0TBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 0TĐẠI HỌC QUỐC GIA T.P HỒ CHÍ MINH 0TTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 1TLÊ VIẾT THẮNG 2TSỰ PHÁT TRIỂN VỀ HÌNH THỨC CỦA THỂ THƠ 2TTHẤT NGÔN BÁT CÚ2T4T 2T4TTRONG THƠ NÔM QUA 2TNGUYỄN TRÃI, NGUYỄN BỈNH KHIÊM, 2THỔ XUÂN HƯƠNG VÀ NGUYỄN KHUYẾN

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM MÃ SỐ: 5 04 33

0T 4T

4TLUẬN ÁN THẠC 3T4TSĨ 3T4TKHOA HỌC NGỮ VĂN 5THƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 5T GIÁO SƯ: LÊ TRÍ VIỄN 5T1997 0T

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 0TĐẠI HỌC QUỐC GIA T.P HỒ CHÍ MINH 0TTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 1TLÊ VIẾT THẮNG 2TSỰ PHÁT TRIỂN VỀ HÌNH THỨC CỦA THỂ THƠ 2TTHẤT NGÔN BÁT CÚ2T4T 2T4TTRONG THƠ NÔM QUA 2TNGUYỄN TRÃI, NGUYỄN BỈNH KHIÊM, 2THỔ XUÂN HƯƠNG VÀ NGUYỄN KHUYẾN

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM MÃ SỐ: 5 04 33

0T 4T

4TLUẬN ÁN THẠC 3T4TSĨ 3T4TKHOA HỌC NGỮ VĂN 5THƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 5T GIÁO SƯ: LÊ TRÍ VIỄN 5T1997

MỤC LỤC

7TPHẦN MỞ ĐẦU7T................................................................................................................... 3

7T1. Lý do chọn đề tài:7T .......................................................................................................... 3

7T2. Nhiệm vụ của luận án:7T ................................................................................................... 3

7T3. Phạm vi của luận án:7T...................................................................................................... 4

7T4.Lịch sử vấn đề:7T .............................................................................................................. 4

7T5. Phương pháp nghiên cứu:7T .............................................................................................. 8

7TCHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ THƠ ĐƯỜNG LUẬT 7T ............................................................. 10

7TCHƯƠNG 2: THƠ ĐƯỜNG LUẬT Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG SÁNG TÁC THƠ CHỮ NÔM TRƯỚC KHI NGUYỄN TRÃI VIẾT QUỐC ÂM THI TẬP, SỰ PHÁT TRIỂN VỀ CẤU TRÚC, NHỊP ĐIỆU.7T .................................................................................................. 22

7T2.1 Thơ Đường luật Ở Việt Nam và những sáng tác thơ chữ Nôm trước khi Nguyễn Trãi viết Quốc âm thi tập:7T ....................................................................................................... 22

7T2.1.1 Thơ Đường luật du nhập vào Việt Nam rất sớm:7T ................................................. 22

7T2.1.2 Chữ Nôm và những sáng tác thơ chữ Nôm trước khi Nguyễn Trãi viết Quốc âm thi tập:7T .............................................................................................................................. 25

7T2.2 Sự phát triển về hình thức của thể thơ thất ngôn bát cú chữ nôm ở phương diện cấu trúc, nhịp điệu:7T ................................................................................................................ 31

7T2.2.1 Về cấu trúc:7T ........................................................................................................ 31

7T2.2.1.1Hiện tượng xen câu lục ngôn:7T ........................................................................ 31

7T2..2.1.2 Về đề, thực, luận, kết:7T ................................................................................. 38

7T2.2.2 Nhịp điệu:7T ........................................................................................................... 45

7TCHƯƠNG 3: SỰ PHÁT TRIỂN VỀ HÌNH THỨC CỦA THỂ THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ Ở PHƯƠNG DIỆN NGÔN NGỮ7T ........................................................................................ 51

7T3.1 Từ Hán - Việt:7T ........................................................................................................... 51

7T3.2 Hệ thống ngôn ngữ dân gian, đời thường:7T .................................................................. 53

7T3.2.1 Bộ phận từ thuần Việt:7T ........................................................................................ 53

7T2.2.2 Ngôn ngữ văn học dân gian:7T ............................................................................... 59

7T2.2.3 Ngôn ngữ đời sống thường ngày:7T ........................................................................ 62

7T3.3 Tính hàm súc:7T ............................................................................................................ 70

7T3.3.1 Tiết kiệm lời:7T ...................................................................................................... 71

7T3.3.2 Từ mang tính khái quát:7T ...................................................................................... 72

7T3.3.3 Dùng điển tíc , điển cố:7T ....................................................................................... 73

7TPHẦN KẾT LUẬN7T ............................................................................................................. 78

7TTHƯ MỤC THAM KHẢO7T ................................................................................................. 84

2

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:

Nền văn học dân tộc ta hiện có nhiều thể loại, trong đó thơ chiếm vị trí khá quan trọng.

Muốn hiểu đúng, hiểu sâu nội dung, ý nghĩa của thơ, chúng ta không thể không lưu ý đến

hình thức diễn đạt. Nội dung và hình thức luôn luôn gắn chặt với nhau. Hình thức nào cũng

có quá trình phát sinh, phát triển và biến hóa theo từng chặng đường lịch sử. Trong kho tàng

thơ ca hiện có của ta, một bộ phận khá lớn được sáng tác theo các thể thơ nhập ngoại : một số

bằng chữ Hán, một số bằng chữ Nôm và về sau một số bằng chữ Quốc ngữ. Khi tiếp nhận,

độc giả ngày nay, có thể không biết rõ tình hình đó. Bởi, về mặt hình thức, các nhà thơ của ta,

khi sử dụng các thể thơ ấy, đã không ngừng Việt hóa nó đi. Hơn nữa, hiện thực được phản

ánh trong đó, nói như Trường Chinh đều chan chứa " tâm hồn và tính cách của người Việt

Nam "

Thơ cổ Việt Nam có quan hệ mật thiết với thơ cổ Trung Quốc. Thơ mới của ta ( giai

đoạn 1932-1945 ) lại chịu ảnh hưởng không ít của thơ phương Tây, nhất là thơ Pháp. Tìm

hiểu quan hệ qua lại giữa thơ Việt Nam với thơ nước ngoài là việc làm cần thiết, có nhiều ý

nghĩa đối với người nghiên cứu, giảng dạy văn học. Quan hệ giữa thơ cổ Việt Nam với thơ cổ

Trung Quốc, vốn có bề dày lịch sử đáng kính trọng. Từ thời xa xưa, tổ tiên ta, ngoài việc sáng

tạo, thể nghiệm, hình thành những thể loại văn học dân tộc, đã không ngần ngại tiếp thu

những tinh hoa của văn học Trung Quốc, Việt hóa nó một cách toàn diện trên tinh thần độc

lập, tự chủ, nhằm làm giàu cho kho tàng văn học dân tộc. Nhiều thể loại thơ, từ, truyện tiểu

thuyết... sớm được hình thành và nhanh chóng thu được nhiều thành tựu. Việc nhập từ Trung

Quốc thể thơ Đường luật, Việt hóa nó để thể hiện con người và cuộc sống Việt Nam diễn ra

như thế nào đã tạo ra một sự hấp dẫn lớn, thôi thúc bản thân tôi tìm tòi, nghiên cứu. Đó là lý

do vì sao tôi chọn đề tài " Sự phát triển về hình thức của thể thơ thất ngôn bát cú trong thơ

Nôm qua Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương và Nguyễn Khuyến ".

2. Nhiệm vụ của luận án:

Đi vào vấn đề vừa nêu trên, luận án có nhiệm vụ giải quyết một số yêu cầu sau :

Tìm hiểu, trình bày một cách khái quát sự hình thành, phát triển cũng như những yêu

cầu về nội dung và hình thức của thể thất ngôn bát cú Đường luật.

3

Tìm hiểu vấn đề Việt hóa thể thơ thất ngôn bát cú bằng chữ Nôm đã diễn ra, phát triển

như thế nào qua sáng tác của các nhà thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân

Hương và Nguyễn Khuyến về mặt hình thức.

3. Phạm vi của luận án:

Luận án không có nhiệm vụ tìm hiểu tất cả thơ Đường luật chữ Hán, chữ Nôm và chữ

Quốc ngữ. Luận án chỉ dừng lại trong phạm vi thơ thất ngôn bát cú chữ Nôm, khi cần mới

liên hệ đến thơ tứ tuyệt chữ Nôm. Đối tượng khảo sát cũng chỉ giới hạn trong bốn tác giả lớn,

tiêu biểu cho con đường vận động, phát triển , biến sinh của thơ Nôm Đường luật : Nguyễn

Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến. Công việc tìm hiểu chủ yếu đi

vào nhìn nhận khái quát về mặt hình thức. Nói như vậy không có nghĩa là không đả động gì

đến nội dung vì sự thống nhất không gì phá vỡ nổi, sự phù hợp giữa nội dung và hình thức là

một trong những tiêu chuẩn quan trọng của nghệ thuật "... Nội dung là mặt chủ đạo, mặt

quyết định của khách thể... do có tính độc lập tương đối, cho nên, hình thức lại có tác động

tích cực ngược trở lại đối với nội dung : Hình thức thích ứng với nội dung thì nó đẩy nhanh

sự phát triển của nội dung, nhưng khi hình thức không còn thích ứng với nội dung đã biến đổi

thì nó kìm hàm sự phát triển tiếp tục của nội dung " ( Từ điển triết học, Nxb Tiến bộ,

Maxcơva, 1986, bản tiếng Việt, trang 414, 415 ). Nội dung, hình thức trong nghệ thuật là

không thể tách rời " Văn học không phải chỉ là phản ánh mà còn là sáng tạo, cho nên, sự

thống nhất giữa nội dung và hình thức của tác phẩm là sự thống nhất trong chuyển hóa. Nội

dung, do đó, là sự chuyển hóa từ hình thức vào

nội dung, và hình thức là sự chuyển hóa từ nội dung ra hình thức. Từ sự chuyển hóa

qua lại đó, có nhưng yếu tố là nội dung xét trong bình diện này, sẽ trở nên hình thức nếu xét

trong bình diện kia... Sự phân biệt giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm văn học do đó

có tính chất tương đối" ( Từ điển văn học, tập II, Nxb KHXH, H.1984, trang 147 ).

Trong tác phẩm văn học, nội dung là hiện thực muôn màu muôn vẻ với tính độc đáo về

thẩm mỹ, trong đó, con người và những quan hệ xã hội cụ thể giữ vai trò chủ yếu. Yếu tố cơ

bản trong nội dung tác phẩm văn học là đề tài, chủ đề... hình thức là cốt truyện, cách lựa chọn

chi tiết, bố cục, ngôn ngữ : Trong bài thơ thất ngôn bát cú, về mặt hình thức, luận án đi vào

tìm hiểu sự phát triển về cấu trúc, nhịp điệu, ngôn ngữ. Ở một chừng mục nào đó, luận án

xem xét về đề tài, sự bộc lộ cái tôi trừ tình tác giả...

4. Lịch sử vấn đề:

Từ trước đến nay, thơ văn Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương,

Nguyễn Khuyến đã được giới nghiên cứu phê bình văn học chú ý nhiều. Chẳng hạn, năm

4

1980, kỷ niệm 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi, công việc sưu tầm, nghiên cứu về cuộc đời và

sự nghiệp của ông vốn đã được quan tâm chú ý nhiều lại được đẩy mạnh hơn trước. Cũng

như vậy, năm 1985, kỷ niệm 400 năm ngày mất và năm 1991 kỷ niệm 500 năm ngày sinh đối

với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đối với Nguyễn Trãi, Khuyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến, việc

đánh giá về cuộc đời và sự nghiệp, trong đó có thơ văn, nhìn chung là thống nhất. Riêng Hồ

Xuân Hương, trong mấy chục năm qua, giới nghiên cứu văn học tốn rất nhiều thời gian, công

sức mà vẫn chưa mang lại tất cả kết quả mong muốn. vẫn có người ngờ vực có Hồ Xuân

Hương thật không? Cái dâm, cái tục trong thơ bà là mục đích hay phương tiện nghệ thuật?

Nhìn một cách tổng quát là vậy.

Đi vào cụ thể ta thấy thơ Nôm viết theo thể thất ngôn bát cú của các nhà thơ Việt Nam,

cho đến gần đây, đã được các nhà nghiên cứu phê bình chú ý nhiều. Công việc nghiên cứu

nhìn chung còn dừng ở tác giả. Viết một cách tổng quát về thơ thất ngôn bát cú chưa thấy ai.

Đáng lưu ý là công trình nghiên cứu các thể thơ ca cổ truyền Việt Nam, các thể thơ mô phỏng

của Trung Quốc ... của hai tác giả Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức trong Thơ ca Việt Nam (

Nxb KHXH Hà Nội, 1971 ). Bộ Lịch sử văn học Việt Nam ( Tủ sách các trường đại học sư

phạm và đại học tổng hợp Hà Nội ), các tác giả Lê Trí Viễn, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Lộc,

Lê Hoài Nam, Nguyễn Đình Chú... đã đầu tư nghiên cứu thỏa đáng khi giới thiệu các sáng tác

bằng chữ Nôm theo thể thất ngôn bát cú của các nhà thơ cổ điển Việt Nam. Các tác giả trên,

nói về sự ra đời của chữ Nôm, đánh giá nội dung, nghệ thuật thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh

Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến đều thống nhất. Vũ Khiêu nhận xét thơ Nguyễn

Bỉnh Khiêm " Tiếp thu truyền thống trau chuốt và nhuần nhuyễn của thơ Lê Thánh Tông và

nhóm Tao Đàn" ( Người tri thức Việt Nam qua các chặng đường lịch sử Nxb TP.HCM, 1987,

trang 77 ). Nhận xét trên về thơ Nôm Lê Thánh Tông và hội Tao Đàn phải chăng đã cao hơn

cái nó vốn có ? Đành rằng, trong sáng tác của Lê Thánh Tông và Hội Tao Đàn có một số bài,

số câu được trau chuốt khá kỹ nhưng nói thành truyền thống thì chưa được.

Một số tác giả đã có những chuyên luận về cuộc đời và thơ, văn của các nhà thơ cổ điển

Việt Nam. Trong số đó, có thể kể Thợ văn Nguyễn Trãi của Vũ Khiêu ( Nxb Văn học, Hà

Nội, 1980 ), Văn chương Nguyễn Trãi của Bùi Văn Nguyên ( Nxb ĐH và THCN, Hà Nội,

1984 ). Thơ Hồ Xuân Hương của Nguyễn Lộc Nxb Văn học, 1987 ); Thơ Hồ Xuân Hương

của Nguyễn Lộc ( Công ty PHS Tiền Giang và Nxb Văn học hợp tác xuất bản, 1984 ), Thơ

Hồ Xuân Hương ( chuyên luận SĐH, Trường ĐHSP, TP.HCM, 1989 ) của Lê Trí Viễn; Hồ

Xuân Hương - Thiên tình sử của Hoàng Xuân Hãn ( Nxb Văn học, Hà Nội, 1995 ), Hồ Xuân

Hương - Thơ và đời của Lữ Huy Nguyên ( Nxb Văn học, Hà Nội, 1996 ), Thơ văn Nguyễn

Bỉnh Khiêm của Đinh Gia Khánh ( Nxb Văn học, Hà Nội, 1983 )...

5

Trong các công trình, chuyên luận kể trên, thể thơ thất ngôn bát cú chữ Nôm được lưu ý

đúng mức và nhận xét, đánh giá thỏa đáng.

Chẳng hạn; nhận xét về ngôn ngữ thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông Đinh Gia Khánh viết "

Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm xét về mặt ngôn ngữ văn học, là một bước tiến, là một gạch

nối giữa thơ Nôm thế kỷ thứ XV và thơ Nôm thứ XVII" ( Thơ, văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb

Văn học, Hà Nội, 1983, trang 41 ). Viết về thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Lộc đánh giá : "

Cái phẩm chất ưu tú của thơ Đường luật, như kết cấu chặt chẽ, tính chất hàm súc, dư ba, ý tại

ngôn ngoại... Bà khai thác triệt để, chứ Bà không sử dụng " nguyên xi" thơ Đường luật mà cố

gắng đẩy nó lên phía trước, ghi dấu ấn cá nhân của mình vào thể thơ mà mình sử dụng...

Trong thơ Đường luật, chính do cái kết cấu bó buộc và do những câu đối nhau rất tề chỉnh mà

bài thơ có tính chất đài các, quí phái. Tính chất bác học ấy xa lạ đối với Hồ Xuân Hương, nhà

thơ không chấp nhận mà phải cải tạo, làm cho nó đại chúng hơn, bình dân hơn... không phải

chỉ dân tộc hóa... mà còn bình dân hóa nó " ( Thơ Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 1984, trang

35, 36 ). Lê Trí Viễn : " Đường luật vốn là một sản phẩm quí tộc... Nó phải thanh tân, tao

nhã, lại phải trịnh trọng, trang nghiêm, nó phải mang nội dung châu ngọc của văn chương hay

khuôn phép của đạo lý... Xuân Hương làm ngược tất cả. Bà đường hoàng " hạ giá" thể thơ

cao quí ấy, lôi nó ra khỏi vị trí trang trọng, bắt nó mang một nội dung vô cùng nhân dân, tầm

thường và có khi thô lậu nữa. Bà đã dân chúng hóa nó trên một qui mô sâu rộng"( Thơ Hồ.

Xuân Hương chuyên luận sau đại học, Đại học sư phạm TP.HCM, 1989, trang 42 ).

Đứng ở góc độ Việt hóa để nhìn nhận sự phát triển, ông Trần Thanh Mại, khi phân tích

thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương viết : " Xuân Hương là người đầu tiên đã có công

bình dân hóa thể thơ Đường luật Việt Nam" ( Thử bàn lại vấn đề tục và dâm trong thơ Hồ

Xuân Hương, Tạp chí nghiên cứu văn học, số 4 năm 1961 ). Ý kiến đó xem ra chưa ổn thỏa,

vì công việc Xuân Hương làm, từ thế kỷ XV Nguyễn Trãi đã làm nhiều. Sang thế kỷ thứ

XVI, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn tiếp tục phát huy.

Viết có hệ thống để giảng dạy trong trường học có Việt Nam văn học sử yếu ( Học

chánh Đông dương, Hà Nội, 1942 ) của Dương Quảng Hàm. Tác giả dùng nhiều chương để

giới thiệu thể thơ nhập ngoại này. Ví dụ : Chương XI giới thiệu chữ Nôm. Chương XII : Hàn

thuyên và các nhà thơ mô phỏng ông ( chương trình năm thứ nhất Ban trung học Việt Nam ).

Chương VI : Nguyễn Trãi tác phẩm viết bằng Hán văn và Việt văn. Chương VIII : giới thiệu

tác phẩm đầu tiên bằng tiếng Nam : thơ Hồng Đức ( thế kỷ thứ XV ), thơ Nguyễn Bỉnh

Khiêm... ( chương trình năm thứ nhì Ban Trung học Việt Nam ). Đáng tiếc là trong chương

thứ XIII, thiên thứ tư :" Các thể văn của Tàu và của ta. Thi pháp của Tàu và âm luật của ta ",

6

tác giả nhận định về thơ Đường luật : " thơ Nôm ta làm theo phép tắc thơ Tàu, mà âm thanh

tiếng ta cũng tương tự tiếng Tàu ( cũng là thứ tiếng đan âm và cũng chia làm tiếng bằng,

tiếng trắc ) nên thi pháp của ta tức là thi pháp của Tàu và các niêm luật của thơ ta cũng phỏng

theo thơ Tàu cả " (trang 122 ). Nói như ông, thơ Nôm Đường luật chỉ là sự mô phỏng, ứng

dụng mà không có sự sáng tạo. Căn cứ thực tế sáng tác, nhận xét trên chưa phù hợp, chưa

thấy được sự sáng tạo của thi nhân Việt Nam. Khi cuốn sách này được viết, tác giả chưa biết

Quốc âm thị tập của Nguyễn Trãi vẫn còn, nên ghi " Nguyễn Trãi có một Quốc âm thi tập,

tiếc rằng tập ấy không còn nữa " ( trang 270 ). Chúng ta nhận thấy trong Việt Nam văn học sử

yếu tác giả cuốn sách có thái độ trân trọng đối với " những tác phẩm bằng tiếng Nam ". Lần

đầu tiên, một số tác giả, tác phẩm thơ Nôm Đường luật đã được phân tích trong quá trình lịch

sử văn học Việt Nam . Đặc biệt, qua nghiên cứu tác giả đã rút ra một số kết luận quan trọng: "

cứ xét các tác phẩm kể trên thì biết văn Nôm về thế kỷ XVIII đã tiến đến một trình độ khá

cao; tuy các tác giả còn chịu ảnh hưởng của Hán văn nhiều, nhưng các nhà ấy đã có công rèn

luyện, trau chuốt lời văn khiến cho thế kỷ sau nhờ đó mà sản xuất được nhưng tác phẩm có

giá trị đặc biêt như truyện Kim Vân Kiều " ( trang 324 ). Kết luận chương thứ hai mươi " các

nhà viết văn Nôm về thế kỷ XIX " : "Văn Nôm của ta về thế kỷ thứ XIX so với trước, thật có

tiến bộ nhiều, ... Các văn sĩ ta đã nhiều khi thoát ly cái ảnh hưởng của thơ văn Tàu mà diễn

đạt tư tưởng tính tình một cách thành thực để sáng tạo một nền văn đặc biệt của dân tộc ta "

(trang 399 ).

Nghiên cứu thơ Nôm Đường luật trong giao lưu với văn học Trung Quốc trên cơ sở so

sánh những yếu tố thơ Nôm Đường luật với Đường thi hoặc toàn bộ thơ Nôm Đường luật

trong giao lưu với văn học, văn hóa Trung Quốc, các tác giả đi theo hướng này cố gắng

khẳng định bản sắc Việt Nam để khu biệt thể loại này với Đường thi, Đường luật Trung Quốc

. Phương pháp nghiên cứu này xuất hiện từ những năm sáu mươi với bài của Đặng Thai Mai

trong tạp chí Nghiêncứu văn học, số 7 năm 1961 “Mối quan hệ lâu đời mật thiết giữa văn học

Việt Nam và văn học Trung Quốc". Bài viết có đoạn: " ngay trong lúc họ vận dụng thể văn và

văn tự Trung Quốc để biểu hiện tình cảm và tư tưởng của họ, nhiều nhà thơ chúng ta vẫn luôn

luôn cố gắng bảo vệ đặc sắc của dân tộc và cá tính của con người sáng tác ". Tác giả không

chỉ ra chỗ đặc sắc riêng ấy và cho rằng:" Trong các thể loại vay mượn của Trung Quốc thì thơ

ca ... thơ Đường luật, thất ngôn, ngũ ngôn ... trong lối thơ ca trữ tình, thi sĩ cổ điển ta vẫn khai

thác bấy nhiêu long mạch : tình yêu thiên nhiên, tình yêu người, yêu bè bạn vợ con và nhất là

tình yêu nước " (trang 11 ).

Trên Tạp chí.văn học số 2 năm 1973, khi đối chiếu hiện tượng thất ngôn xen lục ngôn

thơ Nôm Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông và Nguyễn Bỉnh Khiêm với thể Đường luật Trung 7

Quốc, tác giả Trương Chính cho biết Trung Quốc " không có thể câu bảy từ xen câu sáu từ

hoặc câu sáu từ xen câu bảy từ ". Từ hiện tượng xen lục ngôn của Việt Nam, tác giả viết "

chắc đó là một thể loại mới do cha ông chúng ta tạo ra trên cơ sở câu thất ngôn, trong lúc

niêm, luật, đối, gieo vần vẫn theo luật Đường " ( trích trong bài " Cha ông ta đã vận dụng các

thể loại văn học Trung Quốc như thế nào vào thơ Nôm " trang 4 ).

Cùng trên tạp chí vừa nêu, số 1 năm 1992, ở bài " Con đường giao tiếp của văn học cổ

trung đại Việt Nam nhìn trong mối quan hệ khu vực " , Nguyễn Huệ Chi nhấn mạnh: " cố

gắng tìm ra những nét nghĩa khu biệt giữa thơ Đường luật dân tộc với thơ Đường ... cùng

nhau góp sức tìm ra một lời giải đáp chung : như thế nào là mà thơ Đường Việt Nam " ( trang

22 ).

Nhìn chung, các tác giả đi trước đã có nhiều ý kiến quí báu cho công việc nghiên cứu

thơ Nôm Đường luật ở cấp độ tác giả về đề tài, chủ đề, cấu trúc bài thơ, ngôn ngữ thơ. Trong

quan hệ về hình thức giữa tác giả này với tác giả khác mảng thơ Nôm Đường luật, có bài đã

chỉ ra sự phát triển của tác giả sau đối với tác giả trước nhưng nghiên cứu sự phát triển ấy qua

Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến là công việc mới mẻ,

chưa thấy ai làm. Đó là nhiệm vụ của luận án.

5. Phương pháp nghiên cứu:

- Về mặt phương pháp luận, luận án lưu ý hai điểm sau đây :

Một là, thơ Đường luật nói chung, thất ngôn bát cú nói riêng là thể thơ nhập từ Trung

Quốc vào chứ không phải gốc bản địa Việt Nam . Cho nên, chúng ta cho đó là một hiện tượng

giao lưu văn học .

Hai là, trong thực tế sáng tác, thơ thất ngôn bát cú chữ Nôm ngày càng xa dần thể thơ

cội nguồn của nó là Đường luật , hấp thụ tư tưởng dân tộc, ảnh hưởng sâu sắc văn hóa, văn

học dân tộc, Việt hóa mạnh mẽ, phát triển không ngừng, có vị trí xứng đáng trong nền văn

học Việt Nam. Trong khi viết, chúng tôi tự đặt cho mình là phải trung thực, khách quan, khoa

học, tránh tư tưởng sùng ngoại, bài ngoại, dân tộc hẹp hòi.

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể :

Luận án đã vận dụng quan điểm lịch sử phát sinh, biến sinh. lịch sử so sánh. Tìm hiểu

tác phẩm phải gắn với tác giả, thời đại đã sản sinh ra nó. Trong chừng mực nào đó, khi điều

kiện cho phép, so sánh với các tác phẩm của tác giả cùng thời, nhất là những bài thơ

8

theo thể này bằng chữ Hán. Quan trọng hơn cả là đối chiếu tác giả trước với các tác giả

sau về cấu trúc, nhịp điệu, ngôn ngữ, điển tích điển cố ... để thấy được quá trình phát triển của

hình thức thơ Nôm thất ngôn bát cú qua các tác giả, các thời kỳ.

Nhằm nâng cao tính chính xác cho các kết luận, luận án có sử dụng cả phương pháp

thống kê để tính số câu ngũ ngôn, lục ngôn xen trong thất ngôn, số điển tích điển cố ... để đi

đến một xác suất nhất định, có thể kiểm tra được. Về mặt ngôn ngữ, khi xem xét từ láy, tên

địa danh Việt Nam, luận án chỉ khảo sát mỗi tác giả 20 bài theo thứ tự từ trước ra sau theo số

trang của sách. Riêng Nguyễn Bỉnh Khiêm, do bản gốc bị nhòe, rách, một số bài chỉ giới

thiệu được lục cú, những bài này không đưa vào khảo sát. Đó là các bài số 1, 4, 6 ( Thơ văn

Nguyễn Bỉnh Khiêm . Nxb văn học, Hà Nội, 1983 do Đinh Gia Khánh chủ biên ). Các tác giả

khác, luận án chọn Thơ văn Nguyễn Trãi do Vũ Khiêu chủ biên và giới thiệu ( Nxb văn học,

Hà Nội, 1980 ), Thơ văn Nguyễn_ Khuyến của Hoàng Hữu Yên ( Nxb giáo dục 1984 ) có

tham khảo thêm Nguyễn Khuyến – tác phẩm ( Nxb KHXH, Hà Nội, 1984 ) Thơ Hồ Xuân

Hương của Nguyễn Lộc ( Nxb văn học, 1987 ).

Phương pháp hệ thống cũng được sử dụng để xem xét thể thơ thất ngôn bát cú chữ Nôm

trong các sáng tác văn học chữ Nôm, trong nền văn học dân tộc.

- Về bố cục, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được chia làm 3 chương.

CHƯƠNG I: Giới thiệu khái quát " lý lịch " và đặc trưng của thể thơ thất ngôn bát cú.

Thể thơ này vốn hình thành và phát triển ở Trung Quốc từ trước và đến đời Đường thì tương

đối ổn định. Đối với Việt Nam, đây là thể thơ nhập từ nước ngoài vào. Tìm hiểu thể thơ này

cần tìm hiểu ngọn nguồn của nó.

CHƯƠNG II: Được chia ra làm 2 phần nhỏ :

1/ Tìm hiểu sự có mặt của thơ Đường luật ở Việt Nam ( do du nhập, giao lưu) nhưng

sáng tác thơ Đường luật cả chữ Hán lần chữ

Nôm trước khi Nguyễn Trãi viết Quốc âm thi tập.

2/ Tìm hiểu sự phát triển về hình thức ở phương diện cấu trúc, nhịp điệu.

CHƯƠNG III : Tìm hiểu sự phát triển về hình thức ở phương diện ngôn ngữ.

9

CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ THƠ ĐƯỜNG LUẬT

Như chúng ta đã biết, bất cứ một thể loại văn học nào cũng có " lý lịch " của nó, có quá

trình hình thành, phát triển, biến hóa trong những điều kiện lịch sử, xã hội nhất định. Thơ

Đường luật cũng thế.

Về xã hội, nhà Đường được bắt đầu khi Lý Uyên nhận lệnh của triều đình, cho quân

đánh vào Trường An năm 61 7, Tùy Dưỡng bị bộ hạ giết chết năm 618. Lý Uyên lên làm vua,

và kết thúc năm 907, khi " quân phiệt Chu Ôn trở thành nước lớn mạnh nhất ở lưu vực Hoàng

Hà, phế bỏ vua Đường, tự xưng Vương, lấy quốc hiệu là Lương, lịch sử gọi là hậu Lương -

để phân biệt với nhà Lương ( 502 - 557 ) " ( Sơ lược lịch sử Trung Quốc. Đổng Tập Minh,

Nxb Ngoại văn Bắc Kinh, 1963, trang 107 ).

Thấy được nguyên nhân thất bại của nhà Tùy, nhà Đường tìm cách hòa hoãn với nông

dân, ban hành nhiều chính sách phát triển sản xuất , giảm mức đóng góp về tô thuế, tơ lụa.

Nông nghiệp phát triển tạo điều kiện cho thủ công nghiệp, giao thông, thương mại phát triển

theo.

về văn hóa, nhà Đường chăm lo phát triển các bộ môn nghệ thuật như âm nhạc, hội họa,

điêu khắc, kiến trúc. Nhà Đường mở rộng giao lưu văn hóa với Ấn Độ, Tây Á, Phương Tây,

Nhật bản bằng việc cử người ra nước học tập hay mời những chuyên gia nghệ thuật các nước

vào Trung Quốc giảng dạy, hướng dẫn nghệ thuật, về hội họa, phát triển nhất là tranh lụa,

tranh thủy mặc, dùng mực tàu ( màu đen ) vẽ tranh phong cảnh. Một công trình đồ sộ tiêu

biểu cho hội họa, điêu khắc thời kỳ này là động Đôn Hoàng, từ thế kỷ IV đến thế

kỷ XIV " trong khoảng hơn nghìn năm, người ta đã khoét hơn một nghìn động trên

vách núi ... hiện nay có 480 động vẫn còn nguyên vẹn, trong đó bảy phần mười là khoét hồi

Tùy - Đường ... Trong động có chạm nhiều tượng phật rất đẹp. Bốn vách ... vẽ đầy tranh màu

rực rỡ. Các tranh ấy biểu hiện đời sống như cày ruộng, kéo thuyền, chăn nuôi ... biểu diễn

nghệ thuật, âm nhạc, nhảy múa " ( Sách vừa vẫn trang 113, 1 1 4 ) .

Đời Đường đã lưu danh đến ngày nay nhiều tên tuổi về hội họa như Ngô Đạo Tử, Tào

Bá, Hàn Cán, Trịnh Kiền, Kỳ Nhạc, Vương Duy ... về thư gia có Trương Húc, Lý Ung, Hạ

Tri Chương, Lý Triều ... về vũ đạo có Công Tôn Đại Nương và 1 2 vũ nữ. Đàn giỏi, hát hay

có Lý Qui Niên. Nghệ thuật nhảy múa, đánh đàn, thổi sáo ở thời Đường rất được mọi người

đồng tình.

Hoàn cảnh kinh tế, văn hóa xã hội nói trên đã tạo những tiền đề cho văn học nói chung,

10

thơ ca nói riêng phát triển thuận lợi.

Thời Đường, giáo dục phát triển mạnh. Qua thi cử, triều đình lựa chọn nhân tài điều

hành xã hội. Nhà Đường tổ chức nhiều kỳ thi, quan trọng nhất là kỳ thi chọn tiến sĩ. Mỗi lần

thi, hàng ngàn người tham gia. Chủ trương " Dĩ thi thủ sĩ " ( lấy thơ để chọn người tài ) đã

kích thích người học trau dồi văn chương, chữ nghĩa, thúc đẩy thơ ca phát triển .

về tôn giáo ... thời Đường có Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo. Tôn giáo nào cũng nhiều

sách vở. Đạo giáo có " Đạo đức kinh ". Phật giáo thịnh hành. Nhà sư Huyền Trang rời kinh

đô Trường An đến Ấn Độ trong vòng 1 4 năm ( từ 630 đến 644 ) đem về Trung Quốc 650 bộ

kinh Phật. Nghĩa Tĩnh cùng sang Ấ n Độ đem về 400 bộ kinh Phật. Về Nho giáo, Khổng

Dũng Đạt cùng một số nhà nho soạn " Ngũ kinh chính nghĩa " gồm 170 quyển ... Sự nở rộ

của tư tưởng đã tác động không nhỏ đến sự phát triển của văn học Đường, trong đó có thơ

Đường luật .

Thơ Đường luật ra đời đánh dấu kết quả của một quá trình cải biến đã nảy sinh từ thời

Lục Triều (thế kỷ III đến thế kỷ VII ) .

Điều kiện chuẩn bị, tác động cho sự ra đời đó, ngoài yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoa,

giáo dục, tôn giáo ... kể trên, phải nói tới sự phát triển của âm vận học . Tiếng Hán vốn có

thanh điệu, có những thanh khác nhau : bằng và trắc, trong thanh trắc lại chia ra thượng, khứ,

nhập như sau :

Loại thanh

Tên các thanh

Dấu thanh tương ứng

trong tiếng Việt

Bằng

Trầm bình thanh

dấu huyền

Phù bình thanh

không có dấu

Phù thượng thanh

Trắc

dấu ngã

Trầm thượng thanh

dấu hỏi

Phù khứ thanh

dấu sắc

Trầm khứ thanh

dấu nặng

Phù nhập thanh

dấu sắc

11

Trầm nhập thanh

dấu nặng

Điều này, trước đó, chưa ai phát hiện được. Đến thời Lục Triều, ( Ngụy, Tấn, Tống, Tề,

Lương, Trần ) do phải dịch một số tác phẩm của Phật giáo, vốn được viết bằng tiếng Phạn ( là

thứ tiếng không có dấu ) người Trung Quốc mới phát hiện ra được hiện tượng có dấu của

tiếng nước mình. Người phát hiện và đặt cách đánh dấu thanh tiếng Hán là Thẩm Ước, đời

Lương Vũ Đế ( 502 ). Do phát hiện được thanh bằng, trắc, các nhà thơ thời Lục triều trước

hết là Thẩm Ước, đã nghiên cứu cách sắp xếp âm thanh trong thơ sao cho du dương, trầm

bổng. Thẩm Ước đề nghị : các chữ có vị trí tương ứng trong một cặp câu nên có thanh ngược

nhau. Qua thử nghiệm, người ta thấy hay, chấp nhận. Lê Trí Viễn trong cuốn Đặc trưng văn

học trung đại ( Nxb KHXH, Hà Nội, 1996 ) có dẫn từ Lịch sử văn học Trung Quốc của Viện

nghiên cứu văn học Trung Quốc ( Nxb Văn học, 1964, dịch từ Trung Quốc văn học lịch sử

( Nxb Nhân dân văn học Bắc Kinh, 1 962 ) nói thêm về chuyển biến từ thơ cổ thể sang thơ

cận thể: " Không bằng lòng với " Cổ thể " hơi tự do, hai ông muốn thơ có cách luật nghiêm

chỉnh. Học tập đối ngẫu từng cặp câu từ Kinh Thi, mà các nhà làm phú đã vận dụng với văn

biền ngẫu ... ông ( tức Thẩm ước ) viết : " năm màu ánh nhau, tám âm hoa nhau, từ màu sắc

âm thanh đó, vạn vật thích nghi với nhau. Bản đàn muốn thánh thót thì âm cao thấp phải tiết

chế lẫn nhau. Nếu âm trên nổi thì âm sau tất phải cho thật kêu. Trong một đoạn, âm vận rất

khác nhau. Trong hai câu, nặng nhẹ cũng chẳng giống. Làm được như thế mới có thể gọi là

văn " ( trang 233, 234 ). Điều này, chính vì thế, được giữ lại dấu vết trong thơ luật Đường .

Điều kiện chuẩn bị cho thơ luật Đường còn là sự phát triển của văn biền ngẫu ( tác

phẩm gồm những cặp câu đối nhau ). Đối ý là tìm hai ý cân nhau mà đặt thành hai câu sóng

nhau. Đối chữ kết hợp đối thanh tức trắc đối với bằng, bằng đối trắc; phải đối loại của chữ,

nghĩa là phải đặt hai chữ cùng một từ loại để đối nhau ( cùng danh từ hay cùng động từ hoặc

cùng tính từ ... ) Văn biền ngẫu, như trên đã nói, phát triển cũng nhờ vào thành tựu của âm

vận học ( đối về âm thanh ).

Trong một bài thơ thất ngôn bát cú, trừ hai câu đề ( câu 1 và câu 2 ) và hai câu kết ( câu

7 và câu 8 ) còn bốn câu giữa là hai câu thực và hai câu luận thì câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối

với câu 6. Có được hai cặp câu đối nhau trong thơ luật Đường là tiếp thu thành tựu trên của

văn biền ngẫu. Nhờ có phép đối này mà bài thơ có thêm tính hài hòa trong tiết tấu.

Sự ra đời của thơ luật Đường còn dựa trên sự phát triển của thơ ca trước đó. Trước đời

Đường ( 618 - 907 ), văn học Trung Quốc đã có nhiều thành tựu nổi bật. Các bái Quan Thư ,

Đào yêu, Quyển nhĩ ( một loài rau có hoa trắng, lá ăn được ). Phù dĩ, Hán quảng ( sông Hán

12

rộng ), Phiếu hữu mai ( quả mai rụng ), Bách chu ( chiếc thuyền gồ bách ), Thạc thử (con

chuột xù), Phạt đàn ( chặt gỗ đàn )... trong Kinh thi; một số tác phẩm thuộc Tản văn như

Khuất Hoàn đi sứ nước Tề, Trùng nhĩ chạy trốn trong các nước, Thuốc bất tử, Tô Tẩn yết

kiến vua Sở ...; hay Ly tao, Thiệp Giang, Ai Sính ... thuộc văn học Tiên Tần hay của văn học

Hán như Nhạc phủ ( Chiến thành nam , Hữu sở tư, Thượng da ... ), Sử ký Tư Mã Thiên, ...

vừa giàu chất hiện thực vừa tràn đầy yếu tố lãng mạn. Cho nên, từ kho tàng phong phú sẵn có

của văn học dân tộc, các nhà thơ đời Đường đã tiếp thu tinh thần hiện thực của Kinh thi, Nhạc

phủ; tinh thần lãng mạn của thơ Khuất Nguyên; lối viết tỷ,hứng của Kinh thị lối tự sự của

Nhạc phủ

Trong kho tàng văn học Trung Quốc, trước đời Đường có thơ cổ phong ( còn gọi là thơ

cổ thể ) là để phân biệt với thơ cận thể -vốn là tên gọi của người đời sau đối với các thể thơ

có trước đời Đường. Tên ấy, sau cũng được dùng để chỉ những bài thơ được sáng tác trong và

sau đời Đường không theo niêm luật chặt chẽ như luật thơ Đường quy định. Đặc điểm của thể

thơ cổ phong là: có thể dùng vần bằng hoặc vần trắc, cũng có thể dùng vần bằng, vần trắc xen

kẽ, không theo quy định nào về phối thanh bằng, trắc; không buộc phải đối. Nhưng, để đọc

cho dễ nghe, ngâm cho du dương, bài thơ vẫn phải thích ứng với quy luật âm thanh của tiếng

nói số chữ trong dòng, số dòng trong bài thơ tương đối linh hoạt. Mỗi dòng có thể bốn chữ,

năm chữ, sáu chữ, bảy chữ, thậm chí lên mười chữ. Ví dụ bài Tương tiến tửu của Lý bạch dài

25 dòng, có dòng thứ nhất dài 10 chữ:

Quân bất kiến Hoàng Hà chi ihủy thiên thượng lai.

và dòng ba cũng dài mười chữ:

Hựu bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát.

cũng có những dòng chỉ có sáu chữ:

- Sầm Phu Tử. Đan Khâu Sinh ( dòng 11 )

- Ngũ hoa mã, thiên kim cừu ( dòng 23 ).

những dòng còn lại đều bảy chữ

Từ thời Lục Triều, thể thơ này đã phát triển, nhất là dạng ngũ ngôn. Thơ thất ngôn ra

đời và bước đầu phát triển ( câu nào cũng bảy chữ ). Hầu hết dân ca thời Lục Triều là những

bài thơ trữ tình theo hình thức bốn câu. Thơ Đường luật có thể tuyệt cú ( bốn câu ) gồm hai

loại ngũ ngôn và thất ngôn là tiếp thu những truyền thống trên.

Đến đời Đường, về phép thanh luật đối ngẫu càng thêm tinh mật. Bọn Thẩm Thuyên

13

Kỳ, Tống Chi vấn nghiêm luyện càng kỹ, cách điệu ổn thuận " ( Thơ Đường ở Việt Nam, Ngô

Văn Phú biên soạn, Nxb Hội nhà văn, 1 996, trang 11 3 ). Họ đã tổng hợp mọi thành tựu vốn

có và sáng tạo ra thể thơ Đường luật . " Hai nhà thơ này được coi là người có công trong việc

hoàn thành thể luật thi " ( Thơ Đường, Trần Trọng San, tủ sách ĐHTH, TP.HCM 1990, trang

14).

Nội dung thơ Đường ( trong đó có Đường luật ) rất phong phú, đa dạng. Các nhà thơ có

thể sống, sáng tác vào những thời kỳ khác nhau ( Sơ Đường , Thịnh Đường, Trung Đường,

Vãn Đường ), theo những trường phái khác nhau ( Tứ Kiệt, Thẩm - Tống, Vương chương tứ

hữu ... của thời Sơ Đường; phái sơn thủy điền viên,phái thơ lãng mạn, phái thơ hiện thực ...

của thời Thịnh Đường ) nhưng nhìn một cách tổng quát các " nhà thơ đời Đường không

những mô tả cảnh vật trong nước mà còn mô tả cảnh vật ngoài quan ải, không những mô tả

đời sống của người Đường mà còn mô tả cả tập tục của các dân tộc châu Á. Trong thơ Đường

có đồng quê mộc mạc, có thành thị phồn thịnh, có sơn hà tráng lệ, đồng thời cũng có nhà cửa

lộng lẫy. Nhà thơ dùng thơ để diễn đạt tư tưởng, tình cảm của mình, tố cáo sự tàn bạo và xa

xỉ của giai cấp thống trị và kêu lên những tiếng man thống thiết của nhân dân lao động.

Những bài thơ vĩ đại đó đã phản ánh sâu sắc đời sống xã hội lúc bấy giờ " ( Sơ lược lịch sử

Trung Quốc. Đổng Tập Minh, Nxb Ngoại văn Bắc Kinh, 1963, trang 109 ). " Xét về bất cứ

phương diện nào của nội dung, thơ Đường đều có thể cung cấp cho chúng ta một bức tranh

phong phú, đa dạng ... có nhưng vần thơ, nhất là ở đầu đời Đường, ca ngợi " chiến công mở

rộng biên cương " nhưng lại có hàng trăm bài thơ chống chiến tranh xâm lược ... Có nhưng

vần thơ ca tụng công đức triều đình song cũng không thiếu những vần thơ phê phán gián tiếp

hoặc thẳng thừng cảnh sống xa hoa trụy lạc ở chốn thâm cung, những biện pháp cai trị tàn

bạo, nhưng chính sách hà khắc đem lại thảm họa cho dân chúng ... thể hiện một sự đồng cảm

chân thành, một tinh thần nhân ái sâu nặng trong lúc nêu . lên những nỗi khổ của các tầng lớp

nhân dân đương thời, trước hết là những người nông dân, những người lính chiến và các tầng

lớp phụ nữ, đặc biệt là chinh phụ và cung nữ " ( Thơ cổ Trung Quốc, Nguyễn Khắc Phi, văn

học 10, tập 2, Ban KHXH, Nxb giáo dục, 1995, trang 45,46 ) .

Đi vào tìm hiểu thơ luật Đường, ta thấy có ba loại : ngũ ngôn, lục ngôn và thất ngôn.

Loại lục ngôn rát ít người dùng để sáng tác.

Nếu tính số câu trong bài, thơ cách luật chia làm ba thể:

- Thể tiểu luật gọi là tuyệt cú ( Việt Nam thường gọi tứ tuyệt).

- Thể luật thi gọi là bái cú .

14

- Thể luật bài gọi là hành, một biệt loại của luật thi với số câu ít nhất là 10, độ dài của

mỗi bài là 10 câu x n lần. Bài thơ có thể 10 câu hay 20 câu hoặc 30 câu ... Loại này rất ít

người làm .

Nói về cách gieo vần, thơ Đường luật chỉ dùng vần bằng, lệ này được áp dụng khắt khe

ở trường thi. Bài thơ chỉ được gieo một vần ( độc vận ). Thông thường, bài thất ngôn bát cú

có năm vần được gieo ở cuối câu ( tiếng thứ bảy ) ở các câu một, hai, bốn, sáu, tám. Vần

bằng được coi là chính vận. vần trắc được coi không chính qui, nên rất ít người dùng. ở Việt

Nam, khi sáng tác thơ Nôm thất ngôn bát cú, người ta rất ít dùng vần trắc, có lẽ vì thế. Bài

Vịnh làng Chế của Lê Thánh Tông dùng vần trắc, trường hợp hiếm hoi, xin được trích dẫn ra

đây tham khảo :

Bóng ác non đoài ban xế xế

Bỗng đâu đã tới miền Tam chế

Mênh mang khóm nước nhuộm màu lam

Chân ngất đỉnh non lồng bóng quế

Chợ họp bên sông ngẫm có chiều

Thuyền bầy trên đất xem nhiều thể

Cảnh vật bằng đây họa có hai

Vì dân khoan giảm bên tô thuế.

Nói về niêm : trong hai cặp câu kế nhau, câu cuối cặp trên và câu đầu cặp dưới niêm

với nhau ( dính nhau ) bằng cách lập lại thứ tự bằng trắc như câu trên. Cụ thể : câu 1 dính với

câu 8, câu 2 với câu 3, câu 4 dính với câu 5, câu 6 dính với câu 7. Sự kết dính này góp phần

làm cho bố cục bài thơ trở thành một chỉnh thể bền vững, thống nhất, bất biến. Từ góc độ

này, trong Thi pháp thơ Đường, Nguyễn Thị Bích Hải nhận xét " Bài thơ được dán ( niêm ) lại

thành một vòng khép kín như cái lẽ " Chu nhi phục thủy "( đi vòng mà trở về điểm xuất phát )

của Dịch đạo. Đó cũng là mô hình tiêu biểu của tư duy cầu tính Đông phương " ( Thị pháp

thơ Đường - Huế, Nxb Thuận Hóa, 1 995, trang 47 ) .

Xem xét sự phối thanh trong thơ thất ngôn bát cú, ta thấy bài thơ luật trắc vần bằng hay

luật bằng vần bằng có sự lặp lại thanh điệu bằng, trắc ở các câu 1 - 5, 2 - 6, 3 - 7, 4 - 8, ngoại

lệ chữ cuối của dòng một phải nhập vần nên khác với thanh chữ cuối của dòng 5. Chúng tôi

gọi đây là tính chất tuần hoàn giống trong Dịch học.

Niêm luật thơ Đường luật chặt chẽ. Để dễ sử dụng, người đời sau đặt ra một số biệt lệ.

15

Ví dụ : Về luật bằng, trắc, ở một số vị trí nhất định, có thể bằng hay trắc cũng được. Đối với

thơ thất ngôn bát cú là : Nhất - tam - ngũ bất luận. Sự khái quát này cũng chỉ mang ý nghĩa

tương đối : chữ thứ nhất hoàn toàn tự do vì ở vị trí không ảnh hưởng mấy đến âm điệu toàn

câu thơ. Chữ thứ ba nếu ở công thức là trắc thì có thể đổi thành bằng song nếu là bằng ở câu

có vần thì không được đổi thành trắc. Chữ thứ năm nói chung phải theo đúng công thức, tức

ngược thanh với chữ cuối câu. Ví dụ :

Vạn lý bi thu thường tác khách

Bách niên đa bệnh độc đăng đài.

Đăng Cao của Đỗ Phủ

Còn nhị - tứ - lục phải phân minh. Nghĩa là chừ thứ hai, thứ tư, thứ sáu phải theo đúng

công thức, quy tắc : thanh của chừ thứ tư - giữa câu - phải ngược thanh với chữ thứ hai và thứ

sáu trong câu cụ thể chỉ có thể là trắc bằng trắc ( TBT ) hay bằng trắc bằng ( BTB ). Ví dụ :

Vạn lý bi thu thường tác khách - TBT

Bách niên đa bệnh độc đăng đài - BTB

Ở những nhà thơ có tài, sự phá luật ( nhị - tứ - lục phân minh ) thường là thể hiện cá

tính độc đáo hay để nhấn mạnh một ý nào đó. Ví dụ : trong bài Đèo Ba Dội, Hồ Xuân Hương

viết :

Một đèo, một đèo, lại một đèo - BBT.

Về sau, người ta đặt thêm về cách trốn vần ( chiết vận ).

Bài thơ thất ngôn bát cú thường có năm vần nhưng có thể trốn vần, chỉ cần bốn vần.

Trốn vần phải theo một nguyên tắc là hai câu có vần trốn phải đối nhau, gọi là song phong í

hai đình núi đối nhau ). Như vậy, trốn vần, bài thơ có ba cặp câu đối nhau. Bài Tự thán. (

Khuyết danh ) trốn vần nên có hai câu đề như sau :

Lờ đờ mắt trắng đời không bạn

Lận đận đầu xanh tuổi đã già.

Để xác định bài thơ thất ngôn bát cú theo thể trắc hay thể bằng, người ta căn cứ vào

tiếng thứ hai của câu thứ nhất. Nếu tiếng đó mang thanh trắc, bài thơ làm theo thể trắc. Ví dụ

bài " Qua đèo Ngang " của Bà Huyện Thanh Quan ( ? - ? ) :

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá lá chen hoa ...

16

Nếu tiếng thứ hai mang thanh bằng, bài thơ làm theo thể bằng. Ví dụ bài Thu điếu của

Nguyễn Khuyến ( 1835 - 1909 ) :

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo ...

Về cấu trúc, các tài liệu hiện hành đều cho rằng: một bài thơ Đường luật thất ngôn bát

cú gồm có bốn phần: đề, thực, luận, kết; mỗi phần gồm hai câu. Thật ra, đó chỉ là nhưng quan

niệm. yêu cầu phổ biến, lưu truyền từ đời Thanh ở Trung Quốc. Trước đó, quan niệm chặt

chẽ như vậy chưa có. Qua khảo cứu, Ông Phan Khôi viết: " Thật thế, An Nam ta phần nhiều

làm thi cứ mỗi bài tám câu, mỗi câu bảy chữ , cái đó đã thành ra một cái luật chung mà ít ai

nghĩ thử tại làm sao ?

Ấy là tại lối học khoa cử của ta mấy đời nay di truyền lại. Ngày xưa. mỗi khoa thi chữ

nho, trường nhì có một bài thi và một bài phú, mà bài thi thì dùng thể thất ngôn luật nầy. Thi

chữ nho như vậy, rồi thi Nôm cũng quen theo.

Thể thất ngôn luật ây bắt đầu có từ đời Đường cho nên cũng gọi là " thất ngôn Đường

luật " . Nguyên hồi bấy giờ đặt ra thể mới ấy, gọi là luật thi đã có ý bó buộc rồi, nhưng mà

còn rộng rãi. Coi như hai câu đầu thì kêu câu mở, hai câu nữa gọi là câu tam - tứ, hai câu nữa

gọi là hai câu ngũ - lục, hai câu cuối cùng gọi là câu kết. Trong câu tam - tứ và câu ngũ - lục

muốn nói ý gì cũng được, không có luật nhất định. Nói rằng rộng rãi là vì thế. Song từ ngày

đem thất ngôn luật vào thi cử rồi thì thể ấy trở nên bó buộc quá mà mất cả sanh thú.

Họ bắt phải kêu câu tam - tứ là câu trạng, nghĩa là trạng ra ý hoặc cảnh của đầu đề; kêu

câu ngũ lục là câu luận hoặc câu bồi, nghĩa là bàn thêm để bồi thêm ý câu trạng. Phải nhất

định như thế, không được sai đi, sai đi thì hỏng.

Ấy chỉ là luật riêng dạy lối làm thi trong việc khoa cử mà thôi, nào có phải cái phép tắc

chính truyền của nghề thi như vậy? Nhưng mà ngày nay, người ta cũng tuân theo, không biết

cởi mình ra khỏi trói.

Thấy có một vài cuốc sách quốc ngữ tự xưng dạy phép làm thi mà cũng dạy theo lối thi

khoa cử ấy, thì thật là tục quá. Thì quí cho nhã; mà đã tục thì còn dạy ai ? " ( Chương dân

thi thoại, nhà in Đắc lập - 1936, trang 45, 46 ).

Về sau này, khi đã có quan niệm chặt chẽ đó, nhiều nhà thơ vẫn sử dụng thể thơ này

một cách uyển chuyển. Căn cứ vào thực tế sáng tác, Kim Thánh Thán - nhà phê bình văn học

nổi tiếng của Trung Quốc cuối đời Minh, đầu đời Thanh đã phân tích hàng trăm bài thơ

17

Đường luật . Ông chia đều bài thơ thành hai phần, mỗi phần bốn câu mà ông gọi là " nửa trên

", " nửa dưới ". Theo ông, nửa trên thường nặng cảnh, nhẹ tình. Nửa dưới thường nặng tình

nhẹ cảnh. Mối quan hệ giữa nửa trên và nửa dưới rất có ý nghĩa cho công tác phân tích. Bài

Đăng cao ( lên cao ) của Đỗ Phủ sau đây rất phù hợp với cách chia trên của Kim Thánh Thán.

Phong cấp, thiên cao, viên khiếu ai

Chữ thanh, sa bạch, điểu phi hồi

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ

Bất tận trường gian cồn cồn lai

Vạn lý bi thu thường tác khách

Bách niên đa bệnh độc đăng đài

Gian nan khổ hận phồn sương mân

Lao đảo tân đình trọc tửu bôi.

Nửa trên ( bốn câu đầu ) thể hiện sự cảm nhận cảnh thu, qua cảnh hiểu được phần nào

tâm trạng, tình cảm tác giả. Nửa dưới ( bốn cầu còn lại ) chủ yếu bộc lộ nỗi lòng tác giả : xa

nhà, thường ở nơi đất khách, suốt đời nhiều bệnh...

Thế nhưng, cách chia bài thất ngôn bát cú thành bốn phần vẫn có ý nghĩa. Khi đi vào

tìm hiểu đề, thực, luận , kết, ta thấy :

Phần đề : hai câu đầu, gồm có phá đề ( câu 1 ) là mở bài và thừa đề ( câu 2 )nối câu phá

đề mà vào bài. Nhìn chung, ở phần này, nhà thơ thường nêu ra một cách nhìn, một cảm tưởng

khái quát.

Phần thực ( câu thứ 3 và thứ 4 ) gọi là cặp trạng, đối nhau, nhằm giải thích đầu bài : về

ý, về cảnh, về tình, về sự vật, ... để làm nổi bật đề tài. Vì vậy, hai câu này phải gắn chặt với

đề bài.

Phần luận : ( câu thứ 5 và thứ 6 ) có nhiệm vụ bình luận, nhận định, triển khai những ý

ở phần thực, như " tả cảnh thì nói cảnh ấy xinh đẹp như thế nào, cảm-xúc người ta như thế

nào, vịnh sử thì hoặc khen hoặc chê, hoặc so sánh người ấy, việc ấy với người khác, việc

khác " ( Văn học Việt Nam , Dương Quảng Hàm . Bộ GD ( Sg )Trung tâm học liệu tái bản,

1968, trang 23 ).

Giữa phần thực và phần luận, mỗi phần có hai câu thơ đối nhau, hô ứng nhau, cộng

hưởng về ý tứ và nhạc điệu, tạo nên một chỉnh thể độc lập trong bài thơ, một " vũ trụ " tự nó

18

ổn định. Từng cặp biểu hiện những ý đối lập hoặc bổ sung cho nhau mà không cần có một sự

nối tiếp nào giữa chúng với nhau không cần quan hệ từ mà vẫn tạo ra sự thống nhất. Cấu trúc

đối xứng ở bốn câu thơ này tạo một sắc thái khác hẳn các phần đề, kết.

- Phần kết ( câu 7 và câu 8 ), tóm tắt ý nghĩa toàn bài, " bộc lộ rõ chủ đề bài thơ." (Mấy

vấn đề phương pháp giảng dạy thơ văn cổ Việt Nam , Nguyễn Sĩ Cẩn, Nxb Giáo dục, 1984,

trang 46 ). Trong phần này, câu 7 thường có nhiệm vụ chuyển, dồn ý từ sáu câu trên xuống

câu thơ cuối cùng, khép lại bài thơ (trở lại vấn đề nêu ở phần đề ) và làm cho người đọc cảm

nhận được cái dư vị khi đọc hay ngâm hết bài thơ. Những bài thơ có phần kết hay thường có

chiều hướng gợi ra nhưng ý tưởng mới làm cho dư âm bài thơ đọng mãi trong tâm trí người

đọc. Nghiên cứu về vấn đề này, trong cuốn “Văn hóa, văn học Trung Quốc, cùng một số liên

hệ ở Việt Nam.” ( Nxb Hà Nội, 1996 ) trong bài " Một nét thẩm mỹ Trung Hoa, qua đối sánh

mô thức vũ trụ Đông Tây ", Phương Lựu đã nhận xét " Trong nghệ thuật truyền thống Trung

Hoa, cái có và cái không luôn quyện vào nhau ( trang 36 ) ... Trong văn thơ thì sự kết hợp

giữa không với có, hư với thực lại càng muôn màu muôn vẻ (trang 37 )... cái mà họ muốn tả

thì lại chỉ gợi ra bằng cái khác ... Điều này cũng đã được đúc kết trên bình diện mỹ học. Từ

ngàn xưa, Lão Tử đã nói " Vô tượng chi tượng " ( cái hình tượng không có hình tượng ) ; "

Vô thanh thắng hữu thanh " ( không có thanh âm hơn là có ) ; " Vô ngôn chi mỹ " ( cái đẹp

không lời ) ( trang 38 ) ... Lưu Hiệp thì nhấn mạnh : " nghĩa lý được sinh ra ở ngoài lời văn ".

Đời Đường, Tư Không Đồ đề xướng những cái " cảnh ở ngoài cảnh ", " hình ảnh ngoài hình

ảnh ", " đẹp ở ngoài vần điệu" ( trang 39 ). Những ý kiến đó rất phù hợp cho hội họa, âm

nhạc, và đặc biệt cho văn chương, trong đó có thơ Đường luật .

- Về nhịp thơ: Từ điển Thuật ngữ Văn học ( Nxb Giáo dục, Hà Nội,1992 ) quan

niệm : " sự lặp lại cách quãng đều đặn và có thay đổi của các hiện tượng ngôn ngữ, hình

ảnh, mô típ ... nhằm thể hiện sự cảm nhận về thế giới tạo ra cảm giác vận động của sự sống,

chống lại sự đơn điệu, đơn nhất của văn bản nghệ thuật ... Đơn vị cơ bản của sự lặp lại trong

thơ là dòng thơ với độ dài của nó gồm số tiếng và vần như là điểm ngắt của nó. Vì vậy, mỗi

thể thơ có một nhịp điệu riêng. Dòng thơ lại có kiểu ngắt nhịp của luật thơ, có độ dài ngắn,

cân đối hoặc không cân đối khác nhau. Nhịp điệu của thể thơ và luật thơ tạo thành cái nền

của nhịp điệu " ( trang 165 ) Trong một bài thơ thất ngôn bát cú, ở cấp độ tổ chức văn bản có

tám dòng thơ, mỗi dòng bảy chữ. Trong mỗi dòng thơ bảy chữ ( và cả năm chữ ) mới có chữ

lẻ trên mỗi dòng thơ, để có nhịp chẵn, lẻ ( 4-3, 2-2-3, 2-3, 3-2.. ) tạo nên sự đối lập âm

dương, nhịp được tạo nên bởi sự thống nhất của các cặp đối lập mà bao hàm có lẽ là sự thống

nhất, hài hòa của cặp đối lập âm dương. Chỗ ngắt nhịp trong dòng thơ, ngoài tác dụng làm

giàu âm hưởng còn tạo cho người thưởng thức thơ những liên tưởng, liên hệ rất tinh tế giữa 19

các vế của dòng thơ. Nghiên cứu nhịp trong thơ luật Đường của Trung Quốc sẽ góp phần

hiểu, lý giải thi pháp có ý nghĩa thể loại khi tìm hiểu thơ Nôm thất ngôn bát cú của Việt Nam

ở các câu lục ngôn, ở cách ngắt các dòng thơ theo nhịp 3-3, 1-2-3, 3-4..., thấy được cá tính

sáng tạo, tinh thần dân tộc của thi nhân Việt Nam.

- Về ngôn ngữ : ngôn ngữ có vị trí quan trọng sáng tác văn học. Goóc -ky (1868-1936)

đã từng khẳng định : " Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ" văn học là nghệ thuật của

ngôn từ. Tuy nhiên, mỗi thể loại văn học do đặc thù của tư duy nghệ thuật mà có cách khai

thác, huy động nhưng tiềm năng của ngôn từ. Trong thơ thất ngôn bát cú, số chữ được dùng

rất ít, 56 chữ, nên làm thơ Đường luật không được sử dụng chữ tuy tiện. "Phải làm thế nào

cho 56 từ là 56 hòn ngọc có thể tỏa sáng ban đêm... thừa chữ tất nhiên là không được nhưng

cũng không được thừa ý. Thơ Đường luật yêu cầu phải gây âm vang và xạ ảnh cao, lời và câu

là có hạn, nhưng ý thì vô hạn. Sự cân xứng giữa thanh và ý phải hoàn chỉnh, ứng dụng biệt lệ

nếu cần nhưng không lạm dụng biệt lệ." ( Thơ ca Việt Nam Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức,

Nxb KHXH, 1971, trang 289 ). Đỗ Phủ ( 712 - 770 từng nói : "Tự bất kinh nhân, tự bất hưu"

nghĩa là chữ dùng chưa làm cho người kinh hồn thì chết chưa yên. Bài thơ sau đây của ông là

một minh chứng cho việc sử dụng ngôn ngữ có độ kết tinh cao, ý nghĩ hàm súc :

Đăng cao

Phong cấp, thiên cao, viên khiếu ai

Chởửthanh, sa bạch, điểu phi hồi

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ

Bất tận Trường giang cổn cổn lai

Vạn lý bi thu thường tác khách

Bách niên đa bệnh độc đăng đài

Gian nan khổ hận phồn sương mấn

Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi

Trong đó, có thể coi hai câu luận là tuyệt diệu. Với 14 chữ, Đỗ Phủ nói đến bảy tầng ý

đau thương, đau buồn giày vò khác nhau. Đó là cảnh nhà thơ đang ở đất khách quê người

( tác khách ), xa hàng vạn dặm ( vạn lý ), xa thường xuyên ( thường ), phải xa vào những

ngày thu ảm đạm ( bi thu ), hoàn cảnh đau thương đó chỉ dồn lên một tấm thân còm cõi, lẻ loi

( độc đăng đài ).

Xuất phát từ đặc điểm trên của ngôn ngữ trong thơ Đường luật ( hàm súc, tinh luyện ),

20

khi tìm hiểu sự phát triển về hình thức của thơ thất ngôn bát cú chữ Nôm qua Nguyễn Trãi,

Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương và Nguyễn Khuyến, luận án chú ý đến hai hệ thống

ngôn ngữ :hệ thống từ Hán Việt, hệ thống ngôn ngữ dân gian, đời thường, rất Việt Nam và

tính hàm súc.

Từ sự tìm hiểu trên, có thể tổng quan về thơ Đường luật bằng ý kiến của Lê Trí Viễn

Đó là một thể thơ qui phạm triệt để theo mỹ học phương Đông của Trung Quốc thời đó rồi

sang nước ta. Nói

qui phạm triệt để là từ số câu, số chữ, cân đối thanh điệu, cân đối trong đối ngẫu, ở lời,

ở ý. đến kết cấu chặt chẽ, phá, thừa, thực, luận, kết, nhất nhất có nhiệm vụ nội dung riêng,

luôn tới đề tài, lập ý, cấu tứ, chọn lời, tránh những thứ khiêm nhã, những khuyết tật phong

yêu, hạc tất... Tất cả đều theo những qui tắc cứng rắn, tuyệt đối không được vi phạm" ( Đặc

trưng văn học trung đại Việt Nam, Nxb KHXK, 1996, trang 234 ). Nó nhanh chóng trở thành

thể thơ "trang trọng", "quí phái", "sản phẩm quí tộc" ( từ dùng của Lê Trí Viễn ), là "đặc sản

của văn học Đường" (từ dùng của Nguyễn Khắc Phi ).

Một câu hỏi được đặt ra : tại sao đến đời Đường lại có thể thơ Đường luật như thế ?

Ngoài những điều kiện chín muồi như đã kể trên, cần đặt nó vào trong ý thức xã hội lúc bấy

giờ. Đến đời Đường, xã hội phong kiến Trung Quốc đã có một bề dày lịch sử đáng kính trọng

nhưng chỉ đến lúc này, mọi tôn ti, trật tự, mọi quan hệ xã hội mới đạt đến qui phạm hóa toàn

diện, trở thành mẫu mực. Qui phạm hóa trở thành nét thẩm mỹ xã hội, trong đó có thơ. Đứng

ở góc độ nghệ thuật, phải chăng các nhà thơ muốn có một thể thơ bố cục phải chặt chẽ, nội

dung phải hàm súc để thi thố tài năng và xứng đáng với xã hội ?

21

CHƯƠNG 2: THƠ ĐƯỜNG LUẬT Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG SÁNG TÁC THƠ CHỮ NÔM TRƯỚC KHI NGUYỄN TRÃI VIẾT QUỐC ÂM THI TẬP, SỰ PHÁT TRIỂN VỀ CẤU TRÚC, NHỊP ĐIỆU.

2.1 Thơ Đường luật Ở Việt Nam và những sáng tác thơ chữ Nôm trước khi Nguyễn Trãi viết Quốc âm thi tập:

2.1.1 Thơ Đường luật du nhập vào Việt Nam rất sớm:

Phép biện chứng mác xít chỉ ra rằng : "Tự nhiên được xem như một chỉnh thể cấu kết,

trong đó các sự vật và hiện tượng phụ thuộc lẫn nhau, chế ước lẫn nhau; tất cả đều liên hệ lẫn

nhau, tác động lẫn nhau... tất cả đều vận động, biến hóa" ( Từ điển triết học, Nxb Sự thật,

trang 748 ). Việc giao lưu về chính trị, kinh tế, văn hóa, văn học... giữa các dân tộc là một

hiện tượng phổ biến xưa nay. Việt Nam là quốc gia có vị trí địa lý nằm gần hai cái nôi văn

minh lớn của nhân loại : Ấn Độ và Trung Quốc. Quan hệ Việt Nam và Trung Quốc núi liền

núi, sông liền sông lại càng có ý nghĩa. Trước khi trở thành quốc gia phong kiến độc lập,

nước ta phải chịu cả ngàn năm Bắc thuộc. Từ năm 939 đến năm 1958, đất nước có chủ

quyền, việc giao lưu giữa hai nước vẫn nhiều lúc nằm trong tình trạng không bình thường từ

phía Trung Quốc đối với ta. Nói về vấn đề này, trong "Đặcđiểm có tính qui luật của lịch sử

văn học Việt Nam " ( ĐHSPTP.HCM phát hanh tháng 12/1984), Lê Trí Viễn viết : "Việc giao

lưu văn hóa giữa các dân tộc là một hiện tượng phổ biến trong lịch sử nhân loại" ( trang 26 ).

Tác giả còn chỉ rõ sự giao lưu giữa Việt Nam và Trung Quốc " Từ thời kỳ các vua Hùng đến

năm 179 tr, sự giao lưu văn hóa thời kỳ này diễn ra bình thường, tốt đẹp giữa người Việt và

các dân tộc xa gần ", từ năm 179 tr đến năm 938 " Sự giao lưu không thể nào bình thường

được đối với văn hóa phương Bắc" vì chúng " Cố tình áp đặt văn hóa Hán phong kiến nhằm

thủ tiêu cho kỳ được văn hóa Hùng vương của người Việt" ( trang 29 ). Thế nhưng, "sau 11

thế kỷ khổ nhục ấy, dân tộc ta vẫn giữ được bản lĩnh của mình" và từ lâu văn hóa trống đồng

tỏa chiếu toàn miền Đông Nam Á (trang 30). Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (

Nxb TP.HCM, 1996 ) Trần Ngọc Thêm cũng khẳng định "Cùng với sự bành trướng về

phương Nam của đế quốc Trung hoa, nền văn hóa sông Hoàng Hà đã hấp thụ tinh hoa của

nền văn hóa nông nghiệp Nam Á ( Bách Việt ) và với óc tư duy phân tích, đã nhanh chóng hệ

thống hóa, qui phạm hóa để phát triển thành văn hóa Trung hoa rực rỡ, rồi đến lượt mình,

phát huy ảnh hưởng trở lại phương Nam và các dân tộc xung quanh" ( trang 72 ).

Các học giả Trung Quốc, qua nghiên cứu giao lưu, nhận thấy Trung hoa đã tiếp thu

nhiều tinh hoa văn hóa của các dân tộc láng giềng. Trong Sơ lược lịch sử Trung Quốc ( Nxb

Ngoại văn Bắc kinh, 1963 ) Đổng Tập Minh viết : " Âm nhạc của đời Đường có trình độ nghệ

22

thuật rất cao... nhạc khí rất nhiễu, có khèn, sáo, tranh của đời xưa, đồng thời cũng có nhiều tù

và, trống, địch, bạt ( chập Chóa ) của Tây vực và Trung á đưa vào, và có tù và bằng ốc ở ven

biển miền Nam nữa... Bởi thế, âm nhạc Tùy - Đường là một điển hình dung hòa văn hóa của

các dân tộc châu Á... Nghệ thuật nhảy múa của Tùy -Đường đã thu hút tinh hoa của Tây vực,

Trung Á và Ấn độ..." ( trang 115 ). Từ những nhận định trên ( của các nhà nghiên cứu Việt

Nam và Trung Quốc ), chúng ta có thể khẳng định : Việt Nam, trong giao lưu văn hóa giữa

các dân tộc, không chỉ có tiếp nhận mà còn có " truyền phát " (từ dùng của Lê Trí Viễn ).

Trở lại vấn đề thơ Đường luật ở Việt Nam, ta thấy : thời đại nhà Đường ( 618 - 907 )

khoảng 300 năm, đối chiếu với lịch sử Việt Nam, đó là từ thời Bắc thuộc trải qua các thời

Mai Hắc Đế ( 722 ), Bố Cái Đại Vương ( 791 ) bước sang triều đại Ngô Vương Quyền { 939

- 967 )... Khi thơ Đường đang hưng thịnh, nhiều nhà thơ có tiếng của nhà Đường đã có những

cuộc tiếp xúc với thiền sư Việt Nam. Theo Kiến văn tiểu lục của Lê Quí Đôn, nhà thơ Thẩm

Thuyên Kỳ, rất nổi tiếng ở thời Trung Đường đầu thế kỷ thứ VIN, đã yết kiến Vô Ngại

thượng nhân chùa Sơn Tĩnh, quận Cửu Chân ( nay là Thanh Hóa ) và tặng một bài thơ, nhà

thơ Giả Đảo cũng có làm thơ tiễn nhà sư Duy Giám, người An Nam. Trương Tịch cũng làm

thơ tặng nhà sư quận Nhật Nam, đất Việt... các bài thơ ấy hiện vẫn còn. Tiếc rằng; người ta

không lưu giữ được thơ của các thiền sư người Việt Nam trong cuộc trao đổi văn chương,

thiền học. Các thiền sư thời ấy thường có học vấn uyên bác, lại gặp nhau ở nơi đất núi, thiền

môn. Một bên ưu ái tặng thơ. Một bên, hẳn cũng có thơ tạ lại lòng mến mộ.

Đó là những lý do thơ Đường có mặt rất sớm ở Việt Nam. Nhà sư Viên Chiếu ( 998 -

1090 ) trong Thiền uyển tập anh đã có những bài luật thất ngôn, song chỉ được trích đoạn chứ

không còn nguyên vẹn cả bài. Ví dụ :

Giốc hưởng tùy phong xuyên trúc đáo

Sơn nham đái nguyệt quá tường lai.

hay : Vũ trích nham hoa : Tầng nữ lệ

Phong xao đình trúc : Bá Nha cầm

Đời Lý, triều đình mở khoa thi tam giáo, vị trí nho giáo được coi trọng. Những bậc túc

nho như Lý Đạo Thành, Đoạn Văn Khâm... đều là những người uyên bác. Trong Hoàng Việt

thi tuyển, Bùi Huy Bích có ghi lại bài thơ Đường luật của Đoạn Văn Khâm :

Vãn quảng trí thiền sự

Lâm loạn bạch thủ đoạn kinh thành

23

Phất thụ cao sơn viễn cánh hinh

Ủy nguyệt tỉnh cân xu thượng tịch

Hốt văn di lý yểm thiền quynh

Trai đình u điểu không đề nguyệt

Mô tháp thùy nhân vị tác minh

Đạo lữ bất tu thương vĩnh biệt.

Viện tiền sơn thủy thị chân hình.

Nói về ảnh hưởng của nước Tàu nói chung, Hán học nói riêng, trong đó có văn chương,

Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu ( Bộ GD ( Sài Gòn ) trung tâm học liệu tái

bản, 1968 ) viết : " Lương lại Tàu đã có bụng tốt mở mang việc học trong xứ ta... học sinh

người Nam sang du học ở Tàu" . Tác giả nhắc đến "Khương Công Phụ ở về đời Đường Đức

Tôn ( 789 - 804 ) đậu tiến sĩ, làm quan đến chức bình chương... các học sinh thành tài về

nước đem những điều mình đã học mà truyền dạy cho người đồng bang... Cái gương học sinh

thành tài được hiểu đạt, vinh dự làm cho các người trong nước mến lòng mà châm chỉ học

tập, nhờ đó mà Hán học ngày càng lan rộng trong dân gian" ( trang 55 ). Tác giả không nói rõ

những học sinh du học ở Trung Quốc về nước truyền dạy cho đồng bang những gì nhưng ta

biết chắc chắn có dạy phép làm thơ ( ở Trung Quốc, từ năm 681, thơ Đường luật được đưa

vào thi cử để lựa chọn nhân tài ).

Ở Việt Nam, từ thế kỷ thứ XI trở về sau, nhân tài được lựa chọn qua thi cử ngày càng

nhiều, khoa thi ở các triều đại Lý, Trần, Lê... sĩ tử đều phải thi thơ, mà thơ thì chính là thơ

Đường luật. Bằng con đường như thế, thơ Đường luật của Việt Nam xuất hiện ngày càng

nhiều trong tiến trình văn học dân tộc.

Khi có chữ Nôm, các bậc đại trí thức, thi nhân Việt Nam, bên cạnh các sáng tác văn

chương bằng chữ Hán đã sáng tạo ra một kho tàng phong phú thơ, câu đối... bằng chữ Nôm,

trong đó có thơ Đường luật mang đậm bản sắc Việt Nam về nội dung cũng như hình thức.

Mặt khác, khi tiếp thu các yếu tố ngoại lai trong lĩnh vực văn học trong đó có thơ

Đường luật, dân tộc ta đã xây dựng từ trước cho mình một vốn văn học khá phong phú, bền

vững. về loại có đủ tự sự, trữ tình, sân khấu. Về thể có các thể thơ dân tộc : mỗi dòng thơ có

thể hai, ba, bốn, năm hay sáu chữ. Phổ biến nhất là mỗi dòng bốn chữ ( chẳng hạn các bài

đồng giao: Tùng dinh tùng dinh, Nu na nu nống, Ông giẳng ông giăng... ), là các câu tục ngữ,

ca dao, dân ca, câu đố, hò vè..., các bài ca trù, lục bát, song thất lục bát... Chúng ta cũng có

24

kho tàng phong phú truyện dân gian : thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn,

truyện cười... Trong thần thoại ở cuối bài Thần trụ trời, người ta còn ghi được mấy câu hát

trong dân gian lưu truyền đến ngày nay :

Ông đếm cát

Ông tát bể ( biển )

Ông kể sao

Ông đào sông

Ông trồng cây

Ông xây rú ( núi )

Ông trụ trời...

Hơn nưa, việc mô phỏng hay Việt hóa một thể thơ cổ Trung Quốc không phải xuất phát

từ một sự tùy tiện mà phải dựa vào qui luật của từ, ngừ pháp, ngừ điệu... Chẳng hạn, khi xét

về đặc trưng hình thức, câu thơ của ta có chỗ gần gũi với thơ cổ Trung Quốc, do chỗ về mặt

loại hình, tiếng Việt và tiếng Hán gần nhau : cả hai đều thuộc loại ngôn ngữ đơn lập - âm tiết

tính, ở một mức độ nhất định giống nhau về qui luật bằng trắc, thanh điệu. Cấu trúc ngữ pháp

cũng gần nhau, vì lẽ đó mà " Câu thơ cổ điển của Trung Quốc cứ đi vào âm điệu thơ Việt

Nam êm ru chẳng chút ngỡ ngàng " ( Đặc điểm có tính qui luật của lịch sử văn học Việt Nam,

Lê Trí Viễn, ĐHSP TP.HCM,1984, trang 109 ). Cho nên việc ta không nhập được thể thơ của

một số nước khác cũng là điều dễ hiểu.

2.1.2 Chữ Nôm và những sáng tác thơ chữ Nôm trước khi Nguyễn Trãi viết Quốc

âm thi tập:

Lịch sử tiếng nói và chữ viết của ta khá phức tạp - Việt Nam là một quốc gia nhiều dân

tộc. Mỗi dân tộc có ngôn ngữ riêng để giao tiếp với các thành viên trong nội bộ từng dân tộc.

Khi thành viên của dân tộc này giao tiếp với một thành viên của dân tộc khác, họ thường

dùng đến tiếng Việt. Dần dần, tiếng Việt được các dân tộc sống chung trên dải đất Việt Nam

dùng làm công cụ giao tiếp chung, trở thành ngôn ngữ phổ thông. Về nguồn gốc, qua kết quả

nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, tiếng Việt cùng với dân tộc Việt có nguồn gốc bản địa

rất đậm nét. Tiếng Việt có quan hệ họ hàng gần gũi với các ngôn ngữ khác ở Việt Nam, ở khu

vực Đông Nam Á. Dựa vào nhưng cứ liệu mới nhất, nhiều nhà nghiên cứu lịch sử và ngôn

ngữ đã đưa ra một giả thiết nhiều sức thuyết phục: tiếng Việt bắt nguồn từ một ngữ hệ lớn

sinh thành trong khung cảnh Đông Nam Á thời tiền sử: ngữ hệ Đông Nam Á . Địa bàn của nó

bao trùm cả một vùng rộng lớn, từ bờ sông Dương Tử ( Trung Quốc ) cho tới vùng Atsam

25

( Mianma ) vùng núi và cao nguyên nay thuộc đất Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia ... và

về phía nam thì lan tỏa tới các bán đảo và đảo giáp với châu Đại dương. Trong nhiều thiên

niên kỷ, do tác động, tiếp xúc với các ngôn ngữ thuộc các loại hình khác, ngữ hệ này đã phân

chia thành một số dòng. Trong đó, đáng chú ý hơn là dòng Môn- Khơ me phân bố ở vùng cao

nguyên nam Đông Dương và miền phụ cận vùng núi phía bắc Đông Dương. Điều đó giúp

chúng ta hiểu thêm giữa tiếng Việt và tiếng Hán có thể có họ hàng từ thời xa xưa.

Để ghi tiếng Việt, từ trước Bắc thuộc, có lẽ người Việt đã có chữ viết riêng của mình và

chữ ấy " hình thù như con nòng nọc " ( Đặc điểm có tính qui luật của lịch sử văn học

Việt Nam, Lê Trí Viễn, ĐHSP TP.HCM,1984 ); " có một hệ thống chữ viết cổ thời kỳ văn

minh Đông Sơn phát triển rực rỡ ở khoảng thế kỷ IV trước công nguyên, trước khi người Hán

vào xâm lược, đô hộ đất nước của người Việt Cổ hơn một nghìn năm và đến năm 938 đã bị

đánh đuổi về phương Bắc " ( Báo ảnh Việt Nam, số 291, tháng 3/1983 - bài viết của Hà

Văn Tấn ).

Cứ như hình thức văn tự còn đến ngày nay, từ xưa đến nay, để ghi tiếng Việt, người

Việt trước dùng chữ Nôm, sau dùng chữ Quốc ngữ.

Chữ Nôm ra đời trong hoàn cảnh nào ? Tiến trình của nó ở giai đoạn hình thành ra sao

? Ai là người đầu tiên sáng tạo ra chữ Nôm ? Kết quả nghiên cứu gần đây đã hé mở vài điều

có thể tin được.

Trong Nghiên cứu về chữ Nôm ( Nxb KHXH, Hà Nội, 1981 ) Lê Văn Quán dựa vào

những cứ liệu lịch sử ngữ âm tiếng Hán và tiếng Việt đã phán đoán: " chữ Nôm của chúng ta

hiện có chỉ có thể hình thành vào khoảng thế kỷ VIII, IX. Nói một cách cụ thể tức là khi hệ

thống thanh điệu tiếng Hán đã có đủ bốn thanh : bình, thượng, khứ, nhập và hệ thống thanh

điệu tiếng Việt đã có đủ sáu thanh : ngang ( không ), huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng, " ( trang 61 ).

Trần Ngọc Thêm " chữ Nôm manh nha từ cuối giai đoạn chống Bắc thuộc và hình thành từ

đầu Đại Việt " ( Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb TP.HCM , 1996, trang 102 ) ...

Xác định thời gian ra đời của chữ Nôm nhìn chung thống nhất.

Nói về nguyên nhân ra đời của chữ Nôm, theo Dương Quảng Hàm: Duy có một điều

chắc chắn là đến khi các bậc học giả trong nước muốn làm thơ văn bằng tiếng Nam, thì

không có chữ Việt, phải đặt ra thứ chữ để viết tiếng ta, tức là chữ Nôm là thứ chữ đã dùng để

viết các tác phẩm bằng Việt văn cho đến khi ta biết dùng chữ Quốc ngữ " ( Sđđ, trang 1 1 3 ) ;

" cho sự thúc đẩy của tinh thần dán tộc, nhất là khi nước nhà giành được quyền tự chủ " (

Lịch sử văn học Việt Nam, Lê Trí Viễn, ĐHSP TP.HCM,1985, trang 8 ). Chữ Nôm ra đời

củng có thể do âm mưu, yêu cầu của giai cấp phong kiến Trung Quốc dùng để ghi tiếng Việt 26

phục vụ cho mục đích thống trị của chúng.

Sự ra đời của chữ Nôm, tiếng Việt văn học cùng với nền văn học viết bằng tiếng nói

của dân tộc được hình thành và phát triển.

Nó được khẳng định ở thế kỷ XV với Quốc âm t hi tập của Nguyễn Trãi, thơ của Lê

Thánh Tông và hội Tao Đàn; phác triển đến đỉnh cao vào thế kỷ XVIII, XIX với những sáng

tác của Nguyễn Du ( 1765 - 1820 ), Nguyễn Công Trứ ( 1778 - 1 858 ), Hồ Xuân Hương ( ? -

? ) và sau đó là của Nguyễn Khuyến ( 1835 - 1909 ), Trần Tế Xương ( 1870 - 1907 ) ...

Chữ Nôm ra đời thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần sáng tạo của nhân dân ta. Tuy nhiên,

do giai cấp thống trị có khi khinh rẻ, kìm hãm tiếng nói, chữ viết của dân tộc ( năm 1963,

Trinh Tạc chủ trương cấm in truyện Nôm. Sau đó, Trịnh Cương, Trịnh Doanh làm theo) sùng

bái chữ Hán, tác dụng của nó, vì thế, có lúc bị hạn chế. Tuy nhiên, chữ Nôm có một số hạn

chế như :

Một chữ có thể viết bằng nhiều cách ( chữ đến chẳng hạn )

Một chữ có thể viết đọc bằng hai cách : bản và vốn. Ví dụ :

Vốn dòng họ Hoạn danh gia

Bản sư rồi cũng đến sau.

- Có những phụ âm trong tiếng Việt như : g, r , hay nguyên âm ghép như : au, eo, en, on

... thì tiếng Hán không có. Do đó, khó có chữ phiên âm cho đúng, có thể bị đọc chệch đi ...

Từ thế kỷ XIX, đặc biệt sang thế kỷ XX, chữ quốc ngữ ( theo mẫu tự la tinh ) tiện lợi

hơn chữ Nôm, chúng ta chuyển sang dùng quốc ngữ. Ngày nay, chữ Nôm chỉ dùng trong các

viện nghiên cứu, trường đại học để tìm hiểu các di sản văn hóa, văn học của dân tộc, cho thầy

cô giáo giảng dạy văn học. Trong các ngày lễ, tết, mừng thọ, ăn tân gia ... các vị nho học vẫn

dùng chữ Nôm để làm thơ, viết câu đối, để tăng phần trang trọng.

Trở lại thời trung đại, theo ông Bùi Văn Nguyên ( trong L ịch sử văn học Việt

Nam, tập 2, Nxb giáo dục, 1978 ) thì " từ thế kỷ XV, ngay ở lĩnh vực khoa học tự

nhiên, chữ Nôm đã được dùng để soạn sách thuốc ... soạn các sách về tôn giáo ... về

văn học, sử học. Hương Hải Thiền sư, người Chân Phúc dịch và soạn nhiều sách phật

bằng quốc âm ( trang 100 ).

Điều làm cho các sáng tác chữ Nôm ngày nhiều, chất lượng ngày càng cao là do

các nhà trí thức, nhà thơ lớn của dân tộc, xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, khoa cử

phong kiến như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm , Nguyễn Khuyến ...

27

đỗ đạt cao, tinh thông Hán học, bên cạnh các sáng tác bằng chữ Hán vẫn có một bộ

phận không nhỏ viết bằng chữ Nôm . ở Nguyễn Khuyến lại có hiện tượng : Gần hai

chục bài thơ vừa sáng tác bằng chữ Hán vừa sáng tác bằng chữ Nôm. Chắc chắn là

không phải là khoe khoang chữ nghĩa . Đây chính là ý thức, là tình cảm đối với tiếng

nói và chữ viết của dân tộc. Phải chăng ông muốn nói với chúng ta : cùng một nội

dung thể hiện, cùng một thể loại văn học, nếu được sáng tác bằng chữ Hán hay bằng

chữ Nôm đều có thể thành công cả, chữ Nôm chẳng thua gì chữ Hán ?.

Một điều mà giới nghiên cứu văn học vẫn quan tâm là văn học viết Việt Nam

có thể có trước thế kỷ thứ X không? Các sáng tác thơ chữ Nôm Đường luật đầu tiên

bài nào, của ai? Khó khăn có nhiều. Tổ tiên ta nhiều khi chưa làm nổi công việc mà

ngày nay ta gọi là lưu trữ, bảo tồn. Giai cấp thống trị có thời thu, đốt các văn bản

chữ Nôm. Bọn xâm lược không những vơ vét của cải vật chất mà còn hủy diệt các

giá trị văn hoóa, tinh thần của ta. Trong Lịch sử văn học Việt Nam ( ĐHSP TP.HCM,

1985 ) Lê Trí Viễn có trích lời của Phan Huy Chú ( 1782-1840 ) trong Lịch triều

hiến chương: " Đến Lý, Trần, văn vật mở mang ... văn chương nẩy nở như rừng ...

Nếu chẳng phải trải qua cướp bóc, đốt phá mà hóa tro tàn, thì hẳn là trâu kéo đến

toát mồ hôi, chứa đầy đến tận xà nhà. " Lý Tử Tấn ( 1378 - 1454 ) cho rằng " Phần

còn lại chỉ là một hai trong trăm ngàn phần". Sách ấy còn viết: "năm 1406, tên tướng

giặc Chu Năng đã hành động theo lệnh sau đây của Minh Thành Tổ: " một khi binh lính

vào nước Nam, trừ các sách kinh và bản in của đạo Phật, đạo Lão thì không tiêu hủy, ngoài

ra, hết thảy mọi sách vở ... một mảnh, một chữ cùng phải đốt hết " ( trang 30 ). Sau này, do

thiên tai địch họa thường xuyên xảy ra, các giá trị văn hóa và tinh thần của dân tộc, trong đó

có thơ Nôm Đường luật khó lòng mà tồn tại đầy đủ ?

May thay, nhân dân ta vốn quý trọng những sản phẩm tinh thần của dân tộc, nhiều tác

phẩm văn học vẫn được bảo vệ, giữ gìn. Những sáng tác thơ Đường luật chữ Hán như Nam

quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt ( 1019 - 1105 ), Cáo tật thị chúng của Mãn giác Thiền sư

( 1052 - 1096 ), Ngôn hoài và Ngư nhàn của Không Lộ Thiên sư ... vẫn tồn tại trong đời sống

văn học .

Nói về các sáng tác thơ Nôm trước khi Nguyễn Trãi viết Quốc âm thi tập , các nhà

nghiên cứu đã dày công sưu tập, giới thiệu. Có thể kể :

Trong Việt Nam văn học sử yếu ( Học chánh Đông Dương, Hà Nội, 1942 ) do Trung

tâm học liệu ( Sg ) in lại 1968, Dương Quảng Hàm giới thiệu Hàn Thuyên biết dùng Đường

luật sáng tác thơ Quốc âm . Hàn Thuyên có Phi sa tập, trong đó có nhiều bài bằng Quốc âm,

28

tiếc rằng tập ấy nay không còn nữa. Nguyễn Sĩ Cố có tài làm thơ phú Quốc âm. Chu Văn An

có Quốc ngữ thi tập ... ( theo Lê Trí Viễn, chữ Quốc âm không hẳn là tiếng Việt).

Cuốn Tác giả văn học Việt Nam ( Nxb giáo dục, 1 990 ) các tác giả Nguyễn Đình Chú,

Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn An không nhắc đến Hàn Thuyên, lý do không rõ. Sách giới

thiệu Trần Nhân Tông ( 1258 - 1308 ) là tác giả Việt âm thi tập gồm 25 bài (trang 15, 16).

Chu Văn An ( ? - 1370 ) " là tác giả Tiều ẩn Quốc ngữ thi tập ( chữ Nôm ). Tiếc rằng phần

trước tác khá lớn của ông nay đã mất " ( trang 24 ). Lại nói đến ông Dương Quảng Hàm (

trong Sđd ) có viết về Hồ Quý Ly, tiếm ngôi nhà Trấn, làm vua năm 1400, cũng hay làm thơ

Nôm. " Đến năm 1437, vua Lê Thái Tông muốn xem phủ chiếu và thơ văn của họ Hồ,

Nguyễn Trãi thu tập lục ra, được mấy chục thiên thơ văn Quốc ngữ dâng lên ngài xem. Xem

thế thì biết họ Hồ từng làm nhiều thơ viết bằng Quốc âm " ( trang 120 ).

Nhưng bài thơ, tập thơ trên hiện không còn. Chỉ có bốn câu thơ của nàng Điểm Bích (

hiệu Tam Nương ) đang lưu truyền :

Vằng vặc trăng mai ánh nước

Hiu hiu gió trúc ngâm sênh

Người hòa tươi đốt cảnh mùa lạ

Màu Thích ca nào thuở hữu tình

và một bài thơ chữ Nôm do Hồ Quí Ly tự dịch bài thơ chữ Hán của mình ra:

Canh cải nhiều đường tử phục sinh

Lòng lo hương lý ở bao đành

Quê người dễ thấy đầu dần bạc

Quán khách khôn cầm tóc trắng xanh

Tướng quốc ắt chăng tài Lý Bật

Thiên đô còn phải hận Bàn Canh

Kim âu dường khuyết khôn hàn được

Đợi gia cho nên biết ngọc lành.

( Theo Thiên nam ngữ lục )

Thơ Nôm trong văn học viết là vậy. Thơ Nôm trong dân gian ra sao ? Lĩnh Nam Chích

Quái ( Nxb văn hóa, 1960 ) tập truyện cổ dân gian do Kiều Phú ( 1450 - ? ), Vũ Quỳnh (

29

1453 - 1516 ) sưu t ập, ở truyện Hà ô Lôi có ghi mấy câu thơ Nôm :

- Chỉn đà náu đến xin làm tôi

Đành hay thiên tiên phúc để Lôi ( trang 94 )

- Mang mang mặt mắt cháy ma lem

Kẻ chợ khát, người qua mới thèm

Nhẫn có hoàng kim thanh sắc ấy

Mang mang mặt mũi thế soi xem ( trang 94 )

- Sinh tử do trời có quản bao

Nam nhi miễn đã được anh hào

Chết vì thanh sắc cam là chết

Chết việc ốm đau cơm gạo nào ( trang 95 )

Ở đầu truyện, tác giả còn ghi rõ năm Thiệu Phong, đời Trần Dụ Tông ( 1336 - 1369 ) là

thời gian xảy ra câu chuyện. Những câu thơ đó được sáng tác vào giai đoạn đó hay người đời

sau ghép vào cho câu chuyện thêm phần sinh động?

Từ sự khảo sát trên, chúng tôi nhận thấy : Việc ra đời của chữ Nôm thể hiện tinh thần

sáng tạo, ý thức tự chủ, tinh thần dân tộc của tổ tiên ta. Số phận chữ Nôm có khi bị khinh rẻ,

bạc đãi nhưng tổng quan, nó được nhân dân ta, nhất là phần lớn trí thức phong kiến tôn trọng,

dùng nhiều trong sáng tác văn chương, trong đó có thơ Nôm luật Đường. Đó là một biểu hiện

quan trọng của việc Việt hóa thể thơ này. Đúng như Phương Lựu đánh giá : "Ngoại trừ những

nguyên nhân lịch sử và khách quan...thì không thể quan niệm một tác phẩm văn chương có

tính dân tộc toàn vẹn mà lại viết bằng tiếng nước ngoài" ( Tìm hiểu một nguyên lý văn

chương, Nxb KHXH, Hà Nội, 1983, trang 130 ).

Mặt khác, trước khi Nguyễn Trãi viết Quốc âm thi tập, chữ Nôm đã được dùng nhưng

chưa nhiều trong sáng tác văn chương. Điều đó giúp người đánh giá không chút băn khoăn

khi khẳng định : " Nguyễn Trãi đã sử dụng một vốn từ tiếng Việt phong phú bậc nhất vào

thời ấy để sáng tác thơ ( Từ điển văn học, tập II, Nxb K H X H , 1984, trang 259 ). Quá trình

phân tích sẽ góp phần làm rõ cái mốc quan trọng của tiếng Việt chữ Nôm qua Quốc â m thi

tập trước đó: như đã nêu, chưa có gì đáng kể.

30

2.2 Sự phát triển về hình thức của thể thơ thất ngôn bát cú chữ nôm ở phương diện cấu trúc, nhịp điệu:

2.2.1 Về cấu trúc:

2.2.1.1Hiện tượng xen câu lục ngôn:

Như đã tìm hiểu ở trên, thơ thất ngôn bát cú sở dĩ gọi như vậy vì mỗi bài có tám dòng

thơ, mỗi dòng có bảy chữ, có niêm luật chặt chẽ. Nó là thể thơ có nguồn gốc từ Trung Quốc,

được nhập vào nước ta. Các nhà thơ lớn Việt Nam như Nguyễn Trãi, Nguyền Bỉnh Khiêm,

Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến đã có nhiều bài thơ được sáng tác theo thể này cả bằng

chữ Hán lẫn chữ Nôm. Tìm hiểu mảng thơ Nôm Đường luật của các tác giả trên, chúng ta

nhận thấy về mặt hình thức, có một bộ phận khá lớn bài thơ tuân thủ nghiêm túc luật thơ

Đường. Đó là Tự thuật ( bài 9 ), Bảo kính cảnh giới ( Bài 31 ),... của Nguyễn Trãi,Thơ

Nôm bài số 10, 73, 74... của Nguyễn Bỉnh Khiêm...; và hầu hết thơ của Hồ Xuân Hương,

Nguyễn Khuyến. Ví dụ:

- Của Nguyễn Trải :

Chân mềm ngại bước dặm mây xanh

Quê cũ tìm về, cảnh cũ thanh

Hương cách gác vân thu lạnh lạnh

Thuyền kề bãi tuyết nguyệt chênh chênh

Ơn tư là ý yêu dường chúa

Lỗi thác vì nơi lụy bởi danh

Bui có một niềm trung hiếu cũ

Chẳng nằm, thức dậy nẻo ba canh

Bảo kính cảnh giới - bàí

- Của Nguvễn Bỉnh Khiêm :

Tháng mảng đà qua, ngày đã rồi

Hay yên thửa phận mới yên vui

Bóng hoa lệ động, am chưa phất

Măng trúc còn tươi, bếp mối sôi

Hội cả công danh, nhiều thỏa chí

31

Thú nhãn sơ dã, mấy hay mùi

Làm người chớ thấy tài mà cậy

Có nhọn bao nhiêu lại có tùi

Bài 10

Bên cạnh đó, chúng ta cũng bắt gặp khá nhiều bài thơ có đủ tám dòng thơ (trừ một số

bài của Nguyễn Bỉnh Khiêm , do bị rách, bị nhòe bản gốc nên chỉ giới thiệu được lục cú )

nhưng số chữ trong dòng không phải là bảy mà là sáu, năm, trong đó sáu là phổ biến, năm chỉ

có vài câu. Ông Dương Quảng Hàm gọi đây là thể lục ngôn. Thể này, ở đời nhà Trần ( thời

Trần Minh Tông - thế kỷ XIV ) đã có nàng Điểm Bích dùng :

" Vằng vặc trăng mai ánh nước

Hiu hiu gió trúc ngâm sênh "

Người hòa tươi tốt cảnh hỏa lạ

Màu thích ca nào thuở hữu tình

Về hình thức, bài thơ thuộc loại tuyệt cú. Các câu trong bài không còn mỗi câu đều bảy

chữ nữa. Hai câu đầu sáu chữ, hai câu sau bảy chữ. Lời lẽ đọc lên, ta nghe như thoát xác hẳn

lối thơ Đường .

Đến Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, dạng thơ này được viết khá nhiều, khá linh

hoạt và cùng có những thể thức, luật lệ riêng. Sang thế kỷ XVI, Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp tục

sử dụng nhưng mức độ ít dần. Đầu thế kỷ XIX, trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương chỉ còn lại

vài câu. Qua Nguyễn Khuyến ( 1835 - 1939 ) hiện tượng câu lục ngôn chen trong thất ngôn

không còn nữa.

Nhìn chung, niêm luật ở lối thơ thất ngôn xen lục ngôn vẫn theo luật chung bằng trắc,

đối ngẫu của Đường luật. Điều khác lạ là có thể đưa nhưng câu thơ sáu chữ, ( câu lục, lục

ngôn ) xen vào những câu bảy chữ trong một bài tám câu. Ví dụ :

Án tuyết mười thu uổng độc thư

Kẻo còn lọt lọt chữ Tương Như

Nước non kể khắp, quê Hà Hữu

Sự nghiệp nhàn khoe phú Tử Hư

Cọn mắt xanh, dầu dễ bạc

32

Lưng khôn uốn, lộc nên từ

Ai ai đều đã bằng câu hết

Nước chẳng còn có Sử Ngư

Mạn thuật - bài 14 - Nguyễn Trãi

hay bài thơ Nôm số 84 sau đây của Nguyễn Bỉnh Khiêm :

Giàu mặc phận, khó đâu bì

Đo thanh nhàn, khá nhất nhì

Vếu váo câu thơ cũ rích

Khe khá chén rượu hăng xì

Trăng thanh, gió mát là tương thức

Nước biếc, non xanh ấy cố tri

Thế sự đôi co, dầu thế sự

Rũ không thay thảy, chẳng hề chi.

( Bài số 84 )

hoặc một ví dụ trong thơ Hồ Xuân Hương ( ? - ? ) : bài Sư hổ mang.

Bài thơ có tám câu, câu đầu sáu chữ ( Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta ), bảy câu còn lại,

câu nào cũng bảy chữ.

Việc xen những câu sáu chữ giữa các câu thơ bảy chữ trong một bài thơ thất ngôn bát

cú cũng rất tự do, không thể qui định cụ thể. Câu lục, nếu câu lẻ thì tùy nghi đặt chỗ nào cũng

được. Ví dụ :

- Ở Nguyễn Trãi :

ít nhiều gửi kiến cành hoè

( Tự Thán - bài 14,câu thứ 8 )

Mây quyến khách, nguyệt vô tình

( Thuật hứng - bài 20 câu thứ 2 )

Rầy mừng thiên hạ hai của

( Thuật hứng - bài 20 câu thứ 7 )

33

- Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm :

Trời cũng biết nơi lành dữ

( Bài 1 câu thứ 7 )

Giàu chỉnh chện, khó lai rai

( Bài 2 câu thứ nhất) ...

Khi sử dụng câu lục lẻ ( không đi theo cặp ), nhà thơ phá vỡ tính cân đối về âm điệu

nhưng nội dung của câu lục, nhờ thế được nhấn mạnh thêm, nội dung của cặp câu như dồn

nén vào câu lục. Ví dụ: hai câu kết trong bài " Vô đề " của Nguyễn Trãi viết :

Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải

Góc thành nam, lều một gian

Gạt qua một bên việc xác định hoàn cảnh sáng tác bài thơ còn nhiều bàn luận ( khi

Nguyễn Trãi bị giặc Minh giam giữ trong thành Đông quan hay khi ông bị giam sau vụ án

Trần Nguyễn Hãn, lúc này ông chưa mất chức quan ) thì câu lục " Góc thành nam, lều một

gian " như góp phần khẳng định tính cách, bản lĩnh của Nguyễn Trãi : một cây tùng " lạt thuở

ba thu " một Nguyễn Trãi sừng sửng giữa cuộc đời, không lay chuyển.

Câu lục, nếu là hai câu liền nhau thì phải theo cặp :

Câu thứ nhất với câu thứ hai ( đề ) câu thứ ba với câu thứ tư ( thực ), câu thứ năm với

câu thứ sáu ( luận ), câu thứ bảy với câu thứ tám ( kết ). Ví dụ :

- Ở Nguyễn Trãi :

Sánh trần náu chú sơn lâm

Lá thông còn tiếng trúc cầm

(Thuật hứng - bài 25 - cặp lục câu 1, 2 )

Nhật nguyệt dễ qua bên sáng

Cương thường khôn biết tấc son

( Tự thán - bài 27 – cặp lục câu 3, 4 )

Trì cỏ được câu ngâm gió

Hiên mai cầm chén hỏi trăng

( Mạn thuật - bài 1, cặp lục 5, 6 )

34

Một bài thơ tám câu, có thể đến bảy câu lục, không có bài nào cả tám câu đều là câu

lục.

Ở Nguyên Bỉnh Khiêm, tình hình cũng tương tự. Ví dụ :

Vời vợi xuân xanh nữa tên

Già càng khỏe, khó càng bền

( Bài 7, câu 1 và 2 ).

Hoa nở, luống hay tin gió

Đầm thanh, còn thấy dáng trăng

( Bài 16, câu 3 và 4 )

Sang có phận là ơn chúa

Được làm người bởi đức cha

( Bài 14, câu 5 và 6 ).

Ai hỏi làm gì vui nữa

Thưa rằng một sự làm lành

( Bài 15, câu 7 và 8 )

Không thuộc đối tượng khảo sát, Chùa non nước trong Hồng Đức Quốc âm thi tập, cả

tám câu đều là câu lục .

Với Hồ Xuân Hương, số câu lục được sử dụng trong thơ Đường luật rất ít, ( có ba bài

sử dụng câu lục, mỗi bài chỉ có một câu và đều ở vị trí câu 1 ).

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy các câu lục không đi theo cặp ở các câu thứ 2 và thứ

3, thứ 4 và thứ 5, thứ 6 và thứ 7.

Về số lượng bài thơ có câu thơ sáu chữ, qua khảo sát chúng tôi được kết quả : Ở Quốc

âm thi tập là 127 bài/180 bài, đạt tỷ lệ 70,6% trong 1 2 7 thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm là

1 4 bài/127 bài, đạt t ỉ lệ 11,9%. ở Hồ Xuân Hương có 3 bài sử dụng câu lục. Trong 3 bài đó

có 2 bài tứ tuyệt, 1 bài bát cú. Tỷ lệ không đáng kể so với hai tác giả trên. Tỷ lệ trên cho phép

ta kết luận: số bài có câu thơ sáu chữ giảm dần từ Nguyễn Trãi qua Nguyễn Bỉnh Khiêm, đến

Hồ Xuân Hương còn nhưng không đáng kể, với Nguyễn Khuyến không có bài nào.

Nếu tính số bài có 5 câu thơ 6 chữ ( năm câu lục ) trở lên thì Quốc âm thi tập của

Nguyễn Trãi nhiều hơn đáng kể so với Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm .

35

Nếu Quốc âm thi tập, là 14 bài /127 bài, tỷ lệ 1 1 % thì Bạch Vân quốc ngữ thi tập là 1 bài/76

bài, tỷ lệ chỉ còn 1,3%. Bài có 7 câu thơ 6 chữ Quốc âm thi tập có 1, Bạch Vân quốc ngữ thi

tập không có bài nào. Thơ Nôm thất ngôn bát cú Hồ Xuân Hương , Nguyễn Khuyến loại này

không có bài nào. Điều đó giúp chúng ta khẳng định: từ Nguyễn Trãi qua Nguyễn Bỉnh

Khiêm, Hồ Xuân Hương và Nguyễn Khuyến, chiều hướng chung nổi bật của thể thơ thất

ngôn xen lục ngôn giảm mạnh từ chỗ dùng nhiều câu lục ngôn trong một bài, nhiều bài sử

dụng câu lục ngôn đến chỗ không có bài nào sử dụng câu lục nữa.

Xét qua nội dung câu thơ lục ngôn, trong bài " Góp phần xác định tác giả ... đăng trên

Tạp chí Hán Nôm ( Viện nghiên cứu Hán Nôm. UBKH xã hội Việt Nam số 2 ( 7 ) 1989, Lã

Nhâm Thìn viết : " câu thơ sáu chữ của Nguyễn Trãi chuyển tải tất cả những nội dung mà tác

giả cần thông báo: tình yêu thiên nhiên, vẻ đẹp của phong cảnh, nhân tình và thế sự, đạo đức

và phẩm chất người quân tử, đời sống cá nhân và thời cuộc xã hội ... Nhưng câu thơ sáu chữ

trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập thì không hẳn như vậy. Có nhưng nội dung câu thơ sáu chữ

của Nguyễn Bỉnh Khiêm không đề cập đến, ngược lại, có những nội dung câu thơ sáu chữ

của ông nói tới khá nhiều : ánh thiên nhiên và thế sự " ( trang 5 ). Còn Hồ Xuân Hương qua

các câu lục: - Anh đồ tỉnh, anh đồ say?

- Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta !

làm cho người đọc ngờ vực về trạng thái thực, hư, say tỉnh của anh đồ khi ghẹo gái hay

cái hình dạng kỳ quái của nhà tu hành.

Nhận xét về câu thơ lục ngôn trong thơ bát cú của Nguyễn Trãi , giáo sư Nguyễn Lộc

viết: " Ở Nguyễn Trãi có nhiều câu lục ngôn rất hay " và giải thích tại sao dùng lục ngôn như

sau : " có lẽ ở Nguyễn Trãi dùng sáu từ là đủ" ( Hội về thơ Nôm Đường luật ).

Qua tìm hiểu ta thấy câu lục ngôn của Nguyễn Trãi có âm điệu rắn chắc. Âm điệu đó

góp phần quan trọng vào việc khẳng định một triết lý về nhân sinh; ví dụ :

Con mắt xanh, đầu dễ bạc

Lưng khôn uốn, lộc nên từ

Mạn thuật - bài 14

Với cách ngắt nhịp 3/3 tạo sự cân đối cho âm điệu dòng thơ; " anh " đối bạc "; " khôn

non " đối với "nên từ " ... giúp ta hiểu được lẽ sống, tính cách xử thế của Nguyễn Trãi : trong

sạch, cao thượng, dứt khoát.

Tại sao Nguyễn Trãi sử dụng câu lục ngôn xen thất ngôn trong một bài bát cú ? câu trả

36

lời thật không đơn giản. Bản thân Nguyễn Trãi không viết một câu nào giải thích cho vấn đề

này. Do nội dung thể hiện qui định? Rất có thể như vậy. Vì viết như thế làm cho âm điệu của

bài thơ không đơn điệu, dễ phù hợp với cảm xúc chân thật, vừa sâu sắc vừa giản dị của tác

giả . Đây cũng có thể là Nguyễn Trãi tìm tòi, thể nghiệm một thể thơ riêng cho quốc gia vói

tinh thần dân tộc đậm nét. " thể thơ luật ngôn, nói đúng hơn là thể thất ngôn bát cú có chen

vào nhưng câu lục ngôn, đó là sự thay đổi có thể là một thí nghiệm tìm tòi một âm điệu mới

ra ngoài khuôn phép luật Đường " (Giáo trình tổng quan Văn chương Việt Nam - Lê Trí

Viễn, TTĐTTX, ĐH Huế, 1995, trang 54 ). " Đó là thơ Việt đang trên xu thế định hình " ( Từ

điển văn học , Nxb KHXH, Hà Nội 1984, tập 2, trang 258 ).

Qua thơ văn Nguyền Trai, nhất là UQuân trung từ mệnhU và UBình Ngô đại cáo U , ta thấy

ông bộc lộ rõ tính cách của mình. Đó là người trọn đời hiến dâng tâm hồn, tài trí của mình vì

lý tưởng trung quân, ái quốc, vì độc lập Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân với tư tưởng nhân

nghĩa sâu sắc. Để thực hiện lý tưởng đó, Nguyễn Trãi tỏ ra bậc thầy trong việc đối phó, ứng

xử với giặc Minh: kiên quyết đánh đuổi, tiêu diệt. Mục tiêu đó là kiên định, nhất quán, đúng

đắn. Tuy nhiên, tùy khi, tùy lúc mà ông có phương pháp thích hợp: khi mềm dẻo, thuyết

phục; khi kiên quyết, quyết liệt. Phải chăng tính cách đó của ông được thể hiện phần nào qua

cách sử dụng lục ngôn xen thất ngôn trong thơ bát cú?

Việc sử dụng câu lục trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm khá nhiều. Phải chăng đây là sự

tiếp tục tìm tòi, thể nghiệm một thể thơ nhập từ Trung Quốc , với một tinh thần tự chủ, ý thức

dân tộc và óc sáng tạo? Một nhà nghiên cứu đã viết "có thể trước đó người ta đã viết như thế

thì bây giờ Nguyễn Bỉnh Khiêm kế thừa chứ không phải cần viết lục ngôn nên viết lục ngôn".

Theo chúng tôi, ý kiến chưa thỏa đáng, một người đỗ trạng nguyên, có nhiều học trò giỏi, đỗ

đạt cao, bản thân được vua chúa, nhân dân tôn kính làm bậc quốc sư, người đời sau coi là

" cây đại thụ về tư tưởng, học vấn " che rợp cả thế kỷ XVI, không lẽ khi viết thơ Nôm luật

Đường sử dụng câu lục ngôn xen câu thất ngôn chỉ là sự học theo một cách máy móc.

Thơ Hồ Xuân Hương có mấy câu lục ngôn chắc hẳn không còn là sự thể nghiệm một

lối thơ mới cho dân tộc mà là bộc lộ một cá tính, một phong cách thơ độc đáo, một " nốt ruồi

duyên " trong thơ. Tác dụng của câu lục thơ Xuân Hương thường tạo cho người đọc sự nghi

ngờ về đối tượng được nói tới. Ví dụ :

Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta

( Sư hổ mang )

" Ngô " chỉ người Trung Quốc với nghĩa không tốt. Nhà Ngô ( thời Tam quốc, thế kỷ

37

III,IV ) thống trị nước ta rất tàn ác. Người Việt dùng từ Ngô với sắc thái không tôn trọng. "ta"

là người Việt, thời Xuân Hương, đàn ông, đàn bà đều để búi tóc. Như vậy, người đầu cạo

trọc lóc, áo mặc không tà kia chắc hẳn là sư ? Nội dung các câu còn lại của bài " Sư hổ mang

" đã khẳng định : Đó là kẻ đội lốt tu hành, làm nhiều điều bậy bạ, nhất là dâm tục. Sư chẳng

ra sư.

Tìm hiểu thơ Đường nói chung, thơ Đường luật nói riêng của Trung Quốc, ta thấy

Trung Quốc chỉ có những bài thơ mà mồi câu chỉ có 5 chữ hoặc 6 chữ hay 7 chữ, không có

những bài vừa có câu thơ 5 chữ xen câu thơ 6 chữ hay 7 chữ. Hiện tượng câu lục ngôn xen

câu thất ngôn, có khi xen cả ngũ ngôn ( Ví dụ: Thuật hứng - bài thứ 8 của Nguyễn Trãi có

xen hai câu ngũ ngôn :

Trẻ hòa sang ấy phúc

Già được trọn là tiên

Trong thơ thất ngôn bát cú chữ Nôm là một sự thể nghiệm mang tính chất độc đáo của

nhịp điệu trong thơ Việt Nam, khao khát xây dựng một lối thơ Việt Nam để bộc lộ bản sắc

dân tộc, muốn khẳng định mình bằng cách làm khác với Đường luật Trung Quốc. Lý giải sự

vắng mặt của hiện tượng trên trong thơ Nôm Đường luật thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX, trên

Tạp chí Tư tưởng ( Sài gòn ) số I năm 1973, trong bài viết " Những cố gắng nhằm ly khai thơ

Việt Nam ra khỏi thơ Tàu", Lý Văn Xung cho rằng : " lý do có lẽ là vì thể lục ngôn này nhịp

điệu tuy có sinh động nhưng âm điệu lại có tính chất khô khan và thô cọc, chưa phù hợp với

tâm hồn Việt Nam, cho nên đã bị đào thải " ( trang 143 ). Nhận xét trên xem ra chưa thỏa

đáng với thực tế sáng tác và tiếp nhận thơ Nôm luật Đường khi tác giả dùng từ " khô khan ",

" thô cộc ". Ngoài lý do trên , theo chúng tôi, khi sử dụng câu thơ lục ngôn xen giữa những

câu thất ngôn, các tác tác giả đã phá vỡ sự hài hòa âm dương trong dòng thơ và sự tương hợp

giữa nội dung và hình thức thơ Đường luật. Chỉ có câu thơ ngũ ngôn hay thất ngôn mới có số

âm tiết lẻ trên mỗi dòng thơ, để có nhịp chẵn lẻ 2/2/3; 4/3 ( chẵn - lẻ ) hay 3/4 ( lẻ - chẵn ) tạo

nên sự đối lập âm dương, tạo nên sự thống nhất, hài hòa của cặp đối lập âm dương.

Hơn nửa, đến thế kỷ XVIII, XIX, hai thể thơ lục bát và song thất lục bát đã hình thành,

phát triển, nhiều truyện thơ, khúc ngâm có giá trị ( Truyện Kiều, Chinh phụ Ngâm ... ) đã

khẳng định bản sắc dân tộc, sự tồn tại của câu lục ngôn trở nên không cần thiết.

2..2.1.2 Về đề, thực, luận, kết:

Như chương I đã tìm hiểu, một bài thơ thất ngôn bát cú thường có bốn phần : đề, thực,

luận, kết, mỗi phần hai câu, có nội dung , nhiệm vụ riêng. Thực tế sáng tác cho thấy các nhà

38

sáng tác thơ Nôm luật Đường có rất nhiều bài tuân thủ bố cục đó. Có thể kể : Tự thuật (bài 9),

Bảo kính cảnh giới ( bài 31 ) ... của Nguyễn Trãi; thơ Nôm bài số 36, 37, 38, 80, 88, 107 ...

của Nguyễn Bỉnh Khiêm: Dở dang, Lấy chồng chung ... của Hồ Xuân Hương; Thu vịnh, Thu

điếu ... của Nguyễn Khuyến là những bài như thế. Ví dụ :

- của Nguyễn Trãi : Tự thuật ( bài 9 )

Ở thế nhiều phen thấy khóc cười

Năm nay tuổi đã ngoại tư mươi

Lòng người một sự yêm chưng một

Đèn khách mười thu lạnh hết mười

Phượng những tiếc cao diều hãy liệng

Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi

Ai ai đều có hai con mắt

Xanh, bạc dầu chưng mặt chúng ngươi

- của Nguyễn Bỉnh Khiêm : Bài 38

Thức dậy, tay còn sách chửa buông

Khách nào thăm hỏi sự phao tuông

Bếp trà hâm đã, sôi măng trúc

Nương cỏ cày thôi, vãi hạt muồng

Cửa vắng ngựa xe không quít ríu

Cơm no tôm cá, kẻo thèm thuồng

Sơn tăng trêu khách xui người bấy

Sơ nguyệt kình kình đã gióng chuông

- của Hồ Xuân Hương : Tự tình ( 1 )

Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom

Oán hận trông ra khắp mọi chòm

Mõ thảm không khua mà cũng cốc

Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om ?

39

Trước nghe những tiếng thêm rền rĩ

Sau giận vì duyên để mõm mòm

Tài tử văn nhân ai đó tá?

Thân này đâu đã chịu già tom !

- của Nguyễn Khuyến

Tiến sĩ giấy:

Cũng cờ cũng biển cũng cân đai

Cũng gọi ông nghè có kém ai

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng

Nét son điểm rõ mặt văn khôi

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ

Cái giá khoa danh ấy mới hời

Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe

Nghĩ rằng độ thật hóa đồ chơi.

Đó là những bài thơ có cấu trúc đề, thực luận, kết theo qui tắc trường thi. Đi vào phân

tích một bài cụ thể; Tiến s ĩ giấy, ta thấy :

+ Hai câu đề : giới thiệu tiến sĩ giấy, có cờ, có biển, có cân đai, cũng được gọi nghè như

ai.

+ Hai câu thực : làm rõ tiến s ĩ giấy : được làm bằng giấy, có tô son cho đẹp, cho thích

mắt trẻ con. Qua đó, tác giả nói hư danh của tiến sĩ thật : chỉ là " mảnh giấy " . " Giáp bảng ",

" văn khôi " đều là mảnh giấy.

+ Hai câu luận : bàn về tiến sĩ giấy, có xiêm, áo bằng giấy nên nhẹ và bán hời được

nhiều lãi. Ý nói: tiến sĩ thực nhưng giá trị, thực chất chẳng có gì, và tệ hơn nữa đã thành hàng

hóa, bán có lời.

+ Hai câu kết : câu 7 : vẫn nói về tiến sĩ giấy nhưng chỉ tiến sĩ thật chỉ có vẻ oai vệ, hào

nhoáng bề ngoài. Câu 8 ý thơ chuyển đột ngột, có tính kết luận về tiến sĩ thật một cách trực

diện: " Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi”. Nói tiến sĩ giấy để chỉ tiến sĩ thật. Tiến sĩ thật không

hơn gì tiến sĩ giấy. Đó là logic của bài thơ. Bố cục bài thơ có 4 phần khá rõ theo qui tắc

trường thi.

40

Bên cạnh đó, chúng ta bắt gặp không ít bài thơ có cấu trúc rất uyển chuyển.

Bài " Bảo kính cảnh giới - 43 " có 8 câu. Bốn câu đều thể hiện sự cảm nhận của tác

giả về cảnh vật mùa hè.

Rỗi, hóng mát thuở ngày trường

Hòe lục đùn đùn tán rợp trường

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

Hồng liên trì đã tịn mùi hương

Bốn câu còn lại có sự đón nhận cuộc sống của người dân lao động và bộc lộ ước mong

đổi đời cho xã hội.

Lao xao chợ cá làng ngư phủ

Dáng dỏi cầm ve lầu tịch dương

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

Dân giàu đủ khắp đòi phương

Bố cục như vậy là thoáng; thừa đề đã thực, luận vẫn hàm thực. Bài " Bạn đến chơi

nhà " của Nguyễn Khuyến lại càng độc đáo. Nguyên An, trong bài viết " Cái độc đáo trong

cấu trúc nghệ thuật của bài Bạn đến chơi nhà " nhận xét : " Nhìn vào cấu trúc nghệ thuật

toàn tác phẩm ... bài thơ có nhiều nét rất mới. Sự đổi mới, sáng tạo mạnh dạn này của cụ Tam

Nguyên Yên Đổ được tập trung thể hiện ở chỗ: Cụ đã dồn ép và mở rộng cấu trúc muôn thuở

của thơ Đường luật thất ngôn bát cú ... sáu câu ở giữa bài thơ đều làm nhiệm vụ của hai câu

thực, nghĩa là nêu rõ hoàn cảnh của nhà thơ khi bạn đến chơi nhà... Từ sự tô đậm trên, câu kết

duy nhất, câu cuối cùng của bài thơ được tung ra, như một bước nhảy nhẹ mà ngụ ý sâu xa:

" Bác đến chơi đây, ta với ta " ( Văn nghệ ( HNV ) số 28 ngày 14/7/1 990, trang 11 ). ở bài

thơ này, Nguyễn Khuyến sử dụng sáu câu giữa ( trừ câu đầu và câu cuối ) nói toàn những cái

hiện không có để nói trước đây vốn có- cả sáu câu đều là câu thực. Trong tình bạn, đồng cảm,

bình đẳng, thân mật là những yếu tố quan trọng. Nho sĩ ngày xưa rất coi trọng yếu tố tinh

thần. Tình cảm là trên hết, họ coi thường mọi yếu tố vật chất tầm thường ( chứ không phải

bình thường). Tình bạn ở đây cảm động, thông cảm nên bố cục bài thơ cũng không cần công

thức, gò bó. Phải chăng đây là một biểu hiện sinh động cho sự thống nhất hài hòa giữa nội

dung và hình thức tác phẩm ?.

Ở bài " Cuốc kêu cảm hứng " Nguyễn Khuyến rất linh hoạt khi xáo trộn nhiệm vụ của 2

câu thực và 2 câu luận, hoặc cố tình không phân biệt thực và luận:

41

Năm canh máu chảy đêm hè vắng

Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ ( liên 2 )

Có phải tiếc xuân mà đứng gọi

Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ ( liên 3 )

Ở đây 2 câu thực đã hàm ý luận.

Qua sự tìm hiểu trên, chúng tôi thấy rằng các nhà thơ Nôm Đường luật đã có nhiều

sáng tạo, linh hoạt, có thể phá vỡ cách bố cục thông thường ở bài thất ngôn bát cú của trường

thi .

Một nét nghệ thuật đáng lưu ý trong cấu trúc bài thơ thất ngôn bát cú là phép đối ở hai

câu thực và hai câu luận : hai câu thực đối nhau, hai câu luận cũng đối nhau. Tác dụng của

phép đối là làm giàu âm điệu bài thơ, làm rõ nét đối tượng thể hiện. Thực tế sáng tác thơ theo

thể thất ngôn bát cú bằng chữ Hán hay chữ Nôm của Nguyễn Trãi; Nguyễn Bỉnh Khiêm , Hồ

Xuân Hương hay Nguyễn Khuyến đã chứng tỏ các nhà thơ tuân thủ chặt chẽ yêu cầu này.

Tuy nhiên, nhà thơ đôi khi không chịu để cho hình thức thể loại gò bó, trói buộc mình khi nó

không bao chứa nổi những cảm xúc cuồn cuộn hay nhưng ý tưởng sâu xa của mình. Chẳng

hạn trong bài Hỏi thăm quan tuần mất cướp, Nguyễn Khuyến viết :

Lấy của đánh người quân tệ nhỉ !

Thân già da cóc có đau không ? ( hai câu thực )

hay trong bài Chợ đồng , ông viết :

Dở trời mưa bụi còn hơi rét

Nếm rượu tường đền được mấy ông? ( hai câu thực )

Ở những cặp câu trên đối cũng chẳng cần chặt chẽ từng câu, từng chữ cho lắm, nhìn

chung khá thoải mái.

Nhờ sử dụng thành công phép đối mà nhiều câu thơ trở nên tuyệt mỹ. Trong bài "

Nguyễn Trãi , người anh hùng dân tộc, Phạm Văn Đồng cho mấy câu thơ sau đây của ông :

Nước biết non xanh, thuyền gối bãi

Đêm thanh nguyệt bạc, khách lên lầu ...

Là " những hoa quả đẹp và thơm, ngon " trong " vườn văn học, ... đó là vốn rất quí của

văn học dân tộc " ( Báo Nhân dân ngày 19 tháng 9 năm 1962 ).

42

Thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có nhưng câu thơ đối xứng đạt

trình độ nghệ thuật cao mà vẫn giản dị. Nhờ đối mà ta hiểu được phong cách sống giản dị,

dân giã của ông :

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Rượu đến gốc cây, ta sẽ uống

Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao ( Bài 73 )

Điều khác hẳn là từ Nguyễn Bỉnh Khiêm trở về sau trong khi sử dụng phép đối, nhà thơ

Nôm Đường luật thường kết hợp với đối lập nhằm mục đích phê phán. Thơ thất ngôn bát cú ở

Nguyễn Trãi chủ yếu là dùng để trữ tình. Đến Nguyễn Bỉnh Khiêm , Hồ Xuân Hương và

Nguyễn Khuyến , thơ Nôm Đường luật yếu tố trữ tình kết hợp với trào phúng khá đậm nét. Ví

dụ : Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm :

- Đắc thời thân thích chen chân đến

Thất thế, hương lân ngoảnh mặt đi

Thớt có tanh tao, ruồi đậu đến

Ang không mật mỡ, kiến bò chi ( Bài 53 )

- Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử

Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi ( Bài 71 )

-Trước đến tay không nào thốt khỏi

Sau vào nặng gánh lại vui cười

Anh anh, chú chú mừng hơ hải

Rượu rượu, chè chè thết tả tơi ... ( Bài 74 )

Nguyễn Bỉnh Khiêm viết như vậy cũng là điều dễ hiểu. Bởi vì, thời đại tác giả sống (

thế kỷ XVI ) xã hội phong kiến đã qua rồi thời kỳ vàng son của mình, đang bước nhanh vào

chỗ suy thoái, ở đó, các giá trị : nhân, nghĩa, lễ ... thua xa đồng tiền :

Người của lấy cân ta thử nhắc

Mới hay rằng của nặng hơn người ( Bài 74 )

Đến Hồ Xuân Hương ( thế kỷ XIX ) thơ Nôm Đường luật tiếp tục phát huy thế mạnh vì

43

mục đích trào phúng. Trong thơ Xuân Hương, ta thấy có mặt khá nhiều hạng người mà xã hội

phong kiến vẫn sùng bái, ngưởng mộ. Đó là vua, chúa, quân tử, nhà sư, tướng giặc. Phải

chăng để ca ngợi khẳng định ? không ! Những kẻ mũ cao, áo dài, bộ mặt của giai cấp thống

trị được Xuân Hương đặt bên một cái đèo Ba Dội, một chiếc quạt, một thiếu nữ, bà vãi ... để

qua đó, lời thơ cất lên tiếng nói phơi bày bản chất đích thực của hạng người đó ra. Nội dung

đó không còn dừng lại trong hai câu thực, hai câu luận nữa mà nhiều khi bao trùm cả bài. Ví

dụ :

Ngủ quên

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông

Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng

Lược trúc biếng cài trên mái tóc

Yếm đào trễ xuống dưới nương long

Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm

Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông

Quân tử dùng dằng đi chẳng đứt

Đi thì cũng dở, ở không xong.

Các bài khác như Sư hổ mạng , Vịnh cái quạt, I, II ... đều thuộc dạng đó. Phải là người

từng trải, có bản lĩnh, ý thức được phẩm giá của người phụ nữ, bản chất của giai cấp thống

trị, với ngòi bút bậc thầy, Xuân Hương mới viết được như thế .

Đến Nguyễn Khuyến, một bậc đại trí thức, văn hay, thơ giỏi, thơ Nôm Đường luật tiếp

tục trở thành vũ khí để tác giả phơi bày bản chất của xã hội nửa ta, nửa Tây buổi đầu.

Ông đả kích thực dân Pháp vơ vét tài nguyên và nhân lực của đất nước:

Rừng xanh núi đỏ hơn ngàn dặm

Nước độc ma thiêng mấy vạn người

Khoét rộng ruột gan trời đất cả

Phá tan phên dậu hạ di rồi

Ông mỉa mai, uất ức với kẻ thù khi chúng giở trò bịp mở trường xấu xảo ( Đấu xảo kí

văn – chữ Hán ), tổ chức cuộc chơi đểu cáng làm nhục quốc thể, làm nhục đồng bào ta trong

ngày " Hội Tây " của chúng.

44

Bà quan tênh nghếch xem bơi trải

Thằng bé lom khom ghé hát chèo

Cậy sức cây đu nhiều chị nhún

Tham tiền cột mỡ lắm anh leo

Trong bài thơ " Lấy Tây ", chế giễu bọn gái mê Tây, ông lợi dụng luật đối của thơ

Đường luật đặt lá cờ tam tài của quân xâm lược Pháp ngang cái váy của bọn gái bất lương và

cùng " phất phới", " tung hoành " cho hả giận

Ba vuông phất phới cờ bay dọc

Một bức tung hoành váy xắn ngang

Khi Lê Hoàn (tổng đốc Hải Dương và Hưng Yên ) ép ông đến làm chủ khảo một cuộc

thi vịnh Kiều với mục đích xấu xa thi ông mượn chuyện vịnh Kiều để đả lại.

Thằng bán tơ kia giở mối ra

Làm cho bận đến cụ Viên già

...

Có tiền việc ấy mà xong nhỉ

Đời trước làm quan cũng thế a ?

Kiều bán mình

Thơ Nôm Đường luật trong tay Nguyễn Khuyến trong những trường hợp trên trở thành

vũ khí phê phán không dữ dội quyết liệt tới mức cay độc mà hóm hỉnh, thâm thúy, càng đọc

càng thấm thía.

2.2.2 Nhịp điệu:

Như đã trình bày ở chương I, nhịp thơ là " Sự lặp lại các khoảng đều đặn và có thay đổi

của các hiện tượng ngôn ngữ, hình ảnh, mô típ... nhằm thể hiện sự cảm nhận thẩm mỹ về thế

giới, chống lại sự đơn điệu, đơn nhất của văn bản nghệ thuật". ( Từ điển thuật ngữ văn học,

Nxb giáo dục,1992, trang 165 ). Trong thơ, đơn vị cơ bản lặp lại là dòng thơ với độ dài của

nó gồm số tiếng và vần như là điểm ngắt của nó. Mỗi thể thơ sẽ có nhịp điệu riêng là vì thế.

Mỗi dòng thơ lại có kiểu ngắt nhịp của luật thơ.

Từ quan niệm như vậy, ta thấy bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú có độ dài 8 câu thơ,

mỗi câu thơ ( cũng là dòng thơ ) có độ dài 7 tiếng. Kiểu ngắt nhịp trong dòng thơ là 4/3 hay

45

2/2/3. Thực tế sáng tác thơ thất ngôn bát cú của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến cơ bản

tuân thủ nhịp điệu này. Ở Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm tình hình khác hẳn : bên cạnh

những sáng tác thất ngôn bát cú chữ Nôm tuân thủ niêm luật thơ Đường là những bài thơ mà

số câu trong bài là 8 nhưng số tiếng trong câu không phải là 7 mà là 6, có vài câu là 5.

Nghiên cứu nhịp thơ trong những câu lục, ta thấy Nguyễn Trãi sử dụng hầu hết cách

ngắt nhịp có thể có :

- Nhịp 3/3 : Góc thành nam / lều một gian

No nước uống / thiếu cơm ăn.

Vô đề

- Nhịp 2/4 : Dò trúc / xông pha làn suối

Tìm mai / theo đạp bóng trăng

Tự thán - bài 7

- Nhịp 2/2/2 : Bữa ăn / dầu có / dưa muối

Áo mặc / nài chi / gấm là.

Ngôn chí - bài 3

- Nhịp 1/5 : Gánh / khôn đường quyền tướng phủ.

Lui / ngõ được đất nho thần.

Trần tình - bài 1

- Nhịp 1/2/3 : Rỗi / hóng mát / thuở ngày trường

Bảo kính cảnh giới - bài 43

Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, cách ngắt nhịp câu lục ngôn cùng rất linh động; ví dụ :

- Nhịp 3/3 : Ánh công danh / xem trễ nải.

Nơi danh giáo / thấy khen vui

( bài 18 )

- Nhịp 2/4 : Hoa nở / luống hay tin gió

Đầm thanh / còn thấy dáng trăng.

( bài 16 )

46

- Nhịp 2/2/2 : Nước tuyết / hâm trà / dưới bếp

Bút hoa / điểm sách / trên yên.

( bài 23 )

- Nhịp 1/5 : Than / phải áng công danh lụy

Muộn / do con tạo hóa trêu.

( bài 25 )

- Nhịp 1/2/3 : Đêm / đợi trăng / cài bóng trúc

Ngày / chờ gió / thổi tin hoa.

( bài 17 )

Với cách ngắt nhịp đó, tác giả có tạo ra nhịp thơ đa dạng, sinh động, tránh sự đơn điệu.

Việc phá vỡ nhịp điệu vốn có của thơ luật Đường, bên cạnh các hạn chế nêu ra ở trên, nó có

tác dụng làm cho hồn thơ, tài thơ của dân tộc nở hoa, kết trái tự nhiên hơn, lắm sắc màu hơn,

ngọt dịu hơn. Mặt khác, do tính qui phạm là một đặc điểm nổi bật và bao trùm của văn học

Việt Nam thời trung đại, người ta quen nghĩ và làm theo nhưng kiểu mẫu nghệ thuật đã có

sẵn, đã thành công thức; quen sử dụng các thể loại văn học có lối kết cấu định hình, có niêm

luật chặt chẽ và thống nhất, việc các nhà thơ thế kỷ thứ XVIII, thứ XIX khi sáng tác thơ thất

ngôn bát cú chữ Nôm không sử dụng câu lục ngôn xen thất ngôn cũng là điều dễ hiểu.

Như chương I đã tìm hiểu, thơ Đường luật không phải tự nhiên mà có. Việc sử dụng thể

thơ có kết cấu định hình như thế là kết quả của một quá trình vận động, tiếp thu tinh hoa của

văn học trước đó, sự phát triển của âm vận học, của văn biền ngẫu... Hiện tương sử dụng câu

lục ngôn với cách ngắt nhịp đa dạng đã- phá vỡ sự thống nhất hài hòa âm dương trong dòng

thơ, ảnh hưởng đến sự tương hợp giữa nội dung và hình thức trong một chỉnh thể nghệ thuật.

Nghiên cứu nhịp điệu trong dòng thơ 7 chữ, Thái Hòa cho rằng : "Thể thất ngôn bát cú

có nhịp lẻ, nếu tính từ phần cuối : 4/3 hoặc 2/2/3. Ví dụ :

Bước tới đèo Ngang / bóng xế tà

Cỏ cây chen đá / lá chen hoa

( Bà Huyện Thanh Quan )

Nhịp khá đơn điệu và chỉ dùng để ngâm, dường như tạo ra một chỗ ngừng nhỏ để làm

giàu âm hưởng chứ không có vai trò quan trọng " ( Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục,

Hà Nội, 1993, trang 299 ). Tìm hiểu nhịp thơ Nôm Đường luật, ta thấy điều đó không đúng 47

không chỉ có nhịp 4/3 hay 2/2/3 mà còn có nhịp 3/4; 2/5 và chỗ ngừng giữa dòng thơ, không

những làm giàu âm hưởng mà tạo cho người đọc, người nghe những liên tưởng ( có thể là

tương phản, có thể là hòa hợp, thống nhất ) giữa hai vế hay ba vế nhờ nhịp ngắt. Đây chính là

đặc điểm thể hiện tinh hoa của thơ Đường luật Trung Quốc trong thơ Đường luật chữ Nôm

của ta mà cội nguồn chịu ảnh hưởng tư tưởng Lão - Trang, những người có nhiều cảm hứng

về cái "vô". Lão Tử nói : " Vạn vật trong đất trời sinh ra từ cái có nhưng cái có lại sinh ra từ

cái không", "Cái không là khởi đầu của trời đất, còn cái có là gốc rễ của vạn vật. Muốn nhìn

cái kỳ diệu thì phải hướng về cái thường là không, muốn thấy cái ranh giới, thì phải hướng về

cái thường là có. Cả 2 mặc dù khác tên nhưng lại cùng một nguồn gốc và đều huyền diệu".

Trang Tử lại nói : "Có người nói có, có người nói không. Có người lại nói chưa từng có cái

có và không... Nhưng đối với vấn đề có và không, quả thật không biết có hay không". Nghĩa

là không hề có ranh giới rõ ràng giữa có và không, mà chúng tương thông và làm nẩy sinh

lẫn nhau. Sau này, Bạch Cư Dị trong khi khen ngợi người ca nữ trên bến Tầm Dương biết bộc

lộ tâm trạng đau đớn tột độ của mình bằng cách dừng lại dây tơ, tức là khi đánh giá thẩm mỹ

cái dấu lặng trong bản đàn tỳ bà " Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay" thì ông đã trích lại

nguyên văn của Lão Tử vào lời tho " Thử thời, vô thanh thắng hữu thanh".

Trở lại vấn đề, thơ Nôm Đường luật từ thế kỷ thứ XVIII trở về sau loại bỏ câu lục

ngôn, dùng toàn thất ngôn chắc hẳn là muốn tiếp thu nhiều hơn giá trị nghệ thuật do hiệu quả

của cách ngắt nhịp 2/2/3 hay 4/3 mang lại.

Một điểm đáng lưu ý trong cách ngắt nhịp của câu thơ thất ngôn trong thơ Nôm Đường

luật là ngoài việc sử dụng lối ngắt nhịp 2/2/3 hay 4/3 kể trên là cách ngắt nhịp 3/4. Đây là nét

độc đáo rất Việt Nam, trong thơ Đường luật Trung Quốc không thấy. Ví dụ :

Ở Nguyễn Trãi :

- Bạn cũ thiếu / ham đèn miễn sách

Tình quen chăng / kiếm trúc cùng mai.

Ngôn chí - bài 12

- Liệu cửa nhà / xem bằng quán khách

Đem công danh / đổi lấy cần câu.

Mạn thuật - bài 8

- Thạch lựu hiên / còn phun thức đỏ

Hồng liên trì / đã tịn mùi hương.

48

Bảo kính cảnh giới - bải 43

Ở Nguyên Bỉnh Khiêm :

- Mai bạc lạnh / quen nhiều tháng tuyết

Cúc vàng thơm / đổi mấy phen hoa.

Bài số 14

Nết con dừ / chẳng hay rằng dữ

Ruộng lúa nên / còn biểu chửa nên.

Bài số 1 2 4

Hồ Xuân Hương :

Chị cũng xinh / mà em cũng xinh

Tranh tố nữ

và Nguyễn Khuyến :

Trời hẹn ngày / cho ba vạn sáu

Ta chung tuổi / mới một trăm hai.

Gửi bác Châu Cầu

Cùng chẳng giàu / mà cũng chẳng sang

Tự trào

Nghiên cứu về vấn đề này, trong cuốn Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại ( Nxb

KHXH, 1971 ) Bùi Văn Nguyên cho rằng : "Cách Việt hóa đơn giản nhất là sự phối hợp nhịp

điệu giữa thơ ta và thơ Trung Quốc, bằng cách xen hai câu thất ngôn của ta vào trong một bài

thất ngôn bát cú Đường luật ". Thực tế cho thấy ở Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, câu

thất ngôn có nhịp ngắt 3/4 thường đi theo cặp. Với Hồ Xuân Hương và Nguyễn Khuyến, kiểu

câu này, có khi đi theo cặp cũng cho khi là một câu lẻ.

Lý giải nhịp 3/4 trong thơ như là một hiện tượng độc đáo, khi bàn về cá tính sáng tạo

trong thơ Việt Nam và Trung Quốc, Hoài Thanh đã từng nhận xét: " câu thơ lẻ của tàu cũng

như cái mái nhà bốn góc cong vút của họ hướng đến một vẻ phóng phiếm hoa mỹ của thảo

mộc còn nhịp thơ chẵn ở cuối câu cũng như lối kiến trúc chắc nịch của ta hướng đến sự vững

chãi, bình yên của đất đá ". Đó chính là một biểu hiện độc đáo của quá trình Việt hóa thơ

Đường luật : phát triển theo hướng dân tộc, tạo ra bản sắc riêng cho thơ Nôm Đường luật,

49

phản mã Đường thi.

50

CHƯƠNG 3: SỰ PHÁT TRIỂN VỀ HÌNH THỨC CỦA THỂ THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ Ở PHƯƠNG DIỆN NGÔN NGỮ

Một trong những đặc trưng cơ bản của văn học là nhà văn dùng ngôn ngữ làm phương

tiện diễn đạt. Nghiên cứu thơ Nôm Đường luật , luận án đi vào ngôn ngữ, tìm hiểu đặc trưng

thể loại về mặt chất liệu.

Thông thường, bài thất ngôn bát cú ở dạng đầy đủ như tên gọi, sử dụng 56 chữ. Số chữ

ít ỏi như vậy nhưng lượng thông báo của nó lại rất nhiều. Có được điều đó, như trên đã sơ bộ

tìm hiểu, là do sử dụng phép đối, cách ngắt nhịp, sử dụng từ đa nghĩa, từ ngữ, lột tả bản chất

đối tượng mà vẫn tinh tế, tao nhã ... Đi vào tìm hiểu sự phát triển về ngôn ngữ thơ Nôm

Đường luật , luận án đi vào ba mặt chủ yếu sau đây: sử dụng từ Hán- Việt, ngôn ngữ dân gian

( đời thường ) và tính hàm súc của nó. Ba mặt đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng

lẫn nhau, góp phần tạo nên " chân dung " thơ Nôm luật Đường.

3.1 Từ Hán - Việt:

Kho từ vựng tiếng Việt có một bộ phận khá lớn từ Hán Việt. Khái niệm Hán Việt dùng

để chỉ những từ ngữ Việt gốc Hán xuất hiện ở giai đoạn muộn, chưa được Việt hóa hoàn

toàn. Có thể nhận diện từ Hán Việt bằng nhiều cách. Đơn giản nhất là dùng từ điển ( Hán

Việt) để tra cứu, lấy chữ Hán làm căn cứ để phân biệt. Một từ trong văn bản tiếng Việt không

có chữ Hán ghi lại thì đó không phải là từ gốc Hán. Người ta cũng dựa vào khả năng hoạt

động tự do hoặc không tự do trong câu tiếng Việt của một từ hay trong khả năng kết hợp tạo

từ của một từ để nhận biết một bộ phận từ Hán Việt ... Dựa vào cách nhận diện như vậy, "

hiện nay, theo ước tính của một số nhà nghiên cứu, số lượng các yếu tố Hán - Việt chiếm

khoảng 65 - 75% từ vựng tiếng Việt " ( Tiếng, Việt, lớp 10, Ban KHXH, Nxb Giáo dục, 1995,

trang 193 ). Sở dĩ có sự dao động trong khoảng 10% nói trên là vì, cho đến nay, việc phân

định từ Hán-Việt, Hán - Việt cổ, dưới con mắt các nhà ngôn ngữ vẫn là một việc rắc rối, phức

tạp, không thể đơn giản, khó đi đến thống nhất. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, qua nghiên

cứu, người ta đã khẳng định: tiếng Việt, từ chỗ là một ngôn ngữ thuộc dòng Môn - Khơ me

( được gọi là ngôn ngừ tiếng Việt - Mường ) qua chuyển biến đã tách thành tiếng Việt với

tiếng Mường. Quá trình chuyển biến này để lại nhiều dấu vết có thể khảo sát được qua đối

chiếu tiếng Việt với tiếng Mường, tiếng Tày - Thái, tiếng Khơ me. Người ta đã chứng minh

được những từ như : chim, sông, cá, chân, tay ... có nguồn gốc Môn - Khơ me; đồng, rẫy, gạo

... có nguồn gốc Tày - Thái và một số từ xưa nay vẫn cho là từ Hán, gần đây cho đó là từ Việt

gốc Tày- Thái. Ví dụ : " Phụ đạo ", một chức quan cai trị địa phương dưới thời các vua Hùng,

51

không phải là từ Hán mà chính là P tao ( hoặc m tao ), một từ Tày-Thái, chỉ chức vụ thủ lĩnh,

được phiên âm và ghi lại bằng chữ Hán. Tương tự, " Mị Nương, con gái vua Hùng, không

phải là từ gốc Hán, mà chính là mê nang, từ Tày - Thái, chỉ con gái nhà quí tộc, đã được

phiên âm và ghi bằng chữ Hán ( Svd, trang 15 ). Từ những kết quả nghiên cứu như vậy, việc

xác định từ Hán - Việt trong luận án này sẽ có ý nghĩa tương đối và vẫn có thể tin tưởng

được.

Qua tìm hiểu ngôn ngữ thơ Nôm Đường luật của bốn tác giả , luận án nhận thấy, nhà

thơ nào cũng sử dụng từ Hán - Việt.

Ở Nguyễn Trãi : trượng phu, thanh, trì, yên hà, nguyệt, tà dương ... ví dụ :

- Lểu thểu chưa nên tiết trượng phu ( Ngôn chí - 2 )

- Nước dưỡng cho thanh, trì thưởng nguyệt ( Ngôn chí - 3 )

- Lao xao chợ cá làng ngư phủ ( Bảo kính cảnh giới - 43 )

Nguyễn Bỉnh Khiêm là tiểu, đại, nguyệt, giang sơn, sơn hà, thanh vân ... ví dụ :

Thấy dặm thanh vân bước ngại chen ( Bài 8 )

( Thanh vân : mây xanh, bước đường làm quan )

Thuở nơi xuất xử đâu là phải ( Bài 7 )

( Xuất : ra làm quan ); xử : về ở ẩn )

Với Hồ Xuân Hương là phong ba, hiền nhân. quân tử, nguyệt ... ví dụ:

Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt ( Ngủ quên )

Giếng ấy thanh tân ai chẳng biết ( Giếng nước )

Còn Nguyễn Khuyến là phong trần, tiên triều, nhân ... ví dụ:

- Đôi gót phong trần vẫn khỏe khoe ( Về hay ở )

- Hoa nguyệt nào ai đã đắm mê ( Về hay ở)

Qua khảo sát mỗi tác giả 20 bài nói trên, luận án có kết quả sử dụng số lần từ Hán -

Việt như sau : Nguyễn Trãi: 42 từ, Nguyễn Bỉnh Khiêm : 37 từ, Hồ Xuân Hương : 18 từ và

Nguyễn Khuyến :13 từ. Nếu tính số từ Hán Việt được sử dụng trên số dòng thơ, ta có kết quả:

Nguyễn Trãi 3,6 dòng thơ có một từ Hán Việt

Nguyeexn Bỉnh Khiêm 4,3 dòng thơ có một từ Hán Việt

52

Hồ Xuân Hương 9 dòng thơ có một từ Hán Việt

và Nguyễn Khuyến 12,3 dòng thơ có một từ Hán Việt

Xu hướng giảm dần việc dùng từ Hán Việt, dùng nhiều từ thuần Việt hơn từ Nguyễn

Trãi đến Nguyễn Khuyến giúp ta hiểu thêm sự phát triển của thơ Nôm Đường luật là xa dần

cội nguồn của Đường luật Hán, phát triển theo hướng Việt hóa về mặt chất liệu văn học .

Khi dùng từ Hán Việt trong bài thơ thất ngôn bát cú , nhà thơ đã mang đến cho nó màu

sắc trừu tượng, ý nghĩa trang trọng. Nó như chiếc cầu nối giữa thơ Nôm Đường luật với

Đường thi và Đường luật Hán, và " chiếc cầu " này ngày càng dài ra khi các nhà thơ về sau sử

dụng ngày càng nhiều tiếng Việt chữ Nôm, " Ưu tiên " cho ngôn ngữ dân tộc.

3.2 Hệ thống ngôn ngữ dân gian, đời thường:

Trong thơ thất ngôn bát cú chữ Nôm, bên cạnh hệ thống ngôn ngữ Hán Việt như đã tìm

hiểu ở trên là cả một hệ thống ngôn ngữ dân tộc. Trong hệ thống này, luận án sẽ tìm hiểu ảnh

hưởng của văn học dân gian, bộ phận từ thuần Việt, ngôn ngữ đời thường.

3.2.1 Bộ phận từ thuần Việt:

Tất cả những từ nào trở nên quen thuộc đối với người Việt Nam , không có từ tương

ứng thay thế, hoặc thay thế mà hiệu quả thấp, dù có nguồn gốc nào thì trong nhận thức của

người Việt là từ thuần Việt.

Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã sử dụng nhiều và sử dụng thành công

từ thuần Việt. Ví dụ :

Ở Nguyễn Trãi :

Bữa ăn dầu có dưa muối

Áo mặc nài chi gấm là

Ngôn chí - Bài 3

Đạp áng mây, ôm bó củi

Ngồi bên suối, gác cần câu

Trần tình - bài 5

Nguyễn Bỉnh Khiêm :

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

53

( Bài 73 )

Ở Hồ Xuân Hương :

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

( Bánh trôi nước)

Và Nguyễn Khuyến trong những bài thơ thu nổi tiếng ( Thu điếu, Thu ẩm ) dễ gì tìm

một từ Hán - Việt . Những câu thơ, bài thơ như thế giúp chúng ta cảm nhận được khả năng

tiềm tàng của tiếng Việt.

Qua khảo sát, nếu tính đầy đủ (trong 20 bài nói trên ), số từ được sử dụng của mỗi tác

giả là 1120 từ, do sử dụng câu lục nên ở Nguyễn Trãi chỉ có 1063 từ, Nguyễn Bỉnh Khiêm

:1094 từ, Hồ Xuân Hương : 1118 từ, Nguyễn Khuyến : 1120 từ. Trong đó từ tiếng Việt

Ở Nguyễn Trãi là 968 chiếm tỷ lệ 89,4 %

Nguyễn Bỉnh Khiêm 995 chiếm tỷ lê 90,9 %

Hồ Xuân Hương 1051 chiếm tỷ lệ 94,0 %

Nguyễn Khuyến 1019 chiếm tỷ lệ 90,9 %

Chúng ta thấy được tỷ lệ từ thuần Việt trong thơ thất ngôn bát cú rất cao, áp đảo từ Hán

Việt.

Dùng nhiều, dùng ngày càng hay từ thuần Việt là một nét chứng minh sự phát triển của

thể thơ thất ngôn bát cú theo hướng dân tộc hóa về mặt chất liệu.

Cũng ở từ thuần Việt, qua thưởng thức, nghiên cứu, chúng ta nhận thấy những từ đắt

nhìn chung đều thuộc từ thuần Việt. Ví dụ. : Người ta thường khen những từ " đùn đùn ", "

phun ", " lao xao " trong Bảo kính cảnh giới - bài 43 của Nguyễn Trãi hay. Bài Đèo Ba Dội

của Xuân Hương có từ " tạc " hay chữ " thẹn " trong Thu vịnh của Nguyễn Khuyến .

Xin phân tích một từ đắt minh họa.

Trong bài Đèo Ba Dội, Hồ Xuân Hương viết:

Một đèo, một đèo, lại một đèo

Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo

Chữ " tạc " gợi cho ta một hoạt động vừa to tát, nặng nề nhưng lại mang tính nghệ

thuật. Qua chữ " tạc " cảnh núi non hiện lên sừng sửng, có hình khối, đường nét, vừa hoang

54

vu, hiểm trở vừa tràn đầy tính thẩm mỹ rất hợp với nội dung câu phá đề. Đặt chữ " tạc " bên

cạnh các chữ " vẽ ", "tạo" thì chọn " tạc " là hơn cả.. Nếu tác giả dùng " họa " ( từ Hán-Việt )

thay cho " tạc " thì sức gợi cảm, giá trị tạo hình sẽ giảm, vì " họa "chỉ gợi lên một bức tranh

có sẵn, có đường nét, màu sắc còn hình khối thì thiếu hẳn.

Trong khi khảo sát từ thuần Việt, luận án nhận thấy trong thơ thất ngôn bát cú chữ

Nôm, các tác giả ( Nguyễn Trãi , Nguyễn Bỉnh Khiêm , Hồ Xuân Hương , Nguyễn Khuyến )

sử dụng khá nhiều từ láy. Tác dụng của việc dùng từ láy là làm cho đối tượng thể hiện trở nên

nhẹ nhàng, sống động, gợi cảm; tạo sự cân đối nhịp nhàng cho âm điệu. Trong thơ Đường

luật chữ Hán của Trung Quốc, hiện tượng sử dụng điệp từ, từ láy không phải không có. Bài

Hoàng Hạc lậu của Thôi Hiệu sử dụng 3 lần từ láy: du du, lịch lịch, thê thê và bài Đăng cao

của Đỗ Phủ cũng sử dụng đến 3 lần từ láy: tiêu tiêu, cồn cồn, lạo đảo. Hiện tượng đó không

nhiều nhưng quả là rất ít, phần lớn là những hình dung từ. Phương pháp lấy láy hầu như chỉ

lặp lại toàn bộ, có phần đơn điệu, nghiên cứu hiện tượng này, khi so sánh bản dịch Tỳ bà

hành của Phan Huy Vịnh từ tác phẩm cùng tên của Bạch Cư Dị, Phương Lựu nhận xét: "

Tiếng mẹ đẻ chúng ta rất giàu từ lấp láy , nhiều sức gợi ảnh và giàu sắc thái tình cảm độc đáo,

rất khó dịch ngược ra tiếng nước ngoài nhưng lại có thể dịch xuôi những từ nước ngoài một

cách tình tứ, đậm đà hơn. Như nguyên văn câu : " Chủ nhân vong qui, khách bất phát " chỉ có

nghĩa là " Chủ quên về, khách không dời bước ". thế mà Phan Huy Vịnh đã dịch thành: " Chủ

khuây khỏa lại, khách dùng dằng xuôi ". ( Tìm hiểu một. nguyên lý văn chương, Nxb KHXH,

Hà Nội, 1983, trang 172 ). Gần đây, nhiều người cho bản dịch Tỳ bà hành là của Phan Huy

Thực, bố của Phan Huy Vịnh. Nguyễn Thị Bích Hải viết: " vì từ vựng chỉ còn lại tính chất

khái quát ... nên trong thơ Đường rất ít từ láy âm " ( Thi pháp thơ Đường, Nxb Thuận Hóa,

1995, trang 246 ). Nguyễn Nam nhận xét: " từ thuần Việt có nhiều khả năng láy hơn từ gốc

Hán " ( Việt Nam, đất nước, lịch sử, văn hóa - Nhiều tác giả , Nxb Sự thật, 1991, trang 451 ).

Qua khảo sát mỗi tác giả 20 bài, kết quả cho thấy Nguyễn Trãi có 11 bài và 12 lần sử

dụng từ láy, tỷ lệ đó ở Nguyễn Bỉnh Khiêm là 13 bài và 22 lần. Hồ Xuân Hương là 19 bài và

62 lần còn Nguyễn Khuyến 17 bài và 45 lần.

Tỷ lệ ấy nhìn chung là theo chiều thuận, xu thế chung là ngày càng sử dụng nhiều từ

láy. Điều đó, một mặt chứng tỏ sự vận động, phát triển của ngôn ngữ, trước hết là ngôn ngữ

văn học. Mặt khác thấy được ý thức sử dụng từ láy làm đẹp cho tác phẩm của mình ngày

càng được các nhà thơ chú ý. So sánh thơ Nôm Đường luật với thơ Đường luật của Trung

Quốc, đây cùng là nét riêng của thơ Việt Nam .

55

Thử so sánh Đường luật Hán với Đường luật Nôm của Nguyễn Khuyến, ta thấy ngay sự

chênh lệch của việc sử dụng từ láy.

Số bài khảo Số bài dùng từ láy Số lần dùng từ láy Ghi chú

17 45 20 Nôm

07 12 Hán 20

Ghi chú : 20 bài Đường luật Hán lấy ở sách Nguyễn Khuyến tác phẩm, Nxb KHXH, Hà

Nội, 1984 từ bài số 2 ( Thu Sơn tiêu vọng ) trang 190 đến bài số 21 (Vịnh Tô Hiến Thành)

trang 213.

Đi vào cụ thể từng tác giả ta thấy : ở Nguyễn Trãi dùng ít từ láy trong bài, bài có dùng

cũng chỉ 2 đến 3 từ. Ví dụ :

Ao bởi hẹp hòi, khôn thả cá

Nhà quen xú xưa, ngại nuôi vằn.

Vô đề

Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng nhiều từ láy hơn Nguyễn Trãi ( số bài, số lần ). Có bài dùng

đến 3 từ láy; ví dụ :

Giàu chỉnh chẹn, khó lai dai

Đạo trời lồng lộng chẳng hề sai ( Bài 1 )

Hồ Xuân Hương mới thật là tuyệt diệu. Giáo sư Lê Trí Viễn khi nghiên cứu thơ Hồ

Xuân Hương đã nhận xét : " đặc biệt nhất là những điệp từ, từ lấp láy. Có loại thông thường:

cheo leo, lún phún, lắt lẻo, đầm đìa ... có loại lạ lùng : mõm mòm, hõm hòm hom, toen hoẻn

... từ lấp láy là một đặc điểm của tiếng Việt " ( Thơ Hồ Xuân Hương - chuyên luận sau

Đại học - ĐHSP Tp Hồ Chí Minh, 1989, trang 46 ). Có bài bà dùng rất nhiều từ láy:

Ví dụ : - Tự tình ( III): nổi nênh, ngao ngán, lênh đênh, lai láng, bập bềnh, tấp tênh (

6 lần ).

- Giếng nước : thăm thẳm, thanh thơi, lạ lùng, phau phau, leo lẻo, lún phún, le te ( 7 lần

).

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương bên cạnh sử dụng những từ láy thường ngày bà còn sáng tạo ra

những từ láy mới rất độc đáo ( mõm móm, toen hoẻn ... ), không những láy đôi mà còn láy

56

ba; hỏm hòm hom ( Động Hương Tích ).

Đến Nguyễn Khuyến tỷ lệ dùng từ láy rất lớn. Có những bài sử dụng 4 đến 5 từ láy:

Bài về hay ở : văng vẳng, vui vẻ, giục giã, khỏe khoe,( láy đội) quang quác quác, tẻ tè

te ( láy ba ).

Bài Ngày xuân dạy các con có các từ láy: lơ láo, ngất ngơ, lẩn thẩn, say sưa ...

Trong cuốn Thơ văn Nguyễn Khuyến ( Nxb Giáo dục, 1984 ) Hoàng Hữu Yên có nhận

xét " Có khi chỉ cần vài chữ mà khắc họa thành những hình ảnh rất nổi, rất sống động.

Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang

Chẳng gầy, chẳng béo, chỉ làng nhàng

Tự trào

Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ

Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say

Than già

Với ba từ láy này: làng nhàng, nhập nhèm, khấp khểnh, nhà thơ đã phác họa được một

bức tranh hoa về một ông già bằng những đường nét tiêu biểu nhất. Xuân Diệu đánh giá lối

điệp âm, điệp thành của thơ Nguyễn Khuyến thường gây “ thú vị lạ lùng ” . Chính xác mà gợi

cảm là tiêu chuẩn chặt chẽ của ngôn ngữ thơ ca. Nguyễn Khuyến đã vận dụng tiêu chuẩn trên

rất tài tình... " ( trang 35, 36 ).

Nghiên cứu bộ phận từ thuần Việt, chúng tôi còn thấy các tác giả có xu hướng tăng dần

sử dụng chúng để gọi những gì gần gùi, thân thuộc với con người, cuộc sống Việt Nam : cảnh

thiên nhiên, tên đất. tên người, tên cỏ cây hoa lá ... Điều này trong Đường thi và Đường luật

Hán cũng có nhưng nhìn chung mang tính khái quát, ước lệ, là cái cớ để thi nhân bộc lộ tình

cảm. Trong thơ Nôm Đường luật, một loạt danh từ mang tính cụ thể, cá biệt ngoài đối tượng

trử tình nó còn góp phần phản ánh hiện thực đời sống.

Khảo sát mỗi tác giả 20 bài thơ, kết quả số địa danh được sử dụng có số lần là : Nguyễn

Trãi : Không , Nguyễn Bỉnh Khiêm : 2 ( Nam Sách, Tây Chân ), Hồ Xuân Hương : 9 ( Cắc

Cớ, Thánh Hóa, chùa Thầy, Đèo Bạ Dội, Hương Tích, ... ), còn Nguyễn Khuyến cũng 9 lần (

Núi Đọi - 2 lần, xóm Đông - 2 lần, Tây Hồ, chùa Thầy, Hà Nam . . . ) .

Tên cỏ cây, hoa lá chúng ta thường thấy hàng ngày trong cuộc sống đời thường có mặt

ngày càng nhiều.

57

- Ở Nguyễn Trãi đó là hoa sen, hoa nhài, dâm bụt, hoa hòe, hoa lựu, hoa xoan, cây

chuối, cây đa già, là con ngựa, con cá, con sâu

- Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm là hoa mận, hoa đào, hoa cúc, hoa mai, hoa lan, là cây khế,

cây núc nác... là con ruồi, con kiến, bồ câu ...

- Ở Hồ Xuân Hương : quả mít, quả cau, rêu, lá liễu, cành thông, cỏ gà ... và có cả vật

như: cá diếc, cóc, nòng nọc, con cò ...

- Ở Nguyễn Khuyến : thủy tiên, trúc, trầu cau, dưa ... và có cả vật như: chim chích

chóe, đỗ quyên, con trâu, con chó ... hiện tượng trên không chỉ có ở thơ Nôm Đường luật

(thất ngôn bát cú , tứ tuyệt) mà còn ở cả Đường luật chữ Hán. Ví dụ :

- Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm , ông làm thơ vịnh những sự vật bình thường như cái trống (

Cổ thi ), cây khoai ( Dự thi ), trần nhà ( Thừa trần ), cái mõ ( Thác thi ) ...

Ở Nguyễn Khuyến: cái quạt giấy ( Tát phiến ), gậy trúc (Trúc trượng), cái răng long (

Dao xỉ), cái móng tay ( chỉ tráo ) ...

Hiện tượng đó giúp ta hiểu : hiện tượng Việt hóa thơ Đường luật diễn ra mạnh mẽ ở cả

dạng thất ngôn bát cú lần tứ tuyệt, ở bộ phận viết bằng chữ Hán lẫn bộ phận viết bằng chữ

Nôm, trong đó bộ phận viết bằng chữ Nôm diễn ra quá trình Việt hóa mạnh mẽ hơn.

Đường luật là thể thơ " trang trọng " , "quí phái, sản phẩm quí tộc " ( Từ dùng của giáo

sư Lê Trí Viễn ). Đề tài trong thơ Đường luật bên Trung Quốc phải quí tộc, sang trọng. Đó là

phong, hoa, tuyết, nguyệt; là tùng, cúc, trúc, mai; là hiền nhân, quân tử ... đến Việt Nam ta,

thể thơ ấy qua Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương và Nguyễn Khuyến ở bộ

phận chữ Hán, một phần vẫn bảo lưu những đề tài ấy. Đến bộ phận chữ Nôm, nó chỉ được

bảo lưu rất ít. Chính vì thế mà những thứ cỏ cây, hoa lá, những vật dụng vốn rất bình thường

trong cuộc sống hàng ngày của dân tộc cứ hiển nhiên có mặt ngày càng nhiều trong thơ,

không chút quê mùa. Khảo sát sự xuất hiện của những tên đất, tên người ... ta càng thấy rõ

thêm điều đó.

Như vậy, về phương diện này ( đối tượng phản ánh ) thể thơ thất ngôn bát cú chữ Nôm

không những được dân tộc hóa, dân chủ hóa mạnh mẽ mà còn được cá thể hóa một cách sâu

sắc tạo cơ sở cho văn học dân tộc có điều kiện tiến nhanh trên con đường hiện đại hóa nửa

đầu thế kỷ XX.

58

2.2.2 Ngôn ngữ văn học dân gian:

Nghiên cứu ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết, trong cuốn Tìm

hiểu tiến trung văn học dân gian Việt Nam ( Nxb KHXH, 1976 ) , tác giả Cao Huy Đỉnh viết :

" Người Việt Nam chúng ta từ lâu đã có một nguồn ca dao, tục ngữ ở trong lối nói ví von vần

vè và một nguồn ngụ ngôn vừa bằng văn vần, vừa bằng văn xuôi, phần lớn do chính nhân dân

đặt ra, một phần nữa là Việt hóa những câu chuyện của nước ngoài thích hợp với cảm nghĩ

của dân tộc. Nguồn văn học ấy liên quan chặt chẻ đến khẩu ngữ dân gian. Từ thế kỷ XV trở

lại, nó được văn học bác học chế biến, đồng thời nó cũng bổ sung nhiều cho văn học bác học.

Đặc biệt nó là nguồn nuôi dưỡng tư tưởng vì dân vì nước và hình thức nghệ thuật dân tộc

sống động cho văn học quốc âm như của Nguyễn Trãi ... " ( trang 10 ). Nghiên cứu tác động

qua lại giữa văn học dân gian với thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh

Khiêm, Hồ Xuân Hương và Nguyễn Khuyến, chúng tôi nhận thấy các nhà thơ đã tiếp thu tinh

hoa của văn học dân gian để làm giàu cho thi liệu của mình, tăng cường bút thuật. Kết quả

của việc học tập này là những vần thơ giàu hình ảnh, cảm xúc, giàu chất trí tuệ mà vẫn rất

giản dị, đậm chất dân gian, được nhân dân tiếp nhận. Mặt khác, khi tìm hiểu ảnh hưởng của

văn học dân gian trong thơ quốc âm của 4 tác giả trên, luận án không quan niệm tất cả mọi

yếu tố của văn hóa, văn học dân gian các nhà thơ sử dụng đều tiếp thu từ dân gian. Kết quả

sưu tầm gần đây cho thấy một số câu, bài ca dao cứ tưởng là của dân gian, thực tế là kết quả

của một quá trình dân gian hóa văn học viết. Xuất phát từ thực tế đó, luận án tìm hiểu tác

động qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết để thấy được " ảnh hưởng qua lại giữa văn

học dân gian và văn học thành văn là một trong những qui luật cơ bản của lịch sử Việt Nam "

( Svd, trang 19 ), " Nó ( văn học dân gian ) phát huy sức sống của nó vào trong văn học cổ

điển Việt Nam " ( Svd, trang 220 ).

Nghiên cứu Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, chúng ta thấy tác giả đã sử dụng thành

công tục ngữ, ca dao. Ví dụ : Từ câu tục ngữ :" Ở gần nhà giàu đau răng ăn cám, ở gần kẻ

trộm ốm lưng chịu đòn "

Ông viết : Ở cận nhà giàu no bữa cám

Bạn bè kẻ trộm phải ăn đòn

( Bảo kính cảnh giới -bài 21)

từ câu tục ngữ " Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài ", ông viết:

Ở bầu thì dáng ắt nên tròn

Xấu tốt thì đều rắp khuôn.

59

( Bảo kính cảnh giới -bài 21)

từ câu ca dao :

Biển sâu còn có kẻ dò

Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng

Ông viết : Dễ hay ruột bể sâu cạn

Khôn biết lòng người ngắn dài ( Ngôn chí - bài 6 )

Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm ; từ câu tục ngữ : " Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng ", ông

viết :

Gần son thì đỏ, mực thì đen

Sáng biết nhờ ơn thuở bóng đèn ( bài 64 )

từ câu " Vuốt mặt phải nể lỗ mũi " và " Rút dây động rừng ". ông viết :

Vuốt mặt còn chừa qua mũi nọ

Rút dây lại nể động rừng chăng ? ( bài 89 ) ...

Đến Hồ Xuân Hương, tục ngữ, thành ngữ đi vào thơ bà một cách tự nhiên, đầy sáng

tạo. Ví dụ: từ câu tục ngữ " Đầu trở xuống, cuống trở lên “,bà viết :

Còn kẻ nào hay cuống với đầu ( Quan Thị)

hay từ câu tục ngữ : "Ngồi lá vông, chổng mông lá chóc, nằm dọc lá tre, te he lá khế",

bà viết:

Đố ai biết đó vông hay chóc ( Quan thi ) ...

thành ngừ được Xuân Hương sử dụng đạt trình độ điêu luyện, không chút gượng ép:

Năm thì mười họa hay chăng chớ ( kiếp lấy chồng chung)

Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm( kiếp lấy chồng chung )

Dân gian có câu : " Ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh " ( có nghĩa là bấp bênh ), Xuân

Hương không dùng nguyên dạng. Bà chỉ dùng một phần và đảo vị trí, hiệu quả nghệ thuật

thấy rõ; ví dụ :

Bảy nổi ba chìm với nước non ( Bánh trôi nước )

Hồ Xuân Hương là một trong nhưng nhà thơ xuất sắc trong việc tiếp thu tinh hoa văn

học dân gian. Ít có bài nào của Xuân Hương lại không có bóng dáng của tục ngữ, ca dao,

60

thành ngừ. Điều đặc sắc là Xuân Hương dùng toàn " cái mình có ", mượn của người không

đáng kể. Qua thơ chữ Hán người đọc cảm nhận bà rất tinh thông chữ Hán. Trong thơ Nôm bà

còn biết chiết tự chữ Hán ( Không chồng mà chửa ) hay đặt tên ngôi nhà của mình là Cổ

Nguyệt Đường từ chữ Hồ mà ra. Như vậy, Xuân Hương không muốn dùng của người chứ

không phải không biết dùng. Với tài năng của mình, trên nền tảng sự phong phú của tiếng

Việt, giàu có của văn học dân gian Việt Nam, bà bắt ngôn ngữ phải phụ tùng ý của mình,bắt

nó nói lên điều mình muốn nói và nói hay nhất.

Đến Nguyễn Khuyến, nhà thơ tiếp tục sử dụng tục ngữ, ca dao để làm đẹp cho thơ

mình. Ví dụ :

Từ câu ca dao :

Muốn sang thì bắt cầu kiều

Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy

và câu :

Trách người quân tử vô tình

Có gương mà để bên mình không soi

Ông viết :

Bắc cầu, câu cũ không hờ hững

Cầm kính, tình xưa vẫn đắng cay

Thầy đồ ve gái góa

hay từ bài ca dao :

Em là con gái đồng trinh

Em đi bán rượu qua dinh ông nghè

Ông nghè sai lính ra ve

Trăm lạy ông nghè tôi đã có con

Có con thì mặc có con

Thắt lưng cho giòn mà lấy chồng quan

và câu ca dao :

Ngựa ai buộc cửa ông cai

61

Oản ai ma lại ở tay bà nghè

cùng câu tục ngữ :

Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng

Nguyễn Khuyến viết :

Anh mừng cho chú đỗ ông nghè

Chẳng đỗ thì trời cũng chẳng nghe

Ân tứ dám đâu coi rẻ rúng

Vinh qui ắt hẳn nước tùng xòe

Rượu ngon ả nọ khôn đường tránh

Oản đẹp nàng này khó nhẻ che

Hiển quí đến nav đà mới rõ

Rõ từ những lúc tổng chưa đe

Mừng ông nghè mới đỗ

Nhận xét về ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết, khi nghiên cứu

Nguyễn Khuyến, tác giả Nguyễn Văn Huyền viết " trong thơ ... của ông nhan nhản những

thành ngừ, tục ngữ, ca dao ; mật độ khá đậm đặc " ( Nguyễn Khuyến - tác phẩm, Nxb KHXH,

1984, trang 81 ), một người đại trí thức uyên bác như Nguyễn Khuyến đã tận dụng cái nguồn

vô tận của văn học dân gian để làm giàu, làm đẹp thêm cho ngôn ngữ thơ mình là chuvện

thường tình.

Trong bài giảng " Truyện Nôm " ( cho lớp cao học Tây Ninh ) Hoàng Hữu Yên nhận

xét : " thành tựu nào của văn học viết cũng có cái nền là văn học dân gian ". Điều đó hoàn

toàn đúng khi ta nghiên cứu thơ văn Nguyễn Trãi; Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hồ Xuân Hương và

Nguyễn Khuyến, trong đó có thơ Nôm Đường luật. Kết quả của việc tiếp thu văn học dân

gian là làm cho quá trình dán chủ hóa, đại chúng hóa văn học diễn ra nhanh, mạnh hơn, làm

cho tính dân tộc, tính nhân dân càng đậm đà, khi người cầm bút ý thức được về nguồn gốc,

truyền thống của mình. Đó là một biểu hiện sinh động về sự phát triển hình thức thơ Nôm

Đường luật theo hướng dán tộc, dân chủ.

2.2.3 Ngôn ngữ đời sống thường ngày:

Đây là thứ ngôn ngữ được sử dụng trong cuộc sống hàng ngàv, của nhiều người, dùng

trong hội thoại. Ngôn ngữ đời thường rất phong phú, phức tạp. Nghiên cứu thơ Nôm thất 62

ngôn bát cú của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, luận

án chỉ tìm hiểu một số lớp từ cần thiết: khẩu ngữ, nói lái, chơi chữ. Xét ở phong cách văn

bản, ngôn ngữ thơ Nôm Đường luật thuộc phong cách nghệ thuật. Khẩu ngữ thuộc phong

cách hội thoại ( còn gọi là phong cách đời sống, sinh hoạt ) cho nên việc sử dụng khẩu ngữ

vào thơ chưa hẳn đã hay.

Nói cách khác, thơ hay chưa hẳn do sử dụng khẩu ngữ. Thực tế cho thấy, thơ Nôm

Đường luật hay, một phần do tác giả biết tiếp thu tinh hoa của ngôn ngữ bác học, một phần

biết sử dụng ngôn ngữ giản dị, chân thật, mộc mạc của đời sống, trong đó có khẩu ngữ. Chọn

khẩu ngữ để khảo sát vì nó là một trong những biểu hiện cụ thể nhất, phổ biến nhất, sinh

động nhất của giao tiếp bằng ngôn ngữ.

Tìm hiểu Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Bạch Vân quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh

Khiêm, ta thấy hai ông sử dụng ngôn ngữ đời thường dạng khẩu ngữ không nhiều. Sau đây là

vài ví dụ trong Quốc âm thi tập.

- Sự thế dữ lành ai hỏi đến

Bảo rằng ông đã điếc hai tai

Ngôn chí - bài 5

- Mấy kẻ công danh nhàn lẳng đẳng

Mồ hoang cỏ lục thấy ai đâu?

Tự thuật - bài 10

Chép hết bao nhiêu sự thế ưa

Ai ai đã biết được hay chưa?

Bảo kính cảnh giới - bài 52

và trong Bạch Vân Quốc ngữ thi :

- Ai hỏi: làm gì vui nưa ?

Thưa rằng: một sự làm lành !

Bài 15

- Đã từng trải sơn hà hết

Đường thế nhiều nơi hiểm hóc thay

Bài 70

63

- Kìa ai đủng đỉnh trong làng hạnh ?

Bài 95

Còn trong thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương; khẩu ngữ được sử dụng đậm đặc,

hiệu quả. Nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học đã khẳng định Hồ Xuân Hương là một nhà

thơ mở rộng cánh cửa cho văn chương thế kỷ XIX trong việc chọn lọc, sử dụng kho tàng

ngôn ngữ của đời sống, nâng nó lên trình độ nghệ thuật. Ví dụ :

- Chả trách người ta lúc trẻ trung !

Đá ông chồng bà chồng.

Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ ?

Lại đây cho chị dạy làm thơ

Mắng học trò dốt ( I )

Sao nói rằng năm lại có ba ?

Trách Chiêu hổ ( II )

Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày

Này này chị bảo cho mà biết

Chốn ấy hang hầm chớ mó tay

Trách Chiêu Hổ ( I )

Những từ " Chém cha ", " cha kiếp", " sáng banh ", " trưa trật", " rõ khéo ", " nín đi ", "

mân mó " ... rất thông tục, thậm chí thô tục tạo được ấn tượng mạnh dễ đi vào lòng người

đọc. Đó là nét rất niêng trong thơ Xuân Hương.

Nguyễn Khuyến tiếp tục con đường Xuân Hương đã rộng mở. Người đọc dễ gì quên

được những khẩu ngữ trong thơ ông:

Quyết chí phen này trang trải sạch

Cho đời rõ mặt cái thằng tao

Than nợ

Có tiền việc ấy mà xong nhì

Đời trước làm quan cùng thế a !

Kiều bán mình

64

Bác đến chơ đây, ta với ta!

Bạn đến chơi nhà

- Ôm tiu, gối mõ ngáy khò khò

Bỡn cô tiểu ngủ ngày

Là bậc đại trí thức, sống chan hòa với quê hương, Nguyễn Khuyến sử dụng khẩu ngữ

đời thường, một mặt như nó vốn có mặt khác được tinh luyện để vượt qua cái bình thường,

trở lại đời thường cao hơn đời thường, phảng phất vẻ đẹp trang nhã, tạo được cảm xúc dịu

nhẹ, dễ thấm sâu vào lòng người.

Như vậy, từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Hồ Xuân Hương và Nguyễn

Khuyến, thơ Nôm Đường luật ngày càng sử dụng nhiều, sử dụng hay khẩu ngữ. Điều đó làm

cho bài thơ thể hiện được sự phong phú, sinh động của cuộc đời; mang vào cho thơ nội dung

dân chủ ngày càng sâu sắc.

Trong khi khảo sát ngôn ngữ đời thường trong thơ Nôm Đương luật, luận án nhận thấy

một dấu hiệu độc đáo có xu hướng tăng dần từ Nguyễn Trãi qua Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ

Xuân Hương và Nguyễn Khuyến là chơi chữ trong đó có cách nói lái, chiết tư, sử dụng từ

đồng âm như là một cách chơi chữ. Trong Quốc âm thị tập của Nguyễn Trãi, chúng ta hầu

như chưa gặp dấu hiệu này. Đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, chơi chữ có sử dụng nhưng còn ít. Ví

dụ :

Anh em cùng mặt chẳng cùng lòng

Cờ bạc ai là ở có sòng

Bài 156 - Giới đổ bác

" Sòng " có nghĩa là rành mạch, thẳng thắn, phân minh. Trong trường hợp nay, khi răn

người ham mê cờ bạc, sòng được sử dụng như chơi chữ, vì ta thường nói " sòng bạc "

" Bà chúa thơ Nôm " Hồ Xuân Hương là người sử dụng biện pháp chơi chữ rất nhiều

lần và có hiệu quả nghệ thuật cao. Bài thơ sau đây tiêu biểu cho lối sử dụng các từ thuộc cùng

một trường nghĩa, nghĩa liên tưởng.

Bỡn bà lang khóc chồng

Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì

Thương chồng nên mới khóc tì ti

Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo 65

Cay đắng chàng ơi, vị quế chi!

Thạch nhũ, trần bì sao để lại

Quí thân, liên nhục tẩm mang đi

Dao cầu thiếp biết trao ai nhẽ ?

Sinh ký, chàng ơi, tử tắc quy.

Tác giả dùng nhiều tên thuốc bắc, thuốc nam như cam thảo, quế chi, thạch nhũ, trần bì,

qui thân, liên nhục; dùng những động tác dùng trong việc bào chế thuốc như sao, tẩm; dụng

cụ để thái thuốc như dao cầu .

Hồ Xuân Hương cũng tỏ ra biệt tài trong biện pháp chơi chữ bằng cách nói lái. Bằng

việc đảo lộn một số ngữ: đổi vần, giữ nguyên thanh điệu ... Sau đây là một bằng chứng :

Chùa Quán Sứ

Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo

Hỏi thảm sư cụ đáo nơi neo?

Chày kình, tiểu để suông không đấm

Tràng hạt, vãi lần đếm lại đeo

Sáng bánh không kẻ khua tang mít

Trưa trật nào ai móc kẽ rêu

Cha kiếp đường tu sao lắt léo

Cảnh buồn thêm chán nợ tình đeo

Xuân Hương làm thơ cả bằng chữ Nôm lẫn chữ Hán, dùng chữ Nôm nhiều hơn chữ

Hán. Qua chùm thơ viết về Vịnh Hạ Long, ta thấy tác giả rất giỏi chữ Hán. Xuân Hương chơi

chữ Hán cũng rất giỏi, không thua gì chơi chữ Việt. Bài thơ sau đây là một minh họa :

Không chồng mà chửa

( có sách gọi Dở dang )

Cả nể cho nên hóa dở dang

Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng !

Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc

Phận liễu sao đà nảy nét ngang ... 66

Hai câu 3 và 4 sử dụng lối chơi chữ. Duyên thiên có nghĩa là duyên trời. Trong chữ

Hán: Thiên là trời, nếu nét phảy của chữ thiên kéo nhô lên thành chữ phu, nghĩa là chồng. Ở

đây, nét phảy chưa " nhô đầu dọc ", ý nói chưa có chồng. " Liễu " nghĩa là xong, đồng âm với

" liễu " là cây liễu. Trong văn học cổ, cây liễu thường dùng chỉ người con gái, thiếu nữ. Chữ

liễu nếu thêm nét ngang thì thành chữ tử, nghĩa là con. Ý hai câu trên: chưa có chồng mà có

con. Chơi chữ như thế thật tài tình. Phải là người am hiểu chữ Hán, đồng cảm sâu sắc với cô

gái " cả nể cho nên hóa dở dang " R;R Xuân Hương mới viết được những câu thơ hay như thế.

Nhìn chung, nhà thơ khi sử dụng thủ pháp này thường để phản ánh một nội dung không

thể dùng ngôn từ nói thẳng ra vì sự tế nhị của văn chương, sau đó là tạo ra giá trị nghệ thuật.

Chẳng hạn, qua Chùa Quán Sứ, tác giả không cố ý chê bai nhà sư chân tu mà chính vì "

nhân danh sự sống , coi sự sống là niềm vui, là bài ca bất tuyệt của đất trời, không chấp nhận

cái gì đối lập với sự sống, cái ùa tàn, cái im lìm, cái chết chóc, cái phản tự nhiên " ( Thơ Hồ

Xuân Hương - Lê Trí Viễn, chuyên đề sau đại học, ĐHSP Tp. HCM, 1989, trang 21 ).

Lý giải hiện tượng nói lái, chơi chữ trong thơ Xuân Hương mạnh bạo, ngang tàng ... chỉ

có thể cắt nghĩa bằng cá tính mạnh, tài năng hơn người của nữ sĩ ... và ảnh hưởng của văn hóa

dân gian, của cao trào nhân văn chủ nghĩa cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX ở nước ta.

Đến với thơ Nôm Đường luật của Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến , ta thấy thơ

ông cũng dùng khá nhiều nghệ thuật chơi chữ. Chẳng hạn trong bài Muốn lấy chồng, nếu tách

các chữ thứ 7 ở các câu có vần ghép lại sẽ có : không chồng trông lông bông. Bài thơ như sau

:

Bực gì bằng gái chực phòng không

Tơ tưởng vì chưng một tấm chồng

Trên gác rồng mây ngao ngán đợi

Bên trời cá nước ngẩn ngơ trông

Mua vui lắm lúc cười cười gượng

Giả dại nhiều khi nói nói bông

Mới biết có chồng như có cánh

Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông.

Nếu trước đây, nữ sĩ họ Hồ đã có tài khi dùng tên các vị thuốc bắc, thuốc nam để giỡn

bà lang khóc chồng thì Nguyễn Khuyến cũng chẳng thua khi mừng ông Ước Đà, người cùng

làng với nhà thơ, mấy đời làm hàng thịt , thọ bảy mươi tuổi, một bài thơ, câu nào cũng có 67

những từ hàng thịt: tiết, cổ, răng, mắt, đầu, tai, vai, lòng, xương, máu:

Mừng ông lão hàng thịt

Nay tiết mừng ông mới bảy mươi

Cổ hy chưa dễ mấy lăm người

Răng long, nhưng hãy còn tinh mắt

Đầu bạc, nhưng mà chửa tắc tai

Bè bạn bầy vai kèo chén Lý.

Cháu con dưới gối múa sân

Lai Xưa nay vẫn giữ lòng chân thật

Chữ " đức giả xương " máu để đời

Những cách chơ chữ trên nhiều lúc chỉ cho vui. Tuy nhiên tùy đối tượng cụ thể, mà có

lúc, Nguyễn Khuyến nói khá sâu cay. Bài Tặng đốc học Hà Nam, ông viết :

Nghĩ rằng ông dại với ông điên

Điên dại sao ông biết lấy tiền

Cậy cái bảng vàng treo nhị giáp

Nẹt thằng mặt trắng cướp tam nguyên

Dấu nhà vừa thoát sừng trâu lỗ

Phép nước xin chừa móng lợn đen

Chỉ cốt túi mình cho nặng chặt

Trăm năm mặc kệ tiếng chê khen

Ở đây, " tam nguyên " có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là đỗ đầu ba kỳ thi ( thi hương, thi

hội, thi đình ) như Tam Nguyên Yên Đổ. Tam nguyên đối với nhị giáp rất chỉnh. Nghĩa thứ

hai của Tam nguyên là ba đồng. Trong bài, Tam nguyên dùng theo nghĩa thứ hai.

Trong bài "Bồ tiên thi ", Nguyễn Khuyến ý mỉa mai tên tri huyện tàn ác, bị nhân dân

chửi rủa nhiều, tổ chức cuộc thi thơ với đầu đề " Bồ tiên thi" ( lấy ở điển : Bồ tiên, nói về Lưu

Khoan, tự là Văn Nhiêu, sống ở đời Hậu Hán, tính nết khoan hòa, làm quan ở Nam Dương,

phàm ai phạm tội lỗi ông chỉ dùng roi bằng cỏ bồ để đánh ) ngầm ý khoe mình biết thương

dân. Hai câu luận, tác giả viết:

68

Bồ chứa miệng dân chừng bật cạp

Tiên là ý chú muốn vòi xu.

Tiên nghĩa là cái roi, đồng âm với chữ " tiên " nghĩa là đồng xu. Ở đây, tác giả dùng lối

chơi chữ để đả kích tên tri huyện tham nhũng, hay ăn hối lộ của dân.

Qua khảo sát, luận án nhận thấy: việc sử dụng biện pháp nói lái, chơi chữ ngày càng

được dùng nhiều hơn. Nhờ sử dụng thủ pháp này mà hình thức biểu hiện của thơ Nôm Đường

luật trở nên đa dạng, phong phú hơn, hiệu quả thẩm mỹ tăng lên. Đó là một biểu hiện sinh

động về sự phát triển hình thức trong thơ thất ngôn bát cú chữ Nôm từ Nguyễn Trãi qua

Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương và Nguyễn Khuyến.

Một nét đáng lưu ý khi xem xét ngôn ngừ đời thường là từ Nguyễn Trãi qua Nguyễn

Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương và Nguyền Khuyến có xu hướng tăng mạnh việc sử dụng đại

từ nhân xưng trong thơ Nôm Đường luật. Điều đó tạo sự khác biệt với Đường thi, Đường luật

Hán.

Ở Nguyễn Trãi, đại từ chỉ xuất hiện ở những từ " ông " ," ta ".

Ví dụ:

- Sự thế dữ lành ai hỏi đến.

Bảo rằng ông đã điếc hai tai

( Ngôn chi - bài 5 )

- Đạo ta cậy bởi chân non khỏe

Lòng thế tin chi mặt nước bằng

( Mạn thuật - bài 1 )

Đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, qua khảo sát cũng chỉ thấy xuất hiện "ta", " mình ". Ví dụ :

- Mệnh ở trời, há phải cầu ?

Đòi thời đi đỗ mặc ta dầu.

( Bài 9 )

- Già đã khỏi áng công danh

Tự tại, nào âu lụy đến mình ?

( Bài 15 )

69

Thơ Hồ Xuân Hương đúng là tiếng lòng của một phụ nữ rất dịu dàng, đằm thắm khi Bà

viết :em, thiếp, chàng ... Ví dụ :

- Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa.

Mảnh tình một khối thiếp xin mang

Dở dang

- Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng

Dở dang. . .

Đến Nguyễn Khuyến, thơ Nôm Đường luật xuất hiện hẳn một loại đại từ nhân xưng thứ

ngôi thứ nhất : tôi, tớ, mình, ông, lão, em ... Ví dụ :

Ông về đốc học bấy lâu nay

Gần đó mà tôi vần chửa hay.

Cửi đốc học Hà Nam

Hiện tượng xuất hiện ngày càng nhiều đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất và thứ ba đánh

dấu quá trình giải phóng cá nhân. Khi con người từ chồ là con người vù trụ, chủ thể trừ tình

hòa mình làm một với thiên nhiên, vũ trụ, chuyển đổi, tách ra thành con người cá nhân, cá thể

thì tính phi ngã sẽ mờ dần, tính hữu ngã sẽ đậm đặc hẳn lên. Đúng như Lê Trí Viễn nhận xét

đặc trưng của văn học trung đại là " từ chủ yếu vô ngã sang chủ yếu hữu ngã " ( Đặc trưng

văn học trung đại Việt Nam. Nxb KHXH,1996, trang 187 ).

Việc sử dụng ngày càng nhiều đại từ còn làm cho thơ Nôm Đường luật xa dần phong

cách quí phái, quan phương; tiếp cận gắn bó ngày càng bền chặt với cuộc sống đời thường,

dân dã ...

3.3 Tính hàm súc:

Là một đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật, trong đó có thơ Nôm luật Đường . Do hạn

chế về số từ được sử dụng, nhà thơ Nôm Đường luật đã tránh được lỗi từ thừa, từ lặp ( lặp

vụng về chứ không phải phép điệp - một biện pháp nghệ thuật) đạt độ hàm súc.

Hàm súc có nghĩa là đảm bảo được nhiều tính chất nhất ( hình tượng, cá thể , truyền

cảm ... ), bằng yếu tố ngôn ngữ được dùng ít nhất.

Khảo sát tính hàm súc của ngôn ngừ thơ Nôm Đường luật, luận án đi vào tìm hiểu ở

những phương diện : tiết kiệm lời, khái quát, dùng điển tính, điển cố.

70

3.3.1 Tiết kiệm lời:

Bài thơ thất ngôn bát cú chỉ được sử dụng 56 từ, phải làm sao mỗi từ là một hòn ngọc

long lanh, có thể tỏa sáng ban đêm. Nói ít mà gợi được nhiều là một tiêu chuẩn quan trọng

của nghệ thuật, trong đó có thơ Đường luật. Điều nói ra trong bài thơ lại không quan trọng

bằng điều nó gợi ra. Tuy nhiên, để hiểu được điều này, người tiếp nhận phải có vốn sống, am

hiểu nghệ thuật. Tính hàm súc được thể hiện trong 4 tác giả mà luận án khảo sát khá rò. Ví

dụ:

- Ở Nguyễn Trài :

Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén

Ngày vắng xem hoa bợ cây

Ngôn chí - Bài 10

- Nguyễn Bỉnh Khiêm :

Hoa mai bạc, vì trăng tỏ

Bóng trúc thưa, bởi gió lay

Bài 70

- Hồ Xuân Hương :

Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung

Làm lẽ

và Nguyễn Khuyến :

Cùng cờ, cũng biển, cũng cân đai

Cũng gọi ông nghè có kém ai

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng

Nét son điểm rỗ mặt văn khôi

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ

Cái giá khoa danh ấy mới hời

Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe

Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi

71

Tiến sĩ giấy - II

Đúng vậy, chỉ cần hai câu thơ ( lại là hai câu lục ngôn ), Nguyễn Trãi đã thể hiện được

bao nhiêu tình ý trong đó. Với cách ngắt nhịp 2/2/2 ở cả hai câu một cách đều đặn, người đọc

như hình dung ra trên những câu chừ ấy là một nhân vật trữ tình đang ung dung, làm chủ

mình ở giữa cảnh thiên nhiên yên tĩnh, một ông tiên trần thế. Cảnh thiên nhiên về đêm ở đây

như yên lặng tuyệt đối, trời trong, gió mát, trăng sáng. Thi nhân thả hồn theo gió trăng với

bầu rượu, túi thơ, không vướng víu bụi đời. Uống rượu dưới trăng, ánh trăng soi vào chén,

người uống rượu tưởng chừng như nghiêng chén hóp ánh trăng...

Hai câu thơ của Hồ Xuân Hương vừa nêu trên cùng vậy. Câu thứ nhất, khi đọc lên ta

thấy hai hoàn cảnh trái ngược : một kẻ ấm áp, một kẻ lạnh lùng. Chỗ ngừng giữa dòng thơ

( nhịp 2/2/3 ), sau chữ " bông " gợi cho ta một cảnh sống hạnh phúc, có vợ, có chồng, hàng

ngày, họ chăm lo, chiều chuộng, vun vén cho nhau, tận hưởng hạnh phúc. Đối lập với cuộc

sống ấy là " kẻ lạnh lùng " . Không có chồng hoặc có chồng mà cũng như không, có chồng

mà làm vợ lẽ, vợ cả " quản lý " hết chồng, đâu đến phần vợ lẽ cái chuyện kia ... Bài Tiến sĩ

giấy của Nguyễn Khuyến cũng vậy. Nói chuyện đồ chơi trẻ em trong dịp trung thu là tiến sĩ

làm bằng giấy để ám chỉ tiến sĩ thực ngoài đời. Kết luận rút ra là tiến sĩ thực cũng chẳng hơn

gì tiến sĩ giấy, chỉ là " tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ là " mảnh giấy " chứ không phải tờ giấy.

Sự đa nghĩa của hình tượng là một mặt quan trọng làm tăng độ hàm súc cho ngôn ngữ thơ

Nôm Đường luật.

3.3.2 Từ mang tính khái quát:

Một trong những yếu tố làm tăng tính hàm súc của ngôn ngữ là nhà thơ sử dụng nhiều

từ mang tính khái quát, các danh từ chung ... Chính việc sử dụng lớp từ này, nhà thơ Nôm

Đường luật đã tạo ra một khoảng trống cho suy tưởng, tưởng tượng. Từ một chi tiết trong bài

thơ, người tiếp nhận, tùy theo trình độ văn hóa, vốn sống, cảm hứng thời đại ... có thể liên hệ

đến nhiều hoàn cảnh, chi tiết khác nhau mà vẫn có lý. Đó là một nét độc đáo của ngôn ngữ

nghệ thuật, trong đó có thơ Nôm Đường luật. Ví dụ :

- Nguyễn Trãi :

Lao xao chợ cá làng ngư phủ

Dắng đỏi cầm ve lầu tịch dương

Bảo kính cảnh giới - bài 43

- Nguyễn Bỉnh Khiêm :

72

Đời này nhân nghĩa tựa vàng mười

Có của thì hơn hết mọi lời

( Bài 74 )

- Hồ Xuân Hương :

Một đèo, một đèo, lại một đèo

Khen ai khéo tác cảnh cheo leo

( Đèo Ba Dội)

- Nguyễn Khuyên :

Thầy bảo rằng thầy yêu cháu đây !

Thầy yêu mẹ cháu có ai hay ?

( Thầy đồ ve gái góa )

Quả thật, nhờ sử dụng danh từ chung, không xác định ( chỉ chung chung, loại lớn,

không chỉ loại nhỏ, ở dạng phân nghĩa, nhỏ nhất ) người đọc tha hồ liên tưởng đến những từ,

những sự vật cùng trường ý nghĩa. Hai câu thơ của Nguyễn Trãi vừa dẫn ở trên, có thể tác giả

lấy cảm hứng từ một vùng quê nào đó cụ thể ( chẳng hạn một làng chài ở Côn Sơn, nơi tác

giả có thời canh giữ chùa Tư Phúc nhưng người đọc có quyền liên hệ đến tất cả mọi làng chài

ven sông ven biển nào khác.

Câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm ( vừa dẫn ) cũng tương tự Tác giả nói " đời này " có

thể chỉ thời tác giả còn sống. Ta cũng có thể dùng cho ngày nay và cả mai sau nếu xã hội coi

vật chất là trên hết " vàng mười " ( tức là vàng mười tuổi, chữ Hán gọi là " thập thành kim ",

một thứ vàng quí nhất ). Câu thơ có nghĩa rất mỉa mai nhân nghĩa tựa vàng, vàng là nhân

nghĩa, ( ý này chuyển xuống câu 2 ).

3.3.3 Dùng điển tíc , điển cố:

Sử dụng nhiều điển tích, điển cố là một đặc điểm văn họ trung đại Việt Nam, trong đó

có thơ Nôm Đường luật " điển cố : s việc hay câu chữ trong sách đời trước được dẫn trong

thơ văn...; điển tích: câu chuyện trong sách đời trước được dẫn lại một cách cô đú trong tác

phẩm" (Từ điển tiếng Việt Trung tâm từ điển học-Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1994, trang 308).

Nhờ sử dụng điển tích, điển cố mà tác phẩm tăng thêm độ hàm súc, lời ít mà ý nhiều. Tin

nhiên, một số điển tích, điển cố được dùng đi dùng lại nhiều lần, mòn để trở thành sáo. Hơn

nửa, để đọc tác phẩm có dùng điển cố điển tích người tiếp nhận phải có trình độ văn hóa, văn

73

học . Nếu không, sau mỗi tác phẩm, người ta phải có chú thích, chú giải kèm theo.

Điều đáng lưu ý là các nhà thơ nôm Đường luật mà luận án khảo sát : Nguyễn Trãi,

Nguyền Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến là nhưng người học giỏi, đỗ đạt cao, tinh thông Hán

học. Hồ Xuân Hương - chưa biết con đường học hành, thi cử ra sao nhưng qua thơ thấy am

hiểu sâu sắc cả chữ Nôm lẫn chữ Hán, đều sử dụng thành công điển tích, điển cố. Nguyễn

Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng khá nhiều. Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến dùng rất ít.

Qua khảo sát mỗi tác giả 20 bài ( như đã nói trên ) chúng tôi nhận thấy:

- Nguyễn Trãi 24 câu / 160 câu dùng điển tích, điển cố; tỷ lệ 15 %.

- Nguyễn Bỉnh Khiêm 13 câu/160 câu dùng điển tích, điển cố; tỷ lệ 8,13 %.

- Hồ Xuân Hương 6 câu / 1 60 câu dùng điển tích, điển cố; tỷ lệ 3,8 %.

- Nguyễn Khuyến 3 câu / 160 câu dùng điển tích, điển cố; tỷ lệ 1,88 %.

Ví dụ :

- Nguyễn Trãi :

Con cháu mựa hiềm song viết tiện

Ngàn dâu cam quýt ấy là tôi

Ngôn chí - bài 12

( chữ " viết " có sách ghi là " nhật " ).

" cam quýt " Tương Đương ký, Lý Xung trồng một ngàn cây quýt, rồi bảo với con trai

rằng : " ta đã có một ngàn cây quýt kia làm đầy tớ, con không phải lo cơm áo cho ta sau này

nữa " . Từ đó, người ta thường dùng cam quýt để chỉ kẻ tôi tớ.

hay một ví dụ khác :

Cách song mai tỉnh hồn Cô Dịch

Kề nước cầm đưa tiếng Cửu Cao

( Man thuật - 13)

Cô Dịch : Thiên " Tiêu dao du " sách Trang Từ: Thần nữ núi Cô Dịch là một cô gái yểu

điệu, da trắng như băng tuyết. Ở đây, Nguyễn Trãi muốn ví cái cốt cách thánh khiết của cây

mai với cái vẻ trong trắng của thần nữ núi Cô Dịch.

Cửu Cao: Đầm nước sâu. Bài thơ Hạc Minh trong Kinh thi có câu " Hạc minh vu Cửu

74

Cao, thanh văn vu dã " ( Chim hạc kêu ở đầm nước sâu, tiếng vang cả đồng nội ). Chim hạc

lại là vật tượng trưng cho người quân tử ẩn dật. Chữ cầm ở đây chắc hẳn không phải đàn, mà

là chim mới đúng với điển tích và đối với mai ở câu trên.

thêm một ví dụ nữa :

Vượng Chất tình cờ ta ướm hỏi

Rêu phơi phới thấy tiên đâu ?

Trần tình - bài 5

Vương Chất : người đời Tấn, theo truyền thuyết, một hôm vào rừng lấy củi, thấy hai vị

tiên đang đánh cờ. Chất chống búa đứng xem. Đến khi tan cuộc cờ nhìn lại thì cán búa đã

mục nát. Chất trở về làng thì ra đả qua mấy trăm năm. Sau Chất vào núi và trở thành iiên. Hai

câu trên ý muốn nói: nếu vào núi mà tình cờ gấp Vương Chất thì ta sẽ ướm hỏi đôi điều,

nhưng rủi thay, chỉ thấy rêu xanh một màu, chứ có thấy tiên đâu ...

Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng điển tích, điển cố khá nhiều . Ví dụ :

Ải Tần, non Thục đường nghèo hiểm

Cửa khổng, làng Nhan đạo khó khăn.

Bài 20

Ải Tần, non Thục: đường làm quan, đường công danh ngặt nghèo, nguy hiểm nhu

đường lén ải Tần, vào non Thục. Tần là tên nước thời Xuân thu chiến quốc...

Cử khổng, làng Nhan : tiếng chỉ đạo học của Nho gia. Nhan ở đây là Nhan Hồi, học trò

giỏi của Khổng tử.

Hay: Hoàn bái còn nên thốt sự đời ?

Kham hạ, Lưu hầu từ Hán lộc

Cốc Thành náu ẩn Xích tùng chơi

( Bài 21 )

- Hoàn bái: quay lá cờ trở về, dẫn điển trong truyện Vương Tấn chép ở Tấn thư, ý nói

thôi làm quan về ở nhà.

- Kham hạ : chịu thua. Lưu hầu: tước phong của Trương Lương, một mưu thần giúp

vua Cao tổ nhà Hán thành công, từ bỏ tước lộc đến ẩn náu ở núi Cốc Thành và nói là theo

Xích tùng tử để tu tiên. ...

75

Thơ Nôm Hồ Xuân Hương :

Xiêu mai chi dám tình trăng gió

Tranh Tố Nữ

Xiêu mai, còn đọc là phiếu mai ( Mai rụng ) tên một bài thơ trong Kinh thi, nói về tình

cảnh một người con gái đến tuổi đi lấy chồng. Ở đây, " Xiêu mai " dùng chỉ chung về phụ nữ,

con gái :

hay: Đã có Hằng Nga ghé mắt dòm

( Hỏi trăng 1)

Hằng Nga : vợ Hậu Nghệ. Theo sách Hoài Nam Tử, Hậu Nghệ xin được thuốc trường

sinh của bà Tây Vương Mẫu bị Hằng Nga lấy trộm chạy lên cung trăng..

Nhà thơ Nguyễn Khuyến cũng sử dụng điển tích, điển cố trong thơ Nôm Đường luật .

Ví dụ :

Ấy hồn Thục đế thác bao giờ

Cuốc kêu cảm hứng

Thục đế : do điển cũ cho rằng vua nước Thục mất nước, lúc chết hóa chim quốc, nhớ

nước đêm đêm lại kêu ròng rã: Thục quốc ! Thục quốc ! ...

- Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng

Chợ đồng.

Pháo trúc: tương truyền ngày xưa, ở dãy núi phía tây Trung Quốc có loài quỉ gọi là Sơn

táo, hễ người nào trông thấy chúng là bị ốm. về sau, Lý Điền lấy ống trúc đốt lửa nổ thành

tiếng rất to, làm cho quỉ sợ chạy mất. Tin có chuyện đó, người đời sau đốt pháo để trừ ma

quỉ...

Việc sử dụng điển tích, điển cố là hiện tượng bình thường trong văn học trung đại Việt

Nam. Dùng đúng, dùng hay điển tích, điển cố không đơn giản. Vì nhờ đó mà thơ Nôm Đường

luật nói ít, mà gợi nhiều, ngôn ngữ trở nên hàm súc, cô đọng. Việc giảm dần tỷ lệ sử dụng

điển tích, điển cố trong quá trình phát triển của thơ thất ngôn bát cú từ Nguyễn Trãi qua

Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương và Nguyễn Khuyến thể hiện sự chuyển mình của văn

học từ tiền trung đại sang hậu trung đại, tạo cơ sở cho bước chuyển tiếp sang văn học hiện đại

vào nửa đầu thế kỷ XX.

Ghi chú : văn học hiện đại rất ít dùng điển tích, điển cố, chứ không phải không dùng.

76

Ví dụ : trong bài Nguyệt cầm, Xuân Diệu viết:

Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người.

77

PHẦN KẾT LUẬN

Như đã nói trong phần mở đầu, luận án chỉ tìm hiểu sự phát triển về hình thức của thể

thơ thất ngôn bát cú chữ Nôm qua bốn tác giả: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân

Hương, Nguyễn Khuyến

Qua khảo sát, luận án nêu ra mấy kết luận sau đây :

Về cấu trúc:

Một bài thơ thất ngôn bát cú, đúng như tên gọi của nó, phải có tám câu, mỗi câu bảy

chữ, thực tế sáng tác của bốn tác giả nêu trên, phần nhiều tuân thủ đầy đủ yêu cầu đó. Bên

cạnh đó, các tác giả Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong các sáng tác thơ Nôm Đường

luật lại sử dụng xen kẽ nhiều câu lục ngôn. Số lượng bài có câu thơ sáu chữ ( câu lục ) và số

lượng câu thơ sáu chữ trong một bài giảm dần từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đến

Hồ Xuân Hương chỉ còn vài câu không đáng kể. Nguyễn Khuyến không có bài nào, câu nào

sử dụng câu lục. Qua khảo sát, kết quả thu được phản ánh qui luật của quá trình Việt hóa thơ

Nôm Đường luật từ Nguyễn Trãi qua Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương và Nguyễn

Khuvến là hiện tượng không theo qui cách thơ Đường luật giảm dần và quá trình phát triển

của thơ Nôm Đường luật là đi từ thế chưa ổn định đến ổn định.

Qua tìm hiểu thơ Đường, người ta nhận thấy người Trung Quốc có các thể thơ mỗi câu

năm chữ hay sáu chữ, hoặc bảy chữ; không có hiện tượng thất ngôn xen lục ngôn. Phải chăng

các nhà thơ Việt Nam trên con đường tìm tòi một thể thơ dân tộc ít nhiều thoát ly Đường luật

trong khi vần giữ phong cách chung của thơ Đường luật. " Đó là một sự thay đổi có thể là

một thí nghiệm tìm tòi một âm điệu mới ra ngoài khuôn phép luật Đường " ( Giáo trình

tổng quan Văn chương Việt Nam Lê Trí Viễn, TTĐTTX, ĐH Huế, 1995, trang 54 . Kết

quả của quá trình tìm tòi ấy không thành công( càng về sau càng ít người dùng, không có

người dùng ). Điều đó không hẳn là thất bại hoàn toàn, ngược lại, nó vẫn tạo ra một nhạc

điệu mới, lạ, có ý nghĩa về tu tưởng, thẩm mỹ.

Về cách ngắt nhịp câu thợ sáu chữ : Nguyễn Trãi sử dụng hầu hết cách ngắt nhịp có thể

có đối với câu thơ sáu chữ. Nguyễn Bỉnh Khiêm rất ít, nói đúng hơn, hầu như không sử dụng

cách ngắt nhịp 2/2/2. Hồ Xuân Hương có vài câu lục và chỉ dùng cách ngát nhịp 3/3. Điều đó

chứng tỏ, quá trình phát triển về hình thức của thơ Nôm Đường luật, nhiều yếu tố tạo nên

hình thức đều được đưa vào thử nghiệm. Kết quả của các cách ngắt nhịp này về sau không

được chấp nhận khi thơ lục bát- một thể thơ bản địa- có nhiều thành tựu được ghi nhận trong

78

văn học dân gian ( qua ca dao, dân ca ); trong văn học viết ( truyện Kiều của Nguyễn Du ) "

Vì thể lục ngôn này nhịp điệu tuy có sinh động nhưng âm điệu chưa phù hợp với tâm hồn

Việt Nam" ( Những, cố gắng...nhằm ly khai thơ Việt Nam ra khỏi thơ Tàu " Nguyễn Văn Xung đăng

trên Tạp chí Tư tưởng ( Sài Gòn số 1 năm 1973, trang 143 ), vì nhà thơ đã phá vỡ sự hài hòa

âm dương trong dòng thơ, sự tương hợp giữa nội dung và hình thức thơ Đường luật.

Dẫu sao các cách ngắt nhịp đối với câu lục vẫn tạo ra được nhưng âm điệu mới sinh

động, tránh được sự đơn điệu.

Về cách ngắt nhíp của câu thơ bảy chữ:

Thơ Đường luật thất ngôn bát cú của Trung Quốc thường sử dụng cách ngắt nhịp 4/3

hay 2/2/3. Thơ Nôm Đường luật Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương và

Nguyễn Khuyến, bên cạnh việc sử dụng rộng rãi cách ngắt nhịp đối với câu thơ bảy chữ của

Trung Quốc nói trên còn dùng cách ngắt nhịp 3/4. Đó là nét độc đáo rất riêng, rất Việt Nam,

có thể gọi là phản mã Đường thi, là cách Việt hóa đơn giản nhất.

Bài thơ thất ngôn bát cú có liên 2 ( cặp thực ) và liên 3 ( cáp luận ) buộc phải đối nhau

từng cặp. Đây là một đặc trưng nổi bát. Nhờ đối mà bài thơ có sự cộng hưởng về nội dung và

nhạc điệu. Thơ Nôm Đường luật của bốn tác giả được khảo sát đều thể hiện rõ đác trưng này.

Qua Nguyễn Bỉnh Khiêm , Hồ Xuân Hương và Nguyễn Khuyến, thơ Nôm Đường luật của họ

có sự kết hợp giữa đăng đối và đối lập nhằm phục vụ mục đích trào phúng. Thủ pháp đó

không chỉ sử dụng ở liên 2 và liên 3 mà trong toàn bài. Hình thức trào phúng củng nhiều cung

bậc, khi thì nhẹ nhàng, dí dỏm; khi thì thâm thúy, sâu cay. Đó là một biểu hiện của sự phát

triển về hình thức của thơ Nôm Đường luật : nghệ thuật trào phúng.

Về ngôn ngữ: Như đã nói ở trên, bốn tác giả mà luận án khảo sát là những người tinh

thông Hán học. Bên cạnh các sáng tác thơ văn bằng chữ Hán, họ đã sáng tác một khối lượng

tác phẩm không nhỏ bằng chữ Nôm, trong đó có thất ngôn bát cú .

Khi xem xét tính dân tộc trong văn học, Phương Lựu viết " Ngôn ngữ có lẽ là biểu hiện

dễ thất nhất về tính dân tộc của tác phẩm văn học ( ... ) sự chuyển biến ngôn ngữ văn chương

từ chỗ vay mượn đến việc sử dụng tiếng nước nhà, thường là dấu hiệu trưởng thành của nền

văn chương dân tộc, ( ... ) ngoại trừ những nguyên nhân lịch sử... thì không thể quan niệm

một tác phẩm văn chương có tính dân tộc toàn vẹn mà lại viết bằng tiếng nước ngoài " ( Tìm

hiểu một nguyên lý văn chương, Nxb KHXH, 1983, trang 169, 170 ). Ý kiến đó giúp chúng ta

khẳng định việc nhà thơ sử dụng chữ Nôm để làm thơ thất ngôn bát cú, dùng ngày càng

nhiều, càng hay là dấu hiệu phát triển về hình thức theo hướng đề cao bản sắc dân tộc ở

79

phương diện chất liệu văn học .

Trong khi khảo sát ngôn ngữ trong thơ Nôm Đường luật, luận án nhận thấy có một hệ

thống từ Hán-Việt , một hệ thống ngôn ngữ đời thường,dân gian và xem xét tính hàm súc của

nó.

Ở hệ thống thứ nhất : Bài thơ thất ngôn bát cú chỉ có 56 từ, " phải làm thế nao cho 56 từ

là 56 hòn ngọc có thể tỏa sáng ban đêm... lời và câu là có hạn, nhưng ý thì vô hạn " ( Thơ ca

Việt Nam, Bùi Văn Nguyên-Hà Minh Đức, Nxb KHXH, H, 1971, trang 289 ). Để làm được

điều đó, nhà thơ Nôm Đường luật đã sử dụng ngôn ngữ tiết kiệm, hàm súc, kết tinh. Từ Hán-

Việt giảm dần tỷ lệ sử dụng từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Khuyến. Sử dụng đúng từ Hán Việt

cũng góp phần nâng cao nét đài các, quí phái, trang trọng như Đường thi cho thơ Nôm luật

Đường.

Ở hệ thống thứ hai ( ngôn ngữ gần với đời thường ), luận án nhận thấy các nhà thơ

Nôm Đường luật từ Nguyễn Trãi qua Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương và Nguyễn

Khuyến xu hướng sử dụng ngày càng nhiều, càng hay từ thuần Việt. Nhãn tự trong thơ Nôm

Đường luật hầu như được cảm nhận ở nhóm từ này. Việc sử dụng ngày càng nhiều từ láy tạo

hiệu quả thẩm mỹ cao. Trong so sánh với Đường thi, Đường luật Hán, ta có thể khẳng định

tính ưu việt của tiếng Việt bởi nó có tính hình tượng, miêu tả, gợi cảm, tính cân đối nhịp

nhàng." Nó giúp ta giữ vững lòng tin vào năng lực tiềm tàng của tiếng Việt" ( Bước đầu tìm

hiểu về ngôn ngữ của Nguyễn Đình Chiểu - Tạp chí ngôn ngữ, số 3 năm 1972, trang 8- Bài

viết của Hồng Dân ).

Trong khi khảo sát bộ phận ngôn ngữ dân tộc, đời thường qua bốn tác giả, chúng tôi

nhận thấy các nhà thơ có xu hướng tăng dần về sau việc sử dụng những danh từ riêng để chỉ

những tên đất, tên người, tên cỏ cây, hoa lá của quê hương đất nước mình. Trong Đường thi,

Đường luật Hán chỉ dùng những danh từ chung, mang tính khái quát. Còn ở Đường luật Nôm

Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm việc sử dụng chúng còn ít ỏi. Đến Hồ Xuân Hương,

Nguyễn Khuyến thì có hẳn hoi một hệ thống danh từ riêng mang tính cụ thể, cá biệt. Ngoài

tác dụng trữ tình, nó có chức năng miêu tả. Đây là vấn đề có ý nghĩa, một nét phản mã Đường

thi, tạo tiền đề cho thơ ca chuyển sang phạm trù hiện đại: gắn với đời thường.

Như trên đã nói, ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết là một trong

những qui luật cơ bản của lịch sử văn học Việt Nam. Trong thơ thất ngôn bát cú chữ Nôm

của bốn tác giả mà luận án tìm hiểu, nhiều câu tục ngữ, ca dao, thành ngữ... được vận dụng

khá linh hoạt, sáng tạo. Điều đó chứng tỏ các tác giả đã tiếp thu tinh hoa của văn học dân

gian, sáng tạo ra những vần thơ giàu hình ảnh, cảm xúc, mạnh sắc thái, trí tuệ mà vẫn bình dị, 80

đời thường.

Về phương diện này, ngôn ngữ thơ Nôm luật Đường phát triển theo hướng dân tộc, đại

chúng, bài thơ có nội dung dân chủ sâu sắc.

Một điểm đáng lưu ý trong khi xem xét ngôn ngữ thơ thất ngôn bát cú chữ Nôm của

Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương và Nguyền Khuyến là xu hướng sử dụng

ngôn ngữ đời thường ngày càng nhiều. Qua tìm hiểu một số lớp từ thuộc loại này như khẩu

ngữ, nói lái, chơi chữ, luận án nhận thấy:

Ở Nguyễn Trãi hầu như chưa sử dụng các lớp từ này. Đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, khẩu

ngữ dược dùng khá nhiều. Nói lái, chơi chữ hầu như chưa dùng. Thơ Nôm Đường luật trong

tay Hồ Xuân Hương tràn ngập khẩu ngữ, nói lái, chơ chữ. Đến Nguyễn Khuyến, ông tiếp tục

con đường Xuân Hương đã mở rộng. Chắc hẳn, không ai nói rằng thơ có dùng khẩu ngữ mới

hay. Dùng đúng chỗ khẩu ngữ sẽ làm cho bài thơ mang một vẻ đẹp tươi tắn của đời thực. Sử

dụng nghệ thuật nói lái, chơi chừ đúng đối tượng, hoàn cảnh sẽ góp phần khẳng định tiếng

Việt ta giàu có, trong sáng, uyển chuyển. Nói né, mà vẫn nói được nội dung cần nói là thế

mạnh của thủ pháp nghệ thuật này. Khảo sát vấn đề này, ta rút ra kết luận: Nhờ sử dụng nói

lái, chơi chữ mà thơ Nôm Đường luật giàu có hơn, tinh tế hơn trong phương thức phản ánh

cuộc sống.

Qua khảo sát ngôn ngữ đời thường, luận án nhận thấy sự xuất hiện của chủ thể trữ tình

trong cách xưng hô củng ngày một phong phú. ở Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm là " ông"

,"'ta","mình". Đến Hồ Xuân Hương, đó là" thân em","của em","Xuân Hương","thiếp", "duyên

em"...Với Nguyễn Khuyến:"tôi",'tớ","mình","lão",'ta","tao"... Đó là biểu hiện của cả một quá

trình đổi mới quan niệm về con người, từ con người tự nhiên, con người vũ trụ sang con

người cá nhân. Với cách xưng hô như vậy, thơ Nôm Đường luật ngày càng phát triển theo

hướng cá thể hơn, dân chủ hơn... Một đặc điểm quan trọng của thơ Nôm Đường luật là tính

hàm súc. Dùng từ ít nhất mà nói, gợi ca được nhiều nhất là do nhịp điệu của thể thơ, câu thơ,

tính đa nghĩa của từ ngữ, hình tượng. Nhà thơ sử dụng nhiều danh từ chung cũng tạo sự liên

tưởng phong phú cho người tiếp nhận bởi tính phổ quát của nó.

Trong khi xem xét việc sử dụng điển tích, điển cố, luận án nhận thấy Nguyễn Trãi,

Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng khá nhiều, hầu hết lại lấy từ trong sách vở Trung Quốc. Nguyên

nhân chủ yếu có thể do " quan niệm thẩm mỹ thời phong kiến nói chung, lấy chuẩn mực của

cái đẹp và chân lý ở quá khứ. Càng cổ xưa càng coi là lý tưởng " ( Dạy văn ở trường phổ

thông cấp 2 Nguyễn Đăng Mạnh, Vụ Giáo viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 1993, trang 10, 11).

Thơ Hồ Xuân Hương dùng rất ít điển tích, điển cố. Đến Nguyễn Khuyến, ông chỉ dùng một 81

số điển tích, trong đó phần lớn của dân tộc. Sự giảm dần, ít dần của hiện tượng này trong quá

trình phát triển của thơ Nôm Đường luật có thể góp phần xác định đến Nguyễn Khuyến, văn

học trung đại đã đi gần trọn con đường của nó, sắp có bước chuyển mình để chuyển sang

phạm trù văn học hiện đại.

Tổng quan về ngôn ngữ thơ Nôm Đường luật : Nếu " Nguyễn Trãi đả sử dụng một vốn

từ tiếng Việt phong phú bậc nhất vào thời ấy để sáng tác thơ " (Từ điển văn học , tập 2, Nxb

KHXH, 1 984, trang 396 ), đánh dấu một bước quan trọng của văn học chữ Nôm, đã thúc đẩy

mạnh mẽ bước phát triển ấy " ( Thơ văn Nguyễn Trãi - Phan Sỹ Tấn và Thanh Đạm, Nxb

Giáo dục, 1980, trang 226 ) thì " thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm xét về mặt ngôn ngữ văn học,

là một bước tiến, một gạch nối giữa thơ Nôm thế kỷ XV và thơ Nôm thế kỷ XVII" ( Thơ văn

Nguyễn Bỉnh Khiêm - Dinh Gia Khánh chủ biên, Nxb văn học, 1984, trang 41 ). Đến nữ sĩ họ

Hồ, tiếng Việt chữ Nôm trở nên hàm súc, trong sáng, gợi cảm, phong phú, Đúng như Đặng

Thanh Lê nhận xét " Thơ Hồ Xuân Hương chứng tỏ cái khả năng dồi dào đến kỳ lạ - của

tiếng nói dân tộc ta." ( Góp thêm một tiếng nói trong việc đánh giá thơ Hồ Xuân Hương , Tạp

chí nghiên cứu văn học , số 3-1963 ). Nguyễn Lộc viết " Nếu Xuân Hương không phải là bậc

thầy về ngôn ngữ dân tộc thì không thể nào viết phóng khoáng tự nhiên, hóm hỉnh, dí dỏm

một cách đặc sắc đến thế. Ngôn ngữ dân tộc dưới ngòi bút Hồ Xuân Hương vừa súc tích,

chính xác, lại vừa uyển chuyển, linh hoạt phong phú về nghĩa, đặc sắc về tạo hình,dồi dào về

âm thanh nhịp điệu " ( Thơ Hồ Xuân Hương , Nxb Văn học, 1982 ). Xuân Diệu hoàn toàn

có lý khi nhận xét:" Hồ Xuân Hương là bà chúa thơ Nôm ".

Từ trình độ cổ điển thời Xuân Hương, ngôn ngữ thơ Nôm Đường luật Nguyễn Khuyến

tiếp tục phát huy thế mạnh của nó và" đạt đến trình độ mẫu mực với phong cách giản dị, tinh

tế, tự nhiên và sâu lắng... trong sáng, phong phú, biến hóa, đẹp như đêm trăng trên sông nước

đồng quê " Văn học 11, tập 1,Ban KHXH, Nxb Giáo dục, 1995, trang 103 ), Trong so sánh

với ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Lộc viết về Nguyễn Khuyến "hàng ngày hơn, cá

thể hơn và thành thục hơn". ( Hỏi về thơ Nôm Đường luật).

Nếu nói: nhà thơ, nhà văn lớn là người hoặc cách tân, hoặc hoàn thiện hoặc góp phần

sáng tạo ra một thể loại văn học mới thì Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương

và Nguyễn Khuyến là những người như thế. Họ đã góp phần Việt hóa một thể thơ ngoại lai

trên tinh thần tiếp thu tinh hoa của nó, để phản ánh con người và tính cách Việt Nam. Từ

Nguyễn Trãi đến Nguyễn Khuyến, chặng đường hơn nửa thiên niên kỷ thơ Đường luật trải

qua ở Việt Nam, xã hội Việt Nam đầy biến động, thăng trầm, hình thái xả hội vẫn là phong

kiến. Thơ Đường luật nói chung, thơ thất ngôn bát cú nói riêng cũng diễn ra những cải cách,

82

cách tân không nhỏ nhưng tất cả vẩn thuộc phạm trù trung đại theo hướng: dân tộc hóa, cá thể

hóa, dân chủ hóa... ngày càng rõ cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức thể loại.

Thơ Đường luật chiếm một phần không nhỏ trong thơ Đường. Điều đó chứng tỏ, thời

Đường, thơ cách luật được dùng nhiều, về sau, nó nhường Ưu thế cho từ. Đến đời Nguyên,

thể loại Ưu thế là kịch, đời Thanh là tiểu thuyết... Thơ Đường luật ngày càng ít người làm.

Đó là ở Trung Quốc.

Ở Việt Nam, qua so sánh của Nguyễn Khắc Phi với văn học Trung Quốc về thể thơ

Đường luật thì " từ đầu thế kỷ XX đến nay, chưa có thống kê, song theo tôi, có lẻ ở Việt Nam

người ta viết thơ Đường luật nhiều hơn ở Trung Quốc " ( Hỏi về thơ Đường luật ).

Do tính chất gò bó về hình thức, từ lâu, đối với số đông người làm thơ, thơ Đường luật

khó diễn đạt được đầy đủ, sinh động tình cảm của con người hiện đại. Tuy vậy, thơ Đường

luật thỉnh thoảng vẫn còn xuất hiện trên một số lĩnh vực và ở một số trường hợp nhất định

trong đời sống văn hóa của nhân dân ta " ( T ừ điển văn học , tập 2, Nxb KHXH, 1984,

trang 379 ) nhường cho cho những thể thơ tươi nhạc, tươi vần, phóng khoáng phù hợp với

tâm hồn rộng mở, với hiện thực đa dạng, sinh động. Dù ít được sử dụng để sáng tác nhưng

những bài thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương,

Nguyễn Khuyến mãi mãi sẽ là kho tàng vô giá cho lịch sử văn học dân tộc ở nhiều phương

diện. Đúng như Hoàng Hưu Yên đã khẳng định:" cho đến ngày nay, thơ Nôm luật Đường

không phải không còn có vị trí trong nền thơ ca hiện đại " (Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ

XVIII nửa đầu thế kỷ XIX Nxb Giáo dục, 1990, trang 124).

83

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. AN, Nguyên

" Cái độc đáo trong cấu trúc nghệ thuật của bài thơ Bạn

đến chơi nhà " Văn nghệ ( HNV ) số 28 ngày 14/7/1990.

2. BÍCH HẢI, Nguyễn Thị

Thi pháp thơ Đường Huê. Nxb Thuận Hóa, 1995.

3. CẨN, Nguyễn Sĩ

Mấy vấn đề phương pháp dạy thơ văn cổ Việt Nam ,

HN, Nxb GD, 1984.

4. CẢNH, Nguyễn Phan

Ngôn ngữ thơ. HN, Nxb ĐH và THON 1987.

5. CHÂU, Đỗ Hữu ( và...)

Tiếng Việt 10, Ban KHXH, Nxb GD, 1995.

6. CHI, Nguyễn Huệ

Nguyễn Bỉnh Khiêm, danh nhân văn hoa, HN. Bộ

VHTT và TT xb, 1991.

7. CHI, Nguyễn Huệ

" Con đường giao tiếp của văn học cổ trung đại Việt

Nam nhìn trong mối quan hệ khu vực ". Tạp chí văn học , số

1, 1992.

8. CHI, Nguyễn Huệ

Thi hào Nguyễn Khuyến, Đời và Thơ, HN. Nxb

KHXH, 1992.

9. CHÍNH, Trương (và ...)

Lịch sử văn học Việt Nam Nxb GD, HN, 1971.

10. CHÍNH, Trương (và ...)

Sổ tay văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa, 1978

11. CHÍNH, Trương

" Cha ông ta đã vận dụng các thể loại văn học Trung

Quốc như thế nào vào thơ Nôm". Tạp chí văn học , số 2 năm

1973.

12. CHÚ,Nguyễn Đình (và...)

Tác giả văn học Việt Nam .Nxb GD. 1990.

13. DÂN, Hồng

" Bước đầu tìm hiểu về ngôn ngữ của Nguyễn Đình

Chiểu ". Tạp chí ngôn ngữ số 3 năm 1972.

14. Diệu, Xuân

Các nhà thơ cổ điển Việt Nam . Tập I, Nxb Văn học,

84

1981. Tập II. Nxb Văn học

(tái bản 1987).

15. GIÀU, Trần Văn

Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam ,

Nxb KHXH, HN, 1980.

16. Giáo trình lịch sử vãn học

Nhiều tác giả -tủ sách ĐHSP, Nxb GD, HN, 1978

Việt Nam

17. HÀM, Dương Quảng

Văn học Việt Nam, Bộ GĐ(Sg ). Trung tâm học liệu tái

bản, 1968.

18. HÀM, Dương Quảng

Việt Nam văn học sử yếu, Bộ GD (Sg ). Trung tâm học

liệu tái ban, 1968.

19. HÃN, Hoàng Xuân

Hồ Xuân Hương- Thiên tình sử. Nxb văn học, HN,

1995.

20. HIỆP, Hồ Sĩ

Thơ Đường, Nxb tổng hợp Khánh Hòa, 1991.

21. HOA, Thái

Phong cách học tiếng Việt. Nxb GD, HN, 1993.

22. HUYỀN, Nguyễn Văn

Nguyễn Khuyến- tác phẩm, Nxb KHXH, 1984.

23. KHÁNH, Đính Gia

Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nxb Văn học , HN,

1983.

24. KHÁNH, Đinh Gia

Văn học cổ Việt Nam. Tập I, Nxb GD, 1964.

25. KHIÊU, Vũ

Người tri thức Việt Nam qua các chặng đường lịch

sử. Nxb Tp.HCM, 1997.

26. KHIÊU, Vũ Tỉ.

Thơ văn Nguyễn Trãi , Nxb Văn học, HN, 1980.

27. LÃNG, Thanh

Thế hệ dấn thân yêu đời, Phong trào văn hóa ( Sg )

1971.

28. LỘC, Nguyễn

Thơ Hồ Xuân Hướng, Nxb văn học, 1984.

85

29. Lịch sử vãn học Trung

Tủ sách ĐHSP, nhiều tác giả, Nxb GD, 1963.

Quốc

30. LỰU, Phương

Một nét thẩm mỹ Trung Hoa, qua đối sánh mô thức vũ

trụ Đông Tây. Văn nghệ số 39-1995. .

31. Lựu, Phương

Tìm hiểu một nguyên lý văn chương. Nxb KHXH,

HN, 1983.

32. Lựu, Phương

Tinh hoa lý luận văn học cổ điển Trung Quốc , HN,

Nxb GD, 1989.

33. Lựu, Phương

Văn hóa văn học Trung Quốc cùng một số liên hệ ở

Việt Nam . Nxb Hà Nội, 1996.

34. Lược truyện các tác giả

Nhiều tác giả - Sử học. HN, 1962.

Việt Nam

35. LUẬN, Phan Trọng

Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường. Nxb

GD, 1971.

36. MAI, Đặng Thai

" Mối quan hệ lầu đời và mật thiết giữa văn học Việt

Nam và văn học Trung Quốc " Tạp chí nghiên cứu văn học ,

số 7, 1961.

37. MẠI, Trần Thanh

“Thử bàn lại vấn đề tục và dâm trong thơ Hồ Xuân

Hương” . Tạp chí nghiên cứu văn học , số 4, 1961.

38. MẠNH, Nguyễn Đăng

Dạy văn ở trường phổ thông cấp 2. HN. Vụ Giáo viên,

Bộ GD và ĐT, 1993.

39. MINH, Đổng Tập

Sơ lược lịch sử Trung Quốc . Nxb Ngoại văn Bắc

Kinh, 1963.

40. ĐỈNH, Cao Huy

Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb

KHXH, 1976.

41. ĐỂ, Trần Xuân

Văn học Trung Quốc, Nxb GD. HN, 1963.

86

42. NGỌC, Phan

" Tìm hiểu sự đối xứng trong văn học ". Tạp chí văn

học , số 1, 1983.

43. NGUYÊN,Bùi Văn (và...)

Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, HN, Nxb

KHXH, 1971.

44. NGUYÊN, Bùi Văn

Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2, Nxb GD, 1978.

45. NGUYÊN, Bùi Văn

Tư liệu tham khảo văn học Việt Nam, Nxb GD, 1979.

46. NGUYÊN, Bùi Văn

Văn chương Nguyễn Trãi , Nxb ĐH và

THCN, HN, 1984.

47. NGUYÊN, Lữ Huy

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời, Nxb Văn học, HN,

1996.

48. PHI, Nguyễn Khắc

" Thơ Đường ", văn học 10, tập 2, Ban KHXH, Nxb

GD, 1994.

49. PHÚ, Kiều (và ...)

Lĩnh Nam Chích Quái, Nxb Văn hóa, 1960

50. PHÚ, Ngô Văn

Thơ Đường ở Việt Nam, Nxb, HNV, 1996.

51. QUÁN, Lê Văn

Nghiên cứu về chữ Nôm, Nxb KHXH, 1981

52. SAN, Trần Trọng

Thơ Đường, ĐHTH.Tp.HCM, 1990.

53. SỬ, Trần Đình

Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Tác phẩm mới, 1987.

54. TÂN, Bùi Duy

" Văn học chữ Hán trong mối tương quan với văn học

Nôm ở Việt Nam " Tạp chí văn học, số 2, 1995.

55. TÂN, Bùi Duy

Giáo trình văn học Việt Nam từ thê kỷ X đến giữa thế

kỷ XVIII, Đại học Huế, 1995.

56. TẤN, Hà Văn

Báo ảnh Việt Nam, số 291, tháng 3/1983.

57. THANH, Hoài

Thi Nhân Việt Nam, Hoa tiên ( Sg ) 1967.

87

58. THẢN, Nguyễn Kim

" Các ngôn ngữ, chữ viết ở Việt Nam ". Việt Nam, đất

nước, lịch sử, văn hóa. Nhiều tác giả - Nxb Sự thật, HN,

1995.

59. THÊM, Trần Ngọc

Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Tp. HCM

1996.

60. THÌN, Lã Nhâm

Góp phần xác định tác giả ... Tạp chí Hán Nôm ( Viện

nghiên cứu Hán Nôm ) số 2 (7 ) 1989.

61. Từ điển Thuật ngữ Văn

Hà Nội, Nxb GD, 1992.

học

62. Từ điển tiếng Việt

Trung tâm từ điển học – Nxb GD, 1994.

63. Từ điển Triết học

Nxb Tiến bộ Maxcơva, 1986

64. Từ điển Văn học

( 2 lập ), Nxb KHXH, 'lạp 1, 1983, Tập II, 1.984.

65. Ủy Ban KHXH

Lịch sử Việt Nam, Nxb KHXH, Tập 1, 1970.

66. VIỄN, Lê Trí

Giáo trình tổng quan văn chương Việt Nam ,

TTĐTTX, ĐH Huế, 1995.

67. VIỄN, Lê Trí

Lịch sử văn học Việt Nam , ĐHSP. Tp. HOM, 1985.

68. VIỄN, Lê Trí

Đặc điểm có tính quy luật của lịch sử văn học Việt

Nam .

69. VIỄN, Lê Trí

Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam, Nxb KHXH,

1996.

70. VIỄN, Lê Trí

Thơ Hồ Xuân Hương. Chuyên đề sau đại học, ĐHSP,

Tp. HCM, 1996.

71. YÊN, Hoàng Hữu

Thơ văn Nguyễn Khuyến, Nxb GD, 1984.

và một số tài liệu khác

88