Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan chương “Chất khí” và “Cơ sở của nhiệt động lực học” lớp 10 THPT ban Khoa học tự nhiên nhằm tuyển chọn học sinh giỏi vào lớp chuyên đội tuyển

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:144

0
61
lượt xem
27
download

Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan chương “Chất khí” và “Cơ sở của nhiệt động lực học” lớp 10 THPT ban Khoa học tự nhiên nhằm tuyển chọn học sinh giỏi vào lớp chuyên đội tuyển

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan chương “Chất khí” và “Cơ sở của nhiệt động lực học” lớp 10 THPT ban Khoa học tự nhiên nhằm tuyển chọn học sinh giỏi vào lớp chuyên đội tuyển ghiên cứu phương pháp TNKQ nhằm xây dựng đề kiểm tra để tuyển chọn HSG từ các lớp 10 thường vào lớp chuyên/đội tuyển hoặc thay thế một số học sinh yếu trong lớp chuyên ở phần kiến thức chương “Chất khí” và “Cơ sở của nhiệt động lực học” lớp 10 THPT ban khoa học tự nhiên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan chương “Chất khí” và “Cơ sở của nhiệt động lực học” lớp 10 THPT ban Khoa học tự nhiên nhằm tuyển chọn học sinh giỏi vào lớp chuyên đội tuyển

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ___________________ Bùi Thị Bảo Ngọc SỬ DỤNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CHƯƠNG “CHẤT KHÍ” VÀ “CƠ SỞ CỦA NHIỆT ĐỘNG LỰC HỌC” LỚP 10 THPT BAN KHOA HỌC TỰ NHIÊN NHẰM TUYỂN CHỌN HỌC SINH GIỎI VÀO LỚP CHUYÊN/ĐỘI TUYỂN Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lý Mã số : 60 14 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN HOA Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
  2. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của tất cả các mặt khoa học kỹ thuật, kinh tế xã hội của thế kỷ XXI thì năng suất và chất lượng của lao động con người đang trở thành sức mạnh quan trọng trong phát triển xã hội. Việc tìm kiếm tích cực những thanh thiếu niên có năng khiếu cao và đào tạo họ trở thành người tài phục vụ cho sự phát triển của đất nước đang là quốc sách không chỉ của các nước phát triển mà cả những nước đang phát triển cũng rất quan tâm [32]. Theo quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ, chiến lược phát triển giáo dục từ năm 2001 đến 2010 là “phải đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục, chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống, có tư duy phân tích tổng hợp; phát triển năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động của học sinh trong quá trình học tập...”. Với chủ trương trên, việc thay đổi phương pháp giảng dạy và học tập nhằm tích cực hóa hoạt động học tập, phát huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học, tự nghiên cứu của học sinh (HS) trong khi giáo viên (GV) giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, điều khiển, định hướng quá trình dạy học đã được áp dụng cho chương trình THPT bắt đầu từ năm học 2006-2007 thông qua bộ sách giáo khoa (SGK) mới. Phương pháp dạy và học thay đổi bắt buộc phương pháp kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của HS cũng thay đổi cho phù hợp, nó giữ một trong những vai trò quan trọng góp phần quyết định chất lượng trong đào tạo, là một khâu không thể thiếu trong quá trình giáo dục. Và hiện nay, hình thức đánh giá kết quả học tập bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan là công cụ được sử dụng rộng rãi trong tất cả các kỳ thi, kể cả thi tốt nghiệp phổ thông và thi đại học. Với tinh thần đổi mới như vậy, công tác đào tạo học sinh giỏi (HSG), HS các lớp chuyên vẫn không nằm ngoài quy luật đó (mặc dù hiện nay, các kỳ thi HSG cấp thành phố và cấp quốc gia vẫn tổ chức thi theo hình thức cũ: hình thức tự luận). Bởi
  3. vì bên cạnh việc tham gia các kỳ thi HSG, phần lớn các HS chuyên vẫn phải tham dự các kỳ thi tú tài và tuyển sinh đại học - cao đẳng như các HS khác – các kỳ thi này đang được tổ chức theo hình thức trắc nghiệm khách quan (TNKQ). Và nếu thử nhìn ra các nước như Trung Quốc, Mỹ, Canada, Thụy Sỹ..., các kỳ thi HSG (thường được gọi là các kỳ thi Olympic) đã được tổ chức với nội dung đề thi rất đa dạng, phong phú, không chỉ gồm các bài toán tự luận, bài thực hành mà có cả phần TNKQ [16], [20], [22], [23], [38]... Hiện nay, quy chế trường chuyên [8] đã được nhà nước ban hành và các tỉnh thành đã có nhiều đầu tư, quan tâm đến việc tuyển chọn HSG nhằm đào tạo, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Tuy nhiên, việc kiểm tra đánh giá trong trường chuyên vẫn chưa đáp ứng đầy đủ, tương xứng với việc đổi mới chương trình giáo dục, trình độ của HS. Theo chỉ thị đã ban hành của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành giáo dục trong năm học 2007- 2008 là “đẩy mạnh công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu nhằm tạo tiền đề cho công tác bồi dưỡng nhân tài... đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước ở mỗi tỉnh, thành phố”. Để làm được điều này, các trường THPT chuyên hoặc lớp chuyên ở các trường THPT thường đều tuyển chọn HS có năng khiếu ngay từ đầu vào. Bên cạnh đó, sau một thời gian, một số HS sẽ có thể không theo kịp với chương trình chuyên, trong khi ở những lớp thường không thiếu các HS có năng khiếu. Như vậy, việc tuyển chọn hoặc bổ sung thêm những HSG cho lớp chuyên/đội tuyển là cần thiết, không chỉ có lợi cho chính các em mà cho cả công tác đào tạo nhân lực, bồi dưỡng HSG của nhà trường, của thành phố. Xuất phát từ những lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan chương “Chất khí” và “Cơ sở của nhiệt động lực học” lớp 10 THPT ban khoa học tự nhiên nhằm tuyển chọn học sinh giỏi vào lớp chuyên/đội tuyển”
  4. 2. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu phương pháp TNKQ nhằm xây dựng đề kiểm tra để tuyển chọn HSG từ các lớp 10 thường vào lớp chuyên/đội tuyển hoặc thay thế một số học sinh yếu trong lớp chuyên ở phần kiến thức chương “Chất khí” và “Cơ sở của nhiệt động lực học” lớp 10 THPT ban khoa học tự nhiên. 3. Giả thuyết khoa học Nếu có một đề kiểm tra được xây dựng một cách khoa học và phù hợp thì sẽ: - chọn được các HS giỏi, có khả năng về môn Lý từ các lớp 10 thường ban nâng cao để bổ sung vào lớp chuyên Lý. - giúp loại ra một số HS yếu, không đủ sức để tiếp tục theo chương trình chuyên của lớp chuyên. - giúp kiểm tra mức độ nắm kiến thức cơ bản của HS lớp chuyên - đây là một nhược điểm thường gặp của các em: có thể giải được các bài toán nâng cao nhưng lại làm không tốt ở các câu hỏi kiến thức đơn giản và dễ. 4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4.1. Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 10 chuyên Lý và một số lớp 10 ban A (lớp 10A2, 10SN2, 10CH, 10CT) trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong - TPHCM. 4.2. Đối tượng nghiên cứu: Soạn thảo một để kiểm tra TNKQ ở phần kiến thức chương “Chất khí” và “Cơ sở của nhiệt động lực học” nhằm tuyển chọn HSG từ các lớp 10 thường ban khoa học tự nhiên vào lớp chuyên/đội tuyển. 5. Phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu phương pháp TNKQ và nội dung chương trình của lớp 10 THPT ban khoa học tự nhiên, chương trình chuyên Lý 10 để xây dựng đề kiểm tra dựa trên kiến thức của hai chương chương “Chất khí” và “Cơ sở của nhiệt động lực học” nhằm tuyển chọn HSG từ các lớp 10 thường ban khoa học tự nhiên trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong vào lớp chuyên, hoặc tuyển chọn HS từ lớp chuyên Lý vào đội tuyển, hoặc có thể giúp GV lọc ra những em HS yếu trong lớp chuyên không đủ khả năng tiếp tục chương trình chuyên (nhằm giảm bớt áp lực cho những
  5. HS này và tạo điều kiện cho các em được học trong môi trường phù hợp với mình nhất). 6. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận và phương pháp đánh giá câu hỏi (CH) TNKQ theo lý thuyết trắc nghiệm cổ điển và lý thuyết trắc nghiệm hiện đại. - Nghiên cứu cơ sở lý luận về năng khiếu, tài năng. - Nghiên cứu nội dung chương trình chương “Chất khí” và “Cơ sở của nhiệt động lực học” lớp 10 THPT ban khoa học tự nhiên. - Nghiên cứu nội dung chương trình phần Chất khí lý tưởng – Nhiệt học lớp 10 chuyên. - Tìm hiểu thực trạng dạy và học của HS ở các lớp chuyên, trường chuyên. - Vận dụng cơ sở lý luận để xây dựng đề kiểm tra TNKQ thuộc phần kiến thức của hai chương trên. - Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở lớp thực nghiệm và các lớp đối chứng. - Phân tích kết quả thực nghiệm để đánh giá hệ thống câu hỏi đã ra trong đề kiểm tra, so sánh kết quả giữa lớp thực nghiệm – lớp đối chứng và so sánh với kết quả học tập cả năm, kết quả thi học sinh giỏi thành phố vòng 1 hoặc kỳ thi Olympic 30/4 để rút ra kết luận cho đề tài này. 7. Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu lý luận: nghiên cứu và xử lý thông tin từ sách, báo, tạp chí, tài liệu về các vấn đề liên quan đến đề tài đồng thời nghiên cứu nội dung, chương trình chương “Chất khí” và “Cơ sở của nhiệt động lực học” lớp 10 THPT ban khoa học tự nhiên và lớp 10 chuyên. - Thực nghiệm sư phạm: để đánh giá tính giá trị, độ tin cậy của đề trắc nghiệm; hiệu quả của việc sử dụng CH TNKQ nhằm chọn HSG vào lớp chuyên/đội tuyển. - Điều tra khảo sát: lập phiếu điều tra khảo sát nhằm đánh giá sơ bộ những nhận xét cuả HS trong việc áp dụng đề kiểm tra TNKQ để tuyển chọn HSG vào lớp
  6. chuyên, các nguyên nhân ảnh hưởng trong quá trình làm bài và việc lựa chọn các hình thức kiểm tra để đánh giá quá trình học của HS. - Thống kê toán học: để xử lý, thống kê, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm.
  7. Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐO LƯỜNG TRONG GIÁO DỤC VÀ PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 1.1. Đo lường trong giáo dục Đo lường là phép so sánh một đại lượng nào đó với một vật chuẩn đã biết, và kết quả là đưa ra các con số để đánh giá [26, tr.13] Trong một quá trình giáo dục bất kỳ, việc đánh giá hành vi của một người nào đó trong một tình huống nhất định nhằm biết được những biến đổi xảy ra trong người đó ở mức độ nào khi tham gia vào quá trình giáo dục đó. 1.1.1. Phân loại các phương pháp đo lường và đánh giá trong giáo dục [9], [25], [27], [28]  Theo cách thực hiện việc đánh giá: Loại quan sát: giúp đánh giá các thao tác, hành vi, phản ứng vô thức, kỹ năng thực hành, một số kỹ năng về nhận thức (cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu). Loại vấn đáp: nhằm đánh giá khả năng ứng đáp các câu hỏi được nêu một cách tự phát trong một tình huống cần kiểm tra (cũng thường sử dụng khi sự tương tác giữa người hỏi và người đối thoại là quan trọng, xác định thái độ của người đối thoại). Loại viết: giúp đánh giá được nhiều thí sinh cùng lúc, có thể đánh giá một số loại tư duy ở mức độ cao … Được chia thành hai nhóm chính:  Nhóm các câu hỏi tự luận: câu hỏi được trả lời dưới dạng mở, thí sinh tự trình bày ý kiến của bản thân bằng hình thức viết để trả lời câu hỏi được nêu.  Nhóm các câu hỏi trắc nghiệm khách quan: câu hỏi nêu lên vấn đề và những thông tin cần thiết để thí sinh có thể trả lời một cách ngắn gọn.
  8. Bảng 1.1. Phân loại các phương pháp đánh giá thành quả học tập theo cách thực hiện việc đánh giá QUAN SÁT Tiểu luận CÁC TRẮC NGHIỆM PHƯƠNG TỰ LUẬN Cung cấp thông tin PHÁP ĐÁNH VIẾT GIÁ THÀNH Ghép đôi QUẢ TRẮC NGHIỆM HỌC TẬP Điển khuyết KHÁCH QUAN Đúng sai VẤN ĐÁP Nhiều lựa chọn ……  Theo mục tiêu của việc đánh giá: Đánh giá trong tiến trình: được sử dụng trong quá trình dạy và học nhằm có được những phản hồi từ học viên, từ đó giúp xem xét thành công, trở ngại trong việc dạy và học và đưa ra cách khắc phục. Loại đánh giá này thường gắn chặt với người dạy, độ chính xác vừa phải và có thể thảo luận, điều chỉnh khi có sai sót. Đánh giá tổng kết: nhằm tổng kết những gì đạt được và xếp loại học viên, lựa chọn học viên thích hợp để tiếp tục đào tạo hoặc sử dụng trong tương lai; giúp đánh giá tính hiệu quả của việc dạy và học. Loại đánh giá này có thể và nên tách khỏi người dạy, thường bám sát vào mục tiêu dạy học nên đòi hỏi độ chính xác cao và khó điều chỉnh khi sai sót.  Theo phương hướng sử dụng kết quả đánh giá: Đánh giá theo chuẩn: được sử dụng để xác định mức độ thực hiện của một cá nhân so với các cá nhân khác trong cùng một nhóm cùng thm gia vào tiến trình đánh giá trên. Đánh giá theo tiêu chí: được sử dụng để xác định mức độ thực hiện của một cá nhân so với các tiêu chí xác định trước của môn học hoặc chương trình học.
  9. 1.1.2. Phân loại các mục tiêu giáo dục  Lĩnh vực nhận thức Trong lĩnh vực này, cá nhân thể hiện ở khả năng suy nghĩ, lập luận và đánh giá có phê phán; được B. Bloom và các cộng sự chia thành 6 mức độ hành vi từ đơn giản đến phức tạp như bảng 1.2. Bảng 1.2. Các mức độ của mục tiêu nhận thức Đánh giá Tổng hợp Phân tích Áp dụng Hiểu Biết - Biết: là sự nhớ, thuộc lòng, nhận biết được và có thể tái hiện các dữ liệu, các sự việc đã biết hoặc đã học trước đây. - Hiểu: là khả năng nắm được ý nghĩa của kiến thức bằng việc chuyển kiến thức từ dạng này sang dạng khác, giải thích, mô tả bằng ngôn từ của bản thân và ước lượng được xu hướng tương lai. - Áp dụng: là khả năng sử dụng kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới. - Phân tích: là khả năng phân chia một kiến thức, một tài liệu ra thành các phần của nó sao cho có thể hiểu được các cấu trúc tổ chức của nó, khả năng này đòi hỏi một sự thấu hiểu cả nội dung và hình thái cấu trúc của tài liệu. - Tổng hợp: là khả năng sắp xếp các bộ phận lại với nhau để hình thành một tổng thể mới. Khả năng này nhấn mạnh các yếu tố sáng tạo, đặc biệt là việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới. - Đánh giá: là khả năng xác định giá trị của tài liệu, phán quyết được về những tranh luận, bất đồng ý kiến về tài liệu dựa trên các tiêu chí nhất định.
  10.  Lĩnh vực tình cảm Lĩnh vực này liên quan đến những đáp ứng về mặt tình cảm, trong đó có cả những mối quan hệ như yêu - ghét, thái độ nhiệt tình - thờ ơ …; được đề xuất phân loại bởi nhóm nhà tâm lý học do David Krathworl chủ trì. - Tiếp nhận: thể hiện độ nhạy cảm đối với việc tồn tại các kích thích.(sự tự nguyện tiếp nhận, sự quan tâm có lựa chọn) - Đáp ứng: thể hiện sự quan tâm tích cực đối với sự tiếp nhận, sự tự nguyện đáp ứng và cảm giác thoả mãn. - Chấp nhận giá trị: thể hiện niềm tin và sự chấp nhận giá trị, sự ưu chuộng hơn và sự cam kết. - Tổ chức: thể hiện sự khái quát hoá các giá trị và tổ chức hệ thống giá trị. - Đặc trưng hoá: bao gồm sự tiếp nhận một tập hợp các giá trị và khái quát thành đặc trưng hay triết lý của cuộc sống.  Lĩnh vực tâm lý vận động (lĩnh vực kỹ năng) Đây là lĩnh vực liên quan đến những kỹ năng đòi hỏi sự khéo léo chân tay, sự phối hợp các cơ bắp và khả năng của thân thể từ đơn giản đến phức tạp. Cách phân loại dưới đây do E. J. Simpson đề xuất. - Nhận biết: các đối tượng, tính chất hoặc quan hệ được nhận biết thông qua các cơ quan cảm xúc, đây là bước đầu tiên và quan trọng trong chuỗi trạng thái - giải thích - hành động dẫn đến thao tác. - Bố trí: là sự điều chỉnh chuẩn bị cho một loại hoạt động hoặc trải nghiệm; gồm ba phương diện là tâm linh, thể chất và cảm xúc. - Đáp ứng được hướng dẫn: là một thao tác hành vi thể hiện của cá nhân dưới sự hướng dẫn của cá nhân khác, là bước đầu của sự phát triển một kỹ năng thao tác. - Cơ chế: ở mức độ này cá nhân đạt được sự tự tin và một mức kỹ năng để thực hiện một thao tác. - Đáp ứng thể hiện phức tạp: cá nhân có thể thực hiện một thao tác phức tạp do mô hình vận động đòi hỏi một cách có hiệu quả trong khoảng thời gian ngắn nhất.
  11. 1.2. Những vấn đề chung về trắc nghiệm khách quan [9], [25], [27], [28], [30] 1.2.1. Khái niệm về trắc nghiệm Trắc nghiệm là một công cụ đo lường tâm lý, đo lường giáo dục nhằm đánh giá thành quả học tập. Đây là một loại công cụ đo lường khả năng của người học, ở bất kỳ cấp học nào, bất kỳ môn học nào, trong lĩnh vực khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội [30]. Phương pháp trắc nghiệm tự luận (TNTL) (hay còn gọi là phương pháp luận đề) là loại hình câu hỏi hoặc bài tập mà HS phải tự viết đầy đủ các câu trả lời hoặc bài giải theo cách riêng của mình. Phương pháp TNKQ là loại hình CH, bài tập mà phương án trả lời đã có sẵn, hoặc nếu HS phải tự viết câu trả lời thì câu trả lời phải là câu ngắn và chỉ duy nhất có một cách viết đúng. Trắc nghiệm này gọi là “khách quan” vì tiêu chí đánh giá là đơn nhất, hoàn toàn không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người chấm. 1.2.2. So sánh phương pháp trắc nghiệm khách quan và phương pháp trắc nghiệm tự luận Hai phương pháp TNKQ và phương pháp TNTL có những ưu điểm và khuyết điểm riêng. Bảng 1.3 dưới đây có sự so sánh dựa trên những đặc điểm chung trong quá trình soạn đề của GV, làm bài của HS và khâu chấm bài của hai phương pháp này. Bảng 1.3 So sánh phương pháp trắc nghiệm khách quan và tự luận Trắc nghiệm khách quan Trắc nghiệm tự luận - HS chỉ được chọn đáp án theo - HS phải tự suy nghĩ và diễn đạt câu những khả năng đã cho sẵn trong CH trả lời bằng ngôn ngữ, cách hành văn của bản thân - Bài trắc nghiệm có nhiều CH có tính - Bài luận đề có ít CH có tính cách cách chuyên biệt nhưng đòi hỏi câu trả tổng quát nhưng phải trả lời bằng lời lẽ lời ngắn gọn dài dòng - Thời gian làm bài chủ yếu để đọc và - Thời gian làm bài chủ yếu để suy
  12. suy nghĩ nghĩ và diễn đạt - Chất lượng bài làm phụ thuộc vào - Chất lượng bài làm phụ thuộc vào kỹ kỹ năng của người ra đề năng của người chấm bài và các yếu tố ngẫu nhiên khác (tâm trạng người chấm, thứ tự các bài chấm, chữ viết...) - Khó soạn, dễ chấm điểm và cho - Dễ soạn, khó chấm điểm và khó cho điểm chính xác hơn điểm chính xác - Có thể dùng phương tiện kỹ thuật - Không thể sử dụng phương tiện kỹ hiện đại để chấm điểm và phân tích kết thuật hiện đại để chấm bài cũng như quả phân tích kết quả - HS tự do bộc lộ suy nghĩ cá nhân, - HS chỉ chứng tỏ kiến thức thông qua người chấm tự do cho điểm theo xu tỉ lệ câu trả lời đúng, người ra đề tự bộc hướng riêng. lộ kiến thức và giá trị của mình thông qua việc đặt CH. - Cho phép và đôi khi khuyến khích sự - Cho phép và đôi khi khuyến khích "lừa phỉnh" đáp án thông qua việc sử sự “phỏng đoán” đáp án. dụng ngôn từ hoa mỹ hay những bằng chứng khó có thể xác định được. - Sự phân bố điểm số của bài làm có - Sự phân bố điểm số của bài làm do thể phần lớn do người chấm quyết định. bài trắc nghiệm quyết định. Thật ra, không có phương pháp nào hoàn toàn tốt hơn phương pháp nào, mỗi phương pháp có những ưu thế riêng và những nhược điểm nhất định. Vấn đề còn lại là phải nắm vững bản chất và việc triển khai cụ thể từng phương pháp sao cho có thể sử dụng đúng quy trình, đúng lúc, đúng chỗ và mang lại hiệu quả cao nhất. Bảng so sánh 1.4 rút gọn lại những ưu thế của mỗi phương pháp trong từng vấn đề.
  13. Bảng 1.4 So sánh ưu thế của phương pháp trắc nghiệm khách quan và tự luận Ưu thế thuộc về Yêu cầu PPTN PPTL Ít tốn công ra đề  Đánh giá được khả năng diễn đạt và tư duy của HS  Đánh giá được khả năng tư duy sáng tạo của HS ở mức độ cao  Đề thi có tính toàn diện, hệ thống  Ít tốn công chấm thi  Độ may rủi thấp, tránh học tủ  Khách quan trong chấm thi, hạn chế tiêu cực  Dễ bảo quản và giữ bí mật đề thi, hạn chế quay cóp khi thi  Có thể sử dụng công nghệ đo lường để phân tích, nâng cao  chất lượng CH và đề thi Có thể lưu giữ số liệu để sử dụng đánh giá trong giáo dục  1.2.3. Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan thông dụng Trong phương pháp TNKQ có nhiều kiểu CH khác nhau, và khi soạn thảo CH trắc nghiệm, ta cần chú ý hai yêu cầu chung nhất:  Phải sử dụng ngôn ngữ phù hợp với HS.  Không hỏi quan điểm riêng của HS, chỉ hỏi sự kiện, kiến thức. Ngoài ra, mỗi loại câu trắc nghiệm khác nhau thì có những yêu cầu riêng khi soạn thảo. Ở đây tôi sẽ chỉ đề cập đến một số loại CH TNKQ được sử dụng trong phần thực nghiệm của luận văn.
  14. 1.2.3.1. Loại câu điền khuyết  Hình thức Là những CH với giải đáp ngắn hoặc là những câu phát biểu với một hay nhiều chỗ trống; HS phải tự nghĩ ra nội dung thích hợp để điền vào chỗ trống bằng một từ hoặc một nhóm từ ngắn.  Ưu khuyết điểm Ưu điểm - Loại CH này có thể xem vừa là loại CH trắc nghiệm khách quan vừa là loại CH luận đề ngắn, một hình thức không thể thiếu trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi; do đó có thể kiểm tra được một phần khả năng diễn đạt và suy luận của HS. - Câu trả lời thường rất ngắn và cách cho điểm có thể khách quan hơn các CH luận đề. - Xác suất HS chọn được phương án đúng do ngẫu nhiên (độ may rủi) là không có. - Dễ biên soạn. Khuyết điểm - Cách chấm bài không dễ dàng: việc chấm điểm sẽ rất khó khăn và mất thời gian vì rất khó có thể đoán trước được tất cả các cách trả lời khác nhau nhưng vẫn đúng. Do đó, hình thức trắc nghiệm này đòi hỏi ở người chấm khả năng đánh giá câu trả lời để tránh chấm sai. Bên cạnh đó, hình thức này cũng khó có thể dùng máy để chấm. - Điểm số không đạt được tính khách quan cao: bởi vì như đã phân tích ở trên, hình thức này vẫn phải phụ thuộc một phần vào trình độ của người chấm và cách dùng từ/cụm từ của HS.  Một số lưu ý khi sử dụng - Câu trả lời phải có tiêu chuẩn đúng sai rõ rệt và ngắn, nếu là một từ đơn nhất có tính đặc trưng càng tốt (như người, vật, địa điểm, thời gian, khái niệm). - Chỉ nên dùng một chỗ trống trong một câu. Tuy nhiên, đối với đối tượng HSG thì ta có thể để nhiều chỗ trống trong một câu.
  15. - Cung cấp đủ thông tin để chọn từ trả lời. - Có thể dùng ý tưởng từ những câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn làm CH điền khuyết khi không thể tìm đủ số mồi nhử tối thiểu cần thiết (thay vì phải cố đưa ra những mồi nhử vô nghĩa). 1.2.3.2. Loại câu trắc nghiệm thực nghiệm  Hình thức Tương tự như loại câu trắc nghiệm điền khuyết, tuy nhiên nội dung của CH này gắn với thực nghiệm và những hiện tượng thực tế xảy ra trong cuộc sống  Ưu khuyết điểm Ngoài những ưu khuyết điểm giống như CH trắc nghiệm điền khuyết, loại câu này còn có những ưu điểm sau: - Đòi hỏi kỹ năng thực nghiệm của HS. - Không chỉ dừng ở mức độ áp dụng kiến thức mà còn phải có sự phân tích, tổng hợp và đánh giá để có thể dự đoán chính xác hiện tượng sẽ xảy ra như thế nào, giải thích tại sao….; vì đây là những hiện tượng đòi hỏi ở HS có quá trình lâu dài làm quen với thực nghiệm trong phòng thí nghiệm hoặc những hiện tượng thực tế mà HS chưa gặp hoặc ít để ý đến. Như vậy, ở loại CH này đòi hỏi mức độ tư duy cao của HS. 1.2.3.3. Loại câu trắc nghiệm đơn tuyển (trắc nghiệm nhiều lựa chọn MCQ)  Hình thức CH gồm có hai phần: - Phần gốc: là một CH hoặc một câu bỏ lửng hoặc cũng có thể có hình vẽ, đồ thị đi kèm với CH. - Phần lựa chọn: gồm nhiều đáp án (thông thường là 4 hoặc 5 đáp án) trong đó có một và chỉ một đáp án là đúng hoặc đúng nhất, các đáp án còn lại là những “mồi nhử”.  Ưu và khuyết điểm Ưu điểm - Là hình thức phổ biến nhất hiện nay.
  16. - Xác suất chọn phương án đúng do ngẫu nhiên (độ may rủi) không cao - Có thể chấm điểm và phân tích kết quả bằng máy giúp tiết kiệm thời gian, giảm thiểu sai sót chủ quan của con người. - Có thể phân tích được độ khó và độ phân cách của từng câu để từ đó có thể có được các câu trắc nghiệm tốt, loại bỏ hoặc điều chỉnh những câu chưa hay. - Có thể tạo ra ngân hàng CH và sử dụng lại CH nhiều lần mà không sợ lộ đáp án. - Nếu soạn đúng kỹ thuật và cẩn thận thì có thể kiểm tra được những kỹ năng, mức độ nhận thức và hình thức tư duy cao hơn. Khuyết điểm - Phải mất rất nhiều thời gian để có thể xây dựng được các câu trắc nghiệm tốt. - Nếu không cẩn thận, CH trắc nghiệm đơn tuyển có khuynh hướng chỉ để kiểm tra khả năng nhận biết và nhớ. - Làm tăng khuynh hướng nhìn nhận sự vật trắng đen rạch ròi. - Làm cho HS có khuynh hướng chọn kiểu học dàn trải hay nói cách khác là học gạo để nhớ. - Ngoại trừ những CH đã được xem lại nhờ những đồng nghiệp dạy chung, HS phải chịu sự ảnh hưởng từ sự không cẩn thận của người viết bài kiểm tra. - Có khuynh hướng làm giảm các loại điểm (hay nói cách khác là làm giảm độ lệch tiêu chuẩn) do mức độ của sự phân biệt.  Một số lưu ý khi soạn thảo - Các phương án sai phải có vẻ hợp lý. - Chỉ nên dùng 4 hoặc 5 phương án lựa chọn. - Đảm bảo câu dẫn nối liền với mọi phương án lựa chọn theo đúng ngữ pháp. - Chỉ có một phương án là đúng hoặc đúng nhất. - Tránh dùng câu phủ định, đặc biệt là câu phủ định hai lần. - Tránh lạm dụng kiểu khẳng định “Không phương án nào trên đây đúng” hoặc “Mọi phương án trên đây đều đúng”
  17. - Tránh làm cho phương án đúng khác biệt so với các phương án nhiễu (dài hoặc ngắn hơn, mô tả tỉ mỉ hơn…). - Phải sắp xếp phương án đúng và các phương án nhiễu theo một trật tự ngẫu nhiên. 1.2.3.4. Loại câu trắc nghiệm đa tuyển (trắc nghiệm nhiều đáp án đúng MRQ)  Hình thức Tương tự như hình thức của CH trắc nghiệm đơn tuyển MCQ, CH trắc nghiệm đa tuyển MRQ cũng có hai phần: - Phần gốc: là một CH hoặc một câu bỏ lửng hoặc cũng có thể có hình vẽ, đồ thị đi kèm với CH. - Phần lựa chọn: gồm nhiều đáp án (thông thường là 4 hoặc 5 đáp án) trong đó có một hoặc nhiều hơn một đáp án đúng, các đáp án còn lại là những “mồi nhử”.  Ưu và khuyết điểm Ngoài một số ưu khuyết điểm giống như câu trắc nghiệm đơn tuyển, câu trắc nghiệm đa tuyển còn có những ưu khuyết điểm sau: Ưu điểm - Độ khó cao hơn loại CH đơn tuyển vì HS không thể biết trước được số đáp án đúng phải chọn là bao nhiêu, khó có thể “phỏng đoán” được đáp án do đó độ may rủi sẽ rất thấp. - Độ phân cách cao hơn giúp phân biệt HS giỏi với các HS khác tốt hơn. - Bắt buộc HS phải đọc kỹ từng lựa chọn. Khuyết điểm - Khó có thể sử dụng máy để chấm. - HS có thể chọn nhiều đáp án để làm tăng khả năng chọn câu đúng, độ may rủi cao (tuy nhiên điều này vẫn có thể khắc phục được dựa vào việc xây dựng một thang điểm phù hợp làm giảm độ may rủi khi làm loại câu trắc nghiệm này)  Một số chú ý khi soạn thảo Ngoài những lưu ý giống như câu trắc nghiệm đơn tuyển, cần lưu ý thêm những yêu cầu sau:
  18. - Các phương án lựa chọn phải hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai, không có ngoại lệ. - Phải có ít nhất một phương án lựa chọn là đúng. - Số phương án đúng của mỗi câu cũng theo một trật tự ngẫu nhiên - Với hình thức trắc nghiệm cho phép lựa chọn nhiều đáp án, một số HS sẽ cố gắng kiếm điểm bằng cách đánh càng nhiều lựa chọn thì xác suất rơi vào đáp án đúng càng cao. Để tránh tình trạng trên, với hình thức trắc nghiệm này người ra đề trắc nghiệm sẽ phải xây dựng một thang điểm đánh giá phù hợp, khác so với các loại trắc nghiệm khác, chẳng hạn như: chọn đáp án đúng và đủ: 3đ/câu; chọn đúng nhưng không đủ : 1đ; chọn lựa chọn sai hoặc bỏ qua: 0đ. 1.3. Các chỉ số để đánh giá một CH hoặc một đề thi trắc nghiệm Mục đích của việc phân tích câu hoặc đề trắc nghiệm là nhằm: - Biết được mức độ khó dễ của từng câu/đề. - Chọn được các câu có độ phân cách cao, nghĩa là phân biệt được HS giỏi với HS kém - Biết được lý do tại sao câu trắc nghiệm không đạt được hiệu quả mong muốn và cần phải sửa đổi như thế nào để có được câu/đề trắc nghiệm tốt hơn Để phân tích một câu/đề trắc nghiệm ta sẽ dựa trên các phương diện sau: - Độ khó - Độ phân cách - Độ tin cậy (mức độ chính xác của phép đo) - Độ giá trị (mức độ đạt mục tiêu của phép đo: đo được cái cần đo) 1.4. Lý thuyết trắc nghiệm cổ điển (Classical Test Theory CTT) [9], [25], [26], [27] Lý thuyết trắc nghiệm cổ điển được bắt đầu xây dựng từ đầu thế kỷ 20 và hoàn thiện dần cho đến thập niên 1970.
  19. 1.4.1. Độ phân cách của câu trắc nghiệm Khả năng của một câu trắc nghiệm thực hiện được sự phân biệt HS giỏi với HS kém được gọi là độ phân cách (độ phân biệt). Khi đó, nó sẽ làm tăng tính tin cậy và giá trị của bài trắc nghiệm. Công thức tính độ phân cách câu (D) Dựa vào tổng điểm thô của từng người, ta tách ra một nhóm cao (nhóm giỏi) gồm 27% số người của toàn nhóm có điểm cao từ trên xuống và một nhóm thấp (nhóm kém) cũng gồm 27% số người của toàn nhóm có điểm thấp từ dưới lên. HL D (1.1) N trong đó H là số người trả lời đúng trong nhóm cao L là số người trả lời đúng trong nhóm thấp N là số người của một trong hai nhóm trên (27% tổng số) Ý nghĩa độ phân cách câu  Độ phân cách câu giới hạn từ mức -1.00 đến +1.00. Độ phân cách càng cao thì CH càng khó hơn đối với HS kém.  Dựa vào độ phân cách của CH, người ta sẽ xem xét chỉnh sửa và chọn lựa CH phù hợp với mục tiêu phân loại HS.  Bảng 1.5 cho thấy thang đánh giá độ phân cách CH Bảng 1.5 Thang đánh giá độ phân cách Chỉ số D Đánh giá câu trắc nghiệm D = +1.00 Tất cả HS nhóm cao làm đúng, HS nhóm thấp làm sai→loại bỏ CH này 0.40  D
  20. 1.4.2. Độ khó Độ khó của một CH trắc nghiệm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: trình độ kiến thức, thể loại, cách hỏi, đối tượng HS,… Tuy nhiên, nếu định nghĩa độ khó theo các đặc tính nội tại nào đó của câu thì sẽ gây rất nhiều khó khăn cho các nhà đo lường giáo dục và tâm lý. Vì vậy, người ta định nghĩa độ khó của câu căn cứ vào số người trả lời đúng CH ấy. Độ khó của câu trắc nghiệm chính là tỷ lệ phần trăm số người trả lời đúng câu trắc nghiệm trên tổng số người tham gia làm câu trắc nghiệm đó, ký hiệu là p. Công thức: Tổng số TS làm đúng CH Độ khó p của câu thứ i = (1.2) Tổng số TS tham gia làm CH Ý nghĩa của chỉ số p:  Độ khó có giá trị từ 0 → 1 (tương ứng với độ khó của CH từ dễ → khó). Giá trị p càng nhỏ thì câu trắc nghiệm càng khó và ngược lại. Độ khó của một câu trắc nghiệm thông thường nằm trong khoảng 0,25 – 0,75 là chấp nhận được.  Ta có thể dễ dàng xác định mức khó dễ của một câu trắc nghiệm mà không cần xem xét nội dung của nó thuộc lĩnh vực khoa học nào; bởi vì tính chất khó dễ là một đặc tính của cả câu trắc nghiệm lẫn người làm trắc nghiệm.  Chỉ số p cho ta một thứ đo lường chung về nhiều lĩnh vực hoàn toàn khác nhau.  Từ giá trị p, ta xem xét nhằm chỉnh sửa hoặc loại bỏ, xếp loại CH và đưa vào ngân hàng CH Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm: Một bài trắc nghiệm tốt là một bài trắc nghiệm gồm những câu có độ khó trung bình hay còn gọi là độ khó vừa phải. Công thức tính độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm: 100% + % may rủi Độ khó vừa phải = (1.3) 2

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản