intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang thời kỳ 1995 – 2007 và định hướng đến năm 2020

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:152

0
57
lượt xem
9
download

Luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang thời kỳ 1995 – 2007 và định hướng đến năm 2020

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Dưới đây là luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang thời kỳ 1995 – 2007 và định hướng đến năm 2020. Luận văn đưa ra cơ sở lí luận về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang thời kỳ 1995 – 2007; định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang đến năm 2020.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang thời kỳ 1995 – 2007 và định hướng đến năm 2020

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH ________________ Huỳnh Phẩm Dũng Phát CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH TIỀN GIANG THỜI KỲ 1995 – 2007 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020 LUẬN VĂN THẠC SĨ ÐỊA LÝ HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
  2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH ________________ Huỳnh Phẩm Dũng Phát CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH TIỀN GIANG THỜI KỲ 1995 – 2007 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020 Chuyên ngành : Địa lí học Mã số : 60 31 95 LUẬN VĂN THẠC SĨ ÐỊA LÝ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN KIM HỒNG Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
  3. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được xem là động lực phát triển của thế giới. Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới kinh tế với mục tiêu xây dựng và phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Đổi mới kinh tế phải bắt đầu từ việc đổi mới cơ cấu kinh tế (CCKT), chuyển dần từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, dịch vụ. Thực tiễn lịch sử phát triển kinh tế của các nước nói chung cũng như ở Việt Nam nói riêng trong thời gian qua đã chỉ ra rằng những thành công hay thất bại trong việc phát triển kinh tế đều bắt nguồn từ việc xác định CCKT có hợp lí hay không. Để thúc đẩy kinh tế phát triển, đạt hiệu quả cao và bền vững, việc xác định và hoàn thiện một CCKT hợp lí, phù hợp với xu hướng phát triển chung của nền kinh tế không chỉ là yêu cầu có tính khách quan, mà còn là một trong những nội dung chủ yếu của quá trình CNH, HĐH đất nước. Tiền Giang là tỉnh nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với nền kinh tế còn nặng về nông nghiệp. Trong những năm qua, cùng với cả nước, Tiền Giang đang trong tiến trình xây dựng và phát triển theo hướng CNH, HĐH. CCKT của tỉnh từng bước được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau sự chuyển dịch còn chậm và chưa vững chắc. Từ năm 2006, Tiền Giang gia nhập vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) tạo điều kiện thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh. Với yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH và nhất là đứng trước những đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, đòi hỏi CCKT phải được chuyển dịch nhanh và hiệu quả hơn trong thời gian tới. Xuất phát từ cơ sở lí luận, từ thực tiễn chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) tỉnh Tiền Giang và tính cấp thiết của vấn đề, tác giả chọn đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang thời kỳ 1995 – 2007 và định hướng đến năm 2020” để nghiên cứu và mong muốn đóng góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh nhà trong thời gian tới.
  4. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn về CDCCKT tỉnh Tiền Giang trong thời gian qua, từ đó đưa ra những định hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch nhanh hơn theo hướng CNH, HĐH trong thời gian tới. Để đạt được mục đích này, luận văn đề ra những nhiệm vụ sau: - Tổng quan những vấn đề lí luận có liên quan đến CCKT và CDCCKT, làm rõ các khái niệm, các nhân tố tác động, các chỉ tiêu đánh giá cơ bản. - Đánh giá tác động của các nhân tố chủ yếu đến CDCCKT tỉnh Tiền Giang; phân tích thực trạng CDCCKT của tỉnh trong thời gian qua, đánh giá những thành tựu đã đạt được và những hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới. - Đưa ra những định hướng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy CDCCKT tỉnh Tiền Giang theo hướng CNH, HĐH. 3. Giới hạn nghiên cứu Về nội dung: do đề tài có nội dung rộng và phức tạp nên phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn: (i) phân tích ảnh hưởng của các nguồn lực tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh; (ii) phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, theo thành phần gồm: cơ cấu GDP, cơ cấu lao động, năng suất lao động và cơ cấu giá trị sản xuất nội ngành, không phân tích sâu các lĩnh vực trong từng ngành; (iii) phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ gồm: cơ cấu giá trị sản xuất của các địa phương phân theo khu vực kinh tế và tỉ trọng so với toàn tỉnh; (iv) đưa ra những định hướng và đề xuất một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang theo hướng CNH, HĐH. Về không gian: là địa bàn lãnh thổ của tỉnh Tiền Giang bao gồm 9 đơn vị hành chính: Thành phố Mỹ Tho, Thị xã Gò Công, các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước, Châu Thành, Chợ Gạo, Gò Công Tây và Gò Công Đông với tổng diện tích tự nhiên là 248.180 ha. Về thời gian: phần đánh giá thực trạng được đề cập từ năm 1995 đến năm 2007. Phần định hướng, đề xuất một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2020.
  5. 4. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là xu thế tất yếu của đất nước trong quá trình phát triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực. CDCCKT giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH. Trong thời gian qua, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về CCKT và sự CDCCKT. Trong đó, có một số công trình tiêu biểu về mặt lí luận và thực tiễn như: “Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của TS. Trương Thị Minh Sâm (chủ biên) năm 2000; “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ 21” của TS. Nguyễn Trần Quốc (chủ biên) năm 2004; “Định hướng chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” của TS. Trần Du Lịch, PGS. TS. Đặng Văn Phan (chủ nhiệm đề tài) năm 2004; “Các cấp ủy Đảng ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị” của Trần Trác, Trần Văn năm 2005; “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam” của PGS. TS. Bùi Tất Thắng (chủ biên) năm 2006; “Những vấn đề chủ yếu về kinh tế phát triển” của PGS. TS. Ngô Doãn Vịnh năm 2006;… Đối với tỉnh Tiền Giang chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Các đề tài chỉ dừng ở mức nghiên cứu chung về kinh tế xã hội như: “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang đến năm 2020” của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang; hay nghiên cứu, quy hoạch về từng ngành kinh tế riêng lẻ như “Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp tỉnh Tiền Giang đến 2010” của Sở Công nghiệp tỉnh Tiền Giang, “Báo cáo rà soát, bổ sung quy hoạch ngành nông lâm nghiệp – nông thôn giai đoạn 2005-2010 và 2020” của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang,… Trên đây là những nguồn tài liệu tham khảo quý báu cho tác giả khi thực hiện đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang thời kỳ 1995 – 2007 và định hướng đến năm 2020”.
  6. 5. Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 5.1. Quan điểm nghiên cứu 5.1.1. Quan điểm hệ thống CCKT chính là một hệ thống hoàn chỉnh gồm nhiều tầng bậc, bản thân nó là sự hợp thành của nhiều hệ thống khác nhau và đồng thời lại là bộ phận của hệ thống lớn hơn - hệ thống kinh tế – xã hội (KT – XH). CCKT tỉnh Tiền Giang có mối quan hệ chặt chẽ với môi trường xung quanh, bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường KT - XH. Sự CDCCKT có thể ảnh hưởng đến sự phát triển KT - XH và ngược lại. Phải coi CDCCKT như là một hệ thống nằm trong hệ thống KT - XH hoàn chỉnh, luôn luôn vận động và phát triển không ngừng. Vì vậy, khi nghiên cứu sự CDCCKT tỉnh Tiền Giang phải xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến sự CDCCKT của tỉnh và xem xét mối tương quan, sự tác động đối với sự CDCCKT vùng ĐBSCL và cả nước. 5.1.2. Quan điểm lãnh thổ Cơ cấu lãnh thổ kinh tế Tiền Giang được coi như một thể tổng hợp tương đối hoàn chỉnh, trong đó các yếu tố tự nhiên, KT - XH có mối quan hệ chặt chẽ, tác động chi phối lẫn nhau tạo những thế mạnh riêng cho tỉnh hay từng vùng trong trong tỉnh. Do vậy cần phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự CDCCKT tỉnh Tiền Giang để từ đó đưa ra những giải pháp, định hướng phát triển có tính tổng hợp nhằm khai thác tốt những tiềm năng, lợi thế của tỉnh nhằm đẩy nhanh sự CDCCKT. 5.1.3. Quan điểm lịch sử viễn cảnh Quá trình phát triển kinh tế và CDCCKT có sự biến chuyển theo thời gian và không gian. Vận dụng quan điểm lịch sử viễn cảnh vào trong nghiên cứu đề tài để thấy được nguồn gốc nảy sinh, quá trình diễn biến của các yếu tố kinh tế trong từng giai đoạn, trong những điều kiện thời gian và không gian cụ thể. Từ đó đánh giá chính xác hiện trạng CDCCKT trong hiện tại và định hướng phát triển của các ngành kinh tế, CDCCKT Tiền Giang trong tương lai. 5.1.4. Quan điểm phát triển bền vững Nghiên cứu những vấn đề kinh tế phải dựa trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững. Phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu phát triển KT – XH của
  7. hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới. Phát triển KT - XH, CDCCKT phải đi đôi với sử dụng hợp lí, bảo vệ và tái tạo tài nguyên thiên nhiên, chống gây ô nhiễm môi trường; kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. 5.2. Các phương pháp nghiên cứu 5.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu Đây là một phương pháp rất quan trọng vì trên cơ sở những nguồn tài liệu, số liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu thu thập được từ sách báo, tạp chí khoa học, internet, niên giám thống kê, các báo cáo thường niên, quy hoạch tổng thể của Ủy ban nhân dân tỉnh và các sở, ban ngành tác giả mới rút ra được các đặc điểm về tình hình phát triển kinh tế xã hội cũng như nhìn nhận, đánh giá chính xác sự CDCCKT tỉnh Tiền Giang. 5.2.2. Phương pháp thống kê toán học Đây là phương pháp được sử dụng thường xuyên như công cụ để phân tích, lựa chọn những giá trị đúng nhất, gần với thực tiễn trên cơ sở các nguồn số liệu thu thập được để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội đến CDCCKT tỉnh Tiền Giang. Đồng thời, phương pháp toán học cũng được sử dụng trong việc phân tích, dự báo và lựa chọn các giải pháp thích hợp cho định hướng CDCCKT tỉnh Tiền Giang trong tương lai. 5.2.3. Phương pháp phân tích, so sánh Trong quá trình nghiên cứu đề tài, việc vận dụng phương pháp phân tích, so sánh mang lại nhiều lợi ích. Thông qua việc tiến hành phân tích, so sánh, đối chiếu các số liệu thống kê để thấy được quá trình CDCCKT qua các giai đoạn. Từ đó, rút ra được những nội dung tổng hợp nhất, đầy đủ nhất đáp ứng được những nhiệm vụ và mục tiêu mà vấn đề đã đặt ra. 5.2.4. Phương pháp khảo sát thực địa Thực địa là phương pháp cần thiết trong quá trình nghiên cứu các vấn đề địa lí KT - XH nhằm thu thập thêm thông tin, thực trạng phát triển, thẩm định mức độ tin cậy của các số liệu, báo cáo. Vì vậy, trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả luận
  8. văn đã tiến hành khảo sát thực địa tại một số địa phương trong tỉnh để kiểm tra độ chính xác, tin cậy của các nguồn tài liệu đã thu thập được. 5.2.5. Phương pháp chuyên gia CDCCKT là vấn đề tương đối rộng và phức tạp cho nên việc gặp gỡ, trao đổi ý kiến với các nhà khoa học, cán bộ, chuyên viên của các sở, ban ngành trong tỉnh là một yêu cầu không thể thiếu. Thông qua phương pháp này, tác giả luận văn có thể tiếp cận, tìm hiểu hiện trạng và định hướng vấn đề nghiên cứu một cách nhanh chóng. 5.2.6. Phương pháp bản đồ, biểu đồ Đây là phương pháp đặc trưng của khoa học địa lí. Sử dụng phương pháp này giúp cho các vấn đề nghiên cứu được cụ thể, trực quan và toàn diện hơn. Các bản đồ trong đề tài được tác giả luận văn thành lập dựa trên cơ sở các dữ liệu đã thu thập và xử lý. Ngoài ra, đề tài còn thể hiện các mối quan hệ địa lí thông qua hệ thống các bảng số liệu và biểu đồ. 5.2.7. Phương pháp dự báo Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình vận động và phát triển lâu dài, muốn thành công thì phải dự báo trước sự phát triển để có hướng điều chỉnh CCKT phù hợp, đúng đắn. Đề tài sử dụng phương pháp dự báo xu hướng và dự báo biến động dựa trên cơ sở tính toán từ các nguồn số liệu đã thu thập được, sự phát triển có tính qui luật, những biến động của các sự vật, hiện tượng trong quá khứ, hiện tại và tương lai. 6.Cấu trúc của luận văn Đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang thời kỳ 1995 – 2007 và định hướng đến năm 2020” ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung bao gồm ba chương: Chương I: Cơ sở lí luận về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chương II: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang thời kỳ 1995 – 2007. Chương III: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang đến năm 2020.
  9. Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1.1. Cơ cấu kinh tế 1.1.1. Khái niệm cơ cấu, cơ cấu kinh tế Cơ cấu là cách tổ chức các thành phần nhằm thực hiện một chức năng của chỉnh thể [36, tr.223]. Từ “cơ cấu” tương đương với từ “structure” hay “construction”. Nhưng chính xác hơn “structure” tương ứng với thuật ngữ “cấu trúc” của Việt Nam và thực sự có ý nghĩa rộng hơn thuật ngữ cơ cấu. Cấu trúc là một khái niệm nói về kết cấu bên trong của một đối tượng nào đó, kể cả số lượng và chất lượng của các bộ phận cấu thành như định nghĩa của thuật ngữ cơ cấu mà còn bao hàm cả mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành đó. Thuật ngữ “cơ cấu” trong nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần được hiểu như nội dung của thuật ngữ “cấu trúc” [3, tr.149] Cơ cấu là một phạm trù triết học thể hiện cấu trúc bên trong cũng như tỉ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành một hệ thống. Cơ cấu là thuộc tính của một hệ thống nhất định. Nền kinh tế của một quốc gia được xem xét như một hệ thống với nhiều bộ phận hợp thành. Các bộ phận này có quan hệ mật thiết với nhau theo một trật tự nào đó trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. Nói một cách đơn giản, có thể coi đó là bộ khung của khái niệm cơ cấu kinh tế [37, tr.201] Cơ cấu kinh tế (CCKT) là tổng thể các ngành, lĩnh vực, các bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành [19, tr.16]. CCKT là vấn đề có nội dung rộng, biểu hiện mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất của nền kinh tế. Mối quan hệ đó không chỉ là những quan hệ riêng lẻ của từng bộ phận cấu thành nền kinh tế (bao gồm các yếu tố kinh tế, các lĩnh vực tổ chức sản xuất phân phối trao đổi tiêu dùng), các khu vực kinh tế (nông thôn, thành thị), thành phần kinh tế (nhà nước, cá thể, tư nhân, vốn đầu tư nước ngoài…). Hiểu một cách đầy đủ, CCKT là tổng thể một hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau trong không gian và thời gian nhất định, phù hợp với mục tiêu đã xác định của nền kinh tế [44].
  10. CCKT là một hệ thống ràng buộc, có các đặc trưng chủ yếu là mang tính khách quan và tính lịch sử. Đồng thời, CCKT là một hệ thống động, gắn với sự biến đổi và phát triển không ngừng của các yếu tố, các bộ phận cấu thành. Muốn phát huy tác dụng, CCKT phải trải qua một quá trình, một thời gian nhất định. Thời gian dài hay ngắn tùy thuộc vào đặc điểm của từng loại CCKT. Vì thế, các loại cơ cấu thường không tồn tại một cách cố định bất biến mà có sự thay đổi, chuyển dịch cần thiết, phù hợp với biến động và thay đổi của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trong từng giai đoạn lịch sử. CCKT không chỉ quy định về số lượng và tỉ lệ giữa các yếu tố cấu thành, biểu hiện về lượng (là sự tăng trưởng của hệ thống), mà còn thể hiện những mối quan hệ cơ cấu giữa các yếu tố, biểu hiện về chất (là sự phát triển của hệ thống). Mối quan hệ giữa lượng và chất trong cơ cấu của nền kinh tế thực chất là những biểu hiện về tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế đó. Nền kinh tế chỉ có thể ổn định và tăng trưởng bền vững khi có cơ cấu cân đối, hợp lí. Như vậy, nghiên cứu CCKT nhằm nhận biết cấu trúc của nền kinh tế và phát hiện xu hướng vận động của nền kinh tế theo từng thời kỳ để có những tác động cần thiết, thúc đẩy các xu hướng tích cực hay hạn chế những tiêu cực, tiến tới đạt các mục tiêu định trước. Nghiên cứu CCKT có ý nghĩa rất lớn đối với thực tiễn phát triển kinh tế trong từng thời kỳ phát triển KT - XH của đất nước. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI chỉ rõ: nền kinh tế quốc dân có một cơ cấu kinh tế hợp lí là cơ cấu kinh tế trong đó các ngành, các vùng, các thành phần, các loại hình sản xuất có qui mô và trình độ kĩ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện kinh tế, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định. Theo tác giả luận văn, CCKT là tổng thể những mối liên hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế gồm các ngành sản xuất, các thành phần kinh tế, các vùng kinh tế. CCKT là một hệ thống động, biến đổi không ngừng nhằm đạt hiệu quả cao về mặt kinh tế xã hội và môi trường trong những điều kiện cụ thể của đất nước, phù hợp với mục tiêu đã xác định của nền kinh tế.
  11. 1.1.2. Phân loại cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế 1.1.2.1. Cơ cấu ngành kinh tế Cơ cấu ngành là quan hệ gắn bó với nhau theo những tỉ lệ nhất định giữa các ngành sản xuất, trong nội bộ nền kinh tế quốc dân cũng như giữa các ngành nghề và các doanh nghiệp trong các ngành [19, tr.18]. Cơ cấu ngành là bộ phận then chốt trong CCKT, vì cơ cấu ngành quyết định trạng thái chung và tỉ lệ đầu vào, đầu ra của nền kinh tế quốc dân. Hiện nay, về cơ bản hệ thống phân ngành kinh tế được sử dụng trên thế giới là hệ thống tài khoản quốc gia (System of National Accounts - SNA) được áp dụng đối với nền kinh tế thị trường. Trước đây còn có hệ thống sản xuất vật chất (Material Production System - MPS) được áp dụng đối với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Theo hệ thống tài khoản quốc gia, nền kinh tế thường được phân thành ba nhóm ngành (hay khu vực) là: Khu vực I (KVI) gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (đối với nhiều nước khác là các ngành khai thác trực tiếp tài nguyên thiên nhiên); Khu vực II (KVII) gồm công nghiệp và xây dựng (đối với nhiều nước khác là các ngành chế biến); Khu vực III (KVIII) là dịch vụ. Ba khu vực này bao gồm 21 ngành cấp 1. Các ngành cấp 1 lại đuợc chia nhỏ thành các ngành cấp 2. Các ngành cấp 2 lại được phân nhỏ thành các ngành sản phẩm [3, tr.150]. Có nhiều mức phân ngành khác nhau, tùy theo mức độ gộp hay chi tiết hóa đến chừng nào mà có được tập hợp các ngành tương ứng. Đối với nước ta, theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam, nền kinh tế nước ta được chia thành 21 ngành kinh tế cấp 1; 88 ngành kinh tế cấp 2; 242 ngành kinh tế cấp 3; 437 ngành kinh tế cấp 4 và 642 ngành kinh tế cấp 5. Theo quan điểm hiện nay của nước ta, các ngành cấu thành KVI gồm có nông, lâm nghiệp và thủy sản. Đến lượt mình, nông nghiệp bao gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp; còn lâm nghiệp có trồng, chăm sóc rừng và khai thác lâm
  12. sản; thủy sản có đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản. KVII là công nghiệp và xây dựng; công nghiệp lại bao gồm nhiều phân ngành thuộc ba nhóm: công nghiệp khai thác mỏ; công nghiệp chế biến; sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước. KVIII là tập hợp của nhiều ngành và hoạt động liên quan đến dịch vụ với đặc điểm chung là các sản phẩm tạo ra không tồn tại dưới hình thái vật thể bao gồm: khách sạn và nhà hàng; vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc; tài chính, tín dụng; hoạt động khoa học và công nghệ; các hoạt động liên quan tới kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn; giáo dục và đào tạo; y tế và hoạt động cứu trợ xã hội; hoạt động văn hóa, thể thao;… Đối với nền kinh tế quốc dân chuyển dịch cơ cấu ngành có nghĩa là sự vận động và biến đổi của các ngành kinh tế thuộc khu vực I, II, III theo chiều hướng tăng tỉ lệ các ngành khu vực II và III, giảm tỉ lệ các ngành khu vực I trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội (GDP). 1.1.2.2. Cơ cấu thành phần kinh tế Cơ cấu thành phần kinh tế gắn với các loại hình sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất. Tùy theo phương thức sản xuất mà có các thành phần kinh tế chiếm địa vị chi phối hay chủ đạo và các thành phần kinh tế khác cùng tồn tại [19, tr.24]. Nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần gồm kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước (tập thể, tư nhân, các thể) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế được xác định với vai trò khác nhau, trong đó lấy kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể làm nền tảng. Kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Thành phần kinh tế này bao trùm các ngành kinh tế then chốt gắn liền với việc quản lí tài nguyên của đất nước, với an ninh quốc phòng và các lĩnh vực quan trọng khác. Kinh tế tập thể có ý nghĩa quan trọng với nhiều hình thức tổ chức trên cơ sở tham gia tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng có lợi. Kinh tế cá thể với tiềm năng to lớn có vai trò quan trọng, lâu dài đối với việc phát triển KT – XH của nước ta.
  13. Kinh tế tư bản tư nhân đang có những đóng góp nhất định cho nền kinh tế với tiềm lực về vốn, kĩ thuật, công nghệ, quản lí và thị trường. Kinh tế tư bản nhà nước có khả năng to lớn với hình thức liên doanh giữa nhà nước với tư bản trong và ngoài nước. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài phát triển mạnh trong những năm gần đây hướng vào việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ, công nghệ cao. 1.1.2.3. Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ (vùng kinh tế) phản ánh sự phân công lao động xã hội về mặt không gian địa lí. Thực chất của việc phân chia này là để làm cơ sở cho hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch phát triển, thực thi chính sách sát thực và phù hợp với đặc điểm của từng vùng nhằm đạt hiệu quả cao trên từng vùng và toàn lãnh thổ. Cơ cấu lãnh thổ là tương quan tỉ lệ giữa các vùng trong phạm vi quốc gia được sắp xếp một cách tự phát hay tự giác có chủ định. Trong một quốc gia có nhiều vùng lãnh thổ, các vùng này phải được bố trí, quan hệ với nhau theo một tỉ lệ nào đó để tạo điều kiện phát triển kinh tế của từng vùng nói riêng và của cả nước nói chung. CCKT theo lãnh thổ là chỉnh thể liên kết các ngành sản xuất trong một vùng theo một cấu trúc hợp lí, mà nhờ đó có thể tạo ra khả năng tăng trưởng kinh tế trong quá trình vận hành nó. CCKT theo ngành, theo thành phần và theo lãnh thổ là sự biểu hiện về bản chất ở những khía cạnh khác nhau của một nền kinh tế, giữa chúng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, trong đó cơ cấu theo ngành giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ quá trình phát triển, cơ cấu theo thành phần kinh tế giữ vai trò quan trọng để thực hiện cơ cấu ngành và cơ cấu theo lãnh thổ là cơ sở cho các ngành, các thành phần kinh tế phân bố hợp lí các nguồn lực, tạo sự phát triển đồng bộ, cân đối và đạt hiệu quả cao giữa các ngành và giữa các thành phần kinh tế của một nền kinh tế.
  14. 1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành cơ cấu kinh tế Có nhiều nhân tố tác động đến việc hình thành cơ cấu kinh tế. Tựu chung lại, có thể chia thành hai nhóm nhân tố chính sau: Nhóm nhân tố trong nước Thị trường và nhu cầu tiêu dùng trong nước là nhân tố có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành CCKT. Nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến phân công lao động xã hội cũng như qui mô, tỉ trọng của các ngành trong cơ cấu nền kinh tế. Trình độ phát triển của sức sản xuất góp phần phá vỡ thế cân đối cũ để tạo nên CCKT mới với sự thay đổi về tương quan giữa các bộ phận hợp thành, nhằm thích hợp với yêu cầu của đất nước trong thời kỳ mới. Đường lối, chính sách của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể có vai trò quan trọng hàng đầu đối với việc hình thành cơ cấu kinh tế. Nguồn lực trong nước là tiền đề vật chất để hình thành CCKT. Tuy nhiên, nguồn lực này chỉ được phát huy mạnh mẽ thông qua sự tác động của một số nhân tố khác. Nhóm nhân tố bên ngoài Xu thế chính trị của khu vực và thế giới ảnh hưởng nhiều tới việc hình thành CCKT ở mỗi quốc gia. Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế. Vì vậy, những biến động về chính trị ít nhiều sẽ dẫn đến những thay đổi về kinh tế. Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa tạo nên thế phát triển đan xen, hợp tác và cả cạnh tranh trong sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Điều đó dĩ nhiên có tác động đến CCKT của từng quốc gia. Các tiến bộ về khoa học công nghệ, nhất là sự bùng nổ thông tin cũng có ảnh hưởng nhất định, góp phần thúc đẩy CCKT hình thành và phát triển. 1.1.4. Một số chỉ tiêu cơ bản để xem xét và đánh giá cơ cấu kinh tế Việc xem xét cơ cấu nền kinh tế quốc dân có rất nhiều chỉ tiêu kinh tế khác nhau. Hiện nay, người ta thường dùng các chỉ tiêu sau đây để xem xét cơ cấu kinh tế: chỉ tiêu GDP, chỉ tiêu lao động, chỉ tiêu giá trị sản xuất và chỉ tiêu về trang bị kĩ thuật. Đối với các quốc gia mới chuyển sang cơ chế thị trường như nước ta, lực lượng sản xuất còn thấp kém, năng suất lao động chưa cao, với chính sách kinh tế
  15. mở, từng bước đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập với nền kinh tế thế giới, cần xem xét thêm cơ cấu vốn đầu tư, cơ cấu tỉ trọng giá trị tổng sản lượng nội bộ trong từng ngành. Trong số các chỉ tiêu trên, đáng chú ý hơn cả là tỉ lệ người lao động giữa các ngành, các khu vực kinh tế - nhất là tỉ lệ người lao động trong nông nghiệp so với các ngành nghề khác và cơ cấu các khu vực, các ngành kinh tế quan trọng, các thành phần và vùng kinh tế trong GDP. Các số liệu thống kê kinh tế của thế giới đều chỉ rõ rằng các chỉ tiêu trên rất khác nhau giữa các nhóm nước. Ở các nước công nghiệp hóa có nền kinh tế phát triển cao, số người lao động trong KVI rất thấp, tỉ lệ KVI trong cơ cấu GDP không đáng kể, KVII và KVIII thường chiếm vị trí quan trọng. Ngược lại, ở những nước đang phát triển có nền kinh tế lạc hậu thì tỉ lệ lao động KVI khá cao và KVII đang dần chiếm vị trí quan trọng trong CCKT. 1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1.2.1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi CCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển. Về thực chất, đó là sự điều chỉnh cơ cấu trên ba mặt biểu hiện (ngành, lãnh thổ, thành phần kinh tế) nhằm hướng sự phát triển của cả nền kinh tế vào các chiến lược KT - XH đã được đề ra cho từng thời kỳ cụ thể [37, tr.209]. CDCCKT ở nước ta thực chất là quá trình cải biến KT - XH từ lạc hậu, mang tính chất tự cấp, tự túc bước vào chuyên môn hóa hợp lý, trang bị kĩ thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ sở tạo ra năng suất lao động cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế [4, tr.535]. Quá trình chuyển dịch này không chỉ diễn ra giữa các ngành của nền kinh tế mà bắt đầu từ nội bộ của từng ngành theo những xu hướng nhất định. CDCCKT có ý nghĩa đặc biệt đối với việc phát triển KT - XH của mỗi quốc gia. Nó giúp cho nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, vững chắc và mặt khác, có khả năng hội nhập với khu vực và thế giới. Theo tác giả, CDCCKT là sự điều chỉnh cơ cấu trên các mặt biểu hiện gồm cơ cấu ngành, lãnh thổ và thành phần kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội
  16. và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế để đạt được những mục tiêu kinh tế xã hội đã đề ra cho từng thời kỳ cụ thể. 1.2.2. Tính tất yếu khách quan của chuyển dịch cơ cấu kinh tế Mỗi cơ cấu kinh tế đều mang tính lịch sử và xã hội nhất định, nền kinh tế chỉ phát triển khi những bộ phận của quá trình tái sản xuất xã hội xác lập được những mối quan hệ cân đối. Sự tăng giảm tỉ trọng của các ngành kinh tế, thay đổi mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế là tất yếu khách quan của quá trình phát triển kinh tế. Vì thế, điều chỉnh CCKT tức là đưa nền kinh tế đến trạng thái phát triển tối ưu nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất thông qua tác động điều khiển có ý thức của con người đối với các quy luật khách quan. CCKT hợp lí phải phản ánh sự tác động của các quy luật phát triển khách quan, vai trò của yếu tố chủ quan là: thông qua nhận thức ngày càng sâu sắc những quy luật đó để tìm ra những phương án thay đổi có hiệu lực cao nhất trong những điều kiện cụ thể của nền kinh tế. Như vậy, CCKT là một hệ thống động, luôn ở trong trạng thái vận động và biến đổi không ngừng theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Sự vận động là thuộc tính tất yếu bên trong của mỗi hệ thống. Ở mỗi giai đoạn phù hợp với trình độ phát triển nhất định của sản xuất, sẽ xuất hiện khả năng hình thành một CCKT tương đối hợp lí ứng với giai đoạn đó. Nếu sự phát triển trong thực tế tiến sát đến CCKT tương đối hợp lí ấy thì nền kinh tế sẽ phát triển thuận lợi hơn và trong trường hợp ngược lại nền kinh tế sẽ gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, quá trình CDCCKT để tạo nên sự hợp lí là một tất yếu khách quan. 1.2.3. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quá trình CDCCKT là một quá trình tích lũy về năng lượng, dẫn đến sự biến đổi về chất của CCKT. CCKT chuyển dịch theo yêu cầu và phương hướng tiến bộ hơn mang tính qui luật trong điều kiện cụ thể của bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa. Về nguyên tắc, quá trình CDCCKT theo các hướng ngày một tiến bộ hơn, hiện đại hơn, hiệu quả hơn và chúng biểu hiện cụ thể ở những điểm sau đây:
  17. - Tỉ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ trong GDP nền kinh tế tăng lên, còn tỉ trọng ngành nông nghiệp giảm xuống. Tức là tỉ trọng các ngành có năng suất lao động cao, chứa đựng hàm lượng công nghệ cao và chất xám cao ngày càng lớn và các ngành có năng suất lao động thấp giảm đi trong toàn bộ lao động xã hội. Xu hướng tăng, giảm này diễn ra càng nhanh càng tốt. Quá trình CDCCKT bắt đầu từ sự chuyển dịch những ngành then chốt hay chủ lực có tính mũi nhọn. - Trong nội bộ các ngành, tỉ trọng sản xuất hàng hóa tăng lên, làm cho độ mở của nền kinh tế lớn lên. Độ mở của nền kinh tế càng lớn càng chứng tỏ nền kinh tế hội nhập càng mạnh với bên ngoài. Bên cạnh mặt tích cực của xu hướng này cũng phải chú ý đến vấn đề phụ thuộc lẫn nhau vào bên ngoài khi mở cửa lớn, khi hội nhập sâu. - Xu hướng chuyển dịch các thành phần kinh tế cũng diễn ra đồng thời theo qui luật chung: tỉ trọng của bộ phận kinh tế ngoài nhà nước ngày càng tăng, tỉ trọng của kinh tế nhà nước có thể giảm xuống một cách tương đối song vẫn phải giữ vững vai trò đảm bảo an toàn cho toàn bộ nền kinh tế vì đó là điều cần thiết. - CCKT chuyển dịch từ đơn giản đến phức tạp (tức là số ngành, số sản phẩm ngày càng nhiều; phạm vi liên kết ngày càng rộng: từ ít đến nhiều, từ trong nước ra ngoài nước) và cũng tức là từ trạng thái có trình độ thấp sang trạng thái có trình độ cao hơn (ý nói về trình độ công nghệ và qui mô, chất lượng sản xuất hàng hóa ngày một cao) nhằm đem lại lợi ích lớn hơn như mong muốn của con người qua các thời kỳ phát triển. 1.2.4. Các nguyên tắc chuyển dịch cơ cấu kinh tế CDCCKT phải xuất phát từ sự thay đổi của những ngành chủ lực, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về qui mô, chất lượng, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững trên cơ sở phát huy có hiệu quả các lợi thế so sánh có tính tới điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hóa và tiến bộ khoa học công nghệ. CDCCKT phải phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, phải đảm bảo hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài; hài hòa giữa hiệu quả cục bộ và hiệu quả toàn bộ cũng như phải đem lại lợi ích cho nhiều người, cho xã hội.
  18. CDCCKT có thể diễn ra một cách tuần tự và cũng có thể diễn ra một cách đột biến hay nhảy vọt tùy theo điều kiện cụ thể. 1.2.5. Các nhân tố chủ yếu tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chịu tác động của nhiều yếu tố. Dưới đây có thể nêu những nhân tố cơ bản tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Nhu cầu của con người thay đổi và tăng lên không ngừng Nhu cầu của con người phụ thuộc trước hết vào số người, đặc điểm tiêu dùng của họ. Các điều kiện cư trú của con người quyết định tính chất và qui mô nhu cầu tiêu dùng, điều kiện sinh sống. Trong quá trình phát triển không những số người tăng lên mà nhu cầu của từng con người cũng tăng lên và ngày càng đa dạng hơn. Sự thay đổi về số người, nhu cầu của họ ảnh hưởng lớn đến qui mô sản xuất, cơ cấu sản xuất, chất lượng sản phẩm và nói một cách tổng quát là chúng ảnh hưởng đến CCKT và CDCCKT. Nhu cầu của con người tăng lên cũng như thay đổi cả về qui mô, chủng loại, chất lượng. Chính những điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến CCKT của nền kinh tế mỗi quốc gia cũng như đối với nền kinh tế toàn thế giới. Ngay trong một quốc gia nhu cầu của người dân ở mỗi tỉnh mỗi khác. Đối với Việt Nam điều này thể hiện rất rõ. Thậm chí ngay trong một vùng nhu cầu của người dân ở khu vực đô thị khác với nhu cầu của người dân ở khu vực nông thôn; hay nhu cầu của người dân sống gần thành phố khác so với những người sống xa thành phố. Tất cả những điều đó tác động mạnh đến sự hình thành và phát triển CCKT của mỗi tỉnh cũng như của cả nước. Tiến bộ khoa học công nghệ thay đổi như vũ bão Thực tế chỉ ra rằng tiến bộ khoa học công nghệ cũng như tác động cải tiến công nghệ tác động trực tiếp và có tính quyết định đến hình thành và phát triển CCKT. Tiến bộ khoa học công nghệ làm thay đổi tận gốc các thành phần tạo nên CCKT. Trước hết điều đó thể hện ở mỗi khi khoa học công nghệ tiến bộ, nó làm cho qui mô, chất lượng phát triển các ngành thay đổi và dẫn tới CCKT thay đổi. Khi có tiến bộ khoa học công nghệ, các lãnh thổ có thể được kéo lại gần nhau, được lôi cuốn tham gia vào các quá trình sản xuất của nền kinh tế. Theo dự báo của các chiến lược gia trong những năm tới dù bất cứ nền kinh tế phát triển ở trình độ thấp
  19. hay cao cũng đều phải chú ý những hướng vào một trong những ngành như công nghệ vũ trụ, công nghệ sinh học, gien và vật liệu mới, công nghệ thông tin,... Vai trò của từng loại công nghệ mũi nhọn đối với từng nền kinh tế và từng thời kỳ phát triển rất khác nhau. Đối với những nước đang phát triển hay phát triển đang còn ở trình độ thấp thì công nghệ sinh học, công nghệ điện tử - tin học giữ vai trò quan trọng hơn cả. Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, liên kết, liên minh trở thành hiện tượng phổ biến và có tính chủ đạo. Tự do hóa thương mại trở thành điều kiện quan trọng cho phát triển Ngày xưa khi nói đến toàn cầu hóa người ta không thể không nói đến chuỗi giá trị toàn cầu với ý nghĩa các quốc gia tham gia chủ động và tích cực vào các quá trình sản xuất tạo ra của cải xã hội cho nhân loại trong điều kiện toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong quá trình này các nước liên kết với nhau theo nguyên tắc phân công lao động xã hội toàn cầu trên cơ sở thế mạnh của mỗi nước có tính tới yêu cầu cạnh tranh quốc gia. Đối với Việt Nam khi xác định cơ cấu kinh tế các tỉnh cũng phải tính tới điều kiện toàn cầu hóa, khu vực hóa, liên kết, liên minh quốc tế và liên vùng ngay trong nước. Các tỉnh kề cận thành phố phải tính tới liên kết với thành phố và các tỉnh khác để lựa chọn cơ cấu kinh tế cho bản thân. Doanh nghiệp và sự phát triển không ngừng của doanh nghiệp Đối với mọi quá trình phát triển của bất kỳ nền kinh tế nào doanh nghiệp cũng là tế bào cực kỳ quan trọng. Doanh nghiệp tạo việc làm, tạo ra sản phẩm đáp ứng cho nhu cầu xã hội, tạo ra GDP, tạo nguồn thu thuế cho nhà nước, đóng góp phúc lợi cho xã hội, góp phần làm tiến bộ xã hội cũng như quyết định sức cạnh tranh của quốc gia trên thế giới. Vì thế, doanh nghiệp xuất hiện mới càng nhiều và hoạt động có hiệu quả càng tốt cho hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế. Trong quá trình phát triển của nền kinh tế rất cần có những tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp mạnh và làm ăn có hiệu quả mới có được cơ cấu kinh tế tốt. Đường lối phát triển cùng với cơ chế, chính sách có ý nghĩa động lực đối với sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
  20. Sự ổn định, tính minh bạch của thể chế kinh tế, sự đồng bộ của các cơ chế, chính sách (nhất là đối với chính sách tài nguyên và chính sách đầu tư) có ý nghĩa to lớn. Khuôn khổ pháp lý, cơ chế chính sách, nhất là về quản lý kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định, hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế. 1.3. Một vài mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới Trên thế giới tồn tại nhiều mô hình CDCCKT, trong đó có thể nêu ba mô hình chính như sau: Mô hình chuyển dịch hướng nội Đây là mô hình nghiêng về sự đóng cửa của nền kinh tế, khuyến khích sản xuất cho thị trường trong nước, thay thế nhập khẩu. Với mục tiêu phát huy tính chủ động, đảm bảo sự phát triển của các ngành truyền thống trong nước, một số quốc gia đã lựa chọn CDCCKT theo mô hình này. Tuy vậy, mô hình này tạo ra ít sức ép cạnh tranh do hàng hóa trong nước được bảo hộ bằng hàng rào thuế quan, cơ cấu sản xuất thiếu tính năng động. Trong những năm 1950 – 1970, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia và một số nước Đông Á khác đã áp dụng mô hình bằng cách thực hiện các hàng rào bảo hộ nghiêm ngặt, giảm tối đa nhập khẩu. Chiến lược này trong thới gian đầu tỏ ra hiệu quả, mang lại thành công cho một số ngành song sự thành công này không được lâu bền. Do áp dụng mạnh các chính sách bảo hộ nên sản xuất sớm rơi vào tình trạng trì trệ, kém hiệu quả. Mô hình chuyển dịch hướng ngoại Đây là mô hình với xu thế đưa nền kinh tế phát triển theo hướng thiên về mở cửa có khả năng thúc đẩy thương mại cùng với các nguồn đầu tư từ bên ngoài vào, thu được nhiều lợi nhuận thông qua sản xuất hàng xuất khẩu. Ưu điểm chính của mô hình là thúc đẩy quá trình đổi mới, tăng trưởng kinh tế cũng như năng suất lao động xã hội và tạo ra khả năng thích nghi của nền kinh tế. Dẫu sao, việc mở cửa cũng có những hạn chế tương đối như tính tự chủ của nền kinh tế, khả năng phát triển công nghệ trong nước do nhập khẩu tư liệu sản xuất, công nghệ và những rủi ro có thể xảy ra trên thị trường quốc tế.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản