóa : 2016 - 2020

Thái Nguyên - 2020

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ----------------------

LƯƠNG TUẤN TÀI

NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA SỬ DỤNG CÂY THUỐC

TẠI XÃ QUÂN CHU, HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGHUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Sinh Thái & BTĐDSH

Lớp : K48 - ST&BTĐDSH

Khoa : Lâm Nghiệp

Khóa : 2016- 2020

Giáo viên hướng dẫn

: TS. Đàm Văn Vinh

Thái Nguyên - 2020

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này do chính tôi. Các số liệu kết quả

nghiên cứu trong khóa luận của tôi hoàn toàn trung thực và chưa công bố

hoặc sử dụng để bảo vệ học vị nào. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 7 năm 2020

Giáo viên hướng dẫn Sinh viên

TS. Đàm Văn Vinh Lương Tuấn Tài

Xác nhận của giáo viên chấm phản biện

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót

sau khi hội đồng chấm yêu cầu

(Ký, ghi rõ họ tên)

ii

LỜI CẢM ƠN

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của Ban

giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp – Trường Đại học

Nông Lâm Thái Nguyên cùng giảng viên hướng dẫn thầy TS. Đàm Văn Vinh

và sự hỗ trợ của cô TS. Nguyễn Thị Thu Hiền tôi tiến hành thực hiện đề tài

“Nghiên cứu tri thức bản địa và sử dụng cây thuốc tại xã Quân Chu, huyện

Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”

Trong quá trình thực tập, ngoài sự nỗ lực của bản thân còn có sự giúp

đỡ của nhiều tổ chức, cá nhân. Tôi xin chân thành cảm sự giúp đỡ của các

thầy cô giáo trong Khoa Lâm nghiệp và đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn

sâu sắc tới hai thầy cô giáo – TS. Đàm Văn Vinh, TS. Nguyễn Thị Thu Hiền

đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập.

Xin được gửi lời cảm ơn đến cán bộ, nhân viên UBND xã Quân Chu,

huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên, cùng sự chỉ đạo tận tình của các thầy lang,

bà mế thuộc xã Quan Chu đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành đề

tài này. Mặc dù đã nỗ lực cố gắng, tuy nhiên do hạn chế về kinh nghiệm cũng

như thời gian và trình độ nghiên cứu nên khóa luận không thể tránh khỏi thiếu

sót. Vì vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý, chỉ bảo của thầy cô

cũng như bạn đọc khác để khoác luận được hoàn thiện hơn nữa.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 7 năm 2020

Sinh viên

LƯƠNG TUẤN TÀI

iii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1. Mẫu bảng điều tra nguồn cây thuốc được một số cộng đồng dân tộc

thiểu số ở khu vực nghiên cứu sử dụng phòng và điều trị bệnh ..... 21

Bảng 4.1. Đa dạng của ngành thực vật tại khu vực nghiên cứu...................... 26

Bảng 4.2. Số lượng họ, chi, loài thuộc hai lớp trong ngành Ngọc lan ............ 27

Bảng 4.3. Sự phân bố số lượng loài cây thuốc trong các họ ........................... 29

Bảng 4.4. Các họ đa dạng nhất ở KVNC ........................................................ 30

Bảng 4.5. So sánh các họ giàu loài ở KVNC (1) với họ giàu loài của hệ thực

vật Việt Nam (2) ............................................................................. 31

Bảng 4.6. Đa dạng về dạng sống tại khu vực nghiên cứu ............................... 32

Bảng 4.7. Sự đa dạng về nơi sống của các loài cây thuốc ở KVNC ............... 34

Bảng 4.8. Danh lục cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ghi nhận ở khu vực

nghiên cứu ....................................................................................... 36

Bảng 4.9. Bộ phận sử dụng của cây thuốc theo kinh nghiệm sử dụng của cộng

đồng dân tộc Dao, Sán Chí tại xã Quân Chu .................................. 38

Bảng 4.10. Tỷ lệ số loài có công dụng chữa các nhóm bệnh cụ thể ............... 41

Bảng 4.11. Danh sách cây thuốc được cả cả 3 dân tộc ở KVNC sử dụng ...... 44

Bảng 4.12. Danh sách cây thuốc được các dân tộc cùng sử dụng chữa nhóm

bệnh về xương khớp ........................................................................ 46

Bảng 4.13. Danh sách cây thuốc các dân tộc cùng sử dụng chữa nhóm bệnh về

gan, thận, dạ dày ............................................................................. 47

Bảng 4.14. Số lượng thầy thuốc được phỏng vấn theo từng dân tộc ở KVNC ...... 48

Bảng 4.15. Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết từ cây Xạ đen và cây Khoan

cân đằng .......................................................................................... 50

iv

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1. Các dụng cụ sử dụng cho nghiên cứu trong đề tài .......................... 22

Hình 4.1. Hình ảnh một số cây thuốc khu vực nghiên cứu ............................. 28

Hình 4.2. Tỷ lệ nhóm bệnh chữa trị từ nguồn cây thuốc theo kinh nghiệm sử

dụng trong cộng đồng dân tộc ......................................................... 42

Hình 4.3: Hoạt tính ức chế E. coli và S. aureus của cây Xạ đen và cây Khoan

cân đằng .......................................................................................... 51

v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ cái viết tắt/Ký hiệu Cụm từ đầy đủ

Danh lục đỏ cây thuốc DLĐCT

Nguy cấp EN

Hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại IIA

Khu vực nghiên cứu KVNC

Nhân khẩu NK

SĐVN - 2007 Sách đỏ Việt Nam 2007

Sắp nguy cấp VU

vi

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i

LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii

DANH MỤC BẢNG ........................................................................................ iii

DANH MỤC HÌNH ......................................................................................... iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................... v

PHẦN 1. MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1

1.1. Đặt vấn đề .............................................................................................. 1

1.2. Mục tiêu yêu cầu của đề tài ................................................................... 2

1.3. Ý nghĩa của đề tài ................................................................................... 3

1.3.1. Ý nghĩa về mặt khoa học ................................................................. 3

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ............................................................................. 3

PHẦN 2. TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU ........................................................... 4

2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu ................................................. 4

2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và thế giới ........................................ 4

2.2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới............... 4

2.2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở trong nước ............. 7

2.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu ....................................................... 16

2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu ........................................ 16

2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu ............................. 18

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 19

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................... 19

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................... 19

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu: ...................................................................... 19

3.2. Nội dung nghiên cứu ............................................................................ 19

vii

3.3. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................... 20

3.3.1. Phương pháp kế thừa ..................................................................... 20

3.3.2. Phương pháp điều tra cộng đồng .................................................. 20

3.3.3.Phương pháp thu thập mẫu............................................................. 22

3.3.4. Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc 23

3.3.5. Phương pháp đánh giá mức độ nguy cấp ...................................... 23

3.3.6. Phương pháp nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn .......................... 23

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................... 26

4.1. Đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng

các dân tộc thiểu số ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tinth Thái Nguyên .... 26

4.1.1. Đa dạng bậc trong bậc taxon ......................................................... 26

4.1.2. Đa dạng về dạng cây của nguồn tài nguyên cây thuốc ................. 32

4.1.3. Đa dạng về môi trường sống của nguồn tài nguyên cây thuốc ..... 34

4.2. Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam đã ghi nhận được

tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên .................................... 36

4.3. Vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân

tộc thiểu số ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên ................... 37

4.3.1. Kinh nghiệm sử dụng bộ phận làm thuốc của cộng đồng dân tộc

thiểu số ở xã Quân Chu ........................................................................... 37

4.3.2. Kinh nghiệm về nhóm bệnh chữa trị của cộng đồng dân tộc thiểu

số ở xã Quân Chu .................................................................................... 40

4.3.3. Sự giao thoa giữa các dân tộc về vốn tri thức bản địa trong việc sử

dụng cây thuốc ở xã Quân Chu ............................................................... 43

4.3.4. Vấn đề truyền thụ kiến thức về cây thuốc trong cộng đồng các dân

tộc ở xã Quân Chu ................................................................................... 48

4.4. Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc được sử

dụng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu ............ 50

viii

PHẦN 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ ........................................ 53

5.1. Kết luận ................................................................................................ 53

5.2. Tồn tại .................................................................................................. 54

5.3. Kiến nghị .............................................................................................. 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 56

PHỤ LỤC ....................................................................................................... 61

1

PHẦN 1

MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

Việt Nam là một quốc gia có 3/4 diện tích đồi núi, là nơi có nguồn tài

nguyên cây thuốc đa dạng và là nơi cư trú của 54 dân tộc mà phần lớn là dân

tộc thiểu số với khoảng 24 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số quốc gia (Trần

Thúy và cs. 2005). Chính sự đa dạng về dân tộc người cùng với sự khác biệt

về điều kiện, thổ nhưỡng, khí hậu, phong tục tập quán, văn hóa từng cộng

đồng dân tộc thiểu số đã tạo nên sự đa dạng và phong phú trong vốn tri thức

dân gian về kinh nghiệm sử dụng cây cỏ xung quanh mình làm cây thuốc

chữa bệnh.

Cây thuốc dân gian từ lâu đã được nhiều người quan tâm đến, đây là

nguồn tài nguyên thực vật có giá trị thiết thực cho các cộng đồng địa phương

trong việc phòng chữa bệnh, ngoài ra nó còn có giá trị trong việc bảo tồn

nguồn gen,cung cấp cho lĩnh vực dược học.

Việt Nam được đánh giá là nước có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng

và phong phú, trong đó có tài nguyên cây thuốc, đặc biệt là khu vực Trường

Sơn. Thêm vào đó với những kinh nghiệm đã được tích lũy qua 4000 năm

lịch sử, đã sử dụng nguồn tài nguyên phục vụ cho nhu cầu cuộc sống từ ăn,

mặc, ở, chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh… của cộng đồng 54 dân tộc anh em.

Đó là một ưu thế lớn trong việc sử dụng nguồn tài nguyên thực vật trong đó

có nguồn tài nguyên cây thuốc góp phần nâng cao đời sống và sức khỏe của

mọi người đặc biệt là các đồng bào Dân tộc thiểu số ở các vùng sâu, vùng xa

nơi cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên

thiên nhiên trong đó có rừng.

Bằng những kinh nghiệm dân gian của những người làm thuốc trong

mỗi dân tộc, những tri thức về cây thuốc được truyền miệng và lưu truyền cho

2

con cháu đời sau, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Trải qua thời gian, các bài

thuốc có tính độc đáo và trở nên thông dụng trong việc chăm sóc sức khỏe

người dân của cộng đồng mình và những dân tộc xung quanh. Vì vậy, đã có

rất nhiều công trình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc cũng như bảo tồn tri

thức y học dân gian được tiến hành và mang lại giá trị khoa học và thực tiễn.

Thái Nguyên là một vùng đất giàu tài nguyên, khí hậu nhiệt đới ẩm,

có thảm thực vật rất đa dạng, phong phú và là nơi có nhiều đồng bào dân tộc

sinh sống như: Tày, Nùng, Sán Chí, Sán Dìu, Dao,… Từ rất lâu đời, đồng bào

các dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên đã có truyền thống chữa bệnh bằng

cây thuốc, mỗi dân tộc lại mang bản sắc và những kinh nghiệm chữa bệnh

bằng thực vật riêng, đặc trưng cho dân tộc mình. Trong số đó có đồng bào các

dân tộc thiểu số tại xã Quân Chu- Huyện Đại Từ cũng có nhiều kinh nghiệm

độc đáo về việc chữa bệnh bằng cây thuốc. Tuy nhiên, hiện nay diện tích rừng

ngày càng bị thu hẹp, tình trạng khai thác, mua bán diễn ra một cách phức tạp,

dẫn đến nguồn tài nguyên cây thuốc ngày càng bị suy giảm. Mặt khác những

bài thuốc được đồng bào được đồng bào các dân tộc thiểu số sử dụng từ lâu

đời trong việc phòng và trị một số bệnh nhưng hoạt tính sinh học và cơ sở

khoa học của các bài thuốc chưa được nghiên cứu, chứng minh bằng con

đường khoa học. Vì vậy, để góp phần bảo vệ nguồn gen cây thuốc, bảo tồn và

phát triển các bài thuốc của cộng đồng các dân tộc tại xã Quân Chu - Huyện

Đại Từ, tôi đề xuất ý tưởng đề tài “Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây

thuốc trong cộng đồng dân tộc thiểu số tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ,

tỉnh Thái Nguyên”.

1.2. Mục tiêu yêu cầu của đề tài

3

- Đánh giá được tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh

nghiệm sử dụng cây thuốc của một số cộng đồng dân tộc Dao và Sán Dìu tại

xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Xác định được những cây thuốc thuộc diện quý hiếm ở Việt Nam,

hiện có ở khu vực nghiên cứu.

- Đánh giá được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có

giá trị cao được một số cộng đồng dân tộc Dao và Sán Dìu tại xã Quân Chu,

huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên sử dụng trong phòng và trị bệnh.

1.3. Ý nghĩa của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa về mặt khoa học

- Xác định tri thức bản địa sử dụng các loài cây thuốc của một số

cộng đồng dân tộc thiểu số tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Xác định được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có

giá trị cao tại khu vực nghiên cứu.

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả thu được sẽ là cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất công tác bảo

tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc của một số cộng đồng dân tộc thiểu số

tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

4

PHẦN 2

TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

Phòng và chữa bệnh bằng các loài thảo dược đã được con người sử

dụng từ hàng ngàn năm nay. Nó vẫn đang tồn tại và ngày càng phát triển

mạnh mẽ. Hàng năm, con người đã tìm ra được những hoạt chất quý trong các

loài thảo dược có thể phòng và chữa trị được những căn bệnh từ đơn giản

hàng ngày như cảm cúm, ho sốt đến những căn bệnh nan y như ung thư, bệnh

tim, suy thận,... hay những căn bệnh nhiệt đới nguy hiểm như dịch cúm A

H5N1, H1N1,... Các cây thuốc và bài thuốc có được nhờ kinh nghiệm tích lũy

qua nhiều thế hệ giờ đây đang dần mất đi theo thời gian. Do đó việc gìn giữ

vốn kiến thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc và bài thuốc từ thảo dược

là việc hết sức cần thiết. Theo tổ chức y tế thế giới WHO, khoảng 80% dân số

hiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm

sóc sức khỏe cộng đồng.Vậy, nghiên cứu về các loài cây thuốc là hết sức cần

thiết cho việc bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc và bài thuốc cho thế hệ

hôm nay và mai sau.

2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và thế giới

2.2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới

Tổ tiên loài người từ khi xuất hiện đã gắn bó với thiên nhiên, trải qua

quá trình đấu tranh với thiên nhiên và bệnh tật để sinh tồn. Trong quá trình

đó, tổ tiên chúng ta ngay từ khi còn là các tộc người đã sớm phát hiện ra

những cây cỏ trong tự nhiên có thể sử dụng làm thuốc, đồng thời trong cuộc

sống lao động, đấu tranh với bệnh tật đã sáng tạo ra những bài thuốc và

phương pháp chữa bệnh.

5

Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về sử dụng cây thuốc

cho mục đích chữa bệnh của người dân bản địa ở các khu vực, các quốc gia

được các nhà khoa học thực hiện trên khắp các châu lục trên Thế giới:

Ở Châu Á:

Châu Á là châu lục có nhiều dân tộc bản địa sinh sống, với vốn tri

thức bản địa về việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc phong phú và đa

dạng, đã có những nghiên cứu cụ thể ở các cộng đồng người, các khu vực

khác nhau như:

Homervergel G. Ong và Young - Dong Kim (2014) nghiên cứu về

thực vật học định lượng của các cây thuốc được sử dụng bởi các nhóm bản

địa Ati Negrito ở đảo Guimaras, Philippin đã tìm thấy 142 loài cây dược liệu

thuộc 55 họ được sử dụng trong 16 loại bệnh [40].

Tahira Bibia và cs. (2014) nghiên cứu thực vật dân tộc của cây thuốc ở

quận Mastung của tỉnh Balochistan, Pakistan đã chỉ ra 102 loài thực vật thuộc 47

họ được người dân sử dụng cho mục đích điều trị các loại bệnh khác nhau [46].

Mi-Jang Song và cs. (2014) khi điều tra và phân tích các kiến thức

truyền thống về cây thuốc được sử dụng bởi các cư dân tại Vườn quốc gia

(VQG) Gayasan, Hàn Quốc đã điều tra và thống kê 200 loài thực vật thuộc

168 chi và 87 họ được các cư dân sử dụng để điều trị các loại bệnh khác nhau

như: rối loạn cơ xương, đau nhức, rối loạn hệ hô hấp, bệnh gan và các vết cắt

vết thương [43].

Dol Luitel và cs (2014) khi nghiên cứu cây thuốc được sử dụng bởi

cộng đồng người Tamang ở quận Makawanpur của Trung tâm Nepal đã tìm

thấy 161 loài thực vật thuộc 144 chi và 86 họ đã được người dân sử dụng để

điều trị các loại bệnh khác nhau [38].

Ở Châu Âu:

6

Y học dân gian châu Âu có một lịch sử lâu dài, những tri thức dân

gian bản địa được truyền lại cho các thế hệ sau bằng việc ghi chép lại và

thông qua truyền miệng qua nhiều thế kỉ.

Seyid Ahmet Sargin và cs. (2013) nghiên cứu về các loài cây thuốc

được sử dụng bởi người dân địa phương của Alasehir, Manisa, Thổ Nhĩ Kỳ đã

thu thập được 137 loài thực vật được người dân bản địa sử dụng để điều trị các

bệnh khác nhau [44].

Ở Châu Mĩ:

Việc nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc của người dân bản địa

cũng được thực hiện:

Theo nghiên cứu “Thực vật dân tộc của người dân Rayones, Nuevo

León, Mexico” năm 2014, đã ghi nhận 252 loài thực vật thuộc 228 chi và 91

họ được người dân Rayones sử dụng để điều trị các bệnh, trong đó các họ

được sử dụng chủ yếu là: Asteraceae và Fabaceae (Eduardo Estrada-Castillón

và cs., 2014) [39].

Nghiên cứu “Cây thuốc trong bối cảnh văn hóa của một cộng đồng

Mapuche – Tehuelche trong thảo nguyên Datagonia Argentina” đã chỉ ra 121

loài thực vật được cộng đồng sử dụng để điều trị các bệnh liên quan đến tiêu

hóa, hô hấp, tim mạch, giảm đau, chống viêm, sản khoa, phụ khoa và sinh dục

(Soledad Molares và Ana Ladio, 2014) [45].

Ở Châu Phi:

Người dân Châu Phi đã sử dụng cây thuốc bản địa hàng nghìn năm nay

để bảo vệ sức khỏe của họ, những nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng cây

thuốc của những người dân bản địa ở châu Phi rất đa dạng và phong phú:

Nghiên cứu “cây thuốc được sử dụng bởi phụ nữ từ rừng ven biển

Agnalazaha Đông Nam Madagascar”, đã thống kê được 152 loài cây thuốc được

7

sử dụng bởi người dân địa phương để điều trị các bệnh, trong đó ghi nhận 8 loài

được sử dụng bởi những người phụ nữ để điều trị các biến chứng trong khi sinh,

các bệnh nhiệt đới như: sốt rét, giun chỉ và các bệnh liên quan đến tình dục như

bệnh lậu và giang mai (Mendrika Razafindraibe và cs., 2013) [42].

Nghiên cứu về “sử dụng và quản lý cây thuốc truyền thống của cộng

đồng dân tộc thiểu số Maale và Ari, ở miền nam Ethiopia”, đã ghi nhận 128

loài cây thuốc thuộc 111 chi và 49 họ được cộng đồng người Maale và Ari sử

dụng để điều trị các loại bệnh khác nhau (Berhane Kidane và cs., 2014) [37].

Kết quả nghiên cứu về cây thuốc được sử dụng trong y học cổ truyền

bởi những người Oromo, quận Ghimbi, Tây Nam Ethiopia, đã thống kê được

49 loài cây thuốc thuộc 31 họ và 46 chi được người Oromo sử dụng để điều

trị các loại bệnh khác nhau (Balcha Abera, 2014) [36].

Ở Châu Úc:

Những nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc bản địa được thực

hiện ở châu Úc còn rất ít. Một nghiên cứu về các loài cây thuốc được sử

dụng bởi cộng đồng thổ dân Yaegl ở miền Bắc New South Wales,

Australia, đã ghi nhận 32 loài cây thuốc thuộc 21 họ được thổ dân Yaegl sử

dụng để điều trị các bệnh (Joanne Packera và cs., 2012) [41].

Như vậy, việc điều tra và thống kê các loài cây thuốc đã để lại những

công trình mang tính khoa học, tính dân tộc sâu sắc, cho thấy vốn tri thức dân

gian bản địa về sử dụng cây thuốc trên thế giới là vô cùng đa dạng và phong phú.

2.2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở trong nước

Ở Việt Nam, tập quán sử dụng cây thuốc đã có từ lâu. Hơn 4000

năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua cuộc đấu tranh

chống giặc ngoại xâm, đấu tranh với thiên nhiên và bệnh tật. Ngay từ

những buổi đầu sơ khai, khi con người còn sống theo lối nguyên thủy,

8

trong quá trình tìm thức ăn, tổ tiên chúng ta đã phát hiện ra công dụng và

tác hại của nhiều loại cây. Suốt một thời gian dài như vậy, tổ tiên chúng ta

đã dần dần tích lũy được nhiều kinh nghiệm, biết lợi dụng tính chất của cây

rừng để làm thức ăn và làm thuốc chữa bệnh (Trần Thúy và cs., 2005) [27].

Thế kỷ thứ XI (TCN), nhân dân ta có tục ăn trầu cho ấm người, thơm

miệng, uống nước chè xanh cho mát, nụ vối cho dễ tiêu,… điều đó nói lên

những hiểu biết về dinh dưỡng và sử dụng thuốc của dân tộc (Lê Trần Đức,

1997) [12].

Từ thời Hùng Vương, tổ tiên ta đã biết nấu rượu, biết dùng Thủy ngân để

ướp xác và sử sách đã ghi chép về một lương y tên là Thôi Vỹ đã biết chữa bệnh

lao hạch ở thời An Dương Vương (257 – 207) (Trần Thúy cs., 2005) [27].

Thời nhà Lý (1010 – 1221) đã có tổ chức Ty Thái Y chăm lo và bảo

vệ sức khỏe cho nhà vua, có nhiều thầy thuốc chuyên lo việc chữa bệnh cho

nhân dân và phương pháp chữa bệnh bằng tâm lý liệu pháp phát triển. Trong

sử sách còn ghi lại năm 1136, vua Lý Thần Tông bị điên được lương y

Nguyễn Chí Thành người Gia Viễn – Ninh Bình dùng tâm lý liệu pháp và tắm

nước Bồ hòn chữa cho khỏi bệnh. Nhà Lý đặt quan hệ với Tống Huy Tông

(Trung Quốc) trao đổi thuốc Nam lấy thuốc Bắc (Trần Thúy và cs., 2005)

[27]. Ở thời này, làng Đại Yên là một làng thuốc nổi tiếng, chuyên trồng và

bán các loại cây thuốc Nam phục vụ công tác chữa bệnh (Viện Dược liệu,

1993) [30].

Thời nhà Trần (1224 – 1399), y học cũng khá phát triển, đã có kế

hoạch tự túc thuốc Nam để kháng chiến. Tướng Phạm Ngũ Lão đã trồng cây

thuốc ở Vạn An và Dược Sơn (xã Hưng Đạo – Chí Linh – Hải Dương) để

cung cấp cho quân y (Lê Trần Đức, 1997) [12]. Nổi bật ở thời này là nhà sư

Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá Tĩnh) – được nhân dân tôn trọng, gọi là “Ông thánh

9

thuốc Nam”. Tuệ Tĩnh đã xây dựng 74 ngôi chùa chữa bệnh cho nhân dân

không lấy tiền và gây phong trào trồng thuốc ở gia đình. Ông là một đại sư

nước Việt dùng thuốc Nam giảm giá trị của thuốc Bắc, sắc thuốc chữa bệnh

cho nhân dân với phương châm: “thuốc Nam chữa bệnh người Nam” ông đã

truyền bá y dược cổ truyền cho nhân dân trong các tác phẩm (Lê Trần Đức,

1997) [12].

Thời kỳ nhà Lê (1428 – 1876) đã có những chủ trương tiến bộ trong

việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân, tổ chức Thái Y Viện, có

lương y chăm lo việc chữa bệnh cho quân đội, hàng năm tổ chức các đợt

phòng và chống dịch bệnh cho nhân dân. Trong giai đoạn này có làng thuốc ở

thôn Nghĩa Trai, huyện Văn Lâm, hiện nay vẫn còn tồn tại và phát triển (Trần

Thúy và cs., 2005) [27].

Thế kỷ XVIII, Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (1729 –

1791) đã thừa kế dược học của Tuệ Tĩnh chép vào tập “Lĩnh Nam bản thảo”

nội dung gồm 496 vị thuốc Nam của “Nam dược thần hiệu” và phát hiện thêm

hơn 300 vị nữa. Tác giả đã để lại bộ sách thuốc rất có giá trị là: “Tân Hoa Hải

Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh dương an toàn trạch” gọi tắt là “Lãn Ông Y

Nghiệp” hay “Lãn Ông Y Tập” gồm 66 quyển (Nguyễn Nhân Thống, 2008)

[20]. Suốt 30 năm của cuộc dời mình, tác giả đã xây dựng được nền móng cho

nền y học cổ truyền Việt Nam toàn diện cả về lý luận, phương pháp điều trị

và dược liệu.

Ngoài các bộ sách trên, còn kể đến tập “Vạn phương thập nghiệm”

của Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh gồm 8 tập, xuất bản 1763. Tập “Nam bang

thảo mộc” của Trần Nguyệt Phương mô tả 100 loài cây thuốc Nam, xuất bản

năm 1858 (Lê Trần Đức, 1997) [12].

10

Thời kỳ Tây Sơn (1788 – 1808) Nguyễn Hoành đã để lại tập “Nam

dược” với 590 vị thuốc, với các phương thuốc kinh nghiệm gia truyền (Lê

Trần Đức, 1997) [12].

Thời kỳ từ năm 1802 – 1883, nhà Nguyễn cũng tổ chức Thái Y Viện,

tổ chức điều trị bệnh phong tập trung, mở trường dạy thuốc ở Huế (Trần Thúy

và cs., 2005) [27]. Nguyễn Quang Lượng, Nguyễn Kinh,… là những danh y

nổi tiếng thời này, đã góp phần phát triển nền y học với quyển: “Nam dược

tập nghiệm quốc âm” bằng chữ Nôm của Nguyễn Quang Lượng về phương

thuốc dân gian.

Trong thời Pháp thuộc (1848 – 1945), y học cổ truyền nước ta có một

số hoạt động như: thành lập các hội y học ở Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ; mở

các lớp huấn luyện y học cổ truyền, mở các phòng chữa bệnh, tổ chức triển

lãm y học cổ truyền,… (Trần Thúy và cs., 2005) [27]. Đến đầu thế kỷ XX, đã

cho xuất bản một số sách Y học cổ truyền bằng chữ quốc ngữ như “Việt Nam

dược học” của Phó Đức Thành. Nhiều nhà thực vật học người Pháp và người

Việt góp công nghiên cứu cây thuốc Việt Nam, như: bộ “Trung Việt dược tính

hợp biên” của Đinh Nho Chân với 1.600 vị thuốc Nam Bắc.

Sau cách mạng tháng 8 – 1945, y dược học cổ truyền đạt được

những thành tựu to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Bộ y tế cùng y học hiện đại,

sức khỏe của người dân được quan tâm và chăm lo chu đáo hơn. Chỉ thị số

210 TTG/VG ngày 06/12/1966 của thủ tướng chính phủ đã nhận định như

sau: “Dược liệu nước ta rất nhiều, gồm các loài cây thuốc và một số động

vật. Có nhiều loài quý, hiếm ở trên thế giới. Dược liệu ở nước ta chẳng

những là cơ sở cho nền y học dân tộc mà còn có một vị trí quan trọng trong

nền y học hiện đại, chẳng những là nguồn tự cung tự cấp về các loài cây

thuốc Nam, thuốc Bắc, thuốc Tây, mà còn là loại hàng xuất khẩu có giá

11

trị,… phải coi trọng dược liệu như cây công nghiệp cao cấp” (Võ Văn Chi,

1996) [31].

Vì vậy, sau khi nước nhà thống nhất, việc nghiên cứu cây thuốc ở nước

ta được quan tâm nhiều hơn. Có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu, tìm tòi và phát

hiện thêm nhiều loài cây thuốc mới. Tiêu biểu có thể kể đến bộ sách “Dược liệu

học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập, do Đỗ Tất Lợi biên soạn năm 1957 và

đến năm 1961, cuốn sách này được tái bản in thành 2 tập. Trong đó, tác giả đã

mô tả chi tiết và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam (Nguyễn Tập, 2007)

[21]. Đỗ Tất Lợi đã tiếp tục dày công nghiên cứu và trrong những năm từ 1959 –

1965, tác giả cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6

tập, năm 1969 tái bản trong 2 tập. Cuốn sách này của tác giả đã đề cập đến trên

500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật. Tác giả đã kiên trì

nghiên cứu, bổ sung liên tục các loài cây thuốc trong các công trình nghiên cứu

của mình và sách đã được tái bản nhiều lần và các năm 1970, 1977, 1981, 1986,

1995, 1999, 2001 và năm 2003. Lần tái bản thứ 7 vào năm 1995 số cây thuốc

của tác giả nghiên cứu đã lên tới 792 loài và gần đây nhất là lần tái bản lần thứ

13 (dẫn theo Lê Thị Thanh Hương, 2007) [11]. Bộ sách của tác giả đã mang lại

giá trị khoa học và giá trị thực tiễn sâu sắc, thể hiện sự kết hợp giữa khoa học

dân gian và khoa học hiện đại.

Trong những năm này, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa

học đã được xuất bản thành các tập sách như: “Tài Nguyên cây thuốc Việt Nam”

vào 1993 của Viện Dược liệu, với khoảng 300 loài cây thuốc (Phạm Hoàng Hộ,

2006); Trần Đình Lý với cuốn “1900 loài cây có ích” năm 1995, đã thống kê ở

Việt Nam có khoảng 76 loài cho nhựa thơm, 260 loài cho dầu béo, 160 loài có

tinh dầu, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây (dẫn theo Lê Thị Thanh Hương,

2007) [11]. Lương y lão thành, thầy thuốc ưu tú Lê Trần Đức với cuốn: “Cây

thuốc Việt Nam” năm 1995 đã giới thiệu hơn 830 loài cây thuốc chính, phụ (Lê

12

Trần Đức, 1997) [12]. Võ Văn Chi là một nhà thực vật lớn của Việt Nam, đã

đóng góp rất nhiều trong quá trình nghiên cứu về các loài thực vật ở Việt Nam

và ông đã biên soạn cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, trong đó ông mô tả rất

tỷ mỷ về các cây được sử dụng làm thuốc ở Việt Nam bao gồm 3.200 cây

(Nguyễn Thượng Dong và cs., 2006) [22]. Ngoài ra, cuốn “Cây cỏ có ích ở Việt

Nam” tập I, II đề cập đến rất nhiều cây cỏ có ích như làm gỗ, làm lương thực,

làm thuốc (Nguyễn Thượng Dong và cs., 2006) [22].

Trong những năm từ 2000 đến nay, đã có nhiều cuốn sách và các tài

liệu về cây thuốc được xuất bản nhằm đáp ứng nhu cầu của nhiều người quan

tâm tới cây thuốc trên khắp đất nước Việt Nam như: “577 bài thuốc dân gian

gia truyền” (Âu Anh Khâm, 2001) [1]; “Thuốc Nam, thuốc Bắc và các

phương thang chữa bệnh” (Tào Duy Cần, 2001) [28] và cuốn “Thuốc bệnh 24

chuyên khoa” (Tào Duy Cần, 2006) [29]; “Nghiên cứu cây thuốc từ thảo

dược” (Nguyễn Thượng Dong và cs., 2006) [22]; “Cây có vị thuốc ở Việt

Nam” do Phạm Hoàng Hộ nghiên cứu và tập hợp (Phạm Hoàng Hộ, 2006)

[26]; “Cây thuốc, bài thuốc và biệt dược” của Phạm Thiệp và cộng sự (2000)

[27] đề cập tới 327 cây thuốc phổ biến,… Đồng thời, có nhiều công trình

nghiên cứu về cây thuốc trên cả nước công bố trên các tạp chí về cây thuốc

như: Đặng Quang Châu (2011) [3] đã công bố một số dẫn liệu về cây thuốc

của dân tộc Thái ở huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) gồm 177 loài, thuộc 149 chi,

thuộc 71 họ khác nhau; Đặng Quang Châu và Bùi Hồng Hải (2003) [5] khi

điều tra các loài cây của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu (Nghệ An) đã thu

được 93 loài thuộc 7 chi, 42 họ.

Các tác giả đã phân loại cây được sử dụng theo các nhóm bệnh: bệnh

ngoài da, bệnh về đường tiêu hóa, bệnh về gan, bệnh về xương… Lưu Đàm

Cư và cộng sự (2004) [13] khi điều tra các loài cây có ích của dân tộc

H’mông ở vùng núi cao phía Bắc đã phân loại được 4 nhóm theo công dụng:

13

cây lương thực – thực phẩm, cây làm thuốc, cây có độc, cây để nhuộm màu,

cây ăn quả. Trong nhóm này cây làm thuốc đã thống kê được 657 loài thuộc

118 họ mà người H’mông sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho người và gia súc.

Nguyễn Thị Thủy và Phạm Văn Thỉnh (2004) [26] đã xây dựng các mô hình

vườn bảo tồn cây thuốc ở vùng cao Sa Pa, như vườn rừng, trang trại, vườn các

hộ gia đình. Bước đầu đã bảo tồn được 52 loài cây thuốc thuộc 28 họ, trong

đó có nhiều loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.

Trong Hội nghị Khoa học Toàn quốc lần thứ 4 năm 2011 tại Hà Nội,

đã có nhiều báo cáo khoa học về tài nguyên cây thuốc và cách sử dụng các

loài cây thuốc trong điều trị các bệnh của cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt

Nam được công bố như: một số kết quả nghiên cứu “Các loài thực vật được

đồng bào dân tộc Mường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò sử

dụng làm thuốc trị bệnh thận” của các tác giả Đỗ Sĩ Hiến và Đỗ Thị Xuyến

(2011) [7] đã chỉ ra 65 loài thực vật được đồng bào dân tộc Mường sử dụng

làm thuốc chữa bệnh về thận; “Những cây thuốc được sử dụng thay thế mật

gấu theo kinh nghiệm dân gian và đông y ở một số địa bàn tỉnh Thái Nguyên”

của tác giả Lê Thị Thanh Hương và Nguyễn Thị Thuận (2011) [10] đã thu

được 35 loài thuộc 27 chi, 21 họ của 2 ngành thực vật bậc cao được sử dụng

làm thuốc chữa bệnh thay thế mật gấu ở một số địa bàn tỉnh Thái Nguyên;

“Điều tra các loài cây thuốc và giá trị sử dụng của chúng ở một số xã thuộc

huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp” của tác giả Võ Thị Phượng và Ngô Trực

Nhã (2011) [33] đã điều tra và thống kê 232 loài cây được sử dụng làm thuốc

thuộc 186 chi, 90 họ tại các xã của huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Trong vài năm gần đây một số các công trình nghiên cứu của một số

sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng chỉ ra nguồn đa dạng

về tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam như: một số kết quả nghiên cứu;

14

“Nghiên cứu tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng

trong cộng đồng dân tộc tày tại xã Phú Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái

Nguyên” của tác giả Hoàng Văn Đức (2018) [9] điều tra và thống kê được

147 loài cây được sử dụng làm thuốc thuộc 134 chi, thuộc 37 họ tại xã Phú

Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên;

“Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại xã Yên Ninh,

huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Dương Văn Hưng (2018)

[3] điều tra thống kê được 149 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc ngành

Thông có 1 loài thuộc 1 chi và 1 họ, thuộc ngành Dương xỉ có 3 loài thuộc 3

chi và 3 họ, thuộc ngành Mộc lan có 145 loài thuộc 133 chi và 70 họ sử dụng

làm thuốc tại xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên;

“Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại xã y Tý, huyện

Bát Xát, tỉnh Lào Cai” của tác giả Hoàng Thị Thanh (2019) [8] điều tra đã

thống kê được 102 loài thực vật bậc cao thuộc ngành thạch tùng có 1 loài

thuộc 1 chi và 1 họ, thuộc ngành Dương xỉ với 2 loài thuộc 2 chi và 2 họ,

ngành Ngọc lan có 99 loài thuộc 90 chi và 52 họ sử dụng làm thuốc tại xã Y

Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai;

“Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số

loài cây thuốc tại xã Hoàng Thông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” của tác

giả Nông Thái Hòa (2018) [24] điều tra đã thu được 137 loài thực vật bậc cao

có mạch thuộc ngành Ngọc lan thuộc 129 chi và 72 họ có công dụng làm

thuốc tại xã Hoàng Thông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên;

“Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc

H’Mông tại xã Trung Lèng Hồ, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai” của tác giả

Vàng Văn Trung (2019) [34] đã thu được 90 loài thực vật bậc cao có mạch,

thuộc Ngành Dương Sỉ có 1 loài thuộc 1 họ và 1 chi. Thuộc Ngành Ngọc lan

15

có 89 loài thuộc 80 chi, 52 họ sử dụng làm thuốc tại xã Trung Lèng Hồ,

huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai;

“Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại xã Sàng Ma Sáo,

huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai” của tác giả Lò Văn Nhan (2019) [16] điều tra đã

thu được 91 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc ngành Ngọc lan có 88 loài và

thuộc 78 chi và 46 họ, thuộc ngành Dương sỉ với 1 loài thuộc 1 chi và 1họ,

thuộc ngành Thạch tùng có 1 loài thuộc 1 chi và 1 họ, thuộc ngành Dây gắm

có 1 loài thuộc 1 chi và 1 họ có công dụng làm thuốc tại xã Sàng Ma Sáo,

huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai;

“Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một

loài cây thuốc tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” của tác

giả Vàng A Lả (2018) [35] đã thu được 183 loài thực vật bậc cao có mạch,

thuộc Ngành Dương xỉ có 2 loài thuộc 2 họ và 2 chi. Thuộc Ngành Nấm đảm

có 1 loài thuộc 1 chi và 1 họ. Thuộc Ngành Mộc lan có 180 loài thuộc 156 chi

và 87 họ có công dụng làm thuốc chữa bệnh tại xã Yên Lạc, huyện Phú

Lương, tỉnh Thái Nguyên;

“Nghiên cứu tính đa dạng nguồn cây thuốc được sử dụng trong đồng

bào dân tộc Bru- Vân Kiểu ở xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng

Bình” của tác giả Lương Minh Ngọc (2018) [15] điều tra đã thu được 52 loài

thực vật ngành Mộc Lan thuộc 48 chi và 31 họ có công dụng làm thuốc tại xã

Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình;

“Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại xã Nậm Pung,

huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai” của tác giả Nguyễn Minh Hiếu (2019) [23] điều

tra đã xác định được 75 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc ngành Ngọc lan

có 71 loài thuộc 69 chi và 44 họ, thuộc ngành Dương sỉ với 1 loài thuộc 1 chi

và 1 họ, thuộc ngành Thạch tùng có 2 loài thuộc 2 chi và 1 họ có công dụng

làm thuốc tại xã Nậm Pung, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai;

16

“Nghiên cứu tính đa dạng nguồn cây thuốc được sử dụng trong một số

dân tộc thiểu số tại xã Chiềng Đông, huyện Tuần Giáo, tỉnh Lào Cai” của tác

giả Lò Thị Quý (2018) [14] điều tra đã thu được 52 loài thực vật ngành Mộc

Lan thuộc 48 chi và 31 họ có công dụng làm thuốc tại xã Chiềng Đông, huyện

Tuần Giáo, tỉnh Lào Cai.

Như vậy, việc điều tra và thống kê các loài cây thuốc, các bài thuốc

không những mang lại những giá trị khoa học, giá trị thực tiễn sâu sắc mà còn

đóng góp và công tác bảo tồn nguồn dược liệu nước nhà, bảo tồn những bài

thuốc hay. Nhằm góp phần, bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân

tộc Việt Nam.

2.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu

2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu * Vị trí địa lý:

Xã Quân Chu nằm ở phía đông nam của huyện Đại Từ, cách trung tâm

huyện 20 km có trục đường tỉnh lộ 261 chạy qua trung tâm xã. Có địa giới

hành chính như sau:

+ Phía Đông: Giáp thị trấn Quân Chu;

+ Phía Nam: Giáp giáp xã Phúc Thuận- Thị xã Phổ Yên;

+ Phía Tây Nam: Giáp với dãy núi Tam Đảo- tỉnh Vĩnh Phúc;

+ Phía Bắc: Giáp xã Cát Nê.

Có trục đường tỉnh lộ 261 chạy qua trung tâm xã tương đối thuận lợi

cho giao thương hàng hóa.

Xã có 1.165 hộ với 4.596 khẩu, được phân bố trên 19 xóm, xóm ít nhất

20 hộ, xóm nhiều nhất 156 hộ.

* Đặc điểm địa hình:

Là xã miền núi phía Tây và Tây Nam nằm dưới chân dãy núi Tam Đảo

với địa hình chủ yếu là đồi núi cao, tiếp đến là dạng đồi bát úp và địa hình bằng

17

phẳng, độ cao trung bình 80m so với mặt nước biển; phía Bắc và Đông của xã là

các đồi gò nằm xen giữa các khu dân cư và những cánh đồng có diện tích nhỏ hẹp.

Địa hình xã nghiêng dần từ phía Đông Bắc sang phía Tây Nam .

* Địa chất thổ nhưỡng

Xã Quân Chu tổng diện tích đất tự nhiên là 4.041,43 ha. Trong đó:

- Diện tích nhóm đất nông, nông, lâm nghiệp là: 3.611,1ha, chiếm

89,35%, diện tích đất tự nhiên bao gồm:

+ Đất trồng lúa nước: 86,5ha.

+ Đất trồng cây hàng năm khác: 25,7ha.

+ Đất trồng cây lâu năm: 680,76ha.

+ Đất lâm nghiệp: 2.818,14ha chiếm 69,73% diện tích tự nhiên (trong

đó: rừng sản xuất: 1.989,87ha, rừng đặc dụng: 828,27ha).

- Diện tích đất phi nông nghiệp là: 430,87ha chiếm 10,63% so với

diện tích đất tự nhiên bao gồm:

+ Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp: 95,54ha.

+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 3,93ha.

+ Đất mặt nước chuyên dùng: 103,36ha.

+ Đất sông suối: 100,25ha.

+ Đất tôn giáo: 0,12ha.

+ Đất thổ cư: 60,0ha.

+ Đất chưa sử dụng: 67,47ha.

* Đặc điểm khí hậu:

Khí hậu có hai mùa rõ rệt; Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, khí hậu

nóng ẩm và mưa nhiều; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3, gió đông bắc chiếm

ưu thế, lượng mưa ít, thời tiết hanh khô, đặc trưng khí hậu nhiệt đối nóng ẩm

thể hiện rõ qua các chỉ số nhiệu độ trung bình hàng năm khoảng 22,9oC; tổng

18

tích ôn từ 7.000 - 8.000oC. Lượng mưa phân bố không đều có chênh lệch lớn

giữa mùa mưa và mùa khô, về mùa mưa cường độ mưa lớn, chiếm tới gần

80% tổng lượng mưa trong năm. Điều kiện thời tiết khí hậu khá thuận lợi cho

ngành nông nghiệp phát triển và phát triển du lịch sinh thái.

* Chế độ thủy văn:

Địa bàn xã Quân Chu có 2 suối chính: Suối Đá Đen; Suối Chiểm; đều

bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo, chảy qua địa bàn xã với chiều dài khoảng 7,3

km; hệ thống suối, khe rạch khá dày đặc và ao, đầm của xã nằm rải rác tại các

xóm với tổng diện tích đất sông, suối 195,25ha ; nhìn chung nguồn nước suối

và ao, đầm trên địa bàn xã khá dồi dào, rất thuận lợi cho việc tưới tiêu trồng

trọt, phát triển chăn nuôi thủy sản và cung cấp nước sinh hoạt cho người dân.

2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

* Dân cư, dân tộc:

Toàn xã có 1.165 hộ với 4.596 khẩu, đồng bào dân tộc thiểu số 2.991

khẩu, chiếm 65 % dân số. Với cộng đồng dân tộc gồm 06 dân tộc anh em cùng

chung sống như: Kinh, Tày, Dao, Nùng, Sán Dìu, Hoa đồng bào dân tộc thiểu

số 2.991 khẩu, chiếm 65 % dân số, còn lại 35% dân số là dân tộc Kinh.

* Kinh tế:

Kinh tế nông lâm nghiệp vẫn là ngành chiếm vị trí quan trọng trong

nền kinh tế của xã Quân Chu trong những năm qua.

19

PHẦN 3

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu

Các loài thực vật được một số cộng đồng dân tộc Dao và Sán Dìu tại xã

Quân Chu sử dụng làm chuốc chữa bệnh; kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của

một số cộng đồng dân tộc thiểu số tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái

Nguyên.

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu:

- Địa điểm nghiên cứu:

+ Công tác điều tra thực địa được tiến hành tại xã Quân Chu, huyện

Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

+ Nghiên cứu thực nghiệm (xác định hoạt tính kháng khuẩn) được

tiến hành tại phòng thí nghiệm Khoa Công nghệ sinh học - Trường ĐH Khoa

học Thái Nguyên.

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2020

- Nghiên cứu tri thức của cộng đồng dân tộc: Dân tộc Dao và Sán Dìu.

3.2. Nội dung nghiên cứu

* Đánh giá đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong một

số cộng đồng dân tộc thiểu số tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên:

- Đánh giá đa dạng các bậc taxon của nguồn tài nguyên cây thuốc: đa

dạng bậc họ; đa dạng bậc chi.

- Đánh giá đa dạng về dạng sống của thực vật làm thuốc.

- Đánh giá về môi trường sống của thực vật làm thuốc.

* Xác định những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn: Đánh giá ở mức độ

quý hiếm của các loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu.

20

* Vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của các cộng đồng

dân tộc thiểu số ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Kinh nghiệm sử dụng bộ phận làm thuốc của cộng đồng dân tộc thiểu

số ở xã Quân Chu.

- Kinh nghiệm về nhóm bệnh chữa trị của cộng đồng dân tộc thiểu số ở

xã Quân Chu.

- Ảnh hưởng của sự giao thoa giữa các dân tộc đến vốn tri thức bản địa

trong việc sử dụng cây thuốc.

- Vấn đề truyền thụ kiến thức về cây thuốc trong cộng đồng dân tộc

thiểu số ở xã Quân Chu.

* Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có giá trị

cao được một số cộng đồng dân tộc thiểu số tại khu vực nghiên cứu sử dụng

trong phòng và chữa trị bệnh.

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Phương pháp kế thừa

- Kế thừa những những tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở

khu vực nghiên cứu và các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.

- Kế thừa kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các ông lang, bà mế

người dân tộc ở khu vực nghiên cứu.

3.3.2. Phương pháp điều tra cộng đồng

- Điều tra phỏng vấn thu thập cây thuốc: tại khu vực nghiên cứu, phỏng

vấn các ông lang, bà mế, người dân có kinh nghiệm sử dụng cây thuốc và sử

dụng các bài thuốc gia truyền của một số cộng đồng dân tộc thiểu số tại địa bàn

nghiên cứu. Mẫu phiếu điều tra dựa theo: phiếu điều tra cây thuốc trong cộng

đồng và phiếu điều tra bài thuốc gian dân (Viện Dược liệu, 1993) [30].

- Thu thập đầy đủ các thông tin cây thuốc gồm: tên phổ thông, tên dân

tộc; số hiệu mẫu/ảnh cây thuốc; dạng sống; môi trường sống; bộ phận sử dụng

21

làm thuốc (thân, rễ, hoa, quả, hạt); công dụng. Đồng thời ghi chép những đặc

điểm dễ nhận biết của cây ngoài thiên nhiên, ghi rõ thời gian, địa điểm và

người thu thập thông tin.

- Định danh tên cây: định danh loài cây theo các bước: (i) định danh

tại thực địa; (ii) sử dụng kiến thức kinh nghiệm của các chuyên gia và nguồn

tài liệu tin cậy đã công bố giám định lại.

+ Bước 1: xác định sơ bộ tên địa phương, tên thường gọi được thực

hiện ngay ở lần điều tra đầu tiên. Đối với những loài chưa chắc chắn thì ghi

chú để kiểm định lại ở bước sau. Các loài không biết tên cần phải lấy mẫu (lá,

hoa, quả,...) và ghi vào biểu điều tra bằng ký hiệu sp1, sp2,... để giám định.

+ Bước 2: tất cả các cây được thẩm định lại tên cây, lập danh mục cây

thuốc bằng sử dụng kiến thức kinh nghiệm của các chuyên gia về thực vật và

nguồn tài liệu tin cậy đã công bố gồm: Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ,

1999) [25], Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 2012) [32], Những

cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2005) [6], Danh lục các loài

thực vật Việt Nam (Trung tâm NCTN&MT – Đại học Quốc gia Hà Nội và

Viện ST&TNSV, 2006) [28]. Danh sách tên cây thuốc sẽ được hoàn thiện ở

bước này.

Bảng 3.1. Mẫu bảng điều tra nguồn cây thuốc được một số cộng đồng dân

tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu sử dụng phòng và điều trị bệnh

Thời gian điều tra: Người điều tra:

TT

Số hiệu mẫu/ảnh

Dạng cây

Bộ phận sử dụng

Công dụng

(1)

Phổ thông (2)

Tên loài Địa phương (3)

Khoa học (4)

(5)

(6)

Môi trường sống (7)

(8)

Cách sử dụng (9)

(10)

Địa điểm điều tra: Địa chỉ điều tra:

22

3.3.3.Phương pháp thu thập mẫu

Tiến hành thu mẫu ở thực địa theo nguyên tắc và phương pháp thu

mẫu theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [19].

Dụng cụ thu mẫu: bản gỗ ép mẫu, túi đựng mẫu, bao tải dứa, kéo

cắt cây, giấy báo, giây buộc, etyket, bút chữ A, sổ ghi chép, máy theo

Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [18].

Nguyên tắc thu mẫu: mỗi cây thuốc thu từ 3 – 10 mẫu và được gắn

nhãn ghi rõ các thông tin về kí hiệu mẫu, thời gian, địa điểm và người thu

mẫu (các mẫu cùng cây đánh số cùng một số hiệu mẫu). Mẫu thu thập sẽ được

xử lý theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [19] như sau:

+ Bước 1: sau mỗi ngày thu mẫu, mẫu vật sẽ được mang về nơi ở, xếp

mẫu ngay ngắn vào một tờ báo cỡ 28 x 42 cm, để mẫu ở trạng thái tự nhiên,

có lá sấp – lá ngửa, vuốt cho thẳng mẫu và đeo etyket cho mẫu.

+ Bước 2: xếp khoảng 15 – 20 mẫu thành một chồng, dùng dây dứa

buộc lại.

+ Bước 3: cho mẫu vào túi nilon và tẩm cồn cho chồng mẫu để bảo quản.

Hình 3.1. Các dụng cụ sử dụng cho nghiên cứu trong đề tài

23

Để đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của một số cộng

3.3.4. Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc

đồng dân tộc thiểu số ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, đề tài

sử dụng phương pháp đánh giá của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [17]:

- Đa dạng về bậc phân loại: ngành, lớp, họ, chi, loài.

- Đa dạng về dạng sống: kí sinh, dây leo, gỗ trung bình, gỗ nhỏ, thảo, bụi.

- Đa dạng về môi trường sống: rừng, đồi, vườn, ven suối hoặc nơi ẩm ướt.

- Đa dạng về bộ phận sử dụng làm thuốc: thân, rễ, lá, hoa, quả, hạt, nhựa,

cả cây.

- Đa dạng về cách chế biến cây thuốc: khô và tươi.

- Đa dạng về các nhóm bệnh chữa trị: bệnh về khớp, tim, dạ dày,

gan, giải độc, xương,…

3.3.5. Phương pháp đánh giá mức độ nguy cấp

Đánh giá mức độ nguy cấp của các loài cây thuốc, xác định những cây

thuốc thuộc diện bảo tồn ở khu vực nghiên cứu theo: Sách đỏ Việt Nam, phần

thực vật rừng (Bộ KH&CN, 2007) [2], Nghị định 06/2019/NĐ-CP (Chính phủ

nước Việt Nam, 2019) [9], Danh sách đỏ cây thuốc Việt Nam trong Cẩm nang

cây thuốc cần được bảo vệ ở Việt Nam (Nguyễn Tập, 2007) [21].

3.3.6. Phương pháp nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn

- Bước 1: Chuẩn bị nguyên liệu.

Nguyên liệu lá, thân, rễ cây thuốc sau khi thu hái được rửa sạch, để ráo

nước sau đó đem sấy khô ở 900C đến khối lượng không đổi.

- Nguyên liệu sau khi sấy khô được nghiền trong máy xay đa năng loại

nhỏ thành bột dạng mịn, bảo quản nơi khô ráo để sử dụng trong các nghiên

cứu tiếp theo.

- Bước 2: Tạo cao chiết

24

Nguyên liệu được tách chiết theo phương pháp ngâm nóng. Nguyên

liệu dạng bột khô được đem đi chiết với tỷ lệ 20g/100ml bằng dung môi

methanol, sau đó cho vào máy lắc với tần số 200 vòng/phút (để các chất có

hoạt tính sinh học tan đều trong dung môi) ở các điều kiện thời gian khác

nhau (24h, 48h, 72h), sau đó tiến hành lọc qua giấy lọc, 80ml dịch lọc được

đem đi cô đặc bằng máy cô quay (hoặc sấy khô) đến khi có khối lượng khô

không đổi và được bảo quản ở 40C để sử dụng trong các nghiên cứu về khả

năng kháng khuẩn.

- Bước 3: Chuẩn bị giống vi khuẩn

Sử dụng 4 chủng vi khuẩn gồm 2 chủng gram dương là S.a

(Staphylococcus aureus), B.s (Bacillus subtilis); và 2 chủng gram âm làP.a

(Pseudomonas aeruginosa), E.coli (Escherichia coli), lấy từ phòng thí nghiệm

Vi sinh - Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên. Bảo quản giống trên môi

trường thạch nghiêng: vi sinh vật được hoạt hóa trong môi trường LB, sau đó

được cấy chuyển sang môi trường thạch nghiêng, nuôi 24 giờ ở 370C, giữ

trong tủ lạnh để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo.

- Bước 4: Thử khả năng kháng khuẩn

Kiểm tra khả năng kháng khuẩn của cao chiết bằng phương pháp

khuếch tán trên đĩa thạch, thí nhiệm được bố trí 3 lần nhắc lại trên một chủng

vi khuẩn 3 đĩa petri trên 1 lần nhắc lại.

Pha các cao chiết của toàn thân cây thuốc với metanol nồng độ 10g/100ml

và 5g/100ml sau đó dùng cao đã pha để thử hoạt tính kháng khuẩn.

Các thao tác được thực hiện trong tủ cấy vô trùng. Khi mật độ vi

khuẩn đạt đến nồng độ 106 tế bào/ml, lắc đều ống nghiệm chứa vi khuẩn.

Môi trường LB đã được hóa lỏng trong lò vi sóng, khi còn lỏng đổ đều môi

trường vào các đĩa Petri, sau đó để nguội để môi trường đông đặc lại tạo

thành mặt phẳng. Dùng micropipet hút 100μl dịch vi khuẩn vào giữa đĩa

25

thạch chứa môi trường LB (Thành phần của môi trường LB là như sau

(g/l): Peptone - 10; Cao nấm men - 5; NaCl -10; pH: 7,0), dùng que cấy

tam giác trang đều cho đến khi mặt thạch khô. Sau 15 phút đục giếng trên

môi trường thạch với đường kính 6 mm, đục 2 giếng, mỗi giếng cách nhau

2 – 3 cm. Mỗi giếng thạch nhỏ 100μl dịch cao chiết cần nghiên cứu bằng

micropipet, sử dụng đối chứng dương là kháng sinh Kanamycin và

Akamicin với nồng độ 5mg/ml để so sánh, để các đĩa thạch trong tủ lạnh 30

phút để dịch cao chiết khuếch tán ra môi trường nuôi cấy vi khuẩn, sau đó

nuôi cấy trong tủ ấm 370C, sau 24h mang ra đo kích thước vòng kháng

khuẩn. Hoạt tính kháng khuẩn được xác định bằng cách đo kích thước vùng

kháng khuẩn (BK) bằng công thức: BK = D - d, trong đó D là đường kính

vòng kháng khuẩn, d là đường kính giếng thạch.

26

PHẦN 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng

các dân tộc thiểu số ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tinth Thái Nguyên

4.1.1. Đa dạng bậc trong bậc taxon

4.1.1.1. Đa dạng về bậc ngành

Kết quả nghiên cứu cây thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm của

đồng bào dân tộc Dao và Sán Dìu tại khu vực nghiên cứu đã ghi nhận được

113 loài thực vật thuộc 2 ngành đó là: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) và

Ngành Thông (Pinophyta) được dân tộc Dao và Sán Dìu sử dụng làm thuốc,

thuộc 106 chi và 65 họ. Các loài cây này đều là những cây mọc phổ biến

quanh làng bản, ở đồi và ở rừng, cũng là những loài mà người dân thường

gặp, nên họ đã lựa chọn để làm thuốc nhiều hơn các loài thực vật khác

Kết quả được tổng hợp tại Bảng 4.1 như sau:

Bảng 4.1. Đa dạng của ngành thực vật tại khu vực nghiên cứu

Số họ

Số chi

Số loài

TT

Tỷ

Tỷ

Tỷ

Ngành thực vật

SL

SL

SL

lệ%

lệ%

lệ%

1 Ngành thông

Pinophyta

1

1,54

1

0,94

1

0,88

2 Ngành Ngọc lan Magnoliophyta 64 98,46 105 99,06 112 99,12

Tổng

65

100

106

100

113

100

Qua dữ liệu cho chúng ta thấy, các loài cây thuốc được sử dụng theo

kinh nghiệm của cộng đồng dân tộc Dao và Sán Dìu ở xã Quân Chu tập trung

chủ yếu ở ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) đây là ngành đa dạng nhất với

112 loài (chiếm 99,12%); 105 chi (chiếm 99,06%); 64 họ (chiếm 98,46%).

Thấp nhất là ngành Thông (Pinophyta) chỉ 1 loài (chiếm 0,88%); 1 chi

(chiếm 0,94%); 1 họ (chiếm 1,54%).

27

Sự phân bố không đồng đều nhau của các taxon không chỉ được thể

hiện giữa các ngành mà còn thể hiện qua sự chiếm ưu thế của các lớp trong

ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) như sau:

Bảng 4.2. Số lượng họ, chi, loài thuộc hai lớp trong ngành Ngọc lan

Lớp

Họ

Chi

Loài

Lớp Ngọc lan - Magnoliopsida

49 76,56

85

80,95

92

82,14

Lớp Hành - Liliopsida

15 23,44

20

19,05

20

17,86

Ngành Ngọc lan - Magnoliophyta

64

100

105

100

112

100

Tỉ lệ lớp Ngọc lan/lớp Hành

3,27

4,25

4,60

Kết quả cho thấy, lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) chiếm ưu thế với 49

họ , chiếm 76,56% số họ trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta); số chi là 85

chiếm 80,95%; và số loài là 92 loài chiếm 82,14%. Một số loài thuộc lớp

Ngọc Lan có thể kể đến như: cây Long não (Cinnamomum camphora (L.)

Presl) (2 long não) sử dụng để tắm cảm; cây Gạo (Bombax malabarium DC)

(2 Mốc men) được cộng đồng dân tộc Sán Dìu tại sử dụng để chữa sỏi thận,

viêm thận, bổ thận; cây Gáo lá to (Nauclea officinalis Merr. Sec). Phamh

(1.Gáo, 2. Vong lén sung) được cộng đồng dân tộc Dao sử dụng chữa 1.Xơ

gan cổ chướng, ngoài ra cũng được cộng đồng dân tộc Sán Dìu sử dụng chữa

2.Gan nhiễm vỡ,....

Lớp hành (Liliopsida) chiếm tỉ trọng thấp hơn với 20 loài, 20 chi và

15 họ. Có thể kể đến một số loài thuộc lớp Hành là: cây Thiên niên kiện

(Aglaonema siamense Engl) (2. Bái ngặn kim) được sử dụng chữa đau xương;

cây Huyết giác (Dracaena cambodiana Pierre ex Gagnep) (2 huyết giác)

dùng để chữa lưu thông máu; cây Lược vàng (Callisia fragrans (Lindl.)

(1.Lược vàng) sử dụng chữa thoái hóa đĩa đệm,...

Tỉ lệ họ giữa lớp Ngọc lan với lớp Hành là 3,27 nghĩa là trung bình cứ

3 đến 4 họ thuộc lớp Ngọc lan thì sẽ có 1 họ thuộc lớp Hành; tương tự tỉ lệ

các bậc chi và bậc loài lần lượt là 4,25 và 4,60 có nghĩa là: trung bình cứ 4 chi

và 4 loài thuộc lớp Ngọc lan sẽ có 1 chi và 1 họ thuộc lớp Hành.

28

Bọ mò trắng - Clerodendrum chinense

Lưỡi cọp sọc - Sansevieria trifasciata

(Osbeck) Mabb

Hort. ex Prain

Lá khôi - (Ardisia silvestris Pitard)

Dẻ quạt - (Belamcanda chinensis (L.) DC)

Phân xanh - (Eupatorium odoratum L.) Lá khôi tía - (Ardisia nigropilosa Pitard)

Dưới đây là một số hình ảnh của một số cây thuốc tại khu vực nghiên cứu:

Hình 4.1. Hình ảnh một số cây thuốc khu vực nghiên cứu

4.1.1.2. Số lượng phân bố các loài cây trong từng họ

29

Số lượng họ cây thuốc thu được ở khu vực nghiên cứu bao gồm 65 họ.

Sự phân bố các họ trong các lớp như sau:

Bảng 4.3. Sự phân bố số lượng loài cây thuốc trong các họ

> 10

loài

3

4

6

7

8

9

Ngành thực vật

1 loài 2 loài

5 loài

và <

loài

loài

loài

loài

loài

loài

15

loài

0

0

0

0

Pinophyta (Ngành thông)

1

0

0

0

0

0

0

0

0

0

Pinopsida

1

0

0

0

0

0

Magnoliophyta (Ngành

0

0

0

1

41

14

3

4

3

1

Ngọc lan)

0

0

0

0

Liliopsida

10

5

0

0

0

0

0

0

0

1

Maguoliopsida

31

9

3

1

3

1

0

0

0

1

Tổng số họ

42

14

3

1

3

1

0

0

0

Tỷ lệ số họ/tổng số họ % 64,62 21,54 4,62 1,54 4,62 1,54

1,54

0

0

0

9

Số loài

42

28

9

4

15

6

Tỷ lệ số loài/ tổng sô

0

37,17 24,78 7,96 3,54 13,27 5,31

0

0

7,96

loài%

Kết quả ở bảng 4.3 cho ta thấy:

Có 42 họ có 1 loài chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm 64,62 % tổng số họ và

37,17% tổng số loài), trong đó có 1 họ thuộc lớp Pinopsida, 10 họ trong lớp

một lá mầm và 31 họ thuộc lớp 2 lá mầm.

Có 14 họ có 2 loài (chiếm 21,54% tổng số họ và 24,78% tổng số loài),

trong đó có 5 họ lớp 1 lá mầm họ Thài lài (Commelinaceae), họ Hòa thỏa

(Poaceae), họ Náng, Thủy tiên (Amaryllidaceae), họ Ráy (Araceae) và 9 họ

lớp 2 lá mầm.

30

Có 3 họ có 3 loài chiếm 4,62% tổng số học và 7,69% tổng số loài),

trong đó 3 họ này thuộc lớp 2 lá mầm, họ Bạc hà (Lamiaceae), họ Ngũ gia bì

(Araliaceae), họ Cam (Rutaceae).

Có 1 họ có 4 loài (chiếm 1,54% tổng số họ và 3,54% tổng số loài),

trong đó 1 họ này thuộc lớp 2 lá mầm, họ Ô rô (Acanthaceae)

Có 3 họ có 5 loài (chiếm 4,62% tổng số họ và 13,27% tổng số loài),

trong đó 3 họ này thuộc lớp 2 lá mầm, họ Dâu tằm (Moraceae), họ Cà phê

(Rubiaceae), họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae).

Có 1 họ có 6 loài (chiếm 1,54% tổng số họ và 5,31% tổng số loài),

trong đó 1 họ này thuộc lớp 2 lá mầm, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).

Có 1 họ có 9 loài đó là họ Asteraceae (Bồ công anh), chiếm 1,54% tổng

số họ và 7,96% tổng số loài, trong đó 1 họ này thuộc lớp 2 lá mầm.

Điều đó đã cho ta thấy được rằng là sự phong phú đa dạng về các họ

thực vật làm thuốc tại khu vực nghiên cứu, nhưng số cá thể trong họ lại rất

hạn chế.

4.1.1.3. Các họ đa dạng nhất

Trong quá trình điều tra về nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây, tôi đã

thu được những loài cây thuốc nằm trong những họ có nhiều loài tại khu vực

nghiên cứu . Số lượng thống kê và so sánh được thể hiện ở Bảng 4.4 như sau:

Bảng 4.4. Các họ đa dạng nhất ở KVNC

Tên họ

Số loài

Số chi

Stt

Tên Việt nam

Tên khoa học

Asteraceae

1 Bồ công anh 2 Thầu dầu (Đại kích ) Euphorbiaceae 3 Cỏ roi Ngựa 4 Dâu tằm 5 Cà phê 6 Ô rô

Verbenaceae Moraceae Rubiaceae Acanthaceae

6 họ đa dạng nhất (9,23%) Tổng số được phát hiện:

SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % 9 6 5 5 5 4 34 113

7,55 5,66 2,83 2,83 4,72 3,77 27,36

7,96 5,31 4,42 4,42 4,42 3,54 30,09

8 6 3 3 5 4 29 106

31

Trong 6 họ giàu nhất giàu loài được xác định ở Xã Quân Chu thì phần

lớn được gặp ở các họ giàu loài của hệ thực vật Việt Nam. Các họ cây thuốc

giàu loài tại khu vực nghiên cứu có 3 họ nằm trong 10 họ đa dạng nhất của hệ

thực vật Việt Nam là: họ Bồ công anh (Asteraceae), họ Thầu dầu (Đại kích)

(Euphorbiaceae), họ Dâu tằm (Moraceae); 3 họ còn lại không nằm trong 10

họ lớn nhất ở Việt nam đó là họ Cỏ roi ngựa, Cà phê và Ô rô. Điều này chứng

minh rằng nguồn cây thuốc ở xã Trọng Con tuy phong phú nhưng vẫn có nét

khác biệt so với tính đa dạng chung của hệ thực vật Việt Nam.

Kết quả so sánh các họ giàu loài của nguồn cây thuốc tại xã Quân Chu

với họ giàu loài của hệ thực vật Việt Nam (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005) được

ghi nhận tại Bảng 4.5 như sau:

Bảng 4.5. So sánh các họ giàu loài ở KVNC (1) với họ giàu loài của hệ

thực vật Việt Nam (2)

TT Họ có nhiều loài (1) (2) Tỷ lệ giữa (1) và (2)

1 Bồ công anh - Asteraceae 9 380 2,37

2 Thầu dầu - Euphorbiaceae 6 477 1,26

6 Cỏ roi ngựa - Verbenaceae 5 162 3,09

4 Dâu tằm - Moraceae 5 179 2,79

5 Cà phê - Rubiaceae 5 492 1,02

6 Ô rô - Acanthaceae 4 227 1,76

Kết quả ở bảng 4.5 cho thấy các cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao

và Sán Dìu ở xã Quan Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Sử dụng chiếm

tỷ lệ tương đối cao so với hệ thực vật Việt Nam. Có những họ nhiều loài như:

Asteraceae (9 loài) chiếm 2,37%, Euphorbiaceae (6 loài) chiếm 1.26%,

Verbenaceae (5 loài) chiếm 3,09%, Moraceae (5 loài) chiếm 2,79 %,

Rubiaceae (5 loài) chiếm 1,02%, Acanthaceae (4 loài) chiếm 1,76%.

32

4.1.2. Đa dạng về dạng cây của nguồn tài nguyên cây thuốc

Đánh giá về dạng sống của cây có thể định hướng được việc bảo vệ,

gây trồng, sử dụng và khai thác bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc. Các

loài cây được cộng đồng các dân tộc thiểu số xã Trọng con sử dụng làm thuốc

có dạng cây rất đa dạng và phong phú (Bảng 4.6)

Bảng 4.6. Đa dạng về dạng sống tại khu vực nghiên cứu

Số lượng

Tỷ lệ %

Dạng sống

Stt

44

38,94

Cây bụi

1

36

31,86

Thân thảo

2

20

17,70

Gỗ nhỏ

3

9

7,96

Dây leo

4

4

4,54

5

Gỗ trung bình Từ kết quả ở Bảng 4.6 cho ta thấy:

Phần lớn cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao và Sán Dìu sử dụng

làm thuộc là dạng cây bụi với 44/113 loài (chiếm 38,94% so với tổng các cây

thuốc thu được). Các dạng cây thuộc nhóm này tập chung chủ yếu như một số

họ Ô rô (Acanthaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Gối hạc (Leeaceae),

họ Hoàng liên gai (Berberidaceae), họ Đơn nem (Myrsinaceae),.. có những

loài chữa bệnh đặc trưng như cây Đại bi (Blumea balsamifera (L.) DC.) (1.

Đại bi) được cộng đồng dân tộc Dao chữa bệnh mề đay, đau xương khớp; cây

Bìm bịp (Clinacanthus nutans (Brm. f.) Lindau) (1.Bìm bịp) sử dụng chữa

đau dạ dày; cây Khổ sâm (Croton tonkinensis Gagnep) (1.Khổ sâm) có tác

dụng chữa tiêu hóa, kiết lị; cây Hương nhu trắng (Ocimum gratissimum L.)

(1. Hương nhu) có tác dụng chữa lá tắm cảm, tiêu chảy,....

Thân thảo đứng thứ 2 với 36/113 loài cây được sử dụng làm thuốc

(chiếm 31,86%). Dạng cây này chủ yếu thu trong các họ Hòa thảo (Poaceae),

họ Gừng (Zingiberaceae). Những cây chữa bệnh đặc trưng như: Cỏ mần trầu

33

(Eleusine indica (L.) Gaertn) (1.Nhả lẹn vài) sử dụng chữa chữa tiêu viêm,

cầm máu; cây Địa liền (Kaempferia galanga L.) (1.Địa liền) chữa đau nhức

xương khớp, phong tê thấp; cây Bồ công anh (Lactuca indica L.) (1.Bồ công

anh) có tác dụng chữa ung thu vú; cây Chó đẻ hoa vàng (Sigesbeckia

orientalis L.) (1.Chó đẻ hoa vàng) có tác dụng chữa viêm khớp; cây Cam thảo

(Scoparia dulcis L.) (2.Cam thảo đất) có tác dụng chữa sỏi thận, lợi tiểu,..

Tiếp đến là gỗ nhỏ với 20/113 loài được sử dụng làm thuốc (chiếm

17,70%) dạng cây chủ yếu thu trong các họ: Dâu tằm (Moraceae), họ Cà phê

(Rubiaceae), họ Thông tre (Podocarpaceae),... Những cây chữa bệnh đặc

trưng như: Kim giao (Nageia fleuryi (Hickel) de Laub) (1.Miềm diềm chay)

chữa giải độc gan; Vỏ dụt (Hymenodictyon orixense (Roxb.) Mabb) (1.Vỏ

dụt) chữa ho; Ngõa (Ficus auriculata Lour) (1.Ngõa) lợi sữa bà bầu; cây Núc

nác (Oroxylum indicum (L.) Kurz) (1.Núc nác) có tác dụng chữa đau dạ dày,

đau nhức xương khớp; cây Ngũ gia bì chân chim (Schefflera heptaphylla (L.)

Frodin) (1.Dáng) có tác dụng chữa đau nhức xương khớp, thấp khớp,...

Tiếp đến là dây leo 9/113 loài (chiếm 7,96%), dạng cây chủ yếu thu

được trong các họ: họ Mã tiền (Loganiaceae), họ Thiên lý (Asclepiadaceae),

họ Kim ngân (Caprifoliaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Tiết dê

(Menispermaceae),... Những cây chữa bệnh đặc trưng như: cây Dây thìa canh

(Gymnema sylvestre (Retz.) R. Br. ex Schult) (1.Dây thìa canh) chữa đau

bụng, đi ngoài; cây Dây gió (Strychnos ignatii Berg) (1.Dây gió) chữa thần

kinh tọa; cây Kim ngân (Lonicera macrantha (D. Don) Spreng) (1.Kim ngân)

có tác dụng chữa viêm gan virut, giải độc gan; cây Đậu ván (Lablab

purpureus (L.) Sweet) (2.Đậu ván) có tác dụng chữa viêm dạ dày; cây Hoàng

đằng (Fibraurea tinctoria Lour) (1.Hoàng đằng) có tác dụng chữa đau nhức

xương khớp,...

34

Cuối cùng là gỗ trung bình (4/113, chiếm 3,54%) dạng cây chủ yếu

trong họ Cau (Arecaceae), họ Long não (Lauraceae),.. Những cây chữa bệnh

đặc trung như: Cây Móc (Caryota urens L.) chữa cao huyết áp; cây Long não

(Cinnamomum camphora (L.) Presl ) tắm cảm,..

Như vậy, việc sử dụng các cây bụi làm thuốc chữa bệnh của người

dân tộc Dao và Sán Dìu ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là

rất phong phú và đa dạng. Việc sử dụng cây thuốc này chủ yếu tập chung vào

những cây dễ thu hái như cây bụi, dây leo,cây thân thào, và cây gỗ nhỏ, với tỷ

lệ khác nhau trong tổng số cây thuốc thu được.

4.1.3. Đa dạng về môi trường sống của nguồn tài nguyên cây thuốc

Việc phân chia các loại nơi sống được căn cứ vào địa hình, đất đai, khí

hậu, nơi mà cây thuốc đó phát triển. Dưới đây là các dạng nơi sống của thực

vật làm thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm sử dụng của dân tộc Dao và

Sán Dìu tại huyện Đại Từ: (i) Làng xóm, làng bản, vườn; (ii) Đất trọc, đồi

cây bụi, trảng cỏ; (iii) Rừng (trồng, tái sinh, tự nhiên); (iv) Ven suối.

Bảng 4.7. Sự đa dạng về nơi sống của các loài cây thuốc ở KVNC

Môi trường sống Số loài Tỷ lệ % Stt

1 Sống ở làng xóm, làng bản, vườn 88 77,88

2 Sống ở rừng (trồng, tái sinh, tự nhiên) 50 44,25

3 Sống ở đồi, cây bụi, đồi trọc, trảng cỏ 26 23,01

4 Sống ven sông ven suối 2 1,77

Tổng 166 146,90

Chú thích: Tỷ lệ % trong bảng hơn 100% do một số loài có thể sống ở nhiều môi

trường khác nhau

Tổng số loài 113

Kết quả cho thấy, số lượng loài cây thuốc phân bố trên các sinh cảnh

là rất khác nhau cụ thể như:

Tỉ lệ cây thuốc có nơi sống ở quanh làng xóm, làng bản, vườn có số

lượng loài lớn nhất với 88 loài được sử dụng làm thuốc (chiếm 77,88% so với

35

tổng số loài phát hiện được), các loài cây thuộc nhóm này có thể kể đến các

loài như: cây Khế (Averrhoa carambola L.) (1.Dong thau chay mọc) chữa

dị ứng công trùng, cây Hải đường (Camellia amplexicaulis (Ptard) Cohen-

Stuart) (1.Hải đường) chữa dị ứng côn trùng và giảm nguy cơ mắc ung thư,

cây Dung đen (Acuminata (Miq.) Brand) (1.Tạp phai) chữa đau dạ dày, trào

dịch dạ dày, cây Bồ kết (Clerodendrum chinense (Osbeck) Mabb) (1.Bồ

kết) có tác dụng chữa trĩ ngoại,...

Đứng thứ hai là các loài cây thuốc sống ở rừng (trồng, tái sinh, tự

nhiên) với 50 loài cây (chiếm 44,25% so với tổng số loài phát hiện được), các

loài cây thuộc nhóm này có thể kể đến các loài như: cây Rau ngót rừng –

(Melientha suavis Pierre) (1.Dâu lùng độ) sử dụng chữa khối u lồi, mụn nhọ,

cây Bàn tay ma (Heliciopsis lobata (Merr.) Sleum) (1.Bàn tay ma) dùng chữa

tăng men gan, cây Bổ béo mềm (Gomphandra mollis Merr) (1.Bổ béo) chữa

viêm loét dạ dày, cây Tơ mành cánh to (Hiptage var. macroptera Merr) (1.

Tràng cấp, 2.Nối gân) cùng được cả cộng đồng dân tộc Dao và Sán Dìu sử

dụng chữa nối gân, đắp đứt gân,....

Đứng thứ ba là loài cây sống ở đồi với 26 loài cây (chiếm 23,01% so

với tổng số loài phát hiện được), các loài cây nhóm này có thể kẻ đến các loài

cây như: cây Đơn mặt trời (Excoecaria cochinchinensis Lour) (1.Đơn mặt

trời, 2.Hồng tào nùn sùn) được cộng đồng dân tộc Dao chữa mề đay, xơ gan,

sỏi thận bên cạnh đó cộng đồng dân tộc Sán Dìu sử dụng chữa ngứa, dị ứng

côn trùng, cây Chân chim hoa trắng (Vitex tripinnata (Lour.) Merr) (1. chẹc

nhạy cec) chữa hậu sản( băng huyết), cây Đinh lăng (Polyscias fruticosa (L.)

Harms) (1.đinh lăng) chữa thông huyết, cây Bán tự mốc (Hemigraphis

glaucescens C. B. Clarke) (2.Bán tự mốc) có tác dụng chữa táo bón,..

Đứng cuối cùng là loài cây sống ven sông ven suối với 2 loài (chiếm

1,77% so với tổng số loài phát hiện được) đó là những cây Thạch xương bồ

36

(Acorus gramineus Soland) (1.Sình pầu) chữa hậu sản (Sản dịch), đau xương

và cây Sung đất (Ficus var. badiostrigosa Corn) (1.Sùi liềm lậu) được cộng

đồng dân tộc Dao sử dụng để chữa tắm gái đẻ, hậu sản

Qua đó cho thấy sự đa dạng và phong phú trong vấn đề sử dụng thuốc

của người dân tộc Dao và Sán Dìu, các cây thuốc được sử dụng có khu vực

phân bố rộng rãi thể hiện tính thích nghi cao và rộng rãi.

4.2. Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam đã ghi nhận

được tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xác định được các loài cây thuốc

thuộc diện nguy cấp và sắp nguy cấp tại bảng kết quả sau:

Bảng 4.8. Danh lục cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ghi nhận ở khu vực

nghiên cứu

Cấp quy định

Stt

Tên phổ thông – Tên khoa học

SĐVN

06/ NĐ-

DLĐCT

2007

CP

2006

IIA

1 Hoàng đằng - Fibraurea tinctoria Lour

VU

2 Lá khôi - Ardisia silvestris Pitard

VU

3 Kim giao - Nageia fleuryi (Hickel) de Laub

EN

4 Hoàng liên gai - Berberi julianae Schneid

EN

IA

Chú thích: SĐVN: Sách đỏ Việt Nam; EN – Nguy cấp – Endangered; 06/NĐ – CP: Nghị định 06 của chính phủ; VU- Sắp nguy cấp – Vulnerable; DLĐCT: Danh lục đỏ cây thuốc, IA: Thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm; IIA: Hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại.

Tại khu vực nghiên cứu phát hiện 4 loài cây thuốc quý hiếm, đang bị

đe dọa tuyệt chủng ở Việt Nam, thuộc 4 chi, 4 họ. của ngành thực vật bậc cao

là ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) và ngành Thông (Pinophyta). Các loài

này đều có tên trong Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam, Nghị Định 06- NDCP

37

về quản lý thực vật, động vật quý hiếm, Sách Đỏ Việt Nam . Dựa vào bảng

trên đã thống kê được:

Cấp VU - Sắp nguy cấp trong sách đỏ Việt Nam và danh lục cây thuốc

có 2 loài:

+ Lá khôi (Ardisia silvestris Pitard) thuộc họ Đơn nem, có tác dụng

chữa đau dạ dày, viêm loét dạ dày.

+ Kim giao (Nageia fleuryi (Hickel) de Laub) thuộc họ Thông tre, có

tác dụng giải độc gan.

Cấp EN – Đang nguy cấp trong trong sách đỏ Việt Nam và danh lục cây thuốc

có 1 loài:

+ Hoàng liên gai (Berberi julianae Schneid) thuộc họ Hoàng liên gai,

có tác dụng chữa viêm họng, viêm xương khớp

Nghị Định 06- NDCP về quản lý thực vật, động vật quý hiếm, có 1 loài:

+ Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour) thuộc họ Tiết dê, có tác

dụng chữa đau nhức xương khớp.

Trong quá trình thực hiện đề tài ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh

Thái Nguyên, chúng tôi nhận thấy có 4 loài cây thuốc thuộc diện đang bị đe

dọa tuyệt chủng ở Việt Nam. Chính vì vậy, cần phải nâng cao ý thức bảo vệ

của mọi người để bảo tồn nguồn gen quý hiếm, phục vụ cho công tác chữa

bệnh lâu dài của người dân nơi đây.

4.3. Vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân

tộc thiểu số ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

4.3.1. Kinh nghiệm sử dụng bộ phận làm thuốc của cộng đồng dân tộc

thiểu số ở xã Quân Chu

Để thấy rõ được tính đa dạng phong phú về việc sử dụng các bộ phận

khác nhau của cây để chữa bệnh của người dân tộc Dao và Sán Dìu ở khu vực

nghiên cứu, kết quả được tổng hợp tại bảng 4.8.

38

Bảng 4.9. Bộ phận sử dụng của cây thuốc theo kinh nghiệm sử dụng của

cộng đồng dân tộc Dao, Sán Chí tại xã Quân Chu

Dao Sán Dìu Stt Bộ phận sử dụng SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ %

1 Cả cây 37 42,05 23,81 10

2 Lá 34 38,64 50,00 21

3 Thân 16 18,18 23,81 10

4 Quả 13 14,77 7,14 3

5 Rễ 11 12,50 19,05 8

6 Vỏ 6 6,82 7,14 3

7 Hạt 4 4,55 4,76 2

8 Bẹ 1 1,14 0,00 0

9 Gai 1 1,14 0,00 0

10 Hoa 1 1,14 4,76 2

11 Củ 1 1,14 2,38 1

60 125 142,05 142,83 Tổng

Chú thích: Tỷ lệ % ở bảng lớn hơn 100 do một số loài có thể sử dụng nhiều bộ phận khác nhau làm thuốc

Qua dữ liệu về tần số sử dụng các bộ phận của cây để chữa bệnh cho

42 Tổng số loài phát hiện của mỗi dt 88

thấy có 11 bộ phận sử dụng được cộng đồng dân tộc thiểu số ở xã Quân Chu

sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho người dân. Trong đó có bộ phận cả cây, lá,

thân, quả được sử dụng nhiều hơn so với các bộ phận khác. Cụ thể:

Đối với sử dụng bộ phận cả cây: Cộng đồng dân tộc Dao biết sử dụng

38/88 loài cây (chiếm 42,05% tổng số loài dân tộc Dao phát hiện), cộng đồng

dân tộc Sán Dìu biết sử dụng 10/42 loài cây (chiếm 23,81% tổng số loài dân

tộc Sán Dìu phát hiện được). Một số loài có thể kể đến như; cây Tóc tiên

39

(Zephyranthes rosea Lindl) (1.Tóc tiên) được sử dụng chữa viêm phổi; cây

Cỏ xước (Achyranthes aspera L.) (1.Cỏ xước, 2.Mèo lá lọt) được cả hai dân

tộc chữa sỏi thận; cây Trinh nữ (Mimosa pudica L.) (1.Trinh nữ) được sử

dụng chữa thấp khớp; cây Cành giao (Euphorbia tirucalli L.) (1.Cành giao)

có tác dụng lợi sữa cho bà bầu, cây Dền gai (Amaranthus spinosus L.) (1.Dền

giai) được cộng đồng dân tộc Dao chữa sỏi thận,...

Đối với sử dụng bộ phận lá: Cộng đồng dân tộc Dao biết sử dụng

34/88 loài cây (chiếm 38,64% tổng số loài dân tộc Dao phát hiện), cộng đồng

dân tộc Sán Dìu biết sử dụng 20/42 loài cây (chiếm 50,00% tổng số loài dân

tộc Sán Dìu phát hiện được). Một số loài có thể kể đến như: cây Cối xay -

Abutilon indicum (L.) Sweet (1.Cối xay) được sử dụng chữa bệnh dải vàng,sỏi

thận; cây Bưởi bung (Acronychia pedunculata (L.) Miq) (1.Bưởi bung) có

công dụng chữa bệnh thần kinh, cây Lá khôi (Ardisia silvestris Pitard) (1.Đìa

doòng phản 2. Khôi) được cộng đồng dân tộc Dao sử dụng chữa bênh đau dạ

dày,bên cạnh đó cộng đồng dân tộc Sán Dìu sử dụng chữa viêm loét dạ dày;

cây Móc diều (Bougainvillea brasiliensis Rauesch) (1.Móc diều) có tác dụng

chữa bổ thận, chữa thận hư,...

Đối với sử dụng bộ thân: Cộng đồng dân tộc Dao biết sử dụng 16/88

loài cây (chiếm 18,18% tổng số loài dân tộc Dao phát hiện), cộng đồng dân

tộc Sán Dìu biết sử dụng 10/42 loài cây (chiếm 23,81% tổng số loài dân tộc

Sán Dìu phát hiện được). Một số loài có thể kể đến như: cây Xạ đen (Ehretia

asperula Zoll. & Mor) (1,2.Xạ đen) có tác dụng chữa bệnh 1.viêm loét dạ

dày, xơ gan, viêm gan 2. viêm gan, u bướu, chống ung thư vòm họng; cây Lá

han (Dendrocnide urentissima (Gagnep.) Chew) (1.Lá han) chữa động kinh;

cây Dây chìa vôi (Cissus repens Lamk) (1.Dây chìa vôi) có tác dụng thoát vị

đĩa đệm, đau nhức xương khớp; cây Hoàng liên gai (Berberi julianae

Schneid) (2.Dạ hen ngoi) có tác dụng chữa viêm họng, viêm xương khớp,.....

40

Đối với sử dụng bộ quả: Cộng đồng dân tộc Dao biết sử dụng 13/88

loài cây (chiếm 14,77% tổng số loài dân tộc Dao phát hiện), cộng đồng dân

tộc Sán Dìu biết sử dụng 3/42 loài cây (chiếm 7,14% tổng số loài dân tộc Sán

Dìu phát hiện được). Một số loài có thể kể đến như: cây Huyết dụ (Cordyline

fruticosa (L.) Goepp) (1.Quyền diêm, 2.Thẹt sư dẹt) được cộng đồng dân tộc

Dao sử dụng chữa tắm gái đẻ, bổ thận cầm máu, trĩ nội, trĩ ngoại , dân tộc Sán

Dìu sử dụng chữa hậu sản; cây Mạn kinh (Vitex trifolia L.) (2.mạn kinh) có

tác dụng chữa bênh cao huyết áp; cây Chuối hoang nhọn (Musa acuminata

Colla) (1.Sán chụi chay) có tác dụng lợi tiểu; cây Tu hú (Gmelina asiatica L.)

(1.Tu hú) có tác dụng chữa tiêu hóa kems,...

Nhìn chung kết quả nghiên cứu đã chứng minh được rằng: các bộ

phận của cây được sử dụng làm thuốc của cả 2 cộng đồng Dao và Sán Dìu ở

khu vực nghiên cứu rất đa dạng và phong phú, đặc biệt đối với kinh nghiệm

sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao. Mặt khác kết quả cũng cho

thấy việc sử dụng bộ phận cả cây hoặc thân hoặc rễ hoặc củ làm thuốc sẽ rất

bất lợi trong việc bảo tồn nguồn gen của cây thuốc, vì vậy chúng ta cần phát

triển và thực hiện các phương pháp trồng cây thuốc có bộ phận được sử dụng

là cả cây hoặc thân hoặc rễ, để bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây

dược liệu trong khu vực nghiên cứu nói riêng và ở Việt Nam nói chung.

4.3.2. Kinh nghiệm về nhóm bệnh chữa trị của cộng đồng dân tộc thiểu số

ở xã Quân Chu

Kết quả nghiên cứu việc sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc để chữa

bệnh của cộng đồng dân tộc Dao và Sán Dìu tại xã Quân Chu mang những nét

độc đáo và mang tính gia truyền. Kết quả được tổng hợp tại Bảng 4.10 và

Hình 4.1.

41

Bảng 4.10. Tỷ lệ số loài có công dụng chữa các nhóm bệnh cụ thể

Dao

Sán Dìu

Stt

Nhóm bệnh chữa trị

SL Tỷ lệ% SL Tỷ lệ%

1

18

20,45

9

21,43

2

8

9,09

6

14,25

3

11

12,50

4

9,52

4

5

5,68

5

11,90

5

8

9.09

3

7,14

6

19

21,59

5

11,90

Nhóm bệnh đường tiêu hóa (đau bụng, đi ngoài, đau dạ dày,....) Nhóm bệnh đường tiết niệu (sỏi thận, thận hư, lợi tiểu, viêm cầu thận,..) Nhóm bệnh phụ nữ, sinh sản, sinh dục, sinh lý (hậu sản (sản dịch, băng huyết, chân tay tê dại...) Nhóm bệnh ngoài da (ngứa, dị ứng công trùng, mề đay, đắp đứt gân, mụn nhọt.) Nhóm bệnh hệ thần kinh (thần kinh, thần kinh tọa, cao huyết áp,...) Nhóm bệnh xương khớp, hệ vận động (đau ngang thắt lưng, đau lưng, đau xương vai gáy,..)

0

0

7 Nhóm bệnh của trẻ em (cam sài trẻ con)

1

1,14

8

3

7,14

12

13,64

9

4

9,52

6

6,82

10

0

0

5

5,68

11

2

2,27

2

4,76

Nhóm bệnh về gan (làm mát gan, gan nhiễm mỡ, giải độc gan,..) Nhóm bệnh về đường hô hấp ho, hen phế quản, viêm phổi.) Nhóm bệnh về ngộ độc (giải độc gan, thanh nhiệt, giải độc.) Nhóm bệnh về ung bướu (u bướu, u xơ tuyến tiền liệt, giảm nguy cơ mắc ung thư, chống ung thư vòm họng )

12 Nhóm thuốc bổ (bổ thận, bổ máu.) 13 Nhóm bệnh cảm cúm (cảm cúm, tắm cảm.) 14 Cầm máu

2 1 2

2,27 2,27 2,27

4,76 2,38 4,76

Tổng số Tổng số loài phát hiện của mỗi dt

2 2 2 101 114,77 46 109,52 88

42

Chú thích: Tỷ lệ % ở bảng lớn hơn 100 do một số loài có thể sử dụng chữa nhiều nhóm bệnh khác nhau

42

4.76

Cầm máu

2.72

Nhóm bệnh cảm cúm

2.38 2.72

4.76

Nhóm thuốc bổ

2.72

4.76

Nhóm bệnh về ung bướu

2.72

0

Nhóm bệnh về ngộ độc

5.68

9.52

Nhóm bệnh về đường hô hấp

6.82

7.14

Nhóm bệnh về gan

13.64

Sán Dìu

ị r t a ữ h c h n ệ b m ó h N

0

Nhóm bệnh của trẻ em

Dao

1.14

11.9

Nhóm bệnh xương khớp, hệ vận động

21.59

7.14

Nhóm bệnh hệ thần kinh

9.09

11.9

Nhóm bệnh ngoài da

5.68

9.52

%

Nhóm bệnh phụ nữ, sinh sản, sinh dục

12.5

ệ l ỷ T

14.25

Nhóm bệnh đường tiết niệu

9.09

21.43

Nhóm bệnh đường tiêu hóa

20.45

0

5

10

15

20

25

Hình 4.2. Tỷ lệ nhóm bệnh chữa trị từ nguồn cây thuốc theo kinh

nghiệm sử dụng trong cộng đồng dân tộc

Dữ liệu cho thấy, 2 cộng đồng dân tộc Dao và Sán Dìu tại xã Quân Chu

có thể sử dụng cây thuốc để chữa trị 14 nhóm bệnh khác nhau theo kinh

nghiệm, trong đó người Dao biết sử dụng cây thuốc chữa trị được 14 nhóm

bệnh, còn người Sán Dìu biết sử dụng cây thuốc chữa trị được 12 nhóm bệnh.

Trong đó có những căn bệnh nan y như ung thư, gan, thận, tim,... Cụ thể:

Với cộng đồng dân tộc Dao: số lượng loài cây được sử dụng làm thuốc

theo kinh nghiệm người Dao tập trung phần lớn vào 3 nhóm bệnh là nhóm

bệnh nhóm bênh tiêu hóa với 18/88 loài cây (chiếm 20,45% so với tổng số

loài được dùng theo kinh nghiệm của dân tộc Dao), tiếp đó là nhóm bênh về

43

nhóm bệnh xương khớp, hệ vận động với 19/88 loài (chiếm 21,59%), đứng

thứ ba à nhóm bệnh về gan với 12/88 loài (chiếm 13,64%).

Tương tự với dân tộc Sán Dìu: số lượng loài cây được sử dụng làm theo

kinh nghiệm người Sán Dìu tập trung phần lớn vào nhóm bênh đường tiêu

hóa với 9/42 loài cây (chiếm 21,43% so với tổng số loài mà được dùng theo

kinh nghiệm của dân tộc Sán Dìu).

Nhìn chung, kinh nghiệm sử dụng nguồn tài nguyên cây cỏ làm thuốc

các dân tộc thiểu số Dao và Sán Dìu ở xã Quân Chu rất đa dạng và phong

phú. Trong đó, dân tộc Dao thể hiện tính nổi bật hơn về kinh nghiệm sử dụng

cây thuốc thông qua số lượng loài cây thuốc biết cách sử dụng và số lượng

nhóm bệnh chữa trị cho người dân.

4.3.3. Sự giao thoa giữa các dân tộc về vốn tri thức bản địa trong việc sử

dụng cây thuốc ở xã Quân Chu

Trải qua quá trình sinh sống lâu dài, cùng với lịch sử chinh phục thiên

nhiên và phòng chống bệnh tật, mỗi cộng đồng dân tộc đều thể hiện được

những sự sáng tạo riêng biệt của mình. Mỗi dân tộc đã tìm ra những phương

thức ứng xử khác nhau để vượt qua sự khắc nghiệt của thiên nhiên, trong đó

không thể không kể đến việc sử dụng nguồn tài nguyên cây cỏ có sẵn trong tự

nhiên để chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng. Việc khai thác nguồn tài nguyên

cây thuốc để đáp ứng như cầu chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng đã là một tập

quán lâu đời của cộng đồng dân tộc Dao và Quân Chu tại xã Quân Chu. Cùng

với đó, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc để chữa bệnh cũng được tích lũy từ

thế hệ này sang thế hệ khác. Trong quá trình điều tra cho thấy cả 2 dân tộc

Dao và Sán Dìu đều cùng sử dụng một số cây thuốc chữa bệnh tại bảng kết

quả dưới đây (Bảng 4.11).

44

Bảng 4.11. Danh sách cây thuốc được cả cả 3 dân tộc ở KVNC sử dụng

Tên dân tộc

Công dụng

Stt

Tên khoa học – Tên phổ thông

- Achyranthes

1,2.Sỏi thận

1

Cỏ xước aspera L.

tía

- Ardisia

2

Lá khôi nigropilosa Pitard

3

Đại bi - Blumea balsamifera (L.) DC

1.Cỏ xước 2. Mèo lá lọt 1.Đìa dàm phản 2.Vong lén thai đồng 1.Ìn bọt 2.Đại bi

- Cordyline

4

dụ Huyết fruticosa (L.) Goepp

1.Quyền diêm, 2.Thẹt sư dẹt

1,2.Mía dò

5

Mía dò - Costus speciosus (Koenig) Smith

1,2.Xạ đen

6

Xạ đen - Ehretia asperula Zoll. & Mor

tưới

- Eupatorium

7

1.Viêm đại tràng 2.Viêm loét dạ dày, đau dạ dày 1.Mề đay, đau xương khớp 2.Dị ứng, mẩn ngứa côn trùng 1.Tắm gái đẻ, bổ thận, cầm máu, trĩ nội, trĩ ngoại 2. Băng huyết 1,2. Lợi tiểu, sỏi thận, đái tháo đường, kích thích tiêu hóa 1.Viêm loét dạ dày, xơ gan, viêm gan 2.Viêm gan, u bướu, chống ung thư vòm họng 1.Đau bụng, 2.Hậu sản(băng huyết)

Mần triplinerve Vahl

8

1.Mề đay, xơ gan, sỏi thận 2.Ngứa, dị ứng côn trùng

Đơn mặt trời - Excoecaria cochinchinensis Lou

- Gardenia

9

1.Xơ gan vàng da, vàng mắt 2.Xơ gan

1,2.Thấp khớp, sỏi mật

10

11

1.Xơ gan cổ chướng, 2.Gan nhiễm vỡ

1.Mần tưới 2.Co sỏi đất. 1.Đơn mặt trời 2.Hồng tào nùn sùn 1.Lù lầng pầu, 2.Vong hen 1.Gối hạc tía 2.Thôi ải 1.Gáo 2.Vong lén sung.

ngọc

trắng

-

12

1,2.Hoàn ngọc trắng

1.Táo bón, đau bụng 2.Tiêu chảy, liết lị

Ricinus

-

1,2.Đâu đầu, trĩ ngoại

13

1.Pồng si 2.Thầu dầu

1,2.Bồ công anh

14

1.Ung thu vú, 2.Lợi sữa bà bầu 1,2.Đau xương

15

Dành dành augusta (L.) Merr Gối hạc tía - Leea rubra Blume ex Spreng Gáo - Nauclea officinalis Merr. sec. Phamh Hoàn Pseuderanthemum palatiferum (Nees) Radlk Thầu dầu communis L. Bồ công anh - Taraxacum officinale Wigg Dây đau xương - Tinospora sinensis (Lour.) Mer

1.Pà chặt man 2.Co rủi

Chú thích: Tên dân tộc: 1. Dao , 2. Sán Dìu

45

Qua Bảng 4.11 cho thấy, cả 2 dân tộc đều sử dụng chung 15 loài cây

thuộc 12 họ thực vật khác nhau, phần lớn những loài cây thuốc này mọc phổ

biến ở trong tự nhiên, sống ở trong rừng, quanh làng xóm, quanh làng bản,

đồi cây bụi, đồi trọc, trảng cỏ, ven suối. Trong đó có những loài được cả 2

dân tộc cùng sử dụng để chữa một nhóm bệnh như: cây Dây đau xương

(Tinospora sinensis (Lour.) Mer) (1.Pà chặt man, 2.Co rủi) cùng được cả hai

dân tộc dùng chữa bệnh đau xương, cây Thầu dầu (Ricinus communis L.)

(1.Pồng si,2.Thầu dầu) được cả hai dân tộc dùng để chữa đâu đầu, trĩ ngoại,

cây Gối hạc tía (Leea rubra Blume ex Spreng) (1.Gối hạc tía 2.Thôi ải) cùng

được cả hai dân tộc dùng để chữa thấp khớp, sỏi mật,..

Những kinh nghiệm sử dụng cây thuốc này chỉ được sử dụng qua

phương thức lưu truyền trong phạm vi từng cộng đồng, cùng với đặc trưng

truyền miệng từ đời này sang đời khác do đó có nguy cơ mai một cao, vì vậy

rất cần có những biện pháp thu thập nguồn tri thức quý giá này để phổ biến

cho cộng đồng, phục vụ công tác chữa bệnh.

Ngoài việc giao thoa trong cách gọi tên của các thầy lang bà mế giữa

các dân tộc Dao và Sán Dìu tại xã Quân Chu còn có sự giao thoa trong cách

sử dụng chữa bệnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có nhiều loài cây được cả 2

cộng đồng dân tộc sử dụng để chữa trị cùng một nhóm bệnh. Hiện nay trong

các loại bệnh tỉ lệ người mắc bệnh liên quan đến xương khớp đang ngày càng

tăng, bệnh thường gặp ở những người trung niên, người già hoặc người làm

việc văn phòng. Nguyên nhân của bệnh này là do tư thế ngồi chưa đúng, ngồi

kéo dài cùng với thói quen ít vận động khiến hệ thống xương khớp già cỗi,

thoái hóa, rồi bị tổn thương gây các cơn đau, nhức mỏi kéo dài từ ngày này

qua ngày khác. Mặc dù bệnh về xương khớp tỉ lệ tử vong thấp, nhưng lại ảnh

hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh

(Bảng 4.12).

46

Bảng 4.12. Danh sách cây thuốc được các dân tộc cùng sử dụng chữa

nhóm bệnh về xương khớp

Tên khoa học –

Stt

Tên dân tộc

Công dụng

Tên phổ thông

Dây đau xương - Tinospora

1.Pà chặt man

1,2.Đau xương

1

sinensis (Lour.) Merr

2.Co rủi

Gối hạc tía - Leea rubra Blume ex

1.Gối hạc tía

1,2.Thấp khớp, sỏi

2

Spreng

2.Thôi ải

mật

Chú thích: Tên dân tộc: .1. Dao, 2. Sán Dìu

Qua Bảng 4.12 thống kê các loài cây thuốc được các dân tộc cùng sử

dụng để chữa trị nhóm bệnh về xương khớp cho thấy, số lượng các loài cây

thuốc có 2 loài là: Dây đau xương (Tinospora sinensis (Lour.) Merr) và Gối

hạc tía (Leea rubra Blume ex Spreng) Có thể do đời sống của các cộng đồng

dân tộc ở xã khu vực nghiên cứu gắn liền với núi rừng nhiều nên việc đi lại

gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là người dân phải thường xuyên vào rừng khai

thác tài nguyên (gỗ, lâm sản ngoài gỗ), do vậy thường xuyên gặp các bệnh

liên quan đến xương khớp. Xuất phát từ thực tế cuộc sống mà cộng đồng các

dân tộc nơi đây tích lũy và học hỏi được nhiều kinh nghiệm để chữa trị nhóm

bệnh về xương khớp.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra ở khu vực nghiên cứu, việc cùng sử

dụng chung cây cỏ để làm thuốc chữa các bệnh liên quan đến gan, thận, dạ

dày cũng được cộng đồng các dân tộc quan tâm đến, cụ thể kết quả được thể

hiện ở Bảng 4.13.

47

Bảng 4.13. Danh sách cây thuốc các dân tộc cùng sử dụng chữa nhóm

bệnh về gan, thận, dạ dày

Tên khoa học – Tên phổ

Tên dân tộc

Công dụng

Stt

thông

A Chữa bệnh gan

1.Gáo

Gáo - Nauclea officinalis

1.Xơ gan cổ chướng,

lén

2.Vong

1

Merr. sec. Phamh

2.Gan nhiễm vỡ

sung.

1.Viêm loét dạ dày, xơ gan,

Xạ đen - Ehretia asperula

viêm gan

1,2.Xạ đen

2

Zoll. & Mor

2.Viêm gan, u bướu, chống

ung thư vòm họng

Dành dành - Gardenia

1.Lù lầng pầu,

1.Xơ gan vàng da, vàng mắt

3

augusta (L.) Merr

2.Vong hen

2.Xơ gan

B Chữa bênh thận

Cỏ xước - Achyranthes

1.Cỏ xước

1,2.Sỏi thận

1

aspera L.

2.Mèo lá lọt

Mía dò - Costus speciosus

1,2.Lợi tiểu, sỏi thận, đái tháo

1,2.Mía dò

2

(Koenig) Smith

đường, kích thích tiêu hóa

Gối hạc tía - Leea rubra

1.Gối hạc

tía

1,2.Thấp khớp, sỏi mật

3

Blume ex Spreng

2.Thôi ải

C Chữa bệnh dạ dày

1.Đìa dàm phản

1.Viêm đại tràng

Lá khôi

tía

- Ardisia

2.Vong lén thai

2.Viêm loét dạ dày, đau dạ

1

nigropilosa Pitard

đồng

dày

Chú thích: Tên dân tộc: 1. Dao; 2. Sán Dìu

Dẫn liệu trên cho thấy, các nhóm bệnh về gan, thận, dạ dày mặc dù số

lượng không được nhiều nhưng các cộng đồng đã điểm chung trong việc sử

dụng một cây cỏ để chữa các bệnh về gan, thận, dạ dày. Trong đó, các loài

48

dùng chủ yếu để chữa các bệnh về thận, gan và có thể nhận thấy những loài

đó chủ yếu là những loài phổ biến trong tự nhiên như: cây Gáo (Nauclea

officinalis Merr. sec. Phamh), cây Xạ đen (Ehretia asperula Zoll. & Mor), cây

Dành dành (Gardenia augusta (L.) Merr). Cả ba loài này được cộng đồng dân

tộc Dao và Sán Dìu sử dụng để điều trị nhóm bệnh gan, đặc biệt đối với Xạ

đen còn được dân tộc Sán Dìu sử dụng chữa nhóm bệnh về u bướu.

Cây thuốc được cộng đồng dân tộc sử dụng để chữa nhóm bệnh thận là

cây: Cỏ xước (Achyranthes aspera L.), cây Mía dò (Costus speciosus

(Koenig) Smith), cây Gối hạc tía (Leea rubra Blume ex Spreng). Trong ba 3

loài cây thuốc chữa bênh liên quan đến thận có 1 loài được cả 2 dân tộc Dao

và Sán Dìu ở khu vực nghiên cứu đó là cây Mía dò, ngoài tác dụng chữa

nhóm bệnh về thận mà còn chữa cả nhóm bệnh về tiêu hóa.

Nhìn chung, từ kết quả và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc chữa bệnh

bằng của cộng đồng các dân tộc ở khu vực nghiên cứu rất phát triển, nhiều loài

đã được khoa học chứng minh, nhiều loài đã được sử dụng rộng rãi trong nhân

dân để chữa bệnh. Vì vậy kinh nghiệm sử dụng cây cỏ của các dân tộc cư trú

tại xã Quân Chu là đáng tin cậy và cần được nhân rộng trong cộng đồng.

4.3.4. Vấn đề truyền thụ kiến thức về cây thuốc trong cộng đồng các dân

tộc ở xã Quân Chu

Kết quả điều tra cho thấy, tại khu vực nghiên cứu hầu hết nữ giới có

kinh nghiệm sử dụng cây thuốc nhiều hơn nam giới bởi vì nam giới trong gia

đình tập trung sản xuất, làm kinh tế nên việc truyền thụ lại kinh nghiệm sử

dụng cây thuốc được chuyển giao cho nữ giới.

Bảng 4.14. Số lượng thầy thuốc được phỏng vấn theo từng dân tộc ở KVNC

Stt

Dân tộc

Số thầy thuốc phỏng vấn

Tỷ lệ %

1

Dao

9

81,8

2

Sán Dìu

2

12,8

Tổng số

11

49

Dữ liệu cho thấy, số lượng thầy thuốc chiếm đa số hơn là người dân tộc

Dao có 8 người được phỏng vấn có tỷ lệ 81.8% so với tổng thầy thuốc được

phỏng vấn. Tại xã Quân Chu những thầy thuốc chủ yếu là nữ giới trong đó có

8 nữ và 3 nam thuộc nhóm tuổi từ 50 - 75 tuổi, bởi vì nam giới ở trong xã tập

trung sản xuất, làm kinh tế nên nữ giới được ưu tiên chuyển giao kinh nghiệm

sử câu thuốc, việc nữ giới nhiều hơn nam giới thì ngược lại hoàn toàn so với

kết quả điều tra của Nông Bảo Liêm với 9 nam và 5 nữ, (Nông Bảo Liêm,

2020) [17]. Điều này chứng minh tầm quan trọng của phụ nữ trong việc

truyền thụ kiến thức sử dụng cây dược liệu.

Về độ tuổi, từ 50 - 75 đây là độ tuổi mà con người thường tích lũy được

nhiều kinh nghiệm sống, trong đó có việc thu lượm những kiến thức thực tế từ

những người xung quanh hoặc từ sự truyền đạt những bí quyết của những

người cao tuổi trong gia đình, dòng họ liên quan đến việc chữa trị các bệnh.

Điều này đã lý giải tỉ lệ thầy thuốc nằm trong độ tuổi 50 – 75 so với nhóm có

độ tuổi trẻ hơn là lớn hơn. Mặt khác những người ở độ tuổi từ 25 đến dưới 50

tuổi là nguồn lao động chính trong gia đình, do vậy họ thường chú tâm vào

các hoạt động sản xuất chính như làm nương rẫy, chăn nuôi, kinh doanh tạo

nguồn thu nhập để đảm bảo cuộc sống hàng ngày của gia đình. Những người

dưới 25 tuổi chưa tham gia vào việc sử dụng cây cỏ làm thuốc theo kinh

nghiệm theo ông cha đi trước bởi vì ở độ tuổi này chủ yếu là độ tuổi còn đang

đi học, tham gia các hoạt động xã hội, chưa tích lũy được nhiều kinh nghiệm,

vốn sống và những kiến thức bản địa của các bậc cao nhân truyền lại.

Như vậy, qua kết quả phỏng vấn 11 thầy thuốc ở xã Quân Chu, huyện

Đại Từ cho thấy hầu hết các kiến thức về cây thuốc của cộng đồng Dao và

Sán Dìu đều được truyền miệng qua các thế hệ. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ

ra rằng, việc chuyển giao kinh nghiệm chữa bệnh chỉ được truyền lại cho con

cháu trong gia đình hoặc thậm chí chỉ có những nam giới mới được truyền

50

đạt, đây cũng chính là một lý do dẫn đến sự gián đoạn mai một của nguồn tri

thức bản địa. Do đó việc giữ gìn các giá trị truyền thống về y học dược thảo

thì việc hệ thống hóa lại kiến thức thực vật và chuyển giao kiến thức đảm bảo

tính liên tục trong các cộng đồng dân tộc là thực sự cần thiết.

4.4. Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc được sử

dụng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu

Từ kết quả nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng

một số dân tộc ở khu vực nghiên cứu trong việc phòng và điều trị một số bệnh

nhiễm khuẩn, tôi tiến hành lựa chọn cây Xạ đen (Ehretia asperula Zoll. &

Mor) và cây Khoan cân đằng (Tinospora sinensis (Lour.) Merr) lấy mẫu tại xã

Quân Chu, huyện Đại Từ để tiến hành đánh giá hoạt tính kháng khuẩn

(HTKK) của cây. Kết quả thể hiện ở Bảng 4.15 và Hình 4.3:

Bảng 4.15. Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết từ cây Xạ đen và cây

Khoan cân đằng

Đơn vị tính: mm

Cao chiết

Khoan cân

Đối chứng

Đối chứng

Đối chứng

Xạ đen

đằng

dương – K1

dương – K2

âm (Dung

(XĐ)

(KCĐ)

(Amikacin)

(Kanamicin)

môi)

Vi khuẩn

S. aureus

24,1±0,4

20,4±0,4

20,2±0,3

23,9±0,2

0

E. coli

25,1±0,7

23,9±0,8

21,3±0,6

20,8±0,5

0

Qua dữ liệu trên cho thấy, 2 loài khảo sát (Xạ đen và Khoan cân đằng)

đều có hoạt tính ức chế đối với vi khuẩn gây bệnh. Cả 2 loài Xạ đen và Khoan

cân đằng đều có hoạt tính cao ức chế với cả 2 vi khuẩn gây bệnh Gram dương

(S. Aureus) và Gram âm (E. coli) với vòng ức chế đạt được với loài Xạ đen là

24,1 mm với vi khuẩn Gram dương (S. aureus) và 25,1 mm với vi khuẩn Gram

âm (E. Coli). Trương tự với cây Khoan cân đằng là 20,4 mm với vi khuẩn

Gram dương (S. aureus) và 23,9 mm với vi khuẩn Gram âm (E. Coli).

51

So sánh giữa kết quả phân tích mẫu 2 loài cho thấy, loài Xạ đen có

hoạt tính kháng khuẩn mạnh hơn loài Khoan cân đằng. Cả 2 loài này có hoạt

tính kháng khuẩn khá mạnh, tuy nhiên hoạt tính ức chế vi khuẩn gây bệnh

Gram dương của loài Khoan cân đằng vẫn yếu hơn so với kháng sinh

Kanamicin cùng so sánh, nhưng yếu hơn không đáng kể. So với đối chứng

âm (dung môi) thì cả 2 loài cây mẫu đều có tính kháng khuẩn, ngược lại đối

chứng âm (dung môi) không có tính kháng khuẩn đối với 2 vi khuẩn gây

bệnh Gram dương (S. Aureus) và Gram âm (E. coli).

Từ kết quả phân tích hoạt tính kháng khuẩn tôi đề xuất, có thể sử dụng

cây Xạ đen và Khoan cân đằng để phòng ngừa và kiểm soát một số bệnh

nhiễm khuẩn do S. aureus (Tụ cầu vàng) và E. coli gây ra.

Qua kết quả phân tích hoạt tính kháng khuẩn, cho thấy có thể sử dụng

cây Xạ đen và Khoan cân đằng để phòng ngừa và kiểm soát một số bệnh

nhiễm khuẩn do S. aureus (Tụ cầu vàng) và kiểm soát một số bệnh nhiễm

khuẩn do E. coli gây ra.

Kết quả này là một bằng chứng khoa học chứng minh kinh nghiệm

sử dụng các cây thuốc này trong việc phòng chống một số bệnh nhiễm

tỉnh Thái Nguyên.

khuẩn của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ,

Hình 4.3: Hoạt tính ức chế E. coli và S. aureus của cây Xạ đen và cây

Khoan cân đằng

52

Chú thích: TVC: Staphylococus aureus; E. coli: Escherichia coli; ĐC: Đối chứng âm

(Dung môi); K1: Đối chứng dương (Amikacin); K2: Đối chứng dương (Kanamicin);

XĐ: Xạ đen; KCĐ: Khoan cân đằng

53

PHẦN 5

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Kết luận

Kết quả nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của

một số loài cây thuốc Dao và Sán Dìu ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh

Thái Nguyên, tôi đã thu được những kết quả sau đây:

Đã thu được 113 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc ngành Ngọc lan

có 112 loài và thuộc 105 chi và 64 họ, thuộc ngành thông có 1 loài 1 chi và 1

họ có công dụng làm thuốc. Số thực vật làm thuộc trong 65 họ. Trong đó họ

nhiều loài nhất là họ Bồ công anh (Asteraceae) với 9 loài; họ Thầu Dầu (Đại

kích) (Euphorbiaceae) với 6 loài; họ Cỏ Roi Ngựa (Verbenaceae), họ Dâu tằm

(Moraceae) và họ Cà phê (Rubiaceae) với 5 loài; họ Ô rô (Acanthaceae) với 4

loài. Trong 106 chi thì có 2 chi có 2 loài và 2 chi có 3 loài được sử dụng làm

thuốc đó là chi Clerodendrum và chi Ficus.

Về dạng cây thuốc được người dân sử dụng nhiều nhất là dạng cây

thảo với 36 loài, thân bụi 44 loài, thân gỗ nhỏ 20 loài, thân dây leo 9 loài, thân

gỗ trung bình là 4 loài, cây gỗ lớn không ghi nhận loài nào.

Môi trường sống: nơi sống chủ yếu của cây thuốc chủ yếu ở vườn là

80 loài, ở rừng là 50 loài, ở đồi là 26 loài, ở ven suối là 2 loài.

Số lượng cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn có 4 loài, chiếm 3.54%

tổng số loài cây thuốc thu được, Trong đó có 2 loài có tên trong Nghị Định

06/2019/NĐ – CP; có 2 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam 2007 và có 2 loài

có tên trong danh lục cây thuốc đỏ Việt Nam 2007.

Đã xác định được có 10 bộ phận khác nhau được sử dụng theo kinh

nghiệm của các cộng đồng dân tộc Dao và Sán Dìu tại xã Quân Chu, trong đó

bộ phận cả cây, lá, than, quả là 4 bộ phận có tần số được sử dụng nhiều nhất

trong chữa trị bệnh cho người dân nơi đây

54

Đã thông kê được 14 nhóm bệnh khác nhau được chữa trị bằng kinh

nghiệm sử dụng cây thuốc trong cộng đồng dân tộc Dao và Sán Dìu tai khu

vực nghiên cứu Trong đó số lượng cây thuốc được sử dụng để chữa trị tập

trung phần lớp vào các nhóm bệnh là: bệnh đường tiêu hóa, bệnh xương khớp,

hệ vận động, bệnh về gan, bệnh phụ nữ, sinh sản, sinh dục.

Đã xác định được có 15 loài cây cùng được cả 2 dân tộc Dao và Sán

Dìu tại khu vực nghiên cứu sử dụng trong phòng và chữa trị bệnh. Xác định

được 2 loài cây được các dân tộc chữa bệnh xương khớp, 3 loài chữa bệnh

gan, 3 loài chữa bênh thận.

Quan kết quả phân tích hoạt tính kháng khuẩn, cho thấy có thể sử

dụng cây Xạ đen và Khoan cân đằng để phòng ngừa và kiểm soát một số

bệnh nhiễm khuẩn do S. aureus (Tụ cầu vàng); đồng thời cây Khoan cân

đằng có thể sử dụng để phòng ngừa và kiểm soát một số bệnh nhiễm khuẩn

do E. Coli gây.

5.2. Tồn tại

Những bài thuốc hứu ích quan trọng không phải ai cũng biết, mà chỉ

một số người biết, tuy nhiên đây là những bài thuốc gia truyền nên các ông

lang bà mế không muốn nhiều người biết, khi được phỏng vấn họ cung cấp

những bài thuốc nhưng trong những bài thuốc đã bớt đi một số loài cây thuốc,

điều đó sẽ gây rất kho khăn cho việc phát triển và bảo tồn những bà thuốc.

Chưa nghiên cứu sâu sắc về về đặc điểm sinh thái học, chữa xác định

được mức độ, vị trí phân bố cụ thể của các loài cây thuốc đã thống kê.

5.3. Kiến nghị

1. Cần tiếp tục mở rộng khu vực điều tra và nghiên cứu về tài nguyên

cây thuốc để có kế hoạch bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu cho tương lai.

2. Tiếp tục nghiên cứu và đánh giá tính hiệu quả của các loài cây

thuốc mà đồng bào dân tộc Dao và Sán Dìu ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ,

tỉnh Thái Nguyên sử dụng.

55

3. Cần thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức sâu rộng hơn để xác

định trữ lượng người dân khai thác và sử dụng các loài cây thuốc.

4. Xây dựng những vườn thuốc trong gia đình cho những gia đình lương

y hay những gia đình có những người biết sử dụng thuốc ở các thôn bản để bảo

vệ nguồn gen quý và hướng dẫn cách trồng hái, chế biến cho phù hợp.

5. Với những loài cây thuốc thuộc dạng quý hiếm cần hướng dẫn nhân

dân nhận biết và tiến hành bảo vệ rừng, hạn chế khai thác một cách cạn kiệt

các loài cây thuốc để bán sang Trung Quốc.

6. Cần các cấp, các ngành chính quyền địa phương quan tâm hơn nữa

trong việc ưu tiên bảo tồn, gây trồng và nhân rộng các loài cây thuốc có giá trị

cao trong y học cũng như trong kinh tế, và có những chính sách khuyến khích,

liên kết với những cơ quan bệnh viện, để nhằm phát triển và bảo tồn tài

nguyên cây thuốc của Việt Nam.

56

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A.TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

1. Âu Anh Khâm (2001), 577 bài thuốc dân gian gia truyền (sách dịch), Nxb.

Thanh niên, Hà Nội.

2. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019), Nghị định

06/2019/CP – NĐ về nghiêm cấm, hạn chế khai thác và sử dụng các loài

động thực vật hoang dã.

3. Dương Văn Hưng (2018), Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc

tại xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Khóa luận tốt

nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.

4. Đặng Quang Châu (2011), “Một số dẫn liệu về cây thuốc của dân tộc Thái

ở huyện Nghĩa Đàn – Nghệ An”, Tạp chí Sinh học, tập 23.

5. Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải (2003), Điều tra cây thuốc của đồng bào

dân tộc Thái, xã Xuân Hạnh, huyện Quỳ Châu – Nghệ An, Nxb. Khoa học

và Kỹ Thuật, Hà Nội.

6. Đỗ Tất Lợi (2005), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Hà Nội, Hà Nội.

7. Đỗ Sĩ Hiến và Đỗ Thị Xuyến (2011), Các loài thực vật được đồng bào dân tộc

Mường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò sử dụng làm thuốc trị

bệnh thận. Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4 (2011), Báo cáo Khoa học

về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.

8. Hoàng Thị Thanh (2019), Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại

xã y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại

Học Nông Lâm Thái Nguyên.

9. Hoàng Văn Đức (2018), Nghiên cứu tính đa dạng nguồn tài nguyên cây

thuốc được sử dụng trong cộng đồng dân tộc tày tại xã Phú Tiến, huyện

Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại Học Nông

Lâm Thái Nguyên.

57

10. Lê Thị Thanh Hương và Nguyễn Thị Thuận (2011), Những cây thuốc

được sử dụng thay thế mật gấu theo kinh nghiệm dân gian và đông y ở một

số địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4

(2011), Báo cáo Khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Nxb. Nông

nghiệp, Hà Nội.

11. Lê Thị Thanh Hương (2007), Điều tra và đánh giá tính đa dạng nguồn tài

nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc Tày ở một số xã của huyện Định

Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học

Quốc gia Hà Nội.

12. Lê Trần Đức (1997), Cây thuốc Việt Nam, trồng hái chế biến và trị bệnh

ban đầu, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.

13. Lưu Đàm Cư, Hà Tuấn Anh, Trương Anh Thư (2004), Các cây có ích của

dân tộc H’mông và khả năng ứng dụng trong phát triển kinh tế, Nxb. Khoa

học và Kỹ Thuật, Hà Nội

14. Lò Thị Quý (2018), Nghiên cứu tính đa dạng nguồn cây thuốc được sử

dụng trong một số dân tộc thiểu số tại xã Chiềng Đông, huyện Tuần Giáo,

tỉnh Lào Cai, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thái

Nguyên.

15. Lương Minh Ngọc (2018), Nghiên cứu tính đa dạng nguồn cây thuốc

được sử dụng trong đồng bào dân tộc Bru- Vân Kiểu ở xã Thượng Trạch,

huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại Học

Nông Lâm Thái Nguyên.

16. Lò Văn Nhan (2019), Khóa luận tốt nghiệp, Nghiên cứu tri thức bản địa

sử dụng cây thuốc tại xã Sàng Ma Sáo, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Khóa

luận tốt nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.

58

17. Nông Bảo Liêm (2020), Khóa luận tốt nghiệp, Nghiên cứu tri thức bản địa

sử dụng cây thuốc tại xã Trọng con, huyện Thạch An, tỉnh Cao bằng, Khóa

luận tốt nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.

18. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật, Nxb.

Nông nghiệp, Hà nội.

19. Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp nghiên cứu thực vật, Nxb.

Đại Học Quốc gia Hà Nội.

20. Nguyễn Nhân Thống (2008), Danh y tuổi tý, Hội Đông y Việt Nam – Tạp

chí Đông y – số 405/2008.

21. Nguyễn Tập (2007), Cẩm nang cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam, Nxb.

Mạng lưới lâm sản ngoài gỗ Việt Nam, Hà Nội.

22. Nguyễn Thượng Dong (chủ biên) và nhiều tác giả (2006), Nghiên cứu

thuốc từ thảo dược, Nxb. Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội.

23. Nguyễn Minh Hiếu (2019), Khóa luận tốt nghiệp, Nghiên cứu tri thức bản

địa sử dụng cây thuốc tại xã Nậm Pung, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai,

Khóa luận tốt nghiệp. Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.

24. Nông Thái Hòa (2018), Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng

khuẩn của một số loài cây thuốc tại xã Hoàng Thông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái

Nguyên, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.

25. Phạm Hoàng Hộ (1999), Cây cỏ Việt Nam, Nxb. Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.

26. Phạm Hoàng Hộ (2006), Cây có vị thuốc ở Việt Nam, Nxb. Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.

27. Phạm Thiệp, Lê Văn Thuần, Bùi Xuân Chương (2000), Cây thuốc, bài

thuốc và biệt dược, Nxb. Y học, Hà Nội.

28. Tào Duy Cần (2001), Thuốc Nam, thuốc Bắc và các phương thang chữa

bệnh, Nxb Khoa học và Kỹ Thuật.

29. Tào Duy Cần (2006), Thuốc bệnh 24 chuyên khoa, Nxb. Y học, Hà Nội.

59

30. Viện Dược Liệu (1993), Tài Nguyên cây thuốc Việt Nam, Nxb. Khoa học

và Kỹ thuật, Hà Nội.

31. Võ Văn Chi (1996), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb. Y học, Hà Nội.

32. Võ Văn Chi (2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb. Hà Nội, tập 1 - 2.

33. Võ Thị Phượng và Ngô Trực Nhã (2011), Điều tra các loài cây thuốc và

giá trị sử dụng của chúng ở một số xã thuộc huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng

Tháp. Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4 (2011), Báo cáo Khoa học

về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.

34. Vàng Văn Trung (2019), Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc

của đồng bào dân tộc H’Mông tại xã Trung Lèng Hồ, huyện Bát Xát, tỉnh

Lào Cai, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.

35. Vàng A Lả (2018), Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn

của một loài cây thuốc tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên,

Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.

B. TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI

36. Balcha Abera (2014), “Medicinal plants used in traditional medicine by

Oromo people, Ghimbi District, Southwest Ethiopia”, Journal of

Ethnobiology and Ethnomedicine.

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4060869/

37. Berhane Kidane, Tinde van Andel, Laurentius van der Maesen, Zemede

Asfaw (2014), “Use and management of traditional medicinal plants by

Maale and Ari ethnic communities in southern Ethiopia”, Journal of

Ethnobiology and Ethnomedicine.

https://ethnobiomed.biomedcentral.com/articles/10.1186/1746-4269-10-46

38. Dol Luitel, Maan B Rokaya, Binu Timsina, Zuzana Münzbergová

(2014), “Medicinal plants used by the Tamang community in the

60

Makawanpur district of central Nepal”, Journal of Ethnobiology and

Ethnomedicine.

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3904474/

39. Eduardo Estrada-Castillón, Miriam Garza-López, José Villarreal-

Quintanilla, María Salinas-Rodríguez, Brianda Soto-Mata, Humberto

González-Rodríguez, Dino González-Uribe, Israel Cantú-Silva, Artemio

Carrillo-Parra, César CantúAyala (2014), “Ethnobotany in Rayones,

Nuevo León, México”, Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine,

10:62pp.

https://link.springer.com/article/10.1186/1746-4269-10-62

40. Homervergel G. Ong, Young-Dong Kim (2014), “The study of botany

quantification of the medicinal plants used by indigenous Ati Negrito

groups in the island of Guimaras, Philippines”, Journal of

Ethnopharmacology.

41. Joanne Packera, Nynke Brouwera, David Harringtona, Jitendra Gaikwada,

Ronald Heronb, Shoba Ranganathana, Subramanyam Vemulpada, Joanne

Jamiea (2012), “An ethnobotanical study of medicinal plants used by

indigenous communities Yaegl in northern New South Wales, Australia”,

Journal of Ethnopharmacology.

42. Mendrika Razafindraibe, Alyse R Kuhlman, Harison Rabarison, Vonjison

Rakotoarimanana, Charlotte Rajeriarison, Nivo Rakotoarivelo, Tabita

Randrianarivony, Fortunat Rakotoarivony, Reza Ludovic, Armand

Randrianasolo, Rainer W Bussmann (2013), “Medicinal plants used by

women from Agnalazaha coastal forests (Southeast Madagascar)”, Journal

of Ethnobiology and Ethnomedicine.

https://link.springer.com/article/10.1186/1746-4269-9-73

43. Mi-Jang Song, Hyun Kim, Byoung-Yoon Lee, Heldenbrand Brian, Chan-

Ho Park, Chang-Woo Hyun (2014), “Analysis of traditional knowledge of

61

medicinal plants from residents in Gayasan National Park (Korea)”,

Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine.

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4216341/

44. Seyid Ahmet Sargın, Ekrem Akcicek, Selami Selvi (2013), “An

ethnobotanical study of medicinal plants used by local people of Alaşehir

(Manisa) in Turkey”, Journal of Ethnopharmacology.

45. Soledad Molares, Ana Ladio (2014), “Medicinal plants in the cultural

landscape of a Mapuche-Tehuelche community in arid Argentine

Patagonia: an eco-sensorial approach”, Journal of Ethnobiology and

Ethnomedicine.

https://ethnobiomed.biomedcentral.com/articles/10.1186/1746-4269-10-61

46. Tahira Bibia, Mushtaq Ahmada, Rsool Bakhsh Tareenc, Niaz Mohammad

Tareenc, Rukhsana Jabeenb, Saeed-Ur Rehmanc, Shazia Sultanaa,

Muhammad Zafara, Ghulam Yaseena (2014), “Ethnobotany of medicinal

plants in Mastung district of Balochistan province, Pakistan”, Journal of

Ethnopharmacology.

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/25260579/

PHỤ LỤC

0

PHỤ LỤC 1

1.Cây Xạ đen - Ehretia asperula Zoll. & Mor

2. Cây thầu dầu - Ricinus communis L.

3.Khoan cân đằng - Tinospora sinensis (Lour.)

4.Cây giao - Euphorbia tirucalli L.

Merr.

1

MỘT SỐ HÌNH ẢNH CHỤP ĐƯỢC TRONG QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA

5.Lá lốt - Piper sarmentosum Roxb

6.Huyết dụ - Cordyline fruticosa (L.) Goepp

7. Phỏng vấn bà Đặng Thị Hù tại Xóm Tân Yên

8. Phỏng vấn bà La Thị Loan tại Xóm Hòa

9. Cây thuốc được thầy lang mang trên rừng về

10. Cây thuốc được thầy lang mang đi phơi

2

11. Gói thuốc được thầy lang đóng gói trước khi đem đưa đến người dùng.

12. Xử lý mẫu cây thuốc .

13. Phơi mẫu cây thuốc.

3

14. Tọa độ vị trí của cây xạ đen lấy mẫu ở

15. Tọa độ vị trí của cây Dây đau xương ở

KVNC.

KVNC.

4

PHỤ LỤC 2

DANH SÁCH CÁC CÂY THUỐC ĐƯỢC ĐỒNG BÀO DÂN TỘC DAO VÀ SÁN DÌU Ở XÃ QUÂN CHU,

HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN SỬ DỤNG

Tên phổ thông

Tên địa phương

Dạng cây

BPSD

Cách SD

Công dụng

Họ thông tre

1.Miềm diềm chay Mi

1.Th,L

1.K

1.Giải độc gan

TT Tên khoa học A NGÀNH THÔNG - PINOPHYTA A1 Lớp Pinopsida Podocarpaceae 1 Nageia fleuryi (Hickel) de Laub Kim giao 1 B NGÀNH NGỌC LAN - MAGNOLIOPHYTA B1 Lớp một lá mầm - Liliopsida 2 Musaceae

2 Musa acuminata Colla

1.Sán chụi chay

Th

1.Q

1.K

1.Lợi tiểu

3

Họ chuối Chuối hoang nhọn Họ gừng

Zingiberaceae

3

Kaempferia galanga L.

Địa liền

1.Địa liền

Th

1.Cc

1.K

1.Sa nhân

Th

1.Cc

1.K

1.Đau nhức xương khớp, phong tê thấp 1.Kích thích tiêu hóa

4 4

Amomum aromaticum Roxb Iridaceae

Sa nhân Họ diên vĩ

5

Th

Belamcanda chinensis (L.) DC

Dẻ quạt

2.Dẻ quạt

2.L,Cu

2.T,K

2.Viêm họng, ho có đờm

1.Hẹ

Th

1.Cc

1.K

1.Sinh lý nam

1.Lược vàng

Th

1.Cc

1.K

1.Thoài hóa đĩa đệm

5 Alliaceae Allium odorum L. 6 6 Commelinaceae 7

Thài lài tía

8

1.Thài lài tía

Th

1.Cc

1.K

1.Cam sài trẻ con

Họ hành Hẹ Họ thài lài Callisia fragrans (Lindl.) Woods Lược vàng Tradescantia zebrina Hort. ex Loud

5

7 Asparagaceae

Họ măng

Lưỡi cọp sọc

2.Lện sư

2.L

2.T

2.Viêm họng

9

Th

Sansevieria trifasciata Hort. ex Prain Poaceae

8 10 Eleusine indica (L.) Gaertn

Họ hòa thảo Cỏ mần trầu

1.Nhả lẹn vài

Th

1.Cc

1.K

11

Sả chanh

1.Ham mao

Th

1.Cc

1.K

1.Tiêu viêm, cầm máu 1.Đau nhức xương khớp, mất ngủ

Cymbopogon citratus (DC. ex Nees) Stapf 9 Costaceae

Họ mía dò

Mía dò

1,2.Mía dò

Th

1,2.Cc

1,2.T

12

Costus speciosus (Koenig) Smith

1,2.Lợi tiểu, sỏi thận, đái tháo đường, kích thích tiêu hóa

1.Móc

Me

1.B

1.K

1.Cao huyết áp

Zephyranthes rosea Lindl

2.Náng 1.Tóc tiên

Th Th

2.Cc 1.Cc

2.T 1.K

2.U xơ tuyến tiền liệt 1.Viêm phổi

2.Nha đam

Th

2.L

2.T

2.Thần kinh

Họ ráy Thiên niên kiện

2.Bái ngặn kim 1.Rìa hầu đang

Th Th

2.Cc 1.Cc

2.K 1.K

2.Đau xương 1.Đau xương khớp

10 Arecaceae Họ cau 13 Caryota urens L. Móc 11 Amaryllidaceae Họ náng, thủy tiên 14 Crinum asiaticum L. Náng 15 Tóc tiên Họ lô hội 12 Asphodelaceae 16 Aloe var. chinensis (Haw.) Berg Nha đam 13 Araceae 17 Aglaonema siamense Engl 18 Alocasia odora (Roxb.) C. Koch Ráy dại 14 Acoraceae

Họ xương bồ

Th

19 Acorus gramineus Soland

Thạch xương bồ

1.Sình pầu

1.Cc

1.K

1.Hậu sản (sản dịch), đau xương

15 Dracaenaceae

Họ huyết giác

20

Huyết giác

2.Huyết giác

Na

2.R

2.K

2.Lưu thông máu

Dracaena cambodiana Pierre ex Gagnep 16 Bromeliaceae

Họ dứa

6

21 Ananas comosus (L.) Merr

Dứa

1.Dứa

Th

1.Cc

1.K

1.Làm mát gan, gan nhiễm mỡ

A2 Lớp hai lá mầm - Maguoliopsida 17 Proteaceae

Họ chẹo thui

Bàn tay ma

1.Bàn tay ma

1.Q,R

1.K

1.Tăng men gan

22

Mi

Họ ô rô

Heliciopsis lobata (Merr.) Sleum 18 Acanthaceae

Bìm bịp

1.Bìm bịp

1.Th,L

1.K

1.Đau dạ dày

23

Na

Thanh táo

2.Bọi chiêng sao

2.Th

2.K

2.Viêm thấp khớp

24

Clinacanthus nutans (Brm. f.) Lindau Justicia gendarussa Burm. f

Na

Hoàn ngọc trắng

1,2.Hoàn ngọc trắng Na

1,2.Th,L

1,2.K

25

1.Táo bón, đau bụng 2.Tiêu chảy, liết lị

Pseuderanthemum palatiferum (Nees) Radlk

Bán tự mốc

2.Bán tự mốc

2.L,Th

2.K

2.Táo bón

26

Na

Hemigraphis glaucescens C. B. Clarke Icacinaceae

1.Bổ béo

1.R

1.K

1.Viêm loét dạ dày

Na

19 27 Gomphandra mollis Merr 20 Asteraceae

Họ thụ đào Bổ béo mềm Họ bồ công anh

28

Lactuca indica L.

Bồ công anh

1,2.Bồ công anh

Th

1.Cc 2.L

1.K 2.T

1.Ung thu vú 2.Lợi sữa bà bầu

29 Sigesbeckia orientalis L. 30 Eclipta prostrata (L.) L. 31 Ageratum conyzoides L.

Chó đẻ hoa vàng Cỏ mực Cứt lợn

1.Cc 2.L 1.Cc

1.T,K 2.T 1.K

Th Th Th

32

Mần tưới

1,2.Cc

1,2.T,K

Th

tradescantia zebrina Hort. ex Loud

33 Artemisia vulgaris L.

1.Chó đẻ hoa vàng 2.Cỏ mực 1.Chúi sây vạ 1.Mần tưới 2.Co sỏi đất 2.Nhả ngải

2.Cc

2.T,K

1.Viêm khớp 2.Bổ thận 1.Mất ngủ 1.Đau bụng, 2.Hậu sản (băng huyết) 2.Cầm máu

Th

34 Eupatorium odoratum L.

2.Co phân xanh

2.L

2.T

2.Cầm máu

Na

Ngải cứu Phân xanh(bớp bớp)

7

35

Xương sông

1.Xương sông

Th

1.Cc

1.K

1.Giải độc gan

Blumea lanceolaria (Roxb.) Druce

36 Blumea balsamifera (L.) DC

Đại bi

1,2.Đại bi

Na

1,2.L,R,Q

1.T,k

1.Mề đay, Đau xương khớp 2.Dị ứng, mẩn ngứa côn trùng

21 Caesalpiniaceae

Họ vang

37

Bồ kết

1.Bồ kết

1.G,Q

1.K

1.Trĩ ngoại

Mi

Gleditsia australis Hemsl. ex Forbes & Hemsl

22 Verbenaceae 38 Clerodendrum bungei Steud

Họ cỏ roi ngựa Bọ mẩy

2.Bọ mẩy

2.L,R

2.K

2.Đau bụng

Na

Mò đỏ

39

2.Mò đỏ

2.R,Th

2.K

2.Mề đay

Na

40

Mò trắng

2.Thẹt khùng dẹt

2.R,Th

2.K

2.Mề đay

Na

2.Mạn kinh 1.Tu hú

2.Q,L 1.L,Q

2.K 1.K

2.Cao huyết áp 1.Tiêu hóa kém

Na Na

Mạn kinh Tu hú Họ thuốc bỏng

1.Bỏng

1.Cc

1.T,K

1.Chữa bỏng

Th

Clerodendrum japonicum (Thunb.) Sweet Clerodendrum chinense (Osbeck) Mabb 41 Vitex trifolia L. 42 Gmelina asiatica L. 23 Crassulaceae 43 Kalanchoe pinnata (Lamk.) Pers Bỏng 24 Plantaginaceae

Họ mã đề

44 Plantago major L.

Bông mã đề

1.Bông mã đề

1.Cc

1.K

Th

1.Viêm cầu thận, lợi tiểu, sỏi thận

25 Rutaceae

Họ cam

45

Bưởi bung

1.Bưởi bung

1.R,L

1.K

1.Thần kinh

Mi

Acronychia pedunculata (L.) Miq

46 Phellodendron amurense Rupr

Hoàng bá

2.Hoàng bá

2.V

2.K

Mi

2.Sỏi mật, tăng cường tiêu hóa

8

Hoàng lực

1.Nàng nhà

1.R

1.K

1.Viêm đại tràng

47

Na

Zanthoxylym nitidum (Roxb.) DC

26 Plumbaginaceae

48 Plumbago indica L. in Stickm

Na

1.Th,R

1.K

1.Giảm niệu viêm thận

1.Bươm bướm hường

27

Solanaceae

Họ đuôi công Bươm bướm hường Họ cà

49 Datura metel L.

Cà độc dược

1,2.Cà độc dược

Na

1,2.Hen phế quản

1.L 2.L,Ho

1.T,K 2.K

50

Solanum procumbens Lour

Cà gai leo

1.Cà gai leo

Na

1.Ha,L

1.T,K

1.Hạ men gan, giải độc gan

1.Cam thảo đất

1.Cc

1.K

1.Sỏi thận, lợi tiểu

Scrophulariaceae Scoparia dulcis L.

Th

28 51 29 Vitaceae

Họ hoa mõm chó Cam thảo đất Họ nho

52 Cissus repens Lamk

Dây chìa vôi

1.Dây chìa vôi

Na

1.Th,L

1.T,K

1.Thoát vị đĩa đệm, Đau nhức xương khớp

30 Amaranthaceae 53 Amaranthus spinosus L.

Họ rau dền Dền gai

Na

1. Cc

1. K

1.Sỏi thận

54 Achyranthes aspera L.

Cỏ xước

Th

1,2.Cc

1,2.K

1,2.Sỏi thận

Dền gai 1.Cỏ xước 2.Mèo lá lọt

31 Malvaceae

Họ bông

55 Abutilon indicum (L.) Sweet

Cối xay

1.Cối xay

Th

1.K

1.Dải vàng, sỏi thận

2.Dâm bụt

Na

1.L,Th,V, Q 2.R,H,L

2.K

2.Vô sinh

56 Hibiscus rosa-sinensis L. 32 Caprifoliaceae

Dâm bụt Họ kim ngân

57

Na

Cơm cháy

1.Miền nòng dao

1.L,V

1.K

1.Tắm gái đẻ

58

Sambucus javanica Reinw. ex Blume Lonicera macrantha (D. Don)

Lp

Kim ngân

1.Kim ngân

1.Cc,L,Th 1.K

1.Viêm gan virut, giải

9

Spreng

độc gan

33 Rubiaceae

Họ cà phê

59

Dạ cẩm

1,2.Dạ cẩm

1,2.Cc

1,2.K

Lp

Hedyotis capitellata Wall. ex G. Don

60 Gardenia augusta (L.) Merr

Dành dành

Na

1,2.Q

1,2.K

1.Lù lầng pầu 2.Vong hen

61

Gáo lá to

Me

1,2.V

1,2.K

Nauclea officinalis Merr. sec. Phamh

62 Paederia foetida L.

Lá mơ

1.Gáo 2.Vong lén sung 1.Ố puối thăng

Lp

1.Viêm phổi 2.Đau dạ dày 1.Xơ gan vàng da, vàng mắt 2.Xơ gan 1.Xơ gan cổ chướng, 2.gan nhiễm vỡ 1.Đi ngoài, cảm cúm

1.L

1.T,K

63

Vỏ dụt

1.Vỏ dụt

Mi

1.V,L

1.K

1.Chữa ho

2.Đại hoa đỏ

Mi

2.Lợi tiểu

2.L

2.K

1.Ngứa âm hộ

1.Đào

Mi

1.L

1.K

Hymenodictyon orixense (Roxb.) Mabb 34 Apocynaceae 64 Plumeria rubra L. 35 Rosaceae 65 Prunus persica (L.) Batsch 36 Moraceae

Họ trúc đào Đại hoa đỏ Họ hoa hồng (hường) Đào Họ dâu tằm

Mi

66 Morus alba L.

Dâu tằm

1.Dâu tằm

1.Q,L

1.T,K

1.Ho, viêm phổi, vôi hóa, chèn dây thần kinh

67

Mỏ quạ nam

1.Mỏ quạ nam

Na

1.Xơ gan

1.Cc

1.K

Maclura cochinchinensis (Lour.) Corn

68 Ficus auriculata Lour 69 Ficus microcarpa L. f

Ngõa Si

1.Ngõa 1.Si

Mi Mi

1.Q, L 1.R, L

1.K 1.K

70 Ficus var. badiostrigosa Corn

Sung đất

1.Sùi liềm lậu

Mi

1.Q

1.K

1.Lợi sữa bà bầu 1.Đau xương khớp 1.Tắm gái đẻ, Hậu sản (chân tay tê dại, sản dịch)

Họ tiết dê (phòng kỷ)

37 Menispermaceae 71

Tinospora sinensis (Lour.) Merr Dây đau xương

1.Pà chặt man

Lp

1,2.Cc

1,2.K

1,2.Đau xương

10

2. Co rủi

72 Fibraurea tinctoria Lour

Hoàng đằng

1.Hoàng đằng

1.Cc

1.K

Lp

1.Đau nhức xương khớp

Strychnos ignatii Berg

1.Dây gió

Lp

1.Thần kinh tọa

1.Th

1.K

1.Dây ruột gà

Na

1.Kích thích tiêu hóa

1.R

1.K

38 Loganiaceae 73 39 Ranunculaceae 74 Clematis chinensis Retz 40 Araliaceae

75

1.Dáng

Mi

1.R,Th

1.K

Schefflera heptaphylla (L.) Frodin

Họ mã tiền dây gió Họ mao lương dây ruột gà Họ ngũ gia bì Ngũ gia bì chân chim

76 Polyscias fruticosa (L.) Harms

1.Đinh lăng

Na

1.L,Th

1.K

77 Vitex tripinnata (Lour.) Merr

1.Chẹc nhạy cec

1.Th,L,V

1.T,K

Na

Đinh lăng Chân chim hoa trắng

1.Đau nhức xương khớp, thấp khớp 1.Thông huyết 1.Hậu sản(băng huyết), Thấp khớp

41 Euphorbiaceae

Họ thầu dầu (đại kích)

78

Đơn mặt trời

Na

1,2.Cc,L

1,2.K

Excoecaria cochinchinensis Lour

1.Đơn mặt trời 2.Hồng tào nùn sùn

79 Euphorbia tirucalli L.

Cành giao

1.Cành giao

Na

1.Mề đay, Xơ gan, sỏi thận 2.Ngứa, dị ứng côn trùng 1.Lợi sữa bà bầu

1.T,K

1.Cc

Mi

1.L

80 Bischofia javanica Blume

Nhội

1.Nhội

1.K

1.Viêm nhiễm phụ khoa

81 Ricinus communis L.

Thầu dầu

Na

1,2.L,Ha

1,2.K

1,2.Đâu đầu, trĩ ngoại

1.Pồng si 2.Thầu dầu

82

Vẩy ốc

2.Vẩy ốc

Th

2.L,Ha

2.T

Phyllanthus virgatus Forst. & Forst. f

1.khổ sâm

Na

1.L

1.K

2.Gan nhễm mỡ , đi ngoài 1.Tiêu hóa, kiết lị

83 Croton tonkinensis Gagnep 42 Caricaceae 84 Carica papaya L.

Khổ sâm Họ đu đủ Đu đủ

Mi

1.Sạn mọc quạ

1.L,Ha

1.K

1.Đau lưng

11

43

Symplocaceae

Họ dung

1.V,Q

1.K

85 Acuminata (Miq.) Brand

Dung đen

Mi

1.Đau dạ dày, Trào dịch dạ dày

1.Tạp phai nón, pà sài

44 Leeaceae

Họ gối hạc

1,2.R

1,2.K

1,2.Thấp khớp, sỏi mật

86

Leea rubra Blume ex Spreng

Gối hạc tía

Na

1.Gối hạc tía 2.Thôi ải

45 Theaceae

Họ chè

87

Hải đường

1.Hải đường

Mi

1.L,Ho

1.K

Camellia amplexicaulis (Ptard) Cohen-Stuart

1.Cao huyết áp, Giảm nguy cơ mắc ung thư

46 Lamiaceae

Họ bạc hà

88 Ocimum gratissimum L.

Hương nhu trắng

1.Hương nhu trắng

Na

1.Th,L

1.T,K

1.Lá tắm cảm, tiêu chảy

89

Leonurus japonicus Houtt

Ích mẫu

1.Ích mẫu

1.Cc

1.K

Th

1.Bổ máu, Hậu sản (sản dịch)

90

Tía tô rún

1.Hà sọc

1.Cc

1.T,K

1.Cảm cúm

Th

Perilla var. crispa (Thunb.) Deane ex Bailey

47 Oxalidaceae

Họ chua me đất

91 Averrhoa carambola L.

Khế

1.L

1.T

1.Dị ứng côn trùng

Mi

1.Dong thau chay mọc

48 Convolvulaceae

Họ khoai lang

92

Khoai lang

1.Sui dịp sái

1.Cc

1.T,K

1.Thanh nhiệt, giải độc

Lp

Ipomoea batatas (L.) Poir. in Lamk 49 Myrsinaceae

Họ đơn nem

93 Ardisia silvestris Pitard

Lá khôi

1,2.L,Th

1,2.T,K

Na

1.Đau dạ dày, viêm loét dạ dày

1.Đìa doòng phản 2.Khôi

94 Ardisia nigropilosa Pitard

Lá khôi tía

1,2.Th,L

1,2.K

Na

1.Đìa dàm phản 2.Vong lén thai đồng

1.Viêm đại tràng 2.Viêm loét dạ dày, đau dạ dày

12

50 Nyctaginaceae

Họ hoa phấn

95

Móc diều

1.Móc diều

1.Ha,L

1.K

1.Bổ thận, thận hư

Na

Bougainvillea brasiliensis Rauesch 51 Bignoniaceae

Họ chùm ớt

96 Oroxylum indicum (L.) Kurz

Núc nác

1.Núc nác

1.R,Q

1.K

Mi

1.Đau dạ dày, đau nhức xương khớp

2.Mắc ỏi

2.L

2.T

2.Tiêu chảy

Mi

52 Myrtaceae 97 Psidium guajava L. 53 Apiaceae

Họ sim Ổi Họ hoa tán (ngò)

98

Rau má

1.Lô cụt sau

1.Cc

1.T,K

1.Ho

Th

Centella asiatica (L.) Urb. in Mart

54 Asclepiadaceae

Họ thiên lý

99

Dây thìa canh

1.Dây thìa canh

Lp

1.Cc

1.K

1.Đau bụng, đi ngoài

Gymnema sylvestre (Retz.) R. Br. ex Schult 55 Celastraceae

Họ dây gối

100 Ehretia asperula Zoll. & Mor

Xạ đen

1.2.Xạ đen

Na

1.2Th,L,R 1,2.K

1.Viêm loét dạ dày, xơ gan, viêm gan 2.Viêm gan, u bướu, chống ung thư vòm họng

1.Trinh nữ

1.Cc

1.K

1.Thấp khớp, tê thấp

Na

Họ trinh nữ Trinh nữ Họ gai (cây ngứa) Gai

1.Gai

1.Cc

1.K

1.Động thai

Th

103

1.Lá han

Lá han

1.R,Th

1.K

1.Động kinh

Na

56 Mimosaceae 101 Mimosa pudica L. 57 Urticaceae 102 Boehmeria nivea (L.) Gaudich Dendrocnide urentissima (Gagnep.) Chew

58 Bombacaceae

Họ gạo

Gạo

104 Bombax malabarium DC

2.Mốc men sung

Me

2.V,Th

2.K

2.Bổ thận, sỏi thận, viêm thận

13

59 Berberidaceae

Họ hoàng liên gai

105 Berberi julianae Schneid

Hoàng liên gai

2.Dạ hen ngoi

Na

2.R,Th

2.K

1.Mật gấu

Na

1.L

1.K

2.viêm họng, viêm xương khớp 1.Gan nhiễm mỡ

106 Mahonia nepalensis DC 60 Asteliaceae

Mật gấu Họ huyết dụ

107 Cordyline fruticosa (L.) Goepp Huyết dụ

Na

1,2.Q,L

1,2.K

1.Quyền diêm 2.Thẹt sư dẹt

1.Tắm gái đẻ, Bổ thận Cầm máu, trĩ nội, trĩ ngoại 2. băng huyết

61 Piperaceae

Họ hồ tiêu (tiêu)

108 Piper sarmentosum Roxb

Lá lốt

1.Háu sài

Th

1.Cc

1.K

1.Đau nhức xương khớp

62 Lauraceae

Họ long não

109

Long não

2.Long não

Me

2.T,K

2.Tắm cảm

2.L

Cinnamomum camphora (L.) Presl 63 Olipiaceae 110 Melientha suavis Pierre

Họ sơn cam Rau ngót núi

1.L

1.Dâu lùng độ

Na

1.K

1.khối u lồi, mụn nhọt

64 Malpighiaceae

Họ măng rô (kim đồng)

111 Hiptage var. macroptera Merr

Tơ mành cánh to

Na

1,2.L

1,2.K

1.Tràng cấp, 2.Nối gân

1,2.Nối gân, đắp đứt gân

65 Fabaceae

Họ đậu

112 Tephrosia candida (Roxb.) DC

Cốt khí

Tầm kha

Na

1.R,Cu

1.K

Đậu ván

Đậu ván

Lp

2. Cc

2.T,K

1.Đau nhức xương khớp, phong tê thấp 2.Viêm dạ dày

113 Lablab purpureus (L.) Sweet

14