
1
SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG TỈNH VĨNH LONG
TÀI LIỆU TẬP HUẤN KHUYẾN NÔNG
KỸ THUẬT TRỒNG ĐẬU NÀNH
(Ban hành theo Quyết định số 280/QĐ-TTKN, ngày 24/5/2017
của Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Vĩnh Long)
VĨNH LONG, THÁNG 5/2017

2
KỸ THUẬT TRỒNG ĐẬU NÀNH
Biên soạn: Ths. Trương Thị Mỹ Lộc
Phòng Khuyến nông Trồng trọt - TTKN
I. Tổng quan về đậu nành
1. 1 Giới thiệu chung
Đậu nành có tên khoa học là Glycine max L., thuộc họ Đậu (Fabaceae), còn
được gọi là đậu tương, hạt đậu nành có giá trị dinh dưỡng và kinh tế rất cao. Ở
miền Nam đậu nành được trồng 3 vùng chính gồm: vùng Đông Nam Bộ, đồng
bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên.
Đậu nành là loại cây thân thảo, hằng năm. Thân cây mảnh, cao từ 0,8m đến
0,9m, có lông, cành hướng lên phía trên. Lá mọc cách có ba lá chét hình trái xoan,
mũi gần nhọn, không đều ở gốc. Hoa có màu trắng hay tím xếp thành chùm ở nách
cành. Quả thõng, hình lưỡi liềm, gân bị ép, trên quả có nhiều lông mềm màu vàng,
thắt lại giữa các hạt. Các hạt thứ 2, 3, 5 gần hình cầu, các hạt còn lại hình thận dài,
có màu vàng rơm nhạt.
1.2 Đặc điểm hình thái
Đậu nành là cây hai lá mầm có rễ cọc, rễ tập trung ở tầng đất mặt 30 – 40
cm, độ ăn lan khoảng 20 – 40 cm. Trên rễ có các nốt sần cố định đạm do vi khuẩn
cộng sinh Rhizobium japonicum; Thân đậu nành có màu xanh hoặc tím ít phân
cành, có từ 14-15 lóng, chiều cao cây trung bình từ 0,5 – 1,2 m; Tùy theo từng thời
kỳ sinh trưởng, phát triển của cây mà có các dạng lá: lá mầm, lá đơn và lá kép có 3
lá chét.
Hoa đậu nành thuộc hoa cánh bướm, mọc thành chùm trung bình mỗi chùm
có từ 7 – 8 hoa, hoa có màu tím hoặc trắng. Khi kết trái, đậu nành thuộc loại quả

3
nang tự khai, mỗi trái trung bình có từ 2 – 3 hạt, có khi có 4 hạt có hình tròn, bầu
dục, tròn dẹp, có màu vàng, vàng xanh hoặc nâu đen.
1.3 Đặc điểm sinh thái
Đậu nành có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau: đất đỏ, đất xám, đất
phù sa, đất giồng cát. Nhưng để trồng đậu nành có hiệu quả phải trồng trên đất có
thành phần cơ giới nhẹ, pH từ 6,0-6,5. Nhiệt độ sinh trưởng và phát triển thích hợp
từ 24-300C;
II. Kỹ thuật trồng đậu nành
2.1 Thời vụ trồng
Đậu nành là cây công nghiệp ngắn ngày, nên có thể bố trí vào các mô hình
luân canh, xen vụ để tăng vòng quay của đất, nâng giá trị kinh tế cho người sử
dụng, đồng thời hạn chế nguồn sâu bệnh lưu tồn qua mùa vụ canh tác. Đậu nành có
thể trồng được quanh năm nhưng với mỗi thời vụ canh tác khác nhau sẽ có ảnh
hưởng rõ rệt đến sự sinh trưởng, tình hình sâu bệnh, năng suất, phẩm chất hạt, chi
phí sản xuất. Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), thời vụ canh tác thích
hợp nhất là Đông Xuân (xuống giống tháng 11 – 12 dl và thu hoạch vào tháng 2-3
dl) và Xuân Hè (xuống giống tháng 2-3 dl và thu hoạch vào tháng 5-6 dl). Vụ Hè
Thu thì phải quản lý nước tốt.
2.2 Giống
Tại ĐBSCL, các giống đậu nành có năng suất cao, phù hợp thổ nhưỡng và được
trồng phổ biến là: MTĐ 176, Giống đậu nành Nhật 17A – 7, MTĐ 760-4, BC 19…
Các giống đậu nành triển vọng: HLĐN 29, HLĐN 910…
Trước khi gieo, phơi lại hạt giống dưới nắng nhẹ trên từ 2- 3giờ; Không
được phơi trên nền xi măng, sân gạch và không phơi dưới nắng gắt từ 10 giờ sáng
đến 2 giờ chiều.
2.3 Làm đất
Tại đồng bằng sông Cửu Long, đậu nành có thể trồng thích hợp trên các loại
đất như đất phù sa, đất nhiễm phèn nhẹ…Đối với những loại đất có thành phần cơ
giới nặng có thể sử dụng thêm phân hữu cơ.
2.3.1 Cách trồng có làm đất
Ngay sau khi thu hoạch lúa xong tiến hành cắt gốc rạ. Dùng máy cắt gốc rạ
rải đều trên mặt ruộng. Nên cắt gốc rạ trước gieo hạt, cắt trước khi gieo cũng thuận
lợi cho việc gieo hạt bằng công cụ sạ hàng.
Cày đất lúc có ẩm độ vừa phải, sau đó xới lại 10 cm, tránh cày đất lúc còn
quá ướt.
Trường hợp đất quá khô, phải chủ động cho nước vào, rút nước ra và chờ
đến khi đất có đủ độ ẩm thích hợp thì mới cày.

4
Nếu không cày thì xới 20 cm cho tơi xốp, để hệ thống rễ cây đậu phát triển
tốt, tránh làm đất quá tơi, khi gặp mưa, dễ bị đóng váng, cản trở việc hút nước,
dinh dưỡng của cây, cây sinh trưởng yếu, các nốt sần ít và nhỏ. Đường kính đất
cày vừa phải (4 – 5cm).
* Ưu điểm
- Diệt cỏ dại.
- Nâng cao độ tơi xốp của tầng đất mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống
rễ phát triển mạnh trong giai đoạn đầu.
- Hạn chế việc bốc phèn (xì phèn) lên lớp đất mặt do mao dẫn.
* Nhược điểm
- Tốn thời gian làm đất, do đó kéo dài thời vụ trồng đậu nành. Có thể ảnh
hưởng đến cây trồng vụ sau.
- Tốn chi phí làm đất, tưới nước (vì muốn làm đất, phải để đất tương đối
khô, sau khi gieo, phải tưới nhiều nước) dẫn đến lợi nhuận bị giảm một phần.
Do đó việc áp dụng làm đất chỉ nên áp dụng đối với những trường hợp đất
quá khô, nhiều cỏ dại.
2.3.2 Cách trồng không làm đất
Trồng trên chân đất ruộng ngay sau khi thu hoạch lúa, nếu ruộng có nhiều cỏ
hoặc gốc rạ còn tươi phải cắt hoặc phun thuốc để diệt cỏ và gốc rạ. Sau vài ngày cỏ
và gốc rạ chết, tiến hành cắt gốc rạ. Trường hợp lượng rơm chuẩn bị không đủ thì
gốc rạ đã được cắt và phơi khô có thể được sử dụng để đậy tủ cho ruộng đậu.
* Ưu điểm
- Tranh thủ thời vụ, vì không phải chờ đợi thời gian làm đất.
- Giảm được chi phí trong khâu làm đất nên hiệu quả kinh tế hơn .
- Tận dụng được độ ẩm trong đất sau khi thu hoạch lúa, tiết giảm chi phí
tưới nước.
* Nhược điểm
- Sâu bệnh phát triển nhiều hơn.
- Gặp trở ngại trong việc ứng dụng phân bón, nhất là các loại phân đòi hỏi
phải trộn hoặc lấp xuống đất như phân lân, phân hữu cơ, vôi, ...
Tuy nhiên cả 2 phương pháp này đều phải lưu ý:
* Do biện pháp tưới cho đậu nành sau này là tưới tràn, nên hệ thống thủy lợi
nội đồng phải bảo đảm đưa nước vào và rút ra nhanh, không được đọng vũng, vì
đậu là cây trồng cạn rất dễ bị chết do úng nước.

5
* Theo thực tế canh tác nhiều năm qua, tại ĐBSCL đa số nông dân áp dụng
phương pháp không làm đất do tính chủ động, cách thức thực hiện đơn giản mà
năng suất thu được không chênh lệch với phương pháp có làm đất.
2.3.3 Xẻ rãnh trên ruộng
Đậu nành là cây trồng cạn nên rất dễ bị chết do úng nước, do vậy cần phải
đào rãnh dẫn và thoát nước. Tùy độ cao, độ bằng phẳng mặt ruộng, vị trí ruộng xa
hay gần kênh rạch và hình dạng thửa ruộng mà bồ trí rãnh thoát nước dầy hay thưa,
theo chiều dọc hay chiều ngang thửa ruộng; Ruộng trủng thấp nằm xa kênh rạch thì
bố trí rãnh khít hơn ruộng gò cao gần kênh rạch; Trung bình cách 2,5m – 3m đào 1
rãnh thoát nước kích thước bằng 1 lưỡi giá (sâu 25cm, ngang 20cm).
2.4 Gieo hạt
2.4.1 Mật độ và khoảng cách trồng
Tùy theo chiều cao cây của giống, mùa vụ và độ phì của đất. Lượng hạt
giống: 60-100 kg/ha. Tuy nhiên nguyên tắc chung để xác định mật độ là:
* Giống cao cây phân cành nhiều thì trồng thưa.
* Đất tốt, thâm canh trồng thưa hơn đất xấu và đất ít thâm canh.
* Mùa nắng trồng dầy hơn mùa mưa.
2.4.2 Các phương pháp gieo hạt
Thời điểm gieo thích hợp nhất là lúc đất còn đủ ẩm, có thể in dấu chân
nhưng không lún. Trường hợp đất quá khô, có thể tưới tràn, sau đó tháo nước ra,
ngày hôm sau gieo hạt. Có 2 phương pháp gieo hạt thường được áp dụng:
* Tỉa, gieo theo hàng: Áp dụng tỉa hoặc gieo hàng với khoảng cách 40 cm x
10 cm, mỗi lỗ 2-3 hạt, lượng hạt giống sử dụng 60 – 80 kg/ha. Nếu gieo hạt bằng
cách tỉa lỗ, nên sử dụng chày có đường kính 2 cm, có đầu dẹp nhọn tránh làm dẽ
đất khi xôm lỗ với độ sâu: 2,5cm; Lấp hạt bằng đất hoặc phân chuồng hoai mục
hoặc tro trấu.
* Sạ lan: Lượng hạt giống sử dụng 80 – 100 kg/ha. Có 2 cách sạ đậu là sạ
trước khi rãi rơm và sau khi rãi rơm:
- Trường hợp rãi rơm trước khi sạ đậu: cần lưu ý phải gieo trước lúc trời tối
để tránh sương xuống làm rơm bị thấm ướt, khi đó hạt giống gieo sẽ nằm trên rơm,
không tiếp xúc được với đất, làm hạn chế khả năng nẩy mầm hoặc sẽ làm ảnh
hưởng đến sự phát triển của cây con. Sạ hạt xong cho nước vào ruộng, thời gian từ
khi bắt đầu đưa nước vào ruộng đến khi rút ra hết không quá 10 giờ.
III. Kỹ thuật chăm sóc
3.1 Tủ rơm

