ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ----------------------
LƯƠNG TUẤN TÀI
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA SỬ DỤNG CÂY THUỐC
TẠI XÃ QUÂN CHU, HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGHUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Sinh Thái & BTĐDSH
Khoa : Lâm Nghiệp
Khóa : 2016 - 2020
Thái Nguyên - 2020
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ----------------------
LƯƠNG TUẤN TÀI
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA SỬ DỤNG CÂY THUỐC
TẠI XÃ QUÂN CHU, HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGHUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Sinh Thái & BTĐDSH
Lớp : K48 - ST&BTĐDSH
Khoa : Lâm Nghiệp
Khóa : 2016- 2020
Giáo viên hướng dẫn
: TS. Đàm Văn Vinh
Thái Nguyên - 2020
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này do chính tôi. Các số liệu kết quả
nghiên cứu trong khóa luận của tôi hoàn toàn trung thực và chưa công bố
hoặc sử dụng để bảo vệ học vị nào. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 7 năm 2020
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên
TS. Đàm Văn Vinh Lương Tuấn Tài
Xác nhận của giáo viên chấm phản biện
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót
sau khi hội đồng chấm yêu cầu
(Ký, ghi rõ họ tên)
ii
LỜI CẢM ƠN
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của Ban
giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp – Trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên cùng giảng viên hướng dẫn thầy TS. Đàm Văn Vinh
và sự hỗ trợ của cô TS. Nguyễn Thị Thu Hiền tôi tiến hành thực hiện đề tài
“Nghiên cứu tri thức bản địa và sử dụng cây thuốc tại xã Quân Chu, huyện
Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”
Trong quá trình thực tập, ngoài sự nỗ lực của bản thân còn có sự giúp
đỡ của nhiều tổ chức, cá nhân. Tôi xin chân thành cảm sự giúp đỡ của các
thầy cô giáo trong Khoa Lâm nghiệp và đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc tới hai thầy cô giáo – TS. Đàm Văn Vinh, TS. Nguyễn Thị Thu Hiền
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập.
Xin được gửi lời cảm ơn đến cán bộ, nhân viên UBND xã Quân Chu,
huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên, cùng sự chỉ đạo tận tình của các thầy lang,
bà mế thuộc xã Quan Chu đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành đề
tài này. Mặc dù đã nỗ lực cố gắng, tuy nhiên do hạn chế về kinh nghiệm cũng
như thời gian và trình độ nghiên cứu nên khóa luận không thể tránh khỏi thiếu
sót. Vì vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý, chỉ bảo của thầy cô
cũng như bạn đọc khác để khoác luận được hoàn thiện hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 7 năm 2020
Sinh viên
LƯƠNG TUẤN TÀI
iii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Mẫu bảng điều tra nguồn cây thuốc được một số cộng đồng dân tộc
thiểu số ở khu vực nghiên cứu sử dụng phòng và điều trị bệnh ..... 21
Bảng 4.1. Đa dạng của ngành thực vật tại khu vực nghiên cứu...................... 26
Bảng 4.2. Số lượng họ, chi, loài thuộc hai lớp trong ngành Ngọc lan ............ 27
Bảng 4.3. Sự phân bố số lượng loài cây thuốc trong các họ ........................... 29
Bảng 4.4. Các họ đa dạng nhất ở KVNC ........................................................ 30
Bảng 4.5. So sánh các họ giàu loài ở KVNC (1) với họ giàu loài của hệ thực
vật Việt Nam (2) ............................................................................. 31
Bảng 4.6. Đa dạng về dạng sống tại khu vực nghiên cứu ............................... 32
Bảng 4.7. Sự đa dạng về nơi sống của các loài cây thuốc ở KVNC ............... 34
Bảng 4.8. Danh lục cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ghi nhận ở khu vực
nghiên cứu ....................................................................................... 36
Bảng 4.9. Bộ phận sử dụng của cây thuốc theo kinh nghiệm sử dụng của cộng
đồng dân tộc Dao, Sán Chí tại xã Quân Chu .................................. 38
Bảng 4.10. Tỷ lệ số loài có công dụng chữa các nhóm bệnh cụ thể ............... 41
Bảng 4.11. Danh sách cây thuốc được cả cả 3 dân tộc ở KVNC sử dụng ...... 44
Bảng 4.12. Danh sách cây thuốc được các dân tộc cùng sử dụng chữa nhóm
bệnh về xương khớp ........................................................................ 46
Bảng 4.13. Danh sách cây thuốc các dân tộc cùng sử dụng chữa nhóm bệnh về
gan, thận, dạ dày ............................................................................. 47
Bảng 4.14. Số lượng thầy thuốc được phỏng vấn theo từng dân tộc ở KVNC ...... 48
Bảng 4.15. Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết từ cây Xạ đen và cây Khoan
cân đằng .......................................................................................... 50
iv
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Các dụng cụ sử dụng cho nghiên cứu trong đề tài .......................... 22
Hình 4.1. Hình ảnh một số cây thuốc khu vực nghiên cứu ............................. 28
Hình 4.2. Tỷ lệ nhóm bệnh chữa trị từ nguồn cây thuốc theo kinh nghiệm sử
dụng trong cộng đồng dân tộc ......................................................... 42
Hình 4.3: Hoạt tính ức chế E. coli và S. aureus của cây Xạ đen và cây Khoan
cân đằng .......................................................................................... 51
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt/Ký hiệu Cụm từ đầy đủ
Danh lục đỏ cây thuốc DLĐCT
Nguy cấp EN
Hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại IIA
Khu vực nghiên cứu KVNC
Nhân khẩu NK
SĐVN - 2007 Sách đỏ Việt Nam 2007
Sắp nguy cấp VU
vi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................ iii
DANH MỤC HÌNH ......................................................................................... iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................... v
PHẦN 1. MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề .............................................................................................. 1
1.2. Mục tiêu yêu cầu của đề tài ................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ................................................................................... 3
1.3.1. Ý nghĩa về mặt khoa học ................................................................. 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ............................................................................. 3
PHẦN 2. TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU ........................................................... 4
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu ................................................. 4
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và thế giới ........................................ 4
2.2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới............... 4
2.2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở trong nước ............. 7
2.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu ....................................................... 16
2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu ........................................ 16
2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu ............................. 18
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 19
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................... 19
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................... 19
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu: ...................................................................... 19
3.2. Nội dung nghiên cứu ............................................................................ 19
vii
3.3. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................... 20
3.3.1. Phương pháp kế thừa ..................................................................... 20
3.3.2. Phương pháp điều tra cộng đồng .................................................. 20
3.3.3.Phương pháp thu thập mẫu............................................................. 22
3.3.4. Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc 23
3.3.5. Phương pháp đánh giá mức độ nguy cấp ...................................... 23
3.3.6. Phương pháp nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn .......................... 23
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................... 26
4.1. Đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng
các dân tộc thiểu số ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tinth Thái Nguyên .... 26
4.1.1. Đa dạng bậc trong bậc taxon ......................................................... 26
4.1.2. Đa dạng về dạng cây của nguồn tài nguyên cây thuốc ................. 32
4.1.3. Đa dạng về môi trường sống của nguồn tài nguyên cây thuốc ..... 34
4.2. Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam đã ghi nhận được
tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên .................................... 36
4.3. Vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân
tộc thiểu số ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên ................... 37
4.3.1. Kinh nghiệm sử dụng bộ phận làm thuốc của cộng đồng dân tộc
thiểu số ở xã Quân Chu ........................................................................... 37
4.3.2. Kinh nghiệm về nhóm bệnh chữa trị của cộng đồng dân tộc thiểu
số ở xã Quân Chu .................................................................................... 40
4.3.3. Sự giao thoa giữa các dân tộc về vốn tri thức bản địa trong việc sử
dụng cây thuốc ở xã Quân Chu ............................................................... 43
4.3.4. Vấn đề truyền thụ kiến thức về cây thuốc trong cộng đồng các dân
tộc ở xã Quân Chu ................................................................................... 48
4.4. Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc được sử
dụng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu ............ 50
viii
PHẦN 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ ........................................ 53
5.1. Kết luận ................................................................................................ 53
5.2. Tồn tại .................................................................................................. 54
5.3. Kiến nghị .............................................................................................. 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 56
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 61
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một quốc gia có 3/4 diện tích đồi núi, là nơi có nguồn tài
nguyên cây thuốc đa dạng và là nơi cư trú của 54 dân tộc mà phần lớn là dân
tộc thiểu số với khoảng 24 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số quốc gia (Trần
Thúy và cs. 2005). Chính sự đa dạng về dân tộc người cùng với sự khác biệt
về điều kiện, thổ nhưỡng, khí hậu, phong tục tập quán, văn hóa từng cộng
đồng dân tộc thiểu số đã tạo nên sự đa dạng và phong phú trong vốn tri thức
dân gian về kinh nghiệm sử dụng cây cỏ xung quanh mình làm cây thuốc
chữa bệnh.
Cây thuốc dân gian từ lâu đã được nhiều người quan tâm đến, đây là
nguồn tài nguyên thực vật có giá trị thiết thực cho các cộng đồng địa phương
trong việc phòng chữa bệnh, ngoài ra nó còn có giá trị trong việc bảo tồn
nguồn gen,cung cấp cho lĩnh vực dược học.
Việt Nam được đánh giá là nước có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng
và phong phú, trong đó có tài nguyên cây thuốc, đặc biệt là khu vực Trường
Sơn. Thêm vào đó với những kinh nghiệm đã được tích lũy qua 4000 năm
lịch sử, đã sử dụng nguồn tài nguyên phục vụ cho nhu cầu cuộc sống từ ăn,
mặc, ở, chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh… của cộng đồng 54 dân tộc anh em.
Đó là một ưu thế lớn trong việc sử dụng nguồn tài nguyên thực vật trong đó
có nguồn tài nguyên cây thuốc góp phần nâng cao đời sống và sức khỏe của
mọi người đặc biệt là các đồng bào Dân tộc thiểu số ở các vùng sâu, vùng xa
nơi cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên
thiên nhiên trong đó có rừng.
Bằng những kinh nghiệm dân gian của những người làm thuốc trong
mỗi dân tộc, những tri thức về cây thuốc được truyền miệng và lưu truyền cho
2
con cháu đời sau, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Trải qua thời gian, các bài
thuốc có tính độc đáo và trở nên thông dụng trong việc chăm sóc sức khỏe
người dân của cộng đồng mình và những dân tộc xung quanh. Vì vậy, đã có
rất nhiều công trình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc cũng như bảo tồn tri
thức y học dân gian được tiến hành và mang lại giá trị khoa học và thực tiễn.
Thái Nguyên là một vùng đất giàu tài nguyên, khí hậu nhiệt đới ẩm,
có thảm thực vật rất đa dạng, phong phú và là nơi có nhiều đồng bào dân tộc
sinh sống như: Tày, Nùng, Sán Chí, Sán Dìu, Dao,… Từ rất lâu đời, đồng bào
các dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên đã có truyền thống chữa bệnh bằng
cây thuốc, mỗi dân tộc lại mang bản sắc và những kinh nghiệm chữa bệnh
bằng thực vật riêng, đặc trưng cho dân tộc mình. Trong số đó có đồng bào các
dân tộc thiểu số tại xã Quân Chu- Huyện Đại Từ cũng có nhiều kinh nghiệm
độc đáo về việc chữa bệnh bằng cây thuốc. Tuy nhiên, hiện nay diện tích rừng
ngày càng bị thu hẹp, tình trạng khai thác, mua bán diễn ra một cách phức tạp,
dẫn đến nguồn tài nguyên cây thuốc ngày càng bị suy giảm. Mặt khác những
bài thuốc được đồng bào được đồng bào các dân tộc thiểu số sử dụng từ lâu
đời trong việc phòng và trị một số bệnh nhưng hoạt tính sinh học và cơ sở
khoa học của các bài thuốc chưa được nghiên cứu, chứng minh bằng con
đường khoa học. Vì vậy, để góp phần bảo vệ nguồn gen cây thuốc, bảo tồn và
phát triển các bài thuốc của cộng đồng các dân tộc tại xã Quân Chu - Huyện
Đại Từ, tôi đề xuất ý tưởng đề tài “Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây
thuốc trong cộng đồng dân tộc thiểu số tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ,
tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu yêu cầu của đề tài
3
- Đánh giá được tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh
nghiệm sử dụng cây thuốc của một số cộng đồng dân tộc Dao và Sán Dìu tại
xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Xác định được những cây thuốc thuộc diện quý hiếm ở Việt Nam,
hiện có ở khu vực nghiên cứu.
- Đánh giá được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có
giá trị cao được một số cộng đồng dân tộc Dao và Sán Dìu tại xã Quân Chu,
huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên sử dụng trong phòng và trị bệnh.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa về mặt khoa học
- Xác định tri thức bản địa sử dụng các loài cây thuốc của một số
cộng đồng dân tộc thiểu số tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Xác định được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có
giá trị cao tại khu vực nghiên cứu.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả thu được sẽ là cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất công tác bảo
tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc của một số cộng đồng dân tộc thiểu số
tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Phòng và chữa bệnh bằng các loài thảo dược đã được con người sử
dụng từ hàng ngàn năm nay. Nó vẫn đang tồn tại và ngày càng phát triển
mạnh mẽ. Hàng năm, con người đã tìm ra được những hoạt chất quý trong các
loài thảo dược có thể phòng và chữa trị được những căn bệnh từ đơn giản
hàng ngày như cảm cúm, ho sốt đến những căn bệnh nan y như ung thư, bệnh
tim, suy thận,... hay những căn bệnh nhiệt đới nguy hiểm như dịch cúm A
H5N1, H1N1,... Các cây thuốc và bài thuốc có được nhờ kinh nghiệm tích lũy
qua nhiều thế hệ giờ đây đang dần mất đi theo thời gian. Do đó việc gìn giữ
vốn kiến thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc và bài thuốc từ thảo dược
là việc hết sức cần thiết. Theo tổ chức y tế thế giới WHO, khoảng 80% dân số
hiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm
sóc sức khỏe cộng đồng.Vậy, nghiên cứu về các loài cây thuốc là hết sức cần
thiết cho việc bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc và bài thuốc cho thế hệ
hôm nay và mai sau.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và thế giới
2.2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới
Tổ tiên loài người từ khi xuất hiện đã gắn bó với thiên nhiên, trải qua
quá trình đấu tranh với thiên nhiên và bệnh tật để sinh tồn. Trong quá trình
đó, tổ tiên chúng ta ngay từ khi còn là các tộc người đã sớm phát hiện ra
những cây cỏ trong tự nhiên có thể sử dụng làm thuốc, đồng thời trong cuộc
sống lao động, đấu tranh với bệnh tật đã sáng tạo ra những bài thuốc và
phương pháp chữa bệnh.
5
Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về sử dụng cây thuốc
cho mục đích chữa bệnh của người dân bản địa ở các khu vực, các quốc gia
được các nhà khoa học thực hiện trên khắp các châu lục trên Thế giới:
Ở Châu Á:
Châu Á là châu lục có nhiều dân tộc bản địa sinh sống, với vốn tri
thức bản địa về việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc phong phú và đa
dạng, đã có những nghiên cứu cụ thể ở các cộng đồng người, các khu vực
khác nhau như:
Homervergel G. Ong và Young - Dong Kim (2014) nghiên cứu về
thực vật học định lượng của các cây thuốc được sử dụng bởi các nhóm bản
địa Ati Negrito ở đảo Guimaras, Philippin đã tìm thấy 142 loài cây dược liệu
thuộc 55 họ được sử dụng trong 16 loại bệnh [40].
Tahira Bibia và cs. (2014) nghiên cứu thực vật dân tộc của cây thuốc ở
quận Mastung của tỉnh Balochistan, Pakistan đã chỉ ra 102 loài thực vật thuộc 47
họ được người dân sử dụng cho mục đích điều trị các loại bệnh khác nhau [46].
Mi-Jang Song và cs. (2014) khi điều tra và phân tích các kiến thức
truyền thống về cây thuốc được sử dụng bởi các cư dân tại Vườn quốc gia
(VQG) Gayasan, Hàn Quốc đã điều tra và thống kê 200 loài thực vật thuộc
168 chi và 87 họ được các cư dân sử dụng để điều trị các loại bệnh khác nhau
như: rối loạn cơ xương, đau nhức, rối loạn hệ hô hấp, bệnh gan và các vết cắt
vết thương [43].
Dol Luitel và cs (2014) khi nghiên cứu cây thuốc được sử dụng bởi
cộng đồng người Tamang ở quận Makawanpur của Trung tâm Nepal đã tìm
thấy 161 loài thực vật thuộc 144 chi và 86 họ đã được người dân sử dụng để
điều trị các loại bệnh khác nhau [38].
Ở Châu Âu:
6
Y học dân gian châu Âu có một lịch sử lâu dài, những tri thức dân
gian bản địa được truyền lại cho các thế hệ sau bằng việc ghi chép lại và
thông qua truyền miệng qua nhiều thế kỉ.
Seyid Ahmet Sargin và cs. (2013) nghiên cứu về các loài cây thuốc
được sử dụng bởi người dân địa phương của Alasehir, Manisa, Thổ Nhĩ Kỳ đã
thu thập được 137 loài thực vật được người dân bản địa sử dụng để điều trị các
bệnh khác nhau [44].
Ở Châu Mĩ:
Việc nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc của người dân bản địa
cũng được thực hiện:
Theo nghiên cứu “Thực vật dân tộc của người dân Rayones, Nuevo
León, Mexico” năm 2014, đã ghi nhận 252 loài thực vật thuộc 228 chi và 91
họ được người dân Rayones sử dụng để điều trị các bệnh, trong đó các họ
được sử dụng chủ yếu là: Asteraceae và Fabaceae (Eduardo Estrada-Castillón
và cs., 2014) [39].
Nghiên cứu “Cây thuốc trong bối cảnh văn hóa của một cộng đồng
Mapuche – Tehuelche trong thảo nguyên Datagonia Argentina” đã chỉ ra 121
loài thực vật được cộng đồng sử dụng để điều trị các bệnh liên quan đến tiêu
hóa, hô hấp, tim mạch, giảm đau, chống viêm, sản khoa, phụ khoa và sinh dục
(Soledad Molares và Ana Ladio, 2014) [45].
Ở Châu Phi:
Người dân Châu Phi đã sử dụng cây thuốc bản địa hàng nghìn năm nay
để bảo vệ sức khỏe của họ, những nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng cây
thuốc của những người dân bản địa ở châu Phi rất đa dạng và phong phú:
Nghiên cứu “cây thuốc được sử dụng bởi phụ nữ từ rừng ven biển
Agnalazaha Đông Nam Madagascar”, đã thống kê được 152 loài cây thuốc được
7
sử dụng bởi người dân địa phương để điều trị các bệnh, trong đó ghi nhận 8 loài
được sử dụng bởi những người phụ nữ để điều trị các biến chứng trong khi sinh,
các bệnh nhiệt đới như: sốt rét, giun chỉ và các bệnh liên quan đến tình dục như
bệnh lậu và giang mai (Mendrika Razafindraibe và cs., 2013) [42].
Nghiên cứu về “sử dụng và quản lý cây thuốc truyền thống của cộng
đồng dân tộc thiểu số Maale và Ari, ở miền nam Ethiopia”, đã ghi nhận 128
loài cây thuốc thuộc 111 chi và 49 họ được cộng đồng người Maale và Ari sử
dụng để điều trị các loại bệnh khác nhau (Berhane Kidane và cs., 2014) [37].
Kết quả nghiên cứu về cây thuốc được sử dụng trong y học cổ truyền
bởi những người Oromo, quận Ghimbi, Tây Nam Ethiopia, đã thống kê được
49 loài cây thuốc thuộc 31 họ và 46 chi được người Oromo sử dụng để điều
trị các loại bệnh khác nhau (Balcha Abera, 2014) [36].
Ở Châu Úc:
Những nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc bản địa được thực
hiện ở châu Úc còn rất ít. Một nghiên cứu về các loài cây thuốc được sử
dụng bởi cộng đồng thổ dân Yaegl ở miền Bắc New South Wales,
Australia, đã ghi nhận 32 loài cây thuốc thuộc 21 họ được thổ dân Yaegl sử
dụng để điều trị các bệnh (Joanne Packera và cs., 2012) [41].
Như vậy, việc điều tra và thống kê các loài cây thuốc đã để lại những
công trình mang tính khoa học, tính dân tộc sâu sắc, cho thấy vốn tri thức dân
gian bản địa về sử dụng cây thuốc trên thế giới là vô cùng đa dạng và phong phú.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở trong nước
Ở Việt Nam, tập quán sử dụng cây thuốc đã có từ lâu. Hơn 4000
năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua cuộc đấu tranh
chống giặc ngoại xâm, đấu tranh với thiên nhiên và bệnh tật. Ngay từ
những buổi đầu sơ khai, khi con người còn sống theo lối nguyên thủy,
8
trong quá trình tìm thức ăn, tổ tiên chúng ta đã phát hiện ra công dụng và
tác hại của nhiều loại cây. Suốt một thời gian dài như vậy, tổ tiên chúng ta
đã dần dần tích lũy được nhiều kinh nghiệm, biết lợi dụng tính chất của cây
rừng để làm thức ăn và làm thuốc chữa bệnh (Trần Thúy và cs., 2005) [27].
Thế kỷ thứ XI (TCN), nhân dân ta có tục ăn trầu cho ấm người, thơm
miệng, uống nước chè xanh cho mát, nụ vối cho dễ tiêu,… điều đó nói lên
những hiểu biết về dinh dưỡng và sử dụng thuốc của dân tộc (Lê Trần Đức,
1997) [12].
Từ thời Hùng Vương, tổ tiên ta đã biết nấu rượu, biết dùng Thủy ngân để
ướp xác và sử sách đã ghi chép về một lương y tên là Thôi Vỹ đã biết chữa bệnh
lao hạch ở thời An Dương Vương (257 – 207) (Trần Thúy cs., 2005) [27].
Thời nhà Lý (1010 – 1221) đã có tổ chức Ty Thái Y chăm lo và bảo
vệ sức khỏe cho nhà vua, có nhiều thầy thuốc chuyên lo việc chữa bệnh cho
nhân dân và phương pháp chữa bệnh bằng tâm lý liệu pháp phát triển. Trong
sử sách còn ghi lại năm 1136, vua Lý Thần Tông bị điên được lương y
Nguyễn Chí Thành người Gia Viễn – Ninh Bình dùng tâm lý liệu pháp và tắm
nước Bồ hòn chữa cho khỏi bệnh. Nhà Lý đặt quan hệ với Tống Huy Tông
(Trung Quốc) trao đổi thuốc Nam lấy thuốc Bắc (Trần Thúy và cs., 2005)
[27]. Ở thời này, làng Đại Yên là một làng thuốc nổi tiếng, chuyên trồng và
bán các loại cây thuốc Nam phục vụ công tác chữa bệnh (Viện Dược liệu,
1993) [30].
Thời nhà Trần (1224 – 1399), y học cũng khá phát triển, đã có kế
hoạch tự túc thuốc Nam để kháng chiến. Tướng Phạm Ngũ Lão đã trồng cây
thuốc ở Vạn An và Dược Sơn (xã Hưng Đạo – Chí Linh – Hải Dương) để
cung cấp cho quân y (Lê Trần Đức, 1997) [12]. Nổi bật ở thời này là nhà sư
Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá Tĩnh) – được nhân dân tôn trọng, gọi là “Ông thánh
9
thuốc Nam”. Tuệ Tĩnh đã xây dựng 74 ngôi chùa chữa bệnh cho nhân dân
không lấy tiền và gây phong trào trồng thuốc ở gia đình. Ông là một đại sư
nước Việt dùng thuốc Nam giảm giá trị của thuốc Bắc, sắc thuốc chữa bệnh
cho nhân dân với phương châm: “thuốc Nam chữa bệnh người Nam” ông đã
truyền bá y dược cổ truyền cho nhân dân trong các tác phẩm (Lê Trần Đức,
1997) [12].
Thời kỳ nhà Lê (1428 – 1876) đã có những chủ trương tiến bộ trong
việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân, tổ chức Thái Y Viện, có
lương y chăm lo việc chữa bệnh cho quân đội, hàng năm tổ chức các đợt
phòng và chống dịch bệnh cho nhân dân. Trong giai đoạn này có làng thuốc ở
thôn Nghĩa Trai, huyện Văn Lâm, hiện nay vẫn còn tồn tại và phát triển (Trần
Thúy và cs., 2005) [27].
Thế kỷ XVIII, Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (1729 –
1791) đã thừa kế dược học của Tuệ Tĩnh chép vào tập “Lĩnh Nam bản thảo”
nội dung gồm 496 vị thuốc Nam của “Nam dược thần hiệu” và phát hiện thêm
hơn 300 vị nữa. Tác giả đã để lại bộ sách thuốc rất có giá trị là: “Tân Hoa Hải
Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh dương an toàn trạch” gọi tắt là “Lãn Ông Y
Nghiệp” hay “Lãn Ông Y Tập” gồm 66 quyển (Nguyễn Nhân Thống, 2008)
[20]. Suốt 30 năm của cuộc dời mình, tác giả đã xây dựng được nền móng cho
nền y học cổ truyền Việt Nam toàn diện cả về lý luận, phương pháp điều trị
và dược liệu.
Ngoài các bộ sách trên, còn kể đến tập “Vạn phương thập nghiệm”
của Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh gồm 8 tập, xuất bản 1763. Tập “Nam bang
thảo mộc” của Trần Nguyệt Phương mô tả 100 loài cây thuốc Nam, xuất bản
năm 1858 (Lê Trần Đức, 1997) [12].
10
Thời kỳ Tây Sơn (1788 – 1808) Nguyễn Hoành đã để lại tập “Nam
dược” với 590 vị thuốc, với các phương thuốc kinh nghiệm gia truyền (Lê
Trần Đức, 1997) [12].
Thời kỳ từ năm 1802 – 1883, nhà Nguyễn cũng tổ chức Thái Y Viện,
tổ chức điều trị bệnh phong tập trung, mở trường dạy thuốc ở Huế (Trần Thúy
và cs., 2005) [27]. Nguyễn Quang Lượng, Nguyễn Kinh,… là những danh y
nổi tiếng thời này, đã góp phần phát triển nền y học với quyển: “Nam dược
tập nghiệm quốc âm” bằng chữ Nôm của Nguyễn Quang Lượng về phương
thuốc dân gian.
Trong thời Pháp thuộc (1848 – 1945), y học cổ truyền nước ta có một
số hoạt động như: thành lập các hội y học ở Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ; mở
các lớp huấn luyện y học cổ truyền, mở các phòng chữa bệnh, tổ chức triển
lãm y học cổ truyền,… (Trần Thúy và cs., 2005) [27]. Đến đầu thế kỷ XX, đã
cho xuất bản một số sách Y học cổ truyền bằng chữ quốc ngữ như “Việt Nam
dược học” của Phó Đức Thành. Nhiều nhà thực vật học người Pháp và người
Việt góp công nghiên cứu cây thuốc Việt Nam, như: bộ “Trung Việt dược tính
hợp biên” của Đinh Nho Chân với 1.600 vị thuốc Nam Bắc.
Sau cách mạng tháng 8 – 1945, y dược học cổ truyền đạt được
những thành tựu to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Bộ y tế cùng y học hiện đại,
sức khỏe của người dân được quan tâm và chăm lo chu đáo hơn. Chỉ thị số
210 TTG/VG ngày 06/12/1966 của thủ tướng chính phủ đã nhận định như
sau: “Dược liệu nước ta rất nhiều, gồm các loài cây thuốc và một số động
vật. Có nhiều loài quý, hiếm ở trên thế giới. Dược liệu ở nước ta chẳng
những là cơ sở cho nền y học dân tộc mà còn có một vị trí quan trọng trong
nền y học hiện đại, chẳng những là nguồn tự cung tự cấp về các loài cây
thuốc Nam, thuốc Bắc, thuốc Tây, mà còn là loại hàng xuất khẩu có giá
11
trị,… phải coi trọng dược liệu như cây công nghiệp cao cấp” (Võ Văn Chi,
1996) [31].
Vì vậy, sau khi nước nhà thống nhất, việc nghiên cứu cây thuốc ở nước
ta được quan tâm nhiều hơn. Có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu, tìm tòi và phát
hiện thêm nhiều loài cây thuốc mới. Tiêu biểu có thể kể đến bộ sách “Dược liệu
học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập, do Đỗ Tất Lợi biên soạn năm 1957 và
đến năm 1961, cuốn sách này được tái bản in thành 2 tập. Trong đó, tác giả đã
mô tả chi tiết và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam (Nguyễn Tập, 2007)
[21]. Đỗ Tất Lợi đã tiếp tục dày công nghiên cứu và trrong những năm từ 1959 –
1965, tác giả cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6
tập, năm 1969 tái bản trong 2 tập. Cuốn sách này của tác giả đã đề cập đến trên
500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật. Tác giả đã kiên trì
nghiên cứu, bổ sung liên tục các loài cây thuốc trong các công trình nghiên cứu
của mình và sách đã được tái bản nhiều lần và các năm 1970, 1977, 1981, 1986,
1995, 1999, 2001 và năm 2003. Lần tái bản thứ 7 vào năm 1995 số cây thuốc
của tác giả nghiên cứu đã lên tới 792 loài và gần đây nhất là lần tái bản lần thứ
13 (dẫn theo Lê Thị Thanh Hương, 2007) [11]. Bộ sách của tác giả đã mang lại
giá trị khoa học và giá trị thực tiễn sâu sắc, thể hiện sự kết hợp giữa khoa học
dân gian và khoa học hiện đại.
Trong những năm này, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa
học đã được xuất bản thành các tập sách như: “Tài Nguyên cây thuốc Việt Nam”
vào 1993 của Viện Dược liệu, với khoảng 300 loài cây thuốc (Phạm Hoàng Hộ,
2006); Trần Đình Lý với cuốn “1900 loài cây có ích” năm 1995, đã thống kê ở
Việt Nam có khoảng 76 loài cho nhựa thơm, 260 loài cho dầu béo, 160 loài có
tinh dầu, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây (dẫn theo Lê Thị Thanh Hương,
2007) [11]. Lương y lão thành, thầy thuốc ưu tú Lê Trần Đức với cuốn: “Cây
thuốc Việt Nam” năm 1995 đã giới thiệu hơn 830 loài cây thuốc chính, phụ (Lê
12
Trần Đức, 1997) [12]. Võ Văn Chi là một nhà thực vật lớn của Việt Nam, đã
đóng góp rất nhiều trong quá trình nghiên cứu về các loài thực vật ở Việt Nam
và ông đã biên soạn cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, trong đó ông mô tả rất
tỷ mỷ về các cây được sử dụng làm thuốc ở Việt Nam bao gồm 3.200 cây
(Nguyễn Thượng Dong và cs., 2006) [22]. Ngoài ra, cuốn “Cây cỏ có ích ở Việt
Nam” tập I, II đề cập đến rất nhiều cây cỏ có ích như làm gỗ, làm lương thực,
làm thuốc (Nguyễn Thượng Dong và cs., 2006) [22].
Trong những năm từ 2000 đến nay, đã có nhiều cuốn sách và các tài
liệu về cây thuốc được xuất bản nhằm đáp ứng nhu cầu của nhiều người quan
tâm tới cây thuốc trên khắp đất nước Việt Nam như: “577 bài thuốc dân gian
gia truyền” (Âu Anh Khâm, 2001) [1]; “Thuốc Nam, thuốc Bắc và các
phương thang chữa bệnh” (Tào Duy Cần, 2001) [28] và cuốn “Thuốc bệnh 24
chuyên khoa” (Tào Duy Cần, 2006) [29]; “Nghiên cứu cây thuốc từ thảo
dược” (Nguyễn Thượng Dong và cs., 2006) [22]; “Cây có vị thuốc ở Việt
Nam” do Phạm Hoàng Hộ nghiên cứu và tập hợp (Phạm Hoàng Hộ, 2006)
[26]; “Cây thuốc, bài thuốc và biệt dược” của Phạm Thiệp và cộng sự (2000)
[27] đề cập tới 327 cây thuốc phổ biến,… Đồng thời, có nhiều công trình
nghiên cứu về cây thuốc trên cả nước công bố trên các tạp chí về cây thuốc
như: Đặng Quang Châu (2011) [3] đã công bố một số dẫn liệu về cây thuốc
của dân tộc Thái ở huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) gồm 177 loài, thuộc 149 chi,
thuộc 71 họ khác nhau; Đặng Quang Châu và Bùi Hồng Hải (2003) [5] khi
điều tra các loài cây của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu (Nghệ An) đã thu
được 93 loài thuộc 7 chi, 42 họ.
Các tác giả đã phân loại cây được sử dụng theo các nhóm bệnh: bệnh
ngoài da, bệnh về đường tiêu hóa, bệnh về gan, bệnh về xương… Lưu Đàm
Cư và cộng sự (2004) [13] khi điều tra các loài cây có ích của dân tộc
H’mông ở vùng núi cao phía Bắc đã phân loại được 4 nhóm theo công dụng:
13
cây lương thực – thực phẩm, cây làm thuốc, cây có độc, cây để nhuộm màu,
cây ăn quả. Trong nhóm này cây làm thuốc đã thống kê được 657 loài thuộc
118 họ mà người H’mông sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho người và gia súc.
Nguyễn Thị Thủy và Phạm Văn Thỉnh (2004) [26] đã xây dựng các mô hình
vườn bảo tồn cây thuốc ở vùng cao Sa Pa, như vườn rừng, trang trại, vườn các
hộ gia đình. Bước đầu đã bảo tồn được 52 loài cây thuốc thuộc 28 họ, trong
đó có nhiều loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Trong Hội nghị Khoa học Toàn quốc lần thứ 4 năm 2011 tại Hà Nội,
đã có nhiều báo cáo khoa học về tài nguyên cây thuốc và cách sử dụng các
loài cây thuốc trong điều trị các bệnh của cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt
Nam được công bố như: một số kết quả nghiên cứu “Các loài thực vật được
đồng bào dân tộc Mường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò sử
dụng làm thuốc trị bệnh thận” của các tác giả Đỗ Sĩ Hiến và Đỗ Thị Xuyến
(2011) [7] đã chỉ ra 65 loài thực vật được đồng bào dân tộc Mường sử dụng
làm thuốc chữa bệnh về thận; “Những cây thuốc được sử dụng thay thế mật
gấu theo kinh nghiệm dân gian và đông y ở một số địa bàn tỉnh Thái Nguyên”
của tác giả Lê Thị Thanh Hương và Nguyễn Thị Thuận (2011) [10] đã thu
được 35 loài thuộc 27 chi, 21 họ của 2 ngành thực vật bậc cao được sử dụng
làm thuốc chữa bệnh thay thế mật gấu ở một số địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
“Điều tra các loài cây thuốc và giá trị sử dụng của chúng ở một số xã thuộc
huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp” của tác giả Võ Thị Phượng và Ngô Trực
Nhã (2011) [33] đã điều tra và thống kê 232 loài cây được sử dụng làm thuốc
thuộc 186 chi, 90 họ tại các xã của huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Trong vài năm gần đây một số các công trình nghiên cứu của một số
sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng chỉ ra nguồn đa dạng
về tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam như: một số kết quả nghiên cứu;
14
“Nghiên cứu tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng
trong cộng đồng dân tộc tày tại xã Phú Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái
Nguyên” của tác giả Hoàng Văn Đức (2018) [9] điều tra và thống kê được
147 loài cây được sử dụng làm thuốc thuộc 134 chi, thuộc 37 họ tại xã Phú
Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên;
“Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại xã Yên Ninh,
huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Dương Văn Hưng (2018)
[3] điều tra thống kê được 149 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc ngành
Thông có 1 loài thuộc 1 chi và 1 họ, thuộc ngành Dương xỉ có 3 loài thuộc 3
chi và 3 họ, thuộc ngành Mộc lan có 145 loài thuộc 133 chi và 70 họ sử dụng
làm thuốc tại xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên;
“Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại xã y Tý, huyện
Bát Xát, tỉnh Lào Cai” của tác giả Hoàng Thị Thanh (2019) [8] điều tra đã
thống kê được 102 loài thực vật bậc cao thuộc ngành thạch tùng có 1 loài
thuộc 1 chi và 1 họ, thuộc ngành Dương xỉ với 2 loài thuộc 2 chi và 2 họ,
ngành Ngọc lan có 99 loài thuộc 90 chi và 52 họ sử dụng làm thuốc tại xã Y
Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai;
“Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số
loài cây thuốc tại xã Hoàng Thông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” của tác
giả Nông Thái Hòa (2018) [24] điều tra đã thu được 137 loài thực vật bậc cao
có mạch thuộc ngành Ngọc lan thuộc 129 chi và 72 họ có công dụng làm
thuốc tại xã Hoàng Thông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên;
“Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc
H’Mông tại xã Trung Lèng Hồ, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai” của tác giả
Vàng Văn Trung (2019) [34] đã thu được 90 loài thực vật bậc cao có mạch,
thuộc Ngành Dương Sỉ có 1 loài thuộc 1 họ và 1 chi. Thuộc Ngành Ngọc lan
15
có 89 loài thuộc 80 chi, 52 họ sử dụng làm thuốc tại xã Trung Lèng Hồ,
huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai;
“Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại xã Sàng Ma Sáo,
huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai” của tác giả Lò Văn Nhan (2019) [16] điều tra đã
thu được 91 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc ngành Ngọc lan có 88 loài và
thuộc 78 chi và 46 họ, thuộc ngành Dương sỉ với 1 loài thuộc 1 chi và 1họ,
thuộc ngành Thạch tùng có 1 loài thuộc 1 chi và 1 họ, thuộc ngành Dây gắm
có 1 loài thuộc 1 chi và 1 họ có công dụng làm thuốc tại xã Sàng Ma Sáo,
huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai;
“Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một
loài cây thuốc tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” của tác
giả Vàng A Lả (2018) [35] đã thu được 183 loài thực vật bậc cao có mạch,
thuộc Ngành Dương xỉ có 2 loài thuộc 2 họ và 2 chi. Thuộc Ngành Nấm đảm
có 1 loài thuộc 1 chi và 1 họ. Thuộc Ngành Mộc lan có 180 loài thuộc 156 chi
và 87 họ có công dụng làm thuốc chữa bệnh tại xã Yên Lạc, huyện Phú
Lương, tỉnh Thái Nguyên;
“Nghiên cứu tính đa dạng nguồn cây thuốc được sử dụng trong đồng
bào dân tộc Bru- Vân Kiểu ở xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng
Bình” của tác giả Lương Minh Ngọc (2018) [15] điều tra đã thu được 52 loài
thực vật ngành Mộc Lan thuộc 48 chi và 31 họ có công dụng làm thuốc tại xã
Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình;
“Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại xã Nậm Pung,
huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai” của tác giả Nguyễn Minh Hiếu (2019) [23] điều
tra đã xác định được 75 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc ngành Ngọc lan
có 71 loài thuộc 69 chi và 44 họ, thuộc ngành Dương sỉ với 1 loài thuộc 1 chi
và 1 họ, thuộc ngành Thạch tùng có 2 loài thuộc 2 chi và 1 họ có công dụng
làm thuốc tại xã Nậm Pung, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai;
16
“Nghiên cứu tính đa dạng nguồn cây thuốc được sử dụng trong một số
dân tộc thiểu số tại xã Chiềng Đông, huyện Tuần Giáo, tỉnh Lào Cai” của tác
giả Lò Thị Quý (2018) [14] điều tra đã thu được 52 loài thực vật ngành Mộc
Lan thuộc 48 chi và 31 họ có công dụng làm thuốc tại xã Chiềng Đông, huyện
Tuần Giáo, tỉnh Lào Cai.
Như vậy, việc điều tra và thống kê các loài cây thuốc, các bài thuốc
không những mang lại những giá trị khoa học, giá trị thực tiễn sâu sắc mà còn
đóng góp và công tác bảo tồn nguồn dược liệu nước nhà, bảo tồn những bài
thuốc hay. Nhằm góp phần, bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân
tộc Việt Nam.
2.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu * Vị trí địa lý:
Xã Quân Chu nằm ở phía đông nam của huyện Đại Từ, cách trung tâm
huyện 20 km có trục đường tỉnh lộ 261 chạy qua trung tâm xã. Có địa giới
hành chính như sau:
+ Phía Đông: Giáp thị trấn Quân Chu;
+ Phía Nam: Giáp giáp xã Phúc Thuận- Thị xã Phổ Yên;
+ Phía Tây Nam: Giáp với dãy núi Tam Đảo- tỉnh Vĩnh Phúc;
+ Phía Bắc: Giáp xã Cát Nê.
Có trục đường tỉnh lộ 261 chạy qua trung tâm xã tương đối thuận lợi
cho giao thương hàng hóa.
Xã có 1.165 hộ với 4.596 khẩu, được phân bố trên 19 xóm, xóm ít nhất
20 hộ, xóm nhiều nhất 156 hộ.
* Đặc điểm địa hình:
Là xã miền núi phía Tây và Tây Nam nằm dưới chân dãy núi Tam Đảo
với địa hình chủ yếu là đồi núi cao, tiếp đến là dạng đồi bát úp và địa hình bằng
17
phẳng, độ cao trung bình 80m so với mặt nước biển; phía Bắc và Đông của xã là
các đồi gò nằm xen giữa các khu dân cư và những cánh đồng có diện tích nhỏ hẹp.
Địa hình xã nghiêng dần từ phía Đông Bắc sang phía Tây Nam .
* Địa chất thổ nhưỡng
Xã Quân Chu tổng diện tích đất tự nhiên là 4.041,43 ha. Trong đó:
- Diện tích nhóm đất nông, nông, lâm nghiệp là: 3.611,1ha, chiếm
89,35%, diện tích đất tự nhiên bao gồm:
+ Đất trồng lúa nước: 86,5ha.
+ Đất trồng cây hàng năm khác: 25,7ha.
+ Đất trồng cây lâu năm: 680,76ha.
+ Đất lâm nghiệp: 2.818,14ha chiếm 69,73% diện tích tự nhiên (trong
đó: rừng sản xuất: 1.989,87ha, rừng đặc dụng: 828,27ha).
- Diện tích đất phi nông nghiệp là: 430,87ha chiếm 10,63% so với
diện tích đất tự nhiên bao gồm:
+ Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp: 95,54ha.
+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 3,93ha.
+ Đất mặt nước chuyên dùng: 103,36ha.
+ Đất sông suối: 100,25ha.
+ Đất tôn giáo: 0,12ha.
+ Đất thổ cư: 60,0ha.
+ Đất chưa sử dụng: 67,47ha.
* Đặc điểm khí hậu:
Khí hậu có hai mùa rõ rệt; Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, khí hậu
nóng ẩm và mưa nhiều; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3, gió đông bắc chiếm
ưu thế, lượng mưa ít, thời tiết hanh khô, đặc trưng khí hậu nhiệt đối nóng ẩm
thể hiện rõ qua các chỉ số nhiệu độ trung bình hàng năm khoảng 22,9oC; tổng
18
tích ôn từ 7.000 - 8.000oC. Lượng mưa phân bố không đều có chênh lệch lớn
giữa mùa mưa và mùa khô, về mùa mưa cường độ mưa lớn, chiếm tới gần
80% tổng lượng mưa trong năm. Điều kiện thời tiết khí hậu khá thuận lợi cho
ngành nông nghiệp phát triển và phát triển du lịch sinh thái.
* Chế độ thủy văn:
Địa bàn xã Quân Chu có 2 suối chính: Suối Đá Đen; Suối Chiểm; đều
bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo, chảy qua địa bàn xã với chiều dài khoảng 7,3
km; hệ thống suối, khe rạch khá dày đặc và ao, đầm của xã nằm rải rác tại các
xóm với tổng diện tích đất sông, suối 195,25ha ; nhìn chung nguồn nước suối
và ao, đầm trên địa bàn xã khá dồi dào, rất thuận lợi cho việc tưới tiêu trồng
trọt, phát triển chăn nuôi thủy sản và cung cấp nước sinh hoạt cho người dân.
2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
* Dân cư, dân tộc:
Toàn xã có 1.165 hộ với 4.596 khẩu, đồng bào dân tộc thiểu số 2.991
khẩu, chiếm 65 % dân số. Với cộng đồng dân tộc gồm 06 dân tộc anh em cùng
chung sống như: Kinh, Tày, Dao, Nùng, Sán Dìu, Hoa đồng bào dân tộc thiểu
số 2.991 khẩu, chiếm 65 % dân số, còn lại 35% dân số là dân tộc Kinh.
* Kinh tế:
Kinh tế nông lâm nghiệp vẫn là ngành chiếm vị trí quan trọng trong
nền kinh tế của xã Quân Chu trong những năm qua.
19
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Các loài thực vật được một số cộng đồng dân tộc Dao và Sán Dìu tại xã
Quân Chu sử dụng làm chuốc chữa bệnh; kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của
một số cộng đồng dân tộc thiểu số tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Công tác điều tra thực địa được tiến hành tại xã Quân Chu, huyện
Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
+ Nghiên cứu thực nghiệm (xác định hoạt tính kháng khuẩn) được
tiến hành tại phòng thí nghiệm Khoa Công nghệ sinh học - Trường ĐH Khoa
học Thái Nguyên.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2020
- Nghiên cứu tri thức của cộng đồng dân tộc: Dân tộc Dao và Sán Dìu.
3.2. Nội dung nghiên cứu
* Đánh giá đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong một
số cộng đồng dân tộc thiểu số tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên:
- Đánh giá đa dạng các bậc taxon của nguồn tài nguyên cây thuốc: đa
dạng bậc họ; đa dạng bậc chi.
- Đánh giá đa dạng về dạng sống của thực vật làm thuốc.
- Đánh giá về môi trường sống của thực vật làm thuốc.
* Xác định những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn: Đánh giá ở mức độ
quý hiếm của các loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu.
20
* Vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của các cộng đồng
dân tộc thiểu số ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Kinh nghiệm sử dụng bộ phận làm thuốc của cộng đồng dân tộc thiểu
số ở xã Quân Chu.
- Kinh nghiệm về nhóm bệnh chữa trị của cộng đồng dân tộc thiểu số ở
xã Quân Chu.
- Ảnh hưởng của sự giao thoa giữa các dân tộc đến vốn tri thức bản địa
trong việc sử dụng cây thuốc.
- Vấn đề truyền thụ kiến thức về cây thuốc trong cộng đồng dân tộc
thiểu số ở xã Quân Chu.
* Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có giá trị
cao được một số cộng đồng dân tộc thiểu số tại khu vực nghiên cứu sử dụng
trong phòng và chữa trị bệnh.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp kế thừa
- Kế thừa những những tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở
khu vực nghiên cứu và các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Kế thừa kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các ông lang, bà mế
người dân tộc ở khu vực nghiên cứu.
3.3.2. Phương pháp điều tra cộng đồng
- Điều tra phỏng vấn thu thập cây thuốc: tại khu vực nghiên cứu, phỏng
vấn các ông lang, bà mế, người dân có kinh nghiệm sử dụng cây thuốc và sử
dụng các bài thuốc gia truyền của một số cộng đồng dân tộc thiểu số tại địa bàn
nghiên cứu. Mẫu phiếu điều tra dựa theo: phiếu điều tra cây thuốc trong cộng
đồng và phiếu điều tra bài thuốc gian dân (Viện Dược liệu, 1993) [30].
- Thu thập đầy đủ các thông tin cây thuốc gồm: tên phổ thông, tên dân
tộc; số hiệu mẫu/ảnh cây thuốc; dạng sống; môi trường sống; bộ phận sử dụng
21
làm thuốc (thân, rễ, hoa, quả, hạt); công dụng. Đồng thời ghi chép những đặc
điểm dễ nhận biết của cây ngoài thiên nhiên, ghi rõ thời gian, địa điểm và
người thu thập thông tin.
- Định danh tên cây: định danh loài cây theo các bước: (i) định danh
tại thực địa; (ii) sử dụng kiến thức kinh nghiệm của các chuyên gia và nguồn
tài liệu tin cậy đã công bố giám định lại.
+ Bước 1: xác định sơ bộ tên địa phương, tên thường gọi được thực
hiện ngay ở lần điều tra đầu tiên. Đối với những loài chưa chắc chắn thì ghi
chú để kiểm định lại ở bước sau. Các loài không biết tên cần phải lấy mẫu (lá,
hoa, quả,...) và ghi vào biểu điều tra bằng ký hiệu sp1, sp2,... để giám định.
+ Bước 2: tất cả các cây được thẩm định lại tên cây, lập danh mục cây
thuốc bằng sử dụng kiến thức kinh nghiệm của các chuyên gia về thực vật và
nguồn tài liệu tin cậy đã công bố gồm: Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ,
1999) [25], Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 2012) [32], Những
cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2005) [6], Danh lục các loài
thực vật Việt Nam (Trung tâm NCTN&MT – Đại học Quốc gia Hà Nội và
Viện ST&TNSV, 2006) [28]. Danh sách tên cây thuốc sẽ được hoàn thiện ở
bước này.
Bảng 3.1. Mẫu bảng điều tra nguồn cây thuốc được một số cộng đồng dân
tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu sử dụng phòng và điều trị bệnh
Thời gian điều tra: Người điều tra:
TT
Số hiệu mẫu/ảnh
Dạng cây
Bộ phận sử dụng
Công dụng
(1)
Phổ thông (2)
Tên loài Địa phương (3)
Khoa học (4)
(5)
(6)
Môi trường sống (7)
(8)
Cách sử dụng (9)
(10)
Địa điểm điều tra: Địa chỉ điều tra:
22
3.3.3.Phương pháp thu thập mẫu
Tiến hành thu mẫu ở thực địa theo nguyên tắc và phương pháp thu
mẫu theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [19].
Dụng cụ thu mẫu: bản gỗ ép mẫu, túi đựng mẫu, bao tải dứa, kéo
cắt cây, giấy báo, giây buộc, etyket, bút chữ A, sổ ghi chép, máy theo
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [18].
Nguyên tắc thu mẫu: mỗi cây thuốc thu từ 3 – 10 mẫu và được gắn
nhãn ghi rõ các thông tin về kí hiệu mẫu, thời gian, địa điểm và người thu
mẫu (các mẫu cùng cây đánh số cùng một số hiệu mẫu). Mẫu thu thập sẽ được
xử lý theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [19] như sau:
+ Bước 1: sau mỗi ngày thu mẫu, mẫu vật sẽ được mang về nơi ở, xếp
mẫu ngay ngắn vào một tờ báo cỡ 28 x 42 cm, để mẫu ở trạng thái tự nhiên,
có lá sấp – lá ngửa, vuốt cho thẳng mẫu và đeo etyket cho mẫu.
+ Bước 2: xếp khoảng 15 – 20 mẫu thành một chồng, dùng dây dứa
buộc lại.
+ Bước 3: cho mẫu vào túi nilon và tẩm cồn cho chồng mẫu để bảo quản.
Hình 3.1. Các dụng cụ sử dụng cho nghiên cứu trong đề tài
23
Để đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của một số cộng
3.3.4. Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc
đồng dân tộc thiểu số ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, đề tài
sử dụng phương pháp đánh giá của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [17]:
- Đa dạng về bậc phân loại: ngành, lớp, họ, chi, loài.
- Đa dạng về dạng sống: kí sinh, dây leo, gỗ trung bình, gỗ nhỏ, thảo, bụi.
- Đa dạng về môi trường sống: rừng, đồi, vườn, ven suối hoặc nơi ẩm ướt.
- Đa dạng về bộ phận sử dụng làm thuốc: thân, rễ, lá, hoa, quả, hạt, nhựa,
cả cây.
- Đa dạng về cách chế biến cây thuốc: khô và tươi.
- Đa dạng về các nhóm bệnh chữa trị: bệnh về khớp, tim, dạ dày,
gan, giải độc, xương,…
3.3.5. Phương pháp đánh giá mức độ nguy cấp
Đánh giá mức độ nguy cấp của các loài cây thuốc, xác định những cây
thuốc thuộc diện bảo tồn ở khu vực nghiên cứu theo: Sách đỏ Việt Nam, phần
thực vật rừng (Bộ KH&CN, 2007) [2], Nghị định 06/2019/NĐ-CP (Chính phủ
nước Việt Nam, 2019) [9], Danh sách đỏ cây thuốc Việt Nam trong Cẩm nang
cây thuốc cần được bảo vệ ở Việt Nam (Nguyễn Tập, 2007) [21].
3.3.6. Phương pháp nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn
- Bước 1: Chuẩn bị nguyên liệu.
Nguyên liệu lá, thân, rễ cây thuốc sau khi thu hái được rửa sạch, để ráo
nước sau đó đem sấy khô ở 900C đến khối lượng không đổi.
- Nguyên liệu sau khi sấy khô được nghiền trong máy xay đa năng loại
nhỏ thành bột dạng mịn, bảo quản nơi khô ráo để sử dụng trong các nghiên
cứu tiếp theo.
- Bước 2: Tạo cao chiết
24
Nguyên liệu được tách chiết theo phương pháp ngâm nóng. Nguyên
liệu dạng bột khô được đem đi chiết với tỷ lệ 20g/100ml bằng dung môi
methanol, sau đó cho vào máy lắc với tần số 200 vòng/phút (để các chất có
hoạt tính sinh học tan đều trong dung môi) ở các điều kiện thời gian khác
nhau (24h, 48h, 72h), sau đó tiến hành lọc qua giấy lọc, 80ml dịch lọc được
đem đi cô đặc bằng máy cô quay (hoặc sấy khô) đến khi có khối lượng khô
không đổi và được bảo quản ở 40C để sử dụng trong các nghiên cứu về khả
năng kháng khuẩn.
- Bước 3: Chuẩn bị giống vi khuẩn
Sử dụng 4 chủng vi khuẩn gồm 2 chủng gram dương là S.a
(Staphylococcus aureus), B.s (Bacillus subtilis); và 2 chủng gram âm làP.a
(Pseudomonas aeruginosa), E.coli (Escherichia coli), lấy từ phòng thí nghiệm
Vi sinh - Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên. Bảo quản giống trên môi
trường thạch nghiêng: vi sinh vật được hoạt hóa trong môi trường LB, sau đó
được cấy chuyển sang môi trường thạch nghiêng, nuôi 24 giờ ở 370C, giữ
trong tủ lạnh để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo.
- Bước 4: Thử khả năng kháng khuẩn
Kiểm tra khả năng kháng khuẩn của cao chiết bằng phương pháp
khuếch tán trên đĩa thạch, thí nhiệm được bố trí 3 lần nhắc lại trên một chủng
vi khuẩn 3 đĩa petri trên 1 lần nhắc lại.
Pha các cao chiết của toàn thân cây thuốc với metanol nồng độ 10g/100ml
và 5g/100ml sau đó dùng cao đã pha để thử hoạt tính kháng khuẩn.
Các thao tác được thực hiện trong tủ cấy vô trùng. Khi mật độ vi
khuẩn đạt đến nồng độ 106 tế bào/ml, lắc đều ống nghiệm chứa vi khuẩn.
Môi trường LB đã được hóa lỏng trong lò vi sóng, khi còn lỏng đổ đều môi
trường vào các đĩa Petri, sau đó để nguội để môi trường đông đặc lại tạo
thành mặt phẳng. Dùng micropipet hút 100μl dịch vi khuẩn vào giữa đĩa
25
thạch chứa môi trường LB (Thành phần của môi trường LB là như sau
(g/l): Peptone - 10; Cao nấm men - 5; NaCl -10; pH: 7,0), dùng que cấy
tam giác trang đều cho đến khi mặt thạch khô. Sau 15 phút đục giếng trên
môi trường thạch với đường kính 6 mm, đục 2 giếng, mỗi giếng cách nhau
2 – 3 cm. Mỗi giếng thạch nhỏ 100μl dịch cao chiết cần nghiên cứu bằng
micropipet, sử dụng đối chứng dương là kháng sinh Kanamycin và
Akamicin với nồng độ 5mg/ml để so sánh, để các đĩa thạch trong tủ lạnh 30
phút để dịch cao chiết khuếch tán ra môi trường nuôi cấy vi khuẩn, sau đó
nuôi cấy trong tủ ấm 370C, sau 24h mang ra đo kích thước vòng kháng
khuẩn. Hoạt tính kháng khuẩn được xác định bằng cách đo kích thước vùng
kháng khuẩn (BK) bằng công thức: BK = D - d, trong đó D là đường kính
vòng kháng khuẩn, d là đường kính giếng thạch.
26
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng
các dân tộc thiểu số ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tinth Thái Nguyên
4.1.1. Đa dạng bậc trong bậc taxon
4.1.1.1. Đa dạng về bậc ngành
Kết quả nghiên cứu cây thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm của
đồng bào dân tộc Dao và Sán Dìu tại khu vực nghiên cứu đã ghi nhận được
113 loài thực vật thuộc 2 ngành đó là: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) và
Ngành Thông (Pinophyta) được dân tộc Dao và Sán Dìu sử dụng làm thuốc,
thuộc 106 chi và 65 họ. Các loài cây này đều là những cây mọc phổ biến
quanh làng bản, ở đồi và ở rừng, cũng là những loài mà người dân thường
gặp, nên họ đã lựa chọn để làm thuốc nhiều hơn các loài thực vật khác
Kết quả được tổng hợp tại Bảng 4.1 như sau:
Bảng 4.1. Đa dạng của ngành thực vật tại khu vực nghiên cứu
Số họ
Số chi
Số loài
TT
Tỷ
Tỷ
Tỷ
Ngành thực vật
SL
SL
SL
lệ%
lệ%
lệ%
1 Ngành thông
Pinophyta
1
1,54
1
0,94
1
0,88
2 Ngành Ngọc lan Magnoliophyta 64 98,46 105 99,06 112 99,12
Tổng
65
100
106
100
113
100
Qua dữ liệu cho chúng ta thấy, các loài cây thuốc được sử dụng theo
kinh nghiệm của cộng đồng dân tộc Dao và Sán Dìu ở xã Quân Chu tập trung
chủ yếu ở ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) đây là ngành đa dạng nhất với
112 loài (chiếm 99,12%); 105 chi (chiếm 99,06%); 64 họ (chiếm 98,46%).
Thấp nhất là ngành Thông (Pinophyta) chỉ 1 loài (chiếm 0,88%); 1 chi
(chiếm 0,94%); 1 họ (chiếm 1,54%).
27
Sự phân bố không đồng đều nhau của các taxon không chỉ được thể
hiện giữa các ngành mà còn thể hiện qua sự chiếm ưu thế của các lớp trong
ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) như sau:
Bảng 4.2. Số lượng họ, chi, loài thuộc hai lớp trong ngành Ngọc lan
Lớp
Họ
Chi
Loài
Lớp Ngọc lan - Magnoliopsida
49 76,56
85
80,95
92
82,14
Lớp Hành - Liliopsida
15 23,44
20
19,05
20
17,86
Ngành Ngọc lan - Magnoliophyta
64
100
105
100
112
100
Tỉ lệ lớp Ngọc lan/lớp Hành
3,27
4,25
4,60
Kết quả cho thấy, lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) chiếm ưu thế với 49
họ , chiếm 76,56% số họ trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta); số chi là 85
chiếm 80,95%; và số loài là 92 loài chiếm 82,14%. Một số loài thuộc lớp
Ngọc Lan có thể kể đến như: cây Long não (Cinnamomum camphora (L.)
Presl) (2 long não) sử dụng để tắm cảm; cây Gạo (Bombax malabarium DC)
(2 Mốc men) được cộng đồng dân tộc Sán Dìu tại sử dụng để chữa sỏi thận,
viêm thận, bổ thận; cây Gáo lá to (Nauclea officinalis Merr. Sec). Phamh
(1.Gáo, 2. Vong lén sung) được cộng đồng dân tộc Dao sử dụng chữa 1.Xơ
gan cổ chướng, ngoài ra cũng được cộng đồng dân tộc Sán Dìu sử dụng chữa
2.Gan nhiễm vỡ,....
Lớp hành (Liliopsida) chiếm tỉ trọng thấp hơn với 20 loài, 20 chi và
15 họ. Có thể kể đến một số loài thuộc lớp Hành là: cây Thiên niên kiện
(Aglaonema siamense Engl) (2. Bái ngặn kim) được sử dụng chữa đau xương;
cây Huyết giác (Dracaena cambodiana Pierre ex Gagnep) (2 huyết giác)
dùng để chữa lưu thông máu; cây Lược vàng (Callisia fragrans (Lindl.)
(1.Lược vàng) sử dụng chữa thoái hóa đĩa đệm,...
Tỉ lệ họ giữa lớp Ngọc lan với lớp Hành là 3,27 nghĩa là trung bình cứ
3 đến 4 họ thuộc lớp Ngọc lan thì sẽ có 1 họ thuộc lớp Hành; tương tự tỉ lệ
các bậc chi và bậc loài lần lượt là 4,25 và 4,60 có nghĩa là: trung bình cứ 4 chi
và 4 loài thuộc lớp Ngọc lan sẽ có 1 chi và 1 họ thuộc lớp Hành.
28
Bọ mò trắng - Clerodendrum chinense
Lưỡi cọp sọc - Sansevieria trifasciata
(Osbeck) Mabb
Hort. ex Prain
Lá khôi - (Ardisia silvestris Pitard)
Dẻ quạt - (Belamcanda chinensis (L.) DC)
Phân xanh - (Eupatorium odoratum L.) Lá khôi tía - (Ardisia nigropilosa Pitard)
Dưới đây là một số hình ảnh của một số cây thuốc tại khu vực nghiên cứu:
Hình 4.1. Hình ảnh một số cây thuốc khu vực nghiên cứu
4.1.1.2. Số lượng phân bố các loài cây trong từng họ
29
Số lượng họ cây thuốc thu được ở khu vực nghiên cứu bao gồm 65 họ.
Sự phân bố các họ trong các lớp như sau:
Bảng 4.3. Sự phân bố số lượng loài cây thuốc trong các họ
> 10
loài
3
4
6
7
8
9
Ngành thực vật
1 loài 2 loài
5 loài
và <
loài
loài
loài
loài
loài
loài
15
loài
0
0
0
0
Pinophyta (Ngành thông)
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
Pinopsida
1
0
0
0
0
0
Magnoliophyta (Ngành
0
0
0
1
41
14
3
4
3
1
Ngọc lan)
0
0
0
0
Liliopsida
10
5
0
0
0
0
0
0
0
1
Maguoliopsida
31
9
3
1
3
1
0
0
0
1
Tổng số họ
42
14
3
1
3
1
0
0
0
Tỷ lệ số họ/tổng số họ % 64,62 21,54 4,62 1,54 4,62 1,54
1,54
0
0
0
9
Số loài
42
28
9
4
15
6
Tỷ lệ số loài/ tổng sô
0
37,17 24,78 7,96 3,54 13,27 5,31
0
0
7,96
loài%
Kết quả ở bảng 4.3 cho ta thấy:
Có 42 họ có 1 loài chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm 64,62 % tổng số họ và
37,17% tổng số loài), trong đó có 1 họ thuộc lớp Pinopsida, 10 họ trong lớp
một lá mầm và 31 họ thuộc lớp 2 lá mầm.
Có 14 họ có 2 loài (chiếm 21,54% tổng số họ và 24,78% tổng số loài),
trong đó có 5 họ lớp 1 lá mầm họ Thài lài (Commelinaceae), họ Hòa thỏa
(Poaceae), họ Náng, Thủy tiên (Amaryllidaceae), họ Ráy (Araceae) và 9 họ
lớp 2 lá mầm.
30
Có 3 họ có 3 loài chiếm 4,62% tổng số học và 7,69% tổng số loài),
trong đó 3 họ này thuộc lớp 2 lá mầm, họ Bạc hà (Lamiaceae), họ Ngũ gia bì
(Araliaceae), họ Cam (Rutaceae).
Có 1 họ có 4 loài (chiếm 1,54% tổng số họ và 3,54% tổng số loài),
trong đó 1 họ này thuộc lớp 2 lá mầm, họ Ô rô (Acanthaceae)
Có 3 họ có 5 loài (chiếm 4,62% tổng số họ và 13,27% tổng số loài),
trong đó 3 họ này thuộc lớp 2 lá mầm, họ Dâu tằm (Moraceae), họ Cà phê
(Rubiaceae), họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae).
Có 1 họ có 6 loài (chiếm 1,54% tổng số họ và 5,31% tổng số loài),
trong đó 1 họ này thuộc lớp 2 lá mầm, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Có 1 họ có 9 loài đó là họ Asteraceae (Bồ công anh), chiếm 1,54% tổng
số họ và 7,96% tổng số loài, trong đó 1 họ này thuộc lớp 2 lá mầm.
Điều đó đã cho ta thấy được rằng là sự phong phú đa dạng về các họ
thực vật làm thuốc tại khu vực nghiên cứu, nhưng số cá thể trong họ lại rất
hạn chế.
4.1.1.3. Các họ đa dạng nhất
Trong quá trình điều tra về nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây, tôi đã
thu được những loài cây thuốc nằm trong những họ có nhiều loài tại khu vực
nghiên cứu . Số lượng thống kê và so sánh được thể hiện ở Bảng 4.4 như sau:
Bảng 4.4. Các họ đa dạng nhất ở KVNC
Tên họ
Số loài
Số chi
Stt
Tên Việt nam
Tên khoa học
Asteraceae
1 Bồ công anh 2 Thầu dầu (Đại kích ) Euphorbiaceae 3 Cỏ roi Ngựa 4 Dâu tằm 5 Cà phê 6 Ô rô
Verbenaceae Moraceae Rubiaceae Acanthaceae
6 họ đa dạng nhất (9,23%) Tổng số được phát hiện:
SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % 9 6 5 5 5 4 34 113
7,55 5,66 2,83 2,83 4,72 3,77 27,36
7,96 5,31 4,42 4,42 4,42 3,54 30,09
8 6 3 3 5 4 29 106
31
Trong 6 họ giàu nhất giàu loài được xác định ở Xã Quân Chu thì phần
lớn được gặp ở các họ giàu loài của hệ thực vật Việt Nam. Các họ cây thuốc
giàu loài tại khu vực nghiên cứu có 3 họ nằm trong 10 họ đa dạng nhất của hệ
thực vật Việt Nam là: họ Bồ công anh (Asteraceae), họ Thầu dầu (Đại kích)
(Euphorbiaceae), họ Dâu tằm (Moraceae); 3 họ còn lại không nằm trong 10
họ lớn nhất ở Việt nam đó là họ Cỏ roi ngựa, Cà phê và Ô rô. Điều này chứng
minh rằng nguồn cây thuốc ở xã Trọng Con tuy phong phú nhưng vẫn có nét
khác biệt so với tính đa dạng chung của hệ thực vật Việt Nam.
Kết quả so sánh các họ giàu loài của nguồn cây thuốc tại xã Quân Chu
với họ giàu loài của hệ thực vật Việt Nam (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005) được
ghi nhận tại Bảng 4.5 như sau:
Bảng 4.5. So sánh các họ giàu loài ở KVNC (1) với họ giàu loài của hệ
thực vật Việt Nam (2)
TT Họ có nhiều loài (1) (2) Tỷ lệ giữa (1) và (2)
1 Bồ công anh - Asteraceae 9 380 2,37
2 Thầu dầu - Euphorbiaceae 6 477 1,26
6 Cỏ roi ngựa - Verbenaceae 5 162 3,09
4 Dâu tằm - Moraceae 5 179 2,79
5 Cà phê - Rubiaceae 5 492 1,02
6 Ô rô - Acanthaceae 4 227 1,76
Kết quả ở bảng 4.5 cho thấy các cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao
và Sán Dìu ở xã Quan Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Sử dụng chiếm
tỷ lệ tương đối cao so với hệ thực vật Việt Nam. Có những họ nhiều loài như:
Asteraceae (9 loài) chiếm 2,37%, Euphorbiaceae (6 loài) chiếm 1.26%,
Verbenaceae (5 loài) chiếm 3,09%, Moraceae (5 loài) chiếm 2,79 %,
Rubiaceae (5 loài) chiếm 1,02%, Acanthaceae (4 loài) chiếm 1,76%.
32
4.1.2. Đa dạng về dạng cây của nguồn tài nguyên cây thuốc
Đánh giá về dạng sống của cây có thể định hướng được việc bảo vệ,
gây trồng, sử dụng và khai thác bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc. Các
loài cây được cộng đồng các dân tộc thiểu số xã Trọng con sử dụng làm thuốc
có dạng cây rất đa dạng và phong phú (Bảng 4.6)
Bảng 4.6. Đa dạng về dạng sống tại khu vực nghiên cứu
Số lượng
Tỷ lệ %
Dạng sống
Stt
44
38,94
Cây bụi
1
36
31,86
Thân thảo
2
20
17,70
Gỗ nhỏ
3
9
7,96
Dây leo
4
4
4,54
5
Gỗ trung bình Từ kết quả ở Bảng 4.6 cho ta thấy:
Phần lớn cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao và Sán Dìu sử dụng
làm thuộc là dạng cây bụi với 44/113 loài (chiếm 38,94% so với tổng các cây
thuốc thu được). Các dạng cây thuộc nhóm này tập chung chủ yếu như một số
họ Ô rô (Acanthaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Gối hạc (Leeaceae),
họ Hoàng liên gai (Berberidaceae), họ Đơn nem (Myrsinaceae),.. có những
loài chữa bệnh đặc trưng như cây Đại bi (Blumea balsamifera (L.) DC.) (1.
Đại bi) được cộng đồng dân tộc Dao chữa bệnh mề đay, đau xương khớp; cây
Bìm bịp (Clinacanthus nutans (Brm. f.) Lindau) (1.Bìm bịp) sử dụng chữa
đau dạ dày; cây Khổ sâm (Croton tonkinensis Gagnep) (1.Khổ sâm) có tác
dụng chữa tiêu hóa, kiết lị; cây Hương nhu trắng (Ocimum gratissimum L.)
(1. Hương nhu) có tác dụng chữa lá tắm cảm, tiêu chảy,....
Thân thảo đứng thứ 2 với 36/113 loài cây được sử dụng làm thuốc
(chiếm 31,86%). Dạng cây này chủ yếu thu trong các họ Hòa thảo (Poaceae),
họ Gừng (Zingiberaceae). Những cây chữa bệnh đặc trưng như: Cỏ mần trầu
33
(Eleusine indica (L.) Gaertn) (1.Nhả lẹn vài) sử dụng chữa chữa tiêu viêm,
cầm máu; cây Địa liền (Kaempferia galanga L.) (1.Địa liền) chữa đau nhức
xương khớp, phong tê thấp; cây Bồ công anh (Lactuca indica L.) (1.Bồ công
anh) có tác dụng chữa ung thu vú; cây Chó đẻ hoa vàng (Sigesbeckia
orientalis L.) (1.Chó đẻ hoa vàng) có tác dụng chữa viêm khớp; cây Cam thảo
(Scoparia dulcis L.) (2.Cam thảo đất) có tác dụng chữa sỏi thận, lợi tiểu,..
Tiếp đến là gỗ nhỏ với 20/113 loài được sử dụng làm thuốc (chiếm
17,70%) dạng cây chủ yếu thu trong các họ: Dâu tằm (Moraceae), họ Cà phê
(Rubiaceae), họ Thông tre (Podocarpaceae),... Những cây chữa bệnh đặc
trưng như: Kim giao (Nageia fleuryi (Hickel) de Laub) (1.Miềm diềm chay)
chữa giải độc gan; Vỏ dụt (Hymenodictyon orixense (Roxb.) Mabb) (1.Vỏ
dụt) chữa ho; Ngõa (Ficus auriculata Lour) (1.Ngõa) lợi sữa bà bầu; cây Núc
nác (Oroxylum indicum (L.) Kurz) (1.Núc nác) có tác dụng chữa đau dạ dày,
đau nhức xương khớp; cây Ngũ gia bì chân chim (Schefflera heptaphylla (L.)
Frodin) (1.Dáng) có tác dụng chữa đau nhức xương khớp, thấp khớp,...
Tiếp đến là dây leo 9/113 loài (chiếm 7,96%), dạng cây chủ yếu thu
được trong các họ: họ Mã tiền (Loganiaceae), họ Thiên lý (Asclepiadaceae),
họ Kim ngân (Caprifoliaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Tiết dê
(Menispermaceae),... Những cây chữa bệnh đặc trưng như: cây Dây thìa canh
(Gymnema sylvestre (Retz.) R. Br. ex Schult) (1.Dây thìa canh) chữa đau
bụng, đi ngoài; cây Dây gió (Strychnos ignatii Berg) (1.Dây gió) chữa thần
kinh tọa; cây Kim ngân (Lonicera macrantha (D. Don) Spreng) (1.Kim ngân)
có tác dụng chữa viêm gan virut, giải độc gan; cây Đậu ván (Lablab
purpureus (L.) Sweet) (2.Đậu ván) có tác dụng chữa viêm dạ dày; cây Hoàng
đằng (Fibraurea tinctoria Lour) (1.Hoàng đằng) có tác dụng chữa đau nhức
xương khớp,...
34
Cuối cùng là gỗ trung bình (4/113, chiếm 3,54%) dạng cây chủ yếu
trong họ Cau (Arecaceae), họ Long não (Lauraceae),.. Những cây chữa bệnh
đặc trung như: Cây Móc (Caryota urens L.) chữa cao huyết áp; cây Long não
(Cinnamomum camphora (L.) Presl ) tắm cảm,..
Như vậy, việc sử dụng các cây bụi làm thuốc chữa bệnh của người
dân tộc Dao và Sán Dìu ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là
rất phong phú và đa dạng. Việc sử dụng cây thuốc này chủ yếu tập chung vào
những cây dễ thu hái như cây bụi, dây leo,cây thân thào, và cây gỗ nhỏ, với tỷ
lệ khác nhau trong tổng số cây thuốc thu được.
4.1.3. Đa dạng về môi trường sống của nguồn tài nguyên cây thuốc
Việc phân chia các loại nơi sống được căn cứ vào địa hình, đất đai, khí
hậu, nơi mà cây thuốc đó phát triển. Dưới đây là các dạng nơi sống của thực
vật làm thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm sử dụng của dân tộc Dao và
Sán Dìu tại huyện Đại Từ: (i) Làng xóm, làng bản, vườn; (ii) Đất trọc, đồi
cây bụi, trảng cỏ; (iii) Rừng (trồng, tái sinh, tự nhiên); (iv) Ven suối.
Bảng 4.7. Sự đa dạng về nơi sống của các loài cây thuốc ở KVNC
Môi trường sống Số loài Tỷ lệ % Stt
1 Sống ở làng xóm, làng bản, vườn 88 77,88
2 Sống ở rừng (trồng, tái sinh, tự nhiên) 50 44,25
3 Sống ở đồi, cây bụi, đồi trọc, trảng cỏ 26 23,01
4 Sống ven sông ven suối 2 1,77
Tổng 166 146,90
Chú thích: Tỷ lệ % trong bảng hơn 100% do một số loài có thể sống ở nhiều môi
trường khác nhau
Tổng số loài 113
Kết quả cho thấy, số lượng loài cây thuốc phân bố trên các sinh cảnh
là rất khác nhau cụ thể như:
Tỉ lệ cây thuốc có nơi sống ở quanh làng xóm, làng bản, vườn có số
lượng loài lớn nhất với 88 loài được sử dụng làm thuốc (chiếm 77,88% so với
35
tổng số loài phát hiện được), các loài cây thuộc nhóm này có thể kể đến các
loài như: cây Khế (Averrhoa carambola L.) (1.Dong thau chay mọc) chữa
dị ứng công trùng, cây Hải đường (Camellia amplexicaulis (Ptard) Cohen-
Stuart) (1.Hải đường) chữa dị ứng côn trùng và giảm nguy cơ mắc ung thư,
cây Dung đen (Acuminata (Miq.) Brand) (1.Tạp phai) chữa đau dạ dày, trào
dịch dạ dày, cây Bồ kết (Clerodendrum chinense (Osbeck) Mabb) (1.Bồ
kết) có tác dụng chữa trĩ ngoại,...
Đứng thứ hai là các loài cây thuốc sống ở rừng (trồng, tái sinh, tự
nhiên) với 50 loài cây (chiếm 44,25% so với tổng số loài phát hiện được), các
loài cây thuộc nhóm này có thể kể đến các loài như: cây Rau ngót rừng –
(Melientha suavis Pierre) (1.Dâu lùng độ) sử dụng chữa khối u lồi, mụn nhọ,
cây Bàn tay ma (Heliciopsis lobata (Merr.) Sleum) (1.Bàn tay ma) dùng chữa
tăng men gan, cây Bổ béo mềm (Gomphandra mollis Merr) (1.Bổ béo) chữa
viêm loét dạ dày, cây Tơ mành cánh to (Hiptage var. macroptera Merr) (1.
Tràng cấp, 2.Nối gân) cùng được cả cộng đồng dân tộc Dao và Sán Dìu sử
dụng chữa nối gân, đắp đứt gân,....
Đứng thứ ba là loài cây sống ở đồi với 26 loài cây (chiếm 23,01% so
với tổng số loài phát hiện được), các loài cây nhóm này có thể kẻ đến các loài
cây như: cây Đơn mặt trời (Excoecaria cochinchinensis Lour) (1.Đơn mặt
trời, 2.Hồng tào nùn sùn) được cộng đồng dân tộc Dao chữa mề đay, xơ gan,
sỏi thận bên cạnh đó cộng đồng dân tộc Sán Dìu sử dụng chữa ngứa, dị ứng
côn trùng, cây Chân chim hoa trắng (Vitex tripinnata (Lour.) Merr) (1. chẹc
nhạy cec) chữa hậu sản( băng huyết), cây Đinh lăng (Polyscias fruticosa (L.)
Harms) (1.đinh lăng) chữa thông huyết, cây Bán tự mốc (Hemigraphis
glaucescens C. B. Clarke) (2.Bán tự mốc) có tác dụng chữa táo bón,..
Đứng cuối cùng là loài cây sống ven sông ven suối với 2 loài (chiếm
1,77% so với tổng số loài phát hiện được) đó là những cây Thạch xương bồ
36
(Acorus gramineus Soland) (1.Sình pầu) chữa hậu sản (Sản dịch), đau xương
và cây Sung đất (Ficus var. badiostrigosa Corn) (1.Sùi liềm lậu) được cộng
đồng dân tộc Dao sử dụng để chữa tắm gái đẻ, hậu sản
Qua đó cho thấy sự đa dạng và phong phú trong vấn đề sử dụng thuốc
của người dân tộc Dao và Sán Dìu, các cây thuốc được sử dụng có khu vực
phân bố rộng rãi thể hiện tính thích nghi cao và rộng rãi.
4.2. Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam đã ghi nhận
được tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xác định được các loài cây thuốc
thuộc diện nguy cấp và sắp nguy cấp tại bảng kết quả sau:
Bảng 4.8. Danh lục cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ghi nhận ở khu vực
nghiên cứu
Cấp quy định
Stt
Tên phổ thông – Tên khoa học
SĐVN
06/ NĐ-
DLĐCT
2007
CP
2006
IIA
1 Hoàng đằng - Fibraurea tinctoria Lour
VU
2 Lá khôi - Ardisia silvestris Pitard
VU
3 Kim giao - Nageia fleuryi (Hickel) de Laub
EN
4 Hoàng liên gai - Berberi julianae Schneid
EN
IA
Chú thích: SĐVN: Sách đỏ Việt Nam; EN – Nguy cấp – Endangered; 06/NĐ – CP: Nghị định 06 của chính phủ; VU- Sắp nguy cấp – Vulnerable; DLĐCT: Danh lục đỏ cây thuốc, IA: Thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm; IIA: Hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại.
Tại khu vực nghiên cứu phát hiện 4 loài cây thuốc quý hiếm, đang bị
đe dọa tuyệt chủng ở Việt Nam, thuộc 4 chi, 4 họ. của ngành thực vật bậc cao
là ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) và ngành Thông (Pinophyta). Các loài
này đều có tên trong Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam, Nghị Định 06- NDCP
37
về quản lý thực vật, động vật quý hiếm, Sách Đỏ Việt Nam . Dựa vào bảng
trên đã thống kê được:
Cấp VU - Sắp nguy cấp trong sách đỏ Việt Nam và danh lục cây thuốc
có 2 loài:
+ Lá khôi (Ardisia silvestris Pitard) thuộc họ Đơn nem, có tác dụng
chữa đau dạ dày, viêm loét dạ dày.
+ Kim giao (Nageia fleuryi (Hickel) de Laub) thuộc họ Thông tre, có
tác dụng giải độc gan.
Cấp EN – Đang nguy cấp trong trong sách đỏ Việt Nam và danh lục cây thuốc
có 1 loài:
+ Hoàng liên gai (Berberi julianae Schneid) thuộc họ Hoàng liên gai,
có tác dụng chữa viêm họng, viêm xương khớp
Nghị Định 06- NDCP về quản lý thực vật, động vật quý hiếm, có 1 loài:
+ Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour) thuộc họ Tiết dê, có tác
dụng chữa đau nhức xương khớp.
Trong quá trình thực hiện đề tài ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên, chúng tôi nhận thấy có 4 loài cây thuốc thuộc diện đang bị đe
dọa tuyệt chủng ở Việt Nam. Chính vì vậy, cần phải nâng cao ý thức bảo vệ
của mọi người để bảo tồn nguồn gen quý hiếm, phục vụ cho công tác chữa
bệnh lâu dài của người dân nơi đây.
4.3. Vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân
tộc thiểu số ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
4.3.1. Kinh nghiệm sử dụng bộ phận làm thuốc của cộng đồng dân tộc
thiểu số ở xã Quân Chu
Để thấy rõ được tính đa dạng phong phú về việc sử dụng các bộ phận
khác nhau của cây để chữa bệnh của người dân tộc Dao và Sán Dìu ở khu vực
nghiên cứu, kết quả được tổng hợp tại bảng 4.8.
38
Bảng 4.9. Bộ phận sử dụng của cây thuốc theo kinh nghiệm sử dụng của
cộng đồng dân tộc Dao, Sán Chí tại xã Quân Chu
Dao Sán Dìu Stt Bộ phận sử dụng SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ %
1 Cả cây 37 42,05 23,81 10
2 Lá 34 38,64 50,00 21
3 Thân 16 18,18 23,81 10
4 Quả 13 14,77 7,14 3
5 Rễ 11 12,50 19,05 8
6 Vỏ 6 6,82 7,14 3
7 Hạt 4 4,55 4,76 2
8 Bẹ 1 1,14 0,00 0
9 Gai 1 1,14 0,00 0
10 Hoa 1 1,14 4,76 2
11 Củ 1 1,14 2,38 1
60 125 142,05 142,83 Tổng
Chú thích: Tỷ lệ % ở bảng lớn hơn 100 do một số loài có thể sử dụng nhiều bộ phận khác nhau làm thuốc
Qua dữ liệu về tần số sử dụng các bộ phận của cây để chữa bệnh cho
42 Tổng số loài phát hiện của mỗi dt 88
thấy có 11 bộ phận sử dụng được cộng đồng dân tộc thiểu số ở xã Quân Chu
sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho người dân. Trong đó có bộ phận cả cây, lá,
thân, quả được sử dụng nhiều hơn so với các bộ phận khác. Cụ thể:
Đối với sử dụng bộ phận cả cây: Cộng đồng dân tộc Dao biết sử dụng
38/88 loài cây (chiếm 42,05% tổng số loài dân tộc Dao phát hiện), cộng đồng
dân tộc Sán Dìu biết sử dụng 10/42 loài cây (chiếm 23,81% tổng số loài dân
tộc Sán Dìu phát hiện được). Một số loài có thể kể đến như; cây Tóc tiên
39
(Zephyranthes rosea Lindl) (1.Tóc tiên) được sử dụng chữa viêm phổi; cây
Cỏ xước (Achyranthes aspera L.) (1.Cỏ xước, 2.Mèo lá lọt) được cả hai dân
tộc chữa sỏi thận; cây Trinh nữ (Mimosa pudica L.) (1.Trinh nữ) được sử
dụng chữa thấp khớp; cây Cành giao (Euphorbia tirucalli L.) (1.Cành giao)
có tác dụng lợi sữa cho bà bầu, cây Dền gai (Amaranthus spinosus L.) (1.Dền
giai) được cộng đồng dân tộc Dao chữa sỏi thận,...
Đối với sử dụng bộ phận lá: Cộng đồng dân tộc Dao biết sử dụng
34/88 loài cây (chiếm 38,64% tổng số loài dân tộc Dao phát hiện), cộng đồng
dân tộc Sán Dìu biết sử dụng 20/42 loài cây (chiếm 50,00% tổng số loài dân
tộc Sán Dìu phát hiện được). Một số loài có thể kể đến như: cây Cối xay -
Abutilon indicum (L.) Sweet (1.Cối xay) được sử dụng chữa bệnh dải vàng,sỏi
thận; cây Bưởi bung (Acronychia pedunculata (L.) Miq) (1.Bưởi bung) có
công dụng chữa bệnh thần kinh, cây Lá khôi (Ardisia silvestris Pitard) (1.Đìa
doòng phản 2. Khôi) được cộng đồng dân tộc Dao sử dụng chữa bênh đau dạ
dày,bên cạnh đó cộng đồng dân tộc Sán Dìu sử dụng chữa viêm loét dạ dày;
cây Móc diều (Bougainvillea brasiliensis Rauesch) (1.Móc diều) có tác dụng
chữa bổ thận, chữa thận hư,...
Đối với sử dụng bộ thân: Cộng đồng dân tộc Dao biết sử dụng 16/88
loài cây (chiếm 18,18% tổng số loài dân tộc Dao phát hiện), cộng đồng dân
tộc Sán Dìu biết sử dụng 10/42 loài cây (chiếm 23,81% tổng số loài dân tộc
Sán Dìu phát hiện được). Một số loài có thể kể đến như: cây Xạ đen (Ehretia
asperula Zoll. & Mor) (1,2.Xạ đen) có tác dụng chữa bệnh 1.viêm loét dạ
dày, xơ gan, viêm gan 2. viêm gan, u bướu, chống ung thư vòm họng; cây Lá
han (Dendrocnide urentissima (Gagnep.) Chew) (1.Lá han) chữa động kinh;
cây Dây chìa vôi (Cissus repens Lamk) (1.Dây chìa vôi) có tác dụng thoát vị
đĩa đệm, đau nhức xương khớp; cây Hoàng liên gai (Berberi julianae
Schneid) (2.Dạ hen ngoi) có tác dụng chữa viêm họng, viêm xương khớp,.....
40
Đối với sử dụng bộ quả: Cộng đồng dân tộc Dao biết sử dụng 13/88
loài cây (chiếm 14,77% tổng số loài dân tộc Dao phát hiện), cộng đồng dân
tộc Sán Dìu biết sử dụng 3/42 loài cây (chiếm 7,14% tổng số loài dân tộc Sán
Dìu phát hiện được). Một số loài có thể kể đến như: cây Huyết dụ (Cordyline
fruticosa (L.) Goepp) (1.Quyền diêm, 2.Thẹt sư dẹt) được cộng đồng dân tộc
Dao sử dụng chữa tắm gái đẻ, bổ thận cầm máu, trĩ nội, trĩ ngoại , dân tộc Sán
Dìu sử dụng chữa hậu sản; cây Mạn kinh (Vitex trifolia L.) (2.mạn kinh) có
tác dụng chữa bênh cao huyết áp; cây Chuối hoang nhọn (Musa acuminata
Colla) (1.Sán chụi chay) có tác dụng lợi tiểu; cây Tu hú (Gmelina asiatica L.)
(1.Tu hú) có tác dụng chữa tiêu hóa kems,...
Nhìn chung kết quả nghiên cứu đã chứng minh được rằng: các bộ
phận của cây được sử dụng làm thuốc của cả 2 cộng đồng Dao và Sán Dìu ở
khu vực nghiên cứu rất đa dạng và phong phú, đặc biệt đối với kinh nghiệm
sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao. Mặt khác kết quả cũng cho
thấy việc sử dụng bộ phận cả cây hoặc thân hoặc rễ hoặc củ làm thuốc sẽ rất
bất lợi trong việc bảo tồn nguồn gen của cây thuốc, vì vậy chúng ta cần phát
triển và thực hiện các phương pháp trồng cây thuốc có bộ phận được sử dụng
là cả cây hoặc thân hoặc rễ, để bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây
dược liệu trong khu vực nghiên cứu nói riêng và ở Việt Nam nói chung.
4.3.2. Kinh nghiệm về nhóm bệnh chữa trị của cộng đồng dân tộc thiểu số
ở xã Quân Chu
Kết quả nghiên cứu việc sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc để chữa
bệnh của cộng đồng dân tộc Dao và Sán Dìu tại xã Quân Chu mang những nét
độc đáo và mang tính gia truyền. Kết quả được tổng hợp tại Bảng 4.10 và
Hình 4.1.
41
Bảng 4.10. Tỷ lệ số loài có công dụng chữa các nhóm bệnh cụ thể
Dao
Sán Dìu
Stt
Nhóm bệnh chữa trị
SL Tỷ lệ% SL Tỷ lệ%
1
18
20,45
9
21,43
2
8
9,09
6
14,25
3
11
12,50
4
9,52
4
5
5,68
5
11,90
5
8
9.09
3
7,14
6
19
21,59
5
11,90
Nhóm bệnh đường tiêu hóa (đau bụng, đi ngoài, đau dạ dày,....) Nhóm bệnh đường tiết niệu (sỏi thận, thận hư, lợi tiểu, viêm cầu thận,..) Nhóm bệnh phụ nữ, sinh sản, sinh dục, sinh lý (hậu sản (sản dịch, băng huyết, chân tay tê dại...) Nhóm bệnh ngoài da (ngứa, dị ứng công trùng, mề đay, đắp đứt gân, mụn nhọt.) Nhóm bệnh hệ thần kinh (thần kinh, thần kinh tọa, cao huyết áp,...) Nhóm bệnh xương khớp, hệ vận động (đau ngang thắt lưng, đau lưng, đau xương vai gáy,..)
0
0
7 Nhóm bệnh của trẻ em (cam sài trẻ con)
1
1,14
8
3
7,14
12
13,64
9
4
9,52
6
6,82
10
0
0
5
5,68
11
2
2,27
2
4,76
Nhóm bệnh về gan (làm mát gan, gan nhiễm mỡ, giải độc gan,..) Nhóm bệnh về đường hô hấp ho, hen phế quản, viêm phổi.) Nhóm bệnh về ngộ độc (giải độc gan, thanh nhiệt, giải độc.) Nhóm bệnh về ung bướu (u bướu, u xơ tuyến tiền liệt, giảm nguy cơ mắc ung thư, chống ung thư vòm họng )
12 Nhóm thuốc bổ (bổ thận, bổ máu.) 13 Nhóm bệnh cảm cúm (cảm cúm, tắm cảm.) 14 Cầm máu
2 1 2
2,27 2,27 2,27
4,76 2,38 4,76
Tổng số Tổng số loài phát hiện của mỗi dt
2 2 2 101 114,77 46 109,52 88
42
Chú thích: Tỷ lệ % ở bảng lớn hơn 100 do một số loài có thể sử dụng chữa nhiều nhóm bệnh khác nhau
42
4.76
Cầm máu
2.72
Nhóm bệnh cảm cúm
2.38 2.72
4.76
Nhóm thuốc bổ
2.72
4.76
Nhóm bệnh về ung bướu
2.72
0
Nhóm bệnh về ngộ độc
5.68
9.52
Nhóm bệnh về đường hô hấp
6.82
7.14
Nhóm bệnh về gan
13.64
Sán Dìu
ị r t a ữ h c h n ệ b m ó h N
0
Nhóm bệnh của trẻ em
Dao
1.14
11.9
Nhóm bệnh xương khớp, hệ vận động
21.59
7.14
Nhóm bệnh hệ thần kinh
9.09
11.9
Nhóm bệnh ngoài da
5.68
9.52
%
Nhóm bệnh phụ nữ, sinh sản, sinh dục
12.5
ệ l ỷ T
14.25
Nhóm bệnh đường tiết niệu
9.09
21.43
Nhóm bệnh đường tiêu hóa
20.45
0
5
10
15
20
25
Hình 4.2. Tỷ lệ nhóm bệnh chữa trị từ nguồn cây thuốc theo kinh
nghiệm sử dụng trong cộng đồng dân tộc
Dữ liệu cho thấy, 2 cộng đồng dân tộc Dao và Sán Dìu tại xã Quân Chu
có thể sử dụng cây thuốc để chữa trị 14 nhóm bệnh khác nhau theo kinh
nghiệm, trong đó người Dao biết sử dụng cây thuốc chữa trị được 14 nhóm
bệnh, còn người Sán Dìu biết sử dụng cây thuốc chữa trị được 12 nhóm bệnh.
Trong đó có những căn bệnh nan y như ung thư, gan, thận, tim,... Cụ thể:
Với cộng đồng dân tộc Dao: số lượng loài cây được sử dụng làm thuốc
theo kinh nghiệm người Dao tập trung phần lớn vào 3 nhóm bệnh là nhóm
bệnh nhóm bênh tiêu hóa với 18/88 loài cây (chiếm 20,45% so với tổng số
loài được dùng theo kinh nghiệm của dân tộc Dao), tiếp đó là nhóm bênh về
43
nhóm bệnh xương khớp, hệ vận động với 19/88 loài (chiếm 21,59%), đứng
thứ ba à nhóm bệnh về gan với 12/88 loài (chiếm 13,64%).
Tương tự với dân tộc Sán Dìu: số lượng loài cây được sử dụng làm theo
kinh nghiệm người Sán Dìu tập trung phần lớn vào nhóm bênh đường tiêu
hóa với 9/42 loài cây (chiếm 21,43% so với tổng số loài mà được dùng theo
kinh nghiệm của dân tộc Sán Dìu).
Nhìn chung, kinh nghiệm sử dụng nguồn tài nguyên cây cỏ làm thuốc
các dân tộc thiểu số Dao và Sán Dìu ở xã Quân Chu rất đa dạng và phong
phú. Trong đó, dân tộc Dao thể hiện tính nổi bật hơn về kinh nghiệm sử dụng
cây thuốc thông qua số lượng loài cây thuốc biết cách sử dụng và số lượng
nhóm bệnh chữa trị cho người dân.
4.3.3. Sự giao thoa giữa các dân tộc về vốn tri thức bản địa trong việc sử
dụng cây thuốc ở xã Quân Chu
Trải qua quá trình sinh sống lâu dài, cùng với lịch sử chinh phục thiên
nhiên và phòng chống bệnh tật, mỗi cộng đồng dân tộc đều thể hiện được
những sự sáng tạo riêng biệt của mình. Mỗi dân tộc đã tìm ra những phương
thức ứng xử khác nhau để vượt qua sự khắc nghiệt của thiên nhiên, trong đó
không thể không kể đến việc sử dụng nguồn tài nguyên cây cỏ có sẵn trong tự
nhiên để chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng. Việc khai thác nguồn tài nguyên
cây thuốc để đáp ứng như cầu chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng đã là một tập
quán lâu đời của cộng đồng dân tộc Dao và Quân Chu tại xã Quân Chu. Cùng
với đó, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc để chữa bệnh cũng được tích lũy từ
thế hệ này sang thế hệ khác. Trong quá trình điều tra cho thấy cả 2 dân tộc
Dao và Sán Dìu đều cùng sử dụng một số cây thuốc chữa bệnh tại bảng kết
quả dưới đây (Bảng 4.11).
44
Bảng 4.11. Danh sách cây thuốc được cả cả 3 dân tộc ở KVNC sử dụng
Tên dân tộc
Công dụng
Stt
Tên khoa học – Tên phổ thông
- Achyranthes
1,2.Sỏi thận
1
Cỏ xước aspera L.
tía
- Ardisia
2
Lá khôi nigropilosa Pitard
3
Đại bi - Blumea balsamifera (L.) DC
1.Cỏ xước 2. Mèo lá lọt 1.Đìa dàm phản 2.Vong lén thai đồng 1.Ìn bọt 2.Đại bi
- Cordyline
4
dụ Huyết fruticosa (L.) Goepp
1.Quyền diêm, 2.Thẹt sư dẹt
1,2.Mía dò
5
Mía dò - Costus speciosus (Koenig) Smith
1,2.Xạ đen
6
Xạ đen - Ehretia asperula Zoll. & Mor
tưới
- Eupatorium
7
1.Viêm đại tràng 2.Viêm loét dạ dày, đau dạ dày 1.Mề đay, đau xương khớp 2.Dị ứng, mẩn ngứa côn trùng 1.Tắm gái đẻ, bổ thận, cầm máu, trĩ nội, trĩ ngoại 2. Băng huyết 1,2. Lợi tiểu, sỏi thận, đái tháo đường, kích thích tiêu hóa 1.Viêm loét dạ dày, xơ gan, viêm gan 2.Viêm gan, u bướu, chống ung thư vòm họng 1.Đau bụng, 2.Hậu sản(băng huyết)
Mần triplinerve Vahl
8
1.Mề đay, xơ gan, sỏi thận 2.Ngứa, dị ứng côn trùng
Đơn mặt trời - Excoecaria cochinchinensis Lou
- Gardenia
9
1.Xơ gan vàng da, vàng mắt 2.Xơ gan
1,2.Thấp khớp, sỏi mật
10
11
1.Xơ gan cổ chướng, 2.Gan nhiễm vỡ
1.Mần tưới 2.Co sỏi đất. 1.Đơn mặt trời 2.Hồng tào nùn sùn 1.Lù lầng pầu, 2.Vong hen 1.Gối hạc tía 2.Thôi ải 1.Gáo 2.Vong lén sung.
ngọc
trắng
-
12
1,2.Hoàn ngọc trắng
1.Táo bón, đau bụng 2.Tiêu chảy, liết lị
Ricinus
-
1,2.Đâu đầu, trĩ ngoại
13
1.Pồng si 2.Thầu dầu
1,2.Bồ công anh
14
1.Ung thu vú, 2.Lợi sữa bà bầu 1,2.Đau xương
15
Dành dành augusta (L.) Merr Gối hạc tía - Leea rubra Blume ex Spreng Gáo - Nauclea officinalis Merr. sec. Phamh Hoàn Pseuderanthemum palatiferum (Nees) Radlk Thầu dầu communis L. Bồ công anh - Taraxacum officinale Wigg Dây đau xương - Tinospora sinensis (Lour.) Mer
1.Pà chặt man 2.Co rủi
Chú thích: Tên dân tộc: 1. Dao , 2. Sán Dìu
45
Qua Bảng 4.11 cho thấy, cả 2 dân tộc đều sử dụng chung 15 loài cây
thuộc 12 họ thực vật khác nhau, phần lớn những loài cây thuốc này mọc phổ
biến ở trong tự nhiên, sống ở trong rừng, quanh làng xóm, quanh làng bản,
đồi cây bụi, đồi trọc, trảng cỏ, ven suối. Trong đó có những loài được cả 2
dân tộc cùng sử dụng để chữa một nhóm bệnh như: cây Dây đau xương
(Tinospora sinensis (Lour.) Mer) (1.Pà chặt man, 2.Co rủi) cùng được cả hai
dân tộc dùng chữa bệnh đau xương, cây Thầu dầu (Ricinus communis L.)
(1.Pồng si,2.Thầu dầu) được cả hai dân tộc dùng để chữa đâu đầu, trĩ ngoại,
cây Gối hạc tía (Leea rubra Blume ex Spreng) (1.Gối hạc tía 2.Thôi ải) cùng
được cả hai dân tộc dùng để chữa thấp khớp, sỏi mật,..
Những kinh nghiệm sử dụng cây thuốc này chỉ được sử dụng qua
phương thức lưu truyền trong phạm vi từng cộng đồng, cùng với đặc trưng
truyền miệng từ đời này sang đời khác do đó có nguy cơ mai một cao, vì vậy
rất cần có những biện pháp thu thập nguồn tri thức quý giá này để phổ biến
cho cộng đồng, phục vụ công tác chữa bệnh.
Ngoài việc giao thoa trong cách gọi tên của các thầy lang bà mế giữa
các dân tộc Dao và Sán Dìu tại xã Quân Chu còn có sự giao thoa trong cách
sử dụng chữa bệnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có nhiều loài cây được cả 2
cộng đồng dân tộc sử dụng để chữa trị cùng một nhóm bệnh. Hiện nay trong
các loại bệnh tỉ lệ người mắc bệnh liên quan đến xương khớp đang ngày càng
tăng, bệnh thường gặp ở những người trung niên, người già hoặc người làm
việc văn phòng. Nguyên nhân của bệnh này là do tư thế ngồi chưa đúng, ngồi
kéo dài cùng với thói quen ít vận động khiến hệ thống xương khớp già cỗi,
thoái hóa, rồi bị tổn thương gây các cơn đau, nhức mỏi kéo dài từ ngày này
qua ngày khác. Mặc dù bệnh về xương khớp tỉ lệ tử vong thấp, nhưng lại ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh
(Bảng 4.12).
46
Bảng 4.12. Danh sách cây thuốc được các dân tộc cùng sử dụng chữa
nhóm bệnh về xương khớp
Tên khoa học –
Stt
Tên dân tộc
Công dụng
Tên phổ thông
Dây đau xương - Tinospora
1.Pà chặt man
1,2.Đau xương
1
sinensis (Lour.) Merr
2.Co rủi
Gối hạc tía - Leea rubra Blume ex
1.Gối hạc tía
1,2.Thấp khớp, sỏi
2
Spreng
2.Thôi ải
mật
Chú thích: Tên dân tộc: .1. Dao, 2. Sán Dìu
Qua Bảng 4.12 thống kê các loài cây thuốc được các dân tộc cùng sử
dụng để chữa trị nhóm bệnh về xương khớp cho thấy, số lượng các loài cây
thuốc có 2 loài là: Dây đau xương (Tinospora sinensis (Lour.) Merr) và Gối
hạc tía (Leea rubra Blume ex Spreng) Có thể do đời sống của các cộng đồng
dân tộc ở xã khu vực nghiên cứu gắn liền với núi rừng nhiều nên việc đi lại
gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là người dân phải thường xuyên vào rừng khai
thác tài nguyên (gỗ, lâm sản ngoài gỗ), do vậy thường xuyên gặp các bệnh
liên quan đến xương khớp. Xuất phát từ thực tế cuộc sống mà cộng đồng các
dân tộc nơi đây tích lũy và học hỏi được nhiều kinh nghiệm để chữa trị nhóm
bệnh về xương khớp.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra ở khu vực nghiên cứu, việc cùng sử
dụng chung cây cỏ để làm thuốc chữa các bệnh liên quan đến gan, thận, dạ
dày cũng được cộng đồng các dân tộc quan tâm đến, cụ thể kết quả được thể
hiện ở Bảng 4.13.
47
Bảng 4.13. Danh sách cây thuốc các dân tộc cùng sử dụng chữa nhóm
bệnh về gan, thận, dạ dày
Tên khoa học – Tên phổ
Tên dân tộc
Công dụng
Stt
thông
A Chữa bệnh gan
1.Gáo
Gáo - Nauclea officinalis
1.Xơ gan cổ chướng,
lén
2.Vong
1
Merr. sec. Phamh
2.Gan nhiễm vỡ
sung.
1.Viêm loét dạ dày, xơ gan,
Xạ đen - Ehretia asperula
viêm gan
1,2.Xạ đen
2
Zoll. & Mor
2.Viêm gan, u bướu, chống
ung thư vòm họng
Dành dành - Gardenia
1.Lù lầng pầu,
1.Xơ gan vàng da, vàng mắt
3
augusta (L.) Merr
2.Vong hen
2.Xơ gan
B Chữa bênh thận
Cỏ xước - Achyranthes
1.Cỏ xước
1,2.Sỏi thận
1
aspera L.
2.Mèo lá lọt
Mía dò - Costus speciosus
1,2.Lợi tiểu, sỏi thận, đái tháo
1,2.Mía dò
2
(Koenig) Smith
đường, kích thích tiêu hóa
Gối hạc tía - Leea rubra
1.Gối hạc
tía
1,2.Thấp khớp, sỏi mật
3
Blume ex Spreng
2.Thôi ải
C Chữa bệnh dạ dày
1.Đìa dàm phản
1.Viêm đại tràng
Lá khôi
tía
- Ardisia
2.Vong lén thai
2.Viêm loét dạ dày, đau dạ
1
nigropilosa Pitard
đồng
dày
Chú thích: Tên dân tộc: 1. Dao; 2. Sán Dìu
Dẫn liệu trên cho thấy, các nhóm bệnh về gan, thận, dạ dày mặc dù số
lượng không được nhiều nhưng các cộng đồng đã điểm chung trong việc sử
dụng một cây cỏ để chữa các bệnh về gan, thận, dạ dày. Trong đó, các loài
48
dùng chủ yếu để chữa các bệnh về thận, gan và có thể nhận thấy những loài
đó chủ yếu là những loài phổ biến trong tự nhiên như: cây Gáo (Nauclea
officinalis Merr. sec. Phamh), cây Xạ đen (Ehretia asperula Zoll. & Mor), cây
Dành dành (Gardenia augusta (L.) Merr). Cả ba loài này được cộng đồng dân
tộc Dao và Sán Dìu sử dụng để điều trị nhóm bệnh gan, đặc biệt đối với Xạ
đen còn được dân tộc Sán Dìu sử dụng chữa nhóm bệnh về u bướu.
Cây thuốc được cộng đồng dân tộc sử dụng để chữa nhóm bệnh thận là
cây: Cỏ xước (Achyranthes aspera L.), cây Mía dò (Costus speciosus
(Koenig) Smith), cây Gối hạc tía (Leea rubra Blume ex Spreng). Trong ba 3
loài cây thuốc chữa bênh liên quan đến thận có 1 loài được cả 2 dân tộc Dao
và Sán Dìu ở khu vực nghiên cứu đó là cây Mía dò, ngoài tác dụng chữa
nhóm bệnh về thận mà còn chữa cả nhóm bệnh về tiêu hóa.
Nhìn chung, từ kết quả và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc chữa bệnh
bằng của cộng đồng các dân tộc ở khu vực nghiên cứu rất phát triển, nhiều loài
đã được khoa học chứng minh, nhiều loài đã được sử dụng rộng rãi trong nhân
dân để chữa bệnh. Vì vậy kinh nghiệm sử dụng cây cỏ của các dân tộc cư trú
tại xã Quân Chu là đáng tin cậy và cần được nhân rộng trong cộng đồng.
4.3.4. Vấn đề truyền thụ kiến thức về cây thuốc trong cộng đồng các dân
tộc ở xã Quân Chu
Kết quả điều tra cho thấy, tại khu vực nghiên cứu hầu hết nữ giới có
kinh nghiệm sử dụng cây thuốc nhiều hơn nam giới bởi vì nam giới trong gia
đình tập trung sản xuất, làm kinh tế nên việc truyền thụ lại kinh nghiệm sử
dụng cây thuốc được chuyển giao cho nữ giới.
Bảng 4.14. Số lượng thầy thuốc được phỏng vấn theo từng dân tộc ở KVNC
Stt
Dân tộc
Số thầy thuốc phỏng vấn
Tỷ lệ %
1
Dao
9
81,8
2
Sán Dìu
2
12,8
Tổng số
11
49
Dữ liệu cho thấy, số lượng thầy thuốc chiếm đa số hơn là người dân tộc
Dao có 8 người được phỏng vấn có tỷ lệ 81.8% so với tổng thầy thuốc được
phỏng vấn. Tại xã Quân Chu những thầy thuốc chủ yếu là nữ giới trong đó có
8 nữ và 3 nam thuộc nhóm tuổi từ 50 - 75 tuổi, bởi vì nam giới ở trong xã tập
trung sản xuất, làm kinh tế nên nữ giới được ưu tiên chuyển giao kinh nghiệm
sử câu thuốc, việc nữ giới nhiều hơn nam giới thì ngược lại hoàn toàn so với
kết quả điều tra của Nông Bảo Liêm với 9 nam và 5 nữ, (Nông Bảo Liêm,
2020) [17]. Điều này chứng minh tầm quan trọng của phụ nữ trong việc
truyền thụ kiến thức sử dụng cây dược liệu.
Về độ tuổi, từ 50 - 75 đây là độ tuổi mà con người thường tích lũy được
nhiều kinh nghiệm sống, trong đó có việc thu lượm những kiến thức thực tế từ
những người xung quanh hoặc từ sự truyền đạt những bí quyết của những
người cao tuổi trong gia đình, dòng họ liên quan đến việc chữa trị các bệnh.
Điều này đã lý giải tỉ lệ thầy thuốc nằm trong độ tuổi 50 – 75 so với nhóm có
độ tuổi trẻ hơn là lớn hơn. Mặt khác những người ở độ tuổi từ 25 đến dưới 50
tuổi là nguồn lao động chính trong gia đình, do vậy họ thường chú tâm vào
các hoạt động sản xuất chính như làm nương rẫy, chăn nuôi, kinh doanh tạo
nguồn thu nhập để đảm bảo cuộc sống hàng ngày của gia đình. Những người
dưới 25 tuổi chưa tham gia vào việc sử dụng cây cỏ làm thuốc theo kinh
nghiệm theo ông cha đi trước bởi vì ở độ tuổi này chủ yếu là độ tuổi còn đang
đi học, tham gia các hoạt động xã hội, chưa tích lũy được nhiều kinh nghiệm,
vốn sống và những kiến thức bản địa của các bậc cao nhân truyền lại.
Như vậy, qua kết quả phỏng vấn 11 thầy thuốc ở xã Quân Chu, huyện
Đại Từ cho thấy hầu hết các kiến thức về cây thuốc của cộng đồng Dao và
Sán Dìu đều được truyền miệng qua các thế hệ. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ
ra rằng, việc chuyển giao kinh nghiệm chữa bệnh chỉ được truyền lại cho con
cháu trong gia đình hoặc thậm chí chỉ có những nam giới mới được truyền
50
đạt, đây cũng chính là một lý do dẫn đến sự gián đoạn mai một của nguồn tri
thức bản địa. Do đó việc giữ gìn các giá trị truyền thống về y học dược thảo
thì việc hệ thống hóa lại kiến thức thực vật và chuyển giao kiến thức đảm bảo
tính liên tục trong các cộng đồng dân tộc là thực sự cần thiết.
4.4. Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc được sử
dụng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu
Từ kết quả nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng
một số dân tộc ở khu vực nghiên cứu trong việc phòng và điều trị một số bệnh
nhiễm khuẩn, tôi tiến hành lựa chọn cây Xạ đen (Ehretia asperula Zoll. &
Mor) và cây Khoan cân đằng (Tinospora sinensis (Lour.) Merr) lấy mẫu tại xã
Quân Chu, huyện Đại Từ để tiến hành đánh giá hoạt tính kháng khuẩn
(HTKK) của cây. Kết quả thể hiện ở Bảng 4.15 và Hình 4.3:
Bảng 4.15. Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết từ cây Xạ đen và cây
Khoan cân đằng
Đơn vị tính: mm
Cao chiết
Khoan cân
Đối chứng
Đối chứng
Đối chứng
Xạ đen
đằng
dương – K1
dương – K2
âm (Dung
(XĐ)
(KCĐ)
(Amikacin)
(Kanamicin)
môi)
Vi khuẩn
S. aureus
24,1±0,4
20,4±0,4
20,2±0,3
23,9±0,2
0
E. coli
25,1±0,7
23,9±0,8
21,3±0,6
20,8±0,5
0
Qua dữ liệu trên cho thấy, 2 loài khảo sát (Xạ đen và Khoan cân đằng)
đều có hoạt tính ức chế đối với vi khuẩn gây bệnh. Cả 2 loài Xạ đen và Khoan
cân đằng đều có hoạt tính cao ức chế với cả 2 vi khuẩn gây bệnh Gram dương
(S. Aureus) và Gram âm (E. coli) với vòng ức chế đạt được với loài Xạ đen là
24,1 mm với vi khuẩn Gram dương (S. aureus) và 25,1 mm với vi khuẩn Gram
âm (E. Coli). Trương tự với cây Khoan cân đằng là 20,4 mm với vi khuẩn
Gram dương (S. aureus) và 23,9 mm với vi khuẩn Gram âm (E. Coli).
51
So sánh giữa kết quả phân tích mẫu 2 loài cho thấy, loài Xạ đen có
hoạt tính kháng khuẩn mạnh hơn loài Khoan cân đằng. Cả 2 loài này có hoạt
tính kháng khuẩn khá mạnh, tuy nhiên hoạt tính ức chế vi khuẩn gây bệnh
Gram dương của loài Khoan cân đằng vẫn yếu hơn so với kháng sinh
Kanamicin cùng so sánh, nhưng yếu hơn không đáng kể. So với đối chứng
âm (dung môi) thì cả 2 loài cây mẫu đều có tính kháng khuẩn, ngược lại đối
chứng âm (dung môi) không có tính kháng khuẩn đối với 2 vi khuẩn gây
bệnh Gram dương (S. Aureus) và Gram âm (E. coli).
Từ kết quả phân tích hoạt tính kháng khuẩn tôi đề xuất, có thể sử dụng
cây Xạ đen và Khoan cân đằng để phòng ngừa và kiểm soát một số bệnh
nhiễm khuẩn do S. aureus (Tụ cầu vàng) và E. coli gây ra.
Qua kết quả phân tích hoạt tính kháng khuẩn, cho thấy có thể sử dụng
cây Xạ đen và Khoan cân đằng để phòng ngừa và kiểm soát một số bệnh
nhiễm khuẩn do S. aureus (Tụ cầu vàng) và kiểm soát một số bệnh nhiễm
khuẩn do E. coli gây ra.
Kết quả này là một bằng chứng khoa học chứng minh kinh nghiệm
sử dụng các cây thuốc này trong việc phòng chống một số bệnh nhiễm
tỉnh Thái Nguyên.
khuẩn của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ,
Hình 4.3: Hoạt tính ức chế E. coli và S. aureus của cây Xạ đen và cây
Khoan cân đằng
52
Chú thích: TVC: Staphylococus aureus; E. coli: Escherichia coli; ĐC: Đối chứng âm
(Dung môi); K1: Đối chứng dương (Amikacin); K2: Đối chứng dương (Kanamicin);
XĐ: Xạ đen; KCĐ: Khoan cân đằng
53
PHẦN 5
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của
một số loài cây thuốc Dao và Sán Dìu ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên, tôi đã thu được những kết quả sau đây:
Đã thu được 113 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc ngành Ngọc lan
có 112 loài và thuộc 105 chi và 64 họ, thuộc ngành thông có 1 loài 1 chi và 1
họ có công dụng làm thuốc. Số thực vật làm thuộc trong 65 họ. Trong đó họ
nhiều loài nhất là họ Bồ công anh (Asteraceae) với 9 loài; họ Thầu Dầu (Đại
kích) (Euphorbiaceae) với 6 loài; họ Cỏ Roi Ngựa (Verbenaceae), họ Dâu tằm
(Moraceae) và họ Cà phê (Rubiaceae) với 5 loài; họ Ô rô (Acanthaceae) với 4
loài. Trong 106 chi thì có 2 chi có 2 loài và 2 chi có 3 loài được sử dụng làm
thuốc đó là chi Clerodendrum và chi Ficus.
Về dạng cây thuốc được người dân sử dụng nhiều nhất là dạng cây
thảo với 36 loài, thân bụi 44 loài, thân gỗ nhỏ 20 loài, thân dây leo 9 loài, thân
gỗ trung bình là 4 loài, cây gỗ lớn không ghi nhận loài nào.
Môi trường sống: nơi sống chủ yếu của cây thuốc chủ yếu ở vườn là
80 loài, ở rừng là 50 loài, ở đồi là 26 loài, ở ven suối là 2 loài.
Số lượng cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn có 4 loài, chiếm 3.54%
tổng số loài cây thuốc thu được, Trong đó có 2 loài có tên trong Nghị Định
06/2019/NĐ – CP; có 2 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam 2007 và có 2 loài
có tên trong danh lục cây thuốc đỏ Việt Nam 2007.
Đã xác định được có 10 bộ phận khác nhau được sử dụng theo kinh
nghiệm của các cộng đồng dân tộc Dao và Sán Dìu tại xã Quân Chu, trong đó
bộ phận cả cây, lá, than, quả là 4 bộ phận có tần số được sử dụng nhiều nhất
trong chữa trị bệnh cho người dân nơi đây
54
Đã thông kê được 14 nhóm bệnh khác nhau được chữa trị bằng kinh
nghiệm sử dụng cây thuốc trong cộng đồng dân tộc Dao và Sán Dìu tai khu
vực nghiên cứu Trong đó số lượng cây thuốc được sử dụng để chữa trị tập
trung phần lớp vào các nhóm bệnh là: bệnh đường tiêu hóa, bệnh xương khớp,
hệ vận động, bệnh về gan, bệnh phụ nữ, sinh sản, sinh dục.
Đã xác định được có 15 loài cây cùng được cả 2 dân tộc Dao và Sán
Dìu tại khu vực nghiên cứu sử dụng trong phòng và chữa trị bệnh. Xác định
được 2 loài cây được các dân tộc chữa bệnh xương khớp, 3 loài chữa bệnh
gan, 3 loài chữa bênh thận.
Quan kết quả phân tích hoạt tính kháng khuẩn, cho thấy có thể sử
dụng cây Xạ đen và Khoan cân đằng để phòng ngừa và kiểm soát một số
bệnh nhiễm khuẩn do S. aureus (Tụ cầu vàng); đồng thời cây Khoan cân
đằng có thể sử dụng để phòng ngừa và kiểm soát một số bệnh nhiễm khuẩn
do E. Coli gây.
5.2. Tồn tại
Những bài thuốc hứu ích quan trọng không phải ai cũng biết, mà chỉ
một số người biết, tuy nhiên đây là những bài thuốc gia truyền nên các ông
lang bà mế không muốn nhiều người biết, khi được phỏng vấn họ cung cấp
những bài thuốc nhưng trong những bài thuốc đã bớt đi một số loài cây thuốc,
điều đó sẽ gây rất kho khăn cho việc phát triển và bảo tồn những bà thuốc.
Chưa nghiên cứu sâu sắc về về đặc điểm sinh thái học, chữa xác định
được mức độ, vị trí phân bố cụ thể của các loài cây thuốc đã thống kê.
5.3. Kiến nghị
1. Cần tiếp tục mở rộng khu vực điều tra và nghiên cứu về tài nguyên
cây thuốc để có kế hoạch bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu cho tương lai.
2. Tiếp tục nghiên cứu và đánh giá tính hiệu quả của các loài cây
thuốc mà đồng bào dân tộc Dao và Sán Dìu ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ,
tỉnh Thái Nguyên sử dụng.
55
3. Cần thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức sâu rộng hơn để xác
định trữ lượng người dân khai thác và sử dụng các loài cây thuốc.
4. Xây dựng những vườn thuốc trong gia đình cho những gia đình lương
y hay những gia đình có những người biết sử dụng thuốc ở các thôn bản để bảo
vệ nguồn gen quý và hướng dẫn cách trồng hái, chế biến cho phù hợp.
5. Với những loài cây thuốc thuộc dạng quý hiếm cần hướng dẫn nhân
dân nhận biết và tiến hành bảo vệ rừng, hạn chế khai thác một cách cạn kiệt
các loài cây thuốc để bán sang Trung Quốc.
6. Cần các cấp, các ngành chính quyền địa phương quan tâm hơn nữa
trong việc ưu tiên bảo tồn, gây trồng và nhân rộng các loài cây thuốc có giá trị
cao trong y học cũng như trong kinh tế, và có những chính sách khuyến khích,
liên kết với những cơ quan bệnh viện, để nhằm phát triển và bảo tồn tài
nguyên cây thuốc của Việt Nam.
56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A.TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
1. Âu Anh Khâm (2001), 577 bài thuốc dân gian gia truyền (sách dịch), Nxb.
Thanh niên, Hà Nội.
2. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019), Nghị định
06/2019/CP – NĐ về nghiêm cấm, hạn chế khai thác và sử dụng các loài
động thực vật hoang dã.
3. Dương Văn Hưng (2018), Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc
tại xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Khóa luận tốt
nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
4. Đặng Quang Châu (2011), “Một số dẫn liệu về cây thuốc của dân tộc Thái
ở huyện Nghĩa Đàn – Nghệ An”, Tạp chí Sinh học, tập 23.
5. Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải (2003), Điều tra cây thuốc của đồng bào
dân tộc Thái, xã Xuân Hạnh, huyện Quỳ Châu – Nghệ An, Nxb. Khoa học
và Kỹ Thuật, Hà Nội.
6. Đỗ Tất Lợi (2005), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Hà Nội, Hà Nội.
7. Đỗ Sĩ Hiến và Đỗ Thị Xuyến (2011), Các loài thực vật được đồng bào dân tộc
Mường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò sử dụng làm thuốc trị
bệnh thận. Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4 (2011), Báo cáo Khoa học
về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.
8. Hoàng Thị Thanh (2019), Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại
xã y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại
Học Nông Lâm Thái Nguyên.
9. Hoàng Văn Đức (2018), Nghiên cứu tính đa dạng nguồn tài nguyên cây
thuốc được sử dụng trong cộng đồng dân tộc tày tại xã Phú Tiến, huyện
Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại Học Nông
Lâm Thái Nguyên.
57
10. Lê Thị Thanh Hương và Nguyễn Thị Thuận (2011), Những cây thuốc
được sử dụng thay thế mật gấu theo kinh nghiệm dân gian và đông y ở một
số địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4
(2011), Báo cáo Khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Nxb. Nông
nghiệp, Hà Nội.
11. Lê Thị Thanh Hương (2007), Điều tra và đánh giá tính đa dạng nguồn tài
nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc Tày ở một số xã của huyện Định
Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học
Quốc gia Hà Nội.
12. Lê Trần Đức (1997), Cây thuốc Việt Nam, trồng hái chế biến và trị bệnh
ban đầu, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.
13. Lưu Đàm Cư, Hà Tuấn Anh, Trương Anh Thư (2004), Các cây có ích của
dân tộc H’mông và khả năng ứng dụng trong phát triển kinh tế, Nxb. Khoa
học và Kỹ Thuật, Hà Nội
14. Lò Thị Quý (2018), Nghiên cứu tính đa dạng nguồn cây thuốc được sử
dụng trong một số dân tộc thiểu số tại xã Chiềng Đông, huyện Tuần Giáo,
tỉnh Lào Cai, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thái
Nguyên.
15. Lương Minh Ngọc (2018), Nghiên cứu tính đa dạng nguồn cây thuốc
được sử dụng trong đồng bào dân tộc Bru- Vân Kiểu ở xã Thượng Trạch,
huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại Học
Nông Lâm Thái Nguyên.
16. Lò Văn Nhan (2019), Khóa luận tốt nghiệp, Nghiên cứu tri thức bản địa
sử dụng cây thuốc tại xã Sàng Ma Sáo, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Khóa
luận tốt nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
58
17. Nông Bảo Liêm (2020), Khóa luận tốt nghiệp, Nghiên cứu tri thức bản địa
sử dụng cây thuốc tại xã Trọng con, huyện Thạch An, tỉnh Cao bằng, Khóa
luận tốt nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
18. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật, Nxb.
Nông nghiệp, Hà nội.
19. Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp nghiên cứu thực vật, Nxb.
Đại Học Quốc gia Hà Nội.
20. Nguyễn Nhân Thống (2008), Danh y tuổi tý, Hội Đông y Việt Nam – Tạp
chí Đông y – số 405/2008.
21. Nguyễn Tập (2007), Cẩm nang cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam, Nxb.
Mạng lưới lâm sản ngoài gỗ Việt Nam, Hà Nội.
22. Nguyễn Thượng Dong (chủ biên) và nhiều tác giả (2006), Nghiên cứu
thuốc từ thảo dược, Nxb. Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội.
23. Nguyễn Minh Hiếu (2019), Khóa luận tốt nghiệp, Nghiên cứu tri thức bản
địa sử dụng cây thuốc tại xã Nậm Pung, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai,
Khóa luận tốt nghiệp. Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
24. Nông Thái Hòa (2018), Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng
khuẩn của một số loài cây thuốc tại xã Hoàng Thông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
25. Phạm Hoàng Hộ (1999), Cây cỏ Việt Nam, Nxb. Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.
26. Phạm Hoàng Hộ (2006), Cây có vị thuốc ở Việt Nam, Nxb. Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.
27. Phạm Thiệp, Lê Văn Thuần, Bùi Xuân Chương (2000), Cây thuốc, bài
thuốc và biệt dược, Nxb. Y học, Hà Nội.
28. Tào Duy Cần (2001), Thuốc Nam, thuốc Bắc và các phương thang chữa
bệnh, Nxb Khoa học và Kỹ Thuật.
29. Tào Duy Cần (2006), Thuốc bệnh 24 chuyên khoa, Nxb. Y học, Hà Nội.
59
30. Viện Dược Liệu (1993), Tài Nguyên cây thuốc Việt Nam, Nxb. Khoa học
và Kỹ thuật, Hà Nội.
31. Võ Văn Chi (1996), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb. Y học, Hà Nội.
32. Võ Văn Chi (2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb. Hà Nội, tập 1 - 2.
33. Võ Thị Phượng và Ngô Trực Nhã (2011), Điều tra các loài cây thuốc và
giá trị sử dụng của chúng ở một số xã thuộc huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng
Tháp. Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4 (2011), Báo cáo Khoa học
về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.
34. Vàng Văn Trung (2019), Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc
của đồng bào dân tộc H’Mông tại xã Trung Lèng Hồ, huyện Bát Xát, tỉnh
Lào Cai, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
35. Vàng A Lả (2018), Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn
của một loài cây thuốc tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên,
Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
B. TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI
36. Balcha Abera (2014), “Medicinal plants used in traditional medicine by
Oromo people, Ghimbi District, Southwest Ethiopia”, Journal of
Ethnobiology and Ethnomedicine.
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4060869/
37. Berhane Kidane, Tinde van Andel, Laurentius van der Maesen, Zemede
Asfaw (2014), “Use and management of traditional medicinal plants by
Maale and Ari ethnic communities in southern Ethiopia”, Journal of
Ethnobiology and Ethnomedicine.
https://ethnobiomed.biomedcentral.com/articles/10.1186/1746-4269-10-46
38. Dol Luitel, Maan B Rokaya, Binu Timsina, Zuzana Münzbergová
(2014), “Medicinal plants used by the Tamang community in the
60
Makawanpur district of central Nepal”, Journal of Ethnobiology and
Ethnomedicine.
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3904474/
39. Eduardo Estrada-Castillón, Miriam Garza-López, José Villarreal-
Quintanilla, María Salinas-Rodríguez, Brianda Soto-Mata, Humberto
González-Rodríguez, Dino González-Uribe, Israel Cantú-Silva, Artemio
Carrillo-Parra, César CantúAyala (2014), “Ethnobotany in Rayones,
Nuevo León, México”, Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine,
10:62pp.
https://link.springer.com/article/10.1186/1746-4269-10-62
40. Homervergel G. Ong, Young-Dong Kim (2014), “The study of botany
quantification of the medicinal plants used by indigenous Ati Negrito
groups in the island of Guimaras, Philippines”, Journal of
Ethnopharmacology.
41. Joanne Packera, Nynke Brouwera, David Harringtona, Jitendra Gaikwada,
Ronald Heronb, Shoba Ranganathana, Subramanyam Vemulpada, Joanne
Jamiea (2012), “An ethnobotanical study of medicinal plants used by
indigenous communities Yaegl in northern New South Wales, Australia”,
Journal of Ethnopharmacology.
42. Mendrika Razafindraibe, Alyse R Kuhlman, Harison Rabarison, Vonjison
Rakotoarimanana, Charlotte Rajeriarison, Nivo Rakotoarivelo, Tabita
Randrianarivony, Fortunat Rakotoarivony, Reza Ludovic, Armand
Randrianasolo, Rainer W Bussmann (2013), “Medicinal plants used by
women from Agnalazaha coastal forests (Southeast Madagascar)”, Journal
of Ethnobiology and Ethnomedicine.
https://link.springer.com/article/10.1186/1746-4269-9-73
43. Mi-Jang Song, Hyun Kim, Byoung-Yoon Lee, Heldenbrand Brian, Chan-
Ho Park, Chang-Woo Hyun (2014), “Analysis of traditional knowledge of
61
medicinal plants from residents in Gayasan National Park (Korea)”,
Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine.
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4216341/
44. Seyid Ahmet Sargın, Ekrem Akcicek, Selami Selvi (2013), “An
ethnobotanical study of medicinal plants used by local people of Alaşehir
(Manisa) in Turkey”, Journal of Ethnopharmacology.
45. Soledad Molares, Ana Ladio (2014), “Medicinal plants in the cultural
landscape of a Mapuche-Tehuelche community in arid Argentine
Patagonia: an eco-sensorial approach”, Journal of Ethnobiology and
Ethnomedicine.
https://ethnobiomed.biomedcentral.com/articles/10.1186/1746-4269-10-61
46. Tahira Bibia, Mushtaq Ahmada, Rsool Bakhsh Tareenc, Niaz Mohammad
Tareenc, Rukhsana Jabeenb, Saeed-Ur Rehmanc, Shazia Sultanaa,
Muhammad Zafara, Ghulam Yaseena (2014), “Ethnobotany of medicinal
plants in Mastung district of Balochistan province, Pakistan”, Journal of
Ethnopharmacology.
https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/25260579/
PHỤ LỤC
0
PHỤ LỤC 1
1.Cây Xạ đen - Ehretia asperula Zoll. & Mor
2. Cây thầu dầu - Ricinus communis L.
3.Khoan cân đằng - Tinospora sinensis (Lour.)
4.Cây giao - Euphorbia tirucalli L.
Merr.
1
MỘT SỐ HÌNH ẢNH CHỤP ĐƯỢC TRONG QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA
5.Lá lốt - Piper sarmentosum Roxb
6.Huyết dụ - Cordyline fruticosa (L.) Goepp
7. Phỏng vấn bà Đặng Thị Hù tại Xóm Tân Yên
8. Phỏng vấn bà La Thị Loan tại Xóm Hòa
9. Cây thuốc được thầy lang mang trên rừng về
10. Cây thuốc được thầy lang mang đi phơi
2
11. Gói thuốc được thầy lang đóng gói trước khi đem đưa đến người dùng.
12. Xử lý mẫu cây thuốc .
13. Phơi mẫu cây thuốc.
3
14. Tọa độ vị trí của cây xạ đen lấy mẫu ở
15. Tọa độ vị trí của cây Dây đau xương ở
KVNC.
KVNC.
4
PHỤ LỤC 2
DANH SÁCH CÁC CÂY THUỐC ĐƯỢC ĐỒNG BÀO DÂN TỘC DAO VÀ SÁN DÌU Ở XÃ QUÂN CHU,
HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN SỬ DỤNG
Tên phổ thông
Tên địa phương
Dạng cây
BPSD
Cách SD
Công dụng
Họ thông tre
1.Miềm diềm chay Mi
1.Th,L
1.K
1.Giải độc gan
TT Tên khoa học A NGÀNH THÔNG - PINOPHYTA A1 Lớp Pinopsida Podocarpaceae 1 Nageia fleuryi (Hickel) de Laub Kim giao 1 B NGÀNH NGỌC LAN - MAGNOLIOPHYTA B1 Lớp một lá mầm - Liliopsida 2 Musaceae
2 Musa acuminata Colla
1.Sán chụi chay
Th
1.Q
1.K
1.Lợi tiểu
3
Họ chuối Chuối hoang nhọn Họ gừng
Zingiberaceae
3
Kaempferia galanga L.
Địa liền
1.Địa liền
Th
1.Cc
1.K
1.Sa nhân
Th
1.Cc
1.K
1.Đau nhức xương khớp, phong tê thấp 1.Kích thích tiêu hóa
4 4
Amomum aromaticum Roxb Iridaceae
Sa nhân Họ diên vĩ
5
Th
Belamcanda chinensis (L.) DC
Dẻ quạt
2.Dẻ quạt
2.L,Cu
2.T,K
2.Viêm họng, ho có đờm
1.Hẹ
Th
1.Cc
1.K
1.Sinh lý nam
1.Lược vàng
Th
1.Cc
1.K
1.Thoài hóa đĩa đệm
5 Alliaceae Allium odorum L. 6 6 Commelinaceae 7
Thài lài tía
8
1.Thài lài tía
Th
1.Cc
1.K
1.Cam sài trẻ con
Họ hành Hẹ Họ thài lài Callisia fragrans (Lindl.) Woods Lược vàng Tradescantia zebrina Hort. ex Loud
5
7 Asparagaceae
Họ măng
Lưỡi cọp sọc
2.Lện sư
2.L
2.T
2.Viêm họng
9
Th
Sansevieria trifasciata Hort. ex Prain Poaceae
8 10 Eleusine indica (L.) Gaertn
Họ hòa thảo Cỏ mần trầu
1.Nhả lẹn vài
Th
1.Cc
1.K
11
Sả chanh
1.Ham mao
Th
1.Cc
1.K
1.Tiêu viêm, cầm máu 1.Đau nhức xương khớp, mất ngủ
Cymbopogon citratus (DC. ex Nees) Stapf 9 Costaceae
Họ mía dò
Mía dò
1,2.Mía dò
Th
1,2.Cc
1,2.T
12
Costus speciosus (Koenig) Smith
1,2.Lợi tiểu, sỏi thận, đái tháo đường, kích thích tiêu hóa
1.Móc
Me
1.B
1.K
1.Cao huyết áp
Zephyranthes rosea Lindl
2.Náng 1.Tóc tiên
Th Th
2.Cc 1.Cc
2.T 1.K
2.U xơ tuyến tiền liệt 1.Viêm phổi
2.Nha đam
Th
2.L
2.T
2.Thần kinh
Họ ráy Thiên niên kiện
2.Bái ngặn kim 1.Rìa hầu đang
Th Th
2.Cc 1.Cc
2.K 1.K
2.Đau xương 1.Đau xương khớp
10 Arecaceae Họ cau 13 Caryota urens L. Móc 11 Amaryllidaceae Họ náng, thủy tiên 14 Crinum asiaticum L. Náng 15 Tóc tiên Họ lô hội 12 Asphodelaceae 16 Aloe var. chinensis (Haw.) Berg Nha đam 13 Araceae 17 Aglaonema siamense Engl 18 Alocasia odora (Roxb.) C. Koch Ráy dại 14 Acoraceae
Họ xương bồ
Th
19 Acorus gramineus Soland
Thạch xương bồ
1.Sình pầu
1.Cc
1.K
1.Hậu sản (sản dịch), đau xương
15 Dracaenaceae
Họ huyết giác
20
Huyết giác
2.Huyết giác
Na
2.R
2.K
2.Lưu thông máu
Dracaena cambodiana Pierre ex Gagnep 16 Bromeliaceae
Họ dứa
6
21 Ananas comosus (L.) Merr
Dứa
1.Dứa
Th
1.Cc
1.K
1.Làm mát gan, gan nhiễm mỡ
A2 Lớp hai lá mầm - Maguoliopsida 17 Proteaceae
Họ chẹo thui
Bàn tay ma
1.Bàn tay ma
1.Q,R
1.K
1.Tăng men gan
22
Mi
Họ ô rô
Heliciopsis lobata (Merr.) Sleum 18 Acanthaceae
Bìm bịp
1.Bìm bịp
1.Th,L
1.K
1.Đau dạ dày
23
Na
Thanh táo
2.Bọi chiêng sao
2.Th
2.K
2.Viêm thấp khớp
24
Clinacanthus nutans (Brm. f.) Lindau Justicia gendarussa Burm. f
Na
Hoàn ngọc trắng
1,2.Hoàn ngọc trắng Na
1,2.Th,L
1,2.K
25
1.Táo bón, đau bụng 2.Tiêu chảy, liết lị
Pseuderanthemum palatiferum (Nees) Radlk
Bán tự mốc
2.Bán tự mốc
2.L,Th
2.K
2.Táo bón
26
Na
Hemigraphis glaucescens C. B. Clarke Icacinaceae
1.Bổ béo
1.R
1.K
1.Viêm loét dạ dày
Na
19 27 Gomphandra mollis Merr 20 Asteraceae
Họ thụ đào Bổ béo mềm Họ bồ công anh
28
Lactuca indica L.
Bồ công anh
1,2.Bồ công anh
Th
1.Cc 2.L
1.K 2.T
1.Ung thu vú 2.Lợi sữa bà bầu
29 Sigesbeckia orientalis L. 30 Eclipta prostrata (L.) L. 31 Ageratum conyzoides L.
Chó đẻ hoa vàng Cỏ mực Cứt lợn
1.Cc 2.L 1.Cc
1.T,K 2.T 1.K
Th Th Th
32
Mần tưới
1,2.Cc
1,2.T,K
Th
tradescantia zebrina Hort. ex Loud
33 Artemisia vulgaris L.
1.Chó đẻ hoa vàng 2.Cỏ mực 1.Chúi sây vạ 1.Mần tưới 2.Co sỏi đất 2.Nhả ngải
2.Cc
2.T,K
1.Viêm khớp 2.Bổ thận 1.Mất ngủ 1.Đau bụng, 2.Hậu sản (băng huyết) 2.Cầm máu
Th
34 Eupatorium odoratum L.
2.Co phân xanh
2.L
2.T
2.Cầm máu
Na
Ngải cứu Phân xanh(bớp bớp)
7
35
Xương sông
1.Xương sông
Th
1.Cc
1.K
1.Giải độc gan
Blumea lanceolaria (Roxb.) Druce
36 Blumea balsamifera (L.) DC
Đại bi
1,2.Đại bi
Na
1,2.L,R,Q
1.T,k
1.Mề đay, Đau xương khớp 2.Dị ứng, mẩn ngứa côn trùng
21 Caesalpiniaceae
Họ vang
37
Bồ kết
1.Bồ kết
1.G,Q
1.K
1.Trĩ ngoại
Mi
Gleditsia australis Hemsl. ex Forbes & Hemsl
22 Verbenaceae 38 Clerodendrum bungei Steud
Họ cỏ roi ngựa Bọ mẩy
2.Bọ mẩy
2.L,R
2.K
2.Đau bụng
Na
Mò đỏ
39
2.Mò đỏ
2.R,Th
2.K
2.Mề đay
Na
40
Mò trắng
2.Thẹt khùng dẹt
2.R,Th
2.K
2.Mề đay
Na
2.Mạn kinh 1.Tu hú
2.Q,L 1.L,Q
2.K 1.K
2.Cao huyết áp 1.Tiêu hóa kém
Na Na
Mạn kinh Tu hú Họ thuốc bỏng
1.Bỏng
1.Cc
1.T,K
1.Chữa bỏng
Th
Clerodendrum japonicum (Thunb.) Sweet Clerodendrum chinense (Osbeck) Mabb 41 Vitex trifolia L. 42 Gmelina asiatica L. 23 Crassulaceae 43 Kalanchoe pinnata (Lamk.) Pers Bỏng 24 Plantaginaceae
Họ mã đề
44 Plantago major L.
Bông mã đề
1.Bông mã đề
1.Cc
1.K
Th
1.Viêm cầu thận, lợi tiểu, sỏi thận
25 Rutaceae
Họ cam
45
Bưởi bung
1.Bưởi bung
1.R,L
1.K
1.Thần kinh
Mi
Acronychia pedunculata (L.) Miq
46 Phellodendron amurense Rupr
Hoàng bá
2.Hoàng bá
2.V
2.K
Mi
2.Sỏi mật, tăng cường tiêu hóa
8
Hoàng lực
1.Nàng nhà
1.R
1.K
1.Viêm đại tràng
47
Na
Zanthoxylym nitidum (Roxb.) DC
26 Plumbaginaceae
48 Plumbago indica L. in Stickm
Na
1.Th,R
1.K
1.Giảm niệu viêm thận
1.Bươm bướm hường
27
Solanaceae
Họ đuôi công Bươm bướm hường Họ cà
49 Datura metel L.
Cà độc dược
1,2.Cà độc dược
Na
1,2.Hen phế quản
1.L 2.L,Ho
1.T,K 2.K
50
Solanum procumbens Lour
Cà gai leo
1.Cà gai leo
Na
1.Ha,L
1.T,K
1.Hạ men gan, giải độc gan
1.Cam thảo đất
1.Cc
1.K
1.Sỏi thận, lợi tiểu
Scrophulariaceae Scoparia dulcis L.
Th
28 51 29 Vitaceae
Họ hoa mõm chó Cam thảo đất Họ nho
52 Cissus repens Lamk
Dây chìa vôi
1.Dây chìa vôi
Na
1.Th,L
1.T,K
1.Thoát vị đĩa đệm, Đau nhức xương khớp
30 Amaranthaceae 53 Amaranthus spinosus L.
Họ rau dền Dền gai
Na
1. Cc
1. K
1.Sỏi thận
54 Achyranthes aspera L.
Cỏ xước
Th
1,2.Cc
1,2.K
1,2.Sỏi thận
Dền gai 1.Cỏ xước 2.Mèo lá lọt
31 Malvaceae
Họ bông
55 Abutilon indicum (L.) Sweet
Cối xay
1.Cối xay
Th
1.K
1.Dải vàng, sỏi thận
2.Dâm bụt
Na
1.L,Th,V, Q 2.R,H,L
2.K
2.Vô sinh
56 Hibiscus rosa-sinensis L. 32 Caprifoliaceae
Dâm bụt Họ kim ngân
57
Na
Cơm cháy
1.Miền nòng dao
1.L,V
1.K
1.Tắm gái đẻ
58
Sambucus javanica Reinw. ex Blume Lonicera macrantha (D. Don)
Lp
Kim ngân
1.Kim ngân
1.Cc,L,Th 1.K
1.Viêm gan virut, giải
9
Spreng
độc gan
33 Rubiaceae
Họ cà phê
59
Dạ cẩm
1,2.Dạ cẩm
1,2.Cc
1,2.K
Lp
Hedyotis capitellata Wall. ex G. Don
60 Gardenia augusta (L.) Merr
Dành dành
Na
1,2.Q
1,2.K
1.Lù lầng pầu 2.Vong hen
61
Gáo lá to
Me
1,2.V
1,2.K
Nauclea officinalis Merr. sec. Phamh
62 Paederia foetida L.
Lá mơ
1.Gáo 2.Vong lén sung 1.Ố puối thăng
Lp
1.Viêm phổi 2.Đau dạ dày 1.Xơ gan vàng da, vàng mắt 2.Xơ gan 1.Xơ gan cổ chướng, 2.gan nhiễm vỡ 1.Đi ngoài, cảm cúm
1.L
1.T,K
63
Vỏ dụt
1.Vỏ dụt
Mi
1.V,L
1.K
1.Chữa ho
2.Đại hoa đỏ
Mi
2.Lợi tiểu
2.L
2.K
1.Ngứa âm hộ
1.Đào
Mi
1.L
1.K
Hymenodictyon orixense (Roxb.) Mabb 34 Apocynaceae 64 Plumeria rubra L. 35 Rosaceae 65 Prunus persica (L.) Batsch 36 Moraceae
Họ trúc đào Đại hoa đỏ Họ hoa hồng (hường) Đào Họ dâu tằm
Mi
66 Morus alba L.
Dâu tằm
1.Dâu tằm
1.Q,L
1.T,K
1.Ho, viêm phổi, vôi hóa, chèn dây thần kinh
67
Mỏ quạ nam
1.Mỏ quạ nam
Na
1.Xơ gan
1.Cc
1.K
Maclura cochinchinensis (Lour.) Corn
68 Ficus auriculata Lour 69 Ficus microcarpa L. f
Ngõa Si
1.Ngõa 1.Si
Mi Mi
1.Q, L 1.R, L
1.K 1.K
70 Ficus var. badiostrigosa Corn
Sung đất
1.Sùi liềm lậu
Mi
1.Q
1.K
1.Lợi sữa bà bầu 1.Đau xương khớp 1.Tắm gái đẻ, Hậu sản (chân tay tê dại, sản dịch)
Họ tiết dê (phòng kỷ)
37 Menispermaceae 71
Tinospora sinensis (Lour.) Merr Dây đau xương
1.Pà chặt man
Lp
1,2.Cc
1,2.K
1,2.Đau xương
10
2. Co rủi
72 Fibraurea tinctoria Lour
Hoàng đằng
1.Hoàng đằng
1.Cc
1.K
Lp
1.Đau nhức xương khớp
Strychnos ignatii Berg
1.Dây gió
Lp
1.Thần kinh tọa
1.Th
1.K
1.Dây ruột gà
Na
1.Kích thích tiêu hóa
1.R
1.K
38 Loganiaceae 73 39 Ranunculaceae 74 Clematis chinensis Retz 40 Araliaceae
75
1.Dáng
Mi
1.R,Th
1.K
Schefflera heptaphylla (L.) Frodin
Họ mã tiền dây gió Họ mao lương dây ruột gà Họ ngũ gia bì Ngũ gia bì chân chim
76 Polyscias fruticosa (L.) Harms
1.Đinh lăng
Na
1.L,Th
1.K
77 Vitex tripinnata (Lour.) Merr
1.Chẹc nhạy cec
1.Th,L,V
1.T,K
Na
Đinh lăng Chân chim hoa trắng
1.Đau nhức xương khớp, thấp khớp 1.Thông huyết 1.Hậu sản(băng huyết), Thấp khớp
41 Euphorbiaceae
Họ thầu dầu (đại kích)
78
Đơn mặt trời
Na
1,2.Cc,L
1,2.K
Excoecaria cochinchinensis Lour
1.Đơn mặt trời 2.Hồng tào nùn sùn
79 Euphorbia tirucalli L.
Cành giao
1.Cành giao
Na
1.Mề đay, Xơ gan, sỏi thận 2.Ngứa, dị ứng côn trùng 1.Lợi sữa bà bầu
1.T,K
1.Cc
Mi
1.L
80 Bischofia javanica Blume
Nhội
1.Nhội
1.K
1.Viêm nhiễm phụ khoa
81 Ricinus communis L.
Thầu dầu
Na
1,2.L,Ha
1,2.K
1,2.Đâu đầu, trĩ ngoại
1.Pồng si 2.Thầu dầu
82
Vẩy ốc
2.Vẩy ốc
Th
2.L,Ha
2.T
Phyllanthus virgatus Forst. & Forst. f
1.khổ sâm
Na
1.L
1.K
2.Gan nhễm mỡ , đi ngoài 1.Tiêu hóa, kiết lị
83 Croton tonkinensis Gagnep 42 Caricaceae 84 Carica papaya L.
Khổ sâm Họ đu đủ Đu đủ
Mi
1.Sạn mọc quạ
1.L,Ha
1.K
1.Đau lưng
11
43
Symplocaceae
Họ dung
1.V,Q
1.K
85 Acuminata (Miq.) Brand
Dung đen
Mi
1.Đau dạ dày, Trào dịch dạ dày
1.Tạp phai nón, pà sài
44 Leeaceae
Họ gối hạc
1,2.R
1,2.K
1,2.Thấp khớp, sỏi mật
86
Leea rubra Blume ex Spreng
Gối hạc tía
Na
1.Gối hạc tía 2.Thôi ải
45 Theaceae
Họ chè
87
Hải đường
1.Hải đường
Mi
1.L,Ho
1.K
Camellia amplexicaulis (Ptard) Cohen-Stuart
1.Cao huyết áp, Giảm nguy cơ mắc ung thư
46 Lamiaceae
Họ bạc hà
88 Ocimum gratissimum L.
Hương nhu trắng
1.Hương nhu trắng
Na
1.Th,L
1.T,K
1.Lá tắm cảm, tiêu chảy
89
Leonurus japonicus Houtt
Ích mẫu
1.Ích mẫu
1.Cc
1.K
Th
1.Bổ máu, Hậu sản (sản dịch)
90
Tía tô rún
1.Hà sọc
1.Cc
1.T,K
1.Cảm cúm
Th
Perilla var. crispa (Thunb.) Deane ex Bailey
47 Oxalidaceae
Họ chua me đất
91 Averrhoa carambola L.
Khế
1.L
1.T
1.Dị ứng côn trùng
Mi
1.Dong thau chay mọc
48 Convolvulaceae
Họ khoai lang
92
Khoai lang
1.Sui dịp sái
1.Cc
1.T,K
1.Thanh nhiệt, giải độc
Lp
Ipomoea batatas (L.) Poir. in Lamk 49 Myrsinaceae
Họ đơn nem
93 Ardisia silvestris Pitard
Lá khôi
1,2.L,Th
1,2.T,K
Na
1.Đau dạ dày, viêm loét dạ dày
1.Đìa doòng phản 2.Khôi
94 Ardisia nigropilosa Pitard
Lá khôi tía
1,2.Th,L
1,2.K
Na
1.Đìa dàm phản 2.Vong lén thai đồng
1.Viêm đại tràng 2.Viêm loét dạ dày, đau dạ dày
12
50 Nyctaginaceae
Họ hoa phấn
95
Móc diều
1.Móc diều
1.Ha,L
1.K
1.Bổ thận, thận hư
Na
Bougainvillea brasiliensis Rauesch 51 Bignoniaceae
Họ chùm ớt
96 Oroxylum indicum (L.) Kurz
Núc nác
1.Núc nác
1.R,Q
1.K
Mi
1.Đau dạ dày, đau nhức xương khớp
2.Mắc ỏi
2.L
2.T
2.Tiêu chảy
Mi
52 Myrtaceae 97 Psidium guajava L. 53 Apiaceae
Họ sim Ổi Họ hoa tán (ngò)
98
Rau má
1.Lô cụt sau
1.Cc
1.T,K
1.Ho
Th
Centella asiatica (L.) Urb. in Mart
54 Asclepiadaceae
Họ thiên lý
99
Dây thìa canh
1.Dây thìa canh
Lp
1.Cc
1.K
1.Đau bụng, đi ngoài
Gymnema sylvestre (Retz.) R. Br. ex Schult 55 Celastraceae
Họ dây gối
100 Ehretia asperula Zoll. & Mor
Xạ đen
1.2.Xạ đen
Na
1.2Th,L,R 1,2.K
1.Viêm loét dạ dày, xơ gan, viêm gan 2.Viêm gan, u bướu, chống ung thư vòm họng
1.Trinh nữ
1.Cc
1.K
1.Thấp khớp, tê thấp
Na
Họ trinh nữ Trinh nữ Họ gai (cây ngứa) Gai
1.Gai
1.Cc
1.K
1.Động thai
Th
103
1.Lá han
Lá han
1.R,Th
1.K
1.Động kinh
Na
56 Mimosaceae 101 Mimosa pudica L. 57 Urticaceae 102 Boehmeria nivea (L.) Gaudich Dendrocnide urentissima (Gagnep.) Chew
58 Bombacaceae
Họ gạo
Gạo
104 Bombax malabarium DC
2.Mốc men sung
Me
2.V,Th
2.K
2.Bổ thận, sỏi thận, viêm thận
13
59 Berberidaceae
Họ hoàng liên gai
105 Berberi julianae Schneid
Hoàng liên gai
2.Dạ hen ngoi
Na
2.R,Th
2.K
1.Mật gấu
Na
1.L
1.K
2.viêm họng, viêm xương khớp 1.Gan nhiễm mỡ
106 Mahonia nepalensis DC 60 Asteliaceae
Mật gấu Họ huyết dụ
107 Cordyline fruticosa (L.) Goepp Huyết dụ
Na
1,2.Q,L
1,2.K
1.Quyền diêm 2.Thẹt sư dẹt
1.Tắm gái đẻ, Bổ thận Cầm máu, trĩ nội, trĩ ngoại 2. băng huyết
61 Piperaceae
Họ hồ tiêu (tiêu)
108 Piper sarmentosum Roxb
Lá lốt
1.Háu sài
Th
1.Cc
1.K
1.Đau nhức xương khớp
62 Lauraceae
Họ long não
109
Long não
2.Long não
Me
2.T,K
2.Tắm cảm
2.L
Cinnamomum camphora (L.) Presl 63 Olipiaceae 110 Melientha suavis Pierre
Họ sơn cam Rau ngót núi
1.L
1.Dâu lùng độ
Na
1.K
1.khối u lồi, mụn nhọt
64 Malpighiaceae
Họ măng rô (kim đồng)
111 Hiptage var. macroptera Merr
Tơ mành cánh to
Na
1,2.L
1,2.K
1.Tràng cấp, 2.Nối gân
1,2.Nối gân, đắp đứt gân
65 Fabaceae
Họ đậu
112 Tephrosia candida (Roxb.) DC
Cốt khí
Tầm kha
Na
1.R,Cu
1.K
Đậu ván
Đậu ván
Lp
2. Cc
2.T,K
1.Đau nhức xương khớp, phong tê thấp 2.Viêm dạ dày
113 Lablab purpureus (L.) Sweet
14

