intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh Phú Thọ

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:82

0
542
lượt xem
122
download

LUẬN VĂN: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh Phú Thọ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Huy động, sử dụng vốn đầu tư nói chung và xây dựng cơ bản nói riêng nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế luôn là một vấn đề quan trọng và cần được giải quyết chặt chẽ mới mang lại hiệu quả cao nhất. Bất cứ một ngành, một lĩnh vực nào để đi vào hoạt động đều phải thực hiện đầu tư cơ sở vật chất, tài sản cố định, vì vậy đầu tư xây dựng cơ bản luôn là vấn đề đặc biệt được quan tâm. Trong những năm qua, đầu...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh Phú Thọ

  1. LUẬN VĂN: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh Phú Thọ
  2. Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Huy động, sử dụng vốn đầu tư nói chung và xây dựng cơ bản nói riêng nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế luôn là một vấn đề quan trọng và cần được giải quyết chặt chẽ mới mang lại hiệu quả cao nhất. Bất cứ một ngành, một lĩnh vực nào để đi vào hoạt động đều phải thực hiện đầu tư cơ sở vật chất, tài sản cố định, vì vậy đầu tư xây dựng cơ bản luôn là vấn đề đặc biệt được quan tâm. Trong những năm qua, đầu tư xây dựng cơ bản đã góp phần không nhỏ đối với tăng trưởng và phát triển nền kinh tế của nước ta. Rất nhiều công trình về các lĩnh vực nh ư: năng lượng, công nghiệp khai thác, chế biến, cơ sở hạ tầng, nông, lâm nghiệp được đầu tư xây dựng làm tiền đề cho việc chấn hưng và phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đầu tư và đầu tư xây dựng cơ bản vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, đặc biệt là hiệu quả của đầu tư xây dựng cơ bản còn thấp; thất thoát và lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản còn nhiều và diễn ra ở tất cả các khâu như: Chủ trương đầu tư; lập dự án, thiết kế; thi công xây dựng; quản lý khai thác... Đây là một trong những vấn đề bức xúc của toàn xã hội, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của bộ máy chính trị và toàn thể nhân dân cần phải đồng bộ thực hiện. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 9 (khoá IX) đã nhận định: Chất lượng của các chiến lược và quy hoạch xây dựng còn thấp, lại chậm được bổ sung, điều chỉnh kịp thời. Còn thiếu sự phối hợp đồng bộ, hài hoà giữa chiến lược, quy hoạch phát triển ngành với quy hoạch, kế hoạch phát triển vùng và địa phương. Còn để kéo dài tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, chưa tính toán kỹ hiệu quả, nhất là trong đầu tư bằng vốn ngân sách và tín dụng ưu đãi của Nhà nước... [12, tr.34]. Nghị quyết phiên họp thường kỳ tháng 12 năm 2005 của Chính phủ cũng đã xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm của năm 2006 là chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, đặc
  3. biệt là trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản... Đại hội Đại biểu Đảng lần thứ X đã tiếp tục khẳng định: "Nhiều nguồn lực và tiềm năng trong nước chưa được huy động và khai thác tốt. Đầu tư của Nhà nước còn dàn trải, bị thất thoát nhiều. Một số công trình lớn, quan trọng của quốc gia không hoàn thành theo kế hoạch. Lãng phí trong chi tiêu ngân sách Nhà nước và tiêu dùng xã hội còn nghiêm trọng" [13, tr.62]. Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, quá trình thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản tại tỉnh Phú Thọ đã có những kết quả thành công nhất định, nhờ đó mà tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đã đạt được khá cao so với mức bình quân chung của cả n ước trong nhiều năm. Năm 2005, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 10,5%, dự kiến năm 2006 đạt 11,5%. Tuy vậy, hiệu quả của đầu tư xây dựng cơ bản chưa đạt được mục tiêu đề ra; tồn tại, hạn chế còn xảy ra ở tất cả các khâu. Thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản chưa được khắc phục triệt để. Là cán bộ đang công tác tại tỉnh Phú Thọ, với những kiến thức đã được học và kinh nghiệm qua công tác thực tế, tôi lựa chọn đề tài: " Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh Phú Thọ " làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế phát triển. 2. Tình hình nghiên cứu Hiện nay đã có nhiều tác giả và nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đầu tư và đầu tư xây dựng cơ bản cũng như những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn nói chung và vốn đầu tư xây dựng cơ bản nói riêng, đề xuất các giải pháp chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản, trong đó có một số công trình khoa học tiêu biểu như: - Nguyễn Văn Lai, "Những giải pháp chủ yếu nhằm huy động vốn trong nước phục vụ phát triển kinh tế Việt Nam", Luận án PTS Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1996. - Trần Hồ Lan, "Những biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam", Trường Đại học Kinh tế quốc dân, 2003. - Nguyễn Đẩu, "Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển kinh tế thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp", Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, 1999, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
  4. - Thế Đạt - Minh Anh, Đầu tư và hiệu quả, Nxb Lao động, 1993. - Nguyễn Ngọc Mai, "Phân tích và quản lý các dự án đầu tư", Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 1995. - Nguyễn Hồng Minh, "Phân tích hiệu quả đầu tư", Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1993. - Trương Quốc Cường, Một số vấn đề về xác định hiệu quả kinh tế của đầu tư, Tạp chí Ngân hàng, số 22 tháng 11/1998. - GS.TS Trần Văn Chử, "Thất thoát trong đầu tư phát triển: nguyên nhân và giải pháp khắc phục", Tạp chí Lý luận chính trị, số 6/2005. - Phan Tất Thứ, "Hoàn thiện phương pháp đánh giá hiệu quả dự án đầu tư công cộng tại Việt Nam", Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, năm 2005. - Trịnh Đình Dũng, "Những giải pháp chủ yếu khắc phục thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản", Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2000. - Lưu Sỹ Quý, "Một số nguyên nhân nợ vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước", Tạp chí Tài chính, số 4/năm 2006. - TS. Trần Đình Khải, "Một số vấn đề về đổi mới quản lý đầu tư xây dựng và đấu thầu ở nước ta hiện nay", Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 12/năm 2005. - TS. Lê Hùng Sơn, "Biện pháp góp phần chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng", Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, số 3/năm 2006. Nhìn chung các công trình khoa học nêu trên đã đề cập đến tình hình quản lý, phát huy việc huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, tại tỉnh Phú Thọ, cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về vấn đề này. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu * Mục đích:
  5. Luận văn khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay. * Nhiệm vụ: - Khái quát cơ sở lý luận và quy định quản lý hiện hành về vốn đầu tư xây dựng cơ bản. - Phân tích, đánh giá thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh Phú Thọ hiện nay. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh Phú Thọ đến năm 2010. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến việc sử dụng hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở tỉnh Phú Thọ. * Phạm vi nghiên cứu: Tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh Phú Thọ từ năm 1997 cho đến nay (từ khi chia tách tỉnh Vĩnh Phú cũ). Vốn đầu tư xây dựng cơ bản được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, tuy nhiên trong nội dung luận văn này chủ yếu tập trung nghiên cứu hiệu quả của đầu tư từ nguồn vốn NSNN. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu * Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển kinh tế. * Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu gồm: Điều tra khảo sát, so sánh phân tích, tổng hợp; kế thừa các công trình khoa học đã có về lý thuyết về kinh tế và thực tiễn; lượng hoá một số chỉ tiêu đánh giá. 6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
  6. - Hệ thống hoá các lý thuyết về đầu tư nói chung, đầu tư xây dựng cơ bản nói riêng và vai trò của nó đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế. - Trình bày và phân tích một số chỉ tiêu đánh giá cụ thể về hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh Phú Thọ. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh Phú Thọ trên cơ sở điều kiện đặc thù riêng của địa phương. 7. ý nghĩa thực tiễn của luận văn Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các tổ chức và các cá nhân trong quá trình thu hút các nguồn vốn và sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.
  7. Chương 1 Cơ sở lý luận về hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản 1.1. Khái niệm và vai trò của vốn đầu tư xây dựng cơ bản 1.1.1. Khái niệm về vốn đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư theo nghĩa rộng là quá trình bỏ vốn bao gồm cả tiền, tài sản, để đạt được mục tiêu nhất định nào đó, trong đó có mục tiêu kinh tế. Trong hoạt động kinh tế, đầu tư có thể biểu hiện cụ thể hơn và mang bản chất kinh tế, đó là hoạt động đầu tư nhằm mục tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận là một tiêu chuẩn cơ bản và chủ yếu của hoạt động đầu tư. ở đây hoàn toàn không có khái niệm đầu tư không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Vốn đầu tư phát triển là những chi phí bỏ ra làm tăng tài sản cố định, tài sản lưu động, tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực, nâng cao mức sống dân cư và là mặt bằng dân trí, bảo vệ môi trường sinh thái trong một thời gian nhất định. Trong các khoản mục vốn đầu tư phát triển thì vốn đầu tư xây dựng cơ bản là bộ phận quan trọng và chiếm tỷ lệ lớn nhất. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là những chi phí bằng tiền dùng cho việc xây dựng mới, mở rộng, xây lại và khôi phục tài sản cố định trong nền kinh tế. Dựa trên quan điểm của quá trình tái sản xuất mở rộng, khái niệm đầu tư có thể hiểu là quá trình chuyển hoá vốn thành các yếu tố cần thiết cho việc tạo ra năng lực sản xuất và các yếu tố cơ bản, tiên quyết cho quá trình phát triển sản xuất kinh doanh. Đầu tư là hoạt động mang tính thường xuyên, của tất cả các quốc gia và là nền tảng của sự phát triển. Hoạt động đầu tư phải nhằm tạo ra năng lực sản xuất cao hơn, có thể được thực hiện thông qua nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước, trong đó đặc biệt phải lưu ý là nguồn vốn tích luỹ trong nước của quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, nhiều quốc gia đặc biệt là các nước đang phát triển đang đứng trước những thiếu hụt về vốn cho đầu tư phát triển, do chưa có tích luỹ hoặc mức độ tích luỹ thấp. Nước ta đang ở thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, nhu cầu vốn rất lớn, nhất là
  8. vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, nhưng vốn trong nước còn hạn hẹp nên phải huy động và đa dạng hóa các nguồn vốn, đặt biệt là bổ sung nguồn vốn từ bên ngoài cho nhu cầu đầu tư phát triển. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về đầu tư xây dựng cơ bản. Theo Trường Đại học Kiến trúc: "Đầu tư cơ bản là hoạt động đầu tư để tạo ra các tài sản cố định đưa vào hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội nhằm thu được lợi ích dưới hình thức khác nhau. Hoạt động đầu tư cơ bản thực hiện bằng cách tiến hành xây dựng mới các tài sản cố định được gọi là đầu tư xây dựng cơ bản" [34, tr.10]. Đầu tư cơ bản là hoạt động đầu tư để tạo ra các tài sản cố định đưa vào hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế xã hội nhằm thu được lợi ích dưới các hình thức khác nhau. Hoạt động đầu tư xây dựng thực hiện bằng cách tiến hành xây dựng các tài sản cố định được gọi là đầu tư xây dựng cơ bản. Xây dựng cơ bản chỉ là một khâu trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, là các hoạt động cụ thể để tạo ra tài sản cố định như: Khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt... [9, tr.4]. Đầu tư xây dựng cơ bản là hình thức đầu tư chủ yếu và phổ biến nhất. Người có vốn đầu tư xây dựng cơ bản gắn liền với hoạt động kinh tế của quá trình đầu tư nhằm góp phần và nâng cao năng lực sản xuất hiện có, tạo ra năng lực sản xuất mới cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm sinh lợi. Đầu tư xây dựng cơ bản, đó là việc bỏ vốn vào việc xây dựng, mua sắm tài sản cố định trong lĩnh vực sản xuất (nhà xưởng, thiết bị, máy móc) và trong lĩnh ực không sản xuất vật chất (nhà ở, bệnh viện, trường học...) và trong lĩnh vực thuộc cơ sở hạ tầng (cầu đường, bến cảng, sân bay). Đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm cả việc xây dựng các xí nghiệp, công trình sẵn có (không kể các chi phí sửa chữa, kể cả sửa chữa lớn tài sản cố định). Đầu tư xây dựng cơ bản là yếu tố quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất mở rộng, phát triển khoa học - kỹ thuật, tăng năng suất lao động, nâng cao đời sống, vật chất tinh thần và văn hoá của nhân dân. Đầu tư vào các hoạt động kinh tế luôn phải tuân thủ tính hiệu quả theo những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Chính vì vậy, các hoạt động đầu tư trong lĩnh vực này phải
  9. vạch ra được các mục tiêu cụ thể trong khoảng thời gian, không gian trên cơ sở phân tích, tính toán một cách khoa học, chặt chẽ nhằm đảm bảo hoạt động đầu tư mang lại hiệu quả ngày càng cao. Bởi vì đầu tư xây dựng cơ bản là một quá trình lâu dài, đòi hỏi nhiều vốn, thời gian và phụ thuộc vào nhiều nhân tố khách quan và chủ quan khác nhau, do vậy việc tuân thủ theo đúng qui trình, trình tự là yếu tố bắt buộc. Thông thường trình tự đầu tư bao gồm ba giai đoạn cơ bản: Chuẩn bị đầu tư; thực hiện đầu tư, kết thúc xây dựng, nghiệm thu công trình và đưa vào sử dụng, khai thác. Vì vậy, việc thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản đầy đủ và nghiêm túc các trình tự xây dựng cơ bản có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản của việc thực hiện đầu tư. 1.1.2. Vai trò của vốn đầu tư xây dựng cơ bản đối với phát triển kinh tế - xã hội Đầu tư xây dựng cơ bản có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế của tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Nước ta đang trong thời kỳ CNH, HĐH theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, công tác đầu tư xây dựng cơ bản có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước đã đề ra, nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả các tài nguyên khoáng sản, lao động, đất đai, vốn và các nguồn lực khác trong xã hội, đồng thời phải bảo vệ và phát triển môi trường sinh thái để tăng cường cơ sở vật chất cho sự phát triển bền vững. Hoạt động đầu tư đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp từng thời kỳ phát triển, bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế chung, tăng nhanh tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân và phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư xây dựng cơ bản là một trong những nhân tố cơ bản tạo nên lực lượng sản xuất ngày càng có trình độ cao hơn. Tất cả các ngành kinh tế chỉ có thể tăng trưởng nhanh, nếu có đầu tư xây dựng cơ bản, đổi mới kỹ thuật và công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nhờ có đầu tư xây dựng cơ bản mà ngày càng có nhiều các công trình văn hoá, giáo dục, y tế, nhà ở để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Chỉ tính trong 5 năm (từ 2001 - 2005), tổng số vốn đầu tư được huy động và đưa vào nền kinh tế, tính theo giá năm 2000, đạt khoảng 976 nghìn tỷ đồng, gấp 1,76 lần so với năm
  10. năm 1996-2000. Vốn đầu tư nhà nước chiếm 54,1% trong tổng cơ cấu vốn đầu tư, vốn đầu tư của khu vực tư nhân chiếm 26,6%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 16,6% và vốn khác là 2,7% [5, tr.35]. Nhờ có các nguồn vốn đó (đặc biệt là nguồn vốn trong nước), mà quy mô đầu tư cho các ngành, lĩnh vực, các vùng, đặc biệt các vùng khó khăn đều được tăng. Nhiều công trình kết cấu hạ tầng đã được hoàn thành và đang triển khai như: nâng cấp đường quốc lộ 1, quốc lộ 2, quốc lộ18, quốc lộ 10, cầu Phả Lại, cầu Mỹ Thuận, hoàn thành việc nâng cấp và đưa vào sử dụng nhà ga T1 sân bay quốc tế Nội Bài, xây dựng nhà ga hành khách quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất, mở rộng và xây dựng mới các cảng biển Hải Phòng, Cái Lân, Dung Quất... đang xây dựng các cầu lớn Thanh Trì, Cần Thơ, cầu Rạch Miễu. Năng lực sản xuất các ngành kinh tế được tăng lên đáng kể, công suất điện tăng 4.863 MW, sản lượng khai thác than sạch tăng 15,4 triệu tấn, trong lĩnh vực thủy lợi năng lực tưới tăng thêm 975 nghìn ha, đường giao thông nông thôn tăng 650.004 km. Nhờ có đầu tư mà tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam 1990-2005 tăng hơn 3 lần. Tốc độ tăng GDP bình quân 7,5%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 24% năm 2004 (theo tiêu chí của Liên hiệp quốc) [5, tr.32, 35, 37]. Những con số đó để thấy vai trò của đầu tư to lớn như thế nào đối với việc phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong thời gian qua. Vai trò của đầu tư thông qua chính sách đầu tư đúng đắn có ý nghĩa quan trọng, không ngừng góp phần mở rộng và nâng cao năng lực sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội có hiệu quả mà còn khuyến khích đầu tư phát triển từ các thành phần kinh tế, từ đó làm cho nền kinh tế phát triển có hiệu quả cao hơn. Với một nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, vai trò của đầu tư càng có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, làm tăng sức cạnh tranh trên thị trường nhờ đó làm cho đầu tư ngày càng có hiệu quả hơn. Đối với nước ta hiện nay, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì vai trò quản lý điều hành của Nhà nước về đầu tư phải phù hợp với quy luật khách quan của cơ chế thị trường. Nhà nước thể hiện vai trò quản lý của mình bằng việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư phù hợp với từng giai đoạn phát triển và mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đã đặt ra, để mục tiêu xây dựng đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020.
  11. Trong xu thế của hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực và cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật thì sản phẩm của đầu tư xây dựng cơ bản cũng có vai trò lớn về mặt kiến trúc, khoa học, văn hoá dân tộc, nghệ thuật, an ninh và quốc phòng. 1.2. Những nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản 1.2.1. Đặc điểm của sản phẩm xây dựng cơ bản Sản phẩm xây dựng cơ bản mang tính đặc biệt và tổng hợp. Theo Đại từ điển kinh tế thị trường: "Xây dựng cơ bản là chỉ việc tái sản xuất tài sản cố định, bao gồm mở rộng tái sản xuất đơn giản sắp xếp lại hoàn toàn" [10, tr.260]. Đó là những công trình xây dựng như nhà máy, các công trình công cộng, nhà ở, trụ sở, cầu, cống, cảng, sân bay... Các sản phẩm này được sản xuất không theo một dây chuyền nhất định và hàng loạt, mà từng công trình đều có những kiểu riêng, nét riêng. Ngay trong một công trình cụ thể, tính chất kết cấu, kiểu dáng của từng khu vực cũng khác nhau. Do vậy, các sản phẩm của đầu tư xây dựng cơ bản thường không có tính chất liên tục trong quá trình sản xuất. Sản phẩm của đầu tư xây dựng cơ bản phải trải qua một thời gian dài mới có thể đưa vào sản xuất hoặc sử dụng. Bên cạnh đó, địa điểm xây dựng các công trình đồng thời cũng là nơi tiêu thụ các nguyên nhiên liệu, các vật liệu, bán thành phẩm, vì vậy nó thường hay bị thay đổi phụ thuộc vào điều kiện thiên nhiên hoặc giá cả của các loại đầu vào đó. Đó chưa kể đến nguyên nhân chủ quan của các chủ đầu tư là hay thay đổi thiết kế. Ví dụ mưa bão, tắc đường không vận chuyển vật liệu vào công trình, công nhân chờ việc, dẫn đến chi phí tăng. Sản phẩm xây dựng cơ bản gắn chặt với đất đai nơi sản xuất và sử dụng. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thường lớn, thời gian sử dụng cũng như thời gian từ khởi công cho đến khi hoàn thành thường rất dài. Do vậy, khi tiến hành xây dựng một công trình, đặc biệt là các công trình liên quan nhiều đến kinh tế - xã hội, môi trường cần phải hết sức cẩn thận, có luận chứng khoa học, có tính đến dài hạn, từ khi lập dự án tiền khả thi, khả thi, chọn địa điểm xây dựng, thiết kế công trình, tổ chức thi công, lựa chọn đội ngũ cán bộ, công nhân, tránh tình trạng sửa chữa, bổ sung thiết kế, phá đi, làm lại, di chuyển dự án, gây thiệt hại, lãng phí làm chậm tiến độ sử dụng các công trình, đó là độ trễ trong đầu tư. Sản phẩm xây dựng cơ bản không chỉ thuần tuý mang tính kinh tế - kỹ thuật, mà còn có ý nghĩa nhân văn, kiến trúc, mang màu sắc văn hoá, dân tộc nơi công trình đó được xây
  12. dựng. Do vậy, khi thiết kế, hoàn thành các sản phẩm này phải phản ánh trình độ phát triển khoa học - kỹ thuật, trình độ kinh tế và trình độ văn hoá kỹ thuật phù hợp với từng giai đoạn phát triển của một đất nước. Xây dựng cơ bản là quá trình thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản mang tính không ổn định do thiết kế thay đổi, địa điểm xây dựng công trình luôn thay đổi (xây dựng ở nhiều vị trí khác nhau ngay tại cùng một công trình). Sản phẩm xây dựng thường đứng im trong quá trình sản xuất, còn con người, máy móc, thiết bị lại luôn di chuyển, nguyên vật liệu nhiều, khối lượng lớn, nhu cầu vận chuyển nhiều dẫn đến chi phí cao, đặc biệt một số sản phẩm siêu trường, siêu trọng nên càng làm tăng khó khăn và chi phí. Chu kỳ sản xuất và chi phí xây dựng cơ bản cao. Nhiều công trình xây dựng cơ bản lớn thường có nhiều đơn vị tham gia, do vậy việc phối hợp chặt chẽ để đảm bảo tiến độ, chất lượng, thời gian luôn là một vấn đề không đơn giản. Do vậy, các nhà thầu phải hiểu và nắm chắc tổng dự toán, dự toán các hạng mục công trình và thường xuyên trong quá trình thi công. Trong xây dựng cơ bản, vấn đề không tính hết và đầy đủ, trong đó phải kể đến các nhà máy sản xuất, là ảnh hưởng của công trình đó đến môi trường, sản xuất và cư trú của dân cư. Khi xây dựng nhà máy, đã không tính đến ảnh hưởng của môi trường như nhà máy hoá chất, nhà máy sản xuất mỳ chính... Hoặc không tính đến độ vĩnh cửu của các công trình xây dựng, hoặc mỹ thuật, nên khi hoàn thành thì nhiều công trình còn gây cảm giác khó chịu, gây mất mỹ quan, thuần phong mỹ tục của đất nước, dân tộc. 1.2.2. Các nhân tố cơ bản tác động đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản 1.2.2.1. Chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế của đất nước, ngành và địa phương Việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, ngành, địa phương phải dựa trên những điều kiện, lợi thế, tiềm năng và khả năng của đất nước, địa phương và từng ngành, lĩnh vực cụ thể. Trong giai đoạn hiện nay, chiến lược đó lại phải phù hợp với thực tiễn của đất nước, vừa phải phù hợp với xu thế phát triển của cả thế giới và khu vực. Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã nhấn mạnh:
  13. Định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường. Đổi mới căn bản công tác quy hoạch, kế hoạch phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế, phát huy tối đa mọi lợi thế so sánh của quốc gia, vùng và địa phương, thu hút mọi nguồn lực tham gia phát triển kinh tế - xã hội [13, tr.78]. Nếu xác định tốt chiến lược, thực hiện có quy hoạch chiến lược đó thì đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia. Do vậy, việc xây dựng đồng bộ dài hạn chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là một yêu cầu bức thiết, tất yếu khách quan của quá trình phát triển đất nước theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngày nay, trong xu thế biến đổi rất nhanh chóng của nền kinh tế thế giới, sự lớn mạnh và tăng cường của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, nhiều quốc gia đã đưa ra những chiến lược phát triển dài hạn theo những định hướng lớn, trong chiến lược dài hạn đó, có những chiến lược "mềm", linh hoạt được thay đổi theo sự thay đổi của tình hình thế giới và hoàn cảnh của đất nước. ở Việt Nam, đã xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010, kế hoạch 5 năm 2001-2005, 2005-2010 và có định hướng phát triển đất nước đến năm 2020, hàng năm có những thay đổi nếu thấy cần thiết để phù hợp với tình hình của đất nước và thế giới. Để quản lý, thực hiện chiến lược phát triển đất nước, thì cần phải có nhiều công cụ và chính sách, trong đó có công cụ quy hoạch. Quy hoạch là cụ thể hoá mục tiêu, giải pháp và nhiệm vụ để thực hiện chiến lược đó. Do vậy, nếu quy hoạch sai thì sẽ dẫn đến những sai lầm mà đất nước phải gánh chịu, đặc biệt phải hạn chế tối đa những quy hoạch sai mà nhiều năm không khắc phục được hoặc khắc phục lại quá tốn kém. Nếu quy hoạch tốt, thì sẽ bố trí hợp lý, bền vững về các công trình, hiệu quả phù hợp với điều kiện của đất nước, vùng, địa phương và ngành. Ngược lại, nếu qui hoạch không tốt, thiếu sự thực hiện đồng bộ giữa qui hoạch ngành, qui hoạch phát triển địa phương, qui hoạch tổng thể cộng thêm sự phát triển cục bộ, thực hiện chồng chéo sẽ dẫn đến sự lãng phí rất lớn, không đem lại được hiệu quả của vốn đầu tư. Thực tế những năm qua, việc quyết định đầu tư cơ sở hạ tầng của cả xã hội là rất cần thiết và đã đem lại hiệu quả. Tuy nhiên,
  14. cũng không ít những trường hợp do chỉ suy tính đến phát triển của địa phương mà chưa tính đến qui hoạch chung nên hiệu quả chưa đạt được như mục tiêu đã đề ra. Vấn đề này, nhiều chuyên gia nước ngoài sau khi nghiên cứu đã không khỏi có những ngạc nhiên khi thấy rằng ở Việt Nam có gần 80% người dân, với mức thu nhập dưới 500 USD/người/năm; tổng kim ngạch xuất khẩu dưới 30,0 tỷ USD/năm nhưng lại có tới 110 cảng biển, 61 cảng hàng không và sân bay, đáng chú ý trong đó có nhiều cảng biển, sân bay được qui hoạch xây dựng quá gần nhau nên vô hình chung đã tự hạn chế sự phát triển của nhau và lãng phí nguồn lực của đất nước. Ví dụ, Cảng Hòn La (Quảng Bình) chỉ cách cảng Vũng áng 25km, cảng Chân Mây (Thừa Thiên Huế) cách cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) 30km, cảng Dung Quất cách cảng Kỳ Hà 10km, khoảng cách giữa sân bay Quảng Bình và sân bay Phú Bài (Thừa Thiên Huế) rất nhỏ, thời gian đi bằng đường bộ chỉ khoảng 2 đến 3 giờ [29, tr.39]. Qua đây cho thấy, việc thực hiện có cơ sở khoa học, thực tiễn để đầu tư có ưu tiên, có trọng điểm các công trình xây dựng cơ bản, lượng vốn đầu tư, bố trí cụ thể, thích hợp từng dự án, từng công trình, tránh việc đầu tư dàn trải mới nghĩ đến được thu được hiệu quả nguồn lực đầu tư. 1.2.2.2. Nhóm nhân tố về các yếu tố của nguồn lực Khi nói đến các yếu tố của nguồn lực, người ta thường hay nói đến quy mô, số lượng, đặc biệt là chất lượng của các yếu tố đầu vào. Nếu ta gọi các biến số đầu vào là Xi, hàm số đầu ra là Y, thì mối quan hệ giữa đầu ra (GDP) với đầu vào như sau: Y = f (Xi) Trong đó: Xi là các yếu tố đầu vào cụ thể như sau: K : Vốn L : Lao động R : Tài nguyên thiên nhiên T : Khoa học và công nghệ [27, tr.28]. Các yếu tố này có quan hệ tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển. Song, tuỳ theo từng quốc gia cụ thể thì quy mô, cơ cấu và tỷ trọng của các yếu tố đầu vào là khác nhau. Ví dụ, các quốc gia phát triển, vốn nhiều, giá vốn thấp thì họ sử dụng nhiều vốn; quốc gia nào nhiều tài nguyên thiên nhiên thì họ sẽ sử dụng lợi thế của mình là tài nguyên thiên nhiên, quốc gia nào có quy mô dân số lớn, lao động nhiều, thì có lợi thế là quy mô lao động và nhân công
  15. giá rẻ. Tuy nhiên, điều quan trọng cơ bản là sử dụng các biến số này như thế nào cho có hiệu quả mới là quyết định. Ngày nay, trong xu thế của sự lớn mạnh của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, thì nguồn lực con người đặc biệt là nguồn lao động có chất lượng luôn là yếu tố quyết định. Bởi vì, con người lao động quyết định từ khâu ý tưởng ban đầu đến khâu cuối cùng là phải có sản phẩm cho xã hội, do vậy, họ phải có năng lực, sức khoẻ, phẩm chất. Nói cách khác, người lao động đồng thời là nguồn lực và chính người lao động mới có khả năng và đủ điều kiện để sử dụng các nguồn lực khác. Tuy vậy, nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có nước ta cần rất nhiều vốn để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì yếu tố vốn cũng đóng vai trò rất quan trọng. Trong tình hình hiện nay, cũng cần phải nhắc lại lần nữa, các nguồn lực là quan trọng, không thể thiếu, nhưng quan trọng hơn là phải sử dụng chúng như thế nào cho có hiệu quả và hợp lý mới có tính quyết định. 1.2.2.3. Tác động của cơ chế và chính sách đến hiệu quả đầu tư Chính sách và cơ chế đầu tư là nhân tố chủ quan, nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả đầu tư. Nếu có cơ chế và chính sách đúng thì sẽ huy động và khai thác tốt các điều kiện khả năng, lợi thế so sánh của các quốc gia, các doanh nghiệp và dân cư. Chính sách đầu tư với những ưu đãi thì tạo điều kiện không chỉ các nhà đầu tư nước ngoài mà cả các nhà đầu tư trong nước đến đầu tư, bên cạnh thu hút được nhiều vốn, mà còn thu hút cả kinh nghiệm quản lý, công nghệ và tạo điều kiện để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Chính sách đầu tư bao gồm một hệ thống đồng bộ các công cụ, cơ chế khuyến khích đầu tư như: chính sách thuế, lãi suất, tín dụng, lao động, tiền lương, đất đai, chính sách khuyến khích đầu tư theo vùng, ngành. Đối với những vùng, miền ưu tiên thì cần phải có những chính sách cụ thể, nhất quán, mang tính ổn định và lâu dài. Bằng việc nhận dạng nguyên nhân gây ra sự khác biệt giữa việc định giá kinh tế và giá tài chính, nhà phân tích có thể nói được liệu sự khác biệt đó là do thị trường hay chính sách gây ra. Nếu là do chính sách gây ra, thì phải xem xét chi phí và lợi ích của sự thay đổi chính sách làm cho những đánh giá kinh tế và tài chính xích lại gần nhau hơn. Do vậy, cần phải cân nhắc kỹ khi đầu tư xây dựng một dự án, như địa điểm, qui mô vào thời gian nào, đã
  16. đúng lúc chưa, hay liệu có tốt hơn không nếu thuyết phục các cơ quan chức năng thay đổi chính sách [15, tr.20]. 1.2.2.4. Quy chế, quy định và quy trình quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản Đây là một nhân tố hết sức cơ bản, nếu không nói là có tính quyết định đối với hiệu quả của đầu tư xây dựng cơ bản. Do vậy, Nhà nước cần phải xây dựng và ban hành quy chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, trước hết là Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, đặc biệt là các quy chế, quy định quản lý đầu tư và sử dụng nguồn vốn của Nhà nước cho cả ba quá trình từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư đưa vào khai thác sử dụng (vì sự lãng phí, thất thoát, tham nhũng chủ yếu xảy ra từ khâu đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước). Rất nhiều ví dụ qua các vụ án cho thấy, th ường thất thoát lãng phí, tham nhũng là đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước.Vụ xây dựng khu vui chơi giải trí Thủy Cung Thăng Long, vụ án Lã Thị Kim Oanh tại Công ty tiếp thị và thương mại tổng hợp thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Các vụ án tại Tổng Công ty dầu khí Việt Nam, vụ lừa đảo đầu tư xây dựng của Nguyễn Đức Chi của Công ty Liên doanh Rusalka - Nha Trang và gần đây nhất là vụ án liên quan đến công trình giao thông sử dụng vốn ODa tại PMU 18 (Bộ Giao thông vận tải), 77% công trình xây dựng miền núi bị móc ruột, thanh tra 103 công trình xây dựng cơ bản ở miền núi trên địa bàn tỉnh và 6 dự án cho thấy tổng số tiền bị chiếm đoạt, thất thoát, lãng phí lên tới 9,66 tỷ đồng. Tình trạng "rút ruột" các công trình phô biến đến mức trong số 86 công trình thuộc Chương trình 135 và Trung tâm cụm xã thì có 82 công trình sai phạm với số tiền gần 35 tỷ đồng; 17 công trình thủy lợi thì 2 không phát huy hiệu quả, 5 mới đưa vào sử dụng đã hư hỏng, 11 hạng mục thi công thiếu hụt khối lượng; 6 dự án giao thông thì 5 dự án "ăn" đứt 5,9 tỷ đồng. Tính ra 77% công trình xây dựng miền núi sai phạm là một tỷ lệ khá lớn [29, tr.32]. Những quy định quy chế này phải bao gồm: - Các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật trong đầu tư, nhất là các định mức thiết kế, thi công, hiệu quả cho phù hợp với sự thay đổi của tình hình thực tế. - Nâng cao công tác thẩm định các dự án, từ giai đoạn tiền khả thi vì đây là khâu quyết định của mức đầu tư xây dựng cơ bản.
  17. - Xây dựng cơ chế đấu thầu, chọn thầu, tuyển thầu, chỉ định thầu, khoán gọn, hạn chế thấp nhất những khâu tiêu cực trong đấu thầu. - Quản lý chặt chẽ quá trình đầu tư xây dựng cơ bản. - Quản lý các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản. - Ban hành các thủ tục hành chính trong đầu tư, nhưng phải tuân thủ quy định của pháp luật, không gây phiền hà, nhũng nhiễu. Thực hiện tốt khâu hậu kiểm của đầu tư. - Quản lý chặt trẽ việc phát sinh trong quá trình thực hiện đầu tư và thẩm định các quyết toán của các dự án đã hoàn thành. 1.1.3. Các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản Các nguồn vốn huy động cho đầu tư nói chung, xây dựng cơ bản nói riêng rất đa dạng. ở nước ta, những nguồn vốn có thể huy động được là: phong phú và quy mô, tỷ trọng cũng rất khác nhau. - Vốn ngân sách nhà nước: Nguồn vốn này dùng để đầu tư cho các dự án xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh... Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước không tính toán ngay được trực tiếp hiệu quả kinh tế, ít có khả năng thu hồi vốn chậm hoặc thu hồi vốn thấp, được quản lý theo phân cấp về chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển. Ngoài ra, vốn ngân sách nhà nước còn dùng đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật. Trong 5 năm qua (2001-2005), đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các ngành nông lâm ngư nghiệp chiếm 22,2%, giao thông vận tải, bưu điện 27%, giáo dục đào tạo 8,9%, y tế - xã hội 6,9%, văn hóa, thể thao 4,3%, khoa học công nghệ 3,1% [5, tr.35]. - Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước: "Vốn khấu hao cơ bản, vốn tích luỹ từ lợi nhuận để lại sau thuế, vốn doanh nghiệp tự huy động": Nguồn vốn này dùng để đầu tư cho phát triển sản xuất - kinh doanh nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm cho các doanh nghiệp nhà nước. Đặc biệt nước ta là nước theo định hướng XHCN, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, do vậy
  18. cũng cần có một số doanh nghiệp nhà n ước. Doanh nghiệp nhà nước phải sử dụng theo đúng các chế độ quản lý vốn đầu tư do Chính phủ quy định. Trong 5 năm 2001-2005, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước là 178,2 tỷ đồng chiếm 18,3% cơ cấu vốn đầu tư xã hội [3, tr.36]. - Vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước: Vốn tín dụng này để đầu tư các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, các doanh nghiệp sản xuất nhằm giải quyết việc làm, các dự án đầu tư quan trọng của Nhà nước trong từng thời kỳ. Hiện nay, nguồn vốn này dành cho các dự án khuyến khích đầu tư sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế, trồng cây công nghiệp lâu năm, chăn nuôi gia súc lớn, thuỷ sản, sản xuất muối và phát triển công nghiệp chế biến, một số ngành công nghiệp chủ lực như: Điện, than, xi măng, xây dựng cảng biển, sân bay... - Vốn thuộc các khoản vay nước ngoài của Chính phủ và các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): Đây là nguồn vốn hết sức quan trọng, vì nguồn vốn vay lớn, lãi suất không cao, có một số ưu đãi, do vậy thường đầu tư vào các lĩnh vực kết cấu hạ tầng, xóa đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệp, nông thôn, văn hóa, giáo dục, đô thị là những lĩnh vực khả năng thu hồi vốn chậm, ít có khả năng sinh lời... Nguồn vốn này được quản lý thống nhất của Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật ngân sách nhà nước và theo hướng dẫn quản lý vốn nước ngoài của Chính phủ và các bộ, Ngân hàng nhà n ước. Mặc dù tình hình kinh tế của thế giới còn gặp nhiều khó khăn, nhưng nhờ chính sách đối ngoại tốt, mà các nhà tài trợ nước ngoài vẫn tiếp tục ủng hộ Việt Nam. Từ năm 2001 đến 2005, tổng giá trị các hiệp định đã ký kết đạt khoảng 14,7 tỷ USD, trong đó vốn viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 15-20%. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, tỷ lệ giải ngân mới đạt khoảng 7,8 tỷ USD, đạt 87% so với kế hoạch. Nhiều công trình đầu tư từ nguồn vốn ODA đã góp phần tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống người dân và tăng cường công bằng xã hội [3, tr.32]. - Vốn tín dụng thương mại: Nguồn vốn này, các doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước dùng để đầu tư xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, đổi mới kỹ thuật và công nghệ các dự án sản xuất kinh
  19. doanh, dịch vụ có hiệu quả kinh tế, có khả năng thu hồi vốn và tất nhiên các doanh nghiệp này có đủ điều kiện vay vốn theo quy định hiện hành. Nhà nước có thể hỗ trợ về mặt pháp lý nếu cần thiết thấy vốn tín dụng thương mại được áp dụng theo cơ chế tự vay, tự trả và thực hiện đầy đủ các thủ tục đầu tư và điều kiện vay trả vốn theo quy định của Việt Nam và thông lệ quốc tế. Các doanh nghiệp nhà nước được phép góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp của nước ngoài bằng quyền sử dụng đất, hoặc tiền thuê đất, mặt nước, mặt biển, nhà xưởng thiết bị và các công trình khác thuộc vốn Nhà nước, nhưng phải được cấp có thẩm quyền cho phép có trách nhiệm hoàn trả vốn cho Nhà nước theo đúng quy định pháp luật. - Vốn của các tổ chức, cá nhân: Nguồn vốn này dùng để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của từng cấp có thẩm quyền đối với từng loại công trình. Vốn đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng của xã, thị trấn trên nguyên tắc tự nguyện. Các nguồn vốn huy động và sử dụng phải được công khai, có kiểm tra, kiểm soát và đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật. - Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Là vốn của các tư nhân nước ngoài trực tiếp đầu tư vào hoạt động kinh doanh tại nước ta dưới các hình thức kinh doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Đầu tư (có hiệu lực từ 1-7-2006). Đây là một nguồn vốn hết sức quan trọng trong việc mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường. Chúng ta đã có những bước tiến bộ trong việc cải thiện môi trường đầu tư, mặc dù trên thế giới còn gặp nhiều khó khăn nhưng luồng luân chuyển vốn bị hạn chế và phân tán bởi sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường. Do vậy, trong 5 năm từ 2001 đến 2005, ở nước ta tổng số vốn FDI đăng ký đạt 18,1 tỷ USD, vượt 21% mục tiêu đề ra (mục tiêu là 15 tỷ USD). Tổng số vốn thực hiện đạt 13,6 tỷ USD [5, tr.33]. Bảng 1.1: Huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển của nước ta thời kỳ 2001 -2005 [3, tr.183]
  20. Ước thực STT Chỉ tiêu ĐVT 2001 2002 2003 2004 hiện 2005 Tổng số ngh.tỷ.đ 170,5 199,1 231,6 275 320 % GDP % 35,4 37,2 37,8 38,4 38,2 1 Vốn đầu tư thuộc ngh.tỷ.đ 45,6 49,6 55,5 69,1 74,0 NSNN So với tổng số % 26,5 24,9 24,0 25,1 23,1 2 Vốn tín dụng đầu tư ngh.tỷ.đ 28,7 31,9 29 30 30 So với tổng số % 16,8 16,0 12,5 10,9 9,4 3 Vốn đầu tư của tư ngh.tỷ.đ 27,7 31 31,6 39,7 50,0 DNNN So với tổng số % 16,2 16,5 13,6 14,4 15,6 4 Vốn đầu tư của tư ngh.tỷ.đ 38,5 52,1 68,7 82 105,0 nhân và dân cư So với tổng số % 22,6 26,2 29,7 29,8 32,8 5 Vốn đầu tư trực tiếp ngh.tỷ.đ 30 34,5 37,8 44,2 47,0 nước ngoài So với tổng số % 17,6 17,3 16,3 16,1 14,7 6 Vốn huy động khác ngh.tỷ.đ - - 9 10,0 14,0 So với tổng số % - - 3,9 3,6 4,4 1.3. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản 1.3.1. Một số khái niệm 1.3.1.1. Hiệu quả Có nhiều cách nhìn và tiếp cận khác nhau về hiệu quả kinh tế và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Theo Đại từ điển kinh tế thị trường thì hiệu quả và tỷ suất hiệu quả được hiểu như sau: "Hiệu quả là thù lao mà nhà đầu tư thu được sau một thời gian nhất
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2