GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

ĐINH THỊ THÁI HÀ

CAO BÁ QUÁT – LƯƠNG TÂM VÀ KHÍ PHÁCH QUA

THƠ CHỮ HÁN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

TP. HỒ CHÍ MINH – 2003

LỜI CẢM TẠ

Chúng tôi chân thành cảm tạ sự hướng dẫn khoa học tận tình, chu đáo của thầy

Mai Quốc Liên, người trực tiếp hướng dẫn chúng tôi hoàn thành luận văn khoa học

này.

Chúng tôi chân thành cảm tạ Ban Giám Hiệu, tập thể thầy, cô khoa Ngữ văn và

Phòng khoa học công nghệ Sau đại học Trường Đại học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí

Minh, đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và

nghiên cứu.

Chúng tôi xin chân thành cảm tạ những đóng góp quý báu của quý thầy, cô trong

Hội đồng chấm luận án đã giúp chúng tôi trong quá trình hoàn thành luận văn khoa

học.

Chúng tôi cũng xin chân thành cảm tạ quý đồng nghiệp, bạn bè đã động viên,

khích lệ chúng tôi trong thời gian học tập và viết luận văn.

Xin chân thành cảm ơn tất cả.

3

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ.................................................................................................................. 3

MỤC LỤC ...................................................................................................................... 4

PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 4

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: ............................................................................................. 4

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: ........................................................... 5

3. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ: .................................................................................................... 5

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: ........................................................................... 11

5. VẤN ĐỀ VĂN BẢN: ............................................................................................... 12

6. CẤU TRÚC LUẬN VĂN: ........................................................................................ 12

PHẦN NỘI DUNG ....................................................................................................... 14

CHƯƠNG I: CON NGƯỜI VÀ THỜI ĐẠI ................................................................. 14

CHƯƠNG II: KHÍ PHÁCH .......................................................................................... 27

2.1. KHÁT VỌNG TỰ DO: ..................................................................................... 27

2.2. KHÁT VỌNG CÔNG DANH: .......................................................................... 36

2.3. KHÁT VỌNG NHÂN CÁCH LÀM NGƯỜI CHÂN CHÍNH: ......................... 41

2.4. KHÁT VỌNG CHỐNG ÁP BỨC, BẤT CÔNG: ............................................... 51

2.5. KHÁT VỌNG KHỞI NGHĨA ĐỂ THAY ĐỔI MỘT XÃ HỘI TỐT ĐẸP HƠN: .................................................................................................................................. 60

CHƯƠNG III: LƯƠNG TÂM ...................................................................................... 69

3.1. NHỮNG LO ÂU, BUỒN BÃ, CHÁN CHƯỜNG: ............................................ 69

3.2. TÌNH CẢM: ....................................................................................................... 77

3.2.1. TÌNH CẢM ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH: ............................................................ 77

3.2.2. TÌNH CẢM ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI KHÁC: ...................................... 81

3.2.3. TÌNH CẢM ĐỐI VỚI QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC: ................................. 86

PHẦN KẾT LUẬN ....................................................................................................... 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 95

PHẦN MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Cao Bá Quát (1809-1855) là một tác gia lớn của văn học trung đại Việt Nam.

Nghiên cứu về ông là một công việc cần thiết và hấp dẫn với người đi sau. Trước nay,

qua văn học đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cuộc đời, con người và thơ văn

của ông. Nó thường được tiếp cận chủ yếu ở góc độ tiểu sử, hành trạng, về tư liệu, về

con người và nội dung thơ văn. Trong toàn bộ các vấn đề ấy, ảnh hưởng từ phía thời

đại cũng tác động rất lớn đến tính cách và thơ văn Cao Bá Quát, vì đây là một giai

đoạn lịch sử có nhiều biến động, chế độ phong kiến Việt Nam đang trên đà suy tàn và

tan rã, nông dân nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi; con người như không có chỗ dung

thân (nhất là với người tài). Với những khát vọng lớn lao, với tâm hồn rộng lớn, Cao

Bá Quát đã đứng trên tất cả để thể hiện rõ khí phách và lương tâm của một kẻ sĩ, một

con người vì dân vì nước. Tầm vóc của ông ngang tầm vũ trụ rộng lớn, tấm lòng của

ông vằng vặc với non sông. Việc tìm hiểu thơ văn của ông quả là khó vì chủ yếu là các

tác phẩm bằng chữ Hán, để hiểu hết về ngôn ngữ, về cách diễn đạt cho thấu đáo không

phải là đơn giản. Trong trường Cao đẳng, thơ văn Cao Bá Quát là một phần trong nội

dung giảng dạy. Và trong một thời lượng quy định, việc giảng dạy như thế nào để

người nghe có thể hiểu được cơ bản về nội dung, ý nghĩa của thơ văn Cao Bá Quát,

hiểu được tấm lòng và vị trí của ông trong tiến trình lịch sử văn học nước nhà quả là

một vấn đề lớn. Nếu không khéo thì chỉ là sự lặp lại một cách máy móc từ giáo trình

sách vở, từ sự hiểu biết hời hợt bên ngoài chứ không phải là sự cảm thụ thực sự. Đi

làm rõ vấn đề này nhằm phục vụ trực tiếp việc giảng dạy là mục đích và cũng là lý do

của việc thực hiện đề tài khí phách và lương tâm Cao Bá Quát qua thơ chữ Hán.

Thực ra việc đi vào vùng đất nghệ thuật mênh mông nhiều hứa hẹn này cũng là

nguyện vọng của người viết. Cái hấp dẫn của vấn đề nằm ở chỗ: nó chưa được khai

thác một cách cạn kiệt, mà nhiều vùng còn bỏ ngõ. Nó giúp cho người viết có thêm

một lượng kiến thức về Cao Bá Quát để giảng dạy được tốt hơn. Hơn nữa, đây cũng là

một tác gia đang được chú ý để nghiên cứu sâu hơn. Việc tìm hiểu vấn đề này sẽ đem

đến nhiều hiểu biết về con người cũng như thơ văn Cao Bá Quát.

4

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Tiếp thu những thành tựu có trước, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề

sau:

Đối tượng nghiên cứu: đối tượng mà đề tài khảo sát là toàn bộ thơ văn chữ Hán

với những tác phẩm đã được phổ biến và thông dụng của Cao Bá Quát có liên quan

đến nội dung lương tâm và khí phách của ông. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng so sánh

với thơ văn của một số tác giả khác mà nội dung có liên quan để thấy được sự khác

biệt cũng như tương đồng về tư tưởng, cách thức thể hiện...

Phạm vi khảo sát, nghiên cứu: đề tài chỉ chú trọng khảo sát những vấn đề về nội

dung của thơ văn Cao Bá Quát. Cụ thể là lương tâm và khí phách của ông qua thơ chữ

Hán. Bên cạnh đó, trong quá trình làm nổi bật nội dung, người viết có sử dụng một số

tác phẩm chữ Nôm với mục đích minh họa, mở rộng vấn đề.

Khí phách của Cao Bá Quát được nghiên cứu qua các nội dung như: khát vọng tự

do, khát vọng công danh, khát vọng nhân cách làm người chân chính, khát vọng chống

áp bức bất công, khát vọng khởi nghĩa để thay đổi một xã hội tốt đẹp hơn.

Lương tâm của Cao Bá Quát được nghiên cứu qua các nội dung như: Những lo

âu, buồn bã, chán chường; những tình cảm với gia đình, với bạn bè, với học trò và với

nhân dân, với quê hương đất nước. Qua đó góp phần tìm hiểu về con người, cuộc đời

và thi nghiệp của Cao Bá Quát. Từ đó khẳng định thêm, Cao Bá Quát - một nhân vật

lịch sử kiệt xuất, một tài năng văn học lỗi lạc. Dầu sao đối với một con người có tầm

vóc lớn lao như vậy, thì việc khai thác này cũng chỉ là một phần nhỏ, chưa nói hết

được tất cả về Cao Bá Quát. Nó chỉ là một bước khởi đầu, hứa hẹn cho những công

trình lớn hơn, toàn diện hơn.

3. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:

Cao Bá Quát là một tác gia lớn trong lịch sử văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ

XIX. Con người và tài năng văn chương lẫy lừng này được ngay người đương thời

khâm phục và coi như thần thánh. Cuộc đời Cao Bá Quát đã kết thúc bằng một cái chết

hùng tráng và triều Nguyễn xếp ông vào loại nghịch thần.

Tác phẩm của Cao Bá Quát chưa kịp được khắc in thì đã bị thiêu hủy cùng với

cái án tru di tam tộc của ông. Đương thời, không ai dám công khai lưu giữ các tác

5

phẩm và những gì liên quan đến ông. Song, tài năng và tấm lòng của ông với đất nước,

với nhân dân, hậu thế trong dân gian đã chép tay truyền nhau những tác phẩm văn

chương của ông. Nhưng vì lưu truyền bí mật, nhiều bài thơ, câu đối đã bị thay tên tác

giả dẫn đến khó khăn trong việc nghiên cứu sự nghiệp văn chương của ông sau này.

Cho đến nay, hàng nghìn bài thơ, văn của ông được sưu tầm và xác định, được công

nhận là di sản quý báu của dân tộc. Hơn nữa, ông còn là lãnh tụ của một cuộc khởi

nghĩa nông dân chống lại triều đình nhà Nguyễn thối nát nên còn có ảnh hưởng rất lớn

với lịch sử phát triển dân tộc. Vì thế, đã có rất nhiều công trình lớn, nhỏ nghiên cứu về

cuộc đời và thơ văn của ông. Tựu chung lại thì việc tìm hiểu Cao Bá Quát được chia

làm ba giai đoạn lớn:

1> Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám - 1945.

2> Giai đoạn 1945-1975.

3> Giai đoạn 1975 đến nay.

Ở giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám, việc nghiên cứu về Cao Bá Quát còn

nhiều khó khăn. Nhìn chung, nó thiên về truy tìm tiểu sử, cố gắng dựng lại một cách

đầy đủ về cuộc đời Cao Bá Quát nhưng còn hạn chế trong việc nghiên cứu vì có những

câu truyện truyền miệng thiếu căn cứ, tạo nên những giai thoại không rõ ràng về ông.

Người đầu tiên viết và phổ biến tư liệu về Cao Bá Quát là Sở Cuồng với "Thảo Trạch

anh hùng" - Nam phong số 1963, tháng 6 - 1931. Ông viết dựa vào thư tịch của

Trường Bác cổ và sử sách của triều Nguyễn. Bên cạnh những tài liệu trước đó là

"Quốc triều hương khoa", "Đại Nam chính biên liệt truyện" và bài tựa tập thơ "Cao Bá

Quát thi tập" (bằng chữ Hán) của Trường Bác cổ vốn quá vắn tắt và xen lẫn nhiều giai

thoại với tiểu sử. Cuối tháng 11-1934, Nguyễn Tường Phượng diễn thuyết tại hội Trí

Tri Hà Nội đề tài "Một nhân vật tỉnh Bắc Ninh ông Cao Bá Quát", sau đó đăng trên

Nam Phong số 209 tháng 12-1934. Tài liệu này có nhiều tư liệu hơn. Tuy tác giả có cái

nhìn lệch lạc về cuộc đời Cao Bá Quát nhưng đã đánh giá cao sự nghiệp văn chương

của ông và cho rằng "Những tác phẩm của họ Cao đã trở thành một thứ tài liệu rất quí

hóa cho nền quốc văn". Đến tháng 3-1939, trên tạp chí Tao Đàn số 2, Phan Khôi trong

bài "Khái luận về văn học chữ Hán ở nước ta" cho rằng "Duy có Cao Bá Quát, là cả thi

lẫn văn đều đáng sắp ngang hàng với đệ -nhất - lưu - tác - giả ở Trung Quốc mà không

hổ mà thôi" - Một ý kiến có cơ sở. Đến 1940, Trúc Khê viết "Cao Bá Quát danh nhân

6

truyện ký" (Tân Dân xuất bản 1940). Một mặt tác giả đánh giá cao thiên tài văn

chương của Cao Bá Quát, mặt khác lại nặng lời chỉ trích đạo đức của Cao Bá Quát là

tự cao tự đại, kiêu căng, ngạo mạn cá nhân mà nổi lên làm loạn... Thậm chí thiếu sót ở

chỗ "Việc biến Mỹ Lương là việc có thật; mà việc ấy, chỉ là cái việc cuồng vọng của

nhà văn sĩ họ Cao bất đắc chí, chứ chẳng phải là việc do một cái tư tưởng cách mạng

sáng suốt đã sản sinh ra..." Nhưng Trúc Khê đã có công trong việc sưu tầm và dịch

một số tác phẩm.

Dương Quảng Hàm trong "Việt Nam văn học sử yếu" đã đánh giá Cao Bá Quát là

một văn hào có nhiều ý tứ mới lạ, lời lẽ kiêu kỳ và xếp ông vào hàng các nhà viết văn

nôm thế kỷ XIX thuộc khuynh hướng về tình cảm. Và cho rằng: ông là một bậc có tài

lỗi lạc, nhưng không được trọng dụng...

Nhìn chung, việc nghiên cứu Cao Bá Quát ở giai đoạn này chủ yếu hướng vào

việc truy tìm tiểu sử, từng bước cụ thể và ổn định về tư liệu, tác phẩm làm cơ sở cho

bước nghiên cứu tiếp sau. Việc đánh giá Cao Bá Quát còn bị nhiễu về giai thoại, thiếu

một phương pháp khoa học biện chứng nên không tránh khỏi chủ quan, võ đoán (một

mặt đề cao, một mặt hạ thấp).

Sang giai đoạn 2: 1945-1975, việc nghiên cứu Cao Bá Quát có bước tiến triển

hơn.

Ở chặng đầu: 1945-1954, do những tác động về chính trị, xã hội; do tình

hình học thuật còn thiếu ổn định nên việc nghiên cứu về Cao Bá Quát không có

gì.đáng kể. Điểm qua chỉ có công trình như: "Văn học sử Việt Nam tiền bán thế kỷ thứ

XIX" (1951) của Nguyễn Tường Phượng và Bùi Hữu Sủng nhưng lại xếp Cao Bá Quát

vào khuynh hướng hưởng lạc, không có gì mới hơn so với giai đoạn trước.

Ở chặng sau : 1954-1975 sinh hoạt học thuật ổn định hơn, việc nghiên cứu

và giới thiệu về Cao Bá Quát được quan tâm hơn (đặc biệt phát triển sớm ở Miền

Nam). Ở Miền Nam có rất nhiều những công trình khảo luận, luận đề về Cao Bá Quát

ra đời như:

+ "Luận đề về Cao Bá Quát", 1957 của Nguyễn Duy Diễn.

+ "Cao Bá Quát, thân thế- văn chương luận đề" 1958 của Bằng

Phong và Nguyễn Duy Diễn.

+ "Khảo luận về Cao Bá Quát", 1959 của Doãn Quốc Sỹ và Việt Tử.

7

+ "Giảng luận về Cao Bá Quát và Cao Bá Nhạ", 1959 của Lam

Giang.

+ "Khảo luận thi văn Cao Bá Quát" 1959 của Thuần Phong.

Bên cạnh là những bộ văn học sử đáng chú ý của giai đoạn này như:

+ "Việt Nam văn học sử giản ước tân biên" quyển II, 1963 của Phạm

Thế Ngũ.

+ "Bảng lược đồ văn học Việt Nam", 1967 của Thanh Lãng...

Đồng thời hàng loạt bài viết về Cao Bá Quát trên các tạp chí: Văn hóa nguyệt

san, Bách khoa thời đại, Giáo dục phổ thông, Văn học, Nghệ thuật, Sáng tạo... với các

tác giả Nguyễn Đức Tiếu, Hồng Liên Lê Xuân Giáo, Phạm Văn Sơn, Phan Kim, Thái

Bạch, Nguyễn Anh, Tương Huyền, Châu Hải Kỳ, Nguyễn Tử Quang... Tất cả đều xoay

quanh các phương diện sau:

Về phương diện tiểu sử - hành trạng Cao Bá Quát, cũng không có gì mới hơn.

Các tác giả chủ yếu dựa vào cuốn "Cao Bá Quát danh nhân truyện ký" của Trúc Khê

với xu hướng tiểu sử hóa giai thoại để nghiên cứu. Họ vẫn còn chịu ảnh hưởng cách

nhìn nhận về Cao Bá Quát có từ trước 1945, tách con người hành động và sáng tác thơ

văn thành hai hiện tượng riêng biệt (Phạm Văn Sơn, Bằng Phong, Nguyễn Duy Diễn),

từ đó dẫn đến việc không chú ý đúng mức đến tính tư tưởng của thơ văn Cao Bá Quát,

có cái nhìn phiến diện về thơ văn và cuộc đời của ông. về văn chương, họ nhất trí Cao

Bá Quát là một nhà thơ tài năng, độc đáo (chủ yếu đi vào khía cạnh ngông nghênh, tài

tử) để rồi lúng túng trong việc xếp Cao Bá Quát vào một khuynh hướng nào đó như: lý

tưởng, yếm thế, hưởng lạc... Một số tác giả khác lại tỏ ra có cách nhìn toàn diện về

Cao Bá Quát nhưng thật ra lại là sự lắp ghép những mảng hoặc những mảnh vụn. Như

Phạm Thế Ngũ, với cách tiêp cận khá tiêu biểu cho hướng nghiên cứu thơ văn Cao Bá

Quát thời kỳ này có nêu lên mấy vấn đề trong "Tư tưởng Chu Thần qua di văn chữ

Nôm" như: kiêu ngạo cô cùng, trào đời phẫn uất, lãng mạn thanh cao, hành lạc yếm

thế.

Về cuộc đời, tư tưởng và hành động Cao Bá Quát, các tác giả tập trung vào lý

giải, đánh giá con đường và tính chất của hành động chống triều đình của Cao Bá

Quát. Nhìn chung có hai hướng nhận định:

8

Một là coi Cao Bá Quát là người có tài lỗi lạc đến mức ngông nghênh lại

không được trọng dụng nên sinh ra chán nản, bực tức và "khởi loạn" (Hà Như Chi,

Thái Bạch, Nguyễn Anh...).

Hai là coi Cao Bá Quát là một nhà cách mạng, coi cuộc dấy binh ở Mỹ

Lương là khởi nghĩa (Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Duy Diễn, Doãn Quốc Sỹ, Việt Tử, Lam

Giang...).

Cả hai cách trên đều thiếu một quan điểm biện chứng lịch sử trong mối quan hệ

giữa thơ văn với con người Cao Bá Quát để nhìn nhận đánh giá. Mặc dù hướng thứ hai

có chú ý đến tư tưởng "cách mạng" và lý tưởng "Nghiêu Thuấn" của Cao Bá Quát

nhưng lập luận còn thiếu thuyết phục vì chưa có hệ thống nhân sinh quan tích cực của

ông dẫn đến hành động khởi nghĩa của ông. Xét về cơ bản, vấn đề Cao Bá Quát được

đặt ra liên tục và có tính thời sự ở Miền Nam giai đoạn này.

Ở Miền Bắc giai đoạn này đã có bước phát triển hơn trong việc nghiên cứu và

giới thiệu về Cao Bá Quát. Một hướng nghiên cứu mới được mở ra dựa trên quan điểm

Marxist, nó khắc phục được hướng nghiên cứu phiến diện trước đây. Đó là "xác định

được mối quan hệ vốn rất chặt chẽ giữa thơ văn và cuộc đời chìm nổi của Cao Bá

Quát" để tìm hiểu "tư tưởng thống nhất đã chi phối các quá trình khác nhau của cuộc

đời ông". Nổi bật nhất là hai công trình:

+ "Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam", 5 quyển, 1960.

+ Bài "Tìm hiểu nhân sinh quan tích cực trong thơ ca Cao Bá Quát", 1961

của Nguyễn Huệ Chi.

Chúng đã thúc đẩy quá trình nghiên cứu, xử lý tư liệu thơ văn Cao Bá Quát. Bên cạnh

là một loạt bài viết:

+ "Một số tài liệu về thơ văn Cao Bá Quát", 1963 của Tảo Trang.

+ "Cao Bá Quát và cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương, 1963 của Chu Thiên.

+ "Cao Bá Quát với cuộc khởi nghĩa chống triều Nguyễn" (1854-1856),

1969 của Hoa Bằng.

+ "Một vài tìm tòi về câu đối tương truyền là của Cao Bá Quát và về bài thơ

"Thú Hương Sơn", 1972 của Hoa Bằng.

9

+ "Đọc Cao Bá Quát nhân 160 năm ngày sinh của nhà thơ", 1969 của Vũ

Khiêu.

+ "Đọc thơ Cao Bá Quát", bài nói chuyện của Xuân Diệu, 1971.

Vấn đề tư liệu được các tác giả xem xét rất kỹ càng (nhất là các giai thoại) nên những

vấn đề còn vướng mắc trước đây được giải quyết. Đó là tính tất yếu của con đường đi

theo nguyện vọng nhân dân của ông (Nguyễn Huệ Chi), khẳng định sự nổi dậy của

Cao Bá Quát là "cuộc khởi nghĩa trăm phần trăm" (Hoa Bằng). Vì thế mà lần đầu tiên

Cao Bá Quát được nhìn nhận như một nhân vật lịch sử, như một con người "thành thật

trong cuộc đời", theo như cách nói của Xuân Diệu. Đến năm 1970, một công trình có

tầm quan trọng trong việc nghiên cứu, xử lý và công bố tư liệu thơ văn Cao Bá Quát là

"Thơ Chữ Hán Cao Bá Quát" đã ra đời - Vũ Khiêu đã đánh giá cao Cao Bá Quát trên

nhiều phương diện qua lời giới thiệu 40 trang. Nó làm cơ sở cho việc nghiên cứu về

Cao Bá Quát tiếp theo.

Việc nghiên cứu về Cao Bá Quát trở nên có qui mô, nhất quán về quan điểm và

phương pháp nghiên cứu phải tính từ sau 1975. Một số những công trình văn học sử

được hoàn thành, tiêu biểu như:

+ "Lịch sử văn học Việt Nam", tập III, văn học viết, 1978 của Lê Trí Viễn,

Đặng Thanh Lê, Phạm Văn Luận, Lê Hoài Nam.

+ "Văn học Việt Nam" (nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX), tập II,

1978 của Nguyễn Lộc.

đã nghiên cứu một cách toàn diện về Cao Bá Quát từ quan niệm văn học đến những

đặc điểm về phong cách nghệ thuật của ông.

Bên cạnh là những công trình chuyên biệt như:

+ "Cao Bá Quát, con người và tư tưởng", 1980, của Nguyễn Tài Thư

+ "Cao Bá Quát, 1982, của Nguyễn Nghiệp.

đã nghiên cứu Cao Bá Quát trên bình diện sử học, văn học; chú trọng đi vào nghiên

cứu đặc trưng thơ Cao Bá Quát trên các bình diện phong cách tư tưởng, sắc thái tình

cảm và ngôn ngữ hình tượng. Tác giả đã đặt Cao Bá Quát trong tiến trình lịch sử tư

tưởng của dân tộc để xác định những nét riêng, những đóng góp mới (một cách làm

10

khoa học và có ý nghĩa phương pháp luận cho việc nghiên cứu toàn diện Cao Bá

Quát).

+ Đặc biệt là công trình "Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam", 1995 của

Trần Ngọc Vương. Tác giả đã mở ra một cách tiếp cận, đi sâu vào việc nghiên cứu Cao

Bá Quát trên nhiều bình diện, nhất là với tư cách một tác gia văn học có tính tiêu biểu

cho một loại hình, một khuynh hướng văn học bằng cách xác lập được cái nhìn khoa

học trên cơ sở khảo sát tác giả để nêu ra những đặc trưng có tính loại hình học của một

kiểu tác giả giai đoạn văn học cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX.

Không những ở trong nước mà các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng quan tâm

đến Cao Bá Quát. N.I. Niculin - nhà Việt Nam học người Nga đã đánh giá rất cao Cao

Bá Quát, coi Cao Bá Quát là một nhân vật có tính chất tượng trưng thật sự đứng giữa

ngưỡng cửa một giai đoạn mới trong lịch sử Việt Nam.

Claudine Salmon và Tạ Trọng Hiệp trong "Sứ Thần Việt Nam Cao Bá Quát và

nhận thức của ông qua chuyến đi công cán vùng Hạ Châu", 1996, 1997, đã tìm hiểu

nhận thức của Cao Bá Quát khi tiếp xúc với vũ trụ bao la - quá trình tự nhận thức -

khám phá (một bước chuyển quan trọng trong tư tưởng Cao Bá Quát).

Trên đây là những phác thảo về quá trình nghiên cứu Cao Bá Quát từ trước Cách

mạng tháng Tám - 1945 đến sau 1975. Nhìn chung việc nghiên cứu về Cao Bá Quát đã

có nhiều bước phát triển đáng kể. Những công trình lớn với nội dung phong phú đã

chứng minh Cao Bá Quát là một tác gia lớn của nền văn học Việt Nam. Song đi sâu

vào vấn đề lương tâm và khí phách của Cao Bá Quát như một công trình chuyên biệt

thì chưa có. Nó mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu chung chung như tác giả Nguyễn

Ngọc Quận trước đây đã nêu ra trong các bài nghiên cứu khoa học. Nếu có cũng chỉ là

một mảng nội dung phục vụ cho những đề tài khác.

Với đề tài "Cao Bá Quát - lương tâm và khí phách qua thơ chữ Hán", người viết

đã góp phần tìm hiểu và nghiên cứu về Cao Bá Quát được sâu hơn.

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Đề tài này được thực hiện qua các phương pháp nghiên cứu văn học sử, phân tích

tác phẩm, hệ thống hóa, khái quát hóa và so sánh.

11

Trước tiên là phân loại nội dung. Sau đó ở từng nội dung phân tích theo các khía

cạnh khác nhau của nó (nội dung, cách thể hiện, nêu dẫn chứng cụ thể, khái quát lại và

liên hệ đến các tác giả có cùng hoặc khác vấn đề...). Trong quá trình phân tích này,

người viết trình bày lần lượt các nội dung theo các vấn đề cụ thể, đặt nó vào trong hệ

thống văn học trung đại Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, để thấy tính độc đáo của Cao

Bá Quát. Đặc biệt, người viết có chú tâm đến hệ thống thơ văn đương thời để đối

chiếu, so sánh Cao Bá Quát với một số tác giả tiêu biểu trong văn học Việt Nam.

Sau khi khảo sát cụ thể các bài thơ tiêu biểu của Cao Bá Quát, người viết cố gắng

tìm ra điểm tương đồng và dị biệt của Cao Bá Quát và các nhà thơ đương thời, đặc biệt

là gắn liền cuộc đời và thơ văn của ông để thấy được tầm vóc của con người này cũng

như vị trí của ông trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc với tư cách là một tác gia có

những đóng góp quan trọng trong tiến trình này.

5. VẤN ĐỀ VĂN BẢN:

Các tác phẩm được khảo sát trong luận văn căn cứ chủ yếu vào tài liệu của Vũ

Khiêu giới thiệu, nhóm dịch giả (1984), "Thơ văn chữ Hán Cao Bá Quát", in lần thứ

ba có bổ sung sửa chữa (có thêm phần thơ Nôm), Nxb văn học (in lần đầu và lần thứ 2

lấy tên: Thơ chữ Hán Cao Bá Quát). Do khuôn khổ luận văn có hạn, người viết chỉ

trích dẫn phần dịch nghĩa mà không trích dẫn phần phiên âm chữ Hán nhằm tránh việc

kéo dài dung lượng của luận văn.

Trong phần dịch nghĩa các bài thơ, người viết dựa chủ yếu vào tài liệu nêu trên

mà không chú thích khi trích dẫn. Ngoài ra, người viết còn tham khảo thêm một số tài

liệu khác như: Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX), (1999), của

Nguyễn Lộc, Nxb Giáo dục; Cao Bá Quát, (1982), của Nguyễn Nghiệp, Nxb Văn hóa;

Cao Bá Quát con người và tư tưởng, (1980), của Nguyễn Tài Thư, Nxb KHXH... cùng

một số tài liệu khác có liên quan và có chú thích khi trích dẫn các tài liệu này.

6. CẤU TRÚC LUẬN VĂN:

PHẦN MỞ ĐẦU:

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

3. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.

12

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

5. VẤN ĐỀ VĂN BẢN.

6. CẤU TRÚC LUẬN VĂN.

PHẦN NỘI DUNG:

CHƯƠNG I: CON NGƯỜI VÀ THỜI ĐẠI.

CHƯƠNG II: KHÍ PHÁCH.

II.1. KHÁT VỌNG TỰ DO.

II.2. KHÁT VỌNG CÔNG DANH.

II.3. KHÁT VỌNG NHÂN CÁCH LÀM NGƯỜI CHÂN CHÍNH.

II.4. KHÁT VỌNG CHỐNG ÁP BỨC BẤT CÔNG.

II.5. KHÁT VỌNG KHỞI NGHĨA ĐỂ THAY ĐỔI MỘT XÃ HỘI

TỐT ĐẸP HƠN.

CHƯƠNG III: LƯƠNG TÂM.

III.1. NHỮNG LO ÂU BUỒN BÃ CHÁN CHƯỜNG

III.2. TÌNH CẢM

III.2.1. TÌNH CẢM ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH

III.2.2. TÌNH CẢM ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI KHÁC

III.2.3. TÌNH CẢM ĐỐI VỚI QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC

PHẦN KẾT LUẬN.

13

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: CON NGƯỜI VÀ THỜI ĐẠI

"Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán

Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường"

Lời khen của người đời quả là không sai chút nào khi đánh giá những con người

bậc nhất về thơ văn ở nửa đầu thế kỷ XIX. Đây là thời đại sản sinh ra rất nhiều người

kiệt xuất, lỗi lạc mà tên tuổi của họ trường tồn với thời gian như Nguyễn Văn Siêu,

Cao Bá Quát, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương... nhưng có lẽ con người đặc biệt

nhất vẫn là Cao Bá Quát.

Cao Bá Quát tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, biệt hiệu là Mẫn Hiên. Ông

sinh năm 1809 tại làng Phú Thị, huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh.

Theo sử sách triều Nguyễn thì không thấy ở đâu ghi năm sinh. Chỉ đoán theo một

bài văn của ông là "Thiên cư thuyết" để khẳng định là ông sinh năm 1809, trong đó có

đoạn: "Với cái tuổi ta mới hai kỷ mà núi sông thành quách cũ, đã thấy thay đổi đến ba

lần" và cuối bài ghi là: "Tháng mạnh thu, năm Nhâm Thìn, Chu Thần Thị viết bài

thuyết này", (Nhâm Thìn là năm 1832, Cao Bá Quát đủ hai kỷ tức 24 tuổi- tính theo

âm lịch- tức là ông sinh năm 1809). Mặt khác lại có ý kiến là ông sinh năm 1808.

Làng Phú Thị quê ông vốn cách Hà Nội 17 cây số về phía đông. Nơi đây đã từng

nổi tiếng là một làng tiêu biểu cho đất Kinh Bắc trù phú văn vật xưa kia. Nó nổi tiếng

với truyền thống khoa cử và làm ăn buôn bán phát đạt. Khoa thi nào cũng có người trở

về làng với mũ áo xênh xang ông Cống, ông Nghè. Đó là những Nguyễn Huy Bá đỗ

tiến sĩ, làm quan đến chức Thượng thư. Nguyễn Huy Cận đỗ Hội nguyên đời Cảnh

Hưng. Họ Cao cũng có nhiều người nổi tiếng như Cao Dương Trạc, đỗ tiến sĩ làm

Thượng thư thời Lê Trung Hưng; Cao Huy Diệu đỗ Hương cống đời Gia Long, làm Tư

nghiệp Quốc Tử giám... Đồng thời với Cao Bá Quát, cũng có Cao Huy Tố, Cao Xuân

Nguyên đỗ cử nhân.

Ông đồ Giảng, thân sinh ra Cao Bá Quát vốn là một ông đồ nghèo không đỗ đạt

gì, nhưng là một nhà nho danh tiếng - con nhà dòng dõi. Cuộc đời ông công không

14

thành danh không toại, nên ông đã kỳ vọng rất nhiều vào những đứa con của mình.

Ngay từ nhỏ, ông đã hướng chúng vào con đường khoa cử: học, thi đỗ, làm quan, hành

đạo để trở thành một vị hiền thần lương đống dưới triều đại chính thống, thịnh trị,

vững bền chẳng kém triều đại nhà Chu ngày xưa. Ông đã dồn tất cả tâm huyết để dạy

dỗ hai con của mình. Bắt đầu bằng việc chọn hai tên trong tám đời kẻ sĩ đời Chu để đặt

tên cho hai đứa con sinh đôi là Bá Đạt và Bá Quát. Sau đó là dời cả gia đình ra Thăng

Long - đất kinh kỳ, văn hiến để con có điều kiện học hành hơn.

Do kế thừa truyền thống của quê hương và gia đình, Cao Bá Quát cùng anh là

Cao Bá Đạt đã sớm tỏ ra đáp ứng những hoài vọng của ông đồ. Các cậu học rất thông

minh, lên năm tuổi đã thuộc lòng "Tam tự kinh" rồi cứ thế thẳng tiến lên mãi, vì họ đã

được rèn luyện ngày đêm theo những giáo lý của đạo Khổng và phát triển theo hướng

nâng cao học vấn, tu dưỡng bản thân, đem tài năng giúp nước. Cha con ông cùng hoài

vọng về một chế độ phong kiến cực thịnh : Vua là minh quân, tôi là tôi trung, đất nước

thanh bình thịnh trị muôn dân no ấm yên vui (Vì vào hồi này, trong con mắt ông đồ,

triều đại mới đã tỏ ra vững vàng hơn bàn thạch. Vua Gia Long trở thành một đấng

thiên tử trị vì cả một quốc gia thống nhất rộng lớn chưa từng có, từ Lạng Sơn đến tận

Hà Tiên...).

Trên cơ sở đó và thực tế cũng đã chứng minh, Cao Bá Quát là một cậu bé có tài

năng và đức hạnh. Mới mười bốn tuổi, cậu Bá Quát đã lầu thông kinh sử và biết làm

đủ các thể văn trường ốc, điều mà các nhà nho thời ấy, nếu muốn trở thành ông Cống,

ông Nghè đều phải khổ công rèn luyện. Ông đã lớn lên trong môi trường tốt đẹp: với

tình thương yêu chăm sóc của cha mẹ, cả mến thương của bạn bè, truyền thống hiếu

học của quê hương. Tất cả đã nuôi dưỡng những tình cảm tốt đẹp của ông để ông sớm

hướng tới đất nước và nhân dân.

Với nhận thức ngày càng trưởng thành, Cao Bá Quát đã lao hẳn mình vào con

đường học vấn. Ông đã vượt xa hẳn bạn cùng trường, tiếng tăm cũng bắt đầu bay xa

hơn cái xóm Đình Ngang hẻo lánh. Với trí thông minh và tâm hồn nhạy bén cậu bé

Quát luôn quan sát, theo dõi, suy nghĩ những gì xung quanh, nhất là những ảnh hưởng

của những ông thầy đồ dạy cậu như: Cao Huy Diệu, Phạm Dưỡng Am và đặc biệt là

ông đồ trẻ Nguyễn Văn Siêu, rồi những biến động của kinh thành Thăng Long.... Tất

cả đã được Cao Bá Quát nhào nặn lại, chắt lọc đi, biến thành một quan niệm riêng về

15

học tập và tu dưỡng. Đẻ rồi dần dần hình thành khá rõ nét trong bản thân cậu như là

hai con người khác nhau: một bên là anh nhà nho chính thống, được trang bị đầy đủ và

kỹ càng bằng những kiểu mẫu xử thế lập thân của chính nhân quân tử, cùng những qui

phạm của lối văn chương trường ốc. Một bên là con người của cuộc sống đầy tính

năng động, khát khao hiểu biết và khám phá, luôn luôn nhận xét và phê phán mọi sự

vật quanh mình, trong mình để không ngừng vươn tới một nhân cách ít nhiều độc lập,

một phẩm chất cao thượng, một tâm hồn tràn đầy cảm hứng lý tưởng cao đẹp đối với

cuộc đời và con người.

Hai nhân cách đó cứ song song tồn tại gắn với nhau nhưng đồng thời lại chống

đối nhau, đôi khi tạo nên những bi kịch nội tâm sâu sắc. Những bi kịch đó cứ phát

triển mãi lên, ngày càng mang một nội dung xã hội rộng lớn. Đến một mức độ trưởng

thành nào đó con người của cuộc sống sẽ trội hẳn lên, lấn át cả anh nhà nho chính

thống và tấn bi kịch sẽ kết thúc bằng một hành động quyết liệt vượt hẳn ra ngoài vòng

lễ giáo thông thường bởi sự hy sinh cao cả tuyệt vời vì cuộc sống, vì nhân dân, vì đất

nước.

Cuộc đời của Cao Bá Quát được người đời sau biết đến với nhiều giai thoại.

Nhưng tập trung hơn cả là những giai thoại về tài học của ông. Ông đã từng nói: "Cả

thiên hạ có bốn bồ chữ, Cao Bá Quát chiếm mất hai bồ, ông anh Bá Đạt và ông bạn

Nguyễn Văn Siêu giữ một bồ, và một bồ thì phân phát cho tất cả học trò trong thiên

hạ". Cậu học trò Cao Bá Quát đã tiếp thu tất cả những tinh hoa của nền văn hoa truyền

thống thành trí tuệ, tình cảm của chính bản thân mình. Đó là tinh thần yêu đất nước,

yêu thiên nhiên và nhất là yêu con người. Ông sống mà hay đa sầu, đa cảm. Cho đến

sau này khi bước vào đời, cọ xát với thực tế cuộc sống, va chạm với đủ mọi lớp người,

Cao Bá Quát mới nhận ra tất cả ý nghĩa lớn lao của vốn tình cảm quí báu đó. Ông mới

thật thấm thía rằng nếu không có một tình yêu lớn đối với đất nước, đối với nhân dân,

đối với con người thì sẽ không thể nào tạo ra được một sự nghiệp gì đáng kể ở trên đời

này hết.

Bản tính ông vốn hóm hỉnh, thích vui đùa. Qua thơ văn của ông chứng tỏ ông là

người biết giữ gìn phẩm hạnh, đối xử đúng mực với cha mẹ, anh em, làng xóm chứ

không phải như một số giai thoại cho ông là một đứa trẻ ngỗ ngược, không quan tâm

yêu thương con người kể cả người thân. Thậm chí cho ông là một con người thích

16

hưởng lạc, chè rượu, trai gái, kiêu ngạo, phẫn chí. Thực ra, qua thơ văn, Cao Bá Quát

có một cuộc sống trong sạch, một thái độ đứng đắn về tình yêu, một tấm lòng đằm

thắm với vợ con.

Cuộc đời và số phận của ông thật đúng với câu "có tài mà vận chẳng lai", đặc

biệt trong con đường khoa cử. Năm mười bốn tuồi, cậu bé Quát đã sắm sửa lều chõng

đi thi nhưng thi hỏng, để rồi chín năm sau mới đỗ cử nhân hạng nhì, sau bị bộ Lễ xếp

lại, ông đứng cuối bảng. Nhưng với lòng lạc quan và tin tưởng, ông cứ đến hẹn lại lên

ở các khoa thi tiến sĩ nhưng hỏng vẫn hoàn hỏng để rồi ông chán chường tự an ủi mình

theo kiểu "học tài, thi phận". Mặc dầu nhà nghèo, Cao Bá Quát vẫn chưa ra làm quan,

mà ở nhà gõ đầu dăm ba đứa trẻ, chuẩn bị lại đi thi Hội, thi Đình nữa. Thực ra thì

những lần đèn kinh, ông cũng có chầu chực ở các bộ để được bổ dụng. Nhưng với bản

tính khí khái, cương trực không chịu uốn mình như ông thì những sự tiếp xúc đó cũng

khó mà mang lại kết quả mong muốn. Vả lại trong thâm tâm, ông cũng chưa muốn vội

vàng dấn mình vào công danh bằng con đường tắt. Kể từ ngày những khoa thi Hội, thi

Đình được mở ra liên tục để chấm các ông bảng, ông thám thì cái giá của một ông cử

cũng có phần rẻ rúng đi nhiều. Hơn nữa, giữa bộ máy quan liêu đã quá đông đảo của

triều đình này thì với thân phận của một chức thuộc quan thấp kém người ta giành cho

hạng cử nhân như ông thật khó mà thi thố được việc gì cho phù hợp với những hoài

bão lớn lao ông hằng ấp ủ. Đã thế theo lệ bấy giờ, khi đã nhận chức quan thì ông sẽ

chẳng có quyền được tiếp tục đi thi nữa (mà ông lại không muốn thế). Trong thực tế,

ông đã từng nhiều lần phê phán con đường công danh nhưng ông lại tự an ủi rằng đã

theo đuổi văn chương, lẽ nào trốn được công danh. Đã từ lâu ông tưởng rằng có thể

thông qua con đường khoa cử, giành lấy một địa vị xã hội, rồi từ đó cải thiện đời sống

của nhân dân. Âu cũng là tấm lòng nặng tình của Cao Bá Quát với nhân dân. Mặc dầu

biết rằng con đường công danh mà ông đeo đuổi sẽ là một con đường đầy khó khăn,

bất trắc, nguy hiểm cho những người tài cao chí lớn như ông nhưng ông vẫn tin tưởng

ở ý chí, tài năng và phẩm hạnh của mình để đi thẳng vào cuộc đời.

Nhưng chế độ phong kiến không chấp nhận những con người như ông. Cho nên

không phải cứ có tài, có chí như ông là thành công. Cuộc đời và thực tế đã dần làm vỡ

đi những ảo tưởng, hoài bão ở ông. Bao lần đi thi, bài nào cũng hay, lời nào cũng chí

tình nhưng vẫn cứ tiếp tục hỏng. Sự bền bỉ của ông đã không được trả công xứng

17

đáng, cuối cùng mộng thi cử đã tan thành mây khói và suốt đời cũng chỉ là ông cử mà

thôi.

Để rồi năm 32 tuổi, lần đầu tiên ông được nhà nước phong kiến triệu ra làm hành

tẩu bộ Lễ - một người thư lại. Bao nhiêu chí khí ngang dọc ngày xưa nay bị gò bó,

nhàm chán và không có ích lợi gì hết. Đây cũng là thời gian giúp ông hiểu sâu thêm

những cảnh thối nát, bất công và hèn yếu của triều đình Huế.

Phải nói rằng giai đoạn đầu của triều Nguyễn, từng có một lớp sĩ phu hăm hở với

sự nghiệp công danh, Nguyễn Công Trứ trong những ngày chưa thành đạt vẫn không

quên tự nhắc nhủ mình:

Đã mang tiếng ở trong trời đất,

Phải có danh gì với núi sông.

Không giống với tâm sự hoài cổ của bà Huyện Thanh Quan. Cũng không có thái

độ buồn nản của Nguyễn Du khi ông bất đắc dĩ phải làm quan với triều đại mới. Tầng

lớp sĩ phu mới lên thấy rõ sự nghiệp của mình chỉ có thể xây dựng trên cơ đồ vững

chắc của nhà Nguyễn. Cho nên họ tích cực ủng hộ sự nghiệp nhà Nguyễn, sẵn sàng xả

thân vì nhà Nguyễn như: Nguyễn Công Trứ đã thẳng tay đàn áp các cuộc khởi nghĩa

của nông dân theo tư tưởng trung quân mà không nghĩ là đã giết hại nhân dân mình.

Họ kỳ vọng rất nhiều ở chế độ phong kiến nhà Nguyễn với những công danh, sự

nghiệp, bát cơm manh áo... và hy vọng nó trở lại giai đoạn cực thịnh trước đây.

Nhưng đấy chỉ là giai đoạn đầu, giai đoạn mà thành quách, cung điện nhà vua

vừa mới được Gia Long xây dựng sửa sang. Cao Bá Quát ra đời mấy chục năm về sau,

tình hình đã khác hẳn. Nhà Nguyễn đã đi nhanh vào suy sụp. Nhân dân đói rét cơ cực.

Cuộc sống đã tức thở vô cùng. Những cuộc khởi nghĩa nông dân bừng lên từ Gia

Long, bị dập tắt rồi đến thời Minh Mạng lại bùng lên dữ dội hơn. Và đến thời Tự Đức

nó là điều kiện làm tan rã từng bộ phận của chế độ phong kiến.

Lòng phẫn uất của quần chúng đối với giai cấp thống trị vốn đã được nung nấu

trong suốt một thế kỷ đấu tranh nên giờ đây càng biểu lộ một cách sâu sắc và mãnh

liệt. Phá vỡ khuôn khổ chật hẹp gần như đã trở thành một mong mỏi chung. Không

phải ngẫu nhiên mà tiếng nói căm giận vua chúa lại có thể hiên ngang đi thẳng vào thơ

văn, trước hết là thơ văn quần chúng:

18

Vạn Niên là Vạn Niên nào,

Thành xây xương lính hào đào máu dân.

Âm vang sảng khoái nhất của tiếng nói người nông dân khởi nghĩa là mấy câu trong

bài "phú Hầu Tạo"

"Núi Đại ngàn hai mươi tám chân tay, vang lừng chiêng bạc trống đồng, mười

mấy vạn quân triều đều lạc phách.

Khe Tình diễm bốn mươi lăm vây cánh, rực rỡ quần hồng áo tía, tám nghìn dư

binh trấn cũng kinh hồn".

Có cái khí thế cao lớn trùng trùng điệp điệp, có cái sức mạnh vững chãi như núi

Đại ngàn, đối lập với kẻ thù thống trị ngay giữa lúc một thành lũy phong kiến vừa mới

được củng cố, chính là nhờ có cả một phong trào bão táp của khởi nghĩa nông dân

trong suốt thế kỷ XVIII đã làm cho tư tưởng trung quân cơ hồ bị phá tan, trật tự xã hội

cơ đồ bị đảo lộn.

Ý thức trung quân tiếp tục tan rã trong quần chúng đã dần dần làm thay đổi khí

sắc của xã hội. Cái uất ức, cái xôn xao, cái vui mừng của nhân dân khởi nghĩa, ít hay

nhiều đã lay động đến bề sâu tâm tình một số sĩ phu phong kiến bấy giờ. Chính sách

chèn ép và ngờ vực nhân tài của nhà Nguyễn vốn đã làm cho tầng lớp sĩ phu nơm nớp

không yên. Cộng thêm những thảm họa giết chóc mà vua nhà Nguyễn gây nên đối với

một số công thần như Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường... càng làm họ giật mình

tỉnh ngộ. Khi Cao Bá Quát vào triều thì Nguyễn Công Trứ đã trở thành một bậc đại

thần. Nhưng chỉ hai năm sau, ông bị cách tuột về làm lính thú. Mấy mươi năm "công

danh sự nghiệp" của Nguyễn Công Trứ mà cuối cùng cũng bị bạc đãi như vậy thì

những người khác còn nói đến hăm hở tung hoành làm gì? Rõ ràng cho đến lúc bắt đầu

được "hành đạo", Cao Bá Quát đã phải thấm thía cái buồn nản của những tầng lớp

trước mình, bắt gặp nỗi uất ức của quần chúng quanh mình, và thấu rõ cảnh lận đận

của chính mình. Mặt khác, nguy cơ ngoại xâm đã từ lâu đe dọa đất nước. Tây Ban

Nha, Hà Lan trước đây và Anh, Pháp bây giờ làm cho ông không thể không lo lắng

cho Tổ quốc mình khi chúng đã lăm le ở cửa biển. Nó làm cho ông liên tưởng đến

hùng khí của Chu Du để đánh tan chúng.

19

Lúc này, ở ông đã bắt đầu cảm thấy bế tắc không biết đi đâu về đâu, làm gì?

Cuộc đời đang tác động vào ông để ông phải tự lựa chọn lấy một lối thoát trong bước

đường cùng.

Một thời gian sau khi về bộ Lễ, ông được cử làm sơ khảo trường Thừa-Thiên. Vì

tiếc cho những người có tài mà phạm húy nên ông đã cùng với Phan Nhạ dùng muội

đèn để chữa những bài thi đó. Việc bị bại lộ, ông bị bắt giam, từ tội trảm quyết xuống

tội giảo giam hậu. Đây là những ngày tháng buồn bực đau khổ, uất ức, căm thù nhất

của ông. Nhưng trái với lẽ thường, ở tù con người sẽ mất hết tinh thần với ông lại

nhưng tràn trề một sức sống mãnh liệt.

Sau gần ba năm bị tra tấn, giam cầm, triều đình tạm tha cho Cao Bá Quát và cho

đi xuất dương hiệu lực ở Indonexia. Ra nước ngoài, tầm nhìn của ông như được mở

rộng ra, ông học được nhiều điều mới lạ, củng cố thêm vốn kiến thức cho mình. Cuối

hè năm 1843 ông trở về, đây là thời gian ông sống gần gũi với vợ con, với nhân dân để

rồi hiểu và đồng cảm với họ nhiều hơn. Đây cũng là thời gian giúp ông hiểu hơn vấn

đề tại sao nông dân lại đứng lên khởi nghĩa nhiều như thế để rồi càng oán ghét triều

đình nhiều hơn. Tình cảnh của đất nước của nhân dân và của bản thân, cuối cùng đã

dẫn ông đến ý nghĩ, hành động mới. Đồng thời dần rõ nét trong ông tư tưởng muốn

thay đổi triều đại.

Đến năm 1847, ông lại nhận chiếu chỉ vào kinh với một tâm trạng buồn chán.

Lần này ông làm ở Viện Hàn lâm, rồi đi công cán. Không khác gì lần trước, công việc

của ông lại rất nhạt nhẽo là sưu tầm và sắp xếp các vần thơ. Đây là thời kỳ mà mọi

người thi nhau làm thơ, nhất là vua Tự Đức một người thích làm thơ, lại là thứ thơ

nhạt nhẽo. Tâm trạng của ông lúc này là tâm trạng của người "nói cười trước mặt

nhưng đau xót khi vắng người" .Nó thôi thúc ông phải chấm dứt với hoàn cảnh hiện tại

và có ý tưởng bỏ về. Vốn cương trực, không luồn cúi, ông đã bị vua quan triều Nguyễn

đày đi xa - Quốc Oai với chức giáo thụ. Ông vẫn tiếp tục mỉa mai và khinh ghét đối

với chế độ nhà Nguyễn, một lần nữa ông lại trở về tiếp xúc với đời sống của nhân dân,

với sự áp bức tàn nhẫn của vua quan đối với họ. Nhân dân đang mong thay đổi triều

đại như ngày hạn trông mưa và căm hờn bè lũ thống trị vô cùng.

Giữa năm 1853, ông xin thôi dạy học lấy cớ nuôi mẹ già, để rồi đứng lên tụ tập

nhân dân bí mật chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa tại Hà Nội. Nỗi phẫn uất của Cao Bá

20

Quát vốn ngầm ngấm từ bấy lâu nay đến đây bỗng có dịp bùng lên dữ dội. Liên lạc

được một số lãnh tụ nông dân, Cao Bá Quát liền hiệu triệu quần chúng chống lại triều

đình. Nhưng lưỡi gươm khởi nghĩa vung lên chưa lâu, "trăm dơ" chưa "khơi về dòng

cũ" thì triều đình đã kịp thời đàn áp, nghĩa quân tan rã và thất bại. Tự Đức đã nhiều lần

điều binh và treo giải cho ai giết được Cao Bá Quát. Trong một cuộc giao chiến ông đã

bị bắn chết. Quân của ông tan rã, thậm chí ông còn nhận cái án "tru di tam tộc" gây

oan khuất cho nhiều người thân thích.

Cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương của Cao Bá Quát tuy không thành công nhưng đã là

một đòn giáng vào triều đình Tự Đức bấy giờ. Cùng với những cuộc khởi nghĩa của

nông dân liên tiếp trong hai thế kỷ XVIII và XIX, nó góp phần đẩy nhanh chế độ

phong kiến đến chỗ suy sụp. Cuộc đời Cao Bá Quát là hoàn toàn nhất quán vì thường

xuyên ta thấy ở ông một cái nhìn tích cực lạc quan. Một tư tưởng thống nhất đã chi

phối các quá trình khác nhau của đời ông, giúp ông tạo nên những vần thơ bất hủ,

đồng thời cũng thúc đẩy ông biến ý thức căm thù thành hành động quyết liệt đối với

giai cấp thống trị. Ta thấy rõ điều đó qua những vần thơ chữ Hán mạnh mẽ và hùng

tráng vô cùng. Tất cả đều phản ánh tâm sự và ý chí của tác giả, rộng ra nó còn phản

ánh được phần nào tâm tình quần chúng trong khoảng giữa thế kỷ XIX.

Nhiều năm sau, cái chết của Cao Bá Quát vẫn còn gây một tiếng vang lớn khắp

nơi, nhân dân luôn dành cho ông một tình cảm đáng trọng. Vì thế nên đã xuất hiện

nhiều giai thoại về cái chết cũng như cuộc đời của ông và tồn tại đến ngày nay.

Có giai thoại cho rằng Cao Bá Quát không đứng lên khởi nghĩa mà do tổng đốc

Nguyễn Bá Nghi vì thù ghét riêng mà vu oan. Ý kiến này là của những người một mặt

là phục tài Cao Bá Quát, một mặt vẫn trung thành với triều Nguyễn nên không muốn

ông mang danh phản nghịch. Lại có giai thoại cho rằng, sau khi bị bắt giam, ông vẫn

ngang tàng, khảng khái cho đến khi chết. Hay như câu chuyện sau khi bị bắt, ông trốn

lên Lạng Sơn giả làm sư và một người có gương mặt giống ông đã thế mạng. Tất cả

đều chỉ là giai thoại, không có căn cứ xác thực và đều được dựa trên tình cảm của

người dân dành cho ông . Thật ra là ông bị tử trận (Theo Đại Nam thực lục chính

biên).

Còn vấn đề khởi nghĩa của ông cũng có nhiều chuyện để nói. Nhiều người cho

rằng động cơ khởi nghĩa của Cao Bá Quát là vì ông lận đận trong bước đường khoa cử,

21

công danh, vì bất đắc chí, vì lợi ích cá nhân. Còn Trúc Khê thì cho rằng: Cao Bá Quát

là kiêu ngạo, ngông cuồng, tài năng còn kém xa Đỗ Phủ, chỉ tự mình rước lấy cái họa

tru di. Tất cả các quan niệm ấy đều là cái nhìn phiến diện, sai sự thật và hạ thấp con

người cũng như sự nghiệp của Cao Bá Quát.

Để tìm hiểu con người Cao Bá Quát và để đánh giá đúng cuộc khởi nghĩa của

ông, chúng ta phải đi sâu vào phân tích nguồn gốc xã hội và diễn biến cuộc đời của

ông về trạng thái tâm lý, về tư tưởng và lẽ sống lý tưởng trên cơ sở mối quan hệ chặt

chẽ giữa thơ văn Cao Bá Quát và cuộc đời chìm nổi của ông.

Cuộc đời Cao Bá Quát như ta đã biết, từng trải qua không ít thăng trầm. Nhưng

bất kỳ ở trong hoàn cảnh nào , ông vẫn giữ được ý chí cứng cỏi và tinh thần tích cực.

Sống trong triều chỉ được nhận một chức quan nhỏ nhưng ông không có thái độ dửng

dưng. Bị giai cấp thống trị làm cho điêu đứng, ông vẫn một lòng khăng khái, ngay

thẳng, vẫn một "tấm lòng như sắt" vì bản thân ông là một nhà nho yêu nước, có cuộc

sống gần gũi và thân thiết với quần chúng nhân dân. Với vốn học và sự hiểu biết của

mình, những người như ông thường ở vị trí trung gian giữa nông dân và phong kiến.

Điều kiện lịch sử lúc ấy cố nhiên không thể khác. Sức nặng nghìn năm của nền tảng

phong kiến còn đè lên mọi mặt cuộc sống, nào đã cho phép Cao Bá Quát chọc thủng

vòng vây của ý thức hệ đương thời. Dù có chỗ không hợp nhau, Cao Bá Quát chỉ có

thể gắn bó với chế độ phong kiến , chỉ có thể lập thân theo kiểu một nhà nho. Việc ông

vẫn mong mỏi ở vua, vẫn "gội đầu mà mong ngóng trời xanh" là một việc dễ hiểu.

Nhưng mặt khác, ông lại dễ đồng cảm với đời sống và tâm tư nguyện vọng của nhân

dân vì vậy ông dễ dàng đứng về phía nhân dân.

Những giáo điều của tư tưởng ý thức hệ phong kiến về cơ bản là những công

thức cứng nhắc nhằm phục vụ tôn ti trật tự phong kiến. Hơn nữa chúng cũng buộc

người trí thức nho giáo có được một ý chí tự tu dưỡng bản thân, giữ gìn tâm hồn liêm

khiết, khí tiết thanh cao. Mà điều này lại giúp họ dễ dàng phản ứng lại sự bất công, tàn

bạo của vua quan và thông cảm với nỗi thống khổ của nhân dân. Với Cao Bá Quát

những cái vốn có của ông đều nghiêng hẳn về phía thân dân, từ thành phần xuất thân là

gia đình nhà nho nghèo, từ cuộc sống long đong lận đận của ông đã tạo điều kiện cho

ông gần gũi với nhân dân. Hơn nữa với tính đa cảm, ông luôn day dứt với những cảnh

sống nghèo khổ cơ hàn của người dân và muốn thay đổi nó. Hằng ngày, ông lại phải

22

đối mặt với chế độ phong kiến hà khắc, bộ mặt xấu xa, bất tài của bọn vua quan và

nguy cơ mất nước trước các thế lực phương Tây càng làm cho ông thêm chán ghét nhà

Nguyễn. Mâu thuẫn sâu sắc giữa ông với tập đoàn phong kiến sớm muộn không thể

không nổ ra. Cảm tính trung thực hướng ông sống theo những yêu ghét chân thành.

Những khuôn khổ chật hẹp của triều đình phong kiến mỗi ngày mỗi bưng bít tầm mắt

của ông, ngáng trở tình cảm của ông nhưng không làm cho ông mất khả năng vẫy

vùng. Từ chỗ phê phán và phản kháng nó, ông đã tiến tới nổi dậy để đánh đổ nó. Ông

đã hành động vì nguyện vọng của nhân dân. Con đường ông đi cuối cùng là con đường

khởi nghĩa, đó cũng vì đòi hỏi cấp thiết của nhân dân.

Về điều này cũng có rất nhiều ý kiến đề cập đến tinh thần phản kháng của ông.

Có người cho đây là sự bất phục tùng, bất mãn với chế độ bất công, bất tài, bất lực.

Cũng có ý kiến cho rằng đó là một sự "nổi loạn" của con người kiêu ngạo, ngông

cuồng.

Hơn nữa lại có ý kiến cho rằng: Cao Bá Quát nổi dậy là bị ám ảnh bởi cái mộng

đế vương. Nếu nói như vậy là không có quan điểm giai cấp và mục tiêu đúng đắn. Thật

ra đó chính là biểu hiện tất nhiên của một tấm lòng yêu nước, thương dân, là một phẩm

chất tốt đẹp của người bênh vực cho nhân dân bị áp bức mà chống lại triều đình. Nó

xuất phát từ khí phách anh hùng quyết tâm đứng lên trừ bạo cứu dân của chủ nghĩa yêu

nước Việt Nam bao đời nay.

Trong thực tế cuộc khởi nghĩa của Cao Bá Quát đã thất bại, chứng tỏ nghệ thuật

chỉ đạo khởi nghĩa của ông cũng như đường lối chính trị của ông có những sai lầm và

hạn chế. Nói về đường lối chính trị, trong lúc Nho giáo đã bất lực trước xu thế phát

triển của lịch sử mà ông còn muốn cải biên nó, sử dụng nó; trong lúc các học thuyết

khác của phương Đông đã cũ rồi mà ông còn muốn chiết trung nó, tổng hợp nó. Mặt

khác do quá chú trọng vào những học thuyết chính trị cổ đại của phương Đông mà ông

phần nào coi nhẹ những hình thức, những khẩu hiệu đấu tranh có tính chất thiết thực

và đã có hiệu quả của nông dân cuối thế kỷ trước, như "đánh đổ cường hào ác bá", "lấy

của nhà giàu chia cho dân nghèo". Vì vậy nguyện vọng xây dựng một xã hội tốt đẹp

của ông không thể thực hiện được.

Nhưng những hạn chế về mặt đường lối của ông cũng là những hạn chế của thời

đại. Lúc bấy giờ không có phong trào nông dân nào đề ra được đường lối mới mẻ, có

23

thể đáp ứng được đòi hỏi của tình hình. Bi kịch của ông là đã không tìm được một

phương hướng đúng đắn để giải quyết vấn đề xã hội của nước ta hồi giữa thế kỷ XIX.

Đó là một xã hội phong kiến với nền tảng nông nghiệp làm chủ đạo. Nó phát triển theo

vòng tròn kép kín, đặc biệt là thời Tự Đức với chính sách "bế quan tỏa cảng". Điều đó

làm cho xã hội không phát triển theo hướng mới được và chủ nghĩa tư bản không có

điều kiện để phát triển. Mặt dù bản thân Cao Bá Quát đã có dịp đi ra nước ngoài nhưng

ông chưa thể thấy được sự vận động của lịch sử sẽ như thế nào vì những nơi ông đến

đều là những nước chậm phát triển. Cho nên ông mới chỉ chống lại triều định nhà

Nguyễn để thay đổi nó bằng một triều đại khác, xây dựng một chế độ phong kiến cực

thịnh, lý tưởng chứ ông chưa có tư tưởng cách mạng để chống lại chế độ phong kiến

nói chung.

Bản thân ông cũng đã thấy rõ sự nguy hại của lối học sách vở thời bấy giờ. Nó

làm thui chột sự phát triển trí tuệ, những phát hiện mới mẻ... nhưng ông vẫn không

thoát khỏi nó. Dẫn đến suy nghĩ và hành động của ông còn dựa nhiều vào sách vở,

thiếu tính thực tế. Đối với người dân, ông luôn yêu thương, thông cảm nhưng chưa

thấy hết sức mạnh của người dân, chưa tin tưởng họ sẽ làm nên sự nghiệp vĩ đại nên

vẫn trông chờ vào sự xuất hiện của những thánh nhân, những Nghiêu Thuấn.

Hơn nữa từ một nho sĩ đi theo triều đình, Cao Bá Quát trở thành một lãnh tụ

nông dân chống lại triều đình, bước ngoặt thật lớn lao và hiếm có. Nhưng bước ngoặt

đó cũng có mặt hạn chế của nó. Địa vị lãnh tụ nông dân của ông không phải phát triển

từ một nông dân mà lên, mà là chuyển từ một sĩ phu phong kiến sang, không phải lớn

lên trong trình tự phát triển của phong trào mà từ một sự đi "tắt ngang". Điều này

khiến ông không giống Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ xuất thân từ một nông dân, từ một

người "áo vải" trải qua quá trình chiến đấu lâu dài (gần hai mươi năm) mới trở thành

lãnh tụ cao nhất của phong trào Tây Sơn. Do đó, đường lối chủ trương chính sách của

phong trào trên có nhiều tính cách mạng tiến bộ, có lợi cho nông dân. Còn cuộc khởi

nghĩa của Cao Bá Quát do hoàn cảnh xuất thân, do quá trình trưởng thành của lãnh tụ

như ta đã nói nên tính chất cách mạng không nhiều, màu sắc nông dân không đậm. Đó

cũng là nguyên nhân gây nên hạn chế trong tư tưởng chính trị xã hội của Cao Bá Quát,

cũng là hạn chế chung của các phong trào nông dân do sĩ phu lãnh đạo thời ấy. Ngay

đến những cuộc khởi nghĩa do bản thân nông dân lãnh đạo cũng chỉ có thể đi tới xây

24

dựng một vương triều khác tốt đẹp hơn vương triều mà nó đánh đổ. Nguyễn Huệ sau

khi tiêu diệt các tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh đã lập nên triều đại Tây Sơn. Do đó

hạn chế trong tư tưởng chính trị xã hội của Cao Bá Quát là điều có thể hiểu được.

Dẫu vậy, ngọn lửa khởi nghĩa của Cao Bá Quát nhen lên cũng có tác dụng là biểu

thị được ý chí đấu tranh bất khuất của nhân dân trước những áp bức bóc lột của bọn

vua quan nhà Nguyễn, chửi vào mặt bọn thống trị tàn bạo vô đạo như Hạ Kiệt, Thương

Trụ ngày xưa, mở một con đường đi đến Minh Điều, Mục Dã cho các thủ lĩnh, nghĩa

quân sau này... Nó đã giáng một đòn chí tử vào triều đình Tự Đức bấy giờ. Cùng với

những cuộc khởi nghĩa của nông dân liên tiếp trong hai thế kỷ XVIII và XIX, nó góp

phần đẩy nhanh chế độ phong kiến đến chỗ suy sụp. Cuộc đời Cao Bá Quát là hoàn

toàn nhất quán vì thường xuyên ta thấy ở ông một cái nhìn tích cực, lạc quan. Một tư

tưởng thống nhất đã chi phối các quá trình khác nhau của đời ông, giúp ông tạo nên

những vần thơ bất hủ, đồng thời cũng thúc đẩy ông biến ý thức căm thù thành hành

động quyết liệt đối với giai cấp thống trị. Chỉ khai thác riêng một mặt nào trong cuộc

đời Cao Bá Quát mà thiếu cái nhìn chín chắn về toàn bộ con người ông thì nhận định

của ta sẽ không khỏi hời hợt và phiến diện.

Tất cả những vấn đề trên chứng tỏ một điều: Cao Bá Quát là một nhà thơ có nhân

sinh quan đẹp đẽ. Ông có cái nhìn nảy lửa đối với chế độ thống trị, nhưng lại có cái

nhìn tràn đầy yêu mến đối với nhân dân; có cái nhìn rất sâu vào từng khía cạnh của

cuộc sống muôn vẻ nhưng cũng biết nhìn khái quát về tình trạng bi phẫn nói chung của

hiện thực đương thời. Cái nhìn của ông nhất quán từ đầu đến cuối, một cái nhìn nồng

thắm và cũng khá nhạy bén, sắc sảo.

Đây là yếu tố tích cực trong nhân sinh quan của Cao Bá Quát. Cuộc khởi nghĩa

của ông là một bộ phận quan trọng trong cuộc đời ông. Nó thể hiện trọn vẹn hơn

những yếu tố tích cực vốn dĩ có sẵn trong nhân sinh quan của Cao Bá Quát. Chính đấy

là cuộc đấu tranh trực diện tiếp theo cuộc đấu tranh bằng thơ văn trong suốt thời gian

Cao còn sống bên cạnh giai cấp thống trị. Mạnh mẽ hơn nhiều nho sĩ đương thời, Cao

Bá Quát biết dùng lưỡi gươm thay thế cho ngòi bút của mình. Tích cực hơn nhiều nhà

văn đương thời, Cao Bá Quát biết nâng ngòi bút lên thành giá trị đấu tranh. Thơ văn

Cao phản ánh sâu sắc tâm hồn, ý chí của ông và được thể hiện bằng một nghệ thuật có

giá trị rất lớn. Do ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của xu hướng đương thời là coi trọng

25

thơ văn chính thống và coi nhẹ văn học bình dân nên sáng tác của ông chủ yếu bằng

chữ Hán. Tuy vậy nó vẫn mang nội dung tư tưởng phong phú, tình cảm nhân đạo chói

ngời và giá trị nghệ thuật vững chắc.

26

CHƯƠNG II: KHÍ PHÁCH

Những chi tiết về cuộc đời Cao Bá Quát cũng như những giai thoại về Cao Bá

Quát nói lên rất rõ: ông là một người có bản lĩnh đặc biệt và thơ văn của ông cũng thể

hiện rất rõ cái bản lĩnh ấy. Không cứng cỏi, không tích cực tìm một lối thoát thì còn

con đường nào dung nạp được mình? Không cố gắng tự mình xoay đổi tình huống

trước mắt thì làm sao mà cưỡng lại thực tế tàn khốc của số mệnh?

Hơn nữa, vốn xuất thân trong một gia đình nhà nho, được rèn luyện theo tinh

thần của Nho giáo, ấy thế mà đối với Cao Bá Quát, những giáo điều nghiêm khắc của

Nho giáo đã từ lâu không thỏa mãn được ông. Nhà thơ hình như vẫn có cách nhìn,

cách đánh giá riêng của mình về cuộc sống, không hoàn toàn phụ thuộc vào thế giới

quan Nho giáo. Tin ở ý chí, ở bản lĩnh của mình là một niềm tin lớn của Cao Bá Quát.

Chẳng phải đến khi cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương bùng nổ, lòng tin ấy mới biểu hiện

một cách chói lọi ở những dòng chữ trên lá cờ của nghĩa quân, mà trong thơ văn ông

lúc nào cũng dào dạt một niềm tin ấy. Trong suốt cuộc đời của mình, Cao Bá Quát đã

từng ấp ủ bao mơ ước, hoài bão lớn để xây dựng một sự nghiệp lớn "kinh bang tế thế".

Đó là những khát vọng cháy bỏng của ông từ thời trai trẻ để chứng tỏ một tâm hồn tràn

đầy khí phách. Với những khát vọng về tự do ; về công danh và cái cơ bản nhất tạo

nên con người Cao Bá Quát là khát vọng về nhân cách làm người chân chính trong

một xã hội đầy rẫy những xấu xa, tàn bạo ; để rồi từ đó hình thành trong ông tư tưởng

chống áp bức bất công và tiến tới hành động cụ thể, dứt khoát là khởi nghĩa để thay

đổi một xã hội tốt đẹp hơn. Còn về thơ văn, ông luôn có khát vọng tạo nên một thứ văn

chương chân chính, phục vụ nhân dân... Tất cả những vấn đề đó sẽ giúp chúng ta hiểu

rõ con người của Cao Bá Quát hơn. Những khát vọng ấy sẽ được trình bày theo từng

đề mục cụ thể sau:

2.1. KHÁT VỌNG TỰ DO:

Cao Bá Quát sáng tác vào giai đoạn chính quyền nhà Nguyễn đã bộc lộ tất cả bản

chất tàn bạo của nó, lúc mà nhà thơ Nguyễn Công Trứ đầy nghị lực đã bắt đầu buông

tiếng thở dài và triết lý về cái vô nghĩa của cuộc đời, để sau đó rơi vào bế tắc. Trong

một hoàn cảnh như thế nhà thơ rất dễ có thái độ bi quan nếu như không muốn xu phụ

27

với triều đình, Cao Bá Quát không xu phụ mà cũng không bi quan. Nhà thơ cũng

không có ảo tưởng nào đối với triều đại và cũng không tin tưởng vào mệnh số. Thơ

Cao Bá Quát hào hùng, khoáng đạt là vì vậy. Nhà thơ lớn nên ông có cái nhìn lớn.

Tuổi trẻ của Cao Bá Quát là những ngày trong sáng và rực rỡ của một tài năng lỗi lạc,

một tâm hồn rộng lớn, một ước mơ bay cao. Với cốt cách khẩu khí hơn đời, Cao Bá

Quát lấy Lạc Tân Vương, Dương Quýnh, Y Doãn, Phó Duyệt để hình dung về con

người tài tử với những đặc điểm: giỏi thơ văn, sống đời phóng khoáng lại đủ tài kinh

bang tế thế khả dĩ đổi họa thành phúc, dẹp loạn an dân trở nên khai quốc công thần:

"Hoi miệng sữa tuổi còn giọt máu; nét hào hoa chừng ná Tân, Dương, chòm tóc

xanh vừa chấm ngang vai; lời khí khái thì thầm Y, Phó".

(Tài tử đa cùng phú)

một khát vọng hơn người, dự đoán cho một sự nghiệp lớn sau này! Và cuộc đời phải là

một sự phấn đấu không ngừng, không ngại khó khăn gian khổ, phải biết chịu đựng để

thoát ra khỏi sự ràng buộc của kẻ sĩ với triều đại. Phải biết vượt lên tất cả:

"Nghiên gợn sóng vẽ vời điển tịch, nét nhạn điểm lăn tăn; bút vén mây dìu dặt

văn chương, vòng thuyền khuyên lỗ chỗ.

Nghiêng cánh nhạn tếch mái rừng Nhan, Khổng, chí xông pha nào quản chông

gai.

Cựa đuôi kình toan vượt bể Trình Chu, tài bay nhảy ngại gì lao khổ".

(Tài tử đa cùng phú)

Thật là những lời hùng khí, vượt qua mọi trở ngại với một niềm tin mãnh liệt,

xông pha lao mình vào đường đời một cách hăm hở về hữu ngã, một sự khẳng định cá

nhân mình với tầm cỡ non sông vũ trụ giống như Nguyễn Công Trứ :

"Cũng có lúc mưa tuôn sóng vỗ,

Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong.

Chí những toan xẻ núi lấp sông,

Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ."

(Chí khí anh hùng)

Một điều dễ hiểu ở sự gặp gỡ này là do nó cùng là sản phẩm của trào lưu nhân

đạo chủ nghĩa lớn lao cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Nhưng khác nhau ở chỗ: Cao

28

Bá Quát hướng về phía vận mệnh nhân dân, còn Nguyễn Công Trứ lại tận tâm tận lực

phục vụ triều đại để rồi phải chán nản bi quan - con người hữu ngã có chếnh choáng

(Giáo trình Văn học trung đại - Trường đại học Sư Phạm TP.HCM, tr.207). Sự cố gắng

ấy không có nghĩa là quên thú ưu du, đánh chết tâm hồn nghệ sĩ. Trái lại rượu thơ phải

đi theo mà giữ cho tâm trí lồng lộng với mây xanh, không bị ràng buộc bởi danh lợi

tầm thường của cửu hoàn bé nhỏ :

"Lắc bầu rượu dốc nghiêng non nước lại, chén tiếu đàm mời mọc Trích tiên;

hóng túi thơ nong hết gió trăng vào, cơn xướng họa hẹn hò Lão Đỗ".

(Tài tử đa cùng phú)

Con người như hoa cùng thiên nhiên, vũ trụ một cách thư thái. Đây cũng là một

đặc điểm của con người trung đại là hướng lòng mình vào thiên nhiên, nâng con người

lên ngang tầm vũ trụ bao la để thể hiện tấm lòng của mình cũng cao rộng như thiên

nhiên để mà tung hoành ngang dọc. Một ý chí vẫy vùng thật lạ lùng đột ngột, ra ngoài

cả "vòng trời đất, dọc ngang, ngang dọc". Đó cũng là một ý thức cá nhân mãnh liệt.

Với tư tưởng bay lượn như chim bằng lồng lộng trời xanh, làm cho con người

thoát thời, không gian để đi vào vô tận, vô thủy, vô chung, "uống rượu tiêu sầu

"Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy,

Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười,

Thôi công đâu chuốc lấy sự đời,

Tiêu khiển một vài chung lếu láo.

Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu,

Trầm tư bách kế bất như nhàn.

Dưới thiều quang thấp thoáng bóng Nam san.

Ngoảnh mặt lại, cửu hoàn coi cũng nhỏ,

Khoảng trời đất cổ kim, kim cổ.

Mảnh hình hài không có, có không,

Lo là thiên tứ vạn chung."

Một con người của đời thường thì không thể thoát khỏi hình hài để ngắm cảnh

mênh mông ấy. Đó phải là một tâm hồn khác thường, một vị tiên, một Lã Đồng Tân,

một Lý Thái Bạch trong trời đất chỉ còn biết có rượu với thơ. Phải chăng đã có lúc

29

thần thức con người vượt khỏi thể xác để chu du, không gian mông lung, thời gian vô

tận? Và Thánh Quát đã có những lúc siêu thoát đó để thấy cảnh đời không còn vui

buồn, chỉ còn "nực cười", không "chuốc lấy sự đời", chỉ "tiêu khiển một vài chung lếu

láo". Để rồi thể hiện cái chí cao cả và lòng hăng hái làm việc đời của họ Cao:

"Tươi nét mặt thư sinh lồ lộ, bưng mắt trần toan đạp cửa phù đồ; rửa buồng gan

du tử nhơn nhơn, giương tay tạo sắp xoay cơn khí số"

(Tài tử đa cùng phú)

Đã tự nhận mình là người tiên giới thì nhất định phải làm những việc phi thường

"xoay cơn khí số". Chí hướng của Cao Bá Quát cũng quyết liệt như chí hướng Nguyễn

Công Trứ nhưng to rộng và nhất là ra ngoài khuôn khổ quân thần. Ông đúng là một

con người có cái nhìn ít hợp cỡ với khuôn lồng của chế độ phong kiến. Cưỡng ép con

người ấy phải quẩn quanh khuôn khổ chật hẹp kia chắn hẳn chỉ có thể dẫn đến rạn vỡ

cả khuôn khổ mà thôi, mà cuối cùng là dám đứng dậy khởi nghĩa. Cao Bá Quát tin vào

mình, chính mình phải hành động để thay đổi cuộc đời mình:

"Bài phú Dương Hùng dù nghiêm tá, thì xin tống bần quỷ ra đến miền Đông Hải

để ta đeo vòng thư kiếm, quyết xoay bạch ốc lại lâu đài;

Câu văn Hàn Dữ dẫu thiêng chăng, thì xin tống cùng thần ra đến biển Côn Lôn

để ta gánh vác giang sơm, quyết ném thanh khâm sang cẩm tú..."

(Tài tử đa cùng phú)

Một quan niệm như thế không thể nói là quan niệm chính thống của nho giáo

được.

Cao Bá Quát đã bày tỏ cho rõ thêm cái tư tưởng "dọc ngang trời bể" nói theo

ngôn ngữ Nguyễn Du, cái "tư tưởng nổi loạn" nói theo thông thường. Âm hưởng câu

văn ở đây đầy khí thế ngang nhiên, bừng bừng sôi nổi một cách lạ lùng. Rõ ràng ở Cao

Bá Quát, tác động của con người đối với cảnh ngộ, đối với hiện tại thực là mãnh liệt.

Người thanh niên ở đây không chấp nhận hoàn cảnh như một định mệnh, trái lại chủ

trương phải xoay đổi cảnh sống để đổi xoay số phận .

Cũng như bao nhiêu kẻ sĩ khác, ông cũng đeo đuổi sự nghiệp khoa cử để tiến

thân với bao suy nghĩ, lo toan. Cái chính là thỏa chí nam tử. Sự nghiệp đó khởi đầu:

30

"Năm Tân Tỵ bắt đầu đi thi hương,

Tóc còn trái đào đã theo chân các bậc người lớn.

Hướng về phía địch thủ, mạnh dạn tiến lên,

Đưa ngòi bút làm cho người xung quanh đều kinh sợ."

(Bình sinh ngũ thập vận)

Ta cũng hình dung được hình ảnh một cậu thanh niên với những bước đi chủ

động, khí thế tiến về phía trước với bao hy vọng, hoài bão. Một điều đã tác động sâu

sắc đến tư tưởng và tình cảm Cao Bá Quát - một người giàu tưởng tượng ham hiểu

biết, đầy chí khí và nghị lực, là bề thế của đất nước, hào khí của non sông diễn ra trước

mắt ông, tạo cho ông những trách nhiệm lớn lao, những xúc cảm mãnh liệt. Chính thơ

ông đã ghi lại được những cảm xúc hào hùng đó.

Khi đáp thuyền xuôi sông Hồng hướng về Nam với cảnh trời chiều gió lạnh, cát

vàng một dãi sóng vỗ dạt dào ở khúc Thanh Trì. Để rồi khi chia tay với bạn trên cảnh

sông nước bao la, ông nghĩ đến "chí lớn muôn dặm" :

"Nếu không thấy ba đào hùng tráng,

Thì biết sao được cái chí lớn muôn dặm."

(Thanh Trì phiếm châu nam hạ)

Núi Dục Thúy, niềm tự hào của giang sơn Tổ quốc, càng rực rỡ qua lời thơ trong

sáng, thiết tha. Khi bước lên nó với lòng đầy tự hào, ông mơ trèo lên đỉnh cao để hát

vang gởi tấm lòng vào mây nước:

"Trời đất có núi ấy,

Muôn thuở có chùa này.

Phong cảnh đã kỳ tuyệt,

Mà lại thêm có ta đến đây.

Ta muốn trèo lên đỉnh cao ngất kia,

Hát vang lên để gửi tấm lòng vào mây nước."

(Quá Dục Thúy sơn)

Tấm lòng muôn dặm của Cao Bá Quát chỉ có vũ trụ bao la mới chứa nổi. Lời thơ

thật khảng khái, ý chí thật to lớn, nỗi lòng thật mênh mông. Âu cũng là tấm lòng của

chàng thư sinh họ Cao đang cháy bỏng khát vọng tự do, công danh để phục vụ đất

31

nước. Ông không chỉ nghĩ đến mình, đến hiện tại mà còn nghĩ đến mọi người, đến mai

sau với tâm sự hằng ấp ủ :

"Thử đem hột mai ném lên trên núi,

Một nắm giống thanh tao gửi lên ngọn đá xanh.

Hãy nhớ lấy: Sau này, khi vẻ xuân tươi tốt,

Sẽ thành một bức tranh cho mọi người xem chung."

(Tài mai)

Với việc làm bình thường: cầm một nắm hạt mai ném tung lên núi, ông hình

dung khi mùa xuân về nó sẽ trở thành bức tranh cho mọi người xem chung .Đó cũng

chính là những thế hệ tương lai mà những người như Cao Bá Quát hằng ấp ủ, nung

nấu, nuôi dưỡng cho đất nước tươi đẹp sau này.

Đối với Cao Bá Quát còn gì vui sướng và thanh thản hơn khi buổi sáng đứng trên

núi Hoành sơn, buổi chiều tắm ở khe Bàn Thạch, nhặt mỗi nơi một viên đá, ông thấy

như núi sông không đầy một vốc tay :

"Sớm lên đứng trên núi Hoành Sơn,

Chiều xuống tắm ở dòng khe Bàn Thạch.

Nhặt lấy mỗi nơi một viên đá,

Cả non sông không đầy một vốc tay."

(Dục Bàn thạch kính)

một con người tự do, tự tại trải hồn mình với thiên nhiên khoáng đãng, trong lành.

Được như vậy ông không bị ràng buộc, lệ thuộc vào ai cả, làm những gì mình muôn và

không muốn. Với chí lớn, ông như thấy mình thu được cả giang sơn hùng vĩ vào trong

bàn tay như nằm lòng, để làm chủ nó, yêu thương nó. Dưới con mắt nhà thơ, non nước

Ninh Bình với cảnh núi sông kiều tráng như quyến luyến thân thuộc với người, mà cụ

thể thì non sông chỉ mảnh mai như dải lụa của cô gái đẹp, hòn núi thì bé tí xíu như

chén ốc của khách làng say :

32

"Sông như dải lụa xanh của cô gái đẹp,

Núi như chiếc chén xà cừ của khách say.

Trăng và gió xem ra đều là kho vô tận

Chỉ e nhà thơ không chịu trở về !"

(Ninh Bình đạo trung)

Con người ở đây đã say bởi vẻ đẹp của non nước hữu tình, càng đi càng thấy

lòng mình trào dâng một nỗi niềm khó tả bởi non nước mình đẹp quá! Không gian vũ

trụ như vô tận, đường đời con người như mênh mông. Con người như bắt gặp ở thiên

nhiên một niềm giao cảm vô bờ của sự thanh thản, tự do. Chỉ có ở những lúc như thế

này, con người mới cảm thấy sảng khoái, tự tin, tự hào xen lẫn với việc phải làm điều

ích cho con người và đất nước. Nó hướng con người đến những điều tốt đẹp.

Không chỉ dừng ở đó, nhà thơ như muốn sắp xếp lại tạo vật theo cách nhìn, cách

nói đầy hóm hỉnh vui tính của mình. Để cho những cảnh vật quen thuộc luôn ở bên

ông mà ông không cảm thấy chật hẹp, thiếu vắng "Du Tây hồ bát tuyệt III" là một lời

nói đùa với sóng:

"Giá như bác lôi những núi ở phía tây lại thì tốt,

Và san phẳng bức thành ở phía đông đi lại càng hay hơn"

đó cũng là muốn cho thiên nhiên gần gũi hơn, gắn bó hơn. Cũng là khát vọng muốn

làm chủ thiên nhiên.

Tâm hồn phơi phới, khí phách hào hùng của Cao Bá Quát còn được thể hiện

trong lúc ông cùng bạn ngồi uống rượu dưới ánh trăng:

"Cất chén thử mời trăng,

Trăng vào đi trong chén.

Ngậm chén toan uống thì trăng lại biến mất,

Chỉ còn có bóng người dọc ngang.

Ngừng chén và đặt xuống,

Thì lại thấy vành sáng le lói hiện ra."

(Trà Giang thu nguyệt ca)

Trăng của Cao Bá Quát gợi lên tuổi trẻ và tình yêu, tài năng và son sắt khiến

người ta cảm thấy thiết tha đối với cái đẹp thanh cao, trong sáng của tâm hồn. Ở đây

33

trăng cũng sôi nổi giống như con người ông vậy, tự do bay nhảy tỏa sáng lung linh.

Trên cái nền ấy cuộc chia tay với bạn lại càng hào hùng, thấm đẫm chất tráng sĩ của

Kinh Kha năm xưa "Nhất khứ bất phục hoàn":

"Là người trượng phu đã chống gươm đi thì đi thẳng

Chẳng bắt chước như đàn bà, con trẻ bịn rịn trong lúc phân kỳ"

(Trà Giang thu nguyệt ca)

phải có một thái độ dứt khoát, một sự xác định rõ ràng về sự ra đi thì nhà thơ mới

không có cái bịn rịn lúc chia tay của thói thường vốn có.

Đất nước miền trong lần lượt mở ra theo bước chân háo hức vào đời của người

con trai. Vượt dòng sông Chế vào đất Nghệ An, dãy Lạc Sơn ngoằn ngoéo lắm khúc,

chim hoa đón người (Lạc Sơn lữ trung). Vào Quảng Bình lên đỉnh đèo Ngang núi xanh

trùng điệp, cảm hoài nước non (Đăng Hoành Sơn). Đứng ở Hoành Sơn nhìn ra biển

rộng, sóng to gió cả, sấm chớp liên hồi, có những cánh chim âu không hề sợ hãi:

"Sóng trên mặt bể trắng xóa như đầu bạc,

Gió táp xô vỡ chiếc thuyền lớn hàng muôn hộc.

Sấm ran, chớp giật trông rùng gợn người,

Mà trong vẫn có những con chim âu lềnh bềnh như những cái chấm."

(Hoành sơn vọng hải ca)

phong cảnh thật hùng vĩ, tiếp bước cho chàng thư sinh thêm mạnh mẽ hơn tự tin hơn,

cứng cỏi hơn trước phong ba bão táp.

Để rồi vào đất Huế, đất thánh của nhà Nguyễn với cầu Vĩnh Lợi, với nước sông

Hương, núi như ngựa chồm, sông như kiếm sắc. Dòng sông Hương vốn êm đềm và mỹ

lệ trong mắt mọi người, thế mà trong mắt ông nó bỗng hiện lên với một hình hài thật

mạnh mẽ:

"Trường Giang như kiếm lập thanh thiên"

(Ngọn sông dài như lưỡi gươm dựng giữa trời xanh)

(Hiểu quá Hương Giang)

Câu thơ ngùn ngụt khí thế ngất trời. Phải là người có khát vọng lớn, có cái nhìn

hơn người, đầy dũng mãnh mới thấy được hình ảnh ấy. Nó xuất phát từ cái tâm, cái khí

34

của Cao Bá Quát. Con người ông đứng ngang tầm thời đại, thậm chí là đứng cao hơn

để nói những điều khí khái ấy.

Có thể nói mỗi đoạn đường ông đi là một cảm xúc mới mẻ. Mỗi cảm xúc mới mẻ

là một biểu hiện của tâm hồn phơi phới tự do yêu đời ở Cao Bá Quát.

Trong những ngày làm quan, đi chấm thi, chữa bài thi cho học trò rồi bị hạ ngục,

Cao Bá Quát thấy mình như con chim có sức bay cao mà bị nhốt vào lòng, ân hận chí

lớn không vùng vẫy được (Bệnh trung). Mười tháng ngồi tù, bị gông xiềng, đánh đập,

lúc thì ông mơ được chắp thêm đôi cánh để bay lên tận tầng mây tía:

"Ta muốn chắp thêm đôi cánh,

Bay lên tận mây tía."

(Lục nguyệt thập ngũ dạ nguyệt hạ tác phụng ký chư cố nhân)

để thoát khỏi cảnh tù ngục giam hãm anh hùng, thoát vòng lao lý oan khuất không

đáng tội. Hơn bao giờ hết, khát vọng tự do đang trào dâng trong lòng nhà thơ, ông

muốn phá vòng cương tỏa từ nhiều phía để thực hiện tiếp cái chí hướng đã được định

hình khi còn thư sinh; lúc thì ông lại ước ao giá gì đem cái gông bắt làm thang mây:

"Ước gì đem gông này bắc làm cái thang mây,

Cười xòa một tiếng, cưỡi gió mà lên cho rảnh."

(Trường giang thiên III)

từ một vật giam hãm con người, cái gông trở thành vật nối con người với thế giới tự

do, một hình ảnh rất lãng mạn. "Thang mây" cũng đủ nói điều ấy. "Cười xòa" để quên

sự đời, để chấp cánh bay cao ở tư thế chủ động, không lệ thuộc vào hoàn cảnh. Trong

bất kỳ tình huống nào ông cũng không sờn lòng, luôn chế ngự chúng với một phong

cách ung dung, khoáng đạt. Để rồi sau khi rời Huế, rời cảnh ngục tù tâm hồn ông phơi

phới tự do :

"Bể Đà Nẵng xa trông ở về phía đông,

Đảo cồn muôn lớp đường đi nghìn trùng.

Mây khói kinh thành, ban trưa thường nằm mộng,

Việc cầm kiếm ở bên trời chính là lúc trai tráng này." [31;45]

(Phái vãng dương trình, chu hành phó Đà Nẵng, tẩu bút lưu biệt thân thức)

35

những ngày tháng ở tù đã chấm dứt, với bao chán chường mệt mỏi cũng tan đi để mở

ra một chặng đường mới với bao khát vọng của chí làm trai sống một cuộc đời hữu

ích.

Đến khi đi dương trình hiệu lực, "có cuộc hoạn du mới biết cá lớn nghìn dặm".

Cảnh lạ nước lạ không làm cho Cao Bá Quát chùn bước, bi thương mà trái lại, cảnh ấy,

nước ấy đem đến cho ông nhiều cảm giác tươi vui mát mẻ, nhà thơ quên hết thân phận

của một kẻ tội đi phục dịch. Trên con thuyền bềnh bồng giữa sóng nước bao la của

biển cả, ông ao ước có tài vẽ như Tôn Vị để vẽ một bức tranh tự họa nhà thơ trên đầu

ngọn sóng :

"Ai thử đến nhà họ Tôn học lấy nét bút vẽ khéo,

Trên đầu ngọn sóng, vẽ thêm một người ngâm thơ !"

(Trần Ngộ Hiên nhục hữu sở thị tẩu bút họa chi)

Lại cũng là tư thế vượt lên tất cả, hết "cưỡi gió" rồi bây giờ lại "đứng trên đầu

ngọn sóng", thật là hào khí. Thơ Cao Bá Quát tràn đầy một tư tưởng nhập thế tích cực

với khuynh hướng vươn lên làm chủ cuộc sống của tác giả, nói lên tinh thần và ý chí

khắc phục khó khăn của một con người tài năng và nghị lực, tự tin và sáng tạo. Ở đó

không hề có sắc điệu của một tâm hồn bi quan, tiêu cực hoặc của một thái độ chùn

bước, chán nản. Cái khát vọng tự do ấy lên đến đỉnh điểm là cuộc khởi nghĩa Mỹ

Lương để xây dựng lại một chế độ phong kiến tốt đẹp hơn, lật đổ sự hà khắc của triều

đình nhà Nguyễn đang ngự trị. Chính cái khát vọng tự do này đã khiến cho Cao Bá

Quát hăm hở bước vào đời và luôn giữ vững bản lĩnh cũng như khí phách của mình

trong mọi hoàn cảnh.

2.2. KHÁT VỌNG CÔNG DANH:

Cũng như nhiều nhà nho khác, Cao Bá Quát cũng hướng cuộc đời của mình vào

con đường công danh, khoa cử từ rất sớm. Xét trên nhiều phương diện khác, ông là

người có tư tưởng truy cầu danh lợi, có chí hướng thông qua con đường thi cử để đỗ

đạt làm quan và dương danh với đời. Động cơ đó, ông không hề dấu giếm, trái lại còn

bộc bạch rõ ràng:

36

"Trên đường công danh, đã mấy ai nhàn?

Mũ lọng nhộn nhịp, ta cũng đi đây."

(Hoành sơn vọng hải ca)

mặc dù ông biết trước con đường công danh cũng nguy hiểm như cảnh sóng to, gió

lớn, chớp giật sóng ran ...nhưng ông vẫn tự nhủ mình hãy bước lên. Ta như tưởng

tượng chàng thanh niên ấy, xốc cổ áo lại, nắm tay mà đi thẳng vào cuộc đời, tin tưởng

ở ý chí, ở tài năng, ở phẩm hạnh của mình.

Chính sách dùng người của bao triều đại phong kiến đã tạo cho con người có học

thức một tâm lý phấn đấu để đỗ đạt làm quan, để vinh thân phì gia. Mức sống thấp

kém của kẻ sĩ cũng khiến họ nhiều lúc phải hoa mắt vì cái bả danh lợi. Cho nên hoài

bão danh lợi ở Cao Bá Quát là điều có thể hiểu được. Còn với Nguyễn Công Trứ thì là

nhiệm vụ: lập công danh, để khẳng định sự tồn tại của mình.Ông đã khẳng định một

điều: sống thì phải có chí, có hoài bão cho nên phải rèn luyện bản thân mà làm nên sự

nghiệp để cống hiến và giúp ích cho đời. Đây cũng là một đặc điểm chung của kẻ sĩ:

làm trai phải có áng công danh, có sự nghiệp.

Con đường khoa hoạn của Cao Bá Quát cũng không vui vẻ, thích thú gì ! Ngày

giã biệt môn sinh để vào kinh thi Hội, ông đã từng có những ý nghĩ chua chát về công

danh:

"Nhưng vào đời đã có văn chương,

Trốn danh thì còn ham muốn gì."

(Phó Nam cung, xuất giao môn, biệt chư đệ tử)

Trên đường vào Huế đi thi lòng ông cũng muốn bứt rứt, có sự gì như là nỗi chán

ngán chuyện lợi đanh. Khi ngang qua Đèo Ngang, ông làm thơ tả cảnh trời bể sóng gió

lao xao mà như tả nỗi lòng áy náy không yên của ông.

Thời làm quan ở Huế lại như càng tăng thêm nỗi buồn uất, vì đó chỉ là thêm cơ

hội cho ông va vấp nhiều lần vào cái lồng của xã hội quan liêu phe phái bẩn chật kinh

thành. Nhân sinh quan thanh thoát cao đẹp của ông không đẩy ông vào làm con người

danh lợi. Tuy ra làm quan, Cao Bá Quát vẫn quay lưng, không chịu uốn mình luồn lọt

theo thói thường để mua lấy sự vinh hoa. Bài thơ Cao Bá Quát đưa tặng ông Long

37

Linh sau đây có thể gợi lên cái chân dung nhà thơ, từ hoàn cảnh đến tâm tình của ông,

trong những ngày giữ quan chức ở Huế:

"Những người lúc trai trẻ vẫn khoe tài của mình,

Lớn lên lại phải đành cam chịu những nỗi đắng cay.

Cho nên xưa Lý Quảng làm thái thú ở Bắc Bình,

Mà không tránh được một tên cai đội rượu say nhiếc móc.

Bác thử xem đóa hoa nọ trong đám sương mù,

Dẫu rằng hoa đẹp, song không phải là của thời xuân nữa.

Huống chi lại gặp đàn chim yến tước chúng phá rầy,

Thì tài nào mà không rơi rụng xuống nơi bùn bụi.

Lại xem như người con gái về làm dâu con nhà người ta,

Sự cười nói cũng không sao dễ dàng tự do.

Lại gặp phải anh chồng khinh bạc,

Chẳng lẽ lại mãi bĩu môi mà rầy rà nhau cả ngày !

Bấy giờ trông lên , nhìn xuống đều là cảnh trạng chìm đắm,

Cỏ lòng càng rối như bong ...

(Tặng Long Linh ) [14; 201; 202]

Cao Bá Quát đã dựng lên trong lời thơ những hình ảnh đối lập với nhau: một ông

quan to dưới mắt một tên đội say, một chòm hoa dưới đàn chim tơi bời đáp xuống ,

một người con gái vu qui với anh chồng khinh bạc, để làm toát lên nghịch cảnh, nỗi

đời ngang trái và đó cũng chính là nỗi ngang trái đời quan của Cao Bá Quát ở kinh.

Người danh sĩ Bắc hà thấy rằng mình có tài trí, nhưng lại không còn biết dùng nó vào

đâu nữa, mà mãi ở với hoàn cảnh này thì mình chỉ thêm buồn khổ, ngán ngẩm thôi!

Gặp gỡ chung đụng nhau chỉ là sự cùng bất đắc dĩ, và nếu không lời qua tiếng lại với

nhau, thì cũng chỉ bởi không lẽ phải nói năng với nhau nặng lời mãi mãi. Bài thơ đặc

tả nỗi cô đơn thấm thìa, cả nỗi buồn nản gớm ghê mà Nguyễn Công Trứ cho đến cuối

đời làm quan khi về nhàn dưỡng, mới thấy nói đến trong thơ văn ông. Nhưng Cao Bá

Quát vẫn cố gắng đeo bám sự nghiệp công danh của mình. Vì ông còn biết làm gì giữa

cái thời buổi nhiễu nhương này, và cũng vì cái tài, cái đức muốn phục vụ cho nên công

danh cứ ràng buộc ông mãi :

38

"Nghĩ mình cũng là người có tên tuổi ở chốn cửa vàng,

Lại từng lui tới nơi văn học.

Thi thư nhờ sẵn có nếp nhà,

Nhìn lên trông xuống vẫn bị cái danh ràng buộc."

(Thuật Hoài)

nói như vậy để ông tự an ủi mình, tự hào về chính mình để mà cống hiến, để mà tiếp

tục ôm ấp những hoài bão. Trong thực tế "công danh" và "hoài bão" hai cái đó đối với

một hạng nhà nho tầm thường và rất đông đảo thời đó thì chỉ là một. Đối với họ, hoài

bão chỉ có nghĩa là công danh. Suốt đời họ mơ ước, họ thèm khát, họ chạy vạy, họ dám

làm những điều hết sức xấu xa hèn hạ, chỉ vì một chút công danh, để nhảy lên địa vị kẻ

bóc lột. Cao Bá Quát đã nhìn rất sáng :

"Xưa nay hạng người danh lợi,

Vẫn tất tả ở ngoài đường xá.

Hễ quán rượu ở đầu gió có rượu ngon,

Thì người tỉnh thường ít mà người say vô số."

(Sa hành đoản ca)

Nhưng đối với những nhà nho chân chính, có thiện chí như Nguyễn Công Trứ,

công danh và hoài bão cũng chỉ là một. Bởi vì có lập công danh thì mới mong thực

hiện được những hoài bão vì dân vì nước. Nguyễn Công Trứ chính là người đã thể

hiện một cách hùng hồn nhất trong thơ của mình sự nhất trí giữa công danh và hoài

bão ấy, thông qua lý tưởng kẻ sĩ : Khi chưa thành đạt thì anh đồ tự coi mình như rồng

chưa gặp mây, hổ còn ẩn náu, an bần lạc đạo để chờ thời. Nhưng khi "rồng mây đã gặp

hội ưa duyên" thì đó là lúc "đem quách cả sở tồn làm sở dụng; Trong lăng miếu ra tài

lương đống, ngoài biên thúy rạch mùi can tương ..."

Còn gì đẹp hơn một con đường sống như vậy nữa ! Nhưng tiếc thay, đó rốt cuộc

chỉ là câu chuyện sách vở hoàn toàn. Ngay trong thời kỳ chế độ phong kiến còn vững

vàng, lý tưởng đó cũng chỉ thực hiện được đến mức độ nào đó, trong những điều kiện

nhất định. Tấm gương của Chu Văn An, Nguyễn Trãi còn sờ sờ ra đó. Huống chi là ở

thời đại chế độ phong kiến suy tàn đến tột độ như dưới triều Nguyễn.

39

Kinh nghiệm sống của những thế hệ đi trước đã giúp cho Cao Bá Quát thấy được

phần nào cái mâu thuẫn đó. Cho nên ở ông, ít nhất tò giai đoạn này (đi thi), hai khái

niệm "công danh" và "hoài bão" đã dường như không còn hoàn toàn gắn bó với nhau

nữa. Chúng ta không lấy làm lạ là trong những bài thơ ông làm trên đường đi thi này

là những dự cảm hãi hùng, u ám về con đường công đanh trước mắt:

"Tôi đã từng là người khách mười năm đi thi Hội,

Xem ra con người ta chỉ vì một chữ danh mà vất vả"

(Sơ nhập Thừa Thiên thí tác vận) [31; 155, 41]

lời tự bạch thật chua xót, công danh sự nghiệp và cái tài của Cao Bá Quát không có

duyên hội ngộ, thi hoài hỏng hoài nhưng ông vẫn kiên nhẫn trên đường khoa cử với

suy nghĩ:

"Vì lưu luyến thời sáng sủa nên học làm quan

Một chút danh mà lận đận mãi chưa thể nhàn được"

(Đình thí hậu trình chư hữu) [31; 155, 41]

nên cố gắng đeo đuổi vì xưa nay trời không nỡ phụ người có công. Nhưng con người

lạc quan và đầy triển vọng như thế đã thất bại trong những lần đi thi.

Sau đó ông không đi thi nữa. Nếu như những nhà nho khác, thì sẽ là yên thân với

ruộng nương, con cái để hy vọng ở đàn con. Nhưng ông không thế. Tuy còn băn khoăn

dằn vặt trước những thất bại đầu tiên, ông vẫn theo đuổi lý tưởng của mình, lòng luôn

luôn sôi nổi, mãnh liệt và tràn đầy sức sống.

Ông tiếp tục ra làm quan, song với những chức quan nhỏ, nhàn rỗi vô vị không

làm được điều gì lớn lao cả, để rồi lại trở về tâm trạng bất lực, buồn chán :

"Không có một sách lược gì làm cho đời được thái bình,

Thẹn mình là một nhà nho mà lại tầm thường đến thế."

(Độc dạ)

Đó chính là nỗi buồn lớn nhất của cuộc đời ông, nó đi ngược lại những điều mà

ông mong muốn. Đây cũng là một tâm trạng thường thấy của kẻ sĩ yêu nước như

Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến... Họ với những hoài bão khát

vọng to lớn, cống hiến hết sức mình nhưng rồi lại thấy như chưa làm được gì mà mình

đã già, tóc đã bạc :

40

"Một chút danh cứ ràng buộc mãi thế này !

Than ôi! một chút danh cứ ràng buộc mãi thế này !

Bạc đầu với chiếc áo xanh. Ta già mất rồi!"

(Đề sát viện Bùi Công Yên Đài anh ngữ khúc hậu)

Tư tường hư vô của nhà đạo và tư tưởng danh lợi của nhà nho là những truyền

thống đè rất nặng lên đầu óc của kẻ sĩ, khiến nhiều kẻ sĩ suốt đời cầm tù trong những

truyền thống đó, muốn thoát mà không tài nào thoát được. Cao Bá Quát trái lại, đã

thoát ra được. Bởi vì bên cạnh những quan niệm sống do danh lợi chi phối, ông còn có

một lẽ sống cao đẹp được hình thành trong cuộc sống của xã hội. Theo thời gian,

những quan niệm sống danh lợi và hư vô ngày càng mâu thuẫn gay gắt với đạo làm

người cao đẹp của ông.

Vì thế tuy bị công danh ràng buộc nhưng Cao Bá Quát không bị nó chi phối tất

cả, ông ý thức được điều đó để không tự làm hỏng cuộc đời của mình trong chán

chường, thất vọng như một số người khác. Cao Bá Quát có một khả năng nhìn nhận và

đánh giá các vấn đề một cách sắc sảo và nhạy bén, cho nên ông đã rút khỏi nó một

cách kịp thời và xoay cuộc đời của mình theo một hướng khác tích cực hơn, hữu ích

hơn : đứng dậy khởi nghĩa. Như vậy công danh theo quan niệm của Cao Bá Quát là để

tiến thân nhưng lại "sinh bất phùng thời", lận đận mãi không đạt nên đâm ra có tâm sự

u hoài. Cái danh đó là ràng buộc, là vất vả...Ông khác những người cùng thời như

Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến... ở chỗ là biết dừng đúng lúc và thể hiện bằng

một hành động cụ thể : từ bỏ công danh (khi nó không còn hữu ích) để đứng lên khởi

nghĩa, chống lại những cái bất công, xấu xa...một cách tích cực. Trong khi họ chỉ biết

than khổ, chán chường hay về quê ở ấn... thì Cao Bá Quát đã có một bước đột phá hơn

họ, mạnh mẽ hơn họ. Đó là việc tự thay đổi hoàn cảnh, cuộc đời mình chứ không phải

lệ thuộc vào nó.

2.3. KHÁT VỌNG NHÂN CÁCH LÀM NGƯỜI CHÂN CHÍNH:

Đọc Cao Bá Quát ta không khỏi ngạc nhiên và thán phục về tư thế con người

trong thơ ông. Chế độ đẳng cấp phong kiến không thể làm ông thấp đi, hệ ý thức Nho

41

giáo không thể làm ông bé lại; quyền uy vua chúa không thể làm ông cúi đầu. Trái lại,

ông vẫn hiện ra với tư thế sừng sững của một con người.

Là một con người của tự nhiên, Cao Bá Quát bị giới hạn bởi tầm vóc hạn chế,

bởi những giác quan cố định và bởi định mệnh có hạn. Nhưng là một con người xã

hội, được lịch sử phú cho tài năng, được cộng đồng tạo cho sức mạnh, Cao Bá Quát lại

tỏ ra là một con người không những hơn hẳn các bộ phận khác của tự nhiên mà còn

trở thành người chủ của tự nhiên. Chính đứng trên góc độ người chủ của tự nhiên nên

Cao Bá Quát bao giờ cũng hiện ra với tư thế cao hơn tự nhiên mặc đù tự nhiên đó có

một không gian lớn hơn như thế nào, có một thời gian dài như thế nào.

Đối với ông, núi có thể trở thành hòn cục, biển có thể trở thành chén cốc :

"Núi non như hòn cục, biển như chén cốc,

Tất cả đều mở ra phía trong và ngoài ngôi nhà lầu.

(Đề Mỹ Tường điếm chủ, Hoàng thị nạp lương lâu I) [31; 84]

Hơn nữa mây núi xung quanh con người ông đều trở nên gần gũi, đều ở trong

tầm mắt: "Mây núi bốn mặt, tùy ý ngắm nghía, chỉ trỏ" (Vãn du Sài Sơn vũ hậu đăng

sơn đầu đề bích tứ thủ II)

Cũng chính đứng trên góc độ người chủ của tự nhiên mà Cao Bá Quát còn thấy

được mối quan hệ đúng đắn giữa người và tự nhiên, thấy được sứ mệnh của con người

đối với tự nhiên và vai trò của tự nhiên đối với cuộc sống con người. Lẽ dĩ nhiên, ông

không thể đạt tới trình độ xem tự nhiên là đối tượng chinh phục của con người như

quan niệm sau này, nhưng ông đã thấy một tự nhiên cho con người và gắn bó với con

người:

"Ai có thể chuyển giúp ta cả một góc động này,

Về đặt bên Hồ Tây, giữa khoảng hai gò Châu Long và Phượng Chủy."

(Du Tiên Lữ động văn nhân đàm Thái Nguyên sơn thủy chi thắng, túy hậu thành ngâm)

Cảnh vật thật hùng vĩ song lại được nhìn ở con mắt đời thường, ở vẻ đẹp khoáng

đạt của không gian.

Đối với vua chúa, những người có quyền uy cao nhất trong xã hội lúc bấy giờ thì

Cao Bá Quát luôn tỏ ra là một con người có gân cốt, dám ngẩng đầu mà trông, hướng

thẳng mà tiến. Chính sách thần quyền hóa thế quyền của nhà Nguyễn không làm ông

42

run sợ. Phong thái nô lệ của quan lại đương thời không thể làm ông chột dạ. Ông vẫn

hiên ngang đứng giữa trời. Từ ý nghĩ cho đến lời nói, từ cử chỉ cho đến hành động,

bao giờ ông cũng tỏ ra đường hoàng thư thái. Ông coi chúng là đối tượng chán ghét

của ông nên ông đã gạt vua chúa sang một bên để cho tư thế phượng hoàng của ông

với lời ca tự do bay bổng :

"Phượng hoàng trên núi Kỳ gầy như cái gai,

Đậu trên cây ngô đồng cao, xuống không nhanh được.

Cúi đầu, đã chán ghét từ lâu cái thói mưu thóc gạo,

Làm thế nào lại lủi thủi đi theo gà vịt được.

(Di Xuân tu trúc sinh hoa thi kiến thị, tức tịch tẩu bút ca dĩ đáp chi) [31; 86]

"Ai chẳng là sống ở đất vua, làm tôi nhà vua?

Một chiếc nón nghênh ngang giữa trần thế.

Thảnh thơi vừa đi vừa hát bài ca "giang ngoại xuân",

Có lẽ đâu chui đầu vào mái nhà thấp, cúi ngửa theo ý người khác."

(Đông vũ ngâm)

Ông luôn tự khẳng định mình để đứng trên tất cả với tư thế đường hoàng, hiên ngang.

Hơn bất cứ ai, trong mọi hoàn cảnh, Cao Bá Quát luôn là người có ý thức vượt

lên hoàn cảnh xã hội và tự nhiên một cách mạnh mẽ. Ông không dừng ở sự nhận xét

bên ngoài mà ông chỉ bằng lòng khi đã nhìn và hiểu được cả bên ngoài lẫn bên trong

của sự vật. Vì vậy mà khi nhìn thấy một tấm bia đá không có chữ, ông lấy làm khó

chịu:

"Cuộc tráng du, biết bao cảnh thương xuân trước mắt,

Đối với việc đời chịu sao nổi sự mơ hồ như tấm bia không chữ."

(Đề Trần Vũ quán thạch bi)

vì ông muốn rằng tất cả mọi thứ đều phải rõ ràng vì trách nhiệm của ông là: "việc kim

cổ có nhiều, cần phải nhận định vững chắc" (Đắc Hà thành cố nhân Thư thoại cập gia

tình kiêm vấn cận tác). Ông chủ trương bám sát thực tế, lấy thực tế xã hội và đất nước

để bồi đắp thêm cho kiến thức của mình và giúp mình làm chủ đối tượng nhận thức.

Ông đã trực diện trình bày nguyện vọng và lẽ sống của bản thân :

43

"Có cuộc hoạn du, mới biết cá lớn nghìn dặm,

Kiến thức hẹp hòi, khác nào nhìn con báo chỉ thấy một vằn."

(Nhị thập nhị nhật đắc phong, hý trình đồng châu)

đó chính là sự xâm nhập thực tế để học hỏi, để mở rộng tầm mắt. Và cao hơn nữa là

lời tự bạch của ông: "Quát tôi là người của đông, tây, nam, bắc."

Ý thức và nhân sinh quan đó đã làm cho Cao Bá Quát đạt tới một tư thế con

người.

Trong thực tế, một đời người thì ít ai không gặp những rủi ro, trắc trở trên đường

tiến thân. Cùng thời với Cao Bá Quát, cũng có nhiều người gặp cảnh éo le trong cuộc

sống. Cụ thể như Nguyễn Công Trứ, con người của "Đường trung hiếu, chữ quân thân

là gánh vác", cũng có lúc phải làm lính thú biên thùy. Hà Tôn Quyền, Lý Văn Phức,

những người trung quân cao độ cũng từng bị cách chức, bị đẩy đi dương trình hiệu

lực. Còn với Cao Bá Quát, cuộc đời của ông là một chuỗi dài những rủi ro, trắc trở: đi

thi bị đánh rớt, hỏng thi nhiều lần, bị tù, bị phái đi dương trình hiệu lực, bị thải hồi, bị

đẩy đi xa... Nhưng ông không quỵ ngã mà như được tôi luyện thêm, cứng cỏi hơn trên

những thăng trầm trong cuộc đời mình. Ông luôn dũng cảm xông pha, thể hiện rõ lòng

tự tin, ý chí quyết tâm của mình .

"Nếu không thấy ba đào hùng tráng giúp họ cứng cỏi hơn,

Thì biết sao được cái chí lớn muôn dặm?"

(Thanh Trì phiếm châu nam hạ)

Đó chính là sự thử thách con người trong những hoàn cảnh khắc nghiệt, tự hào

khi được mở tầm mắt ra xa rộng hơn :

"Giương cánh buồm bỗng thấy sóng gió thuận tiện,

Khỏi chỗ hiểm, xem như vũ trụ đổi mới."

(Trần Ngộ Hiên nhục hữu sở thị, tẩu bút họa chi)

Đó không phải là một sự thoát nạn mà chính là sự trưởng thành của con người,

như chính họ được thay đổi, lớn lên. Rồi cực nhọc của tù đày vẫn không làm ông nhụt

chí. Đi tù cũng là dịp để ông được mở mang thêm hiểu biết, coi như một cuộc du

ngoạn. Cao Bá Quát vốn là một người giàu sức chịu đựng, bị đánh đập mà không kêu

44

thương, tù tội mà không khóc lóc, gông cùm không rên xiết. Sở dĩ vậy là do ông hiểu

được ý nghĩa của việc mình làm nên luôn thể hiện ý chí bất khuất:

"Ta cũng mày mặt như mọi người việc gì mà đau thương ?

Ơn nhà, nợ nước chưa chút đền đáp,

Là người dũng cảm, đâu có chịu chết ở nơi văn tự !"

(Đằng tiên ca)

Đến lúc này, khi mà ông bị tra tấn cực hình vẫn nghĩ đến "ơn nhà nợ nước" thì

quả là tận trung, hơn người, không một lời rên xiết. Ông đã lãng mạn hóa cảnh tù đày.

Tết đến, bên ngoài nhà giam, pháo nổ, hoa nở, làm cho ông ở trong tù cũng cảm thấy

vui với xuân (Nguyên nhật). Cái gông xiềng cổ suốt ngày, ông ước ao biến nó thành

cái thang mây, cưỡi lên trời (Trường giang thiên)... Ông có cách sống là trước hiểm

nguy không sợ, vào nguy hiểm không sờn lòng, trong nguy hiểm vẫn vươn tới. Con

người thép ! Ông xứng đáng với lời nhật xét của Thương Sơn, người bạn thân đương

thời:

"Vốn có tính của cây tùng bách,

Không trái với tư thế hiên ngang trong buổi trời đông giá lạnh."

(Đề Cúc Đường thi hậu) [31; 93]

Cách sống thanh cao của ông không bị thói đời làm hoen ố mà trái lại nó luôn tỏa

sáng qua mỗi thái độ, cử chỉ. Ông khinh bỉ bọn vô tài, bọn vào luồn ra cúi để cầu vinh:

"Mười năm trước đã khinh con nhà họ Mạnh dâng rượu nho để cầu quan"

(Ngụ sở cảm sự mạn bút thư hoài) [31; 93]

Điều đó khiến ông luôn mâu thuẫn với bọn người thống trị, bề trên.

Cao Bá Quát đã đúc kết được nhiều điểm hay của các nhà nho trước đấy. Ông

xứng đáng với hình ảnh của một bậc trượng phu: giàu sang không thể khuất phục, uy

vũ không thể chuyển lay. Đạt được điều này là do ông có lý tưởng cao đẹp và biết kiên

trì lý tưởng. Nếu không có lý tưởng, chỉ đối phó bằng bản năng kiên cường thì cũng

chỉ được nhất thời. Còn có lý tưởng mà không kiên trì thì sớm phải rời bỏ lý tưởng.

Nguyễn Hàm Ninh là một trường hợp như vậy, để cuối cùng cảm thấy thân phận của

mình như "cúc trong bồn", như "con chim mỏi cánh, trong cảnh mù mịt biết bay về

đâu" (Hữu Cảm - Nguyễn Hàm Ninh) [31; 94]

45

Cao Bá Quát không có cái kết cục bế tắc đó mà ông luôn sống với lý tưởng đất

nước được phồn vinh, nhân dân được no ấm. Ông đã nói lên thái độ kiên quyết của

mình : "Đạo không thể bẻ cong được, thà rằng chịu vụng về" (Họa Thận Tư sổ bộ

Phương Đình nguyên tác), "Trải gió chẳng vì thu đông" (Vịnh tiên phát thảo).

Ở Cao Bá Quát có một sự tự rèn luyện và bồi dưỡng ý chí rất cao. Thực tế và

những thăng trầm của cuộc đời ông đã buộc ông phải lựa chọn : thay đổi hay kiên

định. Trước sau như một ông đã xác định : phải rèn luyện tinh thần và cốt cách. Ông

luôn tự biết động viên mình bằng những hình tượng thanh cao cứng cáp như cây tùng

trải bao giá lạnh mà vẫn xanh tốt. Những lúc nao lòng, ông trấn tĩnh bằng cách học tập

lối sống trong sạch, không đục theo dòng đời của Khuất Nguyên, Lý Bạch -hai nhà thơ

lớn của Trung Quốc. Với phương châm : "Đời đục, ta trong; đời say, ta tỉnh". Nhưng

có khác nhau là Khuất Nguyên cuối cùng đã đi đến sông Mịch La bằng một hành động

tiêu cực. Cao Bá Quát thì mở rộng chủ nghĩa tích cực, mong thực hiện tấm lòng "lo

trước vui sau" đối với nhân dân thiên hạ, mặc dầu cuối cùng cũng phải hy sinh. Ông

noi theo tinh thần cương trực không sợ cường quyền, không nề nguy hiểm của Chu

An, Vũ Duệ, Đặng Tất...để tính cách của ông ngày càng cứng cáp, kiên cường hơn.

Xét về mặt lập trường và lẽ sống, Cao Bá Quát có phần giống các lãnh tụ nông

dân ở cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX; xét về mặt tài năng và tính cách, Cao Bá

Quát có phần giống Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương và Nguyễn Công Trứ. Giữa ông và

họ có những nét giống nhau là đều có tài văn thơ và về tính cách cũng có những lúc

phẫn uất, "nổi loạn" hay họ còn gặp nhau ở chí lớn muôn dặm, một tấm lòng biết cảm

thông, một cuộc đời nhiều thăng trầm...Họ cùng do một hoàn cảnh lịch sử tạo nên.

Cho nên có thể nói, con người và đạo đức của Cao Bá Quát là sản phẩm của thời đại

lúc bấy giờ.

Hoài bão lớn nhất của Cao Bá quát là mong muốn trở thành một con người có

ích cho dân, con người có thể cứu vớt dân ra khỏi vòng nước sôi lửa bỏng, để dân có

cuộc sống ổn định, không phải phiêu bạt, không phải đói khổ vì sưu cao thuế nặng. Để

làm được điều đó, ông tự nguyện làm một con người tận tụy với dân với nước, thực

hiện điều mong ước "Lo trước điều lo của thiên hạ, và vui sau điều vui của thiên hạ".

Đồng thời ông cũng mong tìm được người tài để gởi gắm hy vọng, mong thay đổi

được thời thế.

46

Với Cao Bá Quát, sống là phải có ích cho đời, không sống theo kiểu vị kỷ. Ông

cũng coi đó như là một lẽ sống, một điều kiện để tồn tại. Cách nhìn của ông về một

loài hoa:

"Cỏ ở trong vườn, không biết tên là cỏ gì ?

Màu hoa đỏ chói như muốn đốt cháy cả bao lan.

Có sắc được người ta ưa,

Không hương, đối với đời nhạt nhẽo.

Mọc cành ra, vẫn có vẻ xuân mà không ai hay,

Có quả không ăn được.

Một mình cứ ôm ấp cái vẻ cao thượng riêng đó,

Khiến ta ngậm ngùi thở vắn than dài."

(Viên trung thảo)

Một bông hoa hữu sắc mà vô hương, một kiếp đời vô vị không đọng lại cái tinh

túy cho đời. Sống chỉ biết có mình, không đem lại hương thơm cho đời thì sống cũng

bằng không.

Đã là người thì phải sống trong sạch, thẳng thắn và phải có bản lĩnh, phải lánh xa

những thói xấu: chạy theo danh lợi, ham muốn nhỏ nhặt tầm thường, yên phận, theo

thời...Cái cơ bản là phải giữ cho được khí tiết trong sạch. Điều này đã khiến ông liên

tưởng đến hai loài hoa đẹp là hoa sen và hoa lan.

Theo ông, đã là hoa thì nên là hoa sen, vì nó vừa có hương vừa có sắc mà thân

hình lại ngay thẳng, tươi tốt:

"Làm hoa nên làm hoa sen,

Hương thanh, thân thẳng, dáng điệu xinh tươi.

Bùn vàng năm đấu, nước một thước,

Có một phong cách đặc biệt như sống trong động tiên."

(Di Xuân dĩ bồn liên vi thu phong sở tồi hữu thi kiến ký, nhân thứ kỳ vận, ca dĩ họa

chi)

Một loài hoa tượng trưng cho sự thanh cao, tinh khiết : "gần bùn mà chẳng hôi

tanh mùi bùn". Một sự khẳng định mình đến tuyệt đối. Và càng quan trọng hơn là

47

dáng của cây sen tượng trưng cho sự dứt khoát không màng danh lợi, không chịu để

cho những tính toán nhỏ nhen chi phối:

"Công thành, chí toại rồi thì đi tắp,

Không dây dưa gì với các loài hoa cỏ tầm thường."

(Di Xuân dĩ bồn liên vi thu phong sơ tồi hữu thi kiến ký, nhân thứ kỳ vận, ca dĩ họa

chi)

Loài hoa này tượng trưng cho những người có chí lớn, kiên định và ngay thẳng.

Làm người được như hoa sen thật là đáng quý !

Còn là cây thì ông khuyên là cây lan, vì nó có sức sống dẻo dai, chịu được sương

gió mà vẫn giữ được vẻ sáng tươi, đầy sức sống trong những lúc thời tiết khắc nghiệt:

"Dáng trinh tiết cho thấy đã sớm làm quen với sương gió,

Tiết sáng sủa lẽ nào lại bi quan với ngày tháng tàn."

("Bồn lan" họa Di Xuân thứ vận) [31; 159]

Cao Bá Quát ca ngợi cây sen, cây lan là để ca ngợi tính cách sống cao thượng

đồng thời cũng là để động viên mình giữ lấy tính cách đẹp đẽ cao cả.

Bên cạnh đó, ông có một cái nhìn mực thước, một cách sống bình dân. Ông quan

niệm sống phải giản dị, tự nhiên như chè không ướp hoa, quần áo không lòe loẹt, âm

nhạc không ầm ĩ và không nên giả dối, che đậy.. .Như thế mới là một con người có

cách sống đẹp, chân thật với mọi người, khỏe mạnh trong cách sống. Đó dường như là

cách sống giản dị của người nông dân. Điều này, Cao Bá Quát có được là từ sự tiếp

xúc gần gũi với người nông dân.

Dường như viết về đề tài gì, Cao Bá Quát cũng đều thể hiện rõ con người cá

nhân của mình, với những hoài bão và khát vọng rất lớn. Ông bày tỏ quan niệm sống

của mình:

"Tài trai sống ở đời đã không làm được việc phơi gan bẻ gãy chấn song, giữ

vững cương thường,

Lại ngồi nhìn bọn lang sói nghênh ngang.

Đến lúc tuổi già thì mặc áo gấm ban ngày về bôi nhọ quê hương,

Cũng không làm nổi việc mài mực ở mũi lá mộc, truyền hịch định bốn phương.

Chỉ cúi đầu luồn mái nhà thấp, nhụt cả khí phách,

48

Đến lúc tuổi già thì gối đầu vào vợ con mà chết.

Giả sử hạng người ấy xuống suối vàng có gặp hai cụ,

Thì cũng mặt dầy, trống ngực đánh, thần sắc rũ rượi ra mà thôi."

(Tống Nguyễn Trúc Khê xuất lỵ Thường Tín kiêm trí Lê Hy Vĩnh lão khế)

Đó là lời tiễn Trúc Khê ra nhận chức ở phủ Thường Tín, đồng thời gửi cho ông

bạn già Lê Hy Vĩnh. Nhân đó nhắc đến Nguyễn Trãi, Chu An để nói đến quan niệm về

cuộc đời có ý nghĩa phải là cuộc đời hoạt động sôi nổi, có cống hiến cho dân, cho

nước, chứ không chỉ tìm chốn an nhàn mà hưởng thụ. Lời thơ thật hào hùng, nó như

có vẻ tương đồng với những câu thơ viết về chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ, song

đọc kỹ, hai người khác nhau rất nhiều. Nguyễn Công Trứ thích vùng vẫy ngang dọc

("Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc"), ông nói nhiều đến trời đất, vũ trụ. Nhưng trời

đất của ông không khác gì trời đất của xã hội phong kiến, còn vũ trụ của ông thực ra

cũng chẳng có gì cao rộng hơn vũ trụ của Nho giáo. Nguyễn Công Trứ nói nhiều đến

giấc mộng anh hùng ("Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ") nhưng giấc mộng anh

hùng của ông căn bản cũng chỉ là thực hiện chữ công, chữ danh, đạo trung, đạo hiếu.

Do hạn chế của thời đại, Cao Bá Quát chưa nêu lên được một lý tưởng nào thật mới

mẻ, có điều đối với ông, quan trọng không phải là vấn đề công danh, trung hiếu mà là

một cái gì có tầm cao rộng hơn nhiều; đó là tấm lòng, là con người cao lớn của ông

đối với nhân dân và đất nước.Vì thế mà ông coi mình là một kẻ sĩ, kẻ sĩ với ý nghĩa là

một người có tài năng và hoài bão hơn người. Cho đến khi chết, Cao Bá Quát luôn

luôn đinh ninh về tài năng và chí khí của mình như vậy.

Cái chính vẫn là cái nhân cách cứng cỏi, nó đã giúp cho Cao Bá Quát giữ vững

được tấm lòng trong trắng của mình, không để cuốn theo dòng rác rưởi của thời đại.

Dĩ nhiên là không còn cái hùng khí của tuổi trẻ và cái thênh thang của kẻ đứng ngoài

vòng để coi khinh những kẻ "tham bề khóa lợi", "hay màng cái giám danh" mà phải

"quỳ mòn sân trướng phủ" và "đứng chực cửa hầu môn" . Nhưng cái nhân cách không

cam chịu quỵ luỵ để làm nhơ cái thanh danh và đánh rơi cái chí khí của mình thì trước

sau Cao Bá Quát vẫn giữ. Đưa thơ tặng bạn ông cũng nói thế:

49

"Người trượng phu đứng ở trên đời cốt lấy ý làm trọng,

Nếu chỉ cúi đầu dưới nhà thấp thì tôi lấy làm xấu hổ."

(Tống Lê Dũng Hòa bị mệnh về kinh) [33; 346]

mà cách cư xử của ông khi làm quan ở Huế cũng vậy. Những va vấp của cuộc đời làm

tôi nhà Nguyễn rồi sẽ nhắc nhở ông nên thận trọng dè dặt hơn. Ông sẽ kín đáo hơn,

khiêm tốn hơn ở bên ngoài mà cho rằng mình vốn sinh ra thô sơ vụng về, không theo

kịp đời, sửa chữa e chậm, đành chưa báo được ơn vua và từ tạ sự giàu sang, nhưng lại

cam tâm làm kẻ thô vụng và quyết tâm được trở về cái "ngu" ấy.Tâm trạng đó có gì

giống như chuyện cặp chân hạc của Nguyễn Du (Tự thán). Chỉ có khác là Nguyễn Du

thì chua xót còn Cao Bá Quát thì hẳn hoi chống lại hoàn cảnh. Cái ngang tàng tự phụ,

nếu chỉ là cái tức khí cá nhân thì đáng gì mà đề cao, dù là ngang tàng tự phụ đối với

bọn thống trị? Nhân cách cứng cỏi, đầy nghị lực ấy mới là điều đáng quí ở Cao Bá

Quát.

Rõ ràng những quan niệm về đạo làm người trên của Cao Bá Quát là cơ sở để

ông có hành động yêu nước, yêu dân, để ông có hành vi vị tha và dũng cảm, để ông có

thể hiến thân cho cuộc khởi nghĩa đầy hy sinh anh dũng. Đạo lý đó mang tính chất

lành mạnh, trong sáng, đầy tính nhân đạo chủ nghĩa và tình hữu ái giai cấp của những

người nghèo khổ. Đó là đạo lý làm người của Cao Bá Quát.

Hơn thế nữa, đối với Cao Bá Quát, hạnh phúc của con người và trước hết là của

bản thân mình chỉ có thể tìm thấy trong cảnh trần thế, trong xã hội mà con người đang

sống. Cụ thể là tìm thấy trong việc làm cho nước, cho dân, trong những kết quả mình

đưa lại được cho nước cho dân và được dân thương nhớ. Chính vì vậy mà ông rất

mong muốn có một cương vị trong xã hội tương xứng với tài năng để đóng góp được

nhiều cho đời. Và cũng chính vì vậy mà ông đánh giá cao Nguyễn Công Trứ, một con

người đã có lúc có hành động đẹp (Nguyễn Công Trứ từng có công trong việc mộ dân

khai hoang lập ấp ở vùng ven biển Thái Bình, Hà Nam Ninh, được dân các vùng đó

kính yêu)

Nếu như quan niệm hạnh phúc chỉ tìm thấy trong việc làm cho nước cho dân, thì

đối với ông, không "đắc dụng", không được làm việc cho dân, cho nước, không có

điều kiện để cống hiến cho đất nước lại là một đau khổ. Bao nhiêu tình cảm đau khổ

50

của ông, bao nhiêu tâm sự buồn rầu của ông đều xuất phát từ sự không được dùng, đều

xoay quanh vấn đề không đóng góp được cho đời.

Nhưng không phải vì vậy mà ông bi quan tiêu cực. Trái lại, ông thấy cần phải có

sự nỗ lực hơn nữa, cần phải tranh thủ thời gian hơn nữa. Điều này đã được chứng tỏ

qua những câu nói của ông : "đời ta biết có hạn" (Hiểu tọa kỳ vọng), "ngày tháng đối

với đời người dễ bạc đầu" (Viên trung hoàng quý). Đối với người khác là sự bi quan

còn đối với Cao Bá Quát là cơ sở cho một hành động tích cực, cho một ý thức vươn

tới không ngừng. [31; 166]

Như vậy, Cao Bá Quát với cuộc đời của mình, với hướng đi tìm hạnh phúc của

mình tuy có những nét đặc thù, song đó cũng là tiêu biểu cho cuộc đời và lý tưởng

sống của các nhà tư tưởng lớn trong lịch sử. Rõ ràng đây là một hướng sống, một suy

nghĩ trọn vẹn đầy tính nhân đạo cao cả.

2.4. KHÁT VỌNG CHỐNG ÁP BỨC, BẤT CÔNG:

Như chúng ta đã biết, xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ XVIII vô cùng rối ren.

Trải qua cuộc phân tranh của Trịnh, Nguyễn, trải qua nhiều cuộc tàn sát, khói lửa kinh

người xảy ra từ Cao Bằng đến Thăng Long; Nghệ An, Phú Xuân...cho đến đất Hà

Tiên, dân chúng luôn hoài nghi xôn xao, lo lắng cho số phận mình, cho sản nghiệp

mình. Bao nhiêu cuộc thay triều đổi họ, chiến thắng và chiến bại chen nhau, họ chẳng

biết tin cậy vào ai, hy vọng vào chốn nào. Đó là tình hình chung của thời phong kiến

tàn tạ, xuống dốc.

Một thực tế xảy ra là quần chúng vừa tin tưởng, vừa nghi ngờ, luôn luôn ngóng

đợi những hiện tượng biến chuyển mới, dù là ai, ở đâu, thuộc phạm vi nào. Tinh thần

chống đối và cơ sở ẩn ước vội vàng chồm dậy phát triển. Đến khi chúa Nguyễn Ánh

bắt đầu dựng lại sơn hà, thống nhất quốc gia thì chính sách quân chủ tập quyền lại ban

bố ra. Những cuộc cải cách của Gia Long không đủ để bù đắp cho những cuộc khủng

bố, giết hại cồng thần khiến cho tâm trạng nghi ngờ, hoang mang lại nảy ra. Thêm vào

đó ý thức hệ Gia tô và những cuộc xô xát kịch liệt do nền thương mại, tôn giáo, chính

trị giữa bản chất dân tộc và ngoại lai nảy ra. Dân chúng vẫn trở về vai trò cũ của mình,

vẫn nằm trọn trong những khung cảnh hoang mang, uất ức. Chính quyền quân chủ vẫn

51

xa vời đối với quần chúng. Những cải cách thô sơ và thiếu căn bản chẳng có cách gì

bổ trợ thêm cho cơ sở nông nghiệp và đời sống kham khổ của người dân.

Sự tàn lụi tất yếu của các triều vua Thiệu Trị và Tự Đức xảy ra rất nhanh chóng

vì luật biến thiên của phong kiến, vì cuộc giao tiếp (từ tôn giáo, thương mại bước qua

quân sự, chính trị xã hội, ý thức hệ) với Tây phương xảy ra.

Trên cái nền ấy, vai trò của nho sĩ bắt đầu chông chênh dần. Chiến tranh tương

tàn đã khiến họ hoài nghi bất mãn (Tư tưởng Lão Trang là lối thoát độc đáo cho số lớn

các nho sĩ yếm thế, chán chường lại thêm tư tưởng mới, chính trị mới lần lượt chen

chân vào), chứng tỏ sự bất lực của chính quyền, suy vi của đạo nghĩa và giá trị của

mình ngày càng chông chênh thêm.

Cao Bá Quát nằm vào hoàn cảnh đó và đã chịu những sự tác động mạnh mẽ của

thời thế đó.

Nội việc trường quy đã để lại bao nhiêu đau buồn cho ông.

Thật ra, lúc này thì tình hình chỉ mới cho phép Cao Bá Quát phê phán cái phần

hình thức bề ngoài, phàn quy chế cổ hủ của trường thi. Nhà vua cuối cùng tha tội chết

cho ông, nhưng Cao Bá Quát bị một phen tra tấn cực hình. Nhiều bài thơ viết trong dịp

này của ông đã tố cáo tính chất tàn bạo của chính quyền nhà Nguyễn .

Trong ba bài thơ vịnh cái gông, Cao Bá Quát không thừa nhận mình có tội. Đối

với ông việc chữa vào bài thi của thí sinh là nên làm. Ông muốn chẻ cái gông làm hai

và viết vào đó bài "Thiện sự ngâm" của Nghiêu Phu, mà đại ý là "người ta làm việc

thiện là vì việc nên làm". Đối với ông, chống lại những luật lệ thi cử khắc nghiệt của

triều đình là làm việc thiện. Ông muốn bắt chước Thái Nguyên Định ngày xưa, khi bị

tội viết thơ dặn các con rằng : "Đi một mình không hổ với bóng, ngủ một mình không

thẹn với trăng, đừng thấy ta bị tội mà xao xuyến." [21; 19].

Ông kể lại có một hôm người chủ sự họ Nguyễn ở trại giam trỏ cái gông ở cổ

ông bảo ông vịnh thơ. Đã bao đêm ông tự hỏi lòng và mừng rằng không làm điều gì

phải thẹn với lương tâm, nay được yêu cầu làm thơ, ông cười, viết ngay. Câu thơ nói

với cái gông nhưng cũng chính là nói với viên chủ sự đó :

52

"Gông dài!

Gông dài!

Mày biết ta chăng ?

Ta chẳng có gì đáng hợp với mày cả !

Mày biết thế nào được ai phải và ai trái!

Mày biết chẳng qua chỉ là cái làm nhục đời mà thôi."

(Trường giang thiên I)

Với một giọng tuyên bố dứt khoát đã thể hiện rất rõ quan điểm của Cao Bá Quát

khi ở trong ngục tù. Ông không có một lời nào tỏ ra ân hận mà càng lên án gay gắt

hơn sự tra tấn của "cái máy làm nhục đời".

Trong bài "Đằng tiên ca", ông tả lại một trận đánh mà chính ông là một nạn nhân

thê thảm. Bài thơ rất sinh động, lôi cuốn và có một sắc thái hiện thực phê phán, lên án

chế độ ngục tù :

"Giờ lâu bị tra hỏi, miệng không nói được,

Chỉ khan vã kêu: "oan! oan!" và gào trời.

Quan thét lên như tiếng sét rung cả rường nhà,

Roi quất nhoang nhoáng bay đi hiện lại như ánh chớp.

Lúc giơ lên như hai con thuồng luồng quật vào bờ ao lở,

Lúc ngừng như nước lạnh đổ vào nồi nước sôi.

Hai cái nọc đứng sững, có vẻ như vững chắc,

Tiếng rên rỉ vang quanh dãy hành lang.

Than ôi! một cánh hoa hải đường đương xuân,

Bị bẻ tan nát, không kể gì đến cái hương thơm ở Xương Châu nữa."

Ở đây không có công lý mà chỉ có những nỗi oan khuất, những tiếng thét "rung

cả tường nhà" và cả nỗi đau đớn tột cùng của tù nhân. Nhưng ở đó vẫn ngời sáng tư

thế không hề khuất phục trước cường quyền của Cao Bá Quát:

53

"Được hỏng do mệnh là sự thường !

Ta cũng mặt mày như mọi người, việc gì mà đau thương !

Ơn nhà, nợ nước chưa chút đền đáp,

Là người dũng cảm đâu có chịu chết nơi văn tự !

Chao ôi, roi song ơi!

Mày không thấy.

Ở phía nam sông Đức Giang,

Ở đỉnh núi Nguyệt Hằng.

Trên đó có cây tùng, cây bách đương chết dở,

Nhưng vẫn cùng nhau đứng trơ trơ giữa trời rét mướt.

Ví phỏng có người thợ giỏi biết dùng không bỏ nó,

Thì những hạng cây như bồ kết và chương não còn có gì đáng kể!

Vậy mà còn đốn chặt cho đang."

(Đằng tiên ca)

Đã nhiều lần ông nhắc tới cây tùng, cây bách để tượng trưng cho tấm lòng, cho

khí phách hiên ngang của mình. Một lời trách cứ rất nhẹ nhàng nhưng lại sâu cay : "Ví

phỏng có người thợ giỏi biết dùng không bỏ nó" , đó là triều đình nhà Nguyễn hay hệ

thống quan lại của chúng không biết cách dùng người tài ? Không có người tài để mà

sử dụng ?

Bài thơ "Thập nguyệt thập nhất nhật, thừa Lễ bộ nghiêm tấn hậu, cưỡng bệnh

mạn chí tứ thủ II" có những câu thơ :

"Nghĩ lại ơn vua đãi ngộ kẻ sĩ thật là rộng,

Còn để cho tấm thân hèn kém này sống thừa giữa quãng trời đất này."

Dưới chế độ phong kiến hà khắc thì liệu đây có phải là một lời khen tặng ? Một

sự tự hạ thấp mình hay là một lời mỉa mai chua xót ? Thực tế cho ta thấy, Cao Bá Quát

không thể trực diện đả kích nhà vua mà phải nói như một cách ngược lại, thậm chí

phải:

"Muốn đến với mọi người để trò chuyện tâm sự,

Nhưng phải nói khẽ, sợ nói to trái ý trời, trời ghét."

54

Trời ở đây không phải là ông trời chung của mọi người mà là vua Tự Đức đáng

ghét! Ông vua đã ban bố biết bao luật lệ hà khắc và thu vén bản thân đến nỗi dân tình

than oán, sợ sệt. Còn gì là rường cột quốc gia! Đằng sau cái lời sợ sệt ấy là một sự lên

án và tố cáo gay gắt.

Trong những năm còn khăn gói đi thi, trên con đường vào Nam, đi qua các tỉnh

miền Trung xơ xác, nhà thơ thấy nổi lên trên sự nghèo khổ của dân chúng là những

hành cung của các vua nhà Nguyễn xa hoa, tráng lệ không sao có thể hiểu được:

"Nghe đồn gần đây xe sáu rồng vừa qua chơi,

Ngoài hành cung Mỹ Xuyên lại có hành cung mới nữa."

(Quá Quảng Trị tỉnh)

Một lời phê phán vừa bâng quơ vừa mạnh mẽ trên cái thế đối lập giữa cảnh sống

nghèo khổ của người dân và sự xa hoa của vua quan nhà Nguyễn. Như vậy chẳng phải

là bất công hay sao ?

Lúc vào làm quan trong kinh, gần với "bóng mặt trời" và các vị đại thần, ông

mới thấy rõ hơn cái xấu, cái xa hoa, cái tàn bạo và bản chất của những kẻ cầm quyền

lúc ấy. Nhiều giai thoại nói Cao Bá Quát chê Tự Đức dốt nát và khệnh khạng, coi các

quan đại thần ương triều là "bỉ viết cẩu, thử viết cẩu, bỉ thử giai cẩu"...Chắc chắn đó là

những sáng tác có tính chất dân gian gán cho nhà thơ nhưng không phải là không nói

lên một cái gì hiện thực về thái độ của nhà thơ đối với triều đình lúc ấy. Rất tiếc,

những sáng tác có tính chất tố cáo, đả kích như thế của Cao Bá Quát còn lại không

được mấy. Phải chăng nó đã bị tiêu hủy cùng với cái chết của nhà thơ ? Một giả thiết

như vậy không phải là không có cơ sở. Bởi vì, qua những bài thơ còn lại chúng ta có

thể khẳng định Cao Bá Quát là người có ý thức về thời cuộc và có cái nhìn nhạy bén

đối với thời cuộc lúc bấy giờ.

Khi ra nước ngoài, tiếp xúc với cuộc sống của người Tây phương, ông lại thấy

cảnh người da đen kéo xe cho người da trắng. Ông cũng phần nào nhận thức được sự

phát triển của các nước Tây phương và nguy cơ bị xâm lược của các nước Á đông.

Lòng yêu nước được kích thích, ông càng nhìn rõ hơn sự nhu nhược và bất lực của

triều đình. Tin tưởng ở sức mạnh phản kháng của nhân dân trước nạn ngoại xâm.

55

Trong bài "Hồng mao hỏa thuyền ca" ông đã miêu tả con tàu không buồm, không

chèo, không người đẩy mà đi ngang chạy ngược, nhanh như ngựa phi, khói phun ngùn

ngụt sóng tung tóe ầm ầm như sấm, nhưng ông đã cảnh báo trước :

"Mở kim nam châm đi sang phía Đông phải cẩn thận dè chừng !

Không thể coi như bể Tây sớm hôm có nước triều đều đặn".

Vì ông bắt đầu cảm thấy cái họa xâm lăng của bọn thực dân phương Tây đối với các

nước phương Đông. Hơn nữa, sóng nước ở bể Đông không dễ dàng như ở bể Tây.

Ông muốn bảo cho quân Anh biêt rằng nếu tàu xâm lược của chúng động đến đất

nước ta thì ngọn lửa kháng chiến sẽ bốc lên đến tận trời như ngọn lửa ốc tiêu vậy.

Hoặc :

"Hùng khí của chàng họ Chu nghìn thuở vẫn còn bốc lên,

Như muốn đánh cho cái tàu lớn của bọn Hồng Mao phải lùi trở lại"

(Thập ngũ dạ đại phong)

Nhân một đêm xem người Thanh diễn kịch, ông liên hệ tới việc quân Anh đang

can thiệp vào Trung Quốc về vấn đề thuốc phiện. Ông muốn phải có những người anh

hùng tráng sĩ chiến đấu thực sự chứ không phải hò hét trên sân khấu. Ra đời lẽ nào

không có những bộ mặt thực nữa sao, mà vào sân khấu để cười đùa với những bộ mũ

áo cũ !

"Ra đời lẽ nào không có những bộ mặt thực,

Mà vào cuộc vui để cười đùa với những bộ mũ áo xưa,

Việc ở Hổ Môn gần đây anh có biết không ?

Đáng phàn nàn cho ai đó cứ nghểnh mũi ngồi xem!"

(Dạ quan Thanh nhân diễn kịch trường)

Một lời trách cứ cho những ai vô tâm không đoái hoài đến những vấn đề thời sự

mà chỉ biết tìm thú vui trong những trò giải trí rẻ tiền. Đó cũng là một lời phê phán

mạnh mẽ vào những hạng người tầm thường.

Một người quan tâm đến thời sự nước ngoài, như thế chắc chắn không thể không

quan tâm đến chuyện nước mình, chuyện của vua quan triều Nguyễn. Bài "Độc Hoài

Âm truyện" nhà thơ phê phán cách đối xử lật lọng tàn nhẫn của Lưu Bang đối với Hàn

Tín phải chăng là cách ông phê phán việc đối xử của các vua nhà Nguyễn đối với

56

những công thần bậc nhất của họ ? [25; 532] Trong bài "An Dương hành", ông kể lại

câu chuyện của một cụ già về việc chúa Trịnh giấu của cải, cuối cùng đã gây tai họa

cho dân. Cao Bá Quát đã kết luận bằng những câu thơ đầy phẫn nộ :

"Sao không tích đức chỉ tích của ?

Tích đức là để phúc cho dân,

Tích của là để vạ cho dân.

Kìa không thấy nhà Thương có những kho Cự Kiều và kho Lộc Đài"

Chắc chắn không phải nói riêng về chúa Trịnh, mà nói chung về tất cả sự tàn bạo, bóc

lột của các triều đại phong kiến, trong đó có triều đại nhà Nguyễn. Chúng đã vơ vét

của cải, làm giàu cho bản thân, mặc kệ dân tình khốn khó, không biết lấy những việc

làm xấu trong lịch sử mà tránh, trái lại còn hơn thế nữa.

Dưới triều Nguyễn, do bị áp bức bóc lột quá đáng, các cuộc khởi nghĩa kế tiếp

nhau nổ ra không bao giờ tắt. Nhà vua phải tổ chức những cuộc đánh dẹp. Tráng đinh

bị bắt vào lính, đẩy vào những nơi lam sơn chướng khí. Lương thực bị vận chuyển đi

vạn ấy ngàn khác. Nhân dân khởi nghĩa bị chém giết một cách tàn khốc. Trong lúc đó

thì bọn con buôn lại nhân dịp đầu cơ, phè phỡn.

Trước tình hình đó triều đình không biết thay đổi chính sách mà chỉ tiếp tục đàn

áp. Cao Bá Quát đã ngụ ý oán ghét của mình trong bài thơ "Trung dạ thập tứ vận".

Sấm to gió dữ đã làm Cao Bá Quát đang đêm ngồi dậy :

"Sấm gầm, giận ai chăng,

Mưa sao đến gấp thế ?

Lòng trời đất là gây dựng cho muôn loài,

Không nên như thế nữa.

Xuân sang sét đã nhiều,

Nơi nơi đều có người bị đánh chết.

Thần phong long thực không biết điều,

Cuối thu rồi đi khiến làm thế nữa ?

Đạo quỷ thần sao mà lờ mờ ?

(...)

Mây đen đâu rũ xuống sát mặt tường,

57

Trời tối sẫm, ngẩng lên trông chẳng thấy.

Một mình ngồi xó trầm ngâm,

Mãi đến sáng vẫn còn tựa ghế."

Nỗi đau đời quá lớn của nhà thơ cũng như những oán hận cất lên trời xanh của

Cao Bá Quát còn đọng mãi. Âu cũng là tấm lòng của ông với đất nước, với nhân dân!

Cao Bá Quát còn viết những bài thơ có tính chất ẩn dụ để đã kích bọn quan lại.

Khía cạnh đả kích gay gắt của ông hình như cũng là cái khía cạnh bóc lột ấy, chẳng

hạn ông viết về con chuột:

"Biết bao nhiêu đau khổ cay đắng ta mới dựng nên cửa nhà,

Bao nhiêu vật dụng sắm sửa được sao không tiếc?

(...)

Ta phải báo bọn chuột chớ ăn vụng bừa bãi,

Vì hám lợi quá không phải là chước lâu dài."

(Phủ hạ thử)

Vẫn là một lời cảnh báo, một lời phê phán mạnh mẽ. Đồng thời cũng là sự dự

báo cho những kẻ chuyên bòn rút của dân một kết cục bi thảm.

Chính vào thời này cái ý nghĩ chờ mong một sự thay đổi triều đại đã len lỏi vào

trong tâm trí ông. Còn có thể nào khác được nữa ? Mọi ảo tưởng đã bị tiêu tan, với

bọn vua ấy, quan ấy, thì bước đường công danh trước mắt ông sẽ hoàn toàn bế tắc,

không thể đưa ông tới chỗ thực hành những ước mơ cao đẹp vẫn hằng ấp ủ từ những

thời nào.

Cao Bá Quát vốn là nhà Nho. Tư tưởng nhập thế của Nho gia cũng có lúc đào tạo

nên những vĩ nhân. Người ta gặp thời thái bình thì hân hoan trong việc phò vua trị

dân, công danh phú quý không gặp khó khăn gì, đằng này Cao Bá Quát sống vào đời

thái bình lại thường xuyên than thở mình không kế sách gì để giúp đời và lấy đó làm

điều xấu hổ (Tặng Thổ Khối Đỗ vệ úy xuất Thanh Hóa). Phải chăng đó là cách mỉa

mai chế độ nhà Nguyễn ? Cho nên lúc đó ông như muốn vùng đứng lên nếu "Không

làm được kẻ trượng phu vì đời mà xây dựng cương thường". "Không có tài mài mực ở

mũi lá mộc để truyền hịch định bốn phương" thì cũng không chịu "cúi đầu dưới nhà

thấp" để khoanh tay trông bọn lang sói hoành hành giữa đường rồi "già chết đầu gối

58

trên tay đám nhi nữ" (Tống Nguyễn Trúc Khê xuất lỵ Thường Tín...). Nghĩa là làm

nên sự nghiệp to lớn trong hoàn cảnh một chế độ thối nát như triều Nguyễn là một

điều không phải dễ dàng thực hiện. Hoài bão mà Cao Bá Quát hằng ôm ấp vẫn phải ẩn

giấu trong trạng thái bóng gió mơ hồ.

Mười mấy năm sống với nhà Nguyễn dần dần làm sáng tỏ hoài bão ấy. Cùng với

sự phẫn nộ đang ngày càng dồn nén trong lòng, những lý tưởng, khát vọng được ấp ủ

lâu nay đã dần dần được định hình rõ nét. Nếu trước kia nó là một cái gì không nói ra

được như một ước mơ thay đổi, một sự hào hứng chung chung thì bây giờ nó được xác

định một cách cụ thể. Đó là nhiệm vụ phải ở lại với trần gian để làm "vũ sư" (Người

làm mưa). Rồi có lúc nó là lời tự hỏi mình, nhưng thực chất là một lời buộc tội: "Nhà

vua đức hóa rất nhiệm, ai bảo còn thiếu sót, tôi vẫn thắc mắc nghĩ về sự đó". Và cụ thể

hơn là một niềm lo lắng cho nhân dân: "Chưa quên một tí nào về sự trông mong của

thương sinh, phải đến Nam Dương đánh thức ông Gia Cát dậy". Khả một nỗi là không

đánh thức được Gia Cát cho nên nhân dân ngày thêm lầm than. (Theo Lịch sử văn học

Việt Nam tập III của Lê Trí Viễn)

Cao Bá Quát hằng ước mong cứu vớt những người đang bị chìm đắm kia. Ông

muốn có sức mạnh như dòng thác đầu nguồn để cuốn hết những bùn dơ của cuộc đời

ra biển Đông, cho nhân dân được sống yên ổn, hạnh phúc.

Rồi các cuộc khởi nghĩa nông dân đã tác động rất lớn đến ông. Và ông đã đứng

dậy chống lại triều đình, kết thúc những bế tắc! Chế độ phản động nhà Nguyễn không

dung nổi một tâm hồn cứng cỏi, có lý tưởng tốt đẹp như Cao Bá Quát và Cao Bá Quát

cũng không chịu nổi một chế độ khắc nghiệt như nhà Nguyễn. Cái tất yếu của sự việc

ắt phải đến. Cái hoài bão tốt đẹp, to lớn mà tâm hồn cao quý kia bằng ôm ấp nhưng

chưa cất thành lời được, nay đã được thể hiện một cách cụ thể. Khởi nghĩa để lập một

triều đại tốt đẹp hơn, nhân đức hơn. Hoài bão đó không thoát khỏi khuôn khổ phong

kiến nhưng vẫn là điều nhân dân mong ước. Hành động của người lãnh tụ khởi nghĩa

hoàn toàn nhất quán với trái tim và khối óc của người làm thơ. Đó chính là giá trị cao

quý nhất mà Cao Bá Quát để lại cho đời

59

2.5. KHÁT VỌNG KHỞI NGHĨA ĐỂ THAY ĐỔI MỘT XÃ HỘI

TỐT ĐẸP HƠN:

Thực tế cho thấy Cao Bá Quát không thể cứ buồn, cứ buông xuôi mà phải có một

cách sống khác tích cực hơn. Cách sống ấy chính những người nông dân nghèo đói ở

Quốc Oai, Sơn Tây đã gợi ý cho nhà thơ. Đó là phải đứng lên chống lại triều đình nhà

Nguyễn thối nát. Ở Bình Dương, Bồ Bản không còn Nghiêu, Thuấn, thì ở Mục Dã,

Minh Điều phải có Võ, Thang!

"Bình Dương, Bồ Bản vô Nghiêu, Thuấn

Mục Dã, Minh Điều hữu Vũ, Thang"

Đó chính là tiêu ngữ để hiệu triệu quần chúng nhân dân. Mười bốn chữ nêu trên

là cả một chủ não, một bộ sườn của cuộc khởi nghĩa: Một là vạch trần được tội ác hại

dân, hại nước, độc phu vô đạo như Kiệt Trụ của Tự Đức nhà Nguyễn; Hai là nêu rõ

được danh nghĩa chính đại quang minh của nghĩa quân, khát nào Ân Thang và Chu Vũ

chống Kiệt Trụ, khởi nghĩa là thuận theo lòng dân, hợp với ý trời.

Xã hội triều Nguyễn là một xã hội cùng khổ, nhiều thiên tai, lắm nhân họa, nhiều

người phải sống trong cảnh đói khát phiêu dạt, nhiều xóm làng xơ xác, nhiều cuộc bắt

bớ chém giết thảm thương, nhiều sự đàn áp khốc liệt. Sống trong một xã hội như thế

Cao Bá Quát rất đau lòng. Bao nhiêu lần Cao Bá Quát ao ước một sự thay đổi trong

cuộc đời.

Bây giờ thì ông thấy không thể chỉ ao ước suông mà được. Vấn đề là phải hành

động thực sự để thay đổi nó. Trong bài "Du vân", nói về chuyện mong mưa mà như có

ẩn ý về một chuyện khác :

"Bốn bể đã mong mưa rồi,

Sao phép ngũ lôi còn giữ kín mãi trong núi."

Trước mắt ông, nhân dân đang mong thay đổi triều đại như hạn hán trông mưa.

Tình cảnh của đất nước, của nhân dân, của bản thân như thế, cuối cùng đã dẫn ông đến

những ý nghĩ hành động. Ngắm cảnh sông Hồng, ông viết:

60

"Bức thành xây trên bụng rồng, ngất trời hùng tráng,

Dòng nước cuốn theo đất đỏ, thành làn sóng hoa đào.

Quan hà lồng lộng, gợi lên bao ý nghĩ cổ kim,

Thân này vì cớ gì lại cứ phải làm một nhà thơ."

(Thứ vận Thận Tư phóng quan Nhị Hà đồng Di Xuân, Hoa Phủ)

Tư tưởng muốn thay đổi triều đại đã dần rõ nét trong ông, Trong một bài thơ gởi

cho các bạn là Tuần Phủ và Đôn Nhân, ông đã để lộ ý nghĩ ấy:

"Ta đã không nỡ nghe mãi bài thơ Hoàng Điểu nói lên cảnh li tán của nhân dân

do chính sự hà khắc, thì lẽ nào chỉ chịu gởi gắm mãi tâm sự vào khúc ngâm của Gia

Cát Lượng khi chưa ra giúp đời."

(Dư hốt ư mộng trung võng thám Tuần Phủ, ám tưởng kinh trung cố nhân hoặc

đương hữu niệm ngã giả, nhân ký tuần phủ khiêm trình Đôn Nhân Phạm tử.)

Trong bài "Đối Vũ", ông tả một cơn mưa dữ dội giống như ông viết về bạo lực

của một cuộc khởi nghĩa sắp bùng nổ:

"Mưa dữ như nghiêng trời đổ nước xuống,

Sóng tung toe tràn ngập mặt đất.

Một màu liền với dòng sông, thế trông rất mạnh,

Tiếng reo hoa vào gió đêm nghe càng ai oán..."

như một sự dự báo ắt phải đến. Trong bài ngắm mưa, ông đã nói lên lòng oán giận,

mong đợi và quyết tâm của mình:

"Mặt trời đỏ lẩn đi đằng nào ?

Để dân đen than thở mãi."

(Đối vũ)

một lời chê trách, một lời than vãn, một lời uất hận trào lên.

Và đặc biệt trong bài "Vấn hà mô" có cái gì giống như nhà thơ tự nói với mình

về sự thôi thúc một cuộc khởi nghĩa :

61

"Ễnh ương có biết gì dân không?

Kêu vang nơi bụi rậm,

Ễnh ương, sao mi kêu quá chậm,

Trông mưa, đêm qua bao người hồi hộp chờ mong." [25; 537]

Cao Bá Quát cuối cùng đã đến với cuộc khởi nghĩa của nông dân. Đó là con

đường vinh quang của một nhà thơ có cái nhìn, có cách sống gần gũi và gắn bó với

những người dân nghèo khổ. Cuộc khởi nghĩa của Cao Bá Quát là một hành động

chính trị nhưng cũng là một tiếng thét phẫn nộ của trái tim có sức cảm thông sâu sắc.

Thế rồi tuốt gươm, ông quyết tâm ra đi... đi trên con đường khởi nghĩa ! Hơn thế

nữa, ông còn đặt cho mình một trách nhiệm phải tẩy rửa những tai hoa và tập tục hủ

lậu:

"Ta thử múc trăm thùng nước ở sông Tô Lịch

Đem rửa lòng trần tục cho khắp thế gian !"

(Du mỗ cố trạch dạ thính đàn tranh) [31; 100]

Ý tưởng thật lớn, song lại như "Dã tràng se cát biển đông" không thể làm được.

Để rồi sau này, ông mới dần dần nhận ra rằng nguồn gốc của những tai hoa đó là triều

đình nhà Nguyễn, và muốn xóa bỏ những tai họa phải đánh đổ triều đình... Thực tế xã

hội ủng hộ Cao Bá Quát.

Là một người có học thức, Cao Bá Quát biết rõ cần phải phá gì và xây gì? Vì thế

trước khi tiến hành khởi nghĩa lật đổ triều Nguyễn, trong đầu ông cũng đã hình thành

về một xã hội tốt đẹp trong tương lai.

Thực ra xã hội mà ông hướng tới, chưa phải là hình ảnh của một chế độ xã hội

mới khác với chế độ phong kiến, vấn đề mà ông nêu lên chưa phải là vấn đề phải thay

đổi một phương thức sản xuất này bằng phương thức sản xuất khác... Cuộc khởi nghĩa

của ông còn trong khuôn khổ của vấn đề triều đại, phải đánh đổ triều đại nhà Nguyễn

và lập nên triều đại khác.

Cuộc khởi nghĩa của Cao Bá Quát về mặt danh nghĩa do Lê Duy Cự, một tôn thất

nhà Lê làm minh chủ, còn Cao Bá Quát làm quân sư. Thật ra, tính chất "Phù Lê" chỉ là

để đánh vào tâm lý của nông dân Bắc thành hướng về một triều đại đã từng có công

với đất nước mà oán ghét nhà Nguyễn.

62

Cao Bá Quát cũng có một số bài thơ đề cập đến triều Lê. Trong đó bài "Họa

Thận Tư xuân nhật đồng chư hữu đăng lâu quán vọng hồ kiến ký thứ vận" có những

câu:

"Mặt trời tà, hai mái tóc rối bung giữa khoảng trời đất,

Cảnh xuân êm lặng, một con âu trắng trên mặt sông hồ.

Xa xa tưởng lại những nơi hành lạc năm nao,

Nay chỉ có gốc mai tàn vẫn đứng trơ bên cầu cung cũ."

Một tâm trạng giống như Nguyễn Du sau hai mươi năm trở lại kinh thành Thăng

Long thương tiếc cho triều đại Tây Sơn vang bóng một thời nay chỉ còn lại một cô

Cầm già nua, héo ùa tàn tạ với thời gian. Còn với Cao Bá Quát là "một gốc mai tàn".

Bài "Quá Thiên Quang tự, thương Lê triều cố cung" với tám câu:

Người long đong, ngẫu nhiên đi qua đường nhà Chu,

Đọc hết thơ "Thử ly" mà cảm thương cho cung cũ triều trước.

Cờ quạt đường ngự đi, nay chỉ còn một mảnh đất không,

Cây cỏ ở đàn tế giao, mặc cho gió thu thổi.

Nhìn cảnh triều tà mà xót việc cũ trăm năm,

Một điểm lòng trần, đứng trước tiếng chuông buổi tối.

Còn may, trong những người gặp đây, lại có người quen,

Người trốn đời ở chùa đó, là một nhà thơ già."

Một tấm lòng thương xót cho những gì đã qua. Nhưng nội dung của các bài thơ

trên chỉ là tức cảnh sinh tình, chỉ là thương cảm một triều đại đã qua, mà không bao

giờ có thể quay lại được nữa.

Nếu nói đến tư tưởng hoài Lê lúc đương thời, phải kể đến bà Huyện Thanh Quan

và Nguyễn Hành. Bà Huyện Thanh Quan qua đỉnh đèo Ngang, vừa nhìn thấy cỏ cây,

hoa lá, con người và nóc nhà nơi hoang vắng đã thốt lên nỗi niềm nhớ nước, triều đại

cũ:

63

"Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

Dừng chân đứng lại trời non nước,

Một mảnh tình riêng ta với ta."

(Qua Đèo Ngang)

Còn Nguyễn Hành thì nhìn biển đông chỉ thấy một biển đau thương do triều Lê

đã mất, chỉ thấy tâm hồn mình khắc khoải nhớ Lê như tiếng con cuốc vang lên trong

mùa hè. Nhưng những tư tưởng và tâm trạng đó không có ở Cao Bá Quát.

Như vậy Cao Bá Quát không hướng về triều Lê, cũng không chấp nhận tình

trạng của xã hội triều Nguyễn ở hiện tại mà ông hướng tới một xã hội lý tưởng. Đó là

một xã hội thanh bình, ít thiên tai và nhân họa. Nó không còn loạn lạc và chiến tranh,

không còn cảnh :

"Thôn hoang tiếng cuốc ba canh ai oán,

Đường cái lớn suốt ngày cầy cáo tung hoành."

(Vọng Khoái Châu hữu cảm) [31; 103, 104]

Hoặc không còn cảnh:

"Đường rậm tường xiêu, cảnh sắc thôn trang rất xấu,

Đồng ruộng khói thưa chỉ có cỏ là béo tốt."

(Vọng khoái Châu hữu cảm) [31; 103, 104]

Trong đó "Quan lại không làm phiền dân. Xóm làng không phải tan hoang lưu

tán" (Phúc Lâm Lão), kẽ sĩ luôn thấy được trách nhiệm của mình:

"Những nạn rét, nạn lụt cứ phát sinh liên tiếp,

Huống chi dân đen bị tai nạn chưa được hồi phục.

Không có một sách lược gì làm cho đời được thái bình,

Thẹn mình là một nhà nho mà lại tầm thường đế thế!"

(Độc dạ)

Do đó lúc nào ông cũng canh cánh lo cho cảnh đời ngầu đục, rồi ông đăm đăm

cặp mắt già, mong cho sông nước được trong, tượng trưng cho cuộc thanh bình thịnh

trị (Khiếm đề mục). [21; 341].

64

Xã hội đó còn là một xã hội có kỷ cương trật tự, có trên dưới rõ ràng, cương

thường nghiêm minh. Và đặt ra tiêu chí làm trai "Trượng phu sống ở đời không thể

phơi gan, bẻ gãy chấn song mà xây dựng cương thường cho xã hội, lại ngồi nhìn bọn

lang sói nghênh ngang trên đường, thì đến lúc đầu bạc mặc áo gấm trở về cũng chỉ

đem ô nhục cho cố hương" (Tống Nguyễn Trúc Khê xuất lỵ Thường Tín...)

Trong suy nghĩ của ông, bộ máy nhà nước của xã hội là một hệ thống vua quan.

Trong đó, vua là người đứng đầu, có thẩm quyền cao nhất, kế đến là quan lại các cấp

với trách nhiệm rất lớn: là cái cầu nối giữa vua với dân, truyền đạt mệnh lệnh của vua

đến dân, tâu lên vua tình cảnh sinh sống của dân. ông đã thể hiện điều đó trong cơ cấu

chỉ đạo cuộc khởi nghĩa gồm có: minh chủ, 6 bộ và 5 quân .

Dưới con mắt của Cao Bá Quát thì phải là: Vua thánh, quan hiền lương, tôi hiền.

Ông cho rằng, người cầm vận mệnh một dân tộc phải có tác dụng lãnh đạo cho

thật tốt, phải có lòng thương yêu "tế độ" mọi người, phải xứng đáng là một vị "Phật

sống" của muôn nhà trăm họ thì mới đáng để cho người ta hương hoa sùng bái .Nhưng

trong thực tế vua chúa nhà Nguyễn một khi đã trở nên suy đốn, không còn tác dụng là

một chủ thể quốc gia, không giúp đỡ che chở được dân chúng thì còn tôn thờ làm gì!

Xét cho cùng, về mặt danh nghĩa thì vua thánh của Cao Bá Quát là những vua

như Nghiêu, Thuấn, Thang, Võ, nhưng ông vua được xem là hiền tài đức độ trong thời

kỳ phong kiến ở phương Đông. Quan niệm của ông là vua thì phải biết lo cho dân

trong mọi lúc khi thiên tai, lụt lội, hạn hán, binh đao, nghèo đói; đảm bảo cho họ một

cuộc sống no đủ. Ý thức trách nhiệm đó được đọng lại bằng một lời tâm huyết "Than

ôi! dân của ta, phải cẩn thận nhận xét đến từng nét lông mày (Đồng tử mục đường

lang).

Bên cạnh đó, vua còn phải biết dựa vào dân trên mọi mặt: Xây dựng và bảo vệ

đất nước. Cao Bá Quát nhấn mạnh đến một điều là vua thánh minh không thể lấy của

dân vô hạn độ mà với mức vừa phải. Vì "Ta xem các vua thời trước, lấy của dân chỉ ở

mức độ thường" (Phúc Lâm Lão). Đó chính là quan niệm "khoan sức cho dân" của

Trần Quốc Tuấn thời Trần mà ông đã kế thừa được.

Mặc dù vua là người có quyền hành cao nhất ương xã hội nhưng không được

hành động theo sở thích của mình, mà phải nghĩ đến hậu quả sau đó là có lợi hay có

65

hại cho dân. Vua thánh minh là nên "tích đức", không nên "tích tài"; nên vì lợi ích của

dân, không nên vì tham lam tiền tài mà thực hiện đường lối hại dân (An Dương hành).

Như vậy, với quan niệm về vua thánh, Cao Bá Quát đã thể hiện tư tưởng tiến bộ

của mình với nhiều yếu tố dân sinh, dân chủ so với đương thời. Nó không thần bí như

quan niệm của Khổng Mạnh, không vị kỷ như quan niệm của Lê Thánh Tông, cũng

không có tính chất duy tâm tôn giáo như quan niệm của các vua triều Nguyễn.

Ở điểm này, Cao Bá Quát đã có sự kế thừa tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi, một

nhà tư tưởng lớn của chế độ phong kiến Việt Nam lúc đang lên. Nguyễn Trãi đã từng

nghĩ đến trách nhiệm của một vị vua anh minh "Thương yêu dân chúng, nghĩ làm

những việc khoan nhân" (Quân trung từ mệnh tập ), "Yêu nuôi dân, để cho các nơi

làng mạc không có tiếng oán giận than sầu" (Đại Việt sử ký toàn thư). Ở họ xuất phát

từ lòng yêu nước, yêu dân mà ra .

Lẽ tất nhiên, vua thánh phải đi với tôi hiền. Tôi hiền của Cao Bá Quát phải là

người tài giỏi; giúp vua xoay chuyển được thời thế; lập lại được trật tự cho xã hội;

phải có tầm nhìn xa, rộng ; theo sát thực tế; dám nói những điều ngay thẳng, đúng đắn

như Ngũ Tử Tư của nước Ngô. Đặc biệt là phải biết bảo vệ nhân dân (nếu làm quan).

Ông đã khuyên Nguyễn Trúc Khê nên chọn một trong hai con đường "bảo vệ dân hay

bòn rút dân ?". Làm chim diều, chim cắt hay chim loan, chim phượng? (Tống Nguyễn

Trúc Khê xuất lỵ Thường Tín kiêm trí Lê Hy Vĩnh lão khế).

Mặt khác, tôi hiền còn là con người có đạo đức. Cụ thể là có phong cách làm

việc thanh liêm, thận trọng và siêng năng "Ba điều châm qui của quan trường đã được

dán lên chỗ ngồi" (Tống Nguyễn Trúc Khê xuất lỵ Thường Tín...); về cốt cách sống

phải có khí tiết, dũng cảm, thẳng thắn. về ý thức trách nhiệm phải lo cho nước cho dân

như tinh thần của Nguyễn Trãi.

Như vậy, xã hội mà Cao Bá Quát hằng mơ ước và đã phấn đấu để thực hiện vẫn

là một xã hội phong kiến. Nếu lột bỏ đi một số đặc điểm thì về mặt nội dung giai cấp,

cũng như thành phần và cơ cấu nhà nước của nó đều không khác gì với xã hội triều

Nguyễn. Nhưng Cao Bá Quát đã tập hợp được đông đảo nông dân đi theo mình. Mặc

dù ông chưa nhìn thấy hết sức mạnh và vai trò của họ (đã trình bày ở phần "con người

và thời đại"), về thực chất, xã hội mà Cao Bá Quát nêu ra là một xã hội phong kiến cải

lương, có đời sống thái bình no đủ, có vua thánh tôi hiền điều khiển. Xã hội đó có thể

66

đảm bảo cho đời sống của nông dân được yên ổn và dễ chịu... (trong khi họ đang phải

sống trong cảnh nước sôi lửa bỏng của triều Nguyễn), nó như một tương lai đầy hấp

dẫn cho họ.Vì thế mà xã hội lý tưởng của Cao Bá Quát không thể không trở thành lá

cờ chiến đấu của nông dân đánh đổ triều đình nhà Nguyễn và đem lại sự sống cho họ .

Nhưng thực tế của xã hội đương thời đã đẩy những con người tài năng, đầy nhiệt

huyết, muốn thực hiện cho được cái xã hội lý tưởng tốt đẹp vào con đường bế tắc,

thậm chí trở thành lực lượng chống đối. Nguyễn Công Trứ đã phản ứng lại bằng thái

độ cầu nhàn và hành lạc, đã "nổi loạn" bằng thái độ "ngất ngưởng" có tính chất cực

đoan, tiêu cực; còn Cao Bá Quát đã đem khí bất bình của mình hòa chung vào biển

oán thù của nhân dân, khởi nghĩa chống lại triều đình. Cao Bá Quát đi đến chống triều

đình nhà Nguyễn là do ông có lập trường chính trị tiến bộ, mà sở dĩ có được lập

trường đó là do ông có mối quan hệ mật thiết với nông dân, một lực lượng quyết định

sự ổn định và phồn vinh của xã hội lúc bấy giờ. Rất tiếc là cuộc khởi nghĩa nhanh

chóng bị dập tắt, Cao Bá Quát bị tử trận quá sớm! Bản án bi thảm "tru di tam tộc" đối

với Cao Bá Quát trước lịch sử chính là bản án chứng tỏ sự tàn bạo và tuyệt vọng của

một triều đại chuyên chế sắp đến ngày sụp đổ.

Từ những điều đã trình bày ở trên ta có thể nói rằng: Thơ ca Cao Bá Quát đã tỏ

rõ một khí phách hiên ngang, một tư thế hào hùng.

Không phải ông là người đứng ra ngoài cục diện tư tưởng đương thời, không

phải ông là người ít gặp điều bất hạnh, mà chính là khí phách và tư thế của ông đã nổi

lên từ những va vấp với tư tưởng thống trị đương thời, từ những đối phó với những bất

hạnh của bản thân.

Đương thời, cũng có thể xem thơ ca Nguyễn Công Trứ là loại thơ ca có khí

phách. Nhưng khí phách trong thơ Nguyễn Công Trứ là khí phách của một tâm hồn

phong kiến, một nhân cách phong kiến: "Trong cuộc trần ai ai dễ biết, rồi ra mới tỏ

mặt anh hùng!", "Vũ trụ chi gian giai phận sự, Nam nhi đáo thử thị hào hùng", "chí

làm trai nam, bắc, đông, tây, cho phỉ sức vẩy vùng trong bốn bể". Còn khí phách trong

thơ Cao Bá Quát là khí phách của một con người thấy được sứ mệnh của mình trước

lịch sử, trước nhân dân, biết gắn vận mệnh của mình với vận mệnh của lịch sử và đất

nước. Có thể nói rằng, chuyến đi dương trình hiệu lực của Cao Bá Quát là một điểm

mốc quan trọng trong nhận thức, trong cuộc đời của ông. Khi đi ra nước ngoài, ông là

67

một trong những người Việt Nam đầu tiên tiếp xúc với chủ nghĩa tư bản dù dưới dạng

chủ nghĩa tư bản không phải ở chính quốc (trước đó đã có Lê Quý Đôn, sau đó là

Nguyễn Trường Tộ... rồi gần đây hơn cả là phong trào Đông Kinh nghĩa thục đã thổi

một luồn gió mới vào xã hội Việt Nam đương thời về khoa học kỹ thuật, về chính trị,

tư tưởng... với những ảnh hưởng rất lớn đến dòng văn học ánh sáng thế kỷ XIX ). Cao

Bá Quát đã thấy những điều mà trước đây ông chưa từng thấy: Đó là sự áp bức bóc lột

của người da trắng đối với người da màu, điều này được ông phản ánh trong "Hạ Châu

tạp thi"; đó là sự xâm lược của đế quốc đối với các nước khác, để rồi căm ghét chúng,

không khuất phục trước chúng. Cụ thể là qua "Hồng mao hỏa thuyền ca" nhân lúc xem

người Thanh diễn kịch: Cái quan trọng là ông như được mở rộng tầm mắt, vì ở nhà

vốn bị xã hội phong kiến và giai cấp thống trị bưng bít lối bởi bản chất hủ hậu của

chúng, để rồi ông chán thấy cái cảnh bất lực của triều đình phương đông mà cụ thể là

triều Tự Đức. Điều đặc biệt là qua "Dương phụ hành", ông không kỳ thị, không phê

phán những quan hệ nam nữ, vợ chồng thân mật (một điều vốn là cấm kỵ của Nho

giáo) mà ngược lại, ông đón nhận nó với một tâm hồn phóng khoáng để dễ dàng tiếp

nhận cái mới, coi như sự thường... Tất cả như một bước đột phá của Cao Bá Quát vào

tư tưởng và sự tiếp nhận của chính mình. Nó như những điểm sáng lấp lánh trên trời

tối đen của xã hội phong kiến Việt Nam thế kỷ XIX. Ông xứng đáng là một trong

những người đầu tiên của chủ nghĩa ánh sáng trong văn học Việt Nam.

Như vậy, với cách nhìn riêng về hiện thực, với quan niệm riêng về cuộc sống của

con người, xã hội và đất nước, thơ ca Cao Bá Quát đã hình thành một phong cách mới

mẻ ít thấy trong lịch sử cũng như đương thời. Tạo được phong cách như thế là do ông

có lập trường chính trị tiến bộ, lý tưởng thẩm mỹ đẹp và năng lực khái quát nghệ thuật

cao. Và quan trọng hơn là đặt những điều này vào bối cảnh xã hội Việt Nam nửa đầu

thế kỷ XIX thì rất có giá trị và đáng quý biết bao!

68

CHƯƠNG III: LƯƠNG TÂM

Trước thực trạng của xã hội, giai cấp thống trị đã bóc lột và tàn bạo, quần chúng

nhân dân thì bị trăm nghìn cái khó cái khổ, nhà thơ cảm thấy hết sức đau lòng. Một

con người có hoài bão lớn, hay lo cho đời như ông thì không thể làm ngơ được.

Nhưng làm được gì khi bản thân ông chỉ có một chức quan bé nhỏ ? Cao Bá Quát

nhiều khi cảm thấy mình bất lực, mọi chuyện trở nên phức tạp. Đây là những lúc ông

sống với chính bản thân mình, rồi suy nghĩ, dằn vặt, thương cảm... Với Cao Bá Quát,

thơ có một chức năng và sứ mệnh riêng. Thơ là để nói lên nỗi lòng, là để thể hiện tâm

tình của nhà thơ trước thời thế, trước vận mệnh của đất nước. Ông quan niệm thơ phải

có quy củ về câu, chữ, vần, nhịp, điệu nhưng cơ sở quyết định của sáng tác thơ bao giờ

cũng là tình cảm, là cảm xúc. Có tình cảm chân thật, có cảm xúc dồi dào, thơ mới hay,

chứ bắt chước người khác cảm xúc giả tạo thì có làm công phu đến đâu cũng không

thể hay được. Theo ông, "làm thơ thì phải gốc ở tính tình". Như vậy, vấn đề cơ bản

của sáng tác nghệ thuật là sự rung cảm của nghệ sĩ. Nghệ sĩ có rung cảm thì tác phẩm

mới có hồn, mới có khả năng truyền cảm và có tính chất độc đáo. Đó chính là nỗi

lòng, là cái bên trong rất thầm kín của Cao Bá Quát. Từ đó giúp ta hiểu thêm con

người ông với những tâm trạng: lo lắng, buồn bã, chán nản và đặc biệt là chất trữ tình

đằm thắm ngọt ngào ở ông.

3.1. NHỮNG LO ÂU, BUỒN BÃ, CHÁN CHƯỜNG:

Điều uất ức đối với Cao Bá Quát chính là ở chỗ ông biết rõ cái tài của mình, cái

chí của mình không hề được giai cấp thống trị chấp nhận. Không những không chấp

nhận, xã hội phong kiến còn cự tuyệt không cho ông một chỗ đặt chân. Xót xa tức tối

đọng lại ở câu thơ "Song nghĩ lại trần ai không đếch chỗ." (Tài tử đa cùng phú).

Một lời chửi đổng, mà lại cũng đúng là tiếng kêu chua chát về một sự thực, đáng

căm đáng ghét vô cùng.

Nội việc trường qui đã để lại bao nhiêu đau xót cho ông. Nó kéo dài từ thời đi thi

cho đến khi được sung vào chân sơ khảo ở Huế khi ông:

69

"Tìm điều nhân chưa được đã mang tai họa đến,

Cùng cảnh thương nhau lại để luỵ cho người."

(Cửu nguyệt sơ thất nhật dĩ trường sự hạ Trấn Phủ ngục) [25; 528]

Cũng như bất cứ ai trong trường hợp này, ông đã buồn đến nỗi suốt năm canh chỉ

ngồi lặng lẽ với một ngọn đèn. Buồn cho thân phận của mình từ nay chỉ như sợi cỏ

bồng phiêu dạt, buồn cho kiếp sống của mình từ nay chỉ còn là "kiếp sống thừa", buồn

cho công sinh thành của cha mẹ, giờ đây trở thành uổng phí.

Người buồn cảnh vật xung quanh cũng hóa thành sầu thảm. Nhìn dãy núi xa mà

tưởng như "vẻ lông mày rời rạc", trông bông hoa đẫm sương mà thấy như là "đẫm lệ",

ngắm cảnh sắc mùa thu mà chỉ còn "những gió cùng mưa"...

Để rồi trong bài "Chinh nguyệt nhị thập nhất nhật di tống Thừa Thiên ngục tỏa

cấm", nhà thơ thú nhận, trước kia mình là một người cứng rắn như thanh sắt luyện

trăm lần "Ngang tàng làm một kẻ sĩ đầy hùng khí". Thế mà từ khi mắc vào lưới đời,

khí phách hao mòn dần rồi "Đột nhiên tiếp xúc với những nỗi đau thương, khác nào

như một chiếc lá quay cuồng trên sóng cả"

Sau khi được định tội, ông có dịp đi ra nước ngoài (làm chân phục dịch để giảm

tội) đã thấy được nhiều điều, đã buồn lại buồn thêm khi so đất nước mình với những

nước ông đã đi qua.

Ông thấy được học thuật nước nhà suy đốn, văn chương chỉ là trò "nhá chữ", vô

giá trị. Ông luôn cảm thấy băn khoăn trước tình trạng tồi tệ của văn chương đương

thời. Ý thức của một nhà thơ khiến ông lo lắng và thấy rõ trách nhiệm của mình:

"Đường lối văn chương mờ tối đã lâu,

Thói tục học lại càng lệch lạc.

Hạng cao thì túng sinh đến tột bậc,

Hạng thấp thì đi vào thấp hèn nhỏ mọn.

Than ôi! ta biết theo ai,

Lôi kéo lại, không còn cách nào nữa chăng ?"

(Bình sinh ngũ thập vận) [31; 173; 174]

Để rồi ông lại càng buồn cho bước đường đã qua của mình. Nhưng càng buồn

hơn khi nhìn thấy bao nhiêu thế hệ sau mình vẫn còn cứ lao thân vào đây. Trong khi

70

Cao Bá Quát là một người để nhiều tâm huyết vào sự nghiệp văn chương, ông không

muốn để văn chương mai một đi, kìm hãm sự phát triển của đất nước. Cao Bá Quát

mong muốn có được một nền văn hoa có cốt cách của giai đoạn Lý, Trần và Lê sơ:

"Thời Lý Trần văn tài tươi tốt,

Nhẹ nhàng sảng khoái như mũi tên sương.

Gốc nho dấy lên ở Thanh Đàm,

Nghiêm chỉnh vượt họ Đổng, họ Giã.

Thăng phủ thật là một đạo quân hùng dũng,

Giới Hiên cũng là bá chủ một phương.

Hùng tráng thay ông già Nhị Khê,

Tài kiệt đáng là bậc vương tá."

(Bình sinh ngũ thập vận) [31; 173; 174]

và nguyện vọng của ông là "Nguyện theo chân các bậc cao nhân. Lấy niềm vui trong

cuộc gửi tâm tình vào văn chương" (Bình sinh ngũ thập vận) Vì đó là thời kỳ văn thơ

phản ánh tinh thần chiến thắng, ý thức độc lập tự chủ và hào khí của dân tộc. Qua đó

họ đã làm vẻ vang cho dân tộc, cho đất nước. Cho nên Cao Bá Quát nhận thấy nhà thơ

không thể đứng ngoài xã hội mà phải có trách nhiệm với nó. Vì thế mà thơ ông sục sôi

tính chiến đấu của thời đại, nó mang tư tưởng và tình cảm cao đẹp. Nhưng rồi chính

ông lại thất vọng, vì thấy nó bị rẻ rúng, bạc bẽo: "Văn đã không được đánh giá đúng,

vì nghèo lại rẻ thêm" (Tiểu ẩm hý bút). Tâm sự với bạn thân là Phương Đình, tiếng nói

thân thiết của ông bỗng trở thành chua chát:

"Cái giá cũ văn chương bạn đã biết chưa,

Chúng ta hối rằng trót đem hư danh nhỏ mọn mà đi theo trò đời."

(Ẩm trung giản Phương Đình) [37; 29]

Không những thế, văn chương còn không đem lại ích lợi thiết thực gì cho đời

"Mười năm cầm bút phí cả thì giờ" (Phục giản Phương Đình). Ồng ân hận "Một đời

phụ cả năm xe sách"; và tự thắc mắc tại sao có lúc lại muốn làm một nhà thơ: "Thử

thân hà sự tác thi ông !" (Thứ vận Thận Tư phóng quan Nhị hà đồng Di Xuân, Hòa

Phủ).

71

Buồn của Cao Bá Quát cũng chính là cái buồn sâu sắc của cả một tầng lớp sĩ phu

lúc ấy.

Bên cạnh đó, việc các nước phương Tây lăm le xâm lược Trung Quốc hồi đó

khiến ông băn khoăn suy nghĩ. Ông có viết một bài thơ tâm tình: "Ta chính là nhân vật

cũ của Trung Quốc đây, bởi ta làm công việc của Trương Khiên đi tìm hiểu tình hình

nước ngoài, nhưng lại mang tâm sự của Ngũ Viên trước nguy cơ mất nước". Ngũ Viên,

trước nguy cơ mất nước, đã khuyên răn vua Ngô mà không được, cho nên trước lúc

chết dặn con khoét mắt mình treo ở cửa thành để nhìn quân Việt mai đây sẽ vào xâm

chiếm. Cao Bá Quát đau lòng, bởi đôi mắt của mình như đôi mắt Ngũ Viên, ông đã

nhìn thấy trước cảnh mất nước mà triều đình Huế là kẻ chịu ừách nhiệm.

Thấy người rồi xét lại mình, Cao Bá Quát bất giác kinh hoàng và lo lắng cho vận

mệnh của dân tộc và của các nước phương Đông khác trước sự bành trướng của chủ

nghĩa tư bản phương Tây và trước sự lạc hậu cổ hủ của các triều đình phong kiến

phương Đông, cho nên "Quay đầu nhìn ngọn gió Tây mà lệ rơi lã chã" ( Dữ Hoàng

Liên Phương ngữ cập hải ngoại sự, triếp hữu sở cảm, tẩu bút dữ chi).

Sau chuyến đi hiệu lực vất vả này, Cao Bá Quát được tha tội, phục chức, nhưng

thải hồi, trở về quê quán.

Những ngày nằm lại ở kinh đô để chờ quyết định của nhà vua cũng là những

ngày hết sức buồn tẻ. Những tư tưởng tiêu cực đôi lúc len lỏi vào trong tâm trí ông,

ông còn tỏ rõ ý nghĩ muốn buông xuôi tất cả.

"Xin bạn rót đi, rót nữa đi, uống cho thật nhiều.

Há chẳng thấy: chim hồng, chim hộc bay tít tận mây xanh,

Chim hạc đen ngủ một mình bên sườn núi.

Còn những con chim vàng thì về chỗ kiếm ăn,

Xưa nay không bên nào dám chống bên nào."

(Đông Tác Tuần Phủ tịch thượng ẩm)

Đó là những cách sống tự do lựa chọn: có thể nuôi chí lớn bay cao muôn dặm

như giống chim hồng chim hộc; có thể cứ sống ẩn dật như chú hạc đen; hay thậm chí

có thể chỉ sống tầm thường như loài chim vàng đi kiếm ăn quanh. Mặc! cần chi phải

tranh biện nhau, cũng giống như giống chim kia không bao giờ chống chọi nhau.

72

Để rồi ông chia sẻ cuộc sống của ông với gia đình, làng xóm ở quê hương Phú

Thị, với bạn bè ở Thăng Long và trải hồn mình với những cảnh đẹp của đất nước trong

mấy năm về vườn.

Nhưng rồi chính cuộc sống ấy lại đem đến cho ông những nỗi buồn, trăn trở

khác, khiến cho ông nhiều đêm không ngủ được. Đó là nỗi buồn của sự cô đơn, của sự

bất lực. Trong một đêm thanh vắng nhân ngâm lại mấy bài thơ trong "Kinh Thi" nói

lên lòng luyến tiếc đối với vua nhà Tây Chu biết dùng người có tài có đức, ông lại

thấy nổi lên trong lòng nỗi day dứt khó tả:

"Trời cao đêm mịt mờ,

Dưới có người không ngủ.

Trên có vì sao muốn rơi, Loại cây bồ kết thì tốt um.

Cây lan đơn độc, thơm không ai biết,

Cứ ngâm vọng ra ngoài trời.

Tiếng vang trong đêm tối định để ai nghe?

(Độc thi)

Vả lại cuộc sống khá túng thiếu nhiều khi cũng đặt ông vào những hoàn cảnh

khó xử. Sự thật thì từ nhỏ Cao Bá Quát đã nếm trải mùi bần hàn. Nào là "Áo Trọng Do

bạc thếch, cơm Phiếu Mẫu "hẩm xì", nào lều rách mái dột, nào là chị kêu ca, vợ than

thở (Tài tử đa cùng phú). Có lúc đòi bán cái nghèo, đuổi cái nghèo, tiễn cái nghèo đi

(Tài tử đa cùng phú), nhưng quanh quẩn vẫn có khi phải than thở: "miếng ăn khi túng

khổ thân nhiều" (Thương Sơn công hữu sở quỹ vật kiêm trí hao thi, bộc phương nhiễu

vu thất tử chi thích, cảm thế giao khẩn tình hiện hồ từ). Lắm lúc cảnh nghèo đẩy ông

đi không biết rồi sẽ đến đâu:

"Không bao lâu tôi cũng sẽ từ giã chốn này

Bấy giờ sẽ đi xa biền biệt ở phương trời"

(Khách chí) [33; 343]

Và thường xuyên thì thấy ông phiêu linh đây đó, khi thì lên núi Vệ Linh nhận

mình vốn là khách giang hồ, khi thì tiễn người anh họ mà bùi ngùi cho tấm thân lưu

lạc đất khách. Đây thật sự là sự phiêu bạt chứ không phải là chuyện giang hồ, "xê

dịch" cho nên khi nghe Cao Bá Quát than về cách sinh nhai bằng lưỡi thuổng lúc bước

73

sang năm mới, hay mô tả cảnh giữa đường phải dùng sức nóng thừa của cái điếu cày

để hơ áo rét hoặc tường thuật cảnh gia đình dắt díu nhau đi tìm nơi nương tựa... chúng

ta đều thấy đó là những nỗi niềm chân thật của một tấm lòng từng biết cay đắng vì

túng nghèo.

Có thể nói bốn năm nằm nhà bắt buộc này cũng là thời gian khủng hoảng khá sâu

sắc trong tâm hồn Cao Bá Quát. Những tư tưởng, những tình cảm tích cực và tiêu cực

cứ nối tiếp nhau, xô đẩy nhau, vật lộn nhau trong ông. Rốt cuộc, dù làm việc gì, dù đi

đến đâu nữa... ông vẫn chưa thể thoát được tâm trạng cô đơn, với tấm lòng "lo trước

thiên hạ", như hạt sen uống tấm lòng đắng ngắt, chỉ một mình mình biết, một mình

mình hay rồi "nghĩ đến thói đời những gạt thầm hai hàng nước mắt" (Thuật hoài).

Đây đó trong tác phẩm của Cao Bá Quát có cái nhìn hư vô, có thái độ buông

xuôi, có tiếng thở dài não ruột biểu lộ những nét của tâm trạng chán chường trước thời

thế, trước lịch sử.

Đứng trên ngọn Côn Sơn, nhìn về phía sông Lục Đầu, nơi đã từng diễn ra những

chiến thắng vẻ vang của quân Trần chống quân Nguyên năm xưa, ông có cảm nghĩ

buồn buồn, mất mát:

"Dưới thành Cổ Phao, bến sông Lục Đầu,

Anh hãy quay về phía bắc mà nhìn người thuở trước!

Trên khoảng non sông từng qua trăm trận đánh, nay chỉ thấy một chiếc

thuyền câu,

Bao khách anh hùng muôn thuở, nay chỉ là một đám bụi!

Rót đi! rót nữa đi! xin đừng từ chối.

Cõi đời buồn hay vui từng lúc khác nhau.

Nơi người này vui ngẫm lại là nơi người sau ngậm ngùi,

Tắt hết tâm cơ, hiểu làu nghĩa lý, thực như là ngây."

(Dữ thi hữu Phan Long Trân chi Côn Sơn nhân tác Côn Sơn hành vân)

Ở Cao Bá Quát quả có mang tâm sự mà khó nói lên lời. Ông đã thổ lộ:

"Gió chiều, bóng xế, vẫn không trở về,

Xõa tóc đứng trên cầu cao, mỉm cười chỉ tự mình biết vậy."

(Đề Trấn Vũ quán thạch bi)

74

Hình ảnh mái tóc rối bời được nhắc đi nhắc lại khá nhiều lần trong thơ ông. Thực

ra, đó là hình ảnh bề ngoài của tâm trạng rối bời trong ông, đến độ nhìn cuộc đời vẫn

thấy bế tắc như tấm bia không chữ đầy bí ẩn. Ông cố công tìm hiểu những uẩn khúc

chưa hiểu nổi và chính điều đó đang dày vò ông.

Ông tiếc những anh hùng xưa không còn để cứu nước. Chơi núi Nam Tào nhìn

vào đền thờ Trần Hưng Đạo và nơi ẩn dật của Chu Văn An, ông viết:

"Xuân trên dòng Kiếp dồn cả vào miếu của vị vương lừng tiếng,

Mây ở núi Phượng phủ kín ngôi nhà của bậc ẩn dật thuở xưa.

Đứng hướng về thành Cổ Phao mà nhìn ngắm nữa,

Chuyện cũ của các khách anh hùng đã gửi cả cho làn sóng biếc."

(Du Nam Tào sơn tự, Lâu thượng ký vọng đề bích trình Thúc Ninh)

"Non sông như thế còn mình thì sao đây?" Mình thì "Cây đàn thanh kiếm bao

năm đã đi lầm đường... ngày nay một manh áo vải đứng giữa trời đất bao la!" (Nhật

mộ)

Cao Bá Quát luôn có một niềm mong muốn thiết tha nhất là thấy nhân dân sống

yên vui:

"Tấc lòng những lo cho đời đục,

Mỏi mắt trông đợi sông trong."

(Khiếm đề mục)

Ý nghĩ về nước sông Hà chẳng trong dường như cứ day dứt mãi tâm trạng của

nhà thơ. Trách nhiệm làm một "kẻ sĩ", trách nhiệm "vào đời" cũng không thôi ám ảnh

Cao Bá Quát. Có lúc Cao Bá Quát thấy xấu hổ cho mình:

"Đã mười năm nay cầm bút làm văn phao phí mất bao nhiêu thì giờ

Chỉ ôm ấp hoài tấm lòng "lo trước vui sau"."

(Phục giản Phương Đình)

Có lúc suốt đêm ông ngồi một mình suy nghĩ về đời sống của nhân dân và trách

nhiệm của mình. Lời thơ trở nên uất ức kêu thương:

75

"Một mảnh vườn vừa ồn vừa thấp ở nơi thành thị,

Một con người vừa già vừa ốm ở giữa trời đất!

Đem thân ra đời đã thành người thừa,

Náu vết hãy chịu lầm than vậy.

Nhưng nạn rét nạn lụt cứ phát sinh liên tiếp,

Huống chi dân đen bị tai nạn chưa được hồi phục.

Không có lấy một sách lược gì làm cho đời thái bình,

Thẹn mình là một nhà nho mà lại tầm thường đến thế!"

(Độc dạ)

Làm gì được đây? Ngồi chải đầu, ông cảm thấy tâm sự mình cũng rối bời như

mớ tóc (Sơ đầu).

Tuổi thì mỗi ngày một già, lắm lúc ông thấy cô đơn giữa một trời chiều man

mác:

"Mặt trời tà, hai mái tóc rối bung giữa khoảng trời đất,

Cảnh xuân êm lặng, một con âu trắng trên mặt sông hồ."

(Họa Thận Tư xuân nhật đồng chư hữu đăng Lâu quán vọng hồ kiến ký thứ vận)

Để rồi cuối cùng ông đành từ bỏ con đường công danh mà mình đã từng đeo

đuổi. Thực ra, đã từ lâu ông coi công danh và được mất của cá nhân chỉ còn là câu

chuyện "chõ rơi bị vỡ" của người mà thôi: "Chõ đã vỡ rồi thì phỏng có ích gì?". Cuộc

đời ông, ông chả còn biết nên sử dụng như thế nào nữa, buông thả cho nó tự trôi đi

đến đâu thì đến.

Có những lúc ông tự đay nghiến mình, dằn vặt mình một cách ghê gớm, như

muốn vứt bỏ, muốn tung phá một cái gì đó mà chưa thể làm được:

"Một chút danh cứ ràng buộc mãi thế này!

Than ôi! Một chút danh cứ ràng buộc mãi thế này!

Bạc đầu với chiếc áo xanh. Ta già mất rồi!"

(Đề Sát viện Bùi công Yên Đài anh ngữ khúc hậu)

Để rồi từ nay, ở chốn xa xăm ấy, lòng ông lạnh lẽo và đơn độc như một dòng

nước bạc. Làm bạn với ông, họa chăng còn mảnh trăng kia mà thôi.

76

"Ngoảnh đầu lại thấy mây bay lững lờ.

Đáng yêu một mảnh trăng kia,

Cứ đêm đêm soi hoài trên dòng bạc."

(Châu hành há Thanh Khê, nhân cố nhân ký biệt tòng du chư đệ tử).

Sống giữa đường trần mà ông luôn cảm thấy cô đơn, trói buộc! Một nỗi đau đời

luôn đeo bám ông, làm cho tâm can ông luôn day dứt trăn trở. Qua đó ta cũng như

hiểu thêm về "tấm lòng lo trước, vui sau" của ông.

3.2. TÌNH CẢM:

3.2.1. TÌNH CẢM ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH:

Tình cảm trong thơ Cao Bá Quát là tình cảm lớn mang tính nhân đạo sâu sắc,

chứ không phải thứ tình cảm đóng khung trong khuôn khổ của lễ giáo, không bó hẹp

trong quan niệm nhân ái của đạo Khổng, không phải thứ tình cảm của một kẻ bề trên

rủ xuống ban ơn cho kẻ dưới. Những năm tháng lưu lạc sống xa nhà, một trong những

tình cảm đằm thắm nhất hay trở đi trở lại trong sáng tác của Cao Bá Quát là tình yêu

đối với quê hương, gia đình. Cao Bá Quát có nhiều bài thơ hết sức xúc động viết về

cha mẹ, anh em, vợ con, bạn bè, về học trò, về làng xóm láng giềng...

Là một con người, ông rất hiểu nghĩa vụ làm con của mình và đó là một trong

những nguồn gốc sinh ra sự quan tâm hết lòng, sự kính yêu hết mức, nhớ thương hết lẽ

của ông đối với cha mẹ. Cho nên khi bị bắt giam, nỗi băn khoăn đầu tiên của ông là

đối với cha mẹ:

"Cái mộng về cố hương biết bao giờ được?

Ai là người đến mà an ủi cha mẹ ta?"

(Cửu nguyệt sơ thất nhật dĩ trường sự hạ Trấn Phủ ngục) [31; 64]

Lúc ở nước ngoài, sự nhớ thương trước hết của ông cũng là đối với cha mẹ

"Ở nhà, cha mẹ tóc trắng tựa cửa trông hoài,

Nơi xa xôi, vợ con lại phải chịu cảnh như ngày nay.

Cái gì xui khiến cho ta đi, ta đã biết là người có tội,

Tình cảm đời nào quên được, huống hồ mình lại mang tấm lòng ở đất khách."

(Thuyền hồi quá Bắc Dữ giản Trần Ngộ Hiên nhị thủ II)

77

Khi đã chán ngán với triều đình nhà Nguyễn, sắp phải thực hiện nghĩa lớn, nỗi lo

lắng riêng tư sâu xa nhất của ông là đối với mẹ già. Ông đã tranh thú về thăm mẹ già-

biết đâu lại là lần cuối cùng! Bao năm nay, người mẹ già ấy đã héo hon đi quá nhiều

trong cuộc sống cô đơn, trước những tin tức chẳng mấy tốt lành về hai đứa con yêu

dấu, niềm hy vọng duy nhất lúc cuối đời của cụ. Rồi đây, khởi nghĩa khói lửa binh đao

sắp tới, số phận của cụ sẽ ra sao? Ông còn lạ gì pháp luật dã man của bọn thống trị

nữa... ! Cho nên nếu còn một điểm gì giờ đây vẫn day dứt trong tâm hồn ông, khiến

nhiều đêm ông phải đầm đìa nước mắt, cũng chính là điểm này:

"Với thế giới này thân ta dù từ biệt,

Một chết có tiếc gì.

Chỉ thương nỗi mẹ già còn đó,

Hết sớm hôm tựa cửa trông hoài."

(Văn Phương Đễ Nguyễn ông đắc dĩ cố lý di Hưng Yên, thư thử vi tặng).

Suốt cả cuộc đời, Cao Bá Quát đều đối xử với cha mẹ theo một nếp như thế. Ở

đây không hề thấy một người con "quen thói ngông cuồng", hư hỏng như Cao Bá Nhạ

nói mà chỉ thấy một người chân thành và giàu lòng hiếu thảo đối với những người sinh

ra mình.

Nếu đem cách sống trên của Cao Bá Quát so với cách sống mà Nho giáo yêu cầu

thì rõ ràng là hai mặt khác biệt nhau, đối lập nhau. Một đàng thì tự nhiên, chân thật,

lành mạnh, một đàng thì khắc nghiệt cứng đờ; một đàng thì nâng con người lên, còn

cách sống của Nho giáo được căn dặn trong cuốn "Hiếu kinh" hoặc tô vẽ trong cuốn

"Nhị thập tứ hiếu" mà Cao Bá Quát đã từng phải đọc, phải học.

Nếu như đối với cha mẹ Cao Bá Quát là người con có hiếu, thì đối với anh chị,

Cao Bá Quát là người em biết ăn ở với trái tim nhạy cảm, biết đón trước mọi thứ lo âu,

mong đợi.

Bài thơ "Đắc gia thư, thị nhật tác" là một niềm thương cảm mênh mông và cảm

xúc trước cái chết đáng thương của bà chị nghèo bơ vơ ở quê nhà. Rồi sau đó, cảnh

xót đau còn dai dẳng đến nỗi thư không muốn xem, nước mắt chảy hoài. Còn gì

thương xót cho bằng cảnh đứng ngồi không yên, luôn đi ra hướng về phía quê nhà:

78

"Trời đã tối một mình trầm ngâm,

Ba lần ra ngóng về phía bắc thành."

(Đắc gia thư thị nhật tác)

Đối với người anh sinh đôi với mình thì ngay từ nhỏ ông đã tự hào về hai anh em

ông "Lúc nhỏ cùng với anh Văn Ngu, ý chí cùng xấp xỉ" (Bình sinh ngũ thập vận). Khi

Cao Bá Đạt đỗ cử nhân, được cử vào làm quan ở Nông cống, Thanh Hóa, Cao Bá

Quát đã đích thân đến thăm anh và cùng với anh đi dạo chơi sông núi quanh vùng. Khi

ở quán trọ, bắt được thư anh, thông cảm với anh, ông xúc động sụt sùi:

"Ban đêm một mình rỏ lệ viết thư,

Cảm mối tình nhớ nhau ở nơi quê người.

Trăm năm thân chỉ là khách,

Bốn bể có em biết anh."

(Mộ đắc xá huynh quán dạ giam thư kiến ký)

Cuối cùng ông cứ day dứt mãi vì chuyện trước khi khởi nghĩa không về thăm anh

được. Trong ông có dòng suy nghĩ: anh mình là một người đức độ và cần mẫn, sao cứ

phải lận đận hoài ở một chốn phủ hẻo lánh...?

Như vậy, tình thương anh mến chị của Cao Bá Quát là tình thương mến chân

thành thấm thiết. Tình cảm đó không thể nghi ngờ, càng không thể chê trách. Sau này

nếu Cao Bá Quát hoạt động chống lại triều đình, nếu Cao Bá Đạt biết và ngăn cản, đến

nỗi "anh ngăn bảo thì xé cả thư" và do đó "gia đình sinh bất mục" như Cao Bá Nhạ nói

thì đó không phải là khuyết điểm của Cao Bá Quát, mà khuyết điểm thuộc về những

người không hiểu bản chất thối nát của triều đình nhà Nguyễn và không thấy hành

động cao cả của Cao Bá Quát.

Cao Bá Quát cũng dành nhiều thơ và tình thương đối với vợ con. Vợ ông để lại

cho ông nhiều ấn tượng sâu sắc. Do đó tình cảm của ông đối với vợ con cũng là tình

cảm sâu đậm nhất, chung thủy nhất. Mỗi lần nói tới vợ, ông đều nói với một giọng rất

trìu mến. Lúc bị tù, khi bạn là Lưu Nguyệt Trì về quê, ông nhờ thăm vợ, nói với vợ về

nỗi lòng thông cảm khổ đau:

79

"Nhân tiện nhắn bác thăm nhà tôi.

Trong buổi gió mưa này, ai mà chẳng nước mắt thấm áo."

(Vãn Lưu Nguyệt Trì Bắc hành khuyết vi diện biệt, phụng ký II".

Có những đêm mưa, ông ngồi lạnh bên đèn, nghĩ đến vợ cũng đang nhớ mình để

tự nhắc nhở mình:

"Chiếc gương nhỏ đã gửi vào tráp người đi xa,

Tấm áo rét để lại trong phòng cũ.

Giữ những vật ấy để cùng tự an ủi,

Không để cho đôi ta quên nhau."

(Tự quân chi xuất hỹ)

Nhận được tấm áo bông của vợ gửi cho, ông cảm động trước tình yêu thương của

vợ trong từng mũi chỉ đường kim: "Một phong thư đọc dưới ánh đèn, muôn hàng lệ

chảy. Đêm nay mảnh hồn tàn trở về quanh quẩn chốn buồn thêu". (Tiếp nội thư tính ký

hàn y, bút điều sổ sự).

Ông thương vợ sống trong cảnh nghèo khổ và tưởng tượng lúc trở về gia đình

bước qua cửa vào nhà, có lẽ chính là lúc vợ đi giã gạo thuê cho hàng xóm. Vợ ông một

người phụ nữ tảo tần, chịu thương, chịu khó suốt đời lo cho chồng con; mẫu người

phụ nữ của xã hội phong kiến Việt Nam.Thời gian đi dương trình hiệu lực, lúc ở Ba-

ta-vi-a, Cao Bá Quát trông thấy đôi vợ chồng người Anh bày tỏ tình cảm quan tâm với

nhau, ông đã không lên giọng đạo đức phong kiến để phê phán mà còn nói "Các người

yêu nhau, đâu biết ta đang ở cảnh biệt ly" (Dương phụ hành). Lâu năm xa cách vợ, có

lúc khiến ông nhớ thương đến đứt ruột.

"Mưa bụi lất phất, ban đêm đóng cửa,

Ngọn đèn côi quạnh lúc tỏ lúc mờ, im lặng chẳng nói năng gì.

Kẻ ở chân trời và người ở chốn phòng khuê,

Đã nhớ nhau thì ai ở đâu mà tâm hồn chẳng tan tác."

(Trệ vũ chung dạ cảm tác)

Nhớ thương vợ, ông càng không thể quên được tình nghĩa thủy chung. Đó là lý

do mà ông thường nói đến sự chung thủy. Ông muốn người ta nên bắt chước Tràng

80

Khanh, hát khúc "Bạch đầu ngâm" ở lại với người vợ già còn hơn là đi đeo đuổi

những mối tình không chính đáng.

Âu cũng là tấm lòng đáng trọng của Cao Bá Quát với những lời tri âm, tri kỷ

dành cho vợ!

Là người cha, Cao Bá Quát rất thương con và luôn nghĩ đến trách nhiệm. Thấy

con người ta, ông nhớ đến con bé nhỏ của mình và cảm thấy ấm ức xót thương (Hữu

sở tử). Có khi tình thương đó thốt lên một cách trực tiếp:

"Với con cái thì rất đỗi nhớ thương,

Với kinh sách thì đã quên lâu rồi."

(Tích viễn)

Ông có một đứa con gái chết lúc còn thơ ấu. Việc này khiến ông đau xót dằn vặt

khá lâu. Đến nỗi chiêm bao thấy đứa con ấy hiện về, quần áo xác xơ, vẻ mặt buồn rầu,

nước mắt ông giàn giụa (Mộng vong nữ).

Cách cư xử và tình cảm của Cao Bá Quát đối với vợ con chứng tỏ ông là một

người chồng thủy chung, nhân hậu; một người cha hiền từ, nhân ái, độ lượng. Ông

luôn coi vợ con là điểm tựa tinh thần cho mình (điều mà ít nhà nho cùng thời với ông

có được). Nó không hề có chút gia trưởng, cũng không hề thấy dấu vết nào là biểu

hiện của ý thức "Tam cương", "Tam tòng tứ đức". Một lần nữa ta thấy ông đã vượt ra

khỏi khuôn khổ khắc nghiệt của Nho giáo.

Cách cư xử và tình cảm của ông đối với những người thân trong gia đình đã vượt

ra khỏi sự chi phối của lễ giáo phong kiến. Phần nào cũng là do ảnh hưởng từ cuộc

sống gần gũi với đời sống của những gia đình nông dân. Cao Bá Quát đã hấp thụ cách

sống và tình cảm của những người lao động. Và muốn đem đến những điều tốt đẹp

hơn cho họ - nên ông đã khởi nghĩa lật đổ triều đình nhà Nguyễn. Cái án "Tru di tam

tộc" tàn khốc chính là sự hy sinh bản thân và gia đình cho một đạo làm người cao cả.

3.2.2. TÌNH CẢM ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI KHÁC:

Cao Bá Quát là một người có tài, ưa hoạt động, lại có thái độ chân thành nên ông

có rất nhiều bạn. Đối với bạn, ông luôn tỏ ra là người thật thà, dễ dãi và sẵn lòng. Lúc

ở trong nhà giam, một người tù vốn là ông chủ sự kho vũ khí, đến xin ông làm thơ về

81

cái gông, ông làm ngay bài "Trường giang thiên". Lúc sắp xuống thuyền đi hiệu lực,

ông Tôn Thất Minh Trọng còn vội vã xin ông một bài thơ tạm biệt, ông cũng vui lòng

làm tặng lại. Một số yêu cầu khác của bạn bè (nếu có thể được) ông làm ngay như đã

đề tựa cho tập thơ của Miên Thẩm, đề tựa cuốn "Yên Đài anh ngữ" của Bùi Ngọc Quỹ,

đề nhiều bức hoành phi cho các gia đình quen biết...

Ông vốn rất yêu quý bạn bè, "Một ngày trăm lần nhớ bạn" (Thù hữu nhân úy

vấn). Ông nhớ Miên Thẩm, ví mình như Mao Toại đối với Bình Nguyên Quân. Ông

nhớ Phương Đình, có đêm tưởng bạn đang ngồi một mình ngâm thơ trong một căn gác

lạnh lẽo. Ông nhớ Tuần Phủ, người bạn đã tin ông, hiểu ông, nhìn ông bằng cặp mắt

xanh, nên ông cũng đáp lại bằng một "tấm lòng son không bao giờ phai lạt" (Dư hốt ư

mộng trung vãng thám Tuần Phủ, ám tưởng kinh trung cố nhân hoặc đương hữu niệm

ngã giả, nhân ký tuần phủ kiêm trình Đôn Nhân Phạm tử).

Ngược lại, những cử chỉ của bạn đối với ông cũng rất cảm động. Họ vui vẻ đem

tặng ông những cái mà ông thiếu như: chim câu nhà, chè hương và hoa thơm, đồ ăn

thức uống (lúc túng cùng)... Họ ân cần thăm hỏi và chăm sóc ông lúc ông ốm đau hay

bị tai vạ. Thời gian ngồi tù ở Huế, một số nho sĩ như Phạm Học Sĩ, Võ Ninh Phủ

không quản khó nhọc, liên lụy, thường lui tới thăm nom... Sau khi ông chết trận, họ

càng kính phục ông, tìm tòi gìn giữ, cất giấu thơ ca ông, truyền tụng hành vi nghĩa khí

của ông... (mặc dù bị cấm đoán).

Trong thơ ca ông, có một phần nói lên quan hệ thầy trọ. Sở trường của ông

không phải là thầy đồ, song trong đời ông có vài lần đi dạy. Ở đây ông cũng xây dựng

được quan hệ thầy trò sâu sắc, cảm động. Đối với học trò ông hết lòng dìu dắt và có

thái độ rộng lượng bao dung. Vì vậy học trò rất kính trọng thương yêu ông. Khi ông đi

vào kinh dự thi hội, họ nhớ thương lưu luyến không dứt:

"Các học trò tiễn ta đi,

Cứ theo mãi không nỡ dừng chân.

Đâu phải là vì tình nhi nữ,

Mà che mặt khóc sướt mướt."

(Phó Nam cung xuất giao môn biệt chư đệ tử)

Khi ông từ Nam Ngãi trở lại Huế, học trò vùng ấy cũng không muốn cách biệt:

82

"Các anh vẫn chưa chịu chia tay,

Cứ quấn quýt đi theo tôi mãi.

Hết sớm lại chiều vẫn chưa thỏa,

Lại còn tải rượu theo thuyền tôi."

(Châu hành há Thanh Khê, nhân cố nhân ký biệt, tòng du chư đệ tử)

Quan hệ thầy trò gắn bó với nhau như thế, cho nên sau này trong hàng ngũ nghĩa

quân, có nhiều người vốn là học trò cũ của ông.

Cao Bá Quát vốn có lòng thương người và luôn được sống trong tình thương như

thế nên tâm hồn của ông ngày càng rộng lớn. Hàng ngày, có nhiều dịp tiếp xúc với đời

sống nhân dân ông đã phải chứng kiến những cảnh túng thiếu đói rét, phải đi ăn xin, bị

bắt phu, bắt lính... đã khiến ông rất đau xót, day dứt khôn nguôi để rồi nói lên nỗi xúc

động của lòng mình trước những cảnh đời cơ cực của họ. Mỗi bài thơ là một lời tâm

sự. Đây là mảng thơ mang đậm tình thương ở Cao Bá Quát.

Trong bài "Đạo phùng ngã phu", ông thương cảm cho một ông thầy lang bị đói,

được ông cho ăn:

"Thong thả chứ! Đừng nuốt hấp tấp!

No vội quá, không làm cho khỏe người đâu !" [25; 542]

thật đáng thương tâm.

Trong bài "Phụ tương tử", ông kể cảnh khổ của một người bị đẩy vào cảnh đói

rét do sưu cao thuế nặng. Không nộp được thuế (vốn có mười mẫu ruộng), anh ta phải

bỏ ra đi, ở làm công cho một nhà buôn, suốt ngày bị đánh mắng. Chủ thì ăn đủ thức

ngon vật lạ mà mình thì ăn đói làm nhiều đến gầy xơ cả xương. Làm đã ba năm trời,

được ít tiền đóng thuế thì sáng nay lại đánh vỡ chén của chủ.

Nhà thơ tả cảnh người tát nước trên đồng cao buổi sớm:

"Trong sương mù, tay lôi chiếc gầu đôi thoăn thoắt,

Bụng đói môi run mình khoác chiếc áo tơi ngắn."

(Hiểu lũng quán phu)

hay cảnh một cô gái nghèo, trời rét như cắt vẫn phải bán chiếc áo trên người để mua

tạm cám về cho gia đình ăn "Trong sương gió cô thản nhiên bước qua cầu không biết

rét"... vì lòng cô đã ấm lên, nghĩ đến những người thân đang tựa cửa chờ mình. Tình

83

thương của ông với người nghèo giản dị mà sâu sắc. Qua bài "Hàn dạ ngâm", nhà thơ

kể lại một đêm đông buốt giá, nhà thơ không ngủ được, gọi chú bé giúp việc dậy thắp

đèn để ông chữa những câu thơ vừa mới làm. Chú bé rét quá, không chịu dậy, cứ nằm

rên hư hử, thế là nhà thơ vội vàng trở dậy lấy chiếu đắp thêm cho chú.

Về mùa đông rét mướt, trong nhà giam lạnh lẽo, thấy một người tù không có

chăn chiếu, Cao Bá Quát đã động lòng thương, nhường một phần chăn cho người đó

đắp:

"Gió quẩn thổi vào chiếc gối của người đã mỏi,

Hơi bấc lạnh buốt bội phần.

Lấy chiếu bảo người đầy tớ đắp,

Chia chăn cho khách mượn ngủ nhờ."

(Hàn dạ tức sự)

Đó là một biểu hiện của tinh thần đồng cam cộng khổ, của tư tưởng thương

người như thể thương thân của chủ nghĩa nhân đạo cao cả.

Lịch sử tư tưởng các nước phương Đông đã từng chứng kiến nhiều tấm lòng cao

đẹp, nhiều hoài bão muốn cứu vớt và che chở cho những người nghèo đói, rét mướt,

song ở Cao Bá Quát vẫn thấy những nét thắm thiết hơn người đi trước.

Đỗ Phủ, nhà thơ lớn đời Đường ở Trung Quốc, vốn được ca ngợi là người có

lòng nhân đạo cao quý. Trong bài "Mao ốc vi thu phong sở phá ca", ông ước:

"Ước gì được tòa nhà rộng muôn nghìn gian,

Che cùng thiên hạ cho kẻ sĩ nghèo được rạng rỡ tươi vui..."

Sau đó là Bạch Cư Dị cũng với ước mong tương tự, đã nói:

"Ước gì được chiếc áo dài vạn dặm,

Trùm lên cho khắp bốn cõi.

Để mọi người đều được ấm áp như ta,

Thiên hạ không còn có người rét nữa."

(Tân chế bố cừu)

Tất cả mới chỉ dừng ở ước mong. Còn Cao Bá Quát lại thể hiện bằng những hành

động cụ thể, thiết thực, khiến ta kính phục mến yêu và xúc động nghẹn ngào!

84

Những con người đau khổ, những tình cảnh lầm than tiếp tục đi vào thơ ông.

Như hình ảnh một ông già đương thời được ông phác họa lên sau những lần đi vào

những xóm nghèo khổ. Ông già này ở phường Phúc Lâm, Hà Nội vì bị triều Nguyễn

bấy giờ áp bức bốc lột bằng binh dịch và phu thuế, đã thốt ra những lời than thở cùng

Cao Bá Quát: "Năm nay có cuộc duyệt binh tuyển lính... quan lại đang ráo riết đi

lùng... Nha lại thì đánh người như chặt tre!... Năm ngoái mất mùa, năm nay hỏng lúa,

dân muốn bỏ đây mà đi, nhưng biết nương tựa vào đâu! Nhà bên Đông bị đói nằm dài,

nhà phía tây thì xiêu dạt, những người cầm hơi thoi thóp thì đến một, hai phần mười...!

Lấy bù thuế cũ, chúng tôi đã khó khăn; huống chi chiếu lệ lại tăng thêm thì đến chết

mất! Năm tôi 55 tuổi, tăng một suất; đến năm 60 tuổi, lại tăng một suất!..." và rồi kết

luận: chưa có đời nào mà vua lấy của dân và quan làm phiền dân như đời này cả. Cuối

cùng ông lão trỏ bức tường đổ mà nói rằng: "Than ôi! tôi già rồi" (Phúc Lâm lão).

Khi dân đói rét quá thì vua quan thường tổ chức phát chẩn. Cao Bá Quát đã

chứng kiến một buổi phát chẩn và đã vô cùng buồn bực. Đáng thương cho những

người ở xa phải bồng bế con cái đến từ hôm trước để chầu chực. Ông tự trách mình:

"Tấc lòng mình thẹn cho mình xưa kia..." và cúi đầu dựa vào góc tường mà chẳng nói

(Quan chẩn).

Lắm lúc ông tự hỏi: không biết bọn vua quan có biết tình cảnh này không? Hay

họ giống như thằng bé con chăn con bọ ngựa, nó lấy dây tơ buộc chằng chịt lên mình

bọ ngựa làm nó chết khô trên cành cây! Trách nhiệm của vua quan đáng lẽ phải thông

cảm với nhân dân, phải hiểu được nỗi vui buồn của từng người "từ trên một nét mi của

họ" (Đồng tử mục đường lang).

Ở vấn đề này ta không thể không nhắc đến Nguyễn Công Trứ vì ông vốn là một

nhà thơ cũng quan tâm đến người nghèo. Ông đã có nhiều việc làm đem lại lợi ích

thiết thực cho họ, cụ thể là vấn đề khẩn hoang. Ông đã được người dân nghèo ở các

huyện Kim Sơn, Tiền Hải biết ơn như một vị cứu nạn. Xét cho cùng thì đó vẫn là quan

niệm "ái dân" của đạo Khổng mà thực chất là quan niệm đạo đức của giai cấp thống

trị. về cơ bản sâu xa của vấn đề thì Nguyễn Công Trứ xuất phát điểm từ lý trí chứ

không phải từ tình cảm. Cho nên Nguyễn Công Trứ chỉ nói đến cuộc sống của dân

nghèo trong những bản điều trần, trong những bài văn chính luận, còn trong thơ ca thì

lại vắng bóng. Bởi thơ là cảm xúc, là tình cảm. Cho nên không thể biến lý trí thành

85

hồn thơ được... Thực tế đã có những lúc Nguyễn Công Trứ đứng về phía triều đình để

đánh dẹp những cuộc khởi nghĩa nông dân một cách tàn khốc... Còn Cao Bá Quát thì

không thế, ông xuất phát từ những xúc động sâu sắc trước những cảnh khổ nhục của

con người. Từ cảnh đói, cảnh rét, cảnh ở đợ, ăn xin... để cảm thông với mọi niềm tâm

sự. Đi qua miếu Mỵ Châu, ông phê phán Trọng Thủy và đồng cảm với nỗi oan của

nàng Mỵ Châu năm xưa. Cao Bá Quát còn lên án, đả kích Ngô Phù Sai mà bênh vực

cho Tây Thi - nạn nhân của chiến tranh phong kiến... Mỗi cảnh đời đều đi vào thơ ông

một cách dung dị, đằm thắm, trữ tình... Tất cả đều là tấm lòng chân thành của ông với

nhân dân.

Qua đó ta thấy Cao Bá Quát là người có lòng thương người tha thiết, có sự ăn ở

tận nghĩa chí tình với người xung quanh. Ta cũng thấy ông luôn được mọi người

thương yêu che chở. Điều đó khiến ông trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng đều lạc quan,

tin tưởng và xốc tới.

Lòng thương yêu gia đình, sự quý trọng bạn bè, thái độ ân cần chăm sóc người

hầu hạ và hành vi cứu giúp người hoạn nạn là những đức tính cao đẹp của Cao Bá

Quát.

Tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa cao quý vẫn là một nét nhất quán trong con người

và thơ văn Cao Bá Quát. Hình như càng chán ngán, khinh bỉ bọn thống trị bất tài, vô

đạo bao nhiêu, thì ông lại càng thấy gàn gũi với những người bình thường, nhỏ bé

trong xã hội bấy nhiêu.

"Có thể nói yêu thương là bản chất con người Cao Bá Quát. Hoài bão của nhà

thơ xây dựng trên cơ sở ấy. Ông lên án gay gắt nền chuyên chế của nhà Nguyễn cũng

trên cơ sở ấy, và cuối cùng, ông cầm đầu cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại triều

đình cũng trên cơ sở ấy. Cao Bá Quát là nhà thơ đã kế thừa được truyền thống nhân

đạo chủ nghĩa của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương." (Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam

nửa cuối thê kỷ XVIII- hết thế kỷ XIX, tr. 543).

3.2.3. TÌNH CẢM ĐỐI VỚI QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC:

Ta có thể nói rằng: cơ sở để xây dựng nên những đức tính tốt đẹp ở Cao Bá Quát

không thể không kể đến quê hương đầm ấm và Tổ Quốc oanh liệt. Chính quê hương

86

đó đã sinh ra ông và Tổ Quốc đó đã nuôi dưỡng ông thành người. Và vì vậy đối với

quê hương, Tổ quốc, ông mang tình cảm sâu nặng và nồng nàn.

Ông luôn cảm thấy mình gắn bó với quê hương bằng những mối dây vô hình

nhưng không gì bền chặt hơn. Đó là tình cảm tế nhị bắt nguồn từ một sự hòa họp thầm

kín nhưng huyền diệu giữa trái tim con người và những vất vả đời thường có khi rất

nhỏ nhặt, thô sơ. Ở phương diện này, ít nhiều Cao Bá Quát đã có những cái gần gũi

với ca dao. Những hình ảnh điển hình của nông thôn đồng bằng Bắc bộ người ta

thường thấy trong ca dao như ao rau muống cá mè, cây gạo đầu làng, thậm chí là đám

cỏ gấu xanh, điếu thuốc lào đỡ lạnh một sớm mùa đông. Hình ảnh nào cũng mang vẻ

mộc mạc của cảnh vật quê mùa và tràn đầy khí vị của đất nước quê hương. Những bài

"Quy cố trạch", "Khách chí", "Tương đáo cố hương" là những thiên trữ tình thắm thiết

về tình quê hương mà nếu xét ra thì hiếm có trong văn thơ ngày trước.

Quê hương ông, làng Phú Thị, huyện Gia Lâm với cây gạo cao ở đầu làng, với hồ

Ngựa Trời ở đàng trước, dòng Đức Giang ở đàng sau, Gò Phượng Chủy ở bên phải đã

in dấu vết sâu đậm vào ký ức của ông, đến nỗi những hình ảnh đó luôn theo sát ông

trên mọi nẻo đường, trong mọi giai đoạn của cuộc đời.

Nhà thơ lúc nào cũng canh cánh một nỗi nhớ quê da diết, một nỗi khắc khoải

mong về. Một tiếng sáo vẳng lên trên sông cũng dậy lên niềm nhớ quê, nhớ day dứt

đến cả trong giấc mơ:

"Nghe như quanh gối tiếng ai

Chiêm bao khách tưởng về nơi quê nhà"

(Văn địch) [37; 31]

Tuy nhiên gắn bó với quê hương không phải chỉ gắn bó chung chung. Qua cái

nhìn tràn đầy sức sống của Cao Bá Quát, cảnh trí đất nước đâu đâu cũng hiện lên với

một thần thái tươi sáng sinh động. Nhưng dường như riêng đối với quê hương, ông có

một niềm trìu mến đặc biệt. Ông nhớ thắm thiết từng tên làng, từng gốc cây, thậm chí

một ánh trăng trong thôn mình đang ở cũng làm ông băn khoăn thắc mắc: "Không biết

thành Thăng Long đêm nay trăng sáng thế nào". Nghe tiếng chim tu hú kêu, ông nghĩ

đến mùa vải chín hồng ở quê nhà:

87

"Một tiếng tu hú vang vào trong rèm,

Đánh thức người khách tha hương dậy, nằm rụt đầu trên gối,

Không biết bây giờ ở quê nhà phong vận như thế nào?

Có lẽ mùa xoài chín vàng tiếp theo mùa vải chín đỏ"

(Văn bá lao) [25; 539]

Quê hương đó đã nhắc nhở ông phải trở về sau một thời gian đi xa. Và trở về

không phải là để xa lánh xã hội trần tục như cách sống của nhà đạo; cũng không phải

là vì có áo gấm cần về làng để khoe khoang với họ hàng làng mạc như cách làm thông

thường của các nho sĩ; cũng không phải là tâm lý vọng hương hẹp hòi của người nông

dân công xã thúc giục, mà là để được thấy lại những cảnh đã thân thuộc với mình từ

thời thơ ấu, để được sống trong tình thương của gia đình và là để được sống trong sự

thương yêu đùm bọc của họ hàng xóm giềng.

Thế rồi đến lúc có dịp về nhà, ông lại cũng bồn chồn không kém. Đi đường bộ

đến Đông Dư, quê làng không còn xa mấy, bỗng dưng ông thấy bối rối, bước chân tự

nhiên ngập ngừng không nhích lên được, phải ngủ lại (Sa hành để Đông Dư, ký mộ

lưu túc). Sang một khúc sông cũng làm ông nao lòng. Ông nói rõ rằng người lái đò

quen nhau ngày xưa vì mừng tủi mà cho thuyền đi như bay, trên khúc sông rợp mát.

Sắp về đến làng, từ xa nhìn thấy ngọn cây gạo, rồi thấy điếm cây gạo, hồ Ngựa Trời,

nhà thơ lại càng xúc động. Và xúc động nhất là khi ông gặp lại bà mẹ già cũng những

người quen biết cũ:

"Bạn hàng xóm bất thình lình gặp nhau, sửng sốt hỏi thăm dồn dập,

Mẹ già chợt trông thấy con, mừng mừng tủi tủi."

(Để gia)

Bài "Quy cố trạch" là một trong những bài tiêu biểu nhất của ông, ghi lại một

cách hết sức chân thật và sinh động tâm trạng của nhà thơ trong một lần về thăm lại

quê sau nhiều năm xa cách:

88

"Chợt thấy nơi quê cũ,

Lòng khấp khởi bước mau.

Xóm chợ người đông đúc,

Tre làng xanh một màu.

Ngõ sâu tiếp đường cái,

Cổng tre lên tiếng chào..." [25; 541]

Còn gì cảm động cho bằng cảnh người làng, người nước tấp nập đón tiếp ông:

"Bà con đổ tới viếng,

Ân cần trò chuyện lâu.

Cảm tạ lòng bạn cũ,

Còn nhớ không bỏ nhau."

(Quy cố trạch) [25; 541]

Hình ảnh quê hương trong thơ Cao Bá Quát là hình ảnh một cuộc sống giản dị

của những người thuộc tầng lớp dưới với những cảnh hết sức quen thuộc như xóm

chợ, bờ tre, ruộng vườn, bụi cây, ao cá... Quê hương đó như tắm gội lại tâm hồn ông,

đem đến cho ông những mối quan hệ mới mẻ với cuộc sống cần lao, giản dị của người

nông dân mà trước đây ông đã có sự thông cảm, nhưng chưa gần gũi. Tình cảm quê

hương của ông đồng thời cũng là tình cảm đối với người nghèo. Chính điều đó làm

cho ta hiểu được tại sao thơ Cao Bá Quát lại có thể nhạy bén đối với những niềm vui

hiếm hoi trong cuộc đời lam lũ của họ, cũng như nặng trĩu lo buồn trước những đau

buồn triền miên của họ.

Chắc chắn rằng nghĩa tình đối với quê hương đã tiếp sức nhiều cho ông, khiến

ông vững bước đi trên con đường mà ông cần đi.

Chính vì lẽ đó mà Cao Bá Quát từng có những mong muốn được về sống nơi

đồng ruộng, ở chốn làng quê với những tình cảm chân thành:

89

"Chỗ ở cũ chắc đã phủ đầy cỏ rác,

Ruộng vườn cũ chắc đã mọc đầy gai góc.

Cây tùng cây cúc còn đợi mình về thăm,

Líu tíu với việc đời mà thẹn với Đào Uyên Minh.

Khư khư giữ lấy ước nguyện cũ,

Giữ lấy nó rồi sẽ trở thành như thế nào?"

(Khách chí) [31; 166; 167]

"Được thanh nhàn là do giữ vụng,

Ước nguyện của ta là ở chốn huyền hư.

Từ khi mang lòng ôm ấp ngọc khuê và thao ấn,

Càng xa lìa chỗ gò hang."

(Tương đáo cố hương) [31; 166; 167]

nhưng luôn canh cánh trong lòng:

"Tấm lòng ước nguyện cũ, những mong không phải từ bỏ,

Ngày sau còn có thể đuổi theo được nó không?"

(Tương đáo cố hương) [31; 166; 167]

để rồi tự nhận mình là:

"Cư sĩ Mẫn Hiên vốn là thần hoa cúc

Là hiện thân của ngày Bành Trạch trước kia

(Khất bạch cúc hý trình chủ nhân) [31; 166; 167]

Cuộc sống nơi đồng ruộng, do gần thiên nhiên yên tĩnh và trong lành, do quan hệ

xã hội ít phức tạp chắc đã thỏa mãn một quan niệm sống của ông, nên ông tỏ ra thích

thú và hướng tới.

Tâm lý muốn về sống nơi đồng ruộng cũng là tâm lý của nhiều nhà thơ, nhà tư

tưởng trong lịch sử. Trương Hàn đời Tấn (Trung Quốc) đang làm quan thấy gió thu

nổi lên, nhớ canh rau thuần và gỏi cá lô ở quê, liền bỏ quan ra về. Đào Tiềm cũng ở

đời Tấn (Trung Quốc) đang lúc sức lực còn dồi dào đã cáo quan ra về để được vui với

cảnh hái cúc trông núi Nam. Nguyễn Bỉnh Khiêm đời Mạc trong lúc còn đang được

triều đình sùng kính, đã kiên quyết xin về ở ẩn, để "Thu ăn măng trúc, đông ăn giá",

90

"Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao". Nhưng động cơ trở về lại khác nhau. Trương Hàn về là

để được tự do nhàn hạ, Nguyễn Bỉnh Khiêm về là do chán ngán cảnh tranh giành

chém giết lẫn nhau giữa các tập đoàn phong kiến, lấy cái thú điền viên để giữ sạch

lương tâm, khí phách; để khuyên giải.... Còn Cao Bá Quát định về là lúc đã trọn nghĩa

với đời. Do đó tuy ông có xu hướng tìm sự nhàn tản, hư tịch nhưng vẫn là khuynh

hướng tích cực với đời, phù hợp với tâm lý con người (khi về già muốn nghỉ ngơi,

nhàn tản...)

Thực tế đã chứng minh một điều: Cao Bá Quát là một con người tập trung được

nhiều vẻ đẹp của đạo làm người Việt Nam. Đối với gia đình thì thân thương hết mức;

đối với quê hương Tổ quốc thì yêu mến hết lòng; đối với bạn bè thì hồn nhiên cởi mở;

đối người hoạn nạn thì đùm bọc cưu mang; đối với bọn cường hào thì hiên ngang, bất

khuất; đối với ngoại cảnh thì xuất hiện với tư thế của người làm chủ. Ở tư thế nào ông

cũng ngời sáng.

91

PHẦN KẾT LUẬN

Điều kiện lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ (Nửa đầu thế kỷ XIX) đã sinh ra Cao Bá

Quát, và chính Cao Bá Quát đã góp phần làm rõ những tư tưởng tốt đẹp, những đức

tính kiên cường bất khuất của con người Việt Nam. Trong ông là sự kết tinh của những

anh hùng dân tộc, những nhà văn hóa và tư tưởng lỗi lạc của dân tộc như: Trần Hưng

Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, Nguyễn Bỉnh Khiêm.... Lý tưởng vào đời

tích cực kết hợp với lập trường chính trị tiến bộ của ông đã khiến ông kế thừa và tiếp

thu những tinh hoa của dân tộc, để trở thành nhân vật hào kiệt trong lịch sử Việt Nam.

Qua thơ chữ Hán của ông chúng ta như hiểu thêm về những khát vọng, những

tình cảm, những quan niệm... mang tính chất đặc thù của nhà thơ.

Trong thực tế cuộc đời Cao Bá Quát, khát vọng tự do vốn là lý tưởng sống của

ông từ khi còn trai trẻ. Lý tưởng ấy như chi phối toàn bộ cuộc sống của Cao Bá Quát.

Nó khiến ông không bi quan, chán nản mà luôn có ý thức tiến vê phía trước với tinh

thần vượt lên khó khăn trong mọi hoàn cảnh. Ta luôn bắt gặp một tư thế chủ động, tự

tin, một tâm hồn phóng khoáng, dễ tiếp thu cái mới ở Cao Bá Quát. Vì lẽ đó, Cao Bá

Quát đã hướng cuộc đời của mình vào con đường công đanh. Bởi chỉ có công danh

mới giúp ông thực hiện lý tưởng sống của mình. Nhưng trong thực tế, công danh đã

đem lại nhiều nỗi buồn phiền cho ông. Hơn nữa, một chế độ suy tàn như nhà Nguyễn

thì làm sao có được sự nghiệp công danh cho đúng nghĩa của nó.

Để rồi ông từ bỏ công danh (vốn là con đường tiến thân vào đời) đứng lên khởi

nghĩa thay đổi một cuộc sống xã hội tốt đẹp hơn.

Cao Bá Quát luôn tâm niệm một điều: Làm người phải có nhân cách chân chính.

Đó là cái tư thế đứng trên tất cả một cách đường hoàng, hiên ngang. Cho dù cuộc đời

của ông có quá nhiều rủi ro nhưng ông luôn tự tin, mạnh mẽ và cái cơ bản là không bị

hoàn cảnh quật ngã, kể cả cảnh tù đày. Ông luôn mong muốn một con người có ích

cho dân, cho nước và đã sống thì phải sống cho trong sạch, thẳng thắn và có bản lĩnh

như cây sen, cây lan. Hơn nữa, đó là một cách sống giản dị, tự nhiên nhưng cũng

không kém phần cứng cỏi. Ông luôn coi hạnh phúc của cuộc đời mình là được sống

cho dân, cho nước. Và thực tế xã hội đã tác động tới ông, làm nảy nở trong ông cái

92

khát vọng chống áp bức bất công. Ông đã lên án tố cáo giai cấp thống trị một cách gay

gắt. Ông ước mong cứu vớt người dân vô tội ra khỏi những áp bức, bất công mà hành

động cụ thể nhất là khởi nghĩa chống lại triều đình với mục đích xây dựng một cuộc

sống xã hội tốt đẹp hơn. Đó là một xã hội có kỷ cương, trật tự với vua thánh, tôi hiền

(cho dù nó ẩn chứa trong đó nhiều hạn chế).

Như vậy, với tất cả những điều trên ta có thể nói rằng, Cao Bá Quát có một khí

phách hiên ngang, một tư thế hào hùng. Song bên cạnh đó, ta còn bắt gặp một Cao Bá

Quát với những lo âu, buồn bã, chán chường và một Cao Bá Quát rất đằm thắm, ngọt

ngào bởi tình cảm sâu nặng của ông với mọi người. Đó là những cái bên trong rất

thầm kín, rất riêng của Cao Bá Quát.

Cái buồn của ông chính là ở chỗ: cái tài, cái trí của mình không được giai cấp

thống trị chấp nhận và phát triển nó. Trong ông luôn có một sự dằn vặt, lo lắng về học

thuật nước nhà, về tình trạng tồi tệ của văn chương, về nhân cách làm người, về cuộc

sống nghèo khó của nhân dân...Và phải làm gì để dân được sống yên vui, đất nước

được thái bình...Tất cả đều quá lớn so với cái tâm của ông khiến ông nhiều lúc cảm

thấy bất lực, cô đơn...

Không chỉ dừng lại đó, ta còn thấy ở Cao Bá Quát một thứ tình cảm đằm thắm

với người thân, với mọi người và với quê hương đất nước... Đó là một thứ tình cảm rất

thiêng liêng, rất ngọt ngào như tiếp thêm sinh lực để Cao Bá Quát vững bước trên

đường đời.

Cao Bá Quát mất đi, những hoài bão của ông chưa kịp thực hiện nhưng đã để lại

cho đương thời nhiều ấn tượng tốt đẹp; cho đời sau một tấm gương sáng ngời về tấm

lòng nhân hậu, về cuộc sống trong sạch, về đức tính dũng cảm kiên cường. Nhiều thế

hệ cách mạng đã tìm được ở ông những lời cổ vũ, những niềm tự hào... trên bước

đường đấu tranh để giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân khỏi những thế lực áp

bức và tàn bạo.

Ở đầu thời kỳ hiện đại, nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu đã tìm đến ông, hy

vọng được ông tiếp sức trên bước đường cách mạng :

93

"Trên áng hương tâm hồn nổi dậy

Say ly rượu cúc trước chung trà"

(Đề hậu, Đọc tập thơ Cao Bá Quát - Phan Bội Châu)

Còn nhà thơ cách mạng của chúng ta, nhà thơ Sóng Hồng thì thấy tinh thần của

ông vẫn còn tỏa sáng :

"Dấu xưa nay biết đâu tìm ?

Thương ai bảy nổi ba chìm nước non

Trăng kia khi khuyết khi tròn

Tinh thần phản kháng vẫn còn sáng soi"

(Đến Gia-các-ta nhớ Cao Chu Thần - Sóng Hồng).

Đó chính là sự thương nhớ của người đời dành cho ông! Họ đã tìm thấy sự đồng

cảm giữa họ và con người ông, muốn được ông tiếp thêm sức mạnh, thêm ý chí và

nghị lực. Ông luôn ngời sáng tinh thần cao quý của dân tộc: dám hy sinh thân mình

cho nghĩa lớn, hy sinh hạnh phúc cá nhân cho một hạnh phúc to lớn hơn - hạnh phúc

của nhân dân. Đứng lên khởi nghĩa để chống lại triều đình nhà Nguyễn đã thể hiện

tinh thần quật khởi chống áp bức bất công của Cao Bá Quát và rộng hơn là của nhân

dân ta trong một chặng đường lịch sử dân tộc.

94

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. SÁCH LÝ LUẬN:

1. Hà Minh Đức, Lê Bá Hán (1984), Cơ sở lý luận văn học, Nxb Đại học và Trung

học chuyên nghiệp, Hà Nội.

2. Hà Minh Đức (chủ biên) (1997), Lý luận Văn Học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

3. Phương Lựu (1985), Về quan niệm văn chương ở Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà

Nội.

4. G.N. Pospélôv (1985), Dẫn luận nghiên cứu văn học, 2 tập, Nxb Giáo dục, Hà

Nội (dịch).

5. Trần Đình Sử (1996), Lý luận phê bình văn học, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

6. Chu Quang Tiềm (1991), Tâm lý văn nghệ mỹ học hiện đại, Nxb Thành phố Hồ

Chí Minh (dịch).

7. Nguyễn Minh Tấn (chủ biên)(1988), Từ trong di sản, Nxb Tác phẩm mới - Hội

Nhà văn Việt Nam, Hà Nội.

8. Lê Ngọc Trà (1990), Lý luận và văn học, Nxb Trẻ.

9. Lê Trí Viễn (1996), Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam, Nxb Khoa học Xã

hội, Hà Nội.

10. Lê Trí Viễn (1984), Đặc điểm có tính quy luật của lịch sử văn học Việt Nam, Đại

học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.

II. SÁCH NGHIÊN CỨU:

11. Phan Kế Bính (1970), Việt Hán văn khảo, Nxb Mặc Lâm, Sài Gòn (soạn xong

1918, xuất bản lần nhất 1930, lần hai 1938, lần ba 1970)

12. Hà Như Chi (1956), Việt Nam thi văn giảng luận, Nxb Tân Việt, Sài Gòn.

13. Nguyễn Duy Diễn (1957), Luận đề về Cao Bá Quát, Nxb Thăng Long, Sài Gòn.

14. Phạm Văn Diêu (1970), Việt Nam văn học giảng bình. Nxb Hoành Sơn (in lần 3,

có sửa chữa và tăng bổ), Sài Gòn.

15. Xuân Diệu (1982), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Nxb Văn Học, Hà Nội.

95

16. Lam Giang (1959), Giảng luận về Cao Bá Quát và Cao Bá Nhạ, Tân Việt, Sài

Gòn.

17. Nhiều tác giả (1997), Văn học cổ cận đại Việt Nam, in lần thứ 4, của Đại học

quốc gia Hà Nội, Nxb Văn học, Hà Nội.

18. Nhiều tác giả (1978). Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ

XIX, Nxb Văn học, Hà Nội in lần 2.

19. Nguyễn Văn Hoàn (1980), Lịch sử văn học Việt Nam, tập I UBKHXHVN, Nxb

KHXH, Hà Nội.

20. Sa Minh Tạ Thúc Khải (1971), Cao Chu Thần thi tập trích dịch, Trung tâm Học

liệu, Bộ Giáo dục, Sài Gòn.

21. Vũ Khiêu giới thiệu, nhóm dịch giả (1970). Thơ chữ Hán Cao Bá Quát, tuyển

dịch in lần thứ nhất, Nxb Văn Học Hà Nội (có kèm theo nguyên văn chữ Hán và

bản chụp bút tích Cao Bá Quát), và in lần thứ hai, NXB Văn học, 1976 (không có

bản chụp và bút tích Cao Bá Quát cũng như nguyên văn chữ Hán).

22. Vũ Khiêu giới thiệu, nhóm dịch giả (1984). Thơ văn Cao Bá Quát, in lần thứ ba

có bổ sung, sửa chữa (có thêm phần thơ Nôm), Nxb Văn học và bản in lần thứ tư,

Nxb Văn học, 1997 (in lần đầu và in lần thứ tư lấy tên: Thơ chữ Hán Cao Bá

Quát)

23. Trúc Khê (1940), Cao Bá Quát danh nhân truyện ký, Nxb Tân dân, Hà Nội (in

lần thứ nhất, có xen kèm chữ Hán) và bản in lại của Trúc Khê thư xã, Hà Nội,

1952.

24. Nguyễn Lộc (1978), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ

XIX, tập II, Nxb. Đại học và THCN, Hà Nội.

25. Nguyễn Lộc (1999), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX,

Nxb Giáo dục, Hà Nội.

26. Nguyễn Nghiệp (1982), Cao Bá Quát, Nxb Văn hóa, Hà Nội.

27. Phạm Thế Ngũ (1969), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập II, Quốc học

tùng thư. Sài Gòn.

28. Thuần Phong (1960), Cao Bá Quát và Cao Bá Nhạ, Nxb Đoàn Văn, Sài Gòn.

96

29. Doãn Quốc Sỹ - Việt Tử (1959), Khảo luận về Cao Bá Quát, nhà in Nam Sơn,

Sài Gòn.

30. Chu Thiên (1963), Cao Bá Quát và cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương, Thông báo khoa

học, tập I - Sử học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

31. Nguyễn Tài Thư (1980) Cao Bá Quát con người và tư tưởng, Nxb.KHXH, Hà

Nội.

32. Lê Trí Viễn (1985), Lịch sử văn học Việt Nam (Văn học viết thời quốc gia phong

kiến độc lập - thế kỷ X - giữa thế kỷ XIX), Trường ĐHSP TP.HCM, lưu hành nội

bộ.

33. Lê Trí Viễn (1978), Phan Côn, Đặng Thanh Lê, Phạm Văn Luận, Lê Hoài Nam,

Lịch sử văn học Việt Nam tập III. Văn học viết, Nxb Giáo dục.

III. BÁO CHÍ:

34. Nguyễn Anh (1972), Cao Bá Quát, kẻ bất đắc chí, con người nổi loạn hay nhà

cách mạng? Tạp chí Văn học, Sài Gòn, tháng 12.

35. Hoa Bằng (1969), Cao Bá Quát với cuộc khởi nghĩa chống triều Nguyễn (1854-

1856), tạp chí nghiên cứu lịch sử. Hà Nội. số 121, tháng 4.

36. Hoa Bằng (1972), Một vài tìm tòi về câu đối tương truyền là của Cao Bá Quát và

về bài thơ "Thú Hương Sơn", tạp chí Văn học, Hà Nội, số 2, tháng 3 và 4.

37. Nguyễn Huệ Chi (1962), Tìm hiểu nhân sinh quan tích cực trong thơ Cao Bá

Quát, tạp chí nghiên cứu Văn học, Hà Nội, số 6.

38. Xuân Diệu, Cao Bá Quát, tạp chí Tác phẩm mới, Hà Nội, số 11, tháng 1- 2- 1971

39. Lữ Hồ (1958), Bài ca của một cuồng sĩ, tạp chí Sáng tạo, số 18, tháng 3.

40. Châu Hải Kỳ (1957), Phải chăng Cao Bá Quát là tác giả của các câu đối dưới

đây ? Tạp chí Giáo dục Phổ thông, Sài gòn, số 4.

41. Nguyễn Tường Phượng (1934), Một nhân vật tỉnh Bắc Ninh, ông Cao Bá Quát,

tạp chí Nam phong, tập 35, số 209, Décembre.

42. Nguyễn Ngọc Quận (1998), Quan niệm của Cao Bá Quát về văn học, tập san

KHXH và NV, số 6, Trường ĐH KHXH và NV TP.HCM.

97

43. Nguyễn Ngọc Quận (1999), Tình hình nghiên cứu về Cao Bá Quát trước Cách

mạng tháng 8, tập san KHXH và NV, Chuyên san Văn học, số 9, Trường ĐH

KHXH và NV TP. HCM.

44. Nguyễn Ngọc Quận (2001) Tình hình nghiên cứu về Cao Bá Quát sau Cách

mạng tháng 8-1945, tập san KHXH & NV, Chuyên san Văn học, số 17, Trường

ĐH KHXH và NV TP. HCM.

45. Nguyễn Ngọc Quận (2002), Vài nhận xét về tập thơ văn Cao Bá Quát, tập san

KHXH và NV, số 20.

46. Claudine Salmon và Tạ Trọng Hiệp (1996), Sứ thần Việt Nam Cao Bá Quát và

nhận thức của ông qua chuyến đi công cán "Vùng Hạ Châu", (bản dịch từ tiếng

Pháp của Nguyễn Văn Kiệm), tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5.

47. Claudine Salmon và Tạ Trọng Hiệp (1997), Sứ thần Việt Nam Cao Bá Quát và

nhận thức của ông qua chuyến đi công cán "Vùng Hạ Châu", (bản dịch từ tiếng

Pháp của Nguyễn Văn Kiệm)(tiếp theo), tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1.

48. Nguyên Sa (1957), Cái chết của người thi sĩ, tạp chí Sáng tạo, Sài Gòn, số 4,

tháng giêng.

49. Bùi Duy Tân (1979), Bài thơ Trào triết lý Phật không phải của Cao Bá Quát, tạp

chí Văn học.

50. Chu Thiên (1964), Một bài thơ nói về Cao Bá Quát tử trận, tạp chí Văn học, Hà

Nội.

51. Mai Trân (1964), Hai bài thơ của Miên Thẩm về Cao Bá Quát, tạp chí Văn học,

Hà Nội, số 6.

52. Nguyễn Đức Tiếu (1962), Xung quanh cái chết của nhà danh sĩ số I Triều

Nguyễn. Sự lập chí của Cao Bá Quát, tạp chí Bách khoa thời đại, Sài Gòn, số

143, ngày 15-12.

53. Tảo Trang (1963), Góp thêm tài liệu về năm sinh và chỗ ở của Cao Bá Quát, tạp

chí Văn học, Hà Nội, số5, tháng 11.

98