intTypePromotion=2
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 141
            [banner_name] => KM2 - Tặng đến 100%
            [banner_picture] => 986_1568345559.jpg
            [banner_picture2] => 823_1568345559.jpg
            [banner_picture3] => 278_1568345559.jpg
            [banner_picture4] => 449_1568779935.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 7
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:45
            [banner_startdate] => 2019-09-13 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-13 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy và học môn Hoá học ở trường trung học phổ thông – Phần Hóa 10 chương trình Nâng cao

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:133

0
30
lượt xem
4
download

Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy và học môn Hoá học ở trường trung học phổ thông – Phần Hóa 10 chương trình Nâng cao

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy và học môn Hoá học ở trường trung học phổ thông – Phần Hóa 10 chương trình Nâng cao đưa ra các hoạt động nhóm trong bài lên lớp thành những nhiệm vụ học tập cụ thể, thích hợp với lứa tuổi, trình độ và vốn kinh nghiệm của HS nhằm hình thành và phát triển các kĩ năng hoạt động và các năng lực xã hội.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy và học môn Hoá học ở trường trung học phổ thông – Phần Hóa 10 chương trình Nâng cao

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH ________________ Hỉ A Mổi TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG DẠY VÀ HỌC MÔN HOÁ HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG – PHẦN HOÁ 10 CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn hóa học Mã số : 60 14 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. ĐẶNG THỊ OANH Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
  2. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BTH : Bảng tuần hoàn dd : Dung dịch ĐC : Đối chứng GV : Giáo viên HS : Học sinh NHT : Nhóm hợp tác NT : Nhóm trưởng NXB : Nhà xuất bản PP : Phương pháp PPDH : Phương pháp dạy học PTHH : Phương trình hoá học SGK : Sách giáo khoa STT : Số thứ tự SV : Sinh viên THPT : Trung học phổ thông TN : Thực nghiệm TV : Thành viên TP. HCM : Thành phố Hồ Chí Minh VD : Ví dụ
  3. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Từ rất lâu, kinh nghiệm sống của người Việt Nam đã đúc kết: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Câu tục ngữ dạy chúng ta rằng nếu biết cách hợp sức không những về thể lực mà cả trí tuệ sẽ tạo ra được những điều phi thường. Câu chuyện cổ tích “Bó đũa” có chi tiết: người cha cầm lấy bó đũa và bảo từng người con của ông hãy bẻ đi, người con nào cũng cố gắng hết sức mình nhưng không sao bẻ nổi, lúc đó người cha lại bảo "Các con hãy bẻ từng chiếc một xem sao", lập tức năm người con bẻ một cách dễ dàng. Qua đó, câu chuyện đã giáo dục con cháu sống phải biết đoàn kết vì đoàn kết là sức mạnh để tồn tại và chiến thắng. Đó là những ý tưởng giáo dục có giá trị nhân văn sâu sắc. Trong thời đại nền kinh tế hội nhập ngày nay, trước sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, chúng ta càng phải biết hợp tác, giao lưu, học tập lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm và chuyển giao công nghệ tiên tiến. Trước tình hình đó, nền giáo dục quốc dân cần phải có những đổi mới phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội. Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ IV đã chỉ rõ “…Giáo dục và đào tạo là động lực thúc đẩy và là điều kiện cơ bản đảm bảo việc thực hiện mục tiêu kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước…”. Giáo dục có nhiệm vụ đào tạo thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có đủ năng lực đối mặt với những cơ hội và thách thức trong thời kì hội nhập, đào tạo con người có đủ khả năng sống và làm việc theo yêu cầu của thời đại mới – thời đại công nghệ, truyền thông. Vì vậy, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường học sinh cần được trang bị một số kĩ năng sống quan trọng. Đó là kĩ năng hợp tác và làm việc theo nhóm, kĩ năng sử dụng các phần mềm tin học, kĩ năng phát hiện và giải quyết các vấn đề, kĩ năng trình bày và thuyết phục ... đồng thời hình thành và phát triển cho học sinh các năng lực xã hội như năng lực lãnh đạo, xây dựng lòng tin, xử lí xung đột, cổ vũ, động viên... Trên thế giới và ở nước ta hiện nay đang có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về đổi mới PPDH theo các xu hướng khác nhau. Một trong những xu hướng đổi mới cơ bản là phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và khả năng tự học của học sinh; chuyển trọng tâm hoạt động từ giáo viên sang học sinh. Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang tìm tòi khám phá; tạo điều kiện cho học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo. Trong những năm gần đây, dạy học thông qua hoạt động nhóm đang được ngành giáo dục quan tâm vì tác dụng đặc biệt của nó trong việc hình thành nhân cách con người mới năng động, sáng tạo, có khả năng giao tiếp và hợp tác. Hoạt động nhóm được xem là hình thức tổ chức dạy học vô cùng hiệu quả với nhiều mục đích, nội dung dạy học khác nhau và với nhiều đối tượng tính cách khác nhau. Thực tế cho thấy hoạt động nhóm đã quen thuộc với sinh viên đại học, cao đẳng. Nhưng ở bậc phổ thông còn chưa phổ biến, vì những lí do khách quan mà khó tổ chức hoạt động nhóm hiệu quả, gây
  4. lãng phí thời gian. Gần đây, một số tác giả đã nghiên cứu về các hướng tổ chức hoạt động nhóm phù hợp với chương trình và điều kiện cơ sở vật chất trong trường học hiện nay. Tuy nhiên những công trình này còn ít và chưa đầy đủ. Vì vậy, việc nghiên cứu về vấn đề này rất cần được quan tâm. Với những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG DẠY VÀ HỌC MÔN HOÁ HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG – PHẦN HOÁ 10 CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO”. 2. Mục đích nghiên cứu Tổ chức các hoạt động nhóm trong bài lên lớp thành những nhiệm vụ học tập cụ thể, thích hợp với lứa tuổi, trình độ và vốn kinh nghiệm của HS nhằm hình thành và phát triển các kĩ năng hoạt động và các năng lực xã hội. Thông qua hoạt động nhóm, HS trở thành chủ thể phát hiện kiến thức mới, góp phần nâng cao chất lượng dạy học nói chung và dạy học hóa học nói riêng ở trường THPT. 3. Nhiệm vụ của đề tài - Nghiên cứu cơ sở lí luận về + Đổi mới PPDH. + Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học. + Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hoá học ở trường THPT. + Nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa lớp 10, 11, 12. - Tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hoá học ở các trường THPT. - Nghiên cứu và đề xuất các hình thức tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hoá học ở trường THPT. - Thực nghiệm sư phạm để xác định tính hiệu quả và tính khả thi của các bài lên lớp có tổ chức hoạt động nhóm. 4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Thiết kế bài lên lớp có tổ chức hoạt động nhóm trong dạy và học hoá học ở trường THPT. - Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học hóa học ở trường THPT. 5. Phạm vi nghiên cứu Tập trung nghiên cứu 5 hình thức tổ chức hoạt động nhóm trong dạy và học môn hoá học ở trường THPT và vận dụng thiết kế một số bài lên lớp thuộc chương trình hoá học 10 nâng cao. 6. Giả thuyết khoa học Nếu người giáo viên tổ chức tốt hoạt động nhóm trong dạy học thì sẽ rèn luyện cho HS các kĩ năng hoạt động, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học. 7. Phương pháp nghiên cứu  Phương pháp nghiên cứu lí luận:
  5. - Đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hoá các tài liệu liên quan để xây dựng cơ sở lí thuyết và nội dung của đề tài. - Phương pháp mô hình hóa.  Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: - Trò chuyện, phỏng vấn. - Điều tra bằng phiếu câu hỏi. - Phương pháp chuyên gia.  Thực nghiệm xử lí thông tin: - Phương pháp phân tích số liệu. - Phương pháp tổng hợp và khái quát hóa. - Phương pháp thống kê toán học.
  6. Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1.1. Lí luận và những nghiên cứu về hoạt động nhóm trong dạy học ở Châu Âu Bài báo “Cooperative learning: An overview from Psychological and cultural perspective” của tài liệu hội thảo “Về đào tạo giáo viên và phương pháp dạy học hiện đại”, viện Nghiên cứu Sư phạm Hà Nội (2007) đã viết [41, tr.1]: Kurt Lewin – nhà khoa học được coi là cha đẻ của tâm lý học xã hội. Ông là người có ảnh hưởng chính đến sự hình thành và phát triển của trào lưu Tương tác nhóm vào đầu những năm 1940. Một vài học trò của ông đã kế thừa dòng nghiên cứu này: Morton Deutsch là người đi tiên phong trong việc nghiên cứu về mối quan hệ “hợp tác” và “cạnh tranh” cùng với nhiều nghiên cứu về khoa học tâm lý xã hội ứng dụng. Các công trình của Deutsch trải dài từ các nghiên cứu về tính hiệu quả của nhóm trong môi trường đối đầu và đối thoại cho đến các giải pháp trong xung đột vũ khí hạt nhân. Thế hệ thứ hai của những nhà khoa học theo tư tưởng Lewin bao gồm một vài tên tuổi lớn như Aronson và anh em nhà Johnson. Thế hệ thứ ba chứng kiến sự hưng thịnh của tính ứng dụng nhóm với Slavin, Kagan, Sharan và Cohen, đều là những nhà nghiên cứu đề cao tính thực tế và hiệu quả trực tiếp của hoạt động nhóm. Sự ứng dụng của dạy học hợp tác là một trong những nghiên cứu thành công và nhất quán của lĩnh vực giáo dục. Ngoài những kết quả khả quan về chất lượng học tập, mức độ nhận thức, kĩ năng suy luận,... các nghiên cứu về dạy học hợp tác còn đem lại những kết quả bất ngờ về kĩ năng giao tiếp đa văn hoá, mở ra một phương hướng áp dụng mới để giải quyết xung đột sắc tộc và các vấn đề do đa văn hoá gây ra, đặc biệt tại các nước có số dân nhập cư cao. Ba tiền đề mở đường cho những nghiên cứu về hợp tác nhóm: sự tương thuộc xã hội, sự phát triển tri thức và thái độ trong học tập. [44], [51]  Thuyết tương thuộc xã hội Tương tác với những người khác là điều cơ bản cho sự tồn tại của con người. Trong dạy học, sự tương thuộc xã hội liên quan tới sự nỗ lực của học sinh để phát triển các mối quan hệ tích cực, điều chỉnh tâm lí và thể hiện kĩ năng xã hội. Tiền đề của sự tương thuộc xã hội về hợp tác nhóm giả định rằng cách mà tương thuộc xã hội được xây dựng chỉ ra cách mọi người tác động lẫn nhau. Một trong những yếu tố quan trọng là phải xây dựng được những lớp học trong đó sự hợp tác có tồn tại. Kết quả là sự hợp tác dẫn tới các mối tương thuộc được đẩy mạnh khi những thành viên động viên và khuyến khích tinh thần nỗ lực học.
  7. Người đóng góp: - Đầu những năm 1900, Kurt Koffka: Nhóm là động lực cho toàn bộ sự tương thuộc của các thành viên. - 1920 – 1940, Kurt Lewin nghiên cứu sự tương thuộc giữa các thành viên, mục tiêu chung. - 1940 – 1970, Morton Deutsch: Tích cực, tiêu cực và sự tương thuộc không chủ đích (nỗ lực hợp tác, thi đua, chủ nghĩa cá nhân); lòng tin và sự xung đột; sự phân chia công bằng. - Những năm 1960, David và Roger Johnson: Ảnh hưởng của sự tương thuộc xã hội đến thành tích, các mối quan hệ, sức khỏe tâm lý và sự phát triển về mặt xã hội, yếu tố trung gian (sự tương thuộc tích cực, trách nhiệm cá nhân, khuyến khích sự tương tác, kĩ năng xã hội, xử lí nhóm). - Những năm 1970, Dean Tjosvold: nghiên cứu trong môi trường công nghiệp và thương mại. Kết luận: Nỗ lực hợp tác được dựa trên động cơ bên trong phát triển bởi những nhân tố cá nhân khi làm việc tập thể và nguyện vọng chung để đạt được một thành quả có ý nghĩa. Tập trung vào những khái niệm liên quan tới việc giải quyết mối quan hệ giữa các cá nhân.  Thuyết phát triển tri thức Triển vọng phát triển tri thức được đặt nền móng bởi nghiên cứu của Jean Piaget và Lev Vygotsky. Piaget đề nghị rằng khi mỗi cá nhân làm việc với nhau mâu thuẫn về kiến thức xã hội xảy ra và sản sinh sự mất cân bằng về tri thức, từ đó khuyến khích khả năng nhận xét mọi việc trên một quan điểm khác và tranh luận. Thuyết của Vygotsky trình bày về kiến thức như một sản phẩm của xã hội. Người đóng góp: Piaget, Vygotsky, Kohlberg, Murray, những nhà lí luận (Johnson & Tjosvold) cơ cấu lại tri thức. Kết luận: Tập trung vào những gì xảy ra trong một người (Ví dụ: sự mất cân bằng, sự tái cơ cấu kiến thức).  Thuyết thái độ học tập Triển vọng thái độ xã hội bao hàm những nỗ lực hợp tác được cung cấp bởi động cơ bên ngoài để đạt được giải thưởng cho cả nhóm. Người đóng góp: Skinner (nhóm ngẫu nhiên); Homans, Thibaut & Kelley (sự cân bằng giữa giải thưởng và giá trị); Mesch-Lew-Nevin (ứng dụng của học nhóm). Kết luận: Những nỗ lực hợp tác được tăng cường bởi những động cơ bên ngoài để đạt được giải thưởng nhóm. Tóm lại, dạy học theo nhóm được quan tâm từ những thập niên của thế kỉ 20, bắt nguồn từ các nước phương Tây. Nhiều nghiên cứu về hoạt động nhóm trong dạy học được xây dựng mang tính ứng dụng thực tiễn cao trải qua nhiều thời kì lịch sử khác nhau. 1.1.2. Các bài báo khoa học, luận văn, khoá luận về tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học  Bài báo khoa học “Làm thế nào để tổ chức nhóm khoa học và đánh giá việc học nhóm công bằng đến từng học sinh” của Thạc sỹ Tống Xuân Tám, Thạc sỹ Phan Thị Thu Hiền (giảng
  8. viên Khoa sinh học – Trường Đại học Sư phạm TP. HCM) đăng trên kỷ yếu hội thảo với chủ đề: “Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau một năm thực hiện” do viện Nghiên cứu Giáo dục (Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh) tổ chức hội thảo khoa học (2007) [31]. Bài báo gồm 4 vấn đề liên quan đến tổ chức hoạt động nhóm: - Cách thức chia nhóm. - Các bước tổ chức hoạt động nhóm. - Cách thức tổ chức báo báo kết quả và đánh giá hoạt động nhóm. - Mẫu phiếu đánh giá sản phẩm hoạt động dự án “Dịch cúm gia cầm”: Tờ rơi, trang web, bài trình chiếu power point.  Bài viết về phương pháp dạy học được đăng trên trang web trường Đại học Cần Thơ, địa chỉ: www.ctu.edu.vn/colleges/tech/daotao/2006/thamkhao/PPGD%20moi.pdf, chúng tôi không tìm được tên tác giả. Nhưng bài viết với nhiều nội dung lí luận và phương pháp dạy học giá trị, cụ thể gồm 3 chương như sau [52]: Chương 1 - Giúp sinh viên học Chương 2 - Việc học với sinh viên là trung tâm Chương 3 - Việc dạy học theo nhóm nhỏ 3.1. Dạy học theo nhóm nhỏ là gì ? 3.2. Việc quản lí nhóm 3.3. Nhiệm vụ của nhóm 3.4. Duy trì hoạt động của nhóm 3.5. Kế hoạch làm việc của PPDH theo nhóm nhỏ 3.6. Giới thiệu các phương tiện kích thích nhóm tham gia thảo luận 3.7. Các phương pháp kĩ thuật áp dụng cho việc thảo luận nhóm 3.8. Các khó khăn trong việc dạy học theo nhóm nhỏ 3.9. Đánh giá PPDH theo nhóm nhỏ  Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục “Dạy học bằng phương pháp tổ chức hoạt động nhóm nhằm nâng cao chất lượng lĩnh hội kiến thức cho học sinh lớp 10 nâng cao qua chương nhóm oxi” của học viên Phan Đồng Châu Thuỷ, Đại học Sư phạm Huế (2008) [36] Luận văn đã đề ra một số biện pháp tổ chức hoạt động nhóm cho các dạng bài lên lớp thuộc chương nhóm oxi, hóa học lớp 10 nâng cao: - Dạng bài truyền thụ kiến thức mới có tổ chức hoạt động nhóm sử dụng bài tập, thí nghiệm biểu diễn, phim thí nghiệm, hình ảnh. - Dạng bài thực hành.
  9. - Dạng bài luyện tập có tổ chức hoạt động nhóm sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan và bài tập tự luận. Thiết kế được 11 tiết giáo án hóa học 10 nâng cao theo phương pháp tổ chức hoạt động nhóm. Thực nghiệm định lượng để đánh giá tính hiệu quả của phương pháp học tập nhóm qua bài kiểm tra 15 phút và 1 tiết. Nhận xét: Tác giả đã thấy được tầm quan trọng và ý nghĩa giáo dục của tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hoá học. Đề tài nghiên cứu trên đã góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Các hình thức tổ chức dạy học theo nhóm và nội dung hoạt động đã phát huy được tính tính cực, khả năng tư duy của HS. Tuy nhiên, tác giả chủ yếu xây dựng hoạt động nhóm nhỏ trong thời gian ngắn (3-5 phút); chưa chú trọng đến cách chia nhóm và rèn luyện các kĩ năng hoạt động cho HS. Phương án đánh giá kết quả hoạt động nhóm còn chưa đánh giá được sự đóng góp của mỗi thành viên vào kết quả chung của nhóm.  Khoá luận tốt nghiệp “Thử nghiệm phương pháp hợp tác nhóm nhỏ và phương pháp đóng vai trong dạy học môn hoá lớp 10 nâng cao nhằm phát huy tính tích cực của HS” của sinh viên Nguyễn Thị Khánh Chi (2007), trường Đại học Sư phạm TP. HCM. [14] Đề tài đã nghiên cứu và xây dựng được + 8 hình thức dạy học hợp tác nhóm nhỏ: o Trả lời câu hỏi trong phiếu học tập. o Trả lời câu hỏi do GV trực tiếp đưa ra. o Thực hành thí nghiệm theo nhóm. o Mô tả thí nghiệm. o Quan sát hình vẽ hay mô hình. o Hỏi đáp giữa các nhóm. o Cùng nhau nghiên cứu nội dung của bài học. o Giải bài tập hoá học theo nhóm. + 12 kịch bản đóng vai. + 14 phiếu ghi bài và nhiều phiếu học tập cho các hoạt động nhóm. + Thiết kế được 16 giáo án thuộc chương trình hoá học lớp 10 nâng cao có vận dụng phương pháp hợp tác nhóm nhỏ.  Khoá luận tốt nghiệp “Thiết kế giáo án dạy học theo nhóm nhỏ kết hợp công nghệ thông tin” của sinh viên Đoàn Ngọc Anh (2007), trường Đại học Sư phạm TP. HCM. [1] Khoá luận đã nghiên cứu những vấn đề liên quan đến tổ chức hoạt động nhóm là: - Những nội dung có thể cho HS thảo luận nhóm. - Một số kinh nghiệm khi tổ chức thảo luận nhóm. - Qui trình tiến hành hoạt động nhóm.
  10. Tóm lại, hai khoá luận trên bước đầu tìm hiểu cơ sở lí luận về phương pháp dạy học theo nhóm, đúc kết được một số kinh nghiệm tổ chức nhóm hiệu quả. Tuy nhiên phần lí luận còn chưa đầy đủ, chi tiết; phần thực nghiệm còn chưa đánh giá được tính hiệu quả về sự phát triển các kĩ năng hoạt động của HS. Kết luận: Bên cạnh việc truyền thụ kiến thức, tổ chức hoạt động nhóm có ưu điểm nổi bật đáp ứng được mục tiêu đổi mới PPDH và chất lượng đào tạo. Ưu điểm đó là rèn luyện các kĩ năng hoạt động cần thiết, giúp người học mạnh dạn, tự tin hơn khi bảo vệ ý kiến của mình; trao đổi, chia sẻ nguồn thông tin, kinh nghiệm làm việc; biết hợp tác và chung sống với cộng đồng ... Các bài báo, khoá luận và luận văn trong những năm gần đây cho thấy sự quan tâm đặc biệt của giáo dục đối với tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học. Các đề tài đã xây dựng hệ thống nội dung hoạt động chi tiết phát huy được tính tích cực trong tư duy của HS. Tuy nhiên, còn chưa chú trọng đến sự phát triển các kĩ năng hoạt động cho HS. Vì vậy, tác giả quyết định xây dựng đề tài luận văn thạc sỹ theo hướng tổ chức hoạt động nhóm vừa rèn khả năng tư duy, vừa phát huy được tiềm năng và trang bị những kĩ năng hoạt động quan trọng cho HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, giúp HS yêu thích môn học hơn. 1.2. Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) 1.2.1. Những nét đặc trưng của đổi mới PPDH [13, tr.114], [39] Với mục tiêu đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, đòi hỏi giáo dục nước nhà phải đào tạo nên những con người lao động có tính sáng tạo, thích ứng với sự phát triển nhanh và đa dạng của xã hội. Các PPDH truyền thống tuy đã khẳng định được những thành công nhất định, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Phổ biến vẫn là thuyết trình, thiên về truyền thụ kiến thức một chiều, áp đặt, không đáp ứng được các yêu cầu đã nêu. Do đó chúng ta phải đổi mới PPDH theo hướng dạy cách học, cách suy nghĩ, dạy phương pháp tư duy. Cụ thể là: - Phát huy tính chủ động, sáng tạo trong quá trình nhận thức, vận dụng. - Tạo điều kiện để học sinh tự phát hiện, tìm hiểu, đặt và giải quyết vấn đề. - Tăng cường trao đổi, thảo luận. - Tạo điều kiện hợp tác trong nhóm. - Tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau. - Tận dụng tri thức thực tế của học sinh để xây dựng kiến thức mới. Như vậy đổi mới PPDH nói chung và PPDH hóa học nói riêng là một yêu cầu khách quan và là một nhu cầu tất yếu của xã hội học tập. 1.2.2. Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay [6, tr.7]
  11. Trên thế giới và ở nước ta hiện nay đang có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về đổi mới PPDH theo các hướng khác nhau. Sau đây là một số xu hướng cơ bản: - Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học. Chuyển trọng tâm hoạt động từ GV sang HS. Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang tìm tòi, khám phá. Tạo điều kiện cho HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo. - Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời. Không chỉ dạy kiến thức mà còn dạy cách học, trang bị cho HS phương pháp học tập, phương pháp tự học. - Tăng cường rèn luyện năng lực tư duy, khả năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống thực tế. Chuyển từ lối học nặng về tiêu hoá kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức. - Cá thể hoá việc dạy học. - Tăng cường sử dụng thông tin trên mạng, sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy học. - Từng bước đổi mới việc kiểm tra đánh giá, giảm việc kiểm tra trí nhớ đơn thuần, khuyến khích việc kiểm tra khả năng suy luận, vận dụng kiến thức; sử dụng nhiều loại hình kiểm tra thích hợp với từng môn học. - Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học ở mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của HS, theo cấp học, bậc học). 1.3. Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học 1.3.1. Khái niệm nhóm và hoạt động nhóm Nhóm là tập hợp những con người có hành vi tương tác lẫn nhau, để thực hiện các mục tiêu (chung và riêng) và thoả mãn các nhu cầu cá nhân. Hoạt động nhóm trong dạy học (hay còn gọi là dạy học hợp tác) là một hình thức tổ chức dạy học mà trong đó HS dưới sự hướng dẫn của GV làm việc cùng nhau trong những nhóm nhỏ để hoàn thành mục đích học tập chung của nhóm đặt ra. Trong hoạt động nhóm có nhiều mối quan hệ giao tiếp: giữa các HS với nhau, giữa GV với từng HS. [30, tr.20] Hoạt động nhóm cho phép các thành viên trong nhóm chia sẻ những băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng phương pháp nhận thức mới. Trong hoạt động nhóm, quá trình học tập trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau về kiến thức, kĩ năng và phương pháp học tập, kĩ năng giao tiếp và các kĩ năng xã hội khác. [3, tr.42] 1.3.2. Các giai đoạn phát triển của nhóm [48] Có 4 giai đoạn chính trong sự hình thành và phát triển của nhóm hợp tác: hình thành, sóng gió, chuẩn hóa và thể hiện.  Hình thành: Các cá nhân rời rạc tham gia vào và hình thành nhóm làm việc. Tâm lý thường thấy là háo hức, kỳ vọng, nghi ngờ, lo âu...
  12.  Sóng gió: Công việc bắt đầu được triển khai một cách chậm chạp, đầy trắc trở. Các cá nhân bộc lộ tính cách, thói quen, sở thích và bắt đầu va chạm mạnh với nhau. Mâu thuẫn nảy sinh và thậm chí dẫn tới xung đột, đe dọa sự đổ vỡ của nhóm. Mức độ không hài lòng tăng dần, cảm giác bất mãn tăng lên.  Chuẩn hóa: Các mâu thuẫn và vấn đề đang tồn tại được dàn xếp và giải quyết. Các quan hệ đi vào ổn định. Các tiêu chuẩn được hình thành và hoàn thiện. Các cá nhân chấp nhận thực tại của nhau. Quan hệ bạn bè, đồng đội thực sự hình thành trong giai đoạn này. Sự chân thành, tin tưởng trở nên rõ nét hơn.  Thể hiện: Đây là giai đoạn phát triển cao nhất của nhóm hợp tác. Cảm giác tin tưởng, hòa nhập, gắn kết mạnh mẽ. Sự háo hức thể hiện rõ. Mức độ cam kết về công việc cao. Cảm giác trưởng thành thực thụ ở tất cả các thành viên của nhóm. Trong giai đoạn sau đó, nếu việc duy trì tốt, nhóm tiếp tục thể hiện tốt, nếu không, sẽ đi vào giai đoạn tan rã. Việc kết thúc hoạt động cũng đưa nhóm hợp tác bước vào giai đoạn này. 1.3.3. Những nét đặc thù của hoạt động nhóm [30, tr.14] Hoạt động nhóm có 4 nét đặc thù cơ bản. - Hoạt động xây dựng nhóm: luôn đòi hỏi sự nỗ lực của từng cá nhân và cùng chia sẻ trách nhiệm lãnh đạo nhóm, trao đổi trực diện nhau. - Có sự phụ thuộc tích cực giữa các cá nhân: cá nhân phải nỗ lực hoàn thành phần việc của mình. Thành công của cá nhân tạo nên thành công của cả nhóm. - Có sự ràng buộc trách nhiệm cá nhân – trách nhiệm nhóm: các thành viên cùng hỗ trợ nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ chung của nhóm và tự đánh giá kết quả công việc của mình, của các thành viên khác. - Có kĩ năng hợp tác trong hoạt động học tập: HS không chỉ lĩnh hội kiến thức mà còn được học, thực hành và thể hiện mình, phát triển và củng cố các kĩ năng xã hội như lắng nghe, đặt câu hỏi, trả lời, giảng bài cho nhau, giải quyết xung đột... 1.3.4. Các nguyên tắc hoạt động nhóm [41, tr.5] Johnson D. W và Johnson R. T là đại diện của trường phái nguyên tắc, đã tổng kết thành “5 nguyên tắc vàng” cho hoạt động nhóm và khẳng định: Bất kì một hoạt động nhóm nào cũng phải đảm bảo 5 nguyên tắc này. Nếu thiếu một trong 5 nguyên tắc này thì hoạt động nhóm sẽ thất bại.  Nguyên tắc 1: Phụ thuộc tích cực Nguyên tắc 1 cho rằng mỗi thành viên chỉ thành công khi những người bạn trong nhóm cũng thành công. Môi trường có sự phụ thuộc tích cực, khuyến khích người học chia sẻ kiến thức, thông tin và sự bổ trợ nhau ở mức cao nhất với mong muốn cả mình và nhóm đều hoàn thành công việc. Người học phải được đặt trong một tình huống học tập mà mỗi cá nhân đều tin rằng họ sẽ cùng thành công hoặc gánh chịu thất bại với nhau. Bốn điều kiện của nguyên tắc này là:
  13. - Mục đích học tập cùng nhau: mỗi thành viên đều hoàn thành phần công việc được giao và kiểm tra để các thành viên khác cùng hoàn thành. - Phần thưởng hoặc điểm chung. - Phân chia công việc. - Phân chia vai trò.  Nguyên tắc 2: Trách nhiệm cá nhân Nguyên tắc thứ hai là yêu cầu trách nhiệm và phần việc cá nhân phải được phân công rõ ràng và có sự kiểm tra đánh giá của các thành viên còn lại trong nhóm. Nhóm phải được biết từng thành viên đang làm gì, gặp những khó khăn thuận lợi gì. Nguyên tắc này đảm bảo không ai có thể làm hết mọi việc trong khi những người khác ngồi chơi. Theo quan điểm của Johnson D.W và Johnson R.T, mục đích của việc học nhóm là để rèn luyện cho mỗi cá nhân sau này trở thành những thành viên riêng lẻ mạnh mẽ. Những phương pháp cơ bản để đảm bảo cho nguyên tắc này là: Học nhóm nhưng kiểm tra cá nhân; Chọn một thành viên bất kì để trả lời; Mỗi thành viên tự giải thích về phần việc của mình.  Nguyên tắc 3: Tương tác tích cực trực tiếp Nguyên tắc này đòi hỏi các thành viên trong nhóm phải có tối đa các cơ hội để giúp đỡ, động viên khuyến khích lẫn nhau trong quá trình làm việc. Việc các thành viên trong nhóm trực tiếp làm việc cùng nhau không những thúc đẩy các hoạt động học mà còn tạo dựng được tình đoàn kết gắn bó, tôn trọng và bình đẳng. Để thực hiện nguyên tắc này, nhóm phải được sắp xếp để làm việc trực tiếp và ngồi đối diện với nhau trong một nhóm nhỏ có số lượng thành viên không quá 4.  Nguyên tắc 4: Kĩ năng xã hội Nguyên tắc này yêu cầu các thành viên phải được cung cấp các kiến thức về kĩ năng xã hội cần thiết trước khi hoạt động nhóm. Theo Johnson D.W, Johnson R.T kĩ năng xã hội không tự nhiên có mà phải được truyền thụ và dạy dỗ. Kĩ năng lãnh đạo, đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin, giao tiếp, xử lí xung đột, cổ vũ, động viên, nhận xét, lắng nghe, trình bày, báo cáo… là những kiến thức xã hội mà mỗi thành viên cần phải được đào tạo để đảm bảo quá trình hoạt động nhóm có hiệu quả.  Nguyên tắc 5: Đánh giá rút kinh nghiệm Nguyên tắc cuối cùng yêu cầu các thành viên phải có cơ hội thảo luận và nhận xét về quá trình làm việc của nhóm ở các nội dung sau: - Nhóm đã hoàn thành mục tiêu đề ra chưa? - Nhóm đã làm việc hiệu quả chưa? - Mối quan hệ giữa các thành viên đã tốt chưa? - Những việc gì các thành viên làm nên được lặp lại? - Những việc gì không nên? Tại sao? ...
  14. Việc đánh giá này giúp các thành viên: - Tập trung vào việc xây dựng nhóm. - Học các kĩ năng xã hội. - Tạo cơ hội để mỗi thành viên có thể nhận xét và lắng nghe ý kiến của bạn. 1.3.5. Ưu điểm và hạn chế của hoạt động nhóm trong dạy học 1.3.5.1. Ưu điểm [30, tr.21 ] [3, tr.42]  Phát triển kĩ năng hợp tác - Hoạt động nhóm là hình thức dạy học có chiến lược giáo dục mạnh mẽ và linh hoạt, có những nét đặc trưng cơ bản của dạy học hiện đại, làm cho HS thích ứng với xã hội phát triển, đó là mỗi người sống và làm việc theo sự phân công, hợp tác với tập thể cộng đồng. - Sau khi làm việc nhóm, tình đoàn kết, ý thức tập thể sẽ được tăng lên nhờ sự thông hiểu nhau. Đồng thời các thành viên trong nhóm sẽ biết tuân thủ các qui định, trước hết là của nhóm. Đấy là tiền đề để sau này học sinh là những công dân tuân thủ pháp luật tốt.  Phát triển kĩ năng giao tiếp và các kĩ năng xã hội khác - HS có nhiều cơ hội thảo luận, tranh luận, phát biểu bình đẳng, thể hiện sự hiểu biết của mình và học những kinh nghiệm từ bạn. Qua đó rèn luyện cho HS cách trình bày, bảo vệ quan điểm của mình, cách thuyết phục và thương lượng trong việc giải quyết vấn đề và biết cách lắng nghe người khác cũng như phát triển những kĩ năng như phê bình, phân tích, giải quyết vấn đề. - Qua hoạt động nhóm, bên cạnh sự hình thành và phát triển cho HS khả năng làm việc hợp tác còn có các năng lực xã hội như năng lực lãnh đạo, đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin, xử lí xung đột, cổ vũ, động viên, … HS trở nên mềm dẻo và linh hoạt hơn trong giao tiếp.  Tác động đến ý thức học tập của HS - Dạy học hợp tác tạo ra nhiều cơ hội cho HS được hoạt động giải quyết vấn đề học tập, đưa HS vào thế chủ động tìm tòi kiến thức. - Tác động tích cực đến động cơ, sự nhận thức và cả phương pháp học tập, có ích cho việc tự học sau này. - Phát huy cao độ năng lực học tập cá nhân, ý thức được khả năng của mình, nâng cao niềm tin vào việc học tập.  Tạo tâm lí thoải mái cho HS Khi làm việc theo nhóm, HS cảm thấy thoải mái, không bị căng thẳng như lúc làm việc một mình. Các em được sự hỗ trợ, hợp tác trong nhóm nên trở nên tự tin hơn, vì thế việc học sẽ đạt kết quả cao hơn.  Phát triển tư duy sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp và khả năng giải quyết vấn đề
  15. Trong các lớp học mang tính hợp tác, HS phải tham gia vào các hoạt động đòi hỏi HS phải sáng tạo, linh hoạt và nhạy bén, học được tính kiên trì trong việc theo đuổi mục đích, nâng cao được khả năng phê phán, tư duy logic, bổ sung kiến thức nhờ học hỏi lẫn nhau.  Nâng cao khả năng ứng dụng khái niệm, nguyên lý, nguồn thông tin vào việc giải quyết các tình huống khác nhau.  Lớp học sinh động hơn do có nhiều hình thức hoạt động đa dạng.  Ngoài những tác động về mặt nhận thức, một số tác giả cho rằng dạy học hợp tác còn tác động cả về quan điểm xã hội như: - Cải thiện quan hệ xã hội giữa các cá nhân. - Tôn trọng các giá trị dân chủ. - Chấp nhận sự khác nhau về cá nhân và văn hoá. - Có tác dụng làm giảm lo âu và sợ thất bại.  GV cũng có cơ hội tận dụng những ý kiến, kinh nghiệm của HS. 1.3.5.2. Hạn chế [30, tr.21], [4, tr.42] Tổ chức hoạt động nhóm không chặt chẽ sẽ có những hạn chế sau: - Có một số thành viên ỷ lại không làm việc (hiện tượng ăn theo). - Có thể đi trệch hướng thảo luận do tác động của một vài cá nhân (hiện tượng chi phối, tách nhóm). - Có hiện tượng một số HS khá, giỏi quyết định quá trình, kết quả thảo thuận nhóm nên chưa đề cao sự tương tác bình đẳng và tầm quan trọng của từng thành viên trong nhóm. - HS chỉ quan tâm tới nội dung được giao chứ không quan tâm đến nội dung của các nhóm khác khiến kiến thức không trọn vẹn. - Nếu lấy kết quả thảo luận chung của nhóm làm kết quả học tập cho từng cá nhân thì chưa công bằng và chưa đánh giá được sự nỗ lực của từng cá nhân. - Sự áp dụng cứng nhắc và quá thường xuyên của GV sẽ gây sự nhàm chán và giảm hiệu quả của hoạt động nhóm. - Nếu GV không có kĩ thuật điều khiển thì hiệu quả hoạt động sẽ bị hạn chế. - GV tốn nhiều thời gian chuẩn bị và thực hiện nên không thể áp dụng thường xuyên cho mọi tiết học. - Thời gian của mỗi tiết học giới hạn trong 45 phút nên GV không thể điểm hết nội dung của bài mà chỉ chú trọng vào các nội dung trọng tâm. 1.3.6. Chuẩn bị tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học [22], [29] a. Xác định mục tiêu Mục tiêu của một hoạt động nhóm bao gồm: - Mục tiêu bài học.
  16. - Mục tiêu cụ thể cho sự phát triển kĩ năng xã hội trong hoạt động nhóm. Điều đáng lưu ý là chỉ nên đưa ra 1-2 mục tiêu phát triển kĩ năng nhóm trong 1 bài học. Tùy theo hoàn cảnh, GV đặt ra mục tiêu cụ thể. b. Chọn nội dung Không phải nội dung nào cũng tổ chức hoạt động nhóm được, vì vậy phải chọn nội dung thích hợp. Đó là những nội dung có tác dụng hình thành nhu cầu hợp tác, những nội dung không quá khó mà cũng không quá dễ nhưng kích thích được sự tranh luận trong tập thể. c. Thiết kế tình huống - Thiết kế nhiệm vụ cho HS thông qua phiếu học tập, sử dụng máy chiếu, trình diễn phim thí nghiệm, … - Chuẩn bị những câu hỏi phụ gợi ý cho HS hợp tác và cách thống nhất. - Dự kiến các tình huống trong thảo luận: đó là các cách nghĩ, cách giải quyết vấn đề khác nhau, những mâu thuẫn trong cách giải quyết. d. Xây dựng phương án đánh giá - Sản phẩm hoạt động của nhóm rất đa dạng, tuỳ theo từng vấn đề cụ thể. Để định hướng hoạt động của HS và đảm bảo tính khoa học, công bằng trong đánh giá, GV nên thiết kế sẵn các phiếu đánh giá tương ứng với từng loại sản phẩm. Trong đó cần phải ghi rõ các mục đánh giá và thang điểm tương ứng. - Dự kiến phương án đánh giá và xây dựng tiêu chí cụ thể để thấy được sự cố gắng của mỗi cá nhân trong nhóm đều có ý nghĩa trong thành tích chung của nhóm và thành tích của các thành viên trong nhóm có ảnh hưởng lẫn nhau. Khâu thiết kế nhiệm vụ cho HS và hệ thống các câu hỏi là mấu chốt quan trọng để có một tiết dạy học theo phương pháp nhóm thành công. Cách đánh giá, khen thưởng của GV cũng không kém phần quan trọng tạo nên sự thành công của tiết học. GV có sự đánh giá công bằng, chính xác, khen thưởng hợp lý sẽ làm tăng hứng thú học tập của HS. 1.3.7. Tiến trình dạy học theo nhóm [3, tr.43], [22] Có thể chia làm 5 giai đoạn. a. Chia nhóm Có nhiều cách chia nhóm khác nhau, mỗi cách có những ưu và nhược điểm riêng. Tuỳ theo điều kiện cụ thể mà GV có thể áp dụng cách này hay cách khác sao cho phù hợp.  Chia theo vị trí ngồi có sẵn - Hai HS ngồi cạnh nhau. - Các HS ngồi cùng một bàn. - HS hai bàn quay mặt lại với nhau.  Chia theo danh sách lớp có sẵn
  17. - Nhóm HS theo số thứ tự từ nhỏ đến lớn của danh sách. - Nhóm HS theo số thứ tự chẵn lẻ của danh sách. - Nhóm HS theo số thứ tự cách quãng của danh sách.  Chia theo sở thích - HS tự chọn nhóm theo hướng dẫn của GV. - HS dễ làm việc với nhau có quan hệ tình cảm tốt. Hạn chế của cách chia nhóm này vì không rèn được cho HS khả năng làm quen, hợp tác.  Chia theo địa bàn cư trú - Chia nhóm theo nơi ở của HS. - Các em tiện đến với nhau khi cần thực hiện các nhiệm vụ học tập ở nhà.  Chia theo năng lực Nhóm có HS giỏi, khá, trung bình, yếu ... Ưu điểm của cách chia nhóm theo năng lực là: - Giảm thiểu sự chênh lệch về năng lực giữa các nhóm. - Tạo điều kiện để HS giúp đỡ lẫn nhau.  Chia ngẫu nhiên - Đếm số thứ tự 1, 2, 3, ... n rồi lặp lại cho đến HS cuối cùng (n là số nhóm cần chia). Phân chia sẵn vị trí ngồi cho các nhóm. - Các HS mang số 1 sẽ về vị trí số 1 (nhóm 1). Tiếp theo cho đến nhóm n. - Ưu điểm của cách chia này là rèn cho HS khả năng làm quen, hợp tác ... Sau khi chia nhóm, GV yêu cầu mỗi nhóm tự bầu ra một nhóm trưởng có trách nhiệm điều hành nhóm trong suốt quá trình làm việc và một thư kí để ghi chép lại những ý kiến thống nhất của nhóm. Nhóm trưởng có vị trí đặc biệt trong hoạt động nhóm. Sự điều hành và phân công hợp lí, dung hoà các mối quan hệ giữa các thành viên có ý nghĩa quan trọng đối với kết quả hoạt động và tình đoàn kết trong nhóm. Qua đó, HS học được cách thức tổ chức, là cơ hội rèn luyện khả năng cần thiết của nhà lãnh đạo tương lai. Vai trò nhóm trưởng và thư kí nên được phân công luân phiên để mọi thành viên đều có điều kiện tập dợt. b. Nhập đề giao nhiệm vụ - GV giới thiệu chủ đề, giao nhiệm vụ chung và cụ thể đến mỗi nhóm. - GV đưa ra những hướng dẫn cho HS từng bước thực hiện, cung cấp cho HS những tài liệu tham khảo và địa chỉ một số trang web thật cần thiết nhằm định hướng hoạt động cho HS, giúp HS không mò mẫm trong việc tìm kiếm tài liệu. GV nên kèm theo văn bản hướng dẫn hay phiếu học tập để HS dễ theo dõi. - GV nói rõ thời gian hoàn thành nhiệm vụ để HS chủ động lập kế hoạch.
  18. - GV phổ biến cách thức và thang điểm đánh giá kết quả nhóm. c. Làm việc nhóm - Lập kế hoạch chi tiết và có sự phân công cụ thể đến từng thành viên. Kế hoạch cần phải được thoả thuận và nhất trí trong nhóm. Đảm bảo không có thành viên nào không đồng ý hay tự hoạt động theo ý kiến riêng của mình. - Thỏa thuận qui tắc làm việc và đề nghị mỗi thành viên đều phải tuân thủ. - Tiến hành giải quyết nhiệm vụ. Trong quá trình thực hiện, nhóm trưởng cần nắm thật rõ sự phân công nhằm đôn đốc các thành viên hoàn thành đúng tiến độ. Mỗi thành viên đều có trách nhiệm với công việc được giao và đồng thời hỗ trợ nhau để thực hiện mục tiêu chung của cả nhóm. - Chuẩn bị báo cáo kết quả trước lớp. d. Trình bày và đánh giá kết quả Việc làm này xem như là nhiệm vụ bắt buộc sau mỗi lần hoạt động nhóm, nó được coi trọng như việc tiếp thu kiến thức mới. Một hiện tượng phổ biến, các em yếu kém thường thích tham gia hoạt động nhóm không phải để học hỏi mà để tránh sự “chú ý” của GV. Nếu trong nhóm có thành viên “lười biếng”, “ỷ lại” như vậy thì nhóm chỉ có nghĩa là nhóm chứ không có nghĩa là hợp tác. Để xây dựng tinh thần trách nhiệm cá nhân và có sự hỗ trợ lẫn nhau, GV có thể ra tiêu chí: câu trả lời của một thành viên phải được sự đồng ý của mọi người trong nhóm, ý kiến của thành viên yếu nhất sẽ được đánh giá bằng điểm cho cả nhóm. GV tổ chức thi đua giữa các nhóm với tiêu chí: sẽ cho điểm nhóm nào hoàn thành tốt nhất và nhanh nhất, khen thưởng cho các nhóm là như nhau chỉ khi mọi thành viên đều hoàn thành tốt. e. Tổng kết, rút kinh nghiệm Do sự hạn hẹp về thời gian của một tiết học (45 phút) hoạt động nhóm có thể tiến hành đơn giản hơn: sau khi chia nhóm, giao nhiệm vụ cho nhóm, các HS trong nhóm cùng thảo luận, đưa ra kết luận và trình bày kết quả. 1.3.8. Một số lưu ý để tổ chức hoạt động nhóm đạt hiệu quả [4, tr.44], [19] a. Tạo hứng thú đối với các hoạt động học tập mang tính hợp tác Hoạt động học tập mang tính hợp tác sẽ không thành công nếu HS không tham gia hoặc tham gia một cách miễn cưỡng vào các hoạt động đó. Vì thế điều kiện tiên quyết đảm bảo cho sự thành công của hoạt động học tập mang tính hợp tác là hứng thú của HS. Một trong những biện pháp hiệu quả để gây hứng thú cho HS đối với hoạt động nhóm là tổ chức các trò chơi mang tính hợp tác hoặc thiết kế các hoạt động ngoại khoá sao cho HS vừa cảm thấy hứng thú và thoải mái lại vừa nhận thức được tầm quan trọng của tính hợp tác trong công việc. Khen thưởng đối với thành tích chung của cả nhóm, thành tích cá nhân một cách hợp lý cũng tạo được động cơ học tập và hứng thú cho HS.
  19. b. Phân nhóm một cách hợp lý GV phải giữ vai trò chủ động trong việc phân nhóm sao cho các thành viên của nhóm được học hỏi lẫn nhau. Theo các nhà phương pháp dạy học bộ môn, số lượng thành viên lý tưởng cho mỗi nhóm là 4-5 HS. Việc sử dụng cách chia nhóm nào tùy thuộc vào nội dung bài học và thời lượng của tiết học. c. Thiết kế và điều khiển tốt các hoạt động nhóm Các hoạt động nhóm phải được thiết kế sao cho cá nhân thể hiện được trách nhiệm của mình đối với công việc được giao. Người học sẽ tham gia tích cực hơn vào hoạt động nhóm khi họ nhận thức rằng họ chỉ thành công khi cả nhóm thành công và rằng sự thành công của nhóm không thể thiếu đi sự đóng góp của từng cá nhân. Để đảm bảo thời gian của tiết học, GV phải xác định rõ thời gian cho mỗi lần thảo luận. GV không nên lạm dụng quá nhiều việc thảo luận nhóm mà chỉ nên cho HS thảo luận những vấn đề phức tạp. Mỗi tiết học hoạt động nhóm 1-3 lần. Mỗi hoạt động chỉ nên tập trung một số kĩ năng nhóm quan trọng. Để tránh sự nhàm chán, sau một thời gian nên thay đổi nhóm học tập. Khi các nhóm làm việc, GV phải đi đến từng nhóm để theo dõi hoạt động và quan tâm đến các nhóm khó khăn, phát hiện kịp thời những bế tắc, những lỗ hổng kiến thức, những điều HS còn băn khoăn để làm rõ. Chuẩn bị sẵn các câu gợi mở, động viên khuyến khích HS kịp thời những tiến bộ dù nhỏ. Sau mỗi buổi học, GV phải yêu cầu người học đánh giá các hoạt động mà họ đã tham gia để có những điều chỉnh cần thiết cho các hoạt động tiếp theo. Để tạo không khí thi đua, nên cho các nhóm lên báo cáo, trình bày sản phẩm. Sau đó bỏ phiếu bình chọn, có phần thưởng cho nhóm đạt giải. d. Đưa ra nhiệm vụ phù hợp Cần chú ý rằng tầm quan trọng của nhiệm vụ. Nhiệm vụ hay sẽ có khả năng kích thích động cơ học tập. Trong quá trình phân công cần lưu ý 4 điều sau đây: - Choice (Sự lựa chọn): Sự tự do trong lựa chọn nhiệm vụ của người học sẽ thúc đẩy động cơ nội tại của họ. - Challenge (Thách thức): Thách thức chính là ở mức độ khó khăn của nhiệm vụ. - Control (Kiểm soát): Điều quan trọng là người học phải đánh giá được kết quả mong đợi, khả năng cần huy động và cần phát triển đối với bản thân mình. - Cooperation (Hợp tác): Nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp xã hội. Cần chú ý rằng phương pháp học tập theo nhóm được đánh giá cao hay thấp tuỳ thuộc vào nội dung mà ta muốn truyền đạt. Theo một vài tác giả, phương pháp này sẽ hiệu quả hơn đối với việc giải quyết các vấn đề, những nhiệm vụ không quá dễ đòi hỏi sự sáng tạo, ý tưởng đa dạng.
  20. e. Đánh giá công bằng, khách quan Cách đánh giá, khen thưởng cá nhân hay nhóm là một biện pháp không thể thiếu để kích thích các thành viên trong nhóm hỗ trợ và hợp tác với nhau. Khi cơ hội nhận phần thưởng của cá nhân phụ thuộc không chỉ vào thành tích của riêng họ mà cả thành tích của các thành viên khác trong nhóm thì các em sẽ có ý thức với sự cố gắng và tiến bộ của các thành viên khác trong nhóm hơn. GV cần xây dựng thang điểm đánh giá kết quả hoạt động nhóm. Hạn chế tối đa hiện tượng ăn theo bằng cách đề ra những tiêu chí đánh giá được sự đóng góp của mỗi thành viên. Để đánh giá công bằng khách quan đòi hỏi GV phải theo sát hoạt động của từng nhóm và nhóm trưởng ghi lại kế hoạch chi tiết. Bên cạnh đó, GV đánh giá một phần thông qua tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của HS. 1.4. Thực trạng tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hoá học ở các trường THPT 1.4.1. Mục đích điều tra Tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hoá học ở trường THPT. 1.4.2. Đối tượng điều tra Tiến hành thăm dò ý kiến của 129 GV tại 46 trường THPT, trên 8 tỉnh thành, từ tháng 8 năm 2008 đến tháng 5 năm 2009 (xem phiếu thăm dò ở phụ lục 6). Bảng 1.1.Tổng hợp phiếu thăm dò thực trạng STT Tên trường Địa điểm Số phiếu 1 Tenlơman Quận 1, TP. HCM 1 2 Lê Hồng Phong Quận 5, TP. HCM 8 3 Mạc Đĩnh Chi 11 Quận 6, TP. HCM 4 Bình Phú 4 5 Ngô Gia Tự Quận 8, TP. HCM 1 6 Nguyễn Huệ Quận 9, TP. HCM 1 7 Diên Hồng 2 8 Sương Nguyệt Ánh 1 Quận 10, TP. HCM 9 Nguyễn Du 3 10 Nguyễn An Ninh 3 11 Trần Quang Khải Quận 11, TP. HCM 2 STT Tên trường Địa điểm Số phiếu 12 Nam Kì Khởi Nghĩa Quận 11, TP. HCM 3 13 Trường Chinh 1 Quận 12, TP. HCM 14 Võ Trường Toản 6 15 Nguyễn Trung Trực Quận Gò Vấp, TP. HCM 2 16 Trần Hưng Đạo 8

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản