KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN
Kthuật hỗ trợ sinh sản (Assited Reproductive Technology, viết tắt là ART)) bao
gồm các kỹ thuật giúp tăng khả năng sinh sản của người. Theo định nghĩa, kỹ
thuật hỗ trợ sinh sản (ART) là những kỹ thuật trong đó có thực hiện đem tế bào
trứng nời ra khỏi thể. Đây là những kỹ thuật được phát triển bản dựa trên
kỹ thuật IVF (in-vitro fertilization) trên người.
Người ta ước tính hiện nay đã hàng triệu người trên thế giới được sinh ra từ
ART. Tại Châu Au, hiện nay có từ 1-5% trẻ sinh ra hàng năm là kết quả của ART.
một số nước Bắc Au, hàng m gần 2000 trường hợp ART trên 1 triệu dân.
ART hiện là một phân ngành quan trọng trong Sản Phụ khoa hiện đại và một bộ
phận không thể thiếu hầu hết các trung tâm Sản-Phkhoa trên thế giới.
Bình minh của IVF
Tnhững năm 1930, việc nghiên cu hiện tượng thụ tinh giữa trứng và tinh trùng
động vật bậc cao trong môi trường bên ngoài th (in-vitro) đã được chú ý.
Năm1959, Chang lần đầu tiên thành công trong việc cho thụ tinh giữa tinh trùng
trứng động vật (thỏ) trong điều kiện phòng thí nghiệm. Đây được xem là
thành tựu quan trọng nhất trong lịch sử phát triển của IVF. Nó chứng tỏ trứng và
tinh trùng của động vật thể thụ tinh được bên ngoài thể. Từ sau thí nghiệm
này IVF đã được nghiên cứu trên nhiều loài động vật khác nhau, kể cả người.
Nhiều thành tựu về IVF trên động vật nghiên cứu đã được công bố sau đó.
R.G. Edwards, người Anh, là một trong những nhà khoa học tiên phong trong việc
nghiên cứu về IVF trên người. Năm 1966, Edwards đến Mỹ và cùng với một nhóm
nhà khoa học Mỹ, đứng đầu là giáo sư Howard Jones, lần đầu tiên công bố trường
hợp lấy được trứng người qua phẫu thuật nội soi tại Mỹ. Tuy nhiên, nhóm nghiên
cứu này thất bại trong việc chứng minh trứng và tinh trùng người thể thụ tinh
được bên ngoài cơ thể. Mặc dù, nhóm nghiên cứu này đã c gắng trình bày một số
dấu hiệu chưa rõ ràng của hiện tượng thụ tinh giữa trứng tinh trùng người bên
ngoài cơ thể.
Trong thời gian này, nhiều nhóm nghiên cứu Anh, Mỹ, Úc đã tiến hành thực
hiện IVF người. Đến m 1971, Steptoe và Edwards Anh lần đầu tiên báo cáo
nuôi cấy được phôi nang (blastocyst) người trong ống nghiệm và chuyển các phôi
này vào buồng tcung phụ nữ. Tuy nhiên, trong thi gian này, các phác đồ chuẩn
bnội mạc tử cung chưa được nghiên cứu kỹ và các nhà khoa học đã phm phải
nhiều sai lầm trong việc sử dụng nội tiết tố để chuẩn bị nội mạc tử cung. Do đó,
mãi đến m 1976, trường hợp thai đầu tiên tIVF trên thế giới mới được ghi
nhận tại một bệnh viện nhỏ (Oldham) Anh do bác Steptoe và tiến Edwards
công bố. Nhưng thật đáng tiếc, đây lại là một trường hợp thai ngoài tử cung.
Đến m 1978, em đầu tiên tIVF, Louis Brown, ra đời đánh dấu bước đầu
cho sphát triển của IVF trên người. Em Louis Brown được sinh ra từ một bà
m sinh do tổn thương hai ống dẫn trứng đã được điều trị bằng phẫu thuật
nhưng không hiệu quả. Công trình được công bố tại Anh, tác giả là bác sĩ Steptoe
và tiến sĩ Edwards. Trong thực tế, Edwards Steptoe đã thất bại hàng trăm lần để
được thành công vang dội này. Sau mt vài thành công ban đầu, chương trình
IVF tại Oldham tạm gián đoạn cho đến m 1980, bác Steptoe và tiến sĩ
Edwards mới thể tiếp tục lại chương trình IVF tại Bệnh viện Bourn Hall (Anh),
chương trình này tiếp tục gặt hái thành công và bệnh viện Bourn Hall được xem là
cái nôi của IVF trên thế giới.
Trong giai đon đầu này, các nhà khoa học tiên phong như Edwards Steptoe đã
bchỉ trích và phn ứng kịch liệt không chỉ từ dư luận, tôn giáo mà còn tmột số
lớn các nhà khoa học đương thời. Trong một thời gian dài nhiều m, các nhà
khoa học kiệt xuất này đã âm thm làm việc, nghiên cứu đã phải trãi qua bao
nhiều gian truân, thất bại để đạt đến kết quả. Việc em đầu tiên ra đời từ IVF
thật slà một sự kiện chấn động trong dư luận và giới khoa học Anh cũng như
thế giới.
IVF được đón nhận và phát triển trên tòan thế giới
Năm 1980, em bé IVF thứ tư trên thế giới được sinh ra tại Úc. Trung tâm Monash
Úc được ghi nhận nơi thứ hai trên thế giới thực hiện thành công IVF. Trung
tâm y sau đó liên tục báo cáo các trường hợp sanh sau IVF. Do trung m IVF
đầu tiên Anh tạm ngưng hoạt động sau 3 trường hợp sanh đầu tiên, người ta ghi
nhận rằng 12 trong số 15 em bé IVF đầu tiên trên thế giới được ra đời từ trung m
Monash Úc. Cho đến nay, trung tâm IVF tại Monash Uc vẫn giữ vai trò mt
trung tâm đầu ngành vIVF trên thế giới.
Sau đó, trong những năm 80, kỹ thuật IVF đã được phát triển rất mạnh và lần lượt
được báo cáo thành công tại nhiều nước nhiều khu vực trên thế giới, kể cả
Châu Á. Năm 1981, em IVF đầu tiên Mỹ ra đời. Đây cũng trường hợp IVF
đầu tiên sdụng gonadotropin để kích thích buồng trứng. Các nước Châu Au
cũng đồng lọat triển khai IVF trong những m đầu thập niên 80. Singapore được
ghi nhận nơi thực hiện thành công IVF đầu tiên Châu Á vào năm 1983 bởi
nhóm nghiên cứu của S.C. Ng và cộng sự tại Bệnh viện Trường Đại học quốc gia
Singapore. Sau đó, IVF cũng được thực hiện thành công ti Nhật, Trung quốcThái
lan, Malaysia, Indonesia và Philippines suốt c năm trong thập niên 80.
S phát triển và hoàn thiện về kỹ thuật của IVF
những chu kỳ IVF đầu tiên được thực hiện, người ta chỉ chọc hút trứng qua nội
soi trên những buồng trứng phát triển tự nhiên, nên thường chỉ lấy được 1 trứng từ
một phụ nữ. Do đó tỉ lệ thành công thường rất thấp. Khi IVF bắt đầu phát triển
rộng rãi, việc sử dụng nội tiết tố để kích thích buồng trứng ngày càng phbiến.
Nhkỹ thuật kích thích buồng trứng, người ta thể lấy được trung bình khỏang
10 trứng một người phụ nữ để thực hiện IVF. Điều này giúp tăng sphôi
được người ta thể chọn lựa những phôi chất lượng tốt để chuyển vào
buồng tử cung, làm gia tăng đáng kể tỉ lệ thành công của IVF.
Tm 1983, siêu âm đầu dò âm đạo được giới thiệu và kthuật chọc hút trứng
qua ngâm đạo với với hướng dẫn của siêu âm đầu dò âm đạo được giới thiệu lần
đầu tiên thay thế hoàn toàn việc chọc hút trứng quan nội soi tốn kém, nguy
hiểm và kém hiệu quả. Thành tựu này m thay đổi đáng kbộ mặt của kỹ thuật
IVF. Kthuật này biến IVF trở thành một kỹ thuật đơn giản, ít m lấn và th
thực hiện ở những cơ sở điều trị nhỏ.
Cùng với việc phát triển mạnh mẽ của IVF, năm 1984, kỹ thuật chuyển giao tử vào
vòi trng (GIFT) được báo cáo thành công tại Mỹ do bác Asch khởi xướng.
Trong kthuật GIFT, trứng người tinh trùng được lấy ra ngòai cơ thể, xử lý,
sau đó, tinh trùng và trứng chỉ tiếp xúc nhau sau khi được m vào vòi trứng bằng
nội soi bụng. Kỹ thuật tương đối m lấn (invasive) do phi thực hiện qua nội
soi bụng và phải đòi hỏi phải ít nhất 1 ống dẫn trứng bình thường. Dù vậy,
GIFT đã ra đời và phát triển mạnh những m sau đó, chủ yếu Mỹ, nhờ 2 do:
(1) các phác đồ nuôi cấy phôi trong điều kiện nhân tạo chưa hoàn thiện, (2) một số
quan điểm tôn giáo không chấp nhận IVF. Một kỹ thuật khác tương tự là chuyn
hợp tử vào vòi trứng (ZIFT) cũng phát triển sau đó. Trong kỹ thuật này, hp tử
được hình thành trong môi trường bên ngoài thể sẽ được m vào vòi trứng
dưới hướng dẫn của nội soi bụng. Đến cuối thập niên 90, GIFT ZIFT ngày