LUẬN VĂN:
Kinh doanhm tăng phúc lợi chung cho
loài người thông qua hoạt động dịch vụ,
hoạt động sáng tạo và triết lý đạo đức
Văn hoá và kinh doanh trong nền kinh tế
A/Phần mở đầu
Trong xu thế phát triển hiện nay của đất nước ta, vấn đề văn hoá và kinh doanh
một vai trò quan trọng trong nền kinh tế.n hóa một phức hợp bao gồm nhiều vấn
đề chỉ với ý nghĩa là một lĩnh vực hoạt động của đơì sống tinh thần thì mới
vị trí tương đối dộc lập, còn với các ý nghĩa khác t vừa biểu hiện, vừa đan xen
vào các hoạt động khác của hội loài người. Nhưng trên thực tế, văn hoá mới chỉ
được quan tâm và bó hẹp trong phạm vi nghiên cứu của khoa học hội. Mục đích cơ
bản của văn hoá là nhằm nuôi dưỡng và nâng cao phẩm chất tính cách, cá tính của con
người luôn hướng tới cái thiện, lòng nhân ái cái đẹp. Văn hoá cũng nhằm m
cho con người phát triển một cách tự do toàn diện. Do đó, không phải văn hoá hoạt
động thông qua các phương tiện kinh tế trên thị trường. chỉ phương tiện truyền
tải được vật hoá là hình thức vật hoá của văn hoá. vậy, do một sngười còn
thiếu hiểu biết vẫn giữ quan niệm cho rằng: Văn hoá như một lĩnh vực đứng ngoài
kinh tế. Chkhi kinh tế phát triển tmới điều kiện mmang các hoạt văn hoá,
nâng cao đời sống tinh thần của con người. Với quan niệm đó, văn hoá được coi như là
một hoạt động có tính giải trí, khi kinh tế khó khăn thì ít người quan tâm đến văn hoá.
ràng trong điều kiện đó người ta không nhìn nhận thấy vai tcủa văn hnói
chung cũng như văn hoá đối với kinh tế và kinh doanh nói riêng.
Như vậy, nói tới kinh doanh là nói tới một lĩnh vực rất lớn, kinh doanh là nhằm mục
đích kiếm lời, thu lợi nhuận. Vì vậy, mục đích tối thiểu của kinh doanh không phải hay
không nên chỉ đơn giản là kiếm tiền. Nó cũng không đơn thuần là hệ thống sản xuất
bán các loại hàng hoá. Kinh doanh m tăng phúc lợi chung cho loài người thông qua
hoạt động dịch vụ, hoạt động sáng tạo và triết lý đạo đức.
B/ phn nội dung
Văn hoá có thể hiểu là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo
ra được con người mang theo thể hiện trong hành vi của con người, trong phương
thức sinh hoạt của con người một biểu tượng của trình độ văn minh nhất định.
Như vậy, văn hoá vật chất là toàn bộ những giá trị sáng tạo của con người được thể
hiện trong c của cải vật chất do hội tạo ra, kể từ các liệu sản xuất cho đến tư
liệu tiêu dùng của xã hội. Trong các giai đoạn phát triển kc nhau của hội thì c
sản phẩm do xã hội tạo ra cũng khác nhau, phản ánh các giai đoạn phát triển của văn
hoá. Văn hoá tinh thần toàn bộ những giá trị của đời sống tinh thần bao gồm khoa
học mức độ áp dụng các thành tựu của khoa học vào sản xuất sinh hoạt, chuẩn
mực đạo đức trong hành vi của các thành viên xã hội,...văn hoá còn bao gồm cả những
phong tục, tập quán, những phương thức giao tiếp và ngôn ngữ. Như vậy, ranh giới
giữa văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần chỉ có tính tương đối.
Nói đến kinh doanh, trước hết i đến việc đầu cho sản xuất, buôn bán, phân
phối hàng hoá và dịch vụ nhằm mục đích kiếm lời. Nếu không thu được lợi nhuận thì
từ đó vừa thực hiện tái đầu tư, vừa đảm bảo lợi ích thiết thực cho cả người quản và
người lao động tkinh doanh không thể tồn tại và phát triển. Trong nền kinh tế, văn
hoá kinh doanh cũng là một phần phát triển cho nền kinh tế. vậy, văn hoá và
kinh doanh được hiểu mối quan hệ tác động qua lại giữa hai lĩnh vc dường như
tách bạch nhau, có một nội dung hết sức phong phú và phức tạp. Chúng ta cần xem xét
những vấn đề về quan hệ giữa văn hoá và kinh doanh sau:
I/ Quan hệ giữa văn hoá và kinh tế
Quan hệ giữa văn hoá kinh tế thuộc hai hệ thống hội khác nhau. Những hoạt
động văn hoá của loài người tất yếu nảy sinh khi nền kinh tế xã hội nâng cao năng suất
lao động hội phân công lao động xã hội, mặc dù văn hoá kinh tế có những
mục đích riêng sự độc lập của mình. Như vậy, văn hphát triển theo xu hướng
tăng trưởng của kinh tế.
1/ Xu thế kết hợp tăng trưởng kinh tế với văn hoá
Xu thế kết hợp tăng trưởng kinh tế với văn a này đang sẽ diễn ra trong bối
cảnh hợp tác đấu tranh vì sphát triển. N vậy, để phát triển kinh tế chúng ta cần
đổi mới kinh tếnước ta hiện nay. Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, chúng ta đang phải đối mặt trước những th thách to lớn do những biến đổi
trong nước thế giới tạo nên. Chính những biến đổi này làm xuất hiện những u
thuẫn trên con đường phát triển của đất nước buộc chúng ta phải phương pháp giải
quyết tốt.
Từ đại hội thứ VI, Đảng ta đã tự phê phán nghiêm túc những sai lầm đã mắc phải và
đề ra đường lối đổi mới toàn diện. Đường lối đó đã từng bước đi vào cuộc sống thể
hiện sinh động trên tất cả các mặt của đời sống hội thu được những kết quả ban
đầu rất quan trọng. Thực hiện công cuộc đổi mới một qtrình vừa làm, vừa học,
vừa rút kinh nghiệm, bởi vì chưa bao giờ sẵn hình để căn cứ vào đó ch
động vạch ra một chính sách mới cụ thể, chi tiết trên từng lĩnh vực.
Tuy nhiên trong quá trình đổi mới của nước ta hiện nay, việc thi hành chính sách
nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường cũng nảy sinh những yêú tố tiêu
cực như tình trạng: cạnh trang không nh mạnh, tệ làm hàng giả, trốn thuế, buôn lậu,
tham nhũng hối lộ,...đang là những vấn đề nhức nhối cần phải giải quyết. Để thực hiện
được tốt những vấn đề vđổi mới kinh tế, chúng ta cần phải thực hiện những điểm
sau:
-Không ngừng đẩy mạnh, nâng cao vai trò hiệu lực quản của nhà nước
hội chủ nghĩa kiên quyết xử mọi hoạt động m ăn phi pháp vi phạm pháp luật xã
hội chủ nghĩa
-Đi liền với việc đẩy mạnh công tác quản lý vĩ mô, kiểm kê, kiểm soát của nhà nước
hội chủ nghĩa
-Đẩy mạnh công tác giáo dục tuyên truyền chnghĩa Mác-Lênin đối với cán btri
thức, sinh viên. Trong công tác y, đặc biệt chú trọng tới việc giáo dục rèn luyện
phương pháp tư duy biện chứng nâng cao năng lực, nhận thức và giải quyết u thuẫn
thông qua việc kết hợp biện chứng các mặt đối lập.
2/ Dân tộc ta phát triển theo xu thế kết hợp tăng tởng kinh tế với văn hoá nthế
nào.
Nền kinh tế của việt m nay cũng có một c đáng kso với thời kỳ trước đây,
khi còn thực thi nền kinh tế chỉ huy theo lối hành chính quan liêu, bao cấp. Do Việt
Nam đổi mới, phát huy những giá trị truyền thống Việt Nam trong bối cảnh toàn
cầu hoá. Việt Nam ng như tất cả các ớc khác trên thế giới, không thể đứng ngoài
xu thế hội nhập toàn cầu, sự phát triển của đất nước. n nữa, do Việt Nam phải
trải qua quá nhiều những cuộc đấu tranh ngoại xâm, nền kinh tế vẫn còn lạc hậu
kém phát triển. Chính vì vậy, toàn cầu hmột hội để Việt Nam thể t ngn
khoảng cách về tri thức, thu hẹp được khoảng cách giàu nghèo.
Tất cnhững gtrị truyền thống được hun đúc nên từ chính lịch sử đau thương
hào hùng của n tộc ta. Đó chính là những di sản truyền thống quí báu chúng ta
không thể đánh mất, bởi “mất nước nhiều khi còn dành lại được nhưng nếu đã mất đi
bản sắc văn hoá dân tộc sẽ mất hết mãi mãi . Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao chúng
ta vừa thể hội nhập để phát triển kinh tế, tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại đ
làm phong phú thêm nền văn hoá của n tộc mình, lại vừa không m mất đi bản sắc
dân tộc và những giá trị truyền thốngông cha ta để lại. Chính vì vậy, văn hoá đã là
một động lực quan trọng thúc đẩy sphát triển kinh tế của đất ớc trong quá trình
đổi mới.
Qua đó, ta thấy giưã văn hoá và kinh tế có sự gắn bó tác động biện chứng với nhau.
Kinh tế phải bảo đảm được nhu cầu sống tối thiểu của con người, sau đó mới đảm bảo
điều kiện cho n hoá phát triển nếu không nền tảng văn hoá, đồng thời văn hoá
không chỉ phản ánh kinh tế mà còn là nhân tố tác động đến phát triển kinh tế.
Văn hoá còn mang tính đặc thù của từng quốc gia, từng khu vực, được coi những
di sản quí báu tích luỹ được qua nhiều thế hệ , mang đậm bản sắc của quốc gia dân tộc
đó. Nhưng đồng với quá trình phát triển, kế thừa giữ gìn bản sắc riêng, còn tiếp
thu những tinh hoa văn hoá của quốc gia, dân tộc khác, làm cho văn hvừa đậm đà
bản sắc dân tộc, làm cho vai tcủa văn hoá trong hoạt động kinh tế càng được nâng