
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam
2
Mục lục
Trang
Lời nói đầu 3
Chương I: Lí luận chung về bảo hộ và kinh nghiệm áp dụng
các biện pháp phi thuế quan của một số nước trên thế giới”
I/ Xu hướng toàn cầu hóa 5
II/ Sự cần thiết của các biện pháp bảo hộ sản xuất trong nước 7
III/ Kinh nghiệm áp dụng các biện pháp phi thuế quan
của một số nước trên thế giới
24
Chương II: Đánh giá các biện pháp phi thuế quan của Việt
Nam trong thời gian qua (1996 – 2000)
I/ Thực trạng thương mại và khả năng cạnh tranh của
Việt Nam thời kỳ 1996 – 2000
38
II/ Các biện pháp phi thuế quan liên quan đến nhập khẩu
Việt Nam đã sử dụng
50
III/ Đánh giá tác động của các biện pháp phi thuế quan
Việt Nam đã sử dụng
63
Chương III: Đề xuất các biện pháp phi thuế quan Việt
Nam có thể áp dụng trong thời gian tới
I/ Cơ sở khoa học để duy trì các biện pháp phi thuế quan
trong việc bảo hộ sản xuất.
69
II/ Một số đề xuất về các NTM Việt Nam sẽ sử dụng để bảo hộ 71
Kết luận 91
Tài liệu tham khảo 92
LỜI NÓI ĐẦU

Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam
3
Xu hướng toàn cầu hoá hiện đang được các quốc gia trên thế giới coi
là giải pháp tất yếu để đẩy mạnh và tháo gỡ những khó khăn của vấn đề
tăng trưởng kinh tế. Cũng như các nước khác trên thế giới, việc Việt
Nam không ngừng tăng cường hội nhập khu vực và quốc tế không nằm
ngoài mục tiêu khai thác những ưu thế sẵn có trong nước cũng như tận
dụng những yếu tố bên ngoài về thị trường, vốn, công nghệ, phương
pháp quản lí tiên tiến. Tuy nhiên trước bối cảnh kinh tế thế giới với
nhiều biến động phức tạp và nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế
lạc hậu, có xuất phát điểm thấp so với các quốc gia khác trong khu vực
và trên thế giới như hiện nay thì việc phải đối mặt với những bất lợi và
tác động tiêu cực trong quá trình hội nhập là điều không thể tránh
khỏi. Để hạn chế những bất lợi và tác động tiêu cực đó đòi hỏi chúng ta
phải có những biện pháp nhất định và một trong số đó là việc bảo hộ
tích cực nền kinh tế.
Bên cạnh thuế quan là công cụ bảo hộ đã được các định chế thương
mại quốc tế thừa nhận thì các biện pháp phi thuế quan cũng được rất
nhiều quốc gia sử dụng trong thời gian qua bởi những ưu điểm như khả
năng tác động nhanh, mạnh, phong phú và có thể đáp ứng nhiều mục
tiêu trong cùng một thời điểm. Tuy nhiên mặt trái của các biện pháp
phi thuế quan vốn gây ra nhiều tranh cãi là chúng bao gồm nhiều biện
pháp chưa được thừa nhận bởi các tổ chức thương mại quốc tế và có thể
ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế của một quốc gia, một khu vực cũng
như toàn bộ nền kinh tế thế giới. Vì vậy, có thể khẳng định việc nghiên
cứu các biện pháp phi thuế quan là điều hết sức cần thiết với bất cứ
quốc gia nào trên thế giới. Đối với một nền kinh tế đang trong giai đoạn
chuyển đổi như Việt Nam, công tác nghiên cưú về các biện pháp phi
thuế con có vai trò quan trọng hơn rất nhiều bởi nó giúp cho chúng ta

Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam
4
hiểu thêm về môi trường pháp lí của các quốc gia khác từ đó có thể tìm
ra hướng tiếp cận tối ưu thị trường khu vực và quốc tế. Ngoài ra kinh
nghiệm rút ra trong quá trình nghiên cứu cũng có giá trị không nhỏ đối
với quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống các công cụ bảo hộ phi
thuế để chúng thực sự hữu ích và phù hợp với các thông lệ quốc tế.
Với đề tài này ngoài việc thống kê, phân loại những biện pháp phi
quan thuế đã được sử dụng trên thế giới, kinh nghiệm áp dụng của một
số nước như Mĩ, Thái Lan và thực tiễn áp dụng của Việt Nam tôi cũng
xin đưa ra một vài ý kiến cá nhân mang tính chất tham khảo đối với vấn
đề xác định các biện pháp phi thuế quan của Việt Nam trong thời gian
tới.
Do lần đầu tiên thực hiện một công việc nghiên cứu quy mô, đề tài
này không thể tránh khỏi những hạn chế. Kính mong các thầy cô và các
bạn góp ý để cho đề tài được toàn vẹn hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ VÀ KINH NGHIỆM ÁP
DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN
THẾ GIỚI

Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam
5
I/ XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA:
Toàn cầu hoá là một xu hướng vận động nổi bật hiện nay trong nền kinh
tế thế giới. Nó lôi cuốn tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ vào một nền
kinh tế toàn cầu thống nhất và duy nhất. Tất cả những quốc gia và vùng lãnh
thổ nào không hội nhập vào quá trình này tất yếu sẽ rơi vào tình trạng tụt
hậu trong phát triển.
Toàn cầu hóa kinh tế được thể hiện rõ nét thông qua hai quá tình chủ yếu
là toàn cầu hóa thị trường và toàn cầu sản xuất. Toàn cầu hóa thị trường
được thể hiện ở sự loại bỏ dần các quá trình và rào cản chia cắt thị trường để
hình thành một thị trường có tính toàn cầu. Các yếu tố cơ bản như cung cầu,
giá cả được hình thành và vận động thống nhất trên toàn cầu. Toàn cầu hóa
sản xuất được thể hiện thông qua việc hình thành mạng lưới sản xuất mang
tính toàn cầu, công nghệ cao được sử dụng phổ biến và các sản phẩm được
tiêu chuẩn hóa… Ngoài ra, toàn cầu hoá còn được thể hiện thông qua các
khía cạnh về xã hội, văn hóa, chính trị …
Toàn cầu hóa được thúc đẩy bởi các lực lượng nhất định. Trước hết, đó
là quá trình cắt giảm thuế quan giữa các quốc gia để có nền thương mại tự
do hóa hơn, giảm dần các rào cản bảo hộ hữu hình hoặc vô hình. Hàng hóa
và dịch vụ được lưu chuyển dễ dàng giữa các nước và vùng lãnh thổ với
khối lượng và cường độ ngày càng tăng. Tiếp theo là quá trình tự do hóa về
đầu tư với việc mở rộng của đầu tư quốc tế trên phạm vi và quy mô lớn, các
hiệp định thúc đẩy tự do hóa đầu tư được ký kết. Sự phát triển mạnh mẽ của
công nghệ và tác động của các tập đoàn, công ty đa quốc gia đang thúc đẩy
theo chiều sâu quá trình toàn cầu hóa. Các quốc gia, vùng lãnh thổ cũng
đang tăng cường những nỗ lực để hội nhập quốc tế, mở cửa thị trường,
chuyển đổi cơ cấu và cơ chế kinh tế, đào tạo nguồn nhân lực để tham gia vào
quá trình toàn cầu hóa.

Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam
6
Toàn cầu hóa đòi hỏi các quốc gia và vùng lãnh thổ phải hành động dựa
trên những nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế nhất định trong thương mại và
đầu tư, dịch vụ như “nguyên tắc có đi có lại, nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
…”. Vấn đề này không phải quốc gia nào cũng có thể dễ dàng thực hiện được.
Thực tế cho thấy, quá trình toàn cầu hóa đang làm cho nền kinh tế của
các quốc gia từng buớc vận động theo xu hướng mới, chuyển đổi nền kinh
tế, đưa nền kinh tế sang giai đoạn phát triển mới với cấp độ cao hơn và phạm
vi lớn hơn. Không thể nói chỉ có các nền kinh tế của các nước XHCN cũ
chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường
là ở trong giai đoạn chuyển đổi mà kể cả các nền kinh tế có trình độ phát
triển cao như nền kinh tế Mĩ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu … cũng ở trong
quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế thông tin và
kinh tế tri thức. Sự chuyển đổi này trở thành một hiện tượng phổ biến hiện nay.
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế của các quốc gia đang đặt ra hàng loạt
các vấn đề cần phải xử lý, đặc biệt là chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển sang
cơ cấu kinh tế có các ngành sử dụng công nghệ cao, các ngành phát huy
được lợi thế so sánh và các ngành có khả năng cạnh tranh lâu dài trên thị
trường, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và những cải cách về
hệ thống quản lý kinh tế phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa cũng được đề cao.
Nói tóm lại, toàn cầu hóa diễn ra có tính gia tốc. Đây là một quá trình
khách quan và là một xu hướng vận động chủ yếu của nền kinh tế thế giới
hiện nay. Việt Nam đang chủ động, tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu
hóa để thực hiện mục tiêu hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Để đạt
được mục tiêu này, Việt Nam cũng đang tiến hành xây dựng lộ trình phù
hợp, hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và tiếp đến là kinh tế toàn cầu.
II/ SỰ CẦN THIẾT CỦA CÁC BIỆN PHÁP BẢO HỘ SẢN XUẤT
TRONG NƯỚC:

