BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ________________________

VVŨŨ VVĂĂNN HHIIỂỂNN HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA

SAU THÔNG QUAN TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TTSS.. PPHHẠẠMM TTHHỊỊ TTHHAANNHH HHỒỒNNGG

HÀ NỘI – 2013

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả

nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ

công trình nào khác.

Học viên: Vũ Văn Hiển

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Viện sau đại học, Khoa Kinh tế &

Quản lý cùng các thầy cô giáo Trường Đại học Bách khoa - Hà Nội đã tận tình

giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện đề tài nghiên cứu

này.

Đặc biệt xin trân trọng và cảm ơn sâu sắc đến Cô giáo – TS. Phạm Thị

Thanh Hồng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để

xây dựng và hoàn thiện đề tài.

Xin được cảm ơn Ban Lãnh đạo, anh chị em đồng nghiệp ở Cục Kiểm tra sau

thông quan – Tổng cục Hải quan đã cung cấp tài liệu và tạo điều kiện giúp tôi trong

quá trình thực hiện đề tài.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã chia sẻ

động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp.

Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng, song bản luận văn này được thực hiện

trong khoảng thời không nhiều và với kinh nghiệm thực tế được tích lũy vội vàng

khó tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết nhất định; Kính mong nhận được sự

chỉ bảo, đóng góp chân thành của các thầy giáo, cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp để

đề tài nghiên cứu này được hoàn thiện hơn nữa.

Xin trân trọng cảm ơn!

Học viên: Vũ Văn Hiển

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

MỤC LỤC

Trang

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT..................................................................................i

DANH MỤC BẢNG........................................................................................................ii

DANH MỤC CÁC HÌNH……………………………………………...……………….ii

PHẦN MỞ ĐẦU..............................................................................................................1

1. Sự cần thiết của Đề tài ........................................................................................ .....1

2. Mục tiêu nghiên cứu. .......................................................................................... ….3

3.Vấn đề nghiên cứu. .............................................................................................. .....4

4. Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................................... ….4

5. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................................5

6. Ý nghĩa của Đề tài nghiên cứu.....................................................................................5

7. Kết cấu của Luận văn..................................................................................................6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU

THÔNG QUAN .................................................................................................... ..7

1.1 Tổng quan về kiểm tra sau thông quan ......................................................... ..7

1.1.1 Khái niệm về kiểm tra sau thông quan .......................................................... ..7

1.1.2 Các bộ phận tham gia vào hoạt động kiểm tra sau thông quan........................ ..9

1.1.3 Quan hệ giữa kiểm tra sau thông quan với một số hoạt động khác có liên quan…...10

1.1.4 Vai trò của kiểm tra sau thông quan ............................................................... 12

1.2 Tổ chức hoạt động kiểm tra sau thông quan của cơ quan hải quan ............. 12

1.2.1 Đối tượng kiểm tra và chịu sự kiểm tra của kiểm tra sau thông quan .............. 12

1.2.2 Phạm vi kiểm tra sau thông quan ................................................................... 14

1.2.3 Nội dung các trường hợp kiểm tra sau thông quan ......................................... 15

1.2.4 Tổ chức bộ máy của lực lượng kiểm tra sau thông quan ................................. 15

1.2.5 Quy trình tổ chức kiểm tra sau thông quan ..................................................... 17

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

1.3 Kinh nghiệm quốc tế trong việc tổ chức kiểm tra sau thông quan ............... 19

1.3.1 Mô hình tổ chức kiểm tra sau thông quan của Mỹ .......................................... 19

1.3.2 Mô hình tổ chức kiểm tra sau thông quan của Nhật Bản ................................ 20

1.3.3 Mô hình tổ chức kiểm tra sau thông quan của Trung Quốc ............................ 23

1.3.4 Bài học kinh nghiệm vận dụng vào kiểm tra sau thông quan tại Việt Nam ..... 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KTSTQ

TẠI VIỆT NAM..........................................................................................................28

2.1 Giới thiệu cơ cấu tổ chức của lực lượng KTSTQ .......................................... 28

2.2 Kết quả thu thuế từ hoạt động KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu .......... 30

2.2.1 Đặc điểm chung của hàng hóa nhập khẩu và yêu cầu quản lý hàng hóa

nhập khẩu của Cơ quan Hải quan Việt Nam ........................................................... 30

2.2.2 Kết quả thu thuế từ hoạt động kiểm tra sau thông quan .......................................... 33

2.3 Thực trạng hoạt động KTSTQ tại Việt Nam ...................................................34

2.3.1 Về cơ chế chính sách...........................................................................................34

2.3.2 Về quy trình kiểm tra sau thông quan.................................................................39

2.3.3 Về công tác thu thập, xử lý thông tin phục vụ hoạt động KTSTQ....................44

2.3.4 Về hiệu quả của hoạt động KTSTQ....................................................................49

2.3.5 Về kỹ năng triển khai hoạt động KTSTQ...........................................................52

2.4 Hạn chế và nguyên nhân tồn tại ..................................................................... 62

2.4.1 Hạn chế...............................................................................................................62

2.4.2 Nguyên nhân.......................................................................................................67

CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT

ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI VIỆT NAM.................................72

3.1 Phương hướng hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan ................... 72

3.1.1 Bối cảnh quốc tế và những vấn đề đặt ra cho Hải quan Việt Nam về KTSTQ 72

3.1.2 Quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về hiện đại hóa Hải quan ................. 73

3.1.3 Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 trong lĩnh vực KTSTQ ........... 73

3.1.4 Phương hướng hoàn thiện hoạt động KTSTQ ................................................ 74

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

3.2 Các giải pháp hoàn thiện hoạt động KTSTQ ................................................ 75

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy ............................................... 75

3.2.2 Hoàn thiện Quy trình thủ tục kiểm tra sau thông quan.................................... 79

3.2.3 Hoàn thiện hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ KTSTQ.......................... 81

3.2.4 Nâng cao trình độ cán bộ kiểm tra sau thông quan.............................................86

3.2.5 Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật Hải quan của đối tượng KTSTQ .......... 92

3.2.6 Một số giải pháp khác .................................................................................... 94

3.2.6.1 Giải pháp về kỹ năng triển khai công tác KTSTQ ................................. 94

3.2.6.2 Hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động KTSTQ.100

3.3 Kiến nghị.............................................................................................................105

3.3.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước....................................................................105

3.3.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính..............................................................................106

3.3.3 Kiến nghị với Tổng cục Hải quan....................................................................107

3.3.4 Kiến nghị với Chính phủ, các bộ, ngành có liên quan ....................................108

KẾT LUẬN..............................................................................................................111

TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................113

PHỤ LỤC..................................................................................................................117

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

: Diễn đàn hợp tác Á - Âu ASEM

: Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá C/O

: Giao hàng lên tàu (Free On Board) FOB

: Giá trị gia tăng GTGT

: Giao thông vận tải GTVT

KTSTQ : Kiểm tra sau thông quan

NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

: Ngân sách nhà nước NSNN

: Quản lý rủi ro QLRR

: Sản xuất xuất khẩu SXXK

: Tài sản cố định TSCĐ

: Tổ chức Hải quan thế giới WCO

: Tổ chức thương mại thế giới WTO

i

: Xuất nhập khẩu XNK

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Kết quả thu NSNN của lực lượng KTSTQ ............................................. 34

Bảng 2.2: Kết quả KTSTQ trên số lượng doanh nghiệp tham gia XNK ................. 49

Bảng 2.3: Tỷ lệ số thu từ KTSTQ so với tổng thu của toàn ngành ......................... 51

Bảng 2.4: Thông tin chung về doanh nghiệp .......................................................... 56

Bảng 2.5: Thông tin đánh giá mức độ rủi ro........................................................... 57

Bảng 2.6: Thông tin bổ sung nhằm xác định DN KTSTQ........................................61

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Trang

Hình 1.1: Ứng dụng kiểm toán vào kiểm tra sau thông quan .................................. 11

Hình 1.2: Mô hình quy trình kiểm tra sau thông quan ............................................ 19

Hình 1.3: Mô hình hệ thống cơ sở dữ liệu của Hải quan Nhật Bản ......................... 21

Hình 1.4: Mô hình kiểm tra bên thứ ba có liên quan đến hoạt động thương mại.....22

Hình 2.1: Mô hình tổ chức của lực lượng kiểm tra sau thông quan ........................ 28

Hình 2.2: Tình hình xuất nhập khẩu giai đoạn 2006-2012 ...................................... 31

Hình 2.3: Lưu đồ các bước quy trình kiểm tra sau thông quan ............................... 39

Hình 2.4: So sánh số cuộc KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp và tại trụ sở HQ .......... 50

ii

Hình 2.5: Mô tả quá trình lựa chọn và xác định đối tượng kiểm tra sau thông quan.......56

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của Đề tài Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi sâu, rộng theo xu hướng toàn cầu

hoá. Theo đó, giao lưu thương mại quốc tế phát triển không ngừng, và đặc biệt lưu

lượng hàng hoá qua lại các cửa khẩu ngày càng lớn, đa dạng cả về phương thức giao

lưu và chủng loại hàng hóa. Nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về hải quan

đồng thời đảm bảo tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế phát triển và đáp ứng yêu

cầu cải cách hành chính, Hải quan Việt Nam đã chuyển đổi phương thức quản lý từ

kiểm tra trong thông quan sang kiểm tra sau thông quan (KTSTQ) theo cơ chế quản

lý hải quan hiện đại. Theo đó, thay vì kiểm tra 100% hàng hóa nhập khẩu trong

khâu thông quan, cơ quan Hải quan sẽ thông qua hệ thống quản lý rủi ro (QLRR)

trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro tiến hành phân luồng và áp dụng biện pháp kiểm

tra thích hợp đối với hàng hóa nhập khẩu. Một trong các biện pháp kiểm tra quan

trọng nhất góp phần thúc đẩy thông quan nhanh chóng, tạo thuận lợi cho thương

mại nhưng vẫn đảm bảo quản lý chặt chẽ hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) chính là

KTSTQ.

Sau gần 10 năm áp dụng phương thức KTSTQ, hoạt động KTSTQ của Hải

quan Việt Nam đã bước đầu đạt được một số kết quả tích cực góp phần thúc đẩy

hoạt động thương mại quốc tế phát triển. Tuy nhiên, do là phương thức kiểm tra

mới, vừa nghiên cứu vận dụng kinh nghiệm của quốc tế đồng thời phải phù hợp với

điều kiện hoàn cảnh của Việt Nam nên KTSTQ còn nhiều hạn chế, hiệu quả hoạt

động chưa tương xứng với vai trò của KTSTQ và chưa đáp ứng yêu cầu về quản lý

và hiện đại hóa hải quan.

Thực tế hoạt động KTSTQ đã phát hiện nhiều bất cập, sơ hở trong khâu

thông quan: Có những vấn đề chỉ phát sinh sau khi hàng hoá đã thông quan như phí

kỳ vụ; Có những vấn đề không thể kiểm tra trong thông quan như việc sử dụng

hàng nhập khẩu tạo tài sản cố định được miễn thuế; Có những hoạt động chỉ có thể

1

thực hiện khi KTSTQ như xác minh việc thanh toán. Do vậy, hoàn thiện cơ chế và

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

nâng cao hiệu quả hoạt động của KTSTQ là yêu cầu tự thân của Hải quan và thực

hiện vai trò đảm bảo cho cải cách thủ tục hành chính ở khâu thông quan; KTSTQ

phải đánh giá được mức độ tuân thủ pháp luật của từng doanh nghiệp, làm cơ sở

cho việc áp dụng mức độ quản lý phù hợp, tạo thuận lợi nhất cho doanh nghiệp;

đảm bảo sự quản lý của Hải quan đối với hàng hoá XNK của doanh nghiệp cùng với

việc phát hiện kịp thời những bất cập, sơ hở của chính sách, pháp luật, biện pháp

quản lý nhà nước, của ngành; đề xuất hoặc kiến nghị các đơn vị, cơ quan có chức

năng, có thẩm quyền đề xuất hoặc xử lý các bất cập, sơ hở đó.

Mặt khác, thực tế hoạt động của lực lượng KTSTQ cho thấy, các vi phạm

phổ biến và những bất cập, hạn chế trong việc KTSTQ chủ yếu xảy ra đối với hàng

hóa nhập khẩu.

Với ý nghĩa trên, việc kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để nghiên cứu đưa ra

các giải pháp hoàn thiện KTSTQ trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết và có

ý nghĩa góp phần thúc đẩy hoạt động KTSTQ thực hiện đúng vai trò, nhiệm vụ và

góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của ngành Hải quan đặc biệt trong

bối cảnh ngành Hải quan đã chọn năm 2011 là “Năm kiểm tra sau thông quan”.

Xuất phát từ những luận điểm trên kết hợp với những kiến thức và kinh

nghiệm của bản thân là một cán bộ hải quan, Tôi chọn Đề tài “Hoàn thiện hoạt động

kiểm tra sau thông quan tại Việt Nam” làm Luận văn Thạc sỹ của mình.

Trong ngành Hải quan cũng có một số đề tài nghiên cứu khoa học về

KTSTQ như Đề tài cấp ngành năm 2006 “Hoàn thiện mô hình KTSTQ của Hải

quan Việt Nam” của Thạc sỹ Nguyễn Viết Hồng. Đề tài này chủ yếu nghiên cứu về

mô hình của hệ thống KTSTQ từ trung ương đến địa phương mà chưa đưa ra các

giải pháp tổng thể về KTSTQ.

Hoạt động KTSTQ của Hải quan Việt Nam là một lĩnh vực mới, nên đến nay

chưa có công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu nào dưới dạng Luận án Tiến sỹ.

Dưới dạng luận văn thạc sỹ có Đề tài “Hoàn thiện tổ chức KTSTQ của Hải

quan Việt Nam” năm 2006 của tác giả Mai Chí Thành. Đề tài này bước đầu nghiên

2

cứu về tổ chức và hoạt động KTSTQ giai đoạn 2001-2006 và đưa ra các giải pháp

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

kiến nghị hoàn thiện tổ chức KTSTQ đến giai đoạn 2010. Tuy nhiên, trong điều

kiện ngành Hải quan đang xây dựng Chiến lược phát triển ngành Hải quan đến năm

2020 thì Đề tài này cần được phát triển để phù hợp với tình hình mới. Đồng thời Đề

tài này cũng chưa đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động KTSTQ.

Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020, ngành Hải quan tiếp tục đẩy

mạnh cải cách hiện đại hoá hải quan, triển khai thủ tục hải quan điện tử theo lộ trình

đến năm 2020 có 100% các Cục Hải quan, 100% các Chi cục Hải quan, 100% các

loại hình hải quan cơ bản, 90% kim ngạch xuất nhập khẩu, 80% doanh nghiệp thực

hiện thủ tục hải quan điện tử; Tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hoá đến năm 2020 phấn

đấu đạt dưới 7%. Để đạt được các mục tiêu trên đòi hỏi sự phấn đấu của toàn ngành,

đặc biệt đối với lực lượng KTSTQ phải có sự thay đổi và chuyển biến mạnh mẽ để

đáp ứng được các mục tiêu trên. Hoạt động KTSTQ phải đánh giá được mức độ

tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp làm cơ sở để áp dụng các biện pháp kiểm tra

đối với doanh nghiệp, làm cơ sở xét và công nhận doanh nghiệp ưu tiên đặc biệt. Vì

vậy, yêu cầu đẩy mạnh hoạt động KTSTQ là yêu cầu cấp thiết trong thời gian tới

nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu của ngành.

Xuất phát từ yêu cầu trên, Luận văn đi vào nghiên cứu và đưa ra các giải

pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động KTSTQ trong giai đoạn 2012-2015 tầm nhìn 2020.

Trong đó tập trung đánh giá thực trạng hoạt động KTSTQ và đề xuất các giải pháp,

các chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động KTSTQ.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu là trên cơ sở cụ thể hoá lý luận kiểm tra vào KTSTQ và

phân tích mô hình tổ chức và hoạt động KTSTQ trong giai đoạn hiện nay để đề xuất

các giải pháp hoàn thiện hoạt động KTSTQ của Hải quan Việt Nam.

Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu, Đề tài cần thực hiện được bốn nhiệm vụ cụ

thể như sau:

3

Một là, làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động KTSTQ;

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Hai là, nghiên cứu kinh nghiệm thực tế của một số nước tiên tiến trên thế

giới để rút ra bài học thực tiễn đối với Việt Nam trong hoạt động KTSTQ đối với

hàng hóa nhập khẩu;

Ba là, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động KTSTQ;

Bốn là, đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện hoạt động

KTSTQ giai đoạn mới 2013-2015 tầm nhìn 2020.

3. Vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, thu thập thông tin và số liệu về hoạt động

KTSTQ, Tác giả thấy nổi lên một số vấn đề quan trọng cần tập trung giải quyết

nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác KTSTQ:

Vấn đề thứ nhất: Lựa chọn đối tượng KTSTQ trên cơ sở quản lý rủi ro?

Vấn đề thứ hai: Các giải pháp nâng cao kỹ năng triển khai hoạt động

KTSTQ?

Vấn đề thứ ba: Các giải pháp về tổ chức nguồn lực; tổ chức thông tin hỗ trợ

hoạt động KTSTQ?

Luận văn sẽ tập trung phân tích vào ba vấn đề trên để đưa ra những nhận

định khách quan và giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả KTSTQ.

4. Phạm vi nghiên cứu

Hoạt động KTSTQ được thực hiện đối với các doanh nghiệp tham gia vào

hoạt động XNK (bao gồm cả xuất khẩu hàng hóa và nhập khẩu hàng hóa). Tuy

nhiên, trên thực tế hoạt động của Hải quan Việt Nam, các vấn đề về gian lận thuế,

kiểm soát tuân thủ của doanh nghiệp liên quan đến pháp luật Hải quan phần lớn là

thực hiện đối với hàng hóa nhập khẩu. Do đó, phạm vi nghiên cứu của Đề tài tập

trung vào hoạt động KTSTQ đối với hàng nhập khẩu tại Cục KTSTQ và các Chi

cục KTSTQ trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2012 nhằm đưa ra ý kiến nhận

xét, phân tích nguyên nhân của những hạn chế và đề xuất các giải pháp cũng như

4

kiến nghị lên các cơ quan có thẩm quyền.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

5. Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật kết hợp giữa lý luận và

kinh nghiệm thực tế phổ biến của các nước và thực tế của Việt Nam qua các phương

pháp cụ thể sau:

Thứ nhất, Sử dụng các mô hình quản lý rủi ro

Rủi ro là những nguy cơ tiềm ẩn có khả năng xảy ra và mang đến những tổn

thất, nguy hại ngoài mong muốn.

QLRR là quá trình nhận diện, xác định khả năng, mức độ rủi ro xảy ra và áp

dụng các biện pháp né tránh, giảm nhẹ hoặc loại trừ rủi ro.

QLRR trong lĩnh vực hải quan là việc áp dụng một cách hệ thống những quy

trình thủ tục để xác định, phân tích, đánh giá và tiến hành các biện pháp kiểm soát

khả năng và mức độ vi phạm pháp luật Hải quan có thể xảy ra.

Thứ hai, Phương pháp so sánh

So sánh là phương pháp xem xét quan hệ giữa các trị số của một chỉ tiêu

phân tích. Các trị số chỉ tiêu được chọn làm căn cứ so sánh được gọi là số gốc. Tùy

mục đích nghiên cứu mà lựa chọn gốc so sánh thích hợp.

Phương pháp so sánh được sử dụng trong phân tích các chỉ tiêu về thu thuế,

nhân lực, nguồn lực dành cho lực lượng KTSTQ để đánh giá thực trạng hoạt động

của KTSTQ nhằm kiến nghị các giải pháp phù hợp.

Thứ ba, Phương pháp phân tích chi tiết

Khi tiến hành phân tích một đối tượng nghiên cứu phức tạp, người phân tích

thường không chỉ đánh giá một cách tổng quát mà còn tiến hành phân chia nhỏ đối

tượng để nghiên cứu kỹ hơn. Đó là phương pháp phân tích chi tiết. Phương pháp

này nhằm cụ thể hóa từng vấn đề, từng bộ phận cấu thành và quá trình diễn biến,

phát triển hiện tượng, sự kiện trong không gian, thời gian khác nhau.

6. Ý nghĩa của Đề tài nghiên cứu

Ý nghĩa của Đề tài “Hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Việt

5

Nam” thể hiện trên ba mặt chủ yếu sau:

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Một là, Khái quát và làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động KTSTQ cùng kinh

nghiệm tổ chức KTSTQ của một số nước;

Hai là, Đánh giá thực trạng hoạt động KTSTQ đối với hàng hóa nhập khẩu

của Hải quan Việt Nam;

Ba là, Đề xuất phương hướng và giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện hoạt

động kiểm tra sau thông quan tại Việt Nam.

7. Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động kiểm tra sau thông quan

Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Việt Nam

6

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hoạt động KTSTQ.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG

KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN

1.1 Tổng quan về kiểm tra sau thông quan

1.1.1 Khái niệm về kiểm tra sau thông quan

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Hội đồng Hợp tác Hải quan (Tổ chức Hải

quan thế giới ngày nay, gọi tắt là WCO) đã bắt tay nghiên cứu các biện pháp quản

lý hải quan tiên tiến, trong đó có biện pháp tiến hành kiểm tra sau khi hàng hoá đã

được thông quan. Cơ sở kiểm tra của biện pháp này là các chứng từ khai hải quan,

sổ sách kế toán và các loại giấy tờ khác còn lưu lại tại cơ quan Hải quan, tại doanh

nghiệp và các bên liên quan khác về hàng hoá đã thông quan. Hoạt động này còn

được gọi bằng một thuật ngữ chuyên môn khác là "kiểm tra trên cơ sở kiểm toán".

Thuật ngữ “Kiểm tra sau thông quan ” hay còn gọi là “kiểm toán hải quan”

hay “kiểm tra trên cơ sở kiểm toán” là một vấn đề mới trong lĩnh vực nghiệp vụ

kiểm tra, giám sát hải quan, là một mắt xích trong xâu chuỗi các hoạt động kiểm tra

của cơ quan Hải quan nhằm bắt buộc người khai hải quan tuân thủ các quy định của

pháp luật, KTSTQ là khâu cuối cùng trong chuỗi quy định đó. Kết quả của KTSTQ

là tiền đề để xem xét xây dựng các tiêu chí đánh giá người khai hải quan có chấp

hành tốt pháp luật hay không, từ đó phục vụ công tác quản lý của hải quan theo

nguyên tắc đánh giá QLRR khi lựa chọn phương pháp kiểm tra hải quan trong quá

trình thông quan hàng hoá, làm cơ sở để định hướng kiểm tra có trọng điểm, trọng

tâm trước khi thông quan. Các khâu liên hoàn trong công tác kiểm tra gắn kết với

nhau một cách logic.

Tùy theo đặc điểm hoạt động và biện pháp quản lý tại mỗi khu vực, mỗi

quốc gia khác nhau dẫn đến có nhiều quan niệm khác nhau về KTSTQ.

Theo Tổ chức Hải quan Thế giới, KTSTQ là quy trình nghiệp vụ cho phép

công chức hải quan kiểm tra tính chính xác của hoạt động khai hải quan bằng việc

kiểm tra các hồ sơ, tài liệu ghi chép về kế toán và thương mại liên quan đến hoạt

7

động buôn bán, trao đổi hàng hoá và tất cả các số liệu, thông tin, bằng chứng khác

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

cho cơ quan Hải quan mà hiện tại đang được các đối tượng kiểm tra (cá nhân hoặc

doanh nghiệp) trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào hoạt động buôn bán quốc tế nắm

giữ.

Theo Công ước Kyoto sửa đổi, bổ sung tháng 9/1999, Kiểm tra trên cơ sở

kiểm toán là các biện pháp được tiến hành nhằm thoả mãn mục đích của họ trong

việc xác định tính chính xác và trung thực của các tờ khai hàng hoá thông qua

kiểm tra các chứng từ, biên bản, hệ thống kinh tế và dữ liệu thương mại của các

bên liên quan.

Theo Hải quan ASEAN, KTSTQ là một biện pháp kiểm soát hải quan có

hệ thống mà thấy thoả đáng về độ chính xác và trung thực của việc khai báo hải

quan thông qua việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ có liên quan, hệ thống kinh doanh và

dữ liệu thương mại của các cá nhân/các Công ty tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp

vào thương mại quốc tế.

Theo Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung năm 2005 của Việt Nam, KTSTQ là

hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải quan nhằm: Thẩm định tính chính xác, trung

thực nội dung các chứng từ mà chủ hàng, người được chủ hàng ủy quyền, tổ

chức, cá nhân trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu đó khai, nộp, xuất trình với cơ quan

Hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đó được thông quan; thẩm định

việc tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá

xuất khẩu, nhập khẩu.

Như vậy, về mặt pháp lý ở hầu hết các nước, các tổ chức liên quan đến

hải quan đều coi KTSTQ là một khâu nghiệp vụ của cơ quan Hải quan. KTSTQ

không phải là một lĩnh vực khoa học riêng biệt mà là hoạt động nghiệp vụ của cơ

quan Hải quan trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học của các ngành khoa

học khác như kiểm toán, xác suất thống kê, QLRR, điều tra, giám định.

Hoạt động KTSTQ được thực hiện nhằm đạt được năm mục tiêu chủ yếu sau

đây:

Một là, Thẩm định tính chính xác, trung thực của các nội dung khai báo về

8

đối tượng quản lý của cơ quan Hải quan, phù hợp với quy định của pháp luật;

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Hai là, Đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật Hải quan của người khai hải

quan;

Ba là, Tiến hành kiểm tra một cách có hệ thống các hoạt động gian lận

thương mại, bảo đảm áp dụng một cách tốt nhất các quy định của pháp luật và quy

định của cơ quan Hải quan;

Bốn là, Tạo thuận lợi cho việc lưu chuyển hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

bảo vệ nguồn thu cho NSNN;

Năm là, Khai thác bố trí, sắp xếp nhân lực và phương tiện kiểm tra hải quan

hiệu quả nhất.

1.1.2 Các bộ phận tham gia vào hoạt động kiểm tra sau thông quan

Các chủ thể tiến hành KTSTQ: KTSTQ được thực hiện thông qua bộ máy tổ

chức của cơ quan Hải quan từ cấp trung ương xuống đến địa phương. Đối với Hải

quan Việt Nam chủ thể tiến hành hoạt động KTSTQ là Cục KTSTQ trực thuộc Tổng

cục Hải quan và các Chi cục KTSTQ trực thuộc các Cục Hải quan tỉnh, thành phố;

Khách thể tham gia vào hoạt động KTSTQ là các doanh nghiệp tham gia vào

hoạt động XNK và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hàng hóa XNK như ngân

hàng, bảo hiểm, hãng tàu, vận chuyển, đại lý làm thủ tục hải quan, cảng vụ,...;

Đối tượng của KTSTQ là hồ sơ hải quan, các chứng từ kế toán, sổ kế toán,

báo cáo tài chính và các chứng từ có liên quan đến hàng hóa XNK đã được thông

quan trong thời gian quy định của pháp luật;

Cách thức KTSTQ gồm kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm hoặc kiểm tra theo

kế hoạch hoặc kiểm tra chọn mẫu; kiểm tra tại trụ sở cơ quan Hải quan hoặc kiểm

tra tại trụ sở doanh nghiệp;

Mối quan hệ giữa các yếu tố trên được thể hiện khi tiến hành mọi hoạt động

KTSTQ cụ thể: Chủ thể kiểm tra tiến hành kiểm tra sự tuân thủ pháp luật Hải quan

đối với những hàng hóa đang thuộc đối tượng kiểm tra bằng cách thức thích hợp,

khách thể kiểm tra có trách nhiệm hợp tác với chủ thể kiểm tra để chứng minh sự

9

tuân thủ pháp luật Hải quan trong quá trình thực hiện các hoạt động XNK.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

1.1.3 Quan hệ giữa kiểm tra sau thông quan với một số hoạt động khác có liên

quan

Trước hết với hoạt động kiểm soát hải quan

Công tác kiểm soát được hiểu là một mặt của công tác nghiệp vụ hải quan có

thể được thực hiện bằng các biện pháp bí mật, điều tra, tuần tra kiểm soát kết hợp

vận động quần chúng, phối hợp sử dụng các lực lượng và biện pháp trong và ngoài

ngành Hải quan để phát hiện, ngăn ngừa, điều tra, xử lý các hành vi buôn lậu, vận

chuyển trái phép hàng hoá, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới.

Như vậy, đối tượng chính của nghiệp vụ kiểm soát hải quan là đối tượng

buôn lậu, gian lận thương mại có mức độ vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

Mặt khác hoạt động nghiệp vụ của kiểm soát hải quan có thể diễn ra trước,

trong và sau khi hàng hóa đã được thông quan còn KTSTQ chỉ thực hiện sau khi

hàng hóa đã thông quan.

Tiếp đến với hoạt động thanh tra chuyên ngành

Giữa thanh tra chuyên ngành với KTSTQ đều có những điểm giống nhau:

Thứ nhất, thanh tra chuyên ngành và KTSTQ đều có chức năng xác minh và

đưa ra ý kiến về đối tượng kiểm tra, thanh tra với mục đích phát hiện, ngăn ngừa,

xử lý những vi phạm pháp luật hoặc các chế định có liên quan góp phần thúc đẩy

các tổ chức, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ, tăng cường pháp chế, bảo vệ lợi ích của

nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân;

Thứ hai, về đối tượng cụ thể: thanh tra chuyên ngành và KTSTQ đều phải

xem xét các hồ sơ liên quan và hoạt động thực tế của khách thể kiểm tra để phát

hiện, phân tích, đánh giá tình hình một cách chính xác, khách quan, trung thực, làm

rõ đúng sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, xử lý sai phạm;

Thứ ba, về tính chất, thanh tra chuyên ngành và KTSTQ đều mang thứ bậc

hành chính.

Tuy nhiên, giữa thanh tra chuyên ngành với KTSTQ có những điểm khác

10

biệt nhất định:

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Một là, chủ thể của thanh tra chuyên ngành không đồng nhất với chủ thể của

KTSTQ. Chủ thể của thanh tra chuyên ngành là các bộ, ngành khác nhau. Chủ thể

của KTSTQ là cơ quan Hải quan;

Hai là, Nội dung thanh tra chuyên ngành thường là những vụ việc phức tạp,

có dấu hiệu vi phạm, giải quyết các khiếu nại tố cáo đối với khách thể kiểm tra.

KTSTQ có thể được tiến hành khi có dấu hiệu vi phạm hoặc kiểm tra theo kế hoạch

hoặc kiểm tra chọn mẫu để kiểm tra, đánh giá sự tuân thủ pháp luật.

Cuối cùng với kiểm toán

KTSTQ là một hình thức của kiểm toán tuân thủ. Ở Việt Nam, theo quy định

tại Khoản 3 Điều 4 Luật Kiểm toán 2005, kiểm toán tuân thủ là loại hình kiểm toán

để kiểm tra, đánh giá và xác nhận việc tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế mà đơn

vị được kiểm toán thực hiện. Điều 38 Luật Kiểm toán 2005 cũng quy định rõ nội

dung kiểm toán tuân thủ bao gồm kiểm toán tình hình chấp hành Luật Ngân sách

nhà nước, Luật Kế toán, các luật thuế và văn bản quy phạm pháp luật khác có liên

quan; tình hình chấp hành nội quy, quy chế của đơn vị được kiểm toán. Mục đích

của KTSTQ nhằm kiểm tra sự tuân thủ pháp luật Hải quan của người khai hải quan.

Thu thập và đánh giá bằng chứng

Thông tin

Khai báo Thông tin hải quan

Xác định hiện trạng

Cán bộ KTSTQ

Tổ chức, cá nhân độc lập và có chức năng xác minh Kiểm tra nội dung sổ kế toán và các nguồn tài liệu, hợp đồng và các tài liệu hỗ trợ khác

Báo cáo thuế

Quy định đã ban hành

Luật hải quan và các quy định

Do vậy, kiểm toán tính tuân thủ trong KTSTQ được thể hiện qua Hình 1.1 như sau:

Hình 1.1: Ứng dụng kiểm toán vào KTSTQ

11

(Nguồn: Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng)

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

1.1.4 Vai trò của kiểm tra sau thông quan

Tổ chức Hải quan thế giới và Hải quan các nước trong khu vực đã triển khai

thực hiện KTSTQ đều có đánh giá chung về vai trò tác dụng của KTSTQ gồm:

Một là, Nâng cao năng lực quản lý của cơ quan Hải quan, thực hiện chống

gian lận thương mại có hiệu quả, đồng thời tạo điều kiện, cho phép áp dụng đơn

giản hoá, tự động hoá thủ tục hải quan đảm bảo thông quan nhanh hàng hoá XNK

góp phần tích cực vào phát triển và giao lưu thương mại quốc tế, cải thiện môi

trường đầu tư; góp phần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trong sản

xuất, lưu thông;

Hai là, Đảm bảo tuân thủ pháp luật: Góp phần thực hiện nghiêm chỉnh Luật

Hải quan và pháp luật có liên quan đến lĩnh vực XNK, nâng cao ý thức tuân thủ

pháp luật của cộng đồng doanh nghiệp;

Ba là, Góp phần tăng thu về thuế đối với hàng hóa XNK, giảm thiểu chi phí

và rủi ro;

Bốn là, KTSTQ tác động tích cực trở lại với hệ thống quản lý của cơ quan

Hải quan thông qua việc nhận biết và xử lý các rủi ro tiềm ẩn của toàn hệ thống

kiểm tra, giám sát hải quan;

Năm là, Mở rộng phạm vi kiểm tra đối với hàng hóa XNK đã được thông

quan: Thông qua hoạt động KTSTQ có thể mở rộng phạm vi kiểm tra tiếp khi cần

thiết trong nhiều lĩnh vực khác như kiểm tra về chế độ giấy phép, về hạn ngạch, về

xuất xứ hàng hóa, về sử dụng và quản lý hàng hóa được miễn thuế hoặc giảm thuế,

chống bán phá giá, quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu công nghiệp.

Tóm lại, KTSTQ góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế phát triển

đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực XNK, tạo lập

cơ chế quản lý XNK phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại của đất

nước và xu thế không ngừng mở rộng, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

1.2 Tổ chức kiểm tra sau thông quan của cơ quan hải quan

12

1.2.1 Đối tượng của kiểm tra sau thông quan

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Trong quá trình tiến hành KTSTQ, việc xác định rõ ràng đối tượng của

KTSTQ mang ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọng. Theo các quy định của pháp

luật của các nước nói chung và của Việt Nam nói riêng, thì hoạt động KTSTQ

hướng tới việc kiểm tra xem xét các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan, chứng từ kế

toán, sổ kế toán, báo cáo tài chính, các dữ liệu điện tử và các giấy tờ khác có liên

quan đến lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu, đang được lưu giữ tại các tổ chức, cá nhân

trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến thương mại gồm: người khai hải quan, đại lý

làm thủ tục hải quan; người hoặc đại lý mua, bán, tiêu thụ hàng hoá xuất khẩu, nhập

khẩu; tổ chức, cá nhân lưu giữ và sử dụng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được

thông quan.

Như vậy, đối tượng KTSTQ là sổ sách, chứng từ, báo cáo tài chính. Đối

tượng này được phân loại dựa trên góc độ hồ sơ chứng từ do tổ chức, cá nhân tham

gia XNK lưu giữ gồm các loại sau:

- Hồ sơ khai hải quan, bao gồm tờ khai hải quan và các giấy tờ khác theo quy

định pháp luật về Hải quan;

- Chứng từ giao dịch của doanh nghiệp và đối tác nước ngoài: thư chào hàng,

hỏi hàng, hoàn giá, xác nhận, chấp nhận, hợp đồng mua bán ngoại thương, thư điện

tử, fax...

- Chứng từ giao nhận vận tải và bảo hiểm;

- Chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo tài chính...

- Hàng hóa, nơi sản xuất nếu cần thiết và còn điều kiện.

- Dữ liệu thương mại khác có liên quan.

Khách thể của KTSTQ:

- Người xuất khẩu, nhập khẩu;

- Người được chủ hàng ủy quyền làm thủ tục hải quan;

- Đại lý làm thủ tục hải quan khai thuê, môi giới hải quan;

- Các đơn vị nhập khẩu ủy thác hàng hóa;

Ngoài các đối tượng như trên, KTSTQ có thể tiến hành phối hợp, thu thập

13

thông tin phục vụ KTSTQ từ các đơn vị trong và ngoài ngành, bao gồm:

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

- Các đơn vị doanh nghiệp làm dịch vụ kho vận, giao nhận ngoại thương

(forwarder, logistics company);

- Các hãng vận tải (shipping company) hàng hóa theo các loại hình đường

hàng không, đường biển, đường bộ, đường sắt, vận tải đa phương thức;

- Các đơn vị bảo hiểm hàng hóa XNK;

- Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, tín dụng khác;

- Cơ quan thuế nội địa;

- Các cơ quan tổ chức, giám định hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

- Các cơ quan quản lý chuyên ngành khác: Y tế, kiểm dịch động thực vật,

thủy sản, công nghiệp, nông nghiệp, môi trường, văn hóa, lao động, công an, khoa

học công nghệ,...

1.2.2 Phạm vi kiểm tra sau thông quan

Phạm vi của KTSTQ được thể hiện trên 4 khía cạnh sau:

Thứ nhất: KTSTQ chỉ chú trọng đi sâu vào việc kiểm tra các chứng từ

thương mại, hồ sơ hải quan và các ghi chép về kế toán, các chứng từ ngân hàng có

liên quan đến các lô hàng đã xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Đặc điểm này khẳng định

tính chuyên biệt không thể lẫn lộn với các loại hình kiểm tra, thanh tra, kiểm toán

khác, mà xác định chỉ có hoạt động KTSTQ do cơ quan Hải quan thực hiện.

Thứ hai: dấu hiệu vi phạm, gian lận thuế, gian lận thương mại, vi phạm quy

định về xuất khẩu, nhập khẩu; dấu hiệu vi phạm pháp luật về Hải quan là một căn

cứ quan trọng để tiến hành KTSTQ. Ở Việt Nam, dấu hiệu vi phạm pháp luật Hải

quan theo quy định tại Khoản 1 Điều 64 Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày

15/12/2005 của Chính phủ gồm:

- Chứng từ thuộc hồ sơ hải quan không hợp pháp, hợp lệ theo quy định về

hình thức, nội dung ghi chép, trình tự thời gian, hoặc có dấu hiệu giả mạo chứng từ.

- Giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu bất hợp lý;

- Gian lận trong việc hưởng ưu đãi về thuế quan;

- Không tuân thủ các quy định đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo

14

quản lý chuyên ngành.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Thứ ba: cơ quan Hải quan áp dụng nguyên tắc QLRR. Theo đó, căn cứ vào

kết quả phân tích thông tin từ cơ sở dữ liệu, từ trinh sát hải quan, từ các cơ quan, tổ

chức, cá nhân, hải quan nước ngoài để quyết định KTSTQ;

Thứ tư: địa điểm và thời hạn KTSTQ (phạm vi về mặt không gian và thời

gian) bao gồm:

- Địa điểm: KTSTQ được thực hiện tại trụ sở cơ quan Hải quan và/hoặc tại

trụ sở của đơn vị được kiểm tra.

- Thời hạn KTSTQ:

+ Thời hạn kiểm tra của mỗi quyết định kiểm tra tại trụ sở đơn vị được kiểm

tra tối đa là 5 (năm) ngày làm việc đối với trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp

luật Hải quan hoặc xác định có khả năng vi phạm pháp luật Hải quan dựa trên kết

quả phân tích thông tin của cơ quan Hải quan; tối đa là 15 (mười lăm) ngày làm

việc đối với trường hợp kiểm tra theo kế hoạch, kiểm tra chọn mẫu để đánh giá mức

độ tuân thủ pháp luật Hải quan của người khai hải quan.

+ Trường hợp phức tạp, người quyết định kiểm tra gia hạn thời gian kiểm tra

không quá thời hạn quy định nêu trên. Thời gian gia hạn, lý do gia hạn được thông

báo bằng văn bản cho đơn vị được kiểm tra.

+ Cơ quan Hải quan có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho đơn vị được

kiểm tra về quyết định KTSTQ chậm nhất là 5 (năm) ngày làm việc trước khi tiến

hành kiểm tra, trừ trường hợp kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật Hải quan

hoặc xác định có khả năng vi phạm pháp luật Hải quan dựa trên kết quả phân tích

thông tin của cơ quan Hải quan.

1.2.3 Nội dung kiểm tra sau thông quan

Một là, kiểm tra tính đủ, hợp pháp hợp lệ của hồ sơ hải quan;

Hai là, kiểm tra tính chính xác của các căn cứ tính thuế, tính chính xác của việc

khai các khoản thuế phải nộp, được miễn, không thu được hoàn;

Ba là, kiểm tra việc thực hiện các quy định khác của pháp luật;

Bốn là, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về Hải quan.

15

1.2.4 Tổ chức bộ máy của lực lượng kiểm tra sau thông quan

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Tuỳ theo từng nước, cách thức tổ chức bộ máy của lực lượng KTSTQ có sự

khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản tổ chức bộ máy của lực lượng KTSTQ đều gồm

hai cấp:

Cấp trung ương:

Thành lập một đơn vị trực thuộc có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ KTSTQ.

Trong đơn vị này có thể gồm các bộ phận khác nhau thực hiện từng chức năng riêng

biệt phục vụ cho từng khâu trong công tác KTSTQ.

Đơn vị chuyên trách về KTSTQ có trách nhiệm quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn,

kiểm tra các đơn vị trong ngành Hải quan thực hiện công tác KTSTQ; trực tiếp thực

hiện KTSTQ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao và theo quy định của

pháp luật. Đơn vị này sẽ thực hiện đánh giá rủi ro ở mức độ cao cho các đơn vị Hải

quan địa phương, tạo ra các báo cáo thông tin chiến lược cho Hải quan các cấp và

lực lượng KTSTQ, là nơi liên lạc đầu mối với các bên có liên quan, trao đổi hỗ trợ

các đơn vị KTSTQ tại Hải quan địa phương.

Cấp địa phương:

Thành lập đơn vị về KTSTQ trực thuộc Hải quan địa phương. Đơn vị này có

trách nhiệm thu thập, tổng hợp, phân tích, xử lý thông tin trong và ngoài ngành để

phục vụ công tác KTSTQ; trực tiếp tiến hành các hoạt động KTSTQ và giao dịch

với các tổ chức, cá nhân, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ để xác minh, nắm tình

hình, thu thập thông tin, tiếp nhận tin báo, tố giác phục vụ cho hoạt động KTSTQ.

Trong đơn vị này có thể tổ chức thành các đội công tác riêng nhằm thực hiện

các nhiệm vụ khác nhau nhưng mục tiêu chung là phục vụ cho công tác KTSTQ.

Về nhân lực: Hoạt động KTSTQ phải được thực hiện bởi các nhân viên Hải

quan đã được đào tạo chuyên môn hoá thực hiện. Với việc sử dụng ngày càng tăng

lưu trữ điện tử và vi tính hoá trong thương mại toàn cầu, yêu cầu các tiêu chuẩn đào

tạo cao hơn trở nên ngày càng quan trọng. Nhân viên Hải quan làm nhiệm vụ

KTSTQ phải được đào tạo các kỹ năng sau:

16

Thứ nhất là kỹ thuật và các nguyên tắc kế toán;

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Thứ hai là các tiêu chuẩn và thủ tục kiểm toán, các kỹ thuật nghiệp vụ khi

tiến hành kiểm toán;

Thứ ba là kiến thức ngoại thương bao gồm cả kiến thức giao dịch ngân hàng;

Thứ tư, các kiến thức về luật pháp, các quy định và thủ tục Hải quan (trị giá,

xuất xứ, mã số hàng hoá, chính sách thương mại, đầu tư, miễn thuế,…)

Thứ năm là kiến thức liên quan đến lưu trữ điện tử và sử dụng hệ thống vi

tính.

1.2.5 Quy trình tổ chức kiểm tra sau thông quan

Chương 6 Phụ lục tổng quát Công ước Kyoto Sửa đổi, bổ sung đưa ra Hướng

dẫn về quy trình KTSTQ đối với các nước thành viên. Quy trình được khái quát trên

Hình 1.2.

Giai đoạn I: Lập kế hoạch chiến lược gắn với QLRR

Bước 1:Xác định và đánh giá chương trình KTSTQ áp dụng cho từng đối tượng

doanh nghiệp

Cơ quan Hải quan cần phải xác định được cách thức tiến hành KTSTQ cho

từng đối tượng doanh nghiệp như doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp nhập khẩu,

kiểm tra về trị giá hàng XNK, lĩnh vực ngoại thương, khai thuê, bản kê hàng hóa

chuyên chở của hãng tàu để hướng dẫn quy trình thực hiện và cách thức tiến hành

KTSTQ.

Bước 2: Xác định mục tiêu KTSTQ tiềm năng

Việc kiểm tra được thực hiện để kiểm tra khả năng tuân thủ pháp luật trong

khai báo về trị giá, xuất xứ, phân loại thuế quan, miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế và

các lĩnh vực khác. Tùy thuộc vào từng loại đối tượng KTSTQ và doanh nghiệp bị

kiểm tra mà có thể thực hiện kiểm tra liên tục, kiểm tra theo chu kỳ hoặc kiểm tra

chọn mẫu.

Bước 3: Lựa chọn doanh nghiệp tiến hành KTSTQ

Khi lựa chọn doanh nghiệp để tiến hành KTSTQ phải dựa vào các tài liệu

thông tin về rủi ro.

17

Bước 4: Chuẩn bị tiến hành KTSTQ

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Bước đầu tiên của quá trình kiểm tra là xem xét và đánh giá điểm mạnh,

điểm yếu của hệ thống sổ sách kế toán của đối tượng bị KTSTQ. Tùy thuộc vào qui

mô và vị trí của Công ty bị kiểm tra, cơ quan Hải quan có thể lựa chọn cách thức tổ

chức khảo sát tập trung hoặc yêu cầu các thông tin hoạt động của đối tượng bị kiểm

tra. Quá trình khảo sát tập trung vào các thông tin liên quan tới cơ cấu và tổ chức

của Công ty, thông tin về hàng hóa, phương thức thanh toán, trị giá hàng hóa, chi

phí trên hàng hóa, các thông tin giá thành sản xuất chi tiết, các giao dịch với đối tác

và hệ thống báo cáo lưu trữ.

Giai đoạn II: Tiến hành KTSTQ

Trước khi tiến hành làm việc với doanh nghiệp theo từng nội dung kiểm tra,

đại diện cho cơ quan Hải quan và đại diện của bên bị kiểm tra có cuộc họp để công

bố quyết định kiểm tra, thảo luận về phạm vi, mục đích của kiểm tra, đại diện bên

kiểm tra giải thích những vấn đề liên quan đến nội dung kiểm tra, quyền và lợi ích

của bên kiểm tra và bên bị kiểm tra cũng như các vấn đề về phối hợp trong khi tiến

hành công việc KTSTQ.

Các doanh nghiệp bị KTSTQ được thông tin đầy đủ về bất cứ sự phát hiện

hoặc vấn đề nào liên quan tới Hải quan trong quá trình KTSTQ đồng thời có quyền

được giải trình các vấn đề mà cơ quan Hải quan phát hiện trong quá trình KTSTQ.

Giai đoạn III: Kết thúc KTSTQ:

Công chức hải quan tham gia KTSTQ lập báo cáo tổng kết về cuộc KTSTQ

vừa được tiến hành và cung cấp cho doanh nghiệp bị KTSTQ một bản để doanh

nghiệp nắm bắt được các kết luận của cơ quan Hải quan, đồng thời trình lên lãnh

đạo cơ quan Hải quan để quyết định các biện pháp xử lý tiếp theo quy định của

pháp luật.

Ngoài ra, theo Luật khiếu nại, khiếu kiện thì doanh nghiệp có quyền khiếu

nại những nội dung liên quan đến quyền lợi hợp pháp của mình theo quy định của

pháp luật.

Việc mô tả quy trình kiểm tra được thể hiện bằng hình vẽ dưới đây (Hình

18

1.2):

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Quản lý

Đánh giá và xác định các chương trình KTSTQ đối với các doanh nghiệp: - Doanh nghiệp nhập khẩu, xuất khẩu - Doanh nghiệp làm dịch vụ thủ tục hải quan - Doanh nghiệp vận tải

rủi ro

Kế hoạch chiến lược

- Chính sách mặt hàng (miễn thuế, giảm thuế,

Xác định mục tiêu KTSTQ tiềm năng

Trị giá hải quan Xuất xứ hàng hóa Phân loại mã số hàng hóa (mã HS)

hoàn thuế)

Lựa chọn doanh nghiệp tiến hành kiểm tra sau thông quan

Chuẩn bị tiến hành KTSTQ Phân công cán bộ hải quan thực hiện Xác định phạm vi KTSTQ Liên hệ với doanh nghiệp

- Yêu cầu doanh nghiệp cung cấp hồ sơ, tài liệu

Trao đổi với đơn vị hải quan khác

Tiến hành KTSTQ

Tổ chức cuộc họp để công bố quyết định Kiểm tra các số liệu ghi chép Phân loại các số liệu của doanh nghiệp

- Yêu cầu doanh nghiệp giải trình

Kết thúc KTSTQ

Chuẩn bị báo cáo Trao đổi kết quả với doanh nghiệp Báo cáo kết quả cho lãnh đạo hải quan

Hình 1.2: Mô hình quy trình KTSTQ

(Nguồn: Cục Kiểm tra sau thông quan – Tổng cục Hải quan)

1.3 Kinh nghiệm quốc tế trong việc tổ chức kiểm tra sau thông quan

19

1.3.1 Mô hình cơ chế kiểm tra sau thông quan của Mỹ

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Bộ Luật Hải quan (19 USC 1646a) và Quy chế Hải quan (19 CFR 161,1) cho

phép cán bộ hải quan được phép tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát bằng

việc yêu cầu nhà nhập khẩu cung cấp các hồ sơ liên quan đến hàng hoá nhập khẩu,

thẩm định tính chính xác của các hồ sơ đó, xác minh tính đúng đắn và quyền kiểm

tra các nhân chứng có liên quan thông qua biện pháp kiểm toán tuân thủ.

Quy trình tiến hành kiểm toán tuân thủ được tiến hành qua ba giai đoạn:

Giai đoạn đầu tiên là đánh giá sự phù hợp của hệ thống kiểm soát nội bộ của

doanh nghiệp so với các quy định liên quan đến hoạt động XNK. Giai đoạn này bao

gồm lấy mẫu và thử nghiệm nhập khẩu của nước nhập khẩu và các giao dịch tài

chính để đánh giá mức độ tuân thủ của nhà nhập khẩu trong từng lĩnh vực thương

mại; xác định tính đầy đủ của hệ thống kiểm soát nội bộ của nhà nhập khẩu; xác

định các chỉ số có phù hợp và được chấp nhận không.

Giai đoạn thứ hai: Nếu bản tự đánh giá của doanh nghiệp được cơ quan Hải

quan chấp nhận thì quá trình kiểm toán tuân thủ sẽ kết thúc mà không chuyển sang

giai đoạn thứ hai. Mặt khác nếu việc tự đánh giá của doanh nghiệp không được cơ

quan Hải quan chấp nhận thì giai đoạn hai của kiểm toán tuân thủ sẽ được áp dụng.

Giai đoạn hai của kiểm toán tuân thủ là một kiểm toán chi tiết vào hệ thống kiểm

soát của nhà nhập khẩu nhằm mục đích xác định nguyên nhân các vấn đề tồn tại và

định lượng khả năng tuân thủ của doanh nghiệp được kiểm toán.

Giai đoạn thứ ba: Sau khi tiến hành giai đoạn hai một loạt các khuyến cáo từ

cơ quan Hải quan đưa ra đối với doanh nghiệp để cải thiện hệ thống kiểm soát nội

bộ. Giai đoạn ba là giai đoạn tiếp theo được thực hiện nhằm xác minh khả năng cải

thiện các vấn đề tồn tại trong hệ thống kiểm soát nội bộ của nhà nhập khẩu và đánh

giá lại khả năng tuân thủ của nhà nhập khẩu khi tiến hành các biện pháp cải tiến.

1.3.2 Mô hình cơ chế kiểm tra sau thông quan của Nhật Bản

Hệ thống KTSTQ của Nhật Bản bắt đầu áp dụng thí điểm từ năm 1967. Đến

năm 1968 áp dụng trên phạm vi toàn quốc. Điều 105 Luật Hải quan Nhật Bản cho

20

phép công chức hải quan kiểm tra bất kỳ chứng từ, sổ sách kế toán lưu giữ liên quan

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

đến hàng hóa XNK trong khoảng thời gian từ 7 đến 10 năm. Bộ phận KTSTQ của

Nhật Bản trực thuộc Hải quan vùng.

Cơ cấu tổ chức: Bộ phận KTSTQ gồm có 3 phòng là phòng kiểm soát, phòng

kiểm toán tại doanh nghiệp, phòng thông tin.

- Phòng kiểm soát thực hiện việc điều chỉnh và trao đổi thông tin về các hoạt

động kinh doanh cho toàn bộ các đơn vị KTSTQ.

- Phòng kiểm toán tại doanh nghiệp thực hiện kiểm toán với nhà nhập khẩu

và những người có liên quan đến hoạt động XNK.

- Phòng thông tin có nhiệm vụ hỗ trợ cho phòng kiểm toán tại doanh nghiệp

thông qua việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp các thông tin cần thiết khác.

Quy trình thực hiện KTSTQ: Quy trình được thực hiện thông qua 05 bước,

đó là kiểm tra dữ liệu, lựa chọn và lập kế hoạch về kiểm toán tại doanh nghiệp; tiền

kiểm toán; kiểm toán tại doanh nghiệp; thủ tục sau kiểm toán.

Hình 1.3: Mô hình hệ thống cơ sở dữ liệu của Hải quan Nhật Bản

21

(Nguồn: Vụ Quan hệ hợp tác quốc tế - Tổng cục Hải quan)

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Lựa chọn đối tượng tiến hành KTSTQ: Trên cơ sở QLRR bằng cách lập hồ

sơ rủi ro về các đối tượng kiểm tra tiềm năng, đánh giá rủi ro và xác định đối tượng

kiểm tra. Việc đánh giá rủi ro được thực hiện trên cơ sở hệ thống dữ liệu, hệ thống

tiêu chí đánh giá linh hoạt, hiệu quả theo mô hình Hình 1.3.

Theo Hình 1.3, Hải quan Nhật Bản thành lập và duy trì một hệ thống hỗ trợ

KTSTQ (tên tiếng Anh là PEAS – Post Entry Examination Assistant System) sử

dụng dữ liệu tương tác từ 03 nguồn chính: các đơn vị KTSTQ, các đơn vị thông

quan hàng hóa và cơ sở dữ liệu tình báo hải quan (CIS – Customs Intelligent

System). Trong quá trình thông quan, Hải quan Nhật Bản áp dụng hệ thống thông

quan tự động (NACCS – Nippon Automatic Cargo Clearance System). Hệ thống

thông quan này tạo nên một cơ sở dữ liệu dùng chung cho các cơ quan Hải quan,

doanh nghiệp và bên thứ ba có liên quan khác với thẩm quyền truy cập không hạn

chế. Từ hệ thống NACCS, cộng thêm các thông tin thu thập được từ các bộ phận

như điều tra, thuế, trị giá, thông quan và KTSTQ, thông tin được thu thập và tích

hợp vào hệ thống cơ sở dữ liệu tình báo hải quan CIS là cơ sở cho việc lựa chọn đối

tượng KTSTQ và cung cấp thông tin phục vụ KTSTQ.

Tiến hành kiểm tra các bên thứ ba có liên quan: Để đạt hiệu quả khi tiến hành

KTSTQ, cơ quan Hải quan có thể tiến hành kiểm tra cả các bên thứ ba có liên quan

tới các chủ thể XNK như ngân hàng, đại lý làm thủ tục hải quan, người mua hàng

nội địa.

Người mua hàng nội địa

Đại lý làm TTHQ Người khai hải quan

Bộ phận kiểm tra sau thông quan

Ngân hàng

Đơn vị khác có liên quan

Hình 1.4: Mô hình kiểm tra bên thứ ba có liên quan đến hoạt động thương mại

22

quốc tế (Nguồn: Vụ Quan hệ hợp tác quốc tế - Tổng cục Hải quan)

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Kiểm tra chứng từ: Trong quá trình KTSTQ, cơ quan Hải quan tiến hành kiểm tra

các chứng từ như tờ khai hàng hóa XNK, hóa đơn, chứng nhận xuất xứ, các chứng

từ liên quan đến vận chuyển như vận tải đơn, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng mua

bán hàng hóa, hợp đồng trợ giúp kỹ thuật,..., các chứng từ thanh toán như thư tín

dụng, điện chuyển tiền, giấy ghi nợ, tín dụng, sổ kế toán, báo cáo tài chính.

Yêu cầu đối với công chức làm công tác KTSTQ: Công chức hải quan Nhật

Bản làm công tác KTSTQ yêu cầu có kiến thức, kỹ năng tổng hợp về ba lĩnh vực:

kiến thức chung, kiến thức về nghiệp vụ hải quan và hiểu biết cơ chế hoạt động của

doanh nghiệp.

1.3.3 Mô hình cơ chế kiểm tra sau thông quan của Trung Quốc

Mô hình KTSTQ của Trung Quốc được áp dụng từ năm 1994. Mục đích

chính khi tiến hành các hoạt động KTSTQ là cải tiến phương thức quản lý nhằm

duy trì trật tự và các nguyên tắc thị trường kết hợp với việc cung cấp các dịch vụ

công thuận lợi hơn thay vì việc can thiệp trực tiếp đến cộng đồng doanh nghiệp và

thị trường. Hiện nay, cơ quan điều tra của Hải quan Trung Quốc chịu trách nhiệm

chính về KTSTQ, bao gồm bộ phận kiểm toán và bộ phận điều tra thương mại. Tại

các vùng cũng có các bộ phận kiểm toán.

- Khái quát về KTSTQ

Trong thời hạn ba năm kể từ ngày hàng hóa XNK được thông quan hoặc

trong thời hạn giám sát hải quan của hàng hóa bảo thuế, hàng hóa miễn giảm thuế

nhập khẩu, cơ quan Hải quan tiến hành kiểm tra sổ sách kế toán, chứng từ kế toán,

báo cáo tài chính và các tài liệu khác có liên quan cùng với hàng hóa XNK của

người bị kiểm tra để kiểm tra tính hợp pháp, tính chân thực của hoạt động XNK

hàng hóa.

- Mục đích của hoạt động KTSTQ

+ Mục đích trực tiếp: nhằm xác minh tính xác thực và tính hợp pháp của việc

nhập khẩu và xuất khẩu của doanh nghiệp được KTSTQ để chứng minh tính hợp

23

pháp của hoạt động xuất, nhập khẩu.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

+ Mục đích cơ bản: Nhằm tăng cường giám sát hải quan và kiểm soát hải

quan đối với hàng hóa XNK, duy trì các quyền và lợi ích hợp pháp của những người

có liên quan, bảo vệ lợi ích của nhà nước, thực hiện thu thuế và thúc đẩy hoạt động

thương mại phát triển.

- Đối tượng KTSTQ:

Cơ quan Hải quan tiến hành KTSTQ đối với những doanh nghiệp, tổ chức

liên quan trực tiếp đến hoạt động XNK đó là các doanh nghiệp, tổ chức tham gia

vào hoạt động thương mại quốc tế, tham gia vào hoạt động gia công quốc tế, các

doanh nghiệp tham gia vào hoạt động trong lĩnh vực kho ngoại quan, các doanh

nghiệp và đơn vị sử dụng hoặc có liên quan đến hàng hóa được hưởng các ưu đãi về

giảm thuế, miễn thuế, hoàn thuế, các doanh nghiệp là đại lý hải quan, khai thuê và

các doanh nghiệp khác tham gia vào hoạt động kinh doanh liên quan trực tiếp đến

hoạt động XNK do Tổng cục Hải quan Trung Quốc quy định.

- Nội dung KTSTQ: Giấy phép XNK; thu thuế và lệ phí khác; hàng đang

chịu sự quản lý của hải quan như hàng nhập khẩu, hàng gửi trong kho ngoại quan,

hàng gia công, hàng phục vụ triển lãm, hàng tạm nhập tái xuất, hàng tạm xuất tái

nhập, quản lý hàng miễn thuế, giảm thuế, hoạt động của các đại lý làm thủ tục hải

quan và các hoạt động khác có liên quan đến XNK hàng hóa.

- Phạm vi KTSTQ: Cơ quan Hải quan tiến hành KTSTQ đối với hàng hóa

XNK trong vòng 3 năm kể từ ngày hàng hóa được thông quan hoặc trong khoảng

thời gian giám sát và quản lý hải quan đối với hàng hóa thuộc diện nhà nước quản

lý và hàng XNK thuộc diện hưởng ưu đãi về miễn thuế hoặc giảm thuế.

- Nguyên tắc tiến hành KTSTQ: Dựa trên cơ sở áp dụng quy trình QLRR

để lựa chọn các đối tượng KTSTQ. KTSTQ được thực hiện theo kế hoạch hoặc theo

dấu hiệu vi phạm.

- Quy trình thực hiện KTSTQ: Hoạt động KTSTQ được thực hiện thông

qua quy trình 4 bước như sau:

24

+ Bước 1: Chuẩn bị kiểm tra

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Thông qua quá trình thu thập và phân tích các dữ liệu rủi ro và điều tra

thương mại, cơ quan Hải quan có thể xác định được các doanh nghiệp và mặt hàng

có độ rủi ro cao cần tập trung xem xét để lên kế hoạch kiểm tra cụ thể.

+ Bước 2: Thực hiện kiểm tra

Cơ quan Hải quan tiến hành kiểm tra tính trung thực, hợp pháp của hàng hóa

và tài liệu, chứng từ có liên quan, kết hợp đồng thời với việc kiểm tra hệ thống kiểm

soát nội bộ của doanh nghiệp và quy chế hoạt động của hệ thống đó. Trường hợp

phải điều tra thì tập trung vào việc điều tra và thu thập các bằng chứng liên quan

đến vấn đề đang bị nghi ngờ.

+ Bước 3: Xử lý hồ sơ

Xử lý các vấn đề phát hiện trong quá trình kiểm tra và điều tra bao gồm các

vấn đề truy thu thuế, lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính, trong trường hợp cần

thiết thì chuyển hồ sơ cho bộ phận điều tra chống buôn lậu để tiến hành điều tra làm

rõ.

+ Bước 4: Đánh giá kết quả

Cơ quan Hải quan tiến hành đánh giá tính chính xác của mức độ rủi ro, tình

hình tuân thủ doanh nghiệp, các chính sách có liên quan và tình hình hoạt động

kiểm tra để kiến nghị các biện pháp quản lý cũng như nâng cao hiệu quả, chất lượng

KTSTQ.

- Định hướng hoàn thiện hoạt động KTSTQ: Hải quan Trung Quốc vẫn

đang trong giai đoạn tiếp tục hoàn thiện mô hình KTSTQ theo hướng 4 trong 1 bao

gồm phân tích rủi ro, kiểm toán doanh nghiệp, điều tra thương mại, quản lý doanh

nghiệp. Mục tiêu của Hải quan Trung quốc là tiến tới mô hình quản lý hải quan hiện

đại theo các chuẩn mực của thông lệ quốc tế. Mô hình KTSTQ mang đặc trưng

Trung Quốc là lấy phân tích rủi ro làm cơ sở, lấy việc kiểm toán doanh nghiệp và

quản lý doanh nghiệp làm phương tiện và lấy việc điều tiết hoạt động XNK của

25

doanh nghiệp làm mục tiêu quản lý.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

1.3.4 Bài học kinh nghiệm vận dụng vào hoạt động KTSTQ tại Việt Nam

Qua nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn KTSTQ của một số nước tiên tiến

trên thế giới, những nội dung có thể rút ra làm bài học kinh nghiệm cho việc vận

dụng tại Việt Nam là:

Thứ nhất, Đánh giá rủi ro là một phương pháp tiếp cận tiên tiến đã được áp

dụng tại hầu hết các nước. Việc vận dụng vào trong hoạt động nghiệp vụ của Hải

quan Việt Nam là phù hợp với xu hướng và yêu cầu quản lý hiện đại.

Thứ hai, Đánh giá rủi ro cần phải xây dựng hệ thống các chỉ tiêu tổng hợp

và thống nhất như loại hình doanh nghiệp, loại hình XNK, mã HS, tiêu chí chấp

hành tốt pháp luật và chưa chấp hành tốt pháp luật,… để làm cơ sở phân loại doanh

nghiệp khi lựa chọn đối tượng KTSTQ.

Thứ ba, Cải cách hành chính theo hướng đồng bộ hóa trên cơ sở chuyển

sang ứng dụng QLRR và công nghệ thông tin theo hướng cho phép hầu hết các

công việc được tiến hành một cách tự động hóa, từ đó vừa giảm chi phí vừa nâng

cao hiệu quả của KTSTQ. Xây dựng trung tâm xử lý và phân tích thông tin trực

tuyến với khả năng tích hợp toàn bộ các dữ liệu từ các đơn vị chức năng như dữ liệu

thông quan, thuế, tỷ giá, giao dịch ngoại tệ, tình trạng thuế nội địa, chống buôn lậu

phục vụ việc phân tích thông tin một cách chính xác, kịp thời và hiệu quả (mô hình

Hải quan Nhật Bản).

Thứ tư, Hầu hết các nước có hoạt động KTSTQ hiệu quả đều dựa trên mô

hình tổ chức bộ máy KTSTQ theo mô hình dọc từ cấp Tổng cục đến Hải quan các

địa phương. Trong bộ máy KTSTQ chia theo chức năng nhiệm vụ từng bộ phận để

hỗ trợ cho nhau trong quá trình KTSTQ (mô hình Hải quan Nhật Bản).

Thứ năm, Các hình thức KTSTQ chia thành kiểm tra theo kế hoạch, theo

tình huống và kiểm tra toàn diện (doanh nghiệp tự đánh giá) theo mô hình Hải quan

Mỹ. Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam hiện nay chưa thể áp dụng hình thức kiểm

tra toàn diện hay kiểm toán tuân thủ trong đó cho phép doanh nghiệp tự đánh giá

26

việc tuân thủ chấp hành các quy định của pháp luật vì Hải quan Việt Nam chưa xây

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

dựng được các bộ tiêu chí làm cơ sở cho việc tự đánh giá của các doanh nghiệp và

chưa xây dựng được cơ chế kiểm tra các báo cáo tự đánh giá của doanh nghiệp.

Kết luận Chương 1

Kiểm tra sau thông quan là một phương thức quản lý Hải quan hiện đại

được hầu hết Hải quan các nước trên thế giới áp dụng, song đối với Hải quan Việt

Nam đang ở giai đoạn đầu thực hiện và còn nhiều bất cập, cần bổ sung. Việc nghiên

cứu để hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan là hết sức cần thiết. Với ý

nghĩa như vậy, trước hết cần xác định rõ cơ sở lý luận và tính tất yếu của hoạt động

kiểm tra sau thông quan đối với Hải quan Việt Nam, trên cơ sở đó cần làm rõ một

số nội dung liên quan đến khái niệm về kiểm tra sau thông quan, đặc điểm của hoạt

động kiểm tra sau thông quan, phân biệt với một số hoạt động nghiệp vụ có liên

quan, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm tra sau thông quan từ đó xác định

rõ vai trò, ý nghĩa và vị trí của hoạt động kiểm tra sau thông quan đối với hoạt động

Hải quan.

Ngoài ra, cần nghiên cứu, xem xét, học tập kinh nghiệm triển khai hoạt

động kiểm tra sau thông quan, mô hình, cách thức quản lý của Hải quan một số

nước trong khu vực ASEAN và trên thế giới để làm cơ sở thực tiễn, đúc rút ra các

bài học kinh nghiệm cũng là hết sức cần thiết cho việc hoàn thiện hoạt động kiểm

27

tra sau thông quan của Hải quan Việt Nam.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG

KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI VIỆT NAM

2.1. Giới thiệu cơ cấu tổ chức của lực lượng kiểm tra sau thông quan trong

ngành Hải quan Việt Nam

Theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan năm

2005, đã có những thay đổi căn bản trong công tác quản lý nhà nước về hải quan nói

chung và công tác KTSTQ nói riêng. Đó là, thực hiện theo phương pháp quản lý rủi

ro, chuyển mạnh từ kiểm tra trong thông quan sang KTSTQ. Phạm vi phương pháp

KTSTQ được mở rộng: tất cả hồ sơ đã thông quan, KTSTQ theo dấu hiệu vi phạm

và kiểm tra theo kế hoạch. Yêu cầu đối với công tác KTSTQ là phải đánh giá, kiểm

soát được tình hình, phân loại được đối tượng chịu sự kiểm tra và đối tượng kiểm

tra để phục vụ quản lý của hải quan trong suốt quá trình trước, trong và sau thông

quan. Do vậy, hệ thống tổ chức bộ máy của lực lượng KTSTQ cũng đã được thay

TỔNG CỤC HẢI QUAN

CỤC KTSTQ

CỤC HẢI QUAN TỈNH, THÀNH PHỐ

CỤC, VỤ CHỨC NĂNG VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG

CHI CỤC KTSTQ

PHÒNG CHỨC NĂNG

P. T H

CHI CỤC HQCK, TƯƠNG ĐƯƠNG

P. K T 2

P. K T 3

P. K T 5

P. TT XL TT

P. K T 4

P. K T 1

đổi theo hướng kết hợp quản lý theo lĩnh vực chuyên sâu với quản lý theo địa bàn

Hình 2.1: Mô hình tổ chức của lực lượng KTSTQ

28

(Nguồn: Cục Kiểm tra sau thông quan – Tổng cục Hải quan)

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Hệ thống tổ chức bộ máy của lực lượng KTSTQ hiện nay được chia thành 2

cấp, ở cấp trung ương là Cục KTSTQ trực thuộc Tổng cục Hải quan, ở địa phương

là Chi cục KTSTQ trực thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc

trung ương.

Cấp Trung ương:

Cục KTSTQ được tổ chức theo hướng chuyên sâu theo từng lĩnh vực công

tác gồm 7 phòng trực thuộc: Phòng tổng hợp, Phòng thu thập xử lý thông tin, Phòng

kiểm tra trị giá hải quan (Phòng Kiểm tra 1), Phòng kiểm tra mã số, thuế suất hàng

hoá XNK (Phòng Kiểm tra 2), Phòng KTSTQ hàng hoá XNK theo loại hình gia

công và sản xuất xuất khẩu (Phòng Kiểm tra 3), Phòng kiểm tra thực hiện chính

sách thương mại (Phòng Kiểm tra 4), Phòng KTSTQ phía Nam (Phòng Kiểm tra 5).

Cấp Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh thành phố trực thuộc trung ương:

Theo mô hình tổ chức phòng KTSTQ trước đây không có thẩm quyền xử lý

vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan dẫn đến vướng mắc về mặt pháp lý khi

tiến hành KTSTQ. Do đó Quyết định 34/2006/QĐ-BTC ngày 6/6/2006 của Bộ

trưởng Bộ Tài chính về việc thành lập Chi cục KTSTQ trực thuộc Cục Hải quan

tỉnh, thành phố được ban hành đã giải quyết được vướng mắc trên.

Hiện nay đã có 33/33 Cục Hải quan thành lập Chi cục KTSTQ. Tùy theo đặc

thù của mỗi địa phương mà dưới Chi cục KTSTQ có thể thành lập các đội công tác

theo mô hình tổ chức quản lý chuyên sâu kết hợp quản lý theo doanh nghiệp, địa

bàn gồm 3 mô hình:

Mô hình 1: Chi cục KTSTQ loại 1 (gồm 3-5 đội công tác) chia ra hoạt động

trong các lĩnh vực: tham mưu tổng hợp, trị giá hải quan, mã số và thuế suất, KTSTQ

đối với hàng hoá XNK theo những loại hình đặc thù, kiểm tra việc thực hiện chính

sách thương mại. Chi cục KTSTQ loại 1 gồm 6 Chi cục KTSTQ trực thuộc các Cục

Hải quan TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bình

Dương.

Mô hình 2: Chi cục KTSTQ loại 2 (gồm 2 đội công tác) là Đội Tham mưu

29

tổng hợp và Đội KTSTQ. Chi cục KTSTQ loại 2 gồm 17 Chi cục KTSTQ trực

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

thuộc các Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đà Nẵng, Lạng Sơn, Quảng Trị,

Long An, Lào Cai, Tây Ninh, An Giang, Bình Định, Cần Thơ, Khánh Hoà, Thanh

Hoá, Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Đắc Lắc.

Mô hình 3: Chi cục KTSTQ loại 3 (không chia thành các Đội) gồm Chi cục

KTSTQ trực thuộc các Cục Hải quan Hà Giang, Điện Biên, Quảng Bình, Thừa

Thiên Huế, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đồng Tháp, Kiên Giang, Cà Mau, Bình Phước.

2.2 Kết quả thu thuế từ hoạt động kiểm tra sau thông quan của Hải quan Việt

Nam

2.2.1 Đặc điểm chung của hàng hóa nhập khẩu và yêu cầu quản lý hàng hóa

nhập khẩu của cơ quan Hải quan Việt Nam

Cuối năm 2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên WTO. Các cam kết

WTO của Việt Nam tương tự như cam kết của các nước mới gia nhập khác nhằm

xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa hàng nội địa và hàng nhập khẩu hoặc giữa đầu tư

trong và ngoài nước. Các lĩnh vực quan trọng nhất mà Việt Nam đã có cam kết mở

cửa thị trường thông qua cắt giảm các hàng rào thuế quan; chính sách giá cả minh

bạch, không phân biệt đối xử và phù hợp với các quy định của WTO; giảm hoặc

điều chỉnh lại thuế xuất khẩu đối với một số hàng hóa; không áp dụng trợ cấp xuất

khẩu đối với nông sản từ thời điểm gia nhập; duy trì hỗ trợ nông nghiệp trong nước

ở mức không quá 10% giá trị sản lượng; bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp công

nghiệp bị cấm từ thời điểm gia nhập; tuân thủ Hiệp định về các biện pháp đầu tư

liên quan đến thương mại của WTO; tuân thủ Hiệp định về xác định trị giá tính thuế

hải quan của WTO; tuân thủ Hiệp định về kiểm tra trước khi giao hàng cũng như

các Hiệp định có liên quan khác; duy trì hệ thống thủ tục hải quan thống nhất, minh

bạch, đơn giản và phù hợp với chuẩn mực quốc tế và các cam kết khác.

Ngoài ra Việt Nam còn tham gia vào Khu vực thương mại tự do ASEAN –

Trung Quốc, ASEAN – Hàn Quốc, ASEAN – Nhật Bản; ASEAN – Úc và

30

NewZealand.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Việc tham gia tích cực vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đã thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế, đầu tư của Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu tăng mạnh.

Đặc biệt, đối với hàng nhập khẩu khi công cụ bảo hộ hữu hiệu là thuế suất không

còn nữa thì hàng nhập khẩu tăng trưởng mạnh vượt mức xuất khẩu và đẩy nền kinh

tế Việt Nam vào trong tình trạng nhập siêu. Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa

năm sau luôn cao hơn năm trước và tình trạng nhập siêu luôn luôn căng thẳng mặc

dù Chính phủ đã áp dụng các biện pháp quyết liệt nhằm hạn chế tình trạng này. Tuy

nhiên, Đến ngày 31/12/2012, tổng kim ngạch XNK hàng hóa của cả nước năm 2012

đạt gần 228,36 tỷ USD, tăng 12,1% so với năm 2011; trong đó: xuất khẩu đạt

114,57 tỷ USD, tăng 18,2% và nhập khẩu là 113,79 tỷ USD, tăng 6,6% so với năm

2011. Cán cân thương mại của Việt Nam năm 2012 đảo chiều thặng dư 780 triệu

USD (trong khi năm 2011 thâm hụt 9,84 tỷ USD).

Hình 2.2: Tình hình XNK giai đoạn 2006-2012

31

(Nguồn: Tổng cục Hải quan)

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2006

đạt 44,82 tỷ USD, nhập siêu 5,09 tỷ USD; tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2007 đạt

62,68 tỷ USD, nhập siêu 14,12 tỷ USD; kim ngạch nhập khẩu năm 2008 đạt 80,71

tỷ USD, nhập siêu 18,02 tỷ USD; tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2009 đạt 69,95 tỷ

USD, nhập siêu là 12,85 tỷ USD; tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2010 đạt 84,8 tỷ

USD, nhập siêu là 12,61 tỷ USD; tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2011 là 106,75 tỷ

USD và nhập siêu là 9,84 tỷ USD và tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2012 là 113,79

tỷ USD, xuất siêu là 0,78 tỷ USD.

Hàng nhập khẩu chủ yếu tập trung vào các mặt hàng nguyên, nhiên vật liệu và

máy móc phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, tỷ trọng hàng tiêu

dùng trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá đã tăng từ khoảng 7,7% giai đoạn

2001-2006 lên 8,1% năm 2007, khoảng 8,8% năm 2008 và khoảng 7-8% cho giai

đoạn 2009-2011.

Xét theo đối tác thương mại, nước ta nhập siêu chủ yếu là từ các nước Châu Á

đặc biệt là Trung Quốc, Hàn Quốc và ASEAN. Đa số nguyên, nhiên phụ liệu, vật tư

và thiết bị máy móc được nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan,

Singapore và Thái Lan do lợi thế về vận tải, giá cả và tính phù hợp.

Trung Quốc là nhà cung cấp lớn nhất các mặt hàng thuộc nhóm máy móc, sản

phẩm điện tử, linh kiện và một số nhóm mặt hàng khác.

Xuất phát từ yêu cầu hội nhập, đặc điểm chung về hàng hoá nhập khẩu vào

Việt Nam và xu hướng phát triển của Hải quan quốc tế cũng như khu vực, Hải quan

Việt Nam cần phải thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế liên quan đến hải quan

trong khuôn khổ WTO, ASEAN, APEC, ASEM, WCO và các tổ chức quốc tế

khác, đồng thời vẫn phải đảm bảo cho các quy định của pháp luật Việt Nam nói

chung và pháp luật Hải quan nói riêng được thực hiện nghiêm chỉnh, bình đẳng cho

mọi đối tượng.

Hải quan Việt Nam với phương châm hoạt động “Chuyên nghiệp - Minh bạch

- Hiệu quả” và nhiệm vụ chủ yếu là quản lý có hiệu quả các hoạt động XNK và giao

32

lưu quốc tế, tạo điều kiện cho thương mại và sản xuất phát triển; bảo vệ và góp phần

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế quốc gia; bảo đảm nguồn

thu cho ngân sách; chống buôn lậu, gian lận thương mại, bảo vệ lợi ích người tiêu

dùng; góp phần bảo vệ chủ quyền kinh tế, an ninh quốc gia và an toàn xã hội; phục

vụ quản lý kinh tế xã hội đã tiến hành cải cách, hiện đại hoá theo hướng hiện đại, áp

dụng các chuẩn mực quốc tế vào hoạt động của Hải quan Việt Nam như tiến hành

khai báo hải quan từ xa, khai hải quan điện tử, đơn giản hoá thủ tục hành chính, thủ

tục hải quan, đẩy mạnh các hoạt động KTSTQ, thực hiện chương trình doanh

nghiệp ưu tiên (AEO) với nhiều ưu đãi cho các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp

luật Hải quan.

Mặc dù thực hiện nhiều đổi mới theo hướng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp

nhưng cơ quan Hải quan cũng áp dụng một loạt các biện pháp kiểm tra, kiểm soát

mới để thực hiện chức năng quản lý được giao. Theo đó, một trong những biện pháp

lớn là áp dụng nhiều ưu tiên cho các doanh nghiệp được đánh giá là chấp hành tốt

pháp luật Hải quan như thông quan nhanh chóng (miễn kiểm tra thực tế hàng hoá),

thông quan khi chưa xuất trình đủ các giấy tờ theo yêu cầu.

Tuy nhiên để được hưởng những ưu tiên trên doanh nghiệp phải trải qua một

quá trình kiểm tra, kiểm soát kỹ lưỡng, đánh giá rủi ro, tiến hành KTSTQ để đánh

giá mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trước khi áp dụng các ưu tiên. Do vậy, để

đáp ứng yêu cầu quản lý đồng thời phù hợp với chuẩn mực quốc tế, hoạt động

KTSTQ được coi là biện pháp nghiệp vụ lớn trong quá trình kiểm tra, kiểm soát của

Hải quan Việt Nam.

2.2.2 Kết quả thu thuế từ hoạt động kiểm tra sau thông quan

Trong thời gian qua, với sự nỗ lực phấn đấu của lực lượng KTSTQ cũng như

của toàn ngành, hoạt động KTSTQ đã đạt được những kết rất quả đáng khích lệ, đặc

biệt là trong năm 2011 “Năm kiểm tra sau thông quan”. Ngoài ra, năm 2012 lực

lượng KTSTQ đã đạt được thành tích nổi bật, góp phần quan trọng vào thực hiện

33

nhiệm vụ chính trị của toàn ngành hải quan.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Bảng 2.1: Kết quả thu NSNN của lực lượng KTSTQ

Đơn vị tính: tỷ đồng

2012

Chỉ tiêu

2006

2007

2008

2009

2010

2011

Tổng số tiền

theo quyết định

79,00

180,20

204,93

344,55 290,45

512,52

1.373,06

truy thu

Đã thu nộp

57,00

100,00

173,23

243,63 216,92

331,89

881,36

vào NSNN

Tỷ lệ % số

thu trên quyết

72,15

55,49

84,53

70,71

74,68

64,76

64,19

định thu

(Nguồn: Báo cáo tổng kết từ năm 2006 – 2012 của Tổng cục Hải quan)

Qua số liệu tại Bảng 2.1 cho thấy số tiền thuế truy thu tăng không đều. Giai

đoạn 2006-2009 số truy thu thuế năm sau cao hơn năm trước, năm 2010 kết quả thu

lại giảm so với năm 2009 và sang năm 2011 đã tăng 176,46% so với năm 2010. Đặc

biệt số thu năm 2012 tăng 268,16% so với năm 2011.

Qua phân tích các số liệu thống kê và phân tích các biện pháp, chương trình

hoạt động của lực lượng KTSTQ cho thấy nguyên nhân tăng thu là:

- Công tác KTSTQ ngày càng được lãnh đạo Tổng cục, lãnh đạo các Cục Hải

quan địa phương coi trọng và chỉ đạo sát sao;

- Toàn lực lượng thực hiện các chuyên đề lớn về KTSTQ dẫn đến số thu tăng;

- Trình độ nghiệp vụ và kỹ thuật KTSTQ của cán bộ, công chức được cải thiện

nên đã phát hiện được nhiều vi phạm của doanh nghiệp;

2.3. Thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Việt Nam

2.3.1 Về cơ chế chính sách

Thứ nhất: Căn cứ pháp lý để kiểm tra sau thông quan của Hải quan Việt

Nam

34

Giai đoạn trước khi ban hành Luật Hải quan năm 2001

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Trước khi Quốc hội ban hành Luật Hải quan năm 2001, cơ sở pháp lý về

KTSTQ được quy định tại một số văn bản quy phạm pháp luật như tại Điều 4, Điều

29 Luật Thuế giá trị gia tăng số 01/1997/QH9; Điểm 5, Điều 20 Luật sửa đổi bổ

sung một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu số 04/1998/QH10 và tại Điều

10 Nghị định số 16/1999/NĐ-CP ngày 27/3/1999 Quy định về thủ tục hải quan,

giám sát và lệ phí hải quan.

Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật, ngày 05/6/1999, Tổng cục

trưởng Tổng cục Hải quan đã ban hành Quyết định 199/1999/QĐ-TCHQ về việc

Ban hành Quy chế kiểm tra sau giải phóng hàng. Tại Điều 1 Quy chế kiểm tra sau

giải phóng hàng có nêu: “Kiểm tra sau giải phóng hàng là một khâu nghiệp vụ kiểm

tra hải quan, do cơ quan Hải quan thực hiện để thẩm định tính chính xác, trung thực

các nội dung đã khai báo và tính thuế của người làm thủ tục hải quan đối với lô

hàng xuất khẩu, nhập khẩu đã được giải phóng hàng nhằm thu đủ thuế cho NSNN,

bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, tổ chức và các cá nhân liên

quan”.

Giai đoạn từ 1/1/2002 đến giai đoạn 31/12/2005 – Luật Hải quan 2001 có hiệu lực

Ngày 29/6/2001 Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật Hải quan.

Đây là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất quy định chi tiết, cụ thể các vấn đề liên

quan đến hải quan. KTSTQ lần đầu tiên được quy định tại Điều 32 Luật Hải quan

2001 như sau “trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật Hải quan

đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan, cơ quan Hải quan được

áp dụng biện pháp KTSTQ”.

Thẩm quyền của cơ quan Hải quan được quy định như sau: “Trong thời hạn

5 năm, kể từ ngày hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được thông quan, Cục trưởng Cục

Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được quyền ra quyết định

KTSTQ. Trong trường hợp cần thiết, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ra quyết

định KTSTQ”. Cách thức thực hiện KTSTQ “Căn cứ quyết định KTSTQ, công

chức hải quan trực tiếp kiểm tra sổ sách, chứng từ kế toán và các chứng từ khác có

35

liên quan đến lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan tại doanh nghiệp để

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

đối chiếu với tờ khai hải quan và các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan; trong trường

hợp cần thiết và còn điều kiện thì kiểm tra thực tế hàng hóa”. Quy định về phối hợp,

hợp tác giữa các đơn vị có liên quan với cơ quan Hải quan “Trong quá trình kiểm

tra, theo yêu cầu của cơ quan Hải quan, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên

quan tạo điều kiện, cung cấp chứng từ kế toán, các thông tin, tài liệu cần thiết phục

vụ cho việc kiểm tra của cơ quan Hải quan”

Đánh giá về các quy định liên quan đến KTSTQ trong giai đoạn này cho thấy

các quy định về KTSTQ lần đầu tiên được luật hóa đã tạo thuận lợi về mặt pháp lý

cho cơ quan Hải quan tiến hành biện pháp kiểm tra mới – KTSTQ. Tuy nhiên, Luật

Hải quan năm 2001 quy định KTSTQ chỉ được thực hiện khi có các dấu hiệu vi

phạm pháp luật Hải quan nên đã bộc lộ một số hạn chế như sau:

- Do việc KTSTQ phụ thuộc vào dấu hiệu vi phạm nên một doanh nghiệp bị

KTSTQ thì mặc nhiên là có vi phạm pháp luật ảnh hưởng đến uy tín và tình hình

kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, với quy định này đồng nghĩa với việc cơ

quan Hải quan khi tiến hành KTSTQ phải cố gắng tìm kiếm các dấu hiệu vi phạm

pháp luật để xử lý. Điều này không đúng với bản chất của hoạt động KTSTQ theo

Công ước Kyoto sửa đổi vì KTSTQ là khâu nghiệp vụ tiếp theo của kiểm tra hải

quan để xác định mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp nhằm xác lập mức độ

ưu tiên cho doanh nghiệp khi tham gia hoạt động XNK hàng hóa.

- Chưa thực sự tạo ra được một cơ chế thông thoáng trong quản lý hoạt động

XNK.

- Quy định nêu trên chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế về KTSTQ. Theo

WCO, Công ước Kyoto sửa đổi, đặc biệt là quy định KTSTQ của các nước ASEAN

thì thông thường KTSTQ nhằm đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của doanh

nghiệp đồng thời phát hiện những vướng mắc, bất cập đối với quy trình thủ tục của

cơ quan Hải quan để có biện pháp điều chỉnh.

Trước yêu cầu của thực tế và những hạn chế của Luật Hải quan năm 2001 đã

36

đặt ra yêu cầu cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Giai đoạn từ khi Luật bổ sung sửa đổi một số điều của Luật Hải quan năm 2001 có

hiệu lực (01/01/2006) đến nay, Hoạt động KTSTQ chịu sự điều chỉnh của các văn

bản sau:

- Điều 32 Luật Hải quan năm 2001 được sửa đổi bổ sung tại điều 1 Luật

sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan năm 2005;

- Chương VI Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 quy định chi

tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan;

- Phần VI Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 6/12/2010 hướng dẫn về

thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và

quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;

Như vậy, với hệ thống pháp lý hiện hành, nghiệp vụ KTSTQ được quy định

cụ thể như sau:

- Mục đích KTSTQ: nhằm xác định mức độ chính xác, trung thực của việc

kê khai về hàng hóa, tự tính và nộp thuế, mức độ chấp hành pháp luật của doanh

nghiệp, làm cơ sở cho việc truy thu, truy hoàn tiền thuế, xác định mức độ ưu tiên

trong quản lý của hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp

và xử lý vi phạm pháp luật về thuế, về hải quan.

- Đối tượng chịu KTSTQ

Người xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, người được ủy thác xuất khẩu, nhập

khẩu hàng hóa, đại lý làm thủ tục hải quan, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu

chính, dịch vụ chuyển phát nhanh, người được chủ hàng ủy quyền làm thủ tục hải

quan là đối tượng chịu sự KTSTQ.

- Đối tượng kiểm tra của KTSTQ

Đối tượng kiểm tra của KTSTQ gồm hồ sơ hải quan đang lưu giữ tại doanh

nghiệp và đơn vị hải quan làm thủ tục hải quan cho hàng hóa liên quan; chứng từ,

tài liệu liên quan hàng hóa xuất nhập khẩu đã được thông quan như sổ kế toán,

chứng từ kế toán, báo cáo tài chính, các tài liệu, dữ liệu liên quan do doanh nghiệp

lưu giữ ở dạng giấy tờ hoặc dữ liệu điện tử; hàng hóa nơi sản xuất nếu cần thiết và

37

có điều kiện.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

- Các trường hợp KTSTQ: Có dấu hiệu gian lận thuế, gian lận thương mại, vi

phạm quy định về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu; kiểm tra theo kế hoạch để đánh giá

mức độ tuân thủ pháp luật Hải quan của người khai hải quan.

Như vậy, so với giai đoạn 2001-2005, các quy định về KTSTQ đã được quy

định cụ thể hơn theo hướng khắc phục các bất cập, vướng mắc trong thực tế thực

hiện và theo hướng phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Theo đó, KTSTQ không

chỉ thực hiện khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật mà được thực hiện dựa trên cơ sở

quá trình thu thập và phân tích thông tin của cơ quan (QLRR) để tiến hành KTSTQ.

Thứ hai, Về công tác tổ chức bộ máy lực lượng KTSTQ

Sau 10 năm KTSTQ được thành lập và đi vào hoạt động, đã xây dựng được

hệ thống tổ chức bộ máy lực lượng KTSTQ từ Tổng cục Hải quan đến các Cục Hải

quan tỉnh, thành phố với 33 Chi cục KTSTQ được thành lập dưới sự chỉ đạo trực

tiếp của các Cục Hải quan tỉnh, thành phố và sự chỉ đạo về mặt nghiệp vụ của Cục

KTSTQ. Hệ thống cơ cấu, tổ chức của lực lượng KTSTQ được thay đổi theo hướng

quản lý chuyên sâu từng lĩnh vực kết hợp quản lý theo địa bàn và phù hợp với yêu

cầu của nhiệm vụ mới.

Thứ ba, Về công tác cán bộ và đào tạo

Công tác cán bộ: Cán bộ, công chức lực lượng KTSTQ đã tăng dần về số

lượng theo các năm. Năm 2005, có 220 cán bộ làm công tác KTSTQ đã tăng lên

506 người cuối năm 2010, đến cuối năm 2011 là 688 người, đến hết năm 2012 là

722 cán bộ làm công tác KTSTQ. Dự kiến năm 2013 sẽ được bổ sung thêm 50

người so với năm 2012 (số liệu Cục KTSTQ báo cáo). Tuy nhiên so với yêu cầu

chức năng nhiệm vụ thì số lượng cán bộ công chức làm công tác KTSTQ vẫn chưa

đáp ứng yêu cầu. So sánh với tỷ lệ của các nước trên thế giới và trong khu vực

ASEAN thì tỷ lệ này chiếm từ 10-15% tổng biên chế trong khi đó tỷ lệ đến cuối

năm 2012 của Việt Nam là 6,31%.

Về đào tạo: Đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ, công chức lực lượng

KTSTQ có nghiệp vụ chuyên môn, chuyên sâu, chuyên nghiệp. Ngoài đào tạo

38

chung của ngành, lực lượng KTSTQ còn tự đào tạo một số kiến thức chuyên sâu

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

(nghiệp vụ điều tra, tham gia tố tụng hành chính, giám định tài liệu, kế toán,…). Từ

năm 2006 đến năm 2012 đã mở 24 lớp, đào tạo cho 570 lượt cán bộ công chức

KTSTQ về các nghiệp vụ chuyên sâu.

2.3.2 Về quy trình kiểm tra sau thông quan

Theo quy định tại Quyết định Số 1383/QĐ-TCHQ ngày 14/7/2009 của Tổng

cục trưởng Tổng cục Hải quan, quy trình KTSTQ gồm 12 bước (Hình 2.3).

Xác định đối tượng Bước 1

Thu thập thông tin Bước 2

Bước 3 Giải trình, kết luận tại trụ sở cơ quan Hải quan

Bước 4 Kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp

Bước 5 Kết luận kiểm tra

Báo cáo, đề xuất xử lý

Bước 6

Phê duyệt

Bước 7,8,9 Ban hành quyết định HC

Bước 10

Giải quyết khiếu nại Bước 11 Rút kinh nghiệm

Bước 12 Lưu hồ sơ

Hình 2.3: Lưu đồ các bước của quy trình KTSTQ

39

(Nguồn: Cục Kiểm tra sau thông quan – Tổng cục Hải quan)

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Hoạt động KTSTQ thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan

đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế. Nguồn

thông tin phục vụ cho hoạt động KTSTQ gồm rất nhiều nguồn như: Các cơ sở dữ

liệu của ngành (cơ sở dữ liệu về: tờ khai hải quan, trị giá hàng hoá XNK, QLRR, kế

toán thuế XNK, vi phạm pháp luật Hải quan, các thông báo phân tích, phân loại

hàng hoá, cơ sở dữ liệu khác); thông tin từ khâu thông quan (đăng ký, giám sát,

kiểm tra thực tế hàng hoá, phúc tập hồ sơ, tham vấn giá, kết quả giám định hàng

hoá), từ các bộ phận nghiệp vụ khác trong ngành Hải quan (điều tra chống buôn lậu,

kiểm tra thu thuế, xử lý vi phạm hành chính); các văn bản chỉ đạo của cấp trên; các

phương tiện thông tin đại chúng; từ ngoài ngành (Thuế, Công an, Kho bạc, Ngân

hàng); các nguồn khác như thông tin thị trường thế giới, thị trường nội địa, từ đơn

thư tố giác, khiếu kiện, do các tổ chức, cá nhân cung cấp) nhưng các thông tin này

còn rất hạn chế, điển hình là thông tin từ khâu thông quan. Một ví dụ tại Cục Hải

quan Hà Nội: theo báo cáo, năm 2011 tại Chi cục KTSTQ Hà Nội nhận được 311

phiếu chuyển từ khâu thông quan nhưng qua khâu rà soát đánh giá rủi ro có 21

phiếu (chiếm 6,8%) thông tin có dấu hiệu vi phạm và đã tiến hành KTSTQ nhưng

trong 21 cuộc KTSTQ có tới 18 cuộc (chiếm 85,7%) không phát hiện vi phạm của

doanh nghiệp.

Tại bước 5 nội dung kết luận kiểm tra phải thể hiện rõ được các nhiệm vụ

kiểm tra theo quyết định kiểm tra, những công việc đã làm, kết quả cụ thể về từng

nội dung, những nội dung doanh nghiệp thực hiện đúng không sai phạm, những nội

dung doanh nghiệp thực hiện chưa đúng hoặc có sai phạm; vi phạm quy định nào

của pháp luật; số thuế nộp thiếu, nộp thừa; trách nhiệm của doanh nghiệp và các tổ

chức, cá nhân khác có liên quan; những nội dung chưa thực hiện được hoặc chưa

hoàn thành, nguyên nhân; tinh thần, thái độ của doanh nghiệp trong quá trình kiểm

tra; các kiến nghị. Tuy nhiên, trên thực tế với cùng một quy trình và một mẫu bản

kết luận nhưng các Chi cục KTSTQ thực hiện rất khác nhau, có nhiều nội dung vừa

40

thừa lại vừa thiếu, thậm chí còn không đúng Luật.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Do đó, yêu cầu về việc chuẩn hóa cách thể hiện các thông tin trong bản kết

luận kiểm tra là cần thiết và cần thực hiện ngay để đảm bảo tính thống nhất trong

toàn ngành.

Hàng năm, căn cứ vào danh sách các doanh nghiệp trọng tâm, trọng điểm,

lực lượng KTSTQ (Cục KTSTQ và các Chi cục KTSTQ) phải kiểm tra sơ bộ tất cả

các hồ sơ hải quan, phân tích đánh giá, lựa chọn các doanh nghiệp có rủi ro cao

hoặc có dấu hiệu vi phạm để lập danh sách KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp.

Cách thức trình tự thu thập thông tin giai đoạn này được thực hiện như sau:

- Rà soát, củng cố lại thông tin đã có bằng việc đối chiếu các thông tin đó với

các cơ sở dữ liệu của ngành.

- Đối chiếu các thông tin đã được củng cố trên với hồ sơ hải quan lưu tại đơn

vị Hải quan làm thủ tục thông quan cho các lô hàng liên quan;

- Đề nghị các đơn vị Hải quan làm thủ tục thông quan cung cấp bổ sung tài

liệu, thông tin, giải thích làm rõ những vấn đề chưa rõ trên hồ sơ hải quan ;

- Yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các tài liệu, chứng từ liên quan;

- Xác minh các vấn đề chưa rõ ở các tổ chức, cá nhân liên quan hoặc có khả

năng biết được vấn đề đó;

- Giám định các chứng từ nghi vấn, giám định hàng hoá nếu cần thiết và còn

điều kiện;

- Tổng hợp, hệ thống các thông tin trên để làm rõ về đối tượng kiểm tra.

Dựa trên kết quả phân tích thông tin nêu trên, kết luận theo các trường hợp

sau:

Trường hợp 1: Các thông tin về hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp là

đầy đủ, minh bạch, doanh nghiệp không nộp thiếu thuế, không vi phạm pháp luật thì

đề nghị kết thúc kiểm tra, lập bản kết luận KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan, đưa

doanh nghiệp vào diện chấp hành tốt pháp luật.

Trường hợp 2: Nếu phát hiện doanh nghiệp có dấu hiệu nộp thiếu thuế hoặc

41

có vi phạm pháp luật thì yêu cầu doanh nghiệp giải trình.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Trường hợp 3: Nếu phát hiện có cơ sở nghi ngờ nhưng chưa đủ căn cứ kết

luận doanh nghiệp có nộp thiếu thuế không, có vi phạm pháp luật không thì yêu cầu

doanh nghiệp giải trình.

Nếu doanh nghiệp không giải trình hoặc không giải trình được các vấn đề

nghi vấn của cơ quan Hải quan thì đề nghị lãnh đạo ban hành quyết định KTSTQ tại

trụ sở doanh nghiệp.

Công tác KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp chỉ được tiến hành khi đã trải qua

giai đoạn KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan. Trình tự các công việc thực hiện như

sau:

Thứ nhất: Thành lập đoàn kiểm tra tại doanh nghiệp: Xác định thành phần

tham gia kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp.

Thứ 2: Xác định phạm vi kiểm tra:

Phạm vi kiểm tra tại doanh nghiệp chủ yếu bao gồm những vấn đề nghi vấn

nhưng chưa thể khẳng định, những vấn đề còn có ý kiến khác nhau giữa cơ quan

Hải quan và doanh nghiệp, kiểm tra việc hạch toán trên sổ kế toán và các chứng từ

của doanh nghiệp.

Thứ 3: Đoàn kiểm tra lập kế hoạch kiểm tra:

Nội dung cơ bản của kế hoạch kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp bao gồm:

Phạm vi kiểm tra, nội dung kiểm tra, thời gian kiểm tra, dự kiến những công việc

phải làm, phân công nhiệm vụ cho các thành viên, dự kiến các tình huống và biện

pháp xử lý tình huống; thông tin liên lạc, kế hoạch hậu cần.

Thứ 4: Đoàn kiểm tra rà soát, củng cố lại các thông tin thuộc phạm vi kiểm

tra đã xác định để đảm bảo chắc chắn về đối tượng chịu kiểm tra, khẳng định các

mục tiêu để nắm thế chủ động khi xử lý tình huống, để phân bổ nguồn lực hợp lý.

Thứ 5: Ban hành quyết định KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp

(Mẫu quyết định KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp: Phụ lục 1)

Thứ 6: Gửi quyết định kiểm tra tới trụ sở doanh nghiệp

42

Thứ 7: Thực hiện kiểm tra tại doanh nghiệp

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

- Trưởng đoàn công bố quyết định kiểm tra và cùng doanh nghiệp thống nhất

cách thức làm việc.

- Thực hiện kiểm tra tại doanh nghiệp: Đoàn kiểm tra thực hiện các công

việc sau:

+) Kiểm tra sự đầy đủ, tính hợp pháp, hợp lệ, đồng bộ, chính xác, trung thực

của hồ sơ hải quan lưu tại đơn vị được kiểm tra, đối chiếu với hồ sơ hải quan lưu tại

cơ quan Hải quan của lô hàng nhập khẩu thuộc đối tượng kiểm tra;

+) Kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về thuế và thu khác;

việc chấp hành chính sách quản lý hàng hoá nhập khẩu và các quy định khác của

pháp luật có liên quan đến lô hàng của đơn vị được kiểm tra;

+) Kiểm tra các chứng từ khác có liên quan đến lô hàng, mặt hàng đang kiểm

tra;

+) Kiểm tra chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo tài chính có liên quan đến

lô hàng nhập khẩu;

+) Trường hợp cần thiết thì kiểm tra: Dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị

có liên quan đến việc sản xuất, chế biến hàng hoá nhập khẩu; kiểm tra thực tế hàng

hoá nhập khẩu hoặc hàng hoá là sản phẩm của quá trình gia công, sản xuất, chế biến

từ hàng hoá nhập khẩu đang được lưu giữ tại các kho hàng của đơn vị. Việc kiểm

tra thực tế hàng hoá được thực hiện khi đủ điều kiện, nếu hàng hoá đó không mất đi

những đặc tính cơ bản so với thời điểm thông quan và đang được cơ quan Hải quan,

đơn vị được kiểm tra, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác lưu giữ;

+) Trường hợp phát sinh: Nếu phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật về Hải

quan thì cần lập ngay biên bản làm việc để xác nhận hành vi vi phạm đó; Tiến hành

xác minh tiếp các dấu hiệu vi phạm tại các cơ quan tổ chức cá nhân có liên quan;

tiến hành thẩm vấn người đại diện hợp pháp của đơn vị được kiểm tra hoặc những

cá nhân có liên quan; báo cáo cấp trên tiến độ công việc, các phát hiện dấu hiệu vi

phạm của đơn vị, những vướng mắc phát sinh vượt thẩm quyền và đề xuất biện

pháp xử lý.

43

Thứ 8: Kết luận KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp:

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn kiểm tra tại trụ sở

doanh nghiệp. Trưởng đoàn kiểm tra phải ký “Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở doanh

nghiệp”.

(Mẫu bản kết luận KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp: Phụ lục 2)

Thứ 9: Báo cáo kết quả kiểm tra, đề xuất: Đoàn kiểm tra báo cáo người ra

quyết định kiểm tra toàn bộ diễn biến, kết quả kiểm tra và đề xuất giải quyết từng

vấn đề. Trên cơ sở Bản kết luận, đoàn kiểm tra đề xuất xử lý về thuế và xử lý vi

phạm.

Thứ 10: Ban hành Quyết định ấn định thuế (nếu có).

Lưu hồ sơ, theo dõi theo đúng quy định của pháp luật

2.3.3 Về công tác thu thập, xử lý thông tin phục vụ hoạt động kiểm tra sau

thông quan

Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu:

Tại cấp Tổng cục:

Tổng cục Hải quan đã xây dựng được một số hệ thống thông tin và cơ sở dữ

liệu phục vụ chung cho công tác quản lý trong toàn ngành. Trong đó, Cục kiểm tra

sau thông quan được quyền khai thác các chương trình dữ liệu đã có trong ngành

nhưng bị giới hạn cho một số cán bộ, công chức của Cục. Tuy nhiên dung lượng

đường truyền giữa Cục Kiểm tra sau thông quan và cơ quan Tổng cục còn thấp, mới

chỉ khai thác, sử dụng được một số chương trình, nhưng những chương trình hiện

có cũng không tích hợp được để phục vụ phân tích, xử lý thông tin.

Sự phối hợp với các lực lượng có liên quan: Hệ thống phần mềm cung cấp

trao đổi dữ liệu thông tin với các ngành như Kho bạc, Tổng cục Thuế, Kiểm toán

nhà nước, Thanh tra … chưa được triển khai.

Thực tế, trong nhiều năm, chưa có một hệ thống phần mềm cung cấp thông

tin phục vụ riêng cho công tác kiểm tra sau thông quan. Đến năm 2011, Cục Kiểm

tra sau thông quan mới bắt đầu triển khai phần mềm Hệ thống thông tin và quản lý

44

rủi ro phục vụ công tác kiểm tra sau thông quan (gọi tắt là STQ01). Bước đầu đã kết

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

nối được thông tin, cơ sở dữ liệu giữa Cục Kiểm tra sau thông quan và các Chi cục

Kiểm tra sau thông quan địa phương. Tuy nhiên, sau một thời gian ngắn thực hiện,

hệ thống này cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với

đặc thù hoạt động kiểm tra sau thông quan.

Như vậy, đối chiếu với hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu phục vụ hoạt

động kiểm tra sau thông quan theo chuẩn mực hải quan khu vực ASEAN và hải

quan thế giới cũng như một số nước trong khu vực, cho thấy: Hệ thống thông tin và

cơ sở dữ liệu phục hoạt động kiểm tra sau thông quan của Việt Nam chưa đáp ứng

được các yêu cầu cơ bản:

Chưa có một hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu riêng và đủ mạnh để có thể

thu thập và cung cấp đầy đủ thông tin, xử lý thông tin và các vấn đề có liên quan

đến công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại trong toàn lực lượng kiểm tra sau

thông quan.

Chưa có sự kết nối và trao đổi cơ sở dữ liệu với các lực lượng liên quan

trong quá trình hoạt động. Đây là một trong những yêu cầu vô cùng cần thiết và

quan trọng trong quản lý hải quan hiện đại nói chung và hoạt động sau thông quan

nói riêng. Bởi phải có đầy đủ thông tin về hồ sơ doanh nghiệp thì mới có thể quản

lý và nắm được sự tuân thủ pháp luật Hải quan của doanh nghiệp.

Tại địa phương:

Ngoài những bất cập mà toàn bộ lực lượng kiểm tra sau thông quan đang

gặp phải nêu trên, việc khai thác và sử dụng các thông tin từ chương trình sẵn có

trong ngành cũng còn nhiều hạn chế: có địa phương có tương đối đủ các chương

trình nhưng chưa có dữ liệu; có nơi được cấp quyền sử dụng, khai thác, có nơi bị

hạn chế. Có nơi bị hạn chế hoàn toàn.

Thông tin về hồ sơ doanh nghiệp và các sai phạm của doanh nghiệp thường

chỉ được tiếp nhận từ khâu thông quan chuyển đến hoặc ở trên Tổng cục chuyển

xuống. Do đó, khả năng tự chủ phân tích và xử lý thông tin của cán bộ, công chức

kiểm tra sau thông quan tại các Chi cục sau thông quan địa phương còn rất hạn chế.

45

Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động kiểm tra sau thông quan.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Nhìn chung, cơ sở hạ tầng và trang thiết bị của các đơn vị còn rất yếu, thiếu

máy móc, hoặc chỉ được trang bị máy cũ, lạc hậu. Hệ thống đường truyền nhiều nơi

không được bảo đảm.

Công tác phối hợp, trao đổi thông tin:

Để có đầy đủ thông tin cần thiết về doanh nghiệp phục vụ công tác đánh giá,

phân tích và phân loại doanh nghiệp, cơ quan Hải quan phải tổ chức thu thập từ

nhiều nguồn khác nhau (các Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục thông quan, cơ quan

Thuế, Công an, Quản lý thị trường, Ngân hàng, Bảo hiểm, Vận tải, Đại lý Hải quan,

phương tiện thông tin đại chúng,...). Do đó, tất yếu sẽ nâng cao cả về số lượng và

chất lượng công tác phối hợp qua lại với các đơn vị này. Đây là mục tiêu mà hệ

thống quản lý hiện đại đang hướng tới nhằm quản lý chặt chẽ các doanh nghiệp.

Tại cơ quan Tổng cục Hải quan:

Cục Kiểm tra sau thông quan là đơn vị trực thuộc Tổng cục Hải quan, có

chức năng tham mưu, giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quản lý, chỉ đạo,

hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị trong ngành hải quan thực hiện công tác kiểm tra

sau thông quan; trực tiếp thực hiện kiểm tra sau thông quan trong phạm vi nhiệm

vụ, quyền hạn được giao. Đồng thời hỗ trợ các Cục Hải quan địa phương về cán bộ

cũng như thông tin trong các cuộc kiểm tra sau thông quan. Các phòng nghiệp vụ

thuộc Cục kiểm tra sau thông quan theo phân chia quản lý địa bàn để quản lý và chỉ

đạo về chuyên môn nghiệp vụ.

Tại Cục Hải quan địa phương:

Chi cục Kiểm tra sau thông quan là đơn vị trực thuộc Cục Hải quan tỉnh,

liên tỉnh, thành phố (sau đây gọi tắt là Cục Hải quan tỉnh) có chức năng giúp Cục

trưởng Cục Hải quan tỉnh, thành phố trong việc quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm

tra việc thực hiện kiểm tra sau thông quan và phúc tập hồ sơ hải quan; trực tiếp thực

hiện kiểm tra sau thông quan theo quy định của pháp luật đối với hàng hoá xuất

46

khẩu, nhập khẩu. Phối hợp thực hiện:

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Phối hợp trong ngành:

Tại cơ quan Tổng cục, Cục kiểm tra sau thông quan phối hợp kết hợp công

tác với các đơn vị Vụ, Cục trong việc chỉ đạo nghiệp vụ, cung cấp và trao đổi thông

tin; ngoài ra, Cục kiểm tra sau thông quan còn phối hợp với các Cục Hải quan tỉnh,

thành phố để nắm tình hình cụ thể và tổng hợp tình hình.

Phối hợp ngoài Ngành:

Bộ Tài chính đã có Quyết định số 1081/QĐ-BTC ngày 06/04/2004 ban

hành quy chế về việc phối hợp công tác giữa hệ thống thuế, hải quan, kho bạc nhà

nước, đồng thời 03 ngành đã có văn bản số 1537/TCT-TCHQ-KBNN ngày

24/05/2004 hướng dẫn thực hiện quyết định số 1081/QĐ-BTC.

Ngoài ra, thông tư liên tịch 01/2006/TTLT-BTC-NHNN giữa Bộ Tài chính

và Ngân hàng Nhà nước đã tạo cơ sở pháp lý cần thiết trong việc trao đổi thông tin

với hệ thống ngân hàng phục vụ công tác kiểm tra sau thông quan.

Cơ sở vật chất phục vụ công tác thu thập và xử lý thông tin:

Cơ sở vật chất – kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu hoạt động chủ yếu do chưa

có kế hoạch đầu tư lâu dài cho công tác kiểm tra sau thông quan, do nhận thức về

tầm quan trọng của công tác kiểm tra sau thông quan và do hoạt động kiểm tra sau

thông quan thời gian qua chưa đạt được kết quả như yêu cầu của ngành.

Việc đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin còn manh mún, ngắn hạn

và chưa đầu tư đúng trọng tâm, yêu cầu của công tác hiện đại hoá ngành Hải quan.

Ngoài ra, chưa chủ động đưa ra những yêu cầu cần quản lý công tác kiểm tra sau

thông quan để đầu tư xây dựng đúng hướng và kịp thời. Vì vậy, hệ thống thông tin,

cơ sở dữ liệu của Tổng cục Hải quan còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa kết nối với các

đơn vị Bộ Tài chính và các Bộ Ngành có liên quan. Hệ thống thông tin phục vụ cho

công tác kiểm tra sau thông quan trong Ngành Hải quan chưa được xây dựng.

Đa số trụ sở làm việc của phòng kiểm tra sau thông quan tại địa phương

47

không đủ điều kiện làm việc như chật chội, chưa đủ điều kiện kết nối mạng thông

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

tin, không có chỗ tiếp khách (đặc biệt khi mời doanh nghiệp lên trụ sở) … Do đó,

cơ sở dữ liệu phục vụ hoạt động kiểm tra sau thông quan còn hạn chế.

Hệ thống trang thiết bị:

Phương tiện đi lại như xe máy, ô tô phục vụ công tác điều tra, xác minh

không có. Các đơn vị chưa được trang bị phương tiện đi lại phục vụ công tác, còn

phụ thuộc vào phương tiện của văn phòng.

Ngoài một số đơn vị được trang bị máy tính xách tay (được cấp hay tự trang

bị), phần lớn không có đủ các trang thiết bị cần thiết như máy ghi âm, ghi hình, máy

tính được kết nối cho cán bộ sử dụng…, không tương xứng theo yêu cầu bảo đảm

và ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả công tác thu thập và xử lý thông tin.

Kinh phí hoạt động:

Về chế độ chi: Hiện chưa có quy định các khoản chi về mua tin, thu thập

thông tin trong và ngoài ngành. Chi phí về ăn ở cho cán bộ công chức đi công tác

còn nhiều bất cập, nhất là tại các thành phố lớn.

Về mức khoán: mức khoán kinh phí hiện hành chưa tính đến đặc thù của

công tác kiểm tra sau thông quan như: chi cho công tác chuyên môn nghiệp vụ còn

thấp so với yêu cầu; mức khoán chưa tính đến biên chế mà tính theo số cán bộ thực

có tại thời điểm cuối năm nên không đảm bảo kinh phí hoạt động; chưa được duyệt

chi kinh phí đào tạo nên chưa chủ động được; kinh phí phối hợp còn thấp so với các

đơn vị trong ngành.

Chế độ đãi ngộ:

Theo quy định hiện hành chưa có chế độ đãi ngộ thích đáng cho lực lượng

kiểm tra sau thông quan nhằm động viên, khuyến khích cán bộ công chức chủ động

trong công việc, trong điều kiện cán bộ không tâm huyến với công tác này. Hơn

nữa, do kiểm tra sau thông quan là việc khó, dẫn đến tình trạng một số cán bộ

48

không nỗ lực cố gắng xử lý công việc.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

2.3.3 Về hiệu quả của hoạt động kiểm tra sau thông quan

Số liệu tại Bảng 2.2 và Bảng 2.3 cho thấy số lượng doanh nghiệp được

KTSTQ trên toàn bộ số doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu chiếm

một tỷ lệ rất nhỏ. Nếu tính cả giai đoạn 2006-2012, với số lượng doanh nghiệp lớn

nhất tham gia XNK là 60.036 doanh nghiệp thì tỷ lệ các doanh nghiệp được đánh

giá tuân thủ toàn giai đoạn 2006-2012 là 13,54% (8.133 doanh nghiệp/60.036 doanh

nghiệp). Như vậy, cần phải đẩy mạnh hơn nữa hoạt động KTSTQ, nâng cao số

doanh nghiệp được đánh giá tuân thủ thông qua KTSTQ.

Bảng 2.2: Kết quả KTSTQ trên số lượng DN tham gia hoạt động XNK

Chỉ tiêu

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

1. Số lượng doanh

nghiệp tham gia

28.398

33.294

37.840

41.350

44.467

47.181

60.036

XNK

2.Tổng số doanh

nghiệp được kiểm

513

628

723

746

835

2.016

2.672

tra

Trong đó:

2.1 Số doanh

nghiệp được

484

37

682

709

807

1.876

2.305

KTSTQ tại trụ sở

cơ quan Hải quan

2.2 Số doanh

nghiệp được

29

591

41

37

28

140

367

KTSTQ tại trụ sở

doanh nghiệp

49

(Nguồn: Báo cáo tổng kết từ năm 2006 – 2012 của Tổng cục Hải quan)

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Hình 2.4: So sánh số cuộc KTSTQ tại trụ sở Hải quan và tại trụ sở DN

(Nguồn: Báo cáo tổng kết từ năm 2006 – 2012 của Tổng cục Hải quan)

Năm 2011, có 5/33 Cục Hải quan địa phương là Bình Phước, Cà Mau, Gia Lai,

Quảng Ngãi, Thừa Thiên-Huế không tiến hành KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp, các

Cục còn lại đa phần chỉ tiến hành từ 1 đến 3 cuộc kiểm tra. Đặc biệt 3 Cục Hải quan

lớn là TP.HCM (quản lý 17.954 doanh nghiệp), Hải Phòng (quản lý 1.234 doanh

nghiệp), Lạng Sơn (quản lý 345 doanh nghiệp) nhưng số cuộc KTSTQ tại trụ sở

doanh nghiệp còn hạn chế và số thu của KTSTQ còn thấp đã phản ánh công tác

quản lý rủi ro để lựa chọn đối tượng tiến hành KTSTQ chưa hiệu quả, chưa đáp ứng

được yêu cầu của công tác KTSTQ.

Sang đến năm 2012, tất cả các Cục Hải quan tỉnh, thành phố đã tiến hành

kiểm tra sau thông quan tại trụ sở doanh nghiệp. Tuy nhiên, số cuộc kiểm tra sau

thông quan tại trụ sở doanh nghiệp còn hạn chế.

Mặt khác, tỷ lệ số thu nộp trên số phải thu theo quyết định chiếm tỷ lệ chưa

cao cho thấy các quyết định truy thu của lực lượng KTSTQ vẫn chưa được các

doanh nghiệp chấp hành đúng thời hạn, dẫn tới tình trạng nợ đọng thuế, khiếu nại,

50

khiếu kiện.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Về tổ chức KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan và tại trụ sở doanh nghiệp:

Công tác tổ chức KTSTQ đã tương đối hoàn thiện. Cơ chế kiểm tra người khai hải

quan từ kiểm tra diện rộng sang hình thức kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm tại các

doanh nghiệp có nhiều nghi vấn trong việc chấp hành pháp luật về Hải quan theo

mức độ phân tích, đánh giá rủi ro đã rút ngắn được thời gian kiểm tra tại doanh

nghiệp (thời gian tiến hành một cuộc kiểm tra theo kế hoạch tại doanh nghiệp là 15

ngày và 5 ngày đối với kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm), giảm bớt được các tài liệu

mà doanh nghiệp phải xuất trình do cơ quan Hải quan, đã khoanh vùng được những

nghi vấn cần tập trung góp phần tiết kiệm thời gian, nhân lực, chi phí quản lý hành

chính của cơ quan Hải quan. Bên cạnh đó, kiểm tra theo mức độ phân tích rủi ro

cũng hạn chế được tình trạng thông đồng giữa cán bộ hải quan và doanh nghiệp

cũng như hạn chế được tình trạng nhũng nhiễu, vòi vĩnh, đe dọa kiểm tra của cán bộ

hải quan đối với doanh nghiệp.

Hiệu quả công tác KTSTQ còn hạn chế. Số thu của lực lượng KTSTQ toàn

ngành chỉ chiếm khoảng 0,1-0,5% số thu của toàn ngành Hải quan (Bảng 2.3)

Bảng 2.3: Tỷ lệ số thu từ KTSTQ so với tổng thu của toàn ngành

Đơn vị tính: tỷ đồng

Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012

Thu toàn 54.500 72.602 17.349 122.293 181.485 215.000 197.845 ngành

Tỷ lệ %

số thu từ

KTSTQ 0,10 0,14 0,15 0,20 0,14 0,15 0,44 so với

toàn

ngành

51

(Nguồn: Báo cáo tổng kết của Tổng cục Hải quan từ năm 2006 đến 2012)

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Mặc dù số tiền thuế thu được từ hoạt động KTSTQ là rất nhỏ bé trong số tiền

thuế thu được hoạt động của toàn ngành nhưng nó có một ý nghĩa vô cùng lớn, thể

hiện ở các mặt sau:

Góp phần đảm bảo mục tiêu thu thuế của toàn ngành;

Phát hiện, ngăn chặn kịp thời không để phát sinh thêm những kẽ hở của

chính sách pháp luật, biện pháp quản lý;

Phát hiện những khoảng trống trong quản lý, kịp thời khắc phục, truy thu

thuế lớn;

Tác động ngược trở lại khâu thông quan nhằm điều chỉnh những chính sách

và phương pháp quản lý chưa phù hợp, cần phải khắc phục;

Trên cơ sở đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của Doanh nghiệp thông qua

công tác kiểm tra sau thông quan, sẽ ghi nhận những doanh nghiệp chấp hành tốt

pháp luật và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp này trong hoạt động xuất

nhập khẩu bằng việc áp dụng phân luồng xanh khi thông quan hàng hóa, giảm tỷ lệ

kiểm tra thực tế hàng hóa.;

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về thuế cho Doanh nghiệp, răn đe, thức

tỉnh những Doanh nghiệp có ý định gian lận, trốn thuế;

Bảo vệ nội bộ, ngăn ngừa tiêu cực.

2.3.5 Về kỹ năng triển khai hoạt động KTSTQ:

Để tiến hành được các hoạt động KTSTQ đòi hỏi cán bộ hải quan phải thực hiện

hàng loạt các công việc từ thu thập, phân tích thông tin, đánh giá rủi ro để lựa chọn

danh mục đối tượng trọng tâm, trọng điểm đưa vào kế hoạch KTSTQ đến phân tích

chi tiết, xác định các nội dung có nghi ngờ cần tập trung làm rõ khi KTSTQ tại trụ

sở doanh nghiệp. Như vậy, công việc trước KTSTQ rất nhiều và phức tạp ảnh

hưởng quyết định đến hiệu quả KTSTQ.

Tuy nhiên, việc Hải quan Việt Nam vận dụng các phương pháp trong quy

trình QLRR từ thu thập, phân tích và lựa chọn đối tượng KTSTQ đã hỗ trợ rất lớn

52

cho công tác KTSTQ trong bối cảnh nhân lực và vật lực còn bị hạn chế.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Các tiêu chí làm cơ sở đánh giá rủi ro của doanh nghiệp trong khi lựa chọn

đối tượng KTSTQ cần được xem xét và đánh giá thường xuyên cho phù hợp với

thực tế. Việc xác định đúng các tiêu chí rủi ro sẽ giúp cho cơ quan Hải quan không

bỏ lọt các doanh nghiệp vi phạm.

Giai đoạn I: Phân công thực hiện công việc

Với tổ chức bộ máy của Cục KTSTQ và các Chi cục KTSTQ, nhiệm vụ phân

tích để lựa chọn đối tượng KTSTQ được thực hiện như sau:

Tại Cục KTSTQ: Việc thu thập và xử lý thông tin liên quan đến các đối

tượng KTSTQ được giao cho Phòng thu thập và xử lý thông tin. Căn cứ vào kết quả

phân tích và đánh giá rủi ro của hệ thống QLRR, sau khi các thông tin được tổng

hợp, sàng lọc và kết luận có dấu hiệu vi phạm hay không sẽ được chuyển sang cho

các phòng chức năng theo từng lĩnh vực nghiệp vụ (trị giá, gia công, SXXK, mã số

hàng hóa, thuế suất, xuất xứ, chính sách thương mại, đầu tư,...) tiến hành xác minh

thêm thông tin để đưa vào diện theo dõi và tiến hành KTSTQ.

Tại các Chi cục: Việc thu thập và xử lý thông tin liên quan đến các đối tượng

KTSTQ được giao cho Đội phân tích và xử lý thông tin. Sau khi các thông tin được

tổng hợp, sàng lọc, phân tích rủi ro và kết luận có dấu hiệu vi phạm hay không sẽ

được chuyển sang cho các đội kiểm tra tiến hành xác minh thêm thông tin để đưa

vào diện theo dõi và tiến hành KTSTQ.

Giai đoạn II: Giai đoạn thu thập và xử lý thông tin trong nghiệp vụ KTSTQ đối với

hàng hóa nhập khẩu được ban hành kèm theo Quyết định số 1383/QĐ-TCHQ ngày

14/7/2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan.

Thu thập và xử lý thông tin được chia thành hai trường hợp là thu thập, xử lý

thông tin đối với loại đã có dấu hiệu vi phạm và thu thập xử lý thông tin đối với loại

chưa có dấu hiệu vi phạm.

53

Thu thập, xử lý thông tin đối với loại đã có dấu hiệu vi phạm

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Bước 1: Tiếp nhận thông tin về dấu hiệu vi phạm

Bước 2: Nhận dạng dấu hiệu

Thông tin về dấu hiệu thường chưa đủ, cụ thể, chính xác nên diện phải xem

xét thường rất rộng, khó đánh giá phạm vi, mức độ rủi ro, xem xét tất cả sẽ lãng phí

nguồn lực. Do vậy, cần nhận dạng tương đối chính xác về dấu hiệu làm cơ sở cho

việc xác định quy mô của dấu hiệu.

Bước 3: Xác định quy mô của dấu hiệu vi phạm được phản ánh tại cơ sở dữ

liệu

* Đối với trường hợp đã xác định được doanh nghiệp cụ thể:

- Tra cứu tìm doanh nghiệp đó từ cơ sở dữ liệu;

- Trích xuất dữ liệu về nhập khẩu mặt hàng liên quan đến dấu hiệu vi phạm

đó từ cơ sở dữ liệu ngành;

- Tổng hợp số liệu đã trích xuất được để bước đầu xác định quy mô của dấu

hiệu vi phạm, quy mô của hậu quả rủi ro.

* Đối với trường hợp dấu hiệu liên quan đến một mặt hàng hoặc một hiện

tượng nhưng chưa xác định được doanh nghiệp cụ thể:

- Tra cứu tìm tất cả các doanh nghiệp có nhập khẩu mặt hàng liên quan đến

dấu hiệu vi phạm hoặc có hiện tượng nổi cộm đó;

- Trích xuất dữ liệu về nhập khẩu mặt hàng đó hoặc hiện tượng nổi cộm đó

của từng doanh nghiệp từ cơ sở dữ liệu ngành;

- Tổng hợp số liệu đã trích xuất được đối với từng doanh nghiệp theo thứ tự

từ lớn đến nhỏ để thực hiện các bước tiếp theo.

Bước 4: Thu thập thêm thông tin từ các nguồn khác

Bước 5: Phân tích, xử lý thông tin

Hệ thống, tổng hợp lại tất cả các thông tin đã thu thập được để tiến hành

phân tích, xử lý theo các hướng sau:

- Lĩnh vực tên hàng, mã số hàng hóa;

- Lĩnh vực trị giá;

54

- Lĩnh vực gia công, SXXK;

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

- Lĩnh vực xuất xứ hàng hóa;

- Lĩnh vực ưu đãi đầu tư;

Bước 6: Kết thúc giai đoạn thu thập, xử lý thông tin

Kết thúc giai đoạn thu thập, xử lý thông tin đối với trường hợp đã có dấu

hiệu vi phạm là việc xác định được doanh nghiệp phải tiến hành KTSTQ.

Thu thập, xử lý thông tin đối với loại chưa có dấu hiệu vi phạm

Bước 1: Xác định đối tượng thu thập thông tin

Bước 2: Xác định phạm vi thu thập thông tin về đối tượng

Việc thu thập thông tin phải được tập trung vào những vấn đề nhất định.

Phạm vi đó có thể là một doanh nghiệp, một mặt hàng hoặc một chi tiết về mặt hàng.

Bước 3: Thu thập thông tin trong phạm vi đã xác định:

- Thu thập thông tin từ các cơ sở dữ liệu của ngành;

- Nếu cần thiết thì thu thập thông tin từ các nguồn khác.

Bước 4. Phân tích, xử lý thông tin

Bước 5: Kết thúc giai đoạn thu thập, xử lý thông tin

Giai đoạn III: Tổ chức phân tích lựa chọn đối tượng tiến hành KTSTQ

Lập kế hoạch là một khâu quan trọng trong công tác KTSTQ, công việc này

được tiến hành hàng năm nhằm đạt được các mục tiêu sau:

Một là, chủ động trong thực hiện chức năng kiểm tra, đánh giá sự tuân thủ

của doanh nghiệp tránh tình trạng chồng chéo;

Hai là, Phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực;

Ba là, Nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác KTSTQ.

Trên cơ sở thông tin và dữ liệu về người khai hải quan, cơ quan Hải quan

(lực lượng KTSTQ) sẽ xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá và xác định mức độ rủi

ro cho từng doanh nghiệp xuất nhập khẩu theo các loại hình. Từ đó tiến hành phân

loại doanh nghiệp, xác định doanh nghiệp trọng tâm, trọng điểm đồng thời kết hợp

55

với các thông tin, dấu hiệu bổ sung để lựa chọn doanh nghiệp cần kiểm tra.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Thu thập, phân tích thông tin

Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá rủi ro

Suy luận; kinh nghiệm số liệu thống kê

Đánh giá, sắp xếp, sàng lọc và phân loại doanh nghiệp

Thông tin bổ sung

Đối chiếu; xác minh; thẩm định

Xác định trọng tâm, trọng điểm

Lựa chọn doanh nghiệp để đánh giá và xác định các chương trình KTSTQ đối với các doanh nghiệp: 1. Doanh nghiệp nhập khẩu, xuất khẩu 2. Doanh nghiệp làm dịch vụ thủ tục hải quan 3. Doanh nghiệp vận tải

Hình 2.5: Mô tả quá trình lựa chọn và xác định đối tượng KTSTQ

(Nguồn: Ban quản lý rủi ro – Tổng cục Hải quan)

Bước 1: Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ rủi ro.

Hệ thống tiêu chí gồm 2 phần:

Phần 1: Thông tin chung về doanh nghiệp:

Gồm 16 tiêu chí, xác định những đặc điểm nhận dạng doanh nghiệp (Bảng 2.4)

Bảng 2.4: Thông tin chung về doanh nghiệp

STT Tiêu chí STT Tiêu chí

Tên doanh nghiệp/tên Số giấy phép kinh doanh/cơ quan cấp/ngày 1 9 giao dịch cấp

2 Mã số doanh nghiệp Loại hình doanh nghiệp 10

3 Vốn điều lệ Tài khoản nội tệ số/tài khoản ngoại tệ số 11

4 Địa chỉ Cơ quan quản lý thuế 12

56

5 Điện thoại Phương pháp nộp thuế GTGT 13

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Danh sách, địa chỉ, số ĐT các đơn vị thành 6 Fax 14 viên

7 Email/Website 15 Tên, địa chỉ, số điện thoại Công ty mẹ

8 Ngày thành lập 16 Họ tên chủ doanh nghiệp

(Nguồn: Ban quản lý rủi ro – Tổng cục Hải quan)

Phần 2: Thông tin đánh giá mức độ rủi ro

Thông tin mô tả đặc tính cơ bản của doanh nghiệp với 5 nhóm tiêu chí về

nhân thân doanh nghiệp, hoạt động sản xuất kinh doanh, chủ doanh nghiệp, đối tác

nước ngoài và về chấp hành pháp luật.

Mỗi tiêu chí được gán với một số điểm để đánh giá mức độ rủi ro (Bảng 2.5)

Bảng 2.5: Thông tin đánh giá mức độ rủi ro

Tiêu chí Tiêu chí

- Theo dõi, kiểm soát chặt chẽ các Nhóm 1: Các tiêu chí về nhân thân doanh

khâu: 5 nghiệp

1.1 Trụ sở doanh nghiệp - Chỉ theo dõi một số khâu: 20

2.11 Hệ thống hạch toán kế toán: Vị trí:

- Trong khu công nghiệp: 10 - Hạch toán nguyên vật liệu trực

- Ngoài khu công nghiệp: 20 tiếp vào sản xuất, chí phí nhân công:

Xây dựng: 10

- Hợp lý, bề thế, kiên cố: 10 - Chỉ theo dõi lượng nguyên vật

- Bình thường: 20 liệu đưa vào sản xuất và chi phí

- Nhỏ, tạm bợ: 50 nhân công: 20

1.2 Nhà xưởng, trang thiết bị: - Chỉ theo dõi chi phí nhân công:

Vị trí: 40

- Trong khu công nghiệp: 10 - Không theo dõi: 80

- Ngoài khu công nghiệp: 20 Nhóm 3: Tiêu chí liên quan đến

Xây dựng, trang thiết bị: chủ doanh nghiệp:

57

- Lớn, bề thế, kiên cố: 05 3.1 Địa vị thực tế của chủ doanh

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

- Nhỏ, tạm bợ: 40 nghiệp:

- Chủ doanh nghiệp là chủ đầu tư 1.3 Bộ máy tổ chức:

- Tổ chức chặt chẽ (bộ máy, phân công): 10 hoặc có tỷ trọng vốn lớn trong DN:

- Tổ chức lỏng lẻo: 50 20

1.4 Số lượng nhân công: - Chủ doanh nghiệp là đại diện của

- Dưới 100: 60 nhà nước: 10

- Từ 100 đến 500: 40 - Chủ doanh nghiệp danh nghĩa: 50

- Từ trên 500 đến 1000: 20 3.2 Tiền thân của chủ doanh nghiệp:

- Trên 1000: 5 - Có năng lực, kinh nghiệm trong

1.5 Loại hình doanh nghiệp: lĩnh vực kinh doanh: 10

- Nhà nước: 10 - Không có năng lực kinh nghiệm

- Có vốn đầu tư nước ngoài: trong lĩnh vực kinh doanh: 20

+ Liên doanh: 30 - Đã từng là chủ doanh nghiệp bị

+ 100% vốn nước ngoài: 20 giải thể: 30

- Cổ phần: 40 Nhóm 4: Nhóm tiêu chí liên quan

- Tư nhân: 50 đến đối tác nước ngoài

- TNHH: 60 4.1 Những đối tác chủ yếu:

1.6 Thời gian hoạt động: - Ổn định lâu dài: 10

- Mới thành lập: 40 - Chưa xác định: 20

- Trên 1 năm đến 5 năm: 30 - Không ổn định: 30

- Trên 5 năm đến 10 năm: 10 4.2 Quốc tịch pháp nhân nước ngoài:

- Trên 10 năm: 05 - Mỹ: 10

1.7 Vốn (vốn điều lệ): - Liên minh Châu Âu: 15

- Cao (trên 20 tỷ đồng): 5 - Các nước phát triển khác: 20

- Trung bình ( từ 10 đến dưới 20 tỷ đồng) : - Các nước đang phát triển và trong

khu vực: 30 10

- Thấp (dưới 10 tỷ đồng): 20 4.3 Người đại diện pháp nhân nước

1.8 Chi nhánh/các đơn vị trực thuộc: ngoài:

58

- Không có chi nhánh: 10 - Người bản xứ: 10

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

- Hai chi nhánh: 20 - Người nhập cư từ các nước khác

- Nhiều chi nhánh: 40 Việt Nam: 20

- Người nhập cư gốc Việt: 20 Nhóm 2: Những tiêu chí về hoạt động sản

- Có quan hệ đặc biệt: 50 xuất kinh doanh

2.1 Lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh: 4.4 Uy tín và thương hiệu của pháp

- Gia công đơn thuần: 20 nhân nước ngoài:

- Kết hợp nhập nguyên vật liệu sản xuất hàng - Có thương hiệu: 10

xuất khẩu: 40 - Không có thương hiệu: 40

- Kết hợp nhập nguyên vật liệu sản xuất hàng Nhóm 5: Nhóm các tiêu chí về

xuất khẩu và nhập kinh doanh: 60 chấp hành pháp luật:

- Kết hợp xuất nhập khẩu tổng hợp với sản 5.1 Vi phạm hành chính trong lĩnh

xuất kinh doanh trong nước: 80 vực hải quan:

2.2 Áp dụng công nghệ: - Vi phạm xử lý cấp UBND tỉnh,

- Có dây chuyền công nghệ hiện đại: 10 Cục điều tra chống buôn lậu: 60

- Có dây chuyền bán hiện đại: 20 - Vi phạm xử lý cấp Cục: 40

- Dây chuyền sản xuất lạc hậu: 60 - Vi phạm xử lý cấp Chi cục: 20

2.3 Tình hình xuất nhập khẩu : - Chưa vi phạm

- Ổn định, đều đặn: 10 5.2 Nhóm các tiêu chí về chấp hành

- Không đều đặn: 40 pháp luật thuế:

2.4 Thương hiệu sản phẩm: - Tiêu chí về chấp hành Luật thuế

- Có thương hiệu: 10 xuất nhập khẩu và các sắc thuế có

- Không có thương hiệu: 20 liên quan:

2.5 Hạch toán: + Trốn thuế: 80

- Độc lập: 10 + Nợ thuế chây ỳ: 30

- Phụ thuộc: 20 - Tiêu chí về chấp hành các Luật

2.6 Hiệu quả kinh doanh trong 3 năm gần nhất: thuế nội địa:

- Kinh doanh hiệu quả thấp: 20 + Chấp hành tốt: 10

- Kinh doanh hiệu quả trung bình: 10 + Không chấp hành tốt: 30

59

- Kinh doanh hiệu quả cao: 5 5.3 Nhóm các tiêu chí về tình hình

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

2.7 Hàng hoá gia công: KTSTQ:

- Hàng có nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới: 5 - Đã bị KTSTQ (kiểm tra tại trụ sở

- Hàng có nhãn hiệu nổi tiếng trong khu vực: doanh nghiệp):

10 + Mức truy thu từ dưới 500 triệu

- Hàng có nhãn hiệu nổi tiếng trong nước VNĐ: 40

nhập khẩu: 20 + Mức truy thu từ 500 triệu đến 1 tỷ

2.8 Năng lực sản xuất: đồng: 60

- Năng lực đáp ứng các yêu cầu chủ yếu: 5 + Mức truy thu trên 1 tỷ đồng: 80

- Năng lực không đáp ứng đủ các yêu cầu - Đã khắc phục việc vi phạm sau

của các hợp đồng gia công: 20 khi kiểm tra hồ sơ (kiểm tra tại trụ

2.9 Thực hiện hợp đồng: sở cơ quan hải quan)

- Đúng kỳ hạn: 5 + Mức truy thu từ dưới 500 triệu

- Không đúng kỳ hạn: 20 VNĐ: 20

2.10 Hệ thống quản lý nguyên vật liệu sản xuất + Mức truy thu từ 500 triệu đến 1 tỷ

và sản phẩm: đồng: 30

+ Mức truy thu trên 1 tỷ đồng: 60

- Mức độ hợp tác của đối tượng

kiểm tra:

+ Hợp tác tốt: 5

+ Hợp tác không tốt: 20

(Nguồn: Ban quản lý rủi ro – Tổng cục Hải quan)

Bước 2: Đánh giá, sắp xếp, sàng lọc và phân loại doanh nghiệp:

Căn cứ vào những thông tin tổng hợp về các doanh nghiệp nhập khẩu theo

từng lĩnh vực thu thập được, tiến hành chấm điểm cho từng doanh nghiệp theo các

tiêu chí ở bước 1. Như vậy, mỗi doanh nghiệp với những đặc điểm, đặc trưng khác

nhau sẽ có một số điểm tương ứng với mức độ rủi ro của doanh nghiệp đó.

Sắp xếp theo thứ tự mức độ rủi ro và qua đó ít nhất có thể chia các doanh

60

nghiệp thành 3 nhóm:

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

- Nhóm các doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao;

- Nhóm các doanh nghiệp có mức độ rủi ro trung bình;

- Nhóm các doanh nghiệp có mức độ rủi ro thấp;

Bước 3: Xác định doanh nghiệp trọng tâm, trọng điểm

Những doanh nghiệp có độ rủi ro cao theo như phân loại trên sẽ được đưa

vào diện doanh nghiệp phải tiếp tục theo dõi, đánh giá để xác định doanh nghiệp

trọng tâm, trọng điểm. Việc đánh giá dựa vào một số tiêu chí tại Bảng 2.6

Bảng 2.6: Thông tin bổ sung nhằm xác định doanh nghiệp KTSTQ

Tiêu chí

Tiêu chí

Các dấu hiệu bất thường về doanh nghiệp

Dấu hiệu bất thường trong khâu sản

xuất:

và chủ doanh nghiệp:

- Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, nợ nần, có

- Những đột biến về năng suất và sản

lượng;

nguy cơ phá sản;

- Doanh nghiệp chuẩn bị giải thể;

- Có nghi vấn về bán, trao đổi, vay mượn

- Doanh nghiệp chuyển quyền sở hữu;

nguyên vật liệu bất hợp pháp;

- Doanh nghiệp chuyển đổi địa điểm;

- Thay đổi về chủng loại nguyên liệu;

- Doanh nghiệp dính líu vào kiện tụng hoặc

- Thay đổi cơ cấu sản xuất;

các vụ án khác;

- Có dấu hiệu gian lận về định mức, trị

- Chủ doanh nghiệp có dấu hiệu bỏ trốn;

giá, phân loại mã số, xuất xứ, chính sách

- Thay đổi người đứng đầu;

mặt hàng;

- Bất đồng trong ban lãnh đạo ;

- Các dấu hiệu bất thường khác.

- Những vấn đề liên quan giữa người lao

động và giới chủ;

- Dấu hiệu bất thường khác.

Dấu hiệu trong đăng ký và thực hiện

Dấu hiệu bất thường trong thanh toán:

- Xuất hiện các khoản thanh toán không

nhập khẩu:

- Hồ sơ thiếu hợp pháp, hợp lệ;

rõ ràng;

- Nộp chứng từ chậm;

- Bất thường trong thoả thuận, thanh toán

61

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

- Tuyến đường vận chuyển bất thường;

tiền hàng;

- Trọng lượng hàng không phù hợp với số

- Chi phí vận chuyển bất thường;

lượng hàng khi khai báo;

- Hình thức thanh toán bất thường;

- Dấu hiệu bất thường khác;

- Dấu hiệu bất thường khác trong thanh

toán.

(Nguồn: Ban quản lý rủi ro – Tổng cục Hải quan)

Sử dụng phương pháp gán điểm số hoặc gán số lượng sao (*) tương ứng với

mức độ rủi ro khác nhau của các dấu hiệu bất thường ở biểu trên để đánh giá, phân

loại và xác định các doanh nghiệp phải đưa vào danh sách những doanh nghiệp

trọng tâm, trọng điểm.

Bước 4: Lựa chọn doanh nghiệp tiến hành KTSTQ

Toàn bộ các doanh nghiệp trong danh sách trọng tâm, trọng điểm sẽ được

đưa dần vào kế hoạch KTSTQ.

2.4 Hạn chế và nguyên nhân tồn tại

2.4.1 Hạn chế

Nghiên cứu thực tế cho thấy, tổ chức KTSTQ của cơ quan Hải quan còn một

số hạn chế như sau:

Một là, về cơ chế chính sách:

Thể chế hoá các quy định của pháp luật về kiểm tra sau thông quan còn

nhiều hạn chế:

Tính đồng bộ và thống nhất các văn bản luật và dưới luật liên quan đến

công tác kiểm tra sau thông quan chưa cao, chưa luật hoá được sự cần thiết và trách

nhiệm phối hợp của các bộ, ban, ngành và uỷ ban nhân dân có liên quan để hỗ trợ

tốt cho công tác kiểm tra sau thông quan. Mặc dù Chính phủ đã có Nghị định

154/2005/NĐ-CP quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong việc trao đổi, cung

cấp thông tin phục vụ công tác kiểm tra sau thông quan nhưng hiện nay các bộ,

ngành vẫn chưa thực sự chủ động hỗ trợ ngành Hải quan trong phát hiện, cung cấp

62

thông tin và phối hợp kiểm tra sau thông quan.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Mặc dù hệ thống các văn bản đã tương đối đầy đủ, tuy nhiên để đáp ứng

được yêu cầu của công tác kiểm tra sau thông quan trong tình hình mới, hệ thống

văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn bộc lộ một số tồn tại cần tiếp tục sửa đổi, bổ

sung và hoàn thiện thống nhất, thể hiện trong một số vấn đề lớn sau:

Hệ thống văn bản chưa đủ sức mạnh cần thiết, chưa quy định rõ hành vi vi

phạm trong lĩnh vực kiểm tra sau thông quan, các chế tài xử phạt và thẩm quyền xử

lý các vi phạm đó, cụ thể ở những hành vi: từ chối, trốn tránh, không cử người có

đủ thẩm quyền làm việc với đoàn kiểm tra khi kiểm tra sau thông quan tại trụ sở

đơn vị; có hành vi cản trở đoàn kiểm tra dưới các hình thức khác nhau; không cung

cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời chứng từ tài liệu theo yêu cầu, không trả lời những

câu hỏi do đoàn kiểm tra nêu ra …;

Mặc dù đã được quy định trong Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày

15/12/2005 của Chính phủ, nhưng hiện vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể mối

quan hệ giữa cơ quan Hải quan và các cơ quan có liên quan khác trong trao đổi

cung cấp thông tin phục vụ công tác kiểm tra sau thông quan như: cơ quan vận tải,

bảo hiểm, cơ quan thương mại, quản lý thị trường, kế hoạch và đầu tư …

Ngoài ra, do đặc thù của công tác kiểm tra sau thông quan, ngoài hệ thống

văn bản quy phạm pháp luật còn phải xây dựng những tài liệu hướng dẫn kỹ thuật

(cẩm nang) kiểm tra về: gian lận trị giá, gian lận thuế suất, gian lận định mức, các

chính sách ưu đãi về thuế, về kiểm toán doanh nghiệp…

Một số văn bản cần tiếp tục hướng dẫn thực hiện như: hướng dẫn pháp lệnh

điều tra hình sự (về quyền khởi tố của Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan),

quy định tại bộ luật tố tụng hình sự về việc chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm sát nhân

dân những vụ việc truy thu thuế trên 200 triệu … (vấn đề này hiện đang còn thực

hiện không thống nhất, có địa phương chuyển Viện kiểm sát nhân dân, có địa

phương không).

Cục Kiểm tra sau thông quan đã xây dựng bộ Quy trình Kiểm tra sau thông

quan ban hành theo Quyết định số 621/QĐ-TCHQ ngày 29/3/2007 (sửa đổi, bổ

63

sung bằng Quyết định số 1383/QĐ-TCHQ ngày 14/7/2009). Về căn bản, bộ Quy

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

trình kiểm tra sau thông quan đã đáp ứng được yêu cầu của lực lượng kiểm tra sau

thông quan, đây chính là cẩm nang trong hoạt động kiểm tra sau thông quan. Tuy

nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, cũng đã bộc lộ những điểm bất hợp lý,

cần sửa đổi.

Về công tác cán bộ và đào tạo:

Mặc dù trình độ cán bộ đã được tiêu chuẩn hoá theo quy định của Tổng cục

Hải quan theo công văn 2722/TCHQ-TCCB ngày 12/06/2003 của Tổng cục Hải

quan, nhưng xét về mặt bằng chung tại thời điểm hiện nay không đủ cán bộ có trình

độ làm công tác kiểm tra sau thông quan, đặc biệt về chuyên môn kế toán, kiểm

toán doanh nghiệp. So sánh với chuẩn mực cán bộ theo tiêu chuẩn ASEAN thì chưa

đáp ứng được.

Cán bộ kiểm tra sau thông quan thường chỉ được đào tạo chuyên sâu một

lĩnh vực nhất định, như: Tài chính, kế toán, ngoại thương, luật, … trong khi đó công

tác kiểm tra sau thông quan đòi hỏi kiến thức tổng hợp. Vì vậy, cán bộ hiện nay

thiếu chuyên nghiệp, thiếu chuyên sâu, chất lượng còn yếu so với yêu cầu thực tế,

thiếu các kỹ năng cơ bản của cán bộ làm kiểm tra sau thông quan.

Cơ cấu chuyên môn và bố trí sử dụng nhiều bất cập, thiếu nghiêm trọng lực

lượng có nghiệp vụ tài chính, kế toán, kiểm toán, đây là nghiệp vụ chính để kiểm tra

chứng từ, sổ sách kế toán, báo cáo tài chính tại doanh nghiệp.

Số đông cán bộ kiểm tra sau thông quan sử dụng được ngoại ngữ và tin học

chưa thực sự hiệu quả trong công tác kiểm tra sau thông quan.

Về sắp xếp, bố trí luân chuyển cán bộ cũng còn nhiều bất cập, không đáp

ứng được yêu cầu chuyên môn hoá trong công tác kiểm tra sau thông quan. Nhiều

cán bộ được đào tạo chuyên sâu các chuyên ngành có liên quan đến kiểm tra sau

thông quan, nhưng không được bố trí làm kiểm tra sau thông quan. Việc luân

chuyển cán bộ làm kiểm tra sau thông quan còn tuỳ tiện, có cán bộ khá giỏi nhưng

lại luân chuyển sang bộ phận khác, hoặc cán bộ điều chuyển về kiểm tra sau thông

quan không được chuyên sâu. Do Quy chế luân chuyển cán bộ nên thường xuyên có

64

sự luân chuyển công tác giữa các bộ phận làm nhiệm vụ tại các Chi cục do vậy ảnh

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

hưởng đến tâm lý và kỹ năng nghiệp vụ của cán bộ công chức làm nhiệm vụ

KTSTQ do trông chờ vào sự luân chuyển tới cửa khẩu.

Về đào tạo:

Trong thời gian qua, Tổng cục đã tổ chức được một số lớp học đào tạo về

nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan cũng như các nghiệp vụ khác có liên quan, tuy

nhiên còn có những tồn tại và hạn chế như: Mặc dù đã xây dựng được kế hoạch

tổng thể chuyên sâu đào tạo cho toàn hệ thống, tuy nhiên chưa gắn kết được với

chương trình đạo tạo chung của Ngành, chưa tổ chức để triển khai thực hiện có hiệu

quả. Nội dung đào tạo chưa được xây dựng cụ thể, chưa phù hợp với các đối tượng

và thời gian đào tạo. Việc tổ chức các lớp đào tạo chủ yếu theo chương trình ngắn

hạn, chưa được thường xuyên, tập trung và chuyên sâu, dẫn đến chưa đào tạo được

những cán bộ chuyên sâu về kiểm tra sau thông quan và các lĩnh vực chuyên môn.

Hai là, Về quy trình KTSTQ:

Cục Kiểm tra sau thông quan đã xây dựng bộ Quy trình Kiểm tra sau thông

quan ban hành theo Quyết định số 621/QĐ-TCHQ ngày 29/3/2007 (sửa đổi, bổ

sung bằng Quyết định số 1383/QĐ-TCHQ ngày 14/7/2009). Về căn bản, bộ Quy

trình kiểm tra sau thông quan đã đáp ứng được yêu cầu của lực lượng kiểm tra sau

thông quan, đây chính là cẩm nang trong hoạt động kiểm tra sau thông quan. Tuy

nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, cũng đã bộc lộ những điểm bất hợp lý,

cần sửa đổi.

Ba là, Về hệ thống thông tin phục vụ hoạt động KTSTQ:

Cục KTSTQ chưa có bộ phận phân tích, đánh giá và cập nhật rủi ro riêng

biệt mà phụ thuộc vào Ban quản lý rủi ro - một đơn vị tương đương với Cục

KTSTQ và trực thuộc Tổng cục Hải quan (trước đây thuộc Cục Điều tra - Chống

buôn lậu) do đó hiệu quả phối hợp còn hạn chế, ảnh hưởng đến công tác lựa chọn

đối tượng KTSTQ.

Mặc dù Tổng cục Hải quan đã ban hành Quy trình thu thập và xử lý thông tin

65

trong khâu nghiệp vụ KTSTQ nhưng trên thực tế các nguồn thông tin thu thập được

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

chủ yếu là từ hệ thống cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan, các nguồn thu thập thông

tin khác rất hạn chế dẫn đến hiệu quả thu thập và phân tích thông tin chưa cao.

Các tiêu chí về rủi ro chưa được cập nhật kịp thời. Các tiêu chí đánh giá phân

loại doanh nghiệp còn mang tính chủ quan và chưa đáp ứng được yêu cầu phân loại

đối tượng doanh nghiệp.

Công tác đánh giá sự tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp làm cơ sở cho

việc thực hiện các chính sách ưu tiên trong khâu thông quan chưa đạt hiệu quả như

mong muốn. Nguyên nhân là do số lượng các doanh nghiệp được đánh giá mức độ

tuân thủ quá thấp (13,54%) sẽ ảnh hưởng đến việc xét và công nhận các doanh

nghiệp đạt tiêu chuẩn doanh nghiệp ưu tiên (AEO).

Hiện nay cơ quan Hải quan chưa xây dựng được hồ sơ về doanh nghiệp, số

lượng thông tin lưu trữ về doanh nghiệp, đặc biệt về chủ doanh nghiệp chưa có nên

cũng ảnh hưởng đến công tác xử lý, phân tích và đánh giá về doanh nghiệp, chủ

doanh nghiệp.

Bốn là, Hiệu quả KTSTQ không đồng đều.

Trong khi một số đơn vị thực hiện rất có hiệu quả (điển hình là Cục Hải quan

Bình Dương, Hải Phòng, Hà Nội) thì ở nhiều đơn vị khác hiệu quả còn thấp, cả năm

không thực hiện được một cuộc KTSTQ tại doanh nghiệp nào, không có phát hiện

nào về sai sót, vi phạm của doanh nghiệp, về bất cập, sơ hở của chính sách, pháp

luật và quản lý nhà nước

Tổng cục Hải quan chưa ban hành các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác

KTSTQ làm tiêu chí đo lường hiệu quả công việc của lực lượng KTSTQ cũng như

phục vụ cho công tác lập kế hoạch.

Công tác lập kế hoạch và tổ chức lựa chọn đối tượng KTSTQ chưa có hiệu

quả cao, số cuộc KTSTQ không phát hiện vi phạm còn chiếm tỷ lệ lớn (Theo số liệu

năm 2011 của Cục KTSTQ, trong đợt thực hiện 21 cuộc KTSTQ của Chi cục

66

KTSTQ Hà Nội thì có tới 18 cuộc không phát hiện vi phạm).

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

2.4.2 Nguyên nhân:

Sở dĩ còn tồn tại những hạn chế nêu trên trong hoạt động KTSTQ của Hải

quan Việt Nam là do một số nguyên nhân chủ quan và khách quan sau đây:

Thứ nhất, Quyết tâm chuyển đổi phương thức quản lý từ kiểm tra trong

thông quan sang KTSTQ của một bộ phận đáng kể lãnh đạo, công chức hải quan

chưa cao: Thể hiện ở chỗ chưa coi trọng công tác KTSTQ, mà mới chỉ coi KTSTQ

như một nghiệp vụ hỗ trợ, khi cần thì mới dùng; chưa giao nhiệm vụ cho KTSTQ,

thậm chí có nơi việc của KTSTQ đang làm lại chỉ đạo chuyển lại cho khâu thông

quan làm (KTSTQ phát hiện vi phạm lãnh đạo Cục chỉ đạo giao lại khâu thông

quan); chưa bố trí số lượng, chất lượng cán bộ công chức phù hợp với yêu cầu

nhiệm vụ. Mặc dù chỉ thị 800/CT-TCHQ năm 2006 đã nói rõ yêu cầu về số lượng

cán bộ làm KTSTQ, nhưng đến thời điểm 31/12/2012:

+ Tổng số biên chế của lực lượng KTSTQ trong cả nước là 722 người,

chiếm tỷ lệ 6,31% tổng biên chế của ngành Hải quan (722/11.429 người), trong đó

không có đơn vị Hải quan địa phương nào đạt 10% biên chế, có đơn vị chỉ đạt 1,7 -

3,8% (Lạng Sơn, Kiên Giang…), nhóm đơn vị lớn đều đạt tỷ lệ rất thấp (Hà Nội

4,7%, Tp.Hồ Chí Minh 5,5%, Hải Phòng 6,9%).

+ Thường xuyên luân chuyển cán bộ công chức KTSTQ: Từ 2006 đến nay

đã có 363 cán bộ công chức KTSTQ chuyển đi đơn vị khác, chiếm tỷ lệ xấp xỉ

50,27% (363/722) biên chế KTSTQ (hiện tại), trong đó 6 đơn vị đã luân chuyển từ

100% cán bộ công chức KTSTQ trở lên, cao nhất là Đồng Nai đã luân chuyển tới

179% (25/14).

Thứ hai, Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến KTSTQ

còn nhiều hạn chế:

Mặc dù hệ thống các văn bản đã tương đối đầy đủ, tuy nhiên để đáp ứng với

yêu cầu trong tình hình mới, hệ thống các văn bản pháp luật cần tiếp tục sửa đổi, bổ

sung hoàn thiện thống nhất thể hiện ở một số điểm sau đây:

Hệ thống văn bản pháp luật chưa đủ sức mạnh cần thiết, đặc biệt khi lực

67

lượng KTSTQ phải tham gia khiếu kiện tại Tòa hành chính. Các quy định liên quan

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

đến KTSTQ trong Luật Hải quan năm 2001 và 2005 chưa được quy định chi tiết, cụ

thể, chưa có sự đồng bộ trong các quy định liên quan đến hải quan giữa Luật Hải

quan với Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu và Luật Quản lý thuế.

Các chế tài xử phạt và thẩm quyền xử lý các vi phạm hành chính cụ thể là

những hành vi như từ chối, trốn tránh, không cử người có đủ thẩm quyền làm việc

với đoàn kiểm tra khi KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp; các hành vi cản trở đoàn

kiểm tra dưới các hình thức khác nhau như không cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp

thời chứng từ tài liệu theo yêu cầu, không trả lời các câu hỏi do đoàn kiểm tra nêu ra

không được cụ thể hóa trong Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 Quy

định việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan, Nghị định số

18/2009/NĐ-CP ngày 18/2/2009 Bổ sung, sửa đổi một số điều của Nghị định số

97/2007/NĐ-CP và Thông tư số 193/2009/TT-BTC ngày 01/10/2009 Quy định chi

tiết Nghị định số 97/2007/NĐ-CP và Nghị định số 18/2009/NĐ-CP ngày

18/02/2009.

Mặc dù đã được quy định tại Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày

15/12/2005, ngoài một số quy chế phối hợp hoạt động giữa Hải quan với Công an,

cơ quan Thuế, Kho bạc, Quản lý thị trường được ký kết thì quy chế phối hợp liên

quan nhiều đến KTSTQ chưa được ký kết như với Ngân hàng, Bảo hiểm, Vận tải,

Sở kế hoạch và đầu tư làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác khi cần xác minh các

chứng từ và thông tin có liên quan.

Thứ ba, Cơ cấu tổ chức bộ máy chưa đáp ứng được với yêu cầu của KTSTQ

Tại cấp Tổng cục: chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của Cục trưởng Cục

KTSTQ chưa đủ mạnh để thực thi nhiệm vụ. Cục trưởng không có thẩm quyền ban

hành quyết định KTSTQ cũng như quyết định ấn định thuế (thuộc thẩm quyền của

Tổng cục trưởng). Các phòng nghiệp vụ của Cục không có thẩm quyền ban hành

các quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Tại các Cục Hải quan tỉnh, thành phố: Mặc dù các Chi cục KTSTQ được

68

thành lập tại tất cả các Cục Hải quan nhưng mối quan hệ trao đổi, chia sẻ, cung cấp

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

và luân chuyển thông tin giữa các Chi cục Hải quan với Chi cục KTSTQ chưa được

tốt, thiếu tính chủ động trong công tác xác minh nắm bắt tình hình.

Cơ cấu tổ chức của Chi cục KTSTQ vừa được phân công theo địa bàn vừa

được phân theo các bộ phận như trị giá, xuất xứ, mã số, thuế suất, gia công, SXXK,

chính sách mặt hàng nhưng không có sự thống nhất, phân định rõ ràng dẫn đến

chồng chéo và thiếu hiệu quả.

Thứ tư, Hệ thống thông tin, công cụ kỹ thuật phục vụ KTSTQ còn nhiều hạn

chế

Hiện nay, về cơ bản Hải quan đã có các cơ sở dữ liệu phục vụ công tác

nghiệp vụ như: Hệ thống thu thập và xử lý dữ liệu tờ khai hải quan (số liệu XNK)

thực hiện chức năng thu thập, xử lý thông tin về tờ khai hàng hóa XNK; phân luồng

hàng hóa; Hệ thống dữ liệu giá tính thuế (GTT22) thực hiện chức năng thu thập,

quản lý thông tin về trị giá tính thuế, phương pháp xác định trị giá tính thuế; Hệ

thống quản lý thông tin vi phạm pháp luật Hải quan thực hiện chức năng thu thập,

quản lý thông tin về tình hình vi phạm pháp luật Hải quan của các tổ chức, cá nhân

và phương tiện vận tải cung cấp thông tin đầu vào cho hệ thống QLRR để đánh giá

doanh nghiệp; Hệ thống QLRR thực hiện chức năng tổng hợp thông tin, phân loại

đánh giá doanh nghiệp, cung cấp thông tin để hệ thống số liệu XNK phân luồng

hàng hóa; Hệ thống thông tin phục vụ công tác KTSTQ. Tuy nhiên, dữ liệu của các

hệ thống này hiện nay chưa đủ, chưa tập trung và chưa tích hợp được với nhau dẫn

đến hiệu quả khai thác phục vụ công tác KTSTQ chưa tốt.

Mặt khác, hệ thống hạ tầng cơ sở phục vụ cho các hệ thống trên cũng chưa

đáp ứng được yêu cầu. Thường xuyên có tình trạng rớt mạng, nghẽn đường truyền.

Thứ năm, Thực tế tại các Chi cục Hải quan cũng như tại Cục KTSTQ, công

tác lập kế hoạch KTSTQ vẫn còn mang tính hình thức, chưa thật sự dựa trên các căn

cứ khoa học, hợp lý. Việc lập kế hoạch còn căn cứ vào kinh nghiệm, đánh giá chủ

quan của cán bộ đảm nhiệm công việc, chưa đi sâu phân tích một cách có hệ thống

69

và dựa vào kết quả phân tích thông tin về doanh nghiệp. Nhiều đơn vị lập kế hoạch

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

dựa trên các chỉ đạo về mặt nghiệp vụ từ Tổng cục mà chưa căn cứ vào đặc thù, tình

hình và mức độ rủi ro của các doanh nghiệp thuộc địa bàn mình quản lý.

Thứ sáu, Trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật của các

doanh nghiệp còn hạn chế

Hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến Hải quan rất nhiều lại liên tục

thay đổi ảnh hưởng đến việc cập nhật và phổ biến kiến thức liên quan đến Hải quan

của doanh nghiệp, dẫn đến những hành vi vô ý khai báo sai lệch các hồ sơ hải quan.

Các chương trình tập huấn phổ biến kiến thức dành cho cộng đồng doanh

nghiệp hiện do cơ quan Hải quan và các hiệp hội kinh doanh cung cấp trên cơ sở hỗ

trợ của cơ quan Hải quan. Trong điều kiện nền kinh tế không ngừng phát triển cùng

với số lượng doanh nghiệp đông đảo như hiện nay thì số nhân viên kinh doanh được

trang bị kiến thức về khai báo hải quan còn quá hạn hẹp so với nhu cầu thực tế.

Như vậy, điều kiện tiên quyết để cơ quan Hải quan có được nguồn thông tin

chính xác ngay từ ban đầu quy trình tiếp nhận và kiểm tra các thông tin khai báo

trên tờ khai – dựa vào khai báo của người khai hải quan - đã không được bảo đảm.

Điều này khiến cho độ tin cậy của các khai báo bị giảm thấp, làm tăng khối lượng

công việc của lực lượng KTSTQ, theo đó làm giảm hiệu quả của hoạt động KTSTQ.

Bên cạnh những hiểu biết hạn chế về các quy định của pháp luật đối với hoạt

động quản lý của cơ quan Hải quan, ý thức tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp

hiện nay còn ở mức độ khá khiêm tốn. Lợi dụng sự thông thoáng về khai báo hải

quan, doanh nghiệp tự xác định và tự khai báo lên tờ khai, một số doanh nghiệp tìm

cách khai báo theo hướng có lợi cho doanh nghiệp (làm giảm số thuế phải nộp, khai

báo sai để được thông quan) hoặc tìm cách lách Luật dẫn đến tăng khối lượng công

70

việc của lực lượng KTSTQ sau khi hàng hoá đã thông quan.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Kết luận Chương 2

Để hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Việt Nam cần thiết phải

đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan. Việc đánh giá thực trạng

được tiến hành trong khoảng thời gian từ khi triển khai Luật Hải quan đến nay, với

một số nội dung chủ yếu về cơ sở pháp lý, hệ thống tổ chức bộ máy, công tác đào

tạo cán bộ, tổ chức hướng dẫn và phối hợp thực hiện, cũng như kết quả hoạt động

kiểm tra sau thông quan. Đây sẽ là cơ sở để tiến hành đối chiếu với các quy định,

chuẩn mực của Hải quan khu vực ASEAN và Hải quan thế giới. Từ đó tìm ra những

điểm tồn tại, hạn chế, cần khắc phục trong hoạt động kiểm tra sau thông quan tại

71

Việt Nam.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT

ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN

3.1 Phương hướng hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan đối với hàng

hóa nhập khẩu của Hải quan Việt Nam

3.1.1 Bối cảnh quốc tế và những vấn đề đặt ra cho Hải quan Việt Nam về kiểm

tra sau thông quan

Trước hết là khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) về kiểm tra sau

thông quan

Tại Chuẩn mực 3.2 và 6.10 Chương 6 Phụ lục tổng quát Công ước Kyoto đã

chỉ ra rằng cơ quan Hải quan phải thực hiện kiểm toán hoạt động của các doanh

nghiệp XNK cho mục đích kiểm tra giám sát của mình.

Tại Chuẩn mực 6.6 Chương 6 Phụ lục tổng quát Công ước Kyoto cũng đã

nêu rõ: Để đảm bảo quản lý các hoạt động thương mại quốc tế ngày càng gia tăng

và phát triển cả về số lượng và chất lượng trên toàn cầu và tạo điều kiện hơn nữa

cho các doanh nghiệp hoạt động XNK, cơ quan Hải quan ngày càng tăng cường các

biện pháp kiểm tra giám sát dựa trên kết quả kiểm toán và sử dụng hệ thống sổ sách

của doanh nghiệp. Các biện pháp giám sát này có thể được thực hiện từ các hoạt

động kiểm toán sau thông quan (KTSTQ) cho tới tự đánh giá của doanh nghiệp.

Tiêp theo là khuyến nghị của Tổ chức Hải quan các nước ASEAN

Ngày 23/5/1997, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan các nước ASEAN đã

thống nhất viễn cảnh Hải quan ASEAN đến 2020 và đã được các nhà lãnh đạo

ASEAN thông qua tại kỳ họp thượng đỉnh không chính thức lần hai tổ chức tại

Kuala Lumpuar - Malaysia từ ngày 15 đến 16/12/1997 thực hiện chủ đề sau: Một

đối tác Hải quan ASEAN đạt chuẩn mực toàn cầu và xuất sắc về khả năng nghiệp

vụ và các dịch vụ đồng nhất thông qua các thủ tục hài hoà nhằm thúc đẩy thương

mại và đầu tư, nhằm bảo vệ sức mạnh và lợi ích của cộng đồng ASEAN. Trong đó,

KTSTQ được đề cập đến với hai mục tiêu là áp dụng hệ thống KTSTQ và phát triển

72

những hướng dẫn về KTSTQ của ASEAN dựa trên thực tế.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

3.1.2 Quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về hiện đại hóa Hải quan

Cùng với sự phát triển của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chủ trương chỉ

đạo của Đảng và Nhà nước đã rõ ràng, cụ thể thông qua quan điểm về đường lối đối

ngoại, phát triển kinh tế của đất nước tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX,

X. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đề ra mục tiêu tổng quát là “Phấn đấu đến

năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị,

xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của

nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ

được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo

tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau” [103]. Đường lối đối

ngoại của Đảng tại Đại hội XI tiếp tục khẳng định “Thực hiện nhất quán đường lối

đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng

hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”[138].

Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế, phát

triển sản xuất trong nước, mở rộng thị trường xuất khẩu, cải cách thủ tục hành

chính, thu hút đầu tư, tạo thuận lợi cho thương mại đòi hỏi ngành Hải quan phải

nâng cao năng lực quản lý, đáp ứng yêu cầu của hải quan hiện đại: vừa đảm bảo hỗ

trợ thông quan nhanh chóng cho hàng hoá XNK, tạo thuận lợi cho hoạt động thương

mại quốc tế nhưng phải đảm bảo quản lý chặt chẽ hoạt động XNK, chống buôn lậu

và gian lận thương mại có hiệu quả, ngăn chặn các giao dịch bất hợp pháp, đảm bảo

nguồn thu cho ngân sách, góp phần bảo vệ trật tự an toàn xã hội, lợi ích người tiêu

dùng, đảm bảo lợi ích và chủ quyền an ninh quốc gia. Cụ thể thủ tục hải quan phải

đơn giản, minh bạch; tăng nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hoá trong giao dịch ngoại

thương; thông quan hàng hoá XNK nhanh, giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp,

đẩy mạnh thủ tục hải quan điện tử; cung cấp thông tin phục vụ quản lý cho hoạt

động XNK, một cách nhanh chóng, công khai.

3.1.3 Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 trong lĩnh vực kiểm tra sau

73

thông quan

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Ngày 25/3/2011 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định Số 448/QĐ-TTg

về việc Phê duyệt chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020.

Trên cơ sở đó, mục tiêu tổng quát trong chiến lược phát triển Hải quan đến

năm 2020 là “Xây dựng Hải quan Việt Nam hiện đại, có cơ chế, chính sách đầy đủ,

minh bạch, thủ tục hải quan đơn giản, hài hoà đạt chuẩn mực quốc tế, trên nền tảng

ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu tập trung và áp dụng rộng rãi phương

thức quản lý rủi ro, đạt trình độ tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực

Đông Nam Á. Xây dựng lực lượng Hải quan đạt trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu

có trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả góp phần tạo

thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp, phát triển du lịch, thu hút đầu tư

nước ngoài, đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước,

quyền và nghĩa vụ hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.

Nằm trong chiến lược phát triển chung của ngành Hải quan, chiến lược

KTSTQ đến năm 2020 được xác định là: “Đến năm 2020, hoạt động KTSTQ đạt

trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu, hiệu quả, dựa trên nguyên tắc áp dụng QLRR;

quy trình nghiệp vụ KTSTQ được chuẩn hóa trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông

tin; phân loại được các doanh nghiệp XNK; kiểm soát được các doanh nghiệp, loại

hình, mặt hàng XNK có rủi ro cao”.

Mục tiêu phấn đấu đặt ra cho KTSTQ là đến năm 2015 về cơ bản sẽ đạt được

những yêu cầu trên. Hoạt động KTSTQ được thực hiện theo thông lệ phổ biến của

Hải quan các nước là kiểm toán sau thông quan (PCA); KTSTQ thay thế dần kiểm

tra trong thông quan, đến năm 2015 hoạt động kiểm tra của Hải quan chủ yếu là

KTSTQ. Kế hoạch đặt ra mỗi năm là kiểm tra đánh giá được tuân thủ của khoảng

5% các doanh nghiệp đồng thời chính thức áp dụng chế độ ưu tiên đặc biệt trong

quản lý nhà nước về Hải quan.

3.1.4 Phương hướng hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan đối với hàng

hóa nhập khẩu của Hải quan Việt Nam

Nhằm cụ thể hoá mục tiêu chiến lược của KTSTQ đến năm 2020, yêu cầu

74

hoàn thiện tổ chức KTSTQ đối với hàng hoá nhập khẩu là:

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Thứ nhất, Xây dựng quyết tâm chính trị của lãnh đạo Hải quan các cấp và

toàn ngành Hải quan thực hiện chuyển đổi căn bản từ kiểm tra trong thông quan

sang KTSTQ.

Thứ hai, Hoàn chỉnh về thể chế:

- Hoàn chỉnh cơ chế hậu kiểm trong lĩnh vực hải quan trong các Luật Hải

quan, Luật Quản lý thuế;

- Hoàn chỉnh quy định của pháp luật về chế độ Doanh nghiệp ưu tiên đặc

biệt, áp dụng trong thực tế;

- Chuẩn hoá quy trình KTSTQ trên cơ sở nguyên tắc QLRR, ứng dụng công

nghệ thông tin;

Thứ ba, Hoàn chỉnh mô hình tổ chức, phân bổ lại nguồn lực của hệ thống

KTSTQ phù hợp với yêu cầu quản lý tập trung của ngành và yêu cầu nghiệp vụ bao

gồm cả việc hình thành một số bộ phận nghiệp vụ mới trong KTSTQ (giám định,

luật sư, công nghệ thông tin,…);

Thứ tư, Tăng cường biên chế lực lượng KTSTQ, tối thiểu đạt 15% tổng biên

chế toàn ngành vào năm 2015;

Thứ năm, Tăng cường đào tạo chuyên sâu, xây dựng chế độ luân chuyển cán

bộ công chức KTSTQ theo hướng sử dụng chuyên nghiệp.

Thứ sáu, Tăng cường trang thiết bị hiện đại, kinh phí đảm bảo để hoạt động

KTSTQ có hiệu quả cao nhất. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt

động nghiệp vụ KTSTQ.

Thứ bảy, Đẩy mạnh hoạt động nghiệp vụ KTSTQ, nhất là KTSTQ tại trụ sở

doanh nghiệp, đảm bảo chu kỳ khoảng 5 năm 1 doanh nghiệp phải được KTSTQ 1

lần.

3.2 Các giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy

* Căn cứ hình thành giải pháp:

- Tổ chức bộ máy, con người cho công tác kiểm tra sau thông quan như hiện

75

nay không thể đáp ứng được yêu cầu quản lý theo Luật Hải quan và Luật thuế xuất

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

khẩu, nhập khẩu, Luật quản lý thuế. Nguyên nhân chính là thiếu về số lượng và yếu

về chất lượng, đặc biệt là kiến thức chuyên môn và kỹ năng kiểm tra sau thông

quan....

- Xuất phát từ thực tế, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, giữa các

bộ phận trong từng cấp nên hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan của toàn

ngành chưa cao. Vì vậy, trong thời gian tới cần tiếp tục củng cố hệ thống bộ máy ở

mỗi cấp, đặc biệt quy định rõ mối quan hệ công tác giữa các đội thuộc Chi cục kiểm

tra sau thông quan, các phòng thuộc Cục Kiểm tra sau thông quan, giải quyết mối

quan hệ giữa quản lý địa bàn và chuyên sâu trong các lĩnh vực chuyên môn của cả

hai cấp này.

* Mục tiêu giải pháp:

Hệ thống tổ chức bộ máy thống nhất, chuyên trách từ cấp Tổng cục đến cấp

Cục hải quan địa phương.

* Nội dung giải pháp:

- Hoàn thiện tổ chức chuyên trách cấp Tổng Cục:

Cần tiếp tục sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Cục kiểm tra sau thông quan

theo Quyết định 1015/QĐ-BTC ngày 11/5/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về quy

định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục kiểm tra sau thông

quan. Cụ thể là:

+ Củng cố lại tổ chức bộ máy của Cục kiểm tra sau thông quan để thực sự

là cơ quan đầu não của ngành Hải quan quản lý, chỉ đạo các đơn vị trong toàn ngành

Hải quan thực hiện công tác kiểm tra sau thông quan, đồng thời trực tiếp thực hiện

kiểm tra sau thông quan theo quy định của pháp luật.

+ Hình thành một hệ thống tập trung, thống nhất từ Tổng cục xuống Hải

quan địa phương trong lĩnh vực kiểm tra sau thông quan, thiết lập mối quan hệ dọc

và trực tiếp từ Cục Kiểm tra sau thông quan xuống các chi cục kiểm tra sau thông

quan trực thuộc Cục Hải quan tỉnh, thành phố.

76

+ Kết hợp việc quản lý theo địa bàn và quản lý chuyên sâu:

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Việc quản lý địa bàn cần phải nắm được các hoạt động chủ yếu của chi cục

kiểm tra sau thông quan về các hoạt động có liên quan như: phúc tập hồ sơ, kiểm tra

sau thông quan, công tác tổ chức nhân sự, tình hình xuất nhập khẩu, tình hình hoạt

động, khó khăn vướng mắc của đơn vị. Đồng thời phải theo dõi và nắm chắc về

doanh nghiệp lớn trên địa bàn, về các lĩnh vực chủ yếu: chỉ tiêu cơ bản về danh bạ

doanh nghiệp; lĩnh vực kinh doanh; tình hình kinh doanh, chấp hành pháp luật hải

quan, pháp luật về thuế …

Về quản lý chuyên sâu được tổ chức theo từng lĩnh vực chuyên môn (theo

cơ cấu tổ chức các phòng nghiệp vụ, kịp thời nắm bắt và giải quyết những vấn đề

chuyên môn như: trị giá hải quan, mã số và thuế suất hàng hoá; gia công, sản xuất

hàng xuất khẩu; chính sách thương mại … Đồng thời dần hình thành những chuyên

gia giỏi về các lĩnh vực chuyên môn này.

+ Xây dựng quy chế phối hợp giữa các đơn vị thuộc cơ quan tổng cục, các

cục hải quan địa phương với Cục Kiểm tra sau thông quan và hệ thống kiểm tra sau

thông quan trong toàn ngành về các lĩnh vực: cung cấp thông tin, xây dựng chính

sách, chế độ, đào tạo, phối hợp thực hiện kiểm tra và một số lĩnh vực khác.

Xây dựng quy chế phối hợp giữa lực lượng kiểm tra sau thông quan với các

đối tượng kiểm tra sau thông quan nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất

nhập khẩu của doanh nghiệp, hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải quan, giúp các

doanh nghiệp tự khai báo chính xác, khắc phục sai sót, tự kiểm soát được việc tuân

thủ pháp luật

- Hoàn thiện tổ chức chuyên trách cấp hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố

trực thuộc trung ương:

Tiếp tục sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Cục kiểm tra sau thông quan theo

Quyết định số 1166/QĐ-TCHQ ngày 09/6/2010 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải

quan về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục kiểm

tra sau thông quan. Cụ thể là:

+ Chi cục kiểm tra sau thông quan là một đơn vị giúp Cục trưởng Cục Hải

77

quan tỉnh thành phố trong việc quản lý chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra việc kiểm tra

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

sau thông quan, phúc tập hồ sơ và trực tiếp kiểm tra sau thông quan của doanh

nghiệp trên địa bàn quản lý của mình.

+ Bố trí đầy đủ biên chế và con người có đủ năng lực và tiêu chuẩn vào các

bộ phận chuyên môn cho phù hợp với đặc điểm tình hình của từng loại chi cục.

+ Thực hiện việc kết hợp quản lý theo địa bàn kiểm tra sau thông quan, gắn

với quản lý chuyên sâu theo từng lĩnh vực chuyên môn.

- Xây dựng lộ trình về biên chế trong toàn ngành và từng cấp:

Theo yêu cầu quản lý của Hải quan hiện đại cũng như tinh thần của Luật

sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Hải quan thì: Lượng hàng hoá phải kiểm tra

trong thông quan chiếm khoảng 20% tổng khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu (tỷ

lệ này ngày càng giảm dần theo yêu cầu tiếp tục tạo thuận lợi cho hoạt động xuất

nhập khẩu), do đó khoảng 80% tổng khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu còn lại

phải được cơ quan Hải quan kiểm tra, giám sát chặt chẽ ở khâu sau thông quan. Do

vậy, lực lượng kiểm tra sau thông quan cần phải thay đổi cả về số lượng và chất

lương.

Vì vậy, việc xây dựng lộ trình về tăng cường biên chế cho lực lượng kiểm

tra sau thông quan trong toàn ngành là hết sức cần thiết. Trong năm 2012 phải tăng

tỷ lệ cán bộ làm công tác kiểm tra sau thông quan trong toàn ngành lên 10% và sẽ

tăng dần vào các năm tiếp theo. Dự kiến đến năm 2015 biên chế lực lượng cán bộ

kiểm tra sau thông quan trong toàn ngành chiếm khoảng 15% tổng biên chế toàn

ngành Hải quan. Tỷ lệ này có thể thay đổi ở từng hải quan tỉnh, thành phố dựa trên

cơ sở: kim ngạch xuất nhập khẩu, số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất

nhập khẩu, các loại hình xuất nhập khẩu, tính chất phức tạp và biên chế của từng

Cục Hải quan tỉnh, thành phố.

Riêng biên chế của Cục kiểm tra sau thông quan ưu tiên cho năm 2012 với

tổng biên chế 115 người, phấn đấu đến năm 2020 biên chế vào khoảng 250 người.

Nguồn cán bộ tăng cường cho lực lượng kiểm tra sau thông quan bao gồm số cán bộ

từ trong ngành đã qua công tác ở một số bộ phận ở khâu thông quan như: trị giá hải

78

quan, thủ tục hải quan, điều tra chống buôn lậu. Ngoài ra còn được tuyển dụng từ

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

một số các trường có chuyên ngành phù hợp với công tác kiểm tra sau thông quan

như: chuyên ngành kế toán, kiểm toán, ngoại thương, ngân hàng, ngoại ngữ, luật,

công nghệ thông tin …

3.2.2 Hoàn thiện quy trình thủ tục kiểm tra sau thông quan

* Căn cứ hình thành giải pháp:

Xuất phát từ thực tế cần sớm nghiên cứu một cách tổng thể để tạo ra một

khuôn khổ pháp lý vững chắc và ổn định đối với hoạt động hải quan nói chung và

hoạt động kiểm tra sau thông quan nói riêng. Trong thời gian tới cần xây dựng bộ

quy trình thủ tục kiểm tra sau thông quan mới mà nền tảng của nó phải được xây

dựng trên cơ sở các chuẩn mực của tổ chức hải quan thế giới và các thông lệ quốc

tế, trước mắt phải phản ánh được các nghĩa vụ của Việt Nam gia nhập WTO, WCO

và với tư cách là thành viên của các tổ chức kinh tế quốc tế trong khu vực ASEAN,

APEC. Cần xem xét để chuyển đổi từ sự “kiểm soát” cứng nhắc sang sự linh hoạt

để “tạo thuận lợi”.

* Mục tiêu giải pháp:

- Xây dựng cơ sở pháp lý đủ mạnh đối với hoạt động kiểm tra sau thông

quan;

- Xây dựng quy trình thủ tục kiểm tra sau thông quan phù hợp với luật pháp

quốc tế về kiểm tra sau thông quan. Theo quy định của Tổ chức Hải quan Thế giới

(WCO), Công ước Kyoto, đặc biệt là theo quy định kiểm tra sau thông quan của các

nước ASEAN, kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra thông thường của cơ

quan Hải quan nhằm đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, đồng

thời phát hiện những sai sót của bản thân cơ quan Hải quan trong quá trình làm thủ

tục thông quan.

* Nội dung các giải pháp:

Kiểm tra sau thông quan bao gồm các bước được thực hiện một cách lô-

gích, có cấu trúc và tổ chức chặt chẽ. Kiểm tra sau thông quan là phương pháp quản

79

lý rủi ro trong các bước về lựa chọn đối tượng kiểm tra, khảo sát trước khi kiểm tra,

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

kiểm tra tại doanh nghiệp và tập trung chủ yếu vào nghiệp vụ kiểm tra và rà soát sổ

sách, chứng từ của đối tượng kiểm tra sau thông quan.

Hiện tại quy trình kiểm tra sau thông quan còn nặng về việc kiểm tra phụ

thuộc vào “dấu hiệu” nên cứ kiểm tra sau thông quan là doanh nghiệp mặc nhiên bị

coi có vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến uy tín trong hoạt động kinh doanh; đồng

thời, Hải quan khi tiến hành kiểm tra sau thông quan cũng phải cố tìm “dấu hiệu vi

phạm”. Trong khi kiểm tra sau thông quan thực chất là khâu nghiệp vụ tiếp theo của

kiểm tra hải quan, qua kiểm tra cơ quan Hải quan có thêm thông tin để xác định

mức độ tuân thủ pháp luật làm cơ sở cho việc ưu tiên khi tiến hành kiểm tra hàng

hoá xuất nhập khẩu. Do đó, cần sửa đổi quy trình kiểm tra sau thông quan theo

hướng: Kiểm tra sau thông quan là hoạt động nhằm đánh giá mức độ tuân thủ pháp

luật của doanh nghiệp. Trên cơ sở đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của Doanh

nghiệp thông qua công tác kiểm tra sau thông quan, sẽ ghi nhận những doanh

nghiệp chấp hành tốt pháp luật và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp này

trong hoạt động xuất nhập khẩu bằng việc áp dụng phân luồng xanh khi thông quan

hàng hóa, giảm tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa. Đánh giá quá trình hoạt động xuất

nhập khẩu của các doanh nghiệp chủ yếu từ hoạt động kiểm tra sau thông quan, làm

cơ sở xác định mức độ tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp. Đây là một phương

thức quản lý hải quan hiện đại nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động xuất

nhập khẩu và tôn vinh những doanh nghiệp tuân thủ đúng pháp luật về thuế, pháp

luật về hải quan. Việc triển khai áp dụng thành công chế độ ưu tiên trong lĩnh vực

quản lý nhà nước về Hải quan một trong những yêu cầu cần thiết, bắt buộc đối với

việc thực hiện các cam kết và lộ trình thực hiện cải cách, phát triển hải quan theo

chuẩn mực của hải quan ASEAN và hải quan thế giới. Vì vậy, đây là một trong

những nội dung quan trọng cần được quy định cụ thể trong quy trình kiểm tra sau

thông quan.

Ngoài ra, trong quy trình kiểm tra sau thông cần mở rộng đối tượng, phạm

vi kiểm tra sau thông quan và thời gian kiểm tra sau thông quan tại trụ sở của doanh

80

nghiệp trên cơ sở kế hoạch kiểm tra định kỳ và đột xuất của cơ quan Hải quan để

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

đánh giá mức độ tuân thủ của doanh nghiệp. Mở rộng thẩm quyền cho cán bộ kiểm

tra sau thông quan đặc biệt là quyền thẩm tra, điều tra đối với các doanh nghiệp đã

có dấu hiệu vi phạm pháp luật về hải quan; quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế

như không làm thủ tục hải quan, truy thu thuế, …Việc xác định đối tượng kiểm tra

sau thông quan, phạm vi kiểm tra sau thông quan phải được thực hiện trên nền tảng

của thông tin và hệ thống quản lý rủi ro, và quá trình kiểm tra sau thông quan theo

chuẩn mực quốc tế.

Ngay từ khi bắt đầu liên lạc với đối tượng kiểm tra đến khi kết thúc quá

trình kiểm tra, cần phải duy trì thông tin liên lạc và phối hợp với đối tượng kiểm tra,

với các đơn vị hải quan chức năng khác. Khi kết thúc, phải làm báo cáo để đảm bảo

rằng mọi dấu hiệu và các vấn đề liên quan khác được chia sẻ và thảo luận đầy đủ

giữa đối tượng kiểm tra và cán bộ giám sát việc kiểm tra sau thông quan. Trong quy

trình kiểm tra sau thông quan cần quy định rõ về trách nhiệm phối hợp, cung cấp

thông tin của các cơ quan có liên quan như Thuế, kho bạc, ngân hàng, quản lý thị

trường, công an....Để cán bộ kiểm tra sau thông quan có đầy đủ thông tin về doanh

nghiệp cần kiểm tra và áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết khi đối tượng

kiểm tra không hợp tác hoặc hợp tác không tốt với cơ quan hải quan.

* Kết quả dự kiến:

Từng bước sửa đổi, bổ sung Quy trình kiểm tra sau thông quan, dự kiến đến

năm 2015 cơ bản phù hợp theo chuẩn mực hải quan ASEAN. Chuẩn hoá quy trình

kiểm tra sau thông quan trên cơ sở nguyên tắc quản lý rủi ro, ứng dụng công nghệ

thông tin. Phân loại được các doanh nghiệp xuất nhập khẩu; kiểm soát được các

doanh nghiệp, loại hình, mặt hàng xuất nhập khẩu có rủi ro cao.

3.2.3 Hoàn thiện hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ kiểm tra sau thông

quan

* Cơ sở hình thành giải pháp

- Hiện nay, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và cơ sở vật chất phục vụ công

tác kiểm tra sau thông quan còn thiếu và yếu. Điều này, ảnh hưởng không nhỏ đến

81

sức mạn của lực lượng kiểm tra sau thong quan. Ngoài ra, phần mềm chuyên biệt

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

cho lực lượng kiểm tra sau thông quan mới đi vào hoạt động thử nghiệp đã bắt đầu

xuất hiện những bất cập, cần sửa đổi, bổ sung.

- Chưa có sự cơ chế phối hợp, trao đổi, chia sẻ thông tin, dữ liệu thực sự có

hiệu quả gắn với trách nhiệm cụ thể giữa các lực lượng chức năng như Thuế, Kho

bạc, Kiểm toán, Ngân hàng, Công an…

* Mục tiêu giải pháp:

-Xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu dựa trên nguyên tắc áp dụng

quản lý rủi ro, ứng dụng công nghệ thông tin; phân loại được các doanh nghiệp xuất

nhập khẩu; kiểm soát được các doanh nghiệp, loại hình, mặt hàng xuất nhập khẩu

có rủi ro cao.

- Hoàn thiện hệ thống phần mềm chuyên biệt sử dụng cho lực lượng kiểm

tra sau thông quan và có khả năng kết nối, trao đổi chia sẻ với các cơ quan có liên

quan, trên cơ sở đó có đầy đủ thông tin quản lý Doanh nghiệp.

* Nội dung các giải pháp:

3.2.3.1 Hoàn thiện hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu trong ngành hải

quan

Quan tâm đầu tư và trang bị đúng mức đến hệ thống thông tin và cơ sở dữ

liệu phục vụ kiểm tra sau thông quan mà trọng tâm là các thông tin liên quan đến

các đối tượng kiểm tra sau thông quan, thông tin liên quan đến hàng hoá xuất khẩu,

nhập khẩu và các thông tin khác liên quan đến hoạt động kiểm tra sau thông quan.

Các thông tin này phải được cập nhật thường xuyên và có hệ thống từ các đơn vị

trong ngành hải quan, trong ngành tài chính, từ các cơ quan quản lý nhà nước, tổ

chức, cá nhân trong nước và thông tin từ nước ngoài. Trước mắt, cần triển khai có

hiệu quả một số công việc chủ yếu sau:

- Kết hợp, khai thác toàn bộ các chương trình, dữ liệu hiện có của ngành

cho hệ thống kiểm tra sau thông quan bao gồm các chương trình: Quản lý tờ khai

xuất nhập khẩu, theo dõi vi phạm, kế toán thuế, cơ sở dữ liệu trị giá hải quan -

82

GTT22 và các chương trình khác. Tiếp tục hoàn thiện các chương trình và bổ sung

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

các chức năng để tích hợp các chương trình này phục vụ hoạt động kiểm tra sau

thông quan.

- Tập trung nguồn lực và thông tin để hoàn thiện danh bạ doanh nghiệp với

đầy đủ tiêu chí phục vụ quản lý rủi ro, cập nhật thường xuyên, liên tục và kịp thời.

Việc này rất quan trọng vì không chỉ phục vụ hoạt động kiểm tra sau thông quan mà

còn phục vụ cho toàn ngành hải quan.

- Tiếp tục xây dựng những phần mềm quản lý chuyên sâu: Phần mềm quản

lý định mức phục vụ kiểm tra đối với loại hình gia công, sản xuất hàng xuất khẩu,

phần mềm quản lý chuyên ngành.

- Tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin (mạng, đường

truyền, …) cung cấp đầy đủ và kịp thời máy móc, trang thiết bị cho các đơn vị trong

hệ thống kiểm tra sau thông quan được kết nối thống nhất từ Tổng cục xuống các

hải quan địa phương.

- Xây dựng website riêng phục vụ cho hoạt động kiểm tra sau thông quan.

Đây là diễn đàn thông tin không chỉ phục vụ cho nội bộ ngành Hải quan trong việc

cung cấp thông tin thường xuyên cho các cấp Hải quan, trao đổi kinh nghiệm, đào

tạo trực tuyến, … Đồng thời, tuyên truyền phổ biến pháp luật kiểm tra sau thông

quan cho các cơ quan, tổ chức cá nhân và cộng đồng doanh nghiệp.

Về lâu dài, xây dựng một hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu riêng, đặc thù

phục vụ cho hoạt động kiểm tra sau thông quan.

3.2.3.2. Hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật

Đầu tư, nâng cấp hoặc xây dựng mới trụ sở cho một số địa phương đảm bảo

điều kiện làm việc cho chi cục kiểm tra sau thông quan (bao gồm cả nơi tiếp và làm

việc với doanh nghiệp), nhất là trong bối cảnh biên chế đang được tăng cường trong

giai đoạn hiện nay.

Trang bị đầy đủ các phương tiện làm việc (bàn, ghế làm việc, tủ tài liệu,

máy vi tính … cho cán bộ kiểm tra sau thông quan), phương tiện đi lại (xe máy, xe

83

ôtô …) phục vụ công tác xác minh, điều tra.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Đồng thời cũng quan tâm đầu tư trang bị thêm một số máy móc toàn bộ

phục vụ cho việc kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp (máy ghi âm, máy ghi hình, máy

tính xách tay …)

3.2.3.3 Hoàn thiện cơ chế phối hợp phục vụ kiểm tra sau thông quan

- Phối hợp trong ngành Hải quan:

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp phục vụ kiểm tra sau thông quan có ý

nghĩa rất quan trọng, quyết định hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan. Phối

hợp trong ngành hải quan tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau: việc cung cấp

và trao đổi thông tin; chỉ đạo nghiệp vụ và trực tiếp kiểm tra sau thông quan.

Thực tế hiện nay việc ban hành quy chế phối hợp trong ngành Hải quan

phục vụ kiểm tra sau thông quan là hết sức cần thiết. Cục kiểm tra sau thông quan

phải thực sự là cơ quan đầu mối, chủ động trong việc phối hợp với các vụ, cục, đơn

vị trực thuộc cơ quan Tổng Cục và các Cục Hải quan địa phương trong việc phối

hợp này. Đồng thời các đơn vị này cũng phải có trách nhiệm trong việc phối hợp

với Cục kiểm tra sau thông quan. Việc phối hợp phải được thực hiện thường xuyên,

liên tục và kịp thời mới phát huy được hiệu quả của công tác kiểm tra sau thông

quan. Định kỳ có sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm.

- Phối hợp trong ngành tài chính:

Trong điều kiện hiện nay việc phối hợp giữa các đơn vị chức năng trong

ngành tài chính trong việc quản lý doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng không chỉ

quản lý chặt chẽ các doanh nghiệp mà giảm bớt thủ tục phiền hà, tạo điều kiện cho

doanh nghiệp trong kinh doanh, chấp hành nghĩa vụ thuế cho ngân sách nhà nước

cũng như tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu. Trong cơ chế phối hợp này

vai trò của cơ quan Tài chính, Kho bạc, Thanh tra, Thuế, Hải quan là quan trọng,

bên cạnh đó là sự phối hợp giữa các cơ quan khác trực thuộc Bộ Tài chính.

Trong những năm qua, mặc dù đã có quy chế phối hợp giữa ba ngành:

Thuế, Kho bạc và Hải quan, tuy nhiên trong quá trình thực hiện vấn còn có những

84

khó khăn bất cập tiếp tục cần có giải pháp tháo gỡ. Chủ yếu là những vấn đề sau:

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

+ Hình thành mạng thông tin trực tuyến giữa các cơ quan trong ngành Tài

chính, trước mắt nối mạng giữa ba ngành: Thuế, Kho bạc và Hải quan.

+ Trang bị đủ máy móc thiết bị cho các cơ quan này để cung cấp, trao đổi

thông tin

+ Chuẩn hoá các thông tin liên quan đến quản lý doanh nghiệp

+ Hệ thống thông tin phải được cập nhật thường xuyên liên tục.

- Phối hợp giữa các ngành có liên quan:

Cần chủ động trong việc phối hợp với các cơ quan thuộc chính phủ trong

việc trao đổi thông tin và phối hợp thực hiện kiểm tra sau thông quan. Trước hết,

các cơ quan trực tiếp có liên quan đến quản lý hoạt động xuất nhập khẩu như: Bộ

thương mại, Bộ công an, Bộ y tế, Bộ Giao thông vận tải… Trước mắt, phối hợp với

các cơ quan này ban hành qui chế phối hợp cung cấp thông tin và phối hợp kiểm tra

sau thông quan.

Mặt khác, phối hợp với Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, các

hiệp hội để chủ động tuyên truyền cho doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật nói

chung và pháp luật hải quan nói riêng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tuân thủ

pháp luật.

- Phối hợp quốc tế:

Trong bối cảnh khu vực và toàn cầu hoá hiện nay thì việc phối hợp cung

cấp thông tin giữa Hải quan các nước, giữa Hải quan Việt Nam và các tổ chức kinh

tế quốc tế là hết sức cần thiết. Bên cạnh đó, việc đầu tư nước ngoài do các công ty

đa quốc gia đầu tư tại Việt Nam thì việc trao đổi thông tin có ý nghĩa quyết định.

Mặt khác, trong lĩnh vực kiểm tra sau thông quan Hải quan Việt Nam đang

ở giai đoạn ban đầu. Chính vì vậy trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực này sẽ giúp

Hải quan Việt Nam có thêm kinh nghiệm để nâng cao vị thế.

Trước mắt, cần có những chương trình trợ giúp của WCO về kỹ thuật cho

Hải quan Việt Nam. Bên cạnh đó, cần tranh thủ các hỗ trợ song phương, đa phương

thông quan các tổ chức kinh tế quốc tế (ASEAN, APEC …) để trợ giúp cho Hải

85

quan Việt Nam trong lĩnh vực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, hợp tác trong

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

lĩnh vực kỹ thuật, nghiên cứu khoa học và cụng nghệ ứng dụng trong kiểm tra sau

thông quan.

Phối hợp với Hải quan các nước để cung cấp thông tin về doanh nghiệp ở

nước đó xuất khẩu hàng vào Việt Nam, thông tin về hàng hoá và một số thông tin

khác phục vụ cho việc xác minh, kiểm tra sau thông quan.

Lâu dài, cần nghiên cứu chiến lược tổng thể trong việc cử đại diện của Hải

quan Việt Nam tại tổ chức WCO để thực hiện quyền và nghĩa vụ của Hải quan Việt

Nam trong tổ chức này. Đồng thời, cử một số tuỳ viên Hải quan tại một số nước có

quan hệ thương mại hàng hoá hai chiều lớn đối với Việt Nam. Công việc này không

chỉ phục vụ cho hoạt động kiểm tra sau thông quan của Hải quan Việt Nam mà còn

phục vụ cho hoạt động của Hải quan Việt Nam nói chung.

* Kết quả dự kiến:

- Từ năm 2013 trở về sau: Triển khai thành công và hoàn thiện chương trình

Hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp phục vụ công tác KTSTQ. Đồng thời xây

dựng hoàn chỉnh các cơ sở dữ liệu phục vụ công tác KTSTQ theo các cơ chế phối

hợp thông tin trong nội bộ ngành và các ngành liên quan.

- Đến năm 2020, trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu

tập trung và áp dụng rộng rãi phương thức quản lý rủi ro, đạt trình độ tương đương

với các nước tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á.

3.2.4 Nâng cao trình độ cán bộ kiểm tra sau thông quan

* Căn cứ hình thành giải pháp

- Cán bộ kiểm tra sau thông quan thường chỉ được đào tạo chuyên sâu một

lĩnh vực nhất định, như: Tài chính, kế toán, ngoại thương, luật, … trong khi đó công

tác kiểm tra sau thông quan đòi hỏi kiến thức tổng hợp. Vì vậy, cán bộ hiện nay

thiếu chuyên nghiệp, thiếu chuyên sâu, chất lượng còn yếu so với yêu cầu thực tế,

thiếu các kỹ năng cơ bản của cán bộ làm kiểm tra sau thông quan.

- Cơ cấu chuyên môn và bố trí sử dụng nhiều bất cập, thiếu nghiêm trọng

lực lượng có nghiệp vụ tài chính, kế toán, kiểm toán, đây là nghiệp vụ chính để

86

kiểm tra chứng từ, sổ sách kế toán, báo cáo tài chính tại doanh nghiệp. Ngoài ra, cán

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

bộ kiểm tra sau thông quan đa số chưa có các nghiệp vụ điều tra xác minh, thẩm

vấn, xác định chứng từ giả.

- Số đông cán bộ kiểm tra sau thông quan sử dụng được ngoại ngữ và tin

học chưa thực sự hiệu quả trong công tác kiểm tra sau thông quan.

- Về sắp xếp, bố trí luân chuyển cán bộ cũng còn nhiều bất cập, không đáp

ứng được yêu cầu chuyên môn hoá trong công tác kiểm tra sau thông quan. Nhiều

cán bộ được đào tạo chuyên sâu các chuyên ngành có liên quan đến kiểm tra sau

thông quan, nhưng không được bố trí làm kiểm tra sau thông quan. Việc luân

chuyển cán bộ làm kiểm tra sau thông quan còn tuỳ tiện, có cán bộ khá giỏi nhưng

lại luân chuyển sang bộ phận khác, hoặc cán bộ điều chuyển về kiểm tra sau thông

quan không được chuyên sâu.

* Mục tiêu giải pháp

- Xây dựng lực lượng hải quan đạt trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu, được

trang bị và làm chủ kỹ thuật hiện đại, cập nhật thường xuyên các thành tựu khoa

học kỹ thuật.

- Cán bộ kiểm tra sau thông quan hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, đảm bảo

yêu cầu chống thất thu ngân sách nhà nước đồng thời phát hiện, điều chỉnh chính

sách, xóa bỏ các kẽ hở trong công tác quản lý, tác động ngược trở lại khâu thông

quan tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập khẩu của Doanh nghiệp.

* Nội dung giải pháp:

- Tiêu chuẩn cán bộ, công chức kiểm tra sau thông quan:

Để công tác kiểm tra sau thông quan đạt hiệu quả và hiệu suất cao, đòi hỏi

cán bộ, công chức kiểm tra sau thông quan cần được đạo tạo đầy đủ, đồng thời phải

tự mình nâng cao năng lực và trình độ bản thân nhằm đạt được 07 kỹ năng quan

trọng sau:

Kỹ năng thứ nhất là hiểu và thực hiện đúng pháp luật hải quan, các quy

định và quy trình thủ tục hải quan. Cán bộ, công chức kiểm tra sau thông quan phải

nắm chắc Luật Hải quan, cỏc luật thuế và các văn bản hướng dẫn, đặc biệt phải nắm

87

chắc các quy định cụ thể về: nguyên tắc xác định trị giá, quy tắc xuất xứ, phân loại

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

và mã hoá hàng hoá, v.v… nhằm phát hiện những gian lận và sai sót trong việc khai

bỏo khi làm thủ tục hải quan.

Kỹ năng thứ hai là quy trình tiến hành một hoạt động kinh doanh thương

mại quốc tế. Theo Hiệp định về xác định trị giá GATT, trị giá hải quan phải dựa

trên những tiêu chí đơn giản và hợp lý phù hợp với thông lệ thương mại. Do đó, cán

bộ hải quan cần thông thạo thông lệ thương mại trong kinh doanh thương mại quốc

tế.

Kỹ năng thứ ba là kỹ thuật và nguyên tắc kế toán. Nhằm tiến hành các bước

công việc kiểm tra rà soát sổ sách kế toán, cán bộ hải quan cần được trang bị đầy đủ

kiến thức về kế toán.

Kỹ năng thứ tư là các chuẩn mực và quy trình tủ tục kiểm toán. Vì việc

kiểm tra rà soát bao gồm kiểm toán, vì vậy cán bộ, công chức kiểm tra sau thông

quan phải thông thạo về kiểm toán.

Kỹ năng thứ năm là cụng nghệ thụng tin. Hiện nay, tất cả các hoạt động

trong giao dịch quốc tế như hạch toán kế toán, kiểm kê, bán hàng, định giá, thư điện

tử, v.v… đều được thực hiện thông qua hệ thống máy vi tính. Theo đó, cán bộ hải

quan cũng cần phải có đủ khả năng kiểm tra trên hệ thống máy vi tính của doanh

nghiệp.

Kỹ năng thứ sáu là ngoại ngữ. Vì ngôn ngữ chủ yếu trong thương mại quốc

tế hiện nay là tiếng Anh và một số ngoại ngữ thông dụng như tiếng Pháp, tiếng

Trung quốc, một số tiếng của nước láng giềng nên yêu cầu về ngoại ngữ là không

thể thiếu được đối với mỗi cán bộ, công chức kiểm tra sau thông quan nhằm giúp họ

hiểu được nội dung các thư tín thương mại và các chứng từ khác liên quan đến giao

dịch nhập khẩu.

Kỹ năng thứ bảy là sự nhiệt tình. Kiểm tra sau thông quan là một trong

những công việc khó khăn và vất vả. Cán bộ, công chức kiểm tra sau thông quan

cần hiểu được tầm quan trọng của kiểm tra sau thông quan, và cần nhiệt tình tham

gia hoạt động kiểm tra sau thông quan.

88

- Bố trí sắp xếp cán bộ, công chức kiểm tra sau thông quan:

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Trên cơ sở việc tổ chức sắp xếp lại tổ chức bộ máy kiểm tra sau thông quan

trong toàn nghành từ Tổng cục xuống các Cục Hải quan tỉnh thành phố theo hướng

quản lý kết hợp chuyên sâu với quản lý theo địa bàn, song song với việc xây dựng

chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức này thì việc bố trí sắp xếp cán bộ kiểm tra sau

thông quan có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó quyết định đến hiệu quả của công tác

kiểm tra sau thông quan.

Do đặc thù của hoạt động kiểm tra sau thông quan, nên việc bố trí cán bộ

kiểm tra sau thông quan phải dựa trên một số nguyên tắc chủ yếu sau:

 Việc sắp xếp cán bộ phải đảm bảo chuyên môn hoá, tính chuyên nghiệp

cao, về lâu dài sẽ hình thành một số đội ngũ chuyên gia trong một số lĩnh vực cơ

bản của ngành Hải quan.

 Cán bộ làm công tác chuyên môn cần phải kinh qua các công tác thực tế

trong ngành đặc biệt là các lĩnh vực chuyên môn có liên quan như: thủ tục hải quan,

kiểm tra thu thuế, điều tra chống buôn lậu, …

 Việc bố trí cán bộ vào một số vị trí cụ thể phải được qua đào tạo cán bộ về

lĩnh vực đó, phù hợp với chuyên môn đào tạo, năng lực, sở trường của cán bộ đó.

 Kết hợp việc chuyên môn hoá với việc đào tạo cho cán bộ kiểm tra sau

thông quan có được những kiến thức tổng hợp; kết hợp với cán bộ có kinh nghiệm,

cán bộ từ các bộ phận khác luân chuyển sang và cán bộ mới.

Trong thời gian tới, cần nhanh chóng sắp xếp lại để có được những chuyên

gia trong một số lĩnh vực chuyên môn chủ yếu sau:

 Cán bộ kiểm tra sau thông quan về lĩnh vực kiểm tra trị giá hải quan;

 Cán bộ kiểm tra sau thông quan về lĩnh vực mã số, thuế suất hàng hoá;

 Cán bộ kiểm tra sau thông quan về lĩnh vực đối với loại hình gia công, sản

xuất xuất khẩu;

 Cán bộ kiểm tra sau thông quan về lĩnh vực chính sách thương mại;

 Cán bộ chuyên về lĩnh vực phân tích và xử lý thông tin.

89

- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra sau thông quan:

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Một trong những nguyên nhân của hoạt động kiểm tra sau thông quan chưa

đạt được hiệu quả cao đó là trình độ của cán bộ, công chức kiểm tra sau thông quan.

Thực tế cho thấy nếu cán bộ kiểm tra sau thông quan không có chuyên môn sâu,

không nắm được các kỹ năng cơ bản sẽ không thể tiến hành một cuộc kiểm tra sau

thông quan có hiệu quả. Chính vì vậy, hiện nay công tác đào tạo chuyên môn

nghiệp vụ cho cán bộ kiểm tra sau thông quan là hết sức bức thiết.

Để đào tạo cán bộ kiểm tra sau thông quan trong ngành hải quan cần nghiên

cứu một cách có hệ thống từ việc phân tích nhu cầu đào tạo (nhu cầu hàng năm,

ngắn hạn, dài hạn); xây dựng hệ thống đào tạo; thiết kế chương trình đào tạo; tổ

chức đào tạo và công tác đánh giá đào tạo. Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này chỉ

xin được nêu một số nội dung cơ bản có liên quan trực tiếp đến kiểm tra sau thông

quan trong thời gian tới:

+ Lựa chọn đối tượng đào tạo: Hiện nay trong toàn hệ thống kiểm tra sau

thông quan bao gồm rất nhiều đối tượng khác nhau. Có nhiều cách phân loại đối

tượng như: theo trình độ đào tạo các chuyên môn chủ yếu của ngành Hải quan (trị

giá hải quan, phân loại hàng hoá, xuất xứ hàng hoá, thủ tục hải quan, …); theo thời

gian, thâm niên công tác trong ngành hải quan; theo trình độ các chuyên ngành khác

(kế toán, kiểm toán, công nghệ thông tin, ngoại ngữ…). Tuy nhiên, việc xác định

đối tượng đào tạo đối với cán bộ, công chức mới tuyển dụng, cán bộ, công chức

đang làm và cán bộ công chức đã làm công tác kiểm tra sau thông quan hoặc các

công tác khác có liên quan đến kiểm tra sau thông quan để xác định cách thức đào

tạo là tương đối phù hợp trong giai đoạn hiện nay.

+ Kết hợp đào tạo tại chỗ và đào tạo tập trung:

Đào tạo tại chỗ: là việc đào tạo do các cán bộ cấp trên, cán bộ lâu năm có

nhiều kinh nghiệm đào tạo cho cán bộ cấp dưới, cán bộ mới được tuyển dụng hoặc

ít có kinh nghiệm. Việc đào tạo này thường được tổ chức ngay tại bộ phận, đội công

tác, chi cục kiểm tra sau thông quan hoặc tại Cục Hải quan tỉnh, thành phố.

Mục tiêu của đào tạo tại chỗ để cung cấp kiến thức kỹ năng, hành vi ứng xử

90

trong thực tiễn công việc hàng ngày. Tuy nhiên, nó cần phụ thuộc vào năng lực của

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

từng cá nhân của cả người trực tiếp hướng dẫn và người được hướng dẫn. Việc đào

tạo này có thể đáp ứng được nhu cầu đào tạo thực tiễn và cụ thể của từng cán bộ,

từng vấn đề cụ thể.

Phương pháp đào tạo là hướng dẫn, kèm cặp từng người, kết hợp giữa lý

thuyết và thực tế, cách làm này cần ít chi phí nhưng hiệu quả cao, dễ làm trong điều

kiện hiện nay nhất là công việc nhiều trong khi lại thiếu cán bộ.

Hiệu quả mang lại sẽ cao, đồng thời dễ đánh giá hiệu quả công tác và tăng

cường hiểu biết lẫn nhau, giữa cấp trên với cấp dưới, giữa các đồng nghiệp với

nhau.

Đào tạo tập trung: là việc đào tạo được tổ chức trong một khoảng thời gian

nhất định tại một địa điểm nhất định do cơ quan chức năng tiến hành hoặc do các

Cục Hải quan tỉnh, thành phố tự tiến hành đào tạo. Việc đào tạo này tách ra khỏi

công việc hàng ngày.

Mục tiêu của đào tạo tập trung để cung cấp kiến thức kỹ năng và hành vi

ứng xử tổng quát, chúng có tính mô phạm, lý thuyết, lôgíc và có tính hệ thống, có

thể đáp ứng các nhu cầu đào tạo chung của nhiều người học.

Phương pháp: có thể đào tạo nhiều học viên cùng một lúc, học viên có thể

giành thời gian, sức lực và tập trung vào việc học tập.

Hiệu quả: có thể nâng cao năng lực tổng thể của học viên. Tăng cường hiểu

biết lẫn nhau và quan hệ hợp tác giữa các cá nhân ở những đơn vị hải quan địa

phương khác nhau trong việc phối hợp cùng phát triển.

- Nội dung đào tạo:

Cần ưu tiên cho việc đào tạo các kiến thức kỹ năng về chuyên môn như:

+ Kiến thức pháp luật về hải quan, về thuế và pháp luật khác có liên quan

đến hoạt động thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế.

+ Kiến thức về kế toán, kiểm toán

+ Kiến thức về công nghệ thông tin, ngoại ngữ

Trong điều kiện hiện nay, khi mà chúng ta đang chuyển dần từ “tiền kiểm”

91

sang “hậu kiểm” cũng đồng nghĩa với việc giảm tiếp xúc giữa cán bộ hải quan ở

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

khâu thông quan nhưng lại tăng cường tiếp xúc giữa cán bộ hải quan ở khâu kiểm

tra sau thông quan với doanh nghiệp tại trụ sở doanh nghiệp, đây là môi trường dễ

xảy ra tiêu cực. Vì vậy, bên cạnh việc đào tạo kiến thức về chuyên môn cần quan

tâm đúng mức đến việc đào tạo cho cán bộ kiểm tra sau thông quan một số chuẩn

mực về đạo đức:

+ Tính trung thực

+ Tính liêm khiết

+ Trang phục gọn gàng, tác phong nhanh nhẹn

+ Thái độ tận tình

+ Ý thức trách nhiệm cao trong công việc

+ Tránh những hành vi tiêu cực mà xã hội không cho phép.

* Kết quả dự kiến:

Đến năm 2020, lực lượng kiểm tra sau thông quan đạt trình độ chuyên

nghiệp, chuyên sâu có trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu

quả góp phần tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp.

3.2.5. Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật Hải quan của đối tượng

kiểm tra sau thông quan

* Căn cứ hình thành giải pháp:

- Ý thức pháp luật đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kiểm tra sau

thông quan. Xuất phát từ việc các Doanh nghiệp thường có tư tưởng và nhận thức là

hàng hóa sau khi rời khỏi khâu thông quan là đã hết sự quản lý của hải quan. Do đó

Doanh nghiệp thường có hành động chống đối, không hợp tác với lực lượng kiểm

tra sau thông quan.

- Một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp tham gia hoạt động XNK, có ý thức

chấp hành pháp luật chưa cao, chạy theo lợi nhuận bất chấp việc vi phạm pháp luật,

nhất là pháp luật về hải quan và pháp luật về kế toán.

Những nguyên nhân về nhận thức và hành động nêu trên đã ảnh hưởng trực

tiếp và toàn diện đến các khâu của công tác kiểm tra sau thông quan trong toàn

92

ngành Hải quan.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

* Mục tiêu giải pháp:

- Doanh nghiệp phải ý thức được việc cần chuyển dần từ quan điểm “bị”

kiểm tra sang phạm trù “được” kiểm tra.

- Doanh nghiệp phải ý thức được kiểm tra sau thông quan là hoạt động

thông thường của cơ quan nhằm đánh giá mức độ tuân thủ của Doanh nghiệp. Để từ

đó ghi nhận những mặt tốt của Doanh nghiệp, đồng thời giúp Doanh nghiệp điều

chỉnh, sửa đổi những nội dung còn sai sót trong quá trình xuất nhập khẩu, đặc biệt

là trong tương lai.

* Nội dung giải pháp:

Việc tuyên truyền phổ biến pháp luật Hải quan nói chung và các quy định

về kiểm tra sau thông quan nói riêng cho đối tượng kiểm tra sau thông quan có ý

nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý hải quan và kiểm tra sau

thông quan. Cần phải đổi mới về cả nội dung, hình thức và phương pháp đối với đối

tượng cụ thể.

- Trước hết, cần làm cho các đối tượng hiểu rõ vị trí và vai trò của kiểm tra

sau thông quan trong việc tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư

giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh cho các doanh

nghiệp đồng thời đảm bảo quản lý chặt chẽ tạo môi trường kinh doanh bình đẳng.

Từ đó, các doanh nghiệp có ý thức chấp hành pháp luật, thực hiện quyền và nghĩa

vụ theo quy định của pháp luật đồng thời có thái độ hợp tác với cơ quan Hải quan

trong việc kiểm tra sau thông quan.

- Tăng cường tuyên truyền về nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, kết quả

hoạt động kiểm tra sau thông quan và đặc biệt là thông báo cho người khai hải quan

về các sai sót điển hình thường xảy ra trong khi khai báo hải quan, do các công chức

hải quan phát hiện ở các khâu thông quan và sau thông quan, khuyến khích họ

phòng tránh các sai sót khi làm thủ tục hải quan. Hệ thống các sai sót điển hình. Đa

dạng hoá các hình thức tuyên truyền, tập huấn về các quy định của pháp luật hải

quan và kiểm tra sau thông quan. Trước mắt, cần xây dựng một số cơ sở dữ liệu

93

tổng hợp của luật pháp theo từng chủ đề có liên quan đến hải quan, doanh nghiệp

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

công bố công khai để các doanh nghiệp, công chúng được nắm thông tin đầy đủ về

khuôn khổ pháp lý mà họ phải tuân thủ.

- Tích cực tuyên truyền tuyên dương các Doanh nghiệp chấp hành tốt pháp

luật trên cơ sở kiểm tra sau thông quan, tạo sự tin tưởng, minh bạch và công bằng

trong cộng đồng doanh nghiệp.

- Động viên, khuyến khích, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hướng tới việc

được áp dụng chế độ doanh nghiệp ưu tiên đặc biệt trên cơ sở kết quả thẩm định của

lực lượng kiểm tra sau thông quan đối với hoạt động xuất nhập khẩu của doanh

nghiệp trong một thời gian nhất định.

- Thường xuyên tổ chức những cuộc hội thảo, đối thoại, giải đáp vướng mắc

giữa cơ quan hải quan với Doanh nghiệp, đồng thời lực lượng kiểm tra sau thông

quan chỉ ra những sai sót, cần khắc phục của các Doanh nghiệp đã được kiểm tra

sau thông quan, để các doanh nghiệp khác trong cộng đồng doanh nghiệp biết và

không vi phạm trong tương lai.

* Kết quả dự kiến:

-Ý thức của doanh nghiệp trong việc tuân thủ pháp luật về thuế, pháp luật

về hải quan được nâng cao thông qua việc doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật,

không còn tư tưởng trốn thuế, gian lận thuế vì doanh nghiệp ý thức được việc còn

một lực lượng hải quan (đó chính là KTSTQ) sẽ phát hiện và truy thu số tiền thuế

thiếu về ngân sách nhà nước;

- Doanh nghiệp chuyển từ tư tưởng “bị kiểm tra” sang “được kiểm tra” bởi

nếu được kiểm tra sớm thì doanh nghiệp sẽ có cơ hội phát hiện những sai sót trong

quá khứ, để kịp thời sửa chữa và điều chỉnh trong tương lai.

3.2.6. Một số giải pháp khác:

3.2.6.1 Giải pháp về kỹ năng triển khai hoạt động kiểm tra sau thông

quan

Thứ nhất, Hoàn thiện công tác quản lý rủi ro làm cơ sở cho việc lựa chọn

94

đối tượng kiểm tra sau thông quan

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Công tác QLRR có vai trò rất quan trọng trong việc xác định được các đối

tượng có nhiều rủi ro để có biện pháp kiểm soát hiệu quả, đối với hoạt động

KTSTQ thì QLRR rất quan trọng, đó là cơ sở để lực lượng sau thông quan xác định

đối tượng trọng tâm, trọng điểm tiến hành KTSTQ. Tuy nhiên, Hệ thống QLRR

được xây dựng tập trung cho toàn ngành phục vụ cho công tác của hoạt động trước,

trong và sau thông quan. Do vậy, hoàn thiện công tác QLRR phục vụ KTSTQ cũng

chính là hoàn thiện công tác QLRR của toàn ngành.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá kết quả hoạt động của công tác QLRR trong

thời gian qua và trong quan hệ với KTSTQ, Tác giả có một số đề xuất nhằm để

hoàn thiện công tác QLRR phục vụ KTSTQ như sau:

Một là, Tăng cường các hoạt động nghiệp vụ phục vụ QLRR.

Trước hết cần triển khai xây dựng và áp dụng hồ sơ rủi ro tại 03 cấp: Tổng

cục (Ban QLRR), Cục Hải quan tỉnh (đơn vị QLRR), cấp Chi cục Hải quan (bộ

phận QLRR). Hoàn thiện quy trình và tài liệu hướng dẫn trình tự xây dựng, quản lý,

áp dụng hồ sơ rủi ro; triển khai tập huấn, đào tạo cho đội ngũ cán bộ, công chức làm

công tác QLRR; xây dựng và ban hành Quy chế về quản lý, áp dụng hồ sơ rủi ro;

Tiếp đó cần xây dựng, triển khai thực hiện đo lường, đánh giá tuân thủ như:

Xây dựng chương trình, kế hoạch cho việc triển khai các biện pháp đo lường, đánh

giá tuân thủ, bao gồm các nội dung sau: Thiết lập bối cảnh và xác định các lĩnh vực

tiến hành đo lường, đánh giá tuân thủ; Xây dựng tiêu chí tuân thủ; Xây dựng

phương pháp, các biện pháp áp dụng và kỹ năng thực hiện đo lường và đánh giá

tuân thủ.

Sau cùng cần xây dựng các chương trình hành động đáp ứng yêu cầu và hỗ

trợ QLRR trong thông quan gồm có: Các chương trình KTSTQ để đo lường, đánh

giá tuân thủ; Chương trình kiểm tra, kiểm soát hải quan định hướng vào các đối

tượng trọng điểm; phát hiện các rủi ro tiềm ẩn; nâng cao chất lượng, hiệu quả của

thông tin phục vụ QLRR; Chương trình quản lý chính sách thuế, trị giá, các khu vực

ưu đãi; Nghiên cứu, thiết kế lại quy trình thông quan phù hợp với thực tế quản lý và

95

nâng cao hiệu quả QLRR trong quy trình thông quan; Xây dựng cơ chế phối hợp

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

với các đơn vị trong và ngoài ngành tham gia vào QLRR, gồm các đơn vị sau: các

Trung tâm phân tích phân loại, các đơn vị thuộc ngành Thuế, Công an, Quản lý thị

trường.

Hai là, Nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của tổ chức bộ máy và cơ chế điều

hành QLRR

Cần kiện toàn tổ chức bộ máy QLRR đối với đơn vị cấp Cục Hải quan tỉnh

và Chi cục Hải quan theo hướng chuyên trách và chuyên sâu nghiệp vụ nhằm đảm

bảo cho bộ máy hoạt động tốt và đạt hiệu quả cao. Việc kiện toàn và tổ chức theo

hướng: Kiện toàn và nhanh chóng ổn định nhân sự của Ban QLRR mới thành lập

(tách ra từ Phòng QLRR thuộc Cục điều tra chống buôn lậu); Sắp xếp, bố trí nhân

sự đảm bảo đủ về số lượng, đáp ứng về trình độ, và khả năng thực thi nhiệm vụ

QLRR tại cấp tỉnh; Kiện toàn về tổ chức và nhân sự đối với bộ phận QLRR tại Chi

cục để bộ phận này đủ khả năng đảm nhận vai trò đầu mối thực hiện QLRR và chủ

trì tham mưu cho Lãnh đạo Chi cục trong việc tổ chức xử lý rủi ro có hiệu quả;

Kiên quyết chấn chỉnh những yếu kém về mặt tổ chức, nhân sự; đặc biệt chú trọng

quan tâm giáo dục ý thức chấp hành, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp để khắc phục

kịp thời những hạn chế yếu kém về công tác này.

Ba là, Hoàn thiện cơ chế phân cấp điều hành QLRR

Hoàn thiện nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành QLRR giữa các cấp theo

hướng sau:

Ở cấp Tổng cục cần xây dựng các chương trình QLRR ở phạm vi cấp ngành;

hướng dẫn các cấp đơn vị triển khai thực hiện; Xây dựng hồ sơ rủi ro áp dụng trong

phạm vi ngành; thực hiện việc phân cấp xây dựng, quản lý, theo dõi hồ sơ rủi ro, áp

dụng các nhóm tiêu chí QLRR; Việc phân cấp áp dụng tiêu chí rủi ro nên thực hiện

trên cơ sở định hướng mục tiêu quản lý của ngành về áp dụng tỷ lệ kiểm tra để xác

định rõ trách nhiệm và đảm bảo số lượng tiêu chí áp dụng, cũng như đảm bảo tỷ lệ

kiểm tra của từng cấp. Đơn vị được phân công, phân nhiệm quản lý hồ sơ rủi ro và

áp dụng tiêu chí rủi ro phải chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá, phân loại và lựa

96

chọn rủi ro; Tổng cục thực hiện đăng ký, quản lý theo dõi nhóm tiêu chí áp dụng

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

trong phạm vi cấp ngành; Hướng dẫn kiểm tra các đơn vị địa phương; tổng hợp,

đánh giá chất lượng của tiêu chí rủi ro đang áp dụng để bổ sung, điều chỉnh kịp thời.

Ở Cấp Cục Hải quan tỉnh, thành phố: Phương hướng hoàn thiện nên tập

trung phân cấp và đẩy mạnh QLRR tại cấp Cục Hải quan tỉnh, trong đó tập trung

vào một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Thực hiện phân công, phân nhiệm về thu thập, cập nhật hoặc chuyển giao

thông tin QLRR đầy đủ, kịp thời theo quy định;

- Phân tích rủi ro đặc thù ở địa phương để xây dựng và phát triển hồ sơ rủi ro

trong phạm vi cấp Cục;

- Đăng ký, quản lý, theo dõi việc áp dụng tiêu chí rủi ro cấp Cục. Cục trưởng

phải chịu trách nhiệm về việc áp dụng QLRR tại cấp Cục, bao gồm cả mức độ chính

xác và kết quả đánh giá, phân loại rủi ro từ những tiêu chí do cấp Cục đăng ký, áp

dụng;

- Tổng hợp, đánh giá chất lượng của tiêu chí rủi ro đang áp dụng để bổ sung,

điều chỉnh bổ sung kịp thời;

- Hướng dẫn, kiểm tra theo dõi việc xử lý rủi ro tại cấp Chi cục Hải quan để

chấn chỉnh việc ứng dụng và xử lý rủi ro tại Chi cục.

Ở cấp Chi cục Hải quan: Tập trung xây dựng hồ sơ rủi ro trong phạm vi cấp

Chi cục; Chấn chỉnh việc xử lý rủi ro theo hướng thực hiện quyết định phân luồng

từ hệ thống và chỉ được chuyển luồng theo hướng tăng mức độ rủi ro và chỉ được áp

dụng trong trường hợp tại thời điểm làm thủ tục hải quan có thông tin về lô hàng vi

phạm hoặc kết quả đánh giá rủi ro từ hồ sơ rủi ro cho thấy, mức độ rủi ro của lô

hàng là rất cao. Chi cục trưởng chịu trách nhiệm về quyết định chuyển luồng đồng

thời thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình thông quan đảm bảo việc xử lý.

Bốn là, Đánh giá hiệu quả áp dụng QLRR

Đánh giá hiệu quả áp dụng QLRR có vai trò rất quan trọng trong quy trình

QLRR. Chỉ có đánh giá đúng chất lượng, hiệu quả của hệ thống QLRR và các yếu

tố liên quan mới xây dựng được một hệ thống QLRR hoàn chỉnh và đưa vào áp

97

dụng hệ thống này một cách có hiệu quả.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Để đáp ứng yêu cầu trên, cần thiết phải thiết lập hệ thống đảm bảo việc thu

thập thông tin phản hồi và chuẩn hóa nội dung, tiêu chí đánh giá việc áp dụng

QLRR.

Đối với Hệ thống thu thập thông tin phản hồi:

Đề xuất Tổng cục Hải quan sửa đổi quy trình thủ tục hải quan, quy định cụ

thể về nội dung, trình tự và trách nhiệm trong việc phản hồi thông tin tại các khâu

trong quy trình nghiệp vụ, nhằm thiết lập cơ chế mỗi cán bộ thực hiện các khâu

công tác nghiệp vụ đều phải thực hiện báo cáo phản hồi thông tin về kết quả thực

hiện.

Tổng cục cần có quy định cụ thể việc cập nhật, phản hồi kết quả KTSTQ đối

với các lô hàng nhập khẩu.

Nâng cấp Hệ thống QLRR và Hệ thống quản lý tờ khai theo hướng đáp ứng

Chuẩn hóa các chỉ số đánh giá hiệu quả áp dụng QLRR.

Việc đánh giá hiệu quả áp dụng QLRR được dựa trên các chỉ số về kết quả

phân tích:

+ Số thu đạt được so sánh với chính sách quản lý về hải quan; đối chiếu với

số thu của tháng trước và số thu của cùng kỳ năm trước;

+ Số lượng, tỷ lệ phân luồng kiểm tra hàng hoá (đỏ, vàng, xanh), số lượng, tỷ

lệ tờ khai chuyển luồng; số lượng, tỷ lệ vụ vi phạm phát hiện theo phân luồng,

chuyển luồng;

+ Số vụ vi phạm phát hiện qua KTSTQ; tỷ lệ vụ vi phạm theo từng luồng;

+ Số lượng và tỷ lệ doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật Hải quan trong

từng thời kỳ, giai đoạn;

+ Phân tích, tổng hợp thông tin nghiệp vụ nhằm phát hiện, đánh giá những

rủi ro tiềm ẩn;

+ Tổng hợp, đánh giá những khó khăn vướng mắc và những hạn chế trong

quá trình áp dụng QLRR.

Để nâng cao hiệu quả đánh giá, phản hồi thông tin, cần nghiên cứu hoàn

98

thiện các biểu mẫu báo cáo đánh giá, bổ sung các chỉ tiêu thông tin trong biểu mẫu;

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

đồng thời thống nhất đầu mối báo cáo trong hoạt động thu thập xử lý thông tin và

QLRR; tránh tình trạng một nội dung nhưng phải thực hiện nhiều báo cáo không

cần thiết. Điều này dễ dẫn đến tình trạng quá tải về thực hiện báo cáo, làm báo cáo

có tính chất hình thức.

Kết quả đánh giá là cơ sở cho việc điều chỉnh, bổ sung hoặc thay thế tiêu chí

QLRR, điều chỉnh trọng số rủi ro hoặc điều chỉnh linh hoạt việc phân luồng kiểm

tra.

Năm là, Hoàn thiện cơ sở hạ tầng và các điều kiện đảm bảo áp dụng QLRR

Đối với cơ sở pháp lý phục vụ QLRR: Áp dụng phương pháp QLRR là yếu

tố chính để đạt được sự cân bằng giữa tạo điều kiện thuận lợi và kiểm soát. Tuy

nhiên, việc áp dụng phương pháp này đồng nghĩa với việc chuyển đổi phương thức

quản lý, đi kèm với nó là việc thay đổi khung pháp lý là điều kiện đảm bảo cho việc

triển khai áp dụng phương pháp này. Vì vậy, cơ sở pháp lý cần thoả mãn những yêu

cầu như: Đưa ra các giải pháp linh hoạt và có thể điều chỉnh cho phép quản lý các

rủi ro liên quan và thực hiện các chiến lược quản lý của ngành Hải quan; Cơ sở

pháp lý quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, ngành Hải quan, cán

bộ, công chức hải quan và doanh nghiệp trong việc thực hiện QLRR; Pháp lý hóa

dữ liệu đánh giá, phân loại rủi ro phục vụ phân luồng kiểm tra; Ưu tiên và có những

ưu đãi thích hợp cho những đối tượng tuân thủ, ngược lại có hình thức xử phạt đúng

mức đối với các đối tượng không tuân thủ; Quy chế áp dụng QLRR cần được lồng

ghép trong quy trình thông quan hàng hóa, có như vậy mới đảm bảo tính thống nhất

và hiệu quả của phương pháp này.

Sau đó là phát triển nguồn lực đáp ứng yêu cầu QLRR: Mục tiêu phát triển

nguồn lực phục vụ QLRR phải được thực hiện thường xuyên và đưa vào kế hoạch

hành động để nâng cao hiệu quả công tác QLRR. Theo đó Tổng cục Hải quan cần:

Tập trung đào tạo đội ngũ chuyên gia trong nước và nước ngoài để đáp ứng cho

việc đào tạo lại cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác này. Các nội dung kiến

thức cần tập trung đào tạo bao gồm kỹ năng xây dựng chương trình, kế hoạch

99

QLRR, kỹ năng phân tích, đánh giá rủi ro, kỹ năng xây dựng kế hoạch, triển khai xử

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

lý rủi ro tại các cấp, kiến thức đo lường, đánh giá và quản lý tuân thủ và các kiến

thức liên quan đến QLRR; Thành lập nhóm liên lạc trong phạm vi cấp ngành thực

hiện các nhiệm vụ: trao đổi thông tin về QLRR, xây dựng hồ sơ rủi ro; lựa chọn áp

dụng tiêu chí QLRR; liên lạc giúp cho hoạt động điều phối QLRR trong toàn ngành;

có chế độ đãi ngộ thoả đáng cả về vật chất và tinh thần cho lực lượng làm công tác

QLRR.

Thứ hai, Tổng hợp và phổ biến các hình thức gian lận và các biện pháp đối phó

trong các lĩnh vực trị giá, gia công SXXK, hàng đầu tư miễn thuế, mã số thuế suất,

xuất xứ để phổ biến cho lực lượng KTSTQ trong toàn ngành.

Hàng năm, Cục KTSTQ tổ chức các hội nghị KTSTQ để đánh giá tình hình

hoạt động cũng như phổ biến kinh nghiệm KTSTQ tới các cán bộ công chức làm

nhiệm vụ KTSTQ. Tuy nhiên, việc phổ biến các kinh nghiệm KTSTQ còn mang

nặng tính chất từng vụ việc cụ thể, chưa có những tổng hợp cho từng lĩnh vực

chuyên sâu làm cơ sở tra cứu và tham khảo cho lực lượng KTSTQ trong quá trình

tác nghiệp.

Do vậy, để nâng cao hiệu quả và tạo thuận lợi cho hoạt động KTSTQ, cần

tăng cường kiến thức, kỹ năng cơ bản về các lĩnh vực nghiệp vụ KTSTQ, tổng hợp

các thủ đoạn gian lận và kinh nghiệm kiểm tra trên từng lĩnh vực chuyên sâu làm tài

liệu tra cứu cho cán bộ công chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bao gồm: các

vi phạm và gian lận phổ biến trong lĩnh vực trị giá hàng nhập khẩu, các vi phạm và

gian lận phổ biến trong lĩnh vực gia công, SXXK, các vi phạm và gian lận phổ biến

trong lĩnh vực hàng nhập khẩu tạo tài sản cố định được miễn thuế, các vi phạm và

gian lận phổ biến trong lĩnh vực mã số thuế suất hàng hóa, xuất xứ hàng hóa, các vi

phạm và gian lận phổ biến trong lĩnh vực chính sách thương mại, song song với đó

là các biện pháp đối phó của cơ quan Hải quan.

3.2.6.2 Hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động

kiểm tra sau thông quan

Hiện nay, để đánh giá hiệu quả hoạt động KTSTQ, Hải quan Việt Nam đang

100

sử dụng các chỉ tiêu như số thu thuế theo quyết định truy thu, số thuế đã thu nộp

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

NSNN, số cuộc KTSTQ (bao gồm KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan và tại trụ sở

doanh nghiệp).

Tuy nhiên, việc chỉ sử dụng các chỉ tiêu này để đánh giá hiệu quả hoạt động

KTSTQ là chưa đầy đủ và chưa thực sự phản ánh kết quả hoạt động của lực lượng

KTSTQ.

Do vậy, để có cơ sở đánh giá tốt hiệu quả hoạt động của lực lượng KTSTQ,

làm cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động KTSTQ, đề

xuất các chỉ tiêu đo lường và cách tính toán như sau:

Chỉ tiêu 1: Tổng số doanh nghiệp được KTSTQ trên tổng số doanh nghiệp

đăng ký hoạt động XNK với cơ quan quản lý Hải quan.

Mục đích: Đánh giá khối lượng công việc đã thực hiện được của lực lượng

KTSTQ. Chỉ tiêu này cần được tính toán hàng năm và phân tích nguyên nhân biến

động phục vụ công tác lập và triển khai kế hoạch năm tiếp theo của các đơn vị

KTSTQ.

Công thức tính:

Tỷ lệ tổng số doanh nghiệp được KTSTQ trên tổng số doanh nghiệp đăng ký

hoạt động XNK với cơ quan quản lý hải quan

Tổng số doanh nghiệp được KTSTQ = x 100% Tổng số doanh nghiệp đăng ký hoạt động XNK với cơ quan Hải quan

Trong đó, tổng số doanh nghiệp được KTSTQ bao gồm số doanh nghiệp

được KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan và tại trụ sở doanh nghiệp theo các hình

thức kiểm tra theo kế hoạch, kiểm tra trên cơ sở có dấu hiệu vi phạm và kiểm tra

chọn mẫu.

Tổng số doanh nghiệp đăng ký hoạt động XNK là tổng số các doanh nghiệp

đăng ký hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu với cơ quan Hải quan.

Chỉ tiêu 2: Tổng số doanh nghiệp được KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp trên

101

tổng số doanh nghiệp được KTSTQ.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Mục đích: Đánh giá khối lượng công việc đã thực hiện được của lực lượng KTSTQ.

Chỉ tiêu này cần được tính toán hàng năm và phân tích nguyên nhân biến động phục

vụ công tác lập và triển khai kế hoạch năm tiếp theo của các đơn vị KTSTQ.

Công thức tính:

Tỷ lệ tổng số doanh nghiệp được KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp trên tổng số

doanh nghiệp được KTSTQ

Tổng số doanh nghiệp được KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp = x 100% Tổng số doanh nghiệp được KTSTQ

Trong đó tổng số doanh nghiệp được KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp được

xác định theo các quyết định KTSTQ tại trụ sở của cơ quan Hải quan.

Tổng số doanh nghiệp được KTSTQ bao gồm số doanh nghiệp được KTSTQ

tại trụ sở cơ quan Hải quan và trụ sở doanh nghiệp theo các hình thức kiểm tra theo

kế hoạch, kiểm tra trên cơ sở có dấu hiệu vi phạm và kiểm tra chọn mẫu.

Chỉ tiêu 3: Tổng số thu thuế qua hoạt động KTSTQ trên tổng số thuế phải

thu phát hiện được thông qua hoạt động KTSTQ của Hải quan.

Mục đích: Đánh giá năng lực nghiệp vụ của lực lượng KTSTQ. Chỉ tiêu này

cần được tính toán hàng năm và phân tích nguyên nhân biến động phục vụ công tác

lập và triển khai kế hoạch năm tiếp theo của các đơn vị KTSTQ.

Công thức tính:

Tỷ lệ tổng số thuế thu qua hoạt động KTSTQ trên tổng số thuế phải thu phát

hiện được thông qua hoạt động KTSTQ của hải quan

Tổng số thuế đã thu nộp NSNN qua hoạt động KTSTQ = x 100% Tổng số thuế phải thu phát hiện được thông qua hoạt động KTSTQ

Trong đó tổng số thuế đã thu nộp NSNN qua hoạt động KTSTQ là số thuế,

số tiền phạt chậm nộp và phạt vi phạm hành chính đã thu hồi nộp NSNN qua hoạt

động KTSTQ.

Tổng số thuế phải thu phát hiện được thông qua hoạt động KTSTQ bao gồm

tiền thuế, tiền phạt chậm nộp và tiền phạt vi phạm hành chính được ghi trên quyết

102

định sau khi tiến hành KTSTQ.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Chỉ tiêu 4: Tổng số thu của hoạt động KTSTQ trên tổng số thu của toàn ngành.

Mục đích: Đánh giá mức độ đóng góp về số thu của lực lượng KTSTQ đối

với ngành Hải quan. Chỉ tiêu này cần được tính toán hàng năm và phân tích nguyên

nhân biến động phục vụ công tác lập và triển khai kế hoạch năm tiếp theo của các

đơn vị KTSTQ.

Công thức tính:

Tỷ lệ tổng số thu của hoạt động KTSTQ trên tổng số thu của toàn ngành

Tổng số thuế đã thu nộp NSNN qua hoạt động KTSTQ = x 100% Tổng số thu thuế của toàn ngành Hải quan

Trong đó tổng số thuế đã thu nộp NSNN qua hoạt động KTSTQ là số thuế,

số tiền phạt chậm nộp và phạt vi phạm hành chính đã thu hồi nộp NSNN qua hoạt

động KTSTQ.

Tổng số thu toàn ngành: Là tổng thu của cơ quan Hải quan hàng năm (kể cả

các khoản thu hộ) bao gồm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt,

thuế GTGT, thu khác.

Chỉ tiêu 5: Tổng số cán bộ làm công tác KTSTQ trên tổng số cán bộ hải

quan

Mục đích: Đánh giá mức độ phân bổ nguồn lực dành cho lĩnh vực KTSTQ.

Công thức tính:

Tổng số cán bộ làm công tác KTSTQ trên tổng số cán bộ hải quan

Tổng số cán bộ làm công tác KTSTQ = x 100% Tổng số cán bộ hải quan

Trong đó tổng số cán bộ làm công tác KTSTQ là số lượng công chức được

giao nhiệm vụ làm công tác KTSTQ.

Tổng số cán bộ hải quan là số cán bộ, công chức, viên chức hải quan trong

biên chế và hợp đồng lao động theo NĐ68/2000/NĐ-CP hiện có tính đến thời điểm

tính toán chỉ số.

Chỉ tiêu 6: Tỷ lệ cán bộ có kinh nghiệm KTSTQ trên tổng số cán bộ làm

103

công tác KTSTQ.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Mục đích: Đánh giá năng lực chuyên môn của cán bộ làm công tác KTSTQ,

thực hiện chuyên nghiệp, chuyên sâu đối với lực lượng KTSTQ.

Công thức tính:

Tỷ lệ cán bộ có kinh nghiệm KTSTQ

Tổng số cán bộ có kinh nghiệm KTSTQ x 100% Tổng số cán bộ làm công tác KTSTQ

Trong đó tổng số cán bộ có kinh nghiệm KTSTQ là cán bộ, công chức có

thời gian làm công tác KTSTQ từ 5 năm trở lên, đã tham gia KTSTQ tại doanh

nghiệp.

Tổng số cán bộ làm công tác KTSTQ là số lượng công chức được giao

nhiệm vụ làm công tác KTSTQ.

Chỉ tiêu 7: Tổng số doanh nghiệp được KTSTQ có phát sinh số thu trên tổng

số doanh nghiệp được KTSTQ.

Mục đích: Đánh giá mức độ chính xác của công tác QLRR, lựa chọn đối

tượng KTSTQ và đánh giá năng lực của cán bộ công chức làm công tác KTSTQ.

Công thức tính:

Tỷ lệ tổng số doanh nghiệp được KTSTQ có phát sinh số thu trên tổng số

doanh nghiệp được KTSTQ

Tổng số doanh nghiệp được KTSTQ có phát sinh số thu = x 100% Tổng số các doanh nghiệp được KTSTQ

Trong đó, tổng số doanh nghiệp được KTSTQ có phát sinh số thu là số

doanh nghiệp mà khi tiến hành KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan và tại trụ sở

doanh nghiệp có phát sinh số phải thu.

Tổng số các doanh nghiệp được KTSTQ bao gồm các doanh nghiệp được

KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan và tại trụ sở doanh nghiệp.

Chỉ tiêu 8: Tổng số vụ khiếu nại liên quan đến các quyết định của lực lượng

KTSTQ được cơ quan Hải quan xác định là đúng trên tổng số vụ khiếu nại liên quan

104

đến các quyết định của lực lượng KTSTQ gửi đến cơ quan Hải quan .

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Mục đích: Đánh giá năng lực công tác thực thi nhiệm vụ của lực lượng

KTSTQ các cấp.

Công thức tính:

Tỷ lệ tổng số vụ khiếu nại liên quan đến các quyết định của lực lượng

KTSTQ được cơ quan Hải quan xác định là đúng trên tổng số vụ khiếu nại liên

quan đến các quyết định của lực lượng KTSTQ gửi đến cơ quan Hải quan

Tổng số vụ được cơ quan Hải quan xác định là đúng = x 100% Tổng số vụ khiếu nại liên quan đến quyết định KTSTQ gửi đến Hải quan

Trong đó, tổng số vụ được cơ quan Hải quan xác định là đúng là số vụ khiếu

nại liên quan đến các quyết định của lực lượng KTSTQ được cơ quan Hải quan các

cấp xác định là ra quyết định đúng.

Chỉ tiêu 9: Tổng số vụ khởi kiện quyết định của cơ quan Hải quan liên quan

đến các quyết định của lực lượng KTSTQ được Tòa án xác định là đúng trên tổng

số vụ khởi kiện quyết định của cơ quan Hải quan liên quan đến các quyết định của

lực lượng KTSTQ.

Mục đích: Đánh giá năng lực công tác thực thi nghiệp vụ hải quan và chất

lượng giải quyết tranh chấp tại tòa của lực lượng KTSTQ.

Công thức tính:

Tỷ lệ tổng số vụ khởi kiện quyết định của cơ quan Hải quan liên quan đến

các quyết định của lực lượng KTSTQ được tòa án xác định là đúng trên tổng số

vụ khởi kiện quyết định của cơ quan Hải quan liên quan đến các quyết định của

lực lượng KTSTQ

Tổng số vụ được tòa án xác định là đúng = x 100% Tổng số vụ khởi kiện liên quan đến quyết định KTSTQ

Trong đó, tổng số vụ được Tòa án xác định là đúng là số vụ khởi kiện liên

quan đến các quyết định của lực lượng KTSTQ được Tòa án các cấp xác định là ra

quyết định đúng.

3.3 Kiến nghị

105

3.3.1 Đối với cơ quan quản lý Nhà nước

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Một là, phải có sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Tổng cục Hải

quan trên cơ sở sự ủng hộ của Bộ Tài chính, Chính phủ, Quốc hội (thống nhất chủ

trương và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến KTSTQ).

KTSTQ là một lĩnh vực nghiệp vụ mới nhưng cần thiết và phù hợp với

phương thức quản lý hải quan hiện đại và các chuẩn mực quốc tế. Do vậy, KTSTQ

là tất yếu và là hoạt động thường xuyên của cơ quan Hải quan Do vậy, Lãnh đạo

Tổng cục Hải quan phải coi trọng công tác KTSTQ và tạo mọi điều kiện thuận lợi

cho lực lượng KTSTQ hoàn thành nhiệm vụ (cả về nhân lực và cơ sở vật chất, kỹ

thuật, pháp lý). Mặt khác, bản thân mỗi cán bộ, công chức làm công tác KTSTQ

cũng như mỗi cán bộ, công chức trong toàn ngành phải quán triệt tư tưởng, nhận

thức về các nhiệm vụ của KTSTQ để tạo mọi điều kiện nhằm nâng cao hiệu quả

công tác KTSTQ;

Hai là, các giải pháp phải được thực hiện đồng bộ mới đem lại hiệu quả cao;

Ba là, về nguyên tắc, các biện pháp, quy trình nghiệp vụ đã nêu thực hiện

trong khuôn khổ các quy định pháp lý hiện tại. Vì vậy, khi có yếu tố thay đổi thì các

biện pháp đó cũng phải điều chỉnh cho phù hợp.

3.3.2 Đối với Bộ Tài chính

Với vị trí là cơ quan chủ quản của Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính cần thiết

phải thực hiện một số nội dung như sau:

Thứ nhất, về cơ sở pháp lý: ở cấp tham mưu cho Chính phủ trong lĩnh vực

tài chính, Bộ Tài chính cần ban hành các chuẩn mực QLRR làm cơ sở cho công tác

QLRR thực hiện có hiệu quả và có cơ sở pháp lý;

Thứ hai, Phối hợp với các cơ quan như Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối

cao, Tòa án nhân dân tối cao và các bộ, ngành có liên quan xây dựng và sửa đổi các

quy chế phối hợp trong việc thi hành cưỡng chế các quyết định hành chính của cơ

quan Hải quan;

Thứ ba, Hoàn thiện cơ chế thực thi Luật Kế toán và các văn bản hướng dẫn

đảm bảo thực hiện nghiêm chế độ hóa đơn chứng từ, hạch toán kế toán của doanh

106

nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ hải quan trong quá trình KTSTQ;

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Thứ tư, Tập trung nguồn lực và nguồn tài chính để xây dựng hệ thống thông

tin, cơ sở dữ liệu liên thông giữa các cơ quan Tài chính, Kho bạc, Hải quan, Thuế.

Đảm bảo thông tin phục vụ quản lý đầy đủ, tập trung, kịp thời, chính xác và phải kết

nối liên thông được với hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của ngành khác. Tập trung

xây dựng và triển khai được hệ thống một cửa quốc gia để kết nối hệ thống một cửa

ASEAN vào năm 2012;

Thứ năm, Phê duyệt đề nghị của Tổng cục Hải quan về việc áp dụng chế độ

phụ cấp công việc cho cán bộ công chức làm công tác KTSTQ.

3.3.3 Đối với Tổng cục Hải quan

Trên cơ sở phân tích thực trạng và giải pháp hoàn thiện cơ chế KTSTQ đối

với hàng hóa nhập khẩu của Hải quan Việt Nam, tác giả kiến nghị với Tổng cục Hải

quan một số vấn đề nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động KTSTQ như

sau:

Một là, Cần quán triệt tinh thần chỉ đạo nhất quán của cả ngành là quản lý

hải quan trên cơ sở QLRR, và như vậy KTSTQ cũng dựa trên kết quả của quá trình

phân tích và đánh giá rủi ro;

Hai là, Đổi mới và ban hành kịp thời các tiêu chí đánh giá rủi ro cụ thể để có

căn cứ lựa chọn đối tượng KTSTQ. Trong phân loại doanh nghiệp, phân chia theo

doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khái niệm doanh nghiệp lớn không

phải là doanh nghiệp vừa và nhỏ ban hành theo Nghị định Số 56/2009/NĐ-CP và

mục tiêu cụ thể của KTSTQ là kiểm soát được 100% số lượng các doanh nghiệp lớn

(chiếm trên 80% số thuế thu được và kim ngạch XNK);

Ba là, Hoàn thiện quy trình KTSTQ hiện tại cho phù hợp với các văn bản

pháp luật hiện đang thực thi và phù hợp tình hình thực tiễn tiến tới thống nhất với

chuẩn mực của Hải quan ASEAN. Các quy trình này cần được chuẩn hóa theo ISO

và trên nền ứng dụng công nghệ thông tin;

Bốn là, Có kế hoạch cụ thể về tuyển dụng và điều chuyển công tác trong

toàn ngành để đáp ứng được yêu cầu 10% biên chế toàn ngành cho lực lượng

107

KTSTQ như nội dung mà chỉ thị 568/CT-TCHQ ngày 09/02/2011 đã đề ra;

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Năm là, Đánh giá lại chất lượng đội ngũ cán bộ công chức làm công tác

KTSTQ để sắp xếp, đào tạo và đào tạo lại theo hướng chuyên sâu theo từng lĩnh

vực, bổ sung thêm nhân lực cho những mảng nghiệp vụ còn yếu như giám định,

tranh tụng tại Tòa, phân tích và xử lý thông tin;

Sáu là, Có chế độ đãi ngộ phù hợp với cán bộ công chức làm công tác

KTSTQ;

Bảy là, Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thống đại lý hải quan.

Mặt khác, cần đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật Hải

quan và pháp luật có liên quan cho cộng đồng doanh nghiệp.

3.3.4 Đối với các ngành có liên quan

Thứ nhất, các cơ quan có liên quan cần có sự phối hợp chặt chẽ với cơ quan

Hải quan trong việc thực hiện KTSTQ. Các ngành Ngân hàng, Tài chính, Thuế cần

phối hợp với cơ quan Hải quan trong việc kiểm tra thanh toán qua ngân hàng, kiểm

tra thông tin giá cả thị trường, mức độ chấp hành pháp luật của doanh nghiệp. Bộ

Công an, Bộ Công thương và các cơ quan khác phối hợp với cơ quan Hải quan

trong việc kiểm tra, ngăn chặn, xử lý hành vi gian lận thương mại, buôn lậu, trốn

thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính để áp dụng các biện pháp kiểm tra,

điều tra, xác minh, xử lý vi phạm, khởi tố, truy tố được thuận lợi, nhanh chóng và

có hiệu quả cao;

Thứ hai, Chỉ đạo tăng cường việc kết nối và trao đổi thông tin thường

xuyên, liên tục và kịp thời giữa các Bộ có liên quan với cơ quan Hải quan và Bộ Tài

chính;

Thứ ba, Trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình, Bộ Công thương xem

xét bổ sung sửa đổi các văn bản liên quan đến chính sách các mặt hàng thương mại,

cơ chế cấp và xác minh C/O; Bộ GTVT xem xét làm rõ các quy định liên quan đến

kiểm định, phân loại xe ô tô (như trường hợp xe bán tải VAN); Bộ Kế hoạch đầu tư

xem xét sửa đổi bổ sung các quy định liên quan đến nhập khẩu tài sản cố định của

108

các dự án đầu tư để làm rõ và minh bạch hoá các quy định trên, tránh có sự hiểu sai

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

và áp dụng pháp luật khác nhau giữa cơ quan Hải quan với doanh nghiệp cũng như

109

hạn chế việc lợi dụng những khe hở của Luật để lách Luật.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Kết luận Chương 3

Hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan, một phương thức quản lý

Hải quan hiện đại cũng đồng nghĩa với việc tiếp thu các khuyến nghị của Hải quan

ASEAN và Hải quan thế giới, tìm ra các giải pháp để khắc phục những tồn tại, hạn

chế phát sinh trong quá trình hoạt động. Những giải pháp chủ yếu, đó là:

1. Hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy;

2. Hoàn thiện quy trình thủ tục về kiểm tra sau thông quan;

3. Hoàn thiện hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, vật chất phục vụ kiểm tra

sau thông quan;

4. Nâng cao trình độ cán bộ kiểm tra sau thông quan;

5. Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật Hải quan của đối tượng kiểm tra

sau thông quan.

Với những đề xuất của đề tài, vừa có tính trước mắt đồng thời cũng có tính

lâu dài, để tiếp tục hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan, phục vụ cho công

tác quản lý hải quan nói chung cũng như công tác kiểm tra sau thông quan nói

110

riêng.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

KẾT LUẬN

KTSTQ là một phương thức quản lý hiện đại về Hải quan phù hợp với chuẩn

mực quốc tế. KTSTQ được hình thành nhằm đáp ứng yêu cầu không ngừng mở

rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt là ngoại thương trên phạm vi toàn cầu.

Nhằm đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế, tạo thuận lợi cho hoạt động

XNK nhưng phải đảm bảo quản lý tốt các hoạt động liên quan đến Hải quan,

KTSTQ đã được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2003. Tuy là lĩnh vực hoạt

động nghiệp vụ mới nhưng trong những năm qua hoạt động KTSTQ đã có tác động

tích cực tới việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Hải quan, thúc đẩy và lành

mạnh hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại nói chung và XNK nói riêng.

Mặc dù còn nhiều khó khăn, vướng mắc đòi hỏi phải nghiên cứu tìm ra các

giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả công tác KTSTQ - đáp ứng yêu cầu là

biện pháp nghiệp vụ chủ yếu đánh giá mức độ tuân thủ của doanh nghiệp để áp

dụng các biện pháp quản lý thích hợp nhưng có thể khẳng định KTSTQ là một yêu

cầu cần thiết, tất yếu khách quan trong điều kiện hiện nay.

Qua thời gian nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng cơ chế hoạt động KTSTQ của Hải

quan Việt Nam, Tác giả đã hoàn thành Đề tài “Hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau

thông quan tại Việt Nam”. Với Đề tài nghiên cứu trên, Luận văn đã có một số đóng

góp sau:

Một là, Hệ thống những vấn đề lý luận về hoạt động KTSTQ. Đồng thời

Luận văn đã nghiên cứu tham khảo kinh nghiệm một số nước trên thế giới và trong

khu vực về vấn đề này. Qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm vận dụng vào

kiểm tra sau thông quan tại Việt Nam

Hai là, Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động KTSTQ tại Việt Nam.

Ba là; Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động KTSTQ.

Các giải pháp hoàn thiện hoạt động KTSTQ mang tính đồng bộ từ khâu tổ

chức thu thập và khai thác thông tin; xử lý nghiệp vụ phân tích, đánh giá rủi ro tuân

111

thủ, thực hiện KTSTQ tại trụ sở Cơ quan Hải quan và tại doanh nghiệp, đồng thời

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

cũng đề xuất các giải pháp thuộc cơ chế chính sách liên quan đến tổ chức bộ máy,

nhân sự, đào tạo, luân chuyển, quy trình thủ tục, hệ thống thông tin, trình độ cán bộ,

công tác tuyên truyền, phối hợp để tạo điều kiện tốt nhất cho công tác KTSTQ hoạt

động có hiệu quả. Ngoài ra, Tác giả cũng đề cập đến một số điều kiện nhằm để thực

hiện các giải pháp đã đề xuất. Các kết quả nghiên cứu này có thể gợi mở cho việc

điều chỉnh các căn cứ pháp lý cũng như công tác xây dựng kế hoạch và tổ chức thực

hiện KTSTQ của cơ quan Hải quan.

Mặc dù đã cố gắng nghiên cứu, song cơ chế KTSTQ là một vấn đề mới, quan

trọng và có nhiều vấn đề cụ thể cần nghiên cứu, bàn luận trong nội bộ ngành cũng

như những đối tượng quan tâm đến KTSTQ. Do vậy, nội dung của Luận văn không

tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Tác giả rất mong nhận được những góp ý

chân thành của các thầy, cô giáo và những người quan tâm để Đề tài này được hoàn

112

thiện hơn nữa./.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Bản dịch Công ước Kyoto sửa đổi, bổ sung tháng 9/1999

2. Bộ Tài chính (2004), Quyết định số 1081/QĐ-BTC ngày 6/4/2004 của Bộ trưởng

Bộ Tài chính Ban hành Quy chế phối hợp công tác giữa hệ thống Thuế, Hải quan và

Kho bạc nhà nước trong quản lý thuế và các khoản thu Ngân sách nhà nước, Hà Nội

3. Bộ Tài chính (2006), Quyết định số 33/2006/QĐ-BTC ngày 6/6/2006 của Bộ

trưởng Bộ Tài chính Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức

của Cục Kiểm tra sau thông quan thuộc Tổng cục Hải quan, Hà Nội.

4. Bộ Tài chính (2006), Quyết định số 34/2006/QĐ-BTC ngày 6/6/2006 của Bộ

trưởng Bộ Tài chính về việc thành lập Chi cục Kiểm tra sau thông quan trực thuộc

Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố, Hà Nội.

5. Bộ Tài chính (2009), Thông tư số 193/2009/TT-BTC ngày 01/10/2009 của Bộ Tài

chính Quy định chi tiết thi hành Nghị định số 97/2007/NĐ-CP và Nghị định số

18/2009/NĐ-CP, Hà Nội.

6. Bộ Tài chính (2009), Thông tư số 79/2009/TT-BTC ngày 20/4/2009, Hướng dẫn

về thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan, thuế xuất khẩu, nhập khẩu và quản

lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu, Hà Nội.

7. Bộ Tài chính (2010), Quyết định số 1015/QĐ-BTC ngày 11/5/2010 của Bộ Tài

chính, Quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Cục kiểm

tra sau thông quan trực thuộc Tổng cục Hải quan, Hà Nội.

8. Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 6/12/2010, Hướng dẫn

về thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan, thuế xuất khẩu, nhập khẩu và quản

lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu, Hà Nội.

9. Chính phủ (1999), Nghị định Số 16/1999/NĐ-CP ngày 27/3/1999 Quy định về thủ

tục hải quan, giám sát và lệ phí hải quan, Hà Nội.

10. Chính phủ (2005), Nghị định Số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 Quy định

chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải

113

quan, Hà Nội.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

11. Chính phủ (2006), Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính

phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo

và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại Tố cáo, Hà Nội.

12. Chính phủ (2007), Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ

Quy định việc xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành

chính trong lĩnh vực Hải quan, Hà Nội.

13. Chính phủ (2009), Nghị định số 18/2009/NĐ-CP ngày 18/2/2009 sửa đổi, bổ

sung Nghị định số 97/2007/NĐ-CP, Hà Nội.

14. Chính phủ (2010), Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 sửa đổi, bổ

sung một số điều của Nghị định số 85/2007/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều

của Luật Quản lý thuế, Hà Nội.

15. Cục kiểm tra sau thông quan (2012), Báo cáo tổng kết công tác năm 2011 và 01

năm thực hiện Chỉ thị 568/CT-TCHQ ngày 09/02/2011 của Tổng cục trưởng Tổng

cục Hải quan, Hà Nội.

16. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ

XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

17. Hoàng Tùng (2010), “Bàn về quy trình kiểm tra sau thông quan trong hoạt động

quản lý hàng hoá XNK của Hải quan Việt Nam”, Tạp chí khoa học và công nghệ,

ĐH Đà Nẵng, 6 (41), pp. 200-206.

18. Hoàng Việt Cường (2007), Nâng cao hiệu quả nghiệp vụ kiểm tra sau thông

quan đối với hoạt động thanh toán quốc tế qua ngân hàng, Đề tài nghiên cứu khoa

học cấp ngành, Tổng cục Hải quan, Hà Nội.

19. Nguyễn Văn Bình (2007), Nâng cao hiệu quả kiểm tra sau thông quan đối với

hàng hoá xuất nhập khẩu theo loại hình gia công, Đề tài khoa học cấp ngành, Tổng

cục Hải quan, Hà Nội.

20. Quốc hội Khoá 10 (1998), Luật Khiếu nại Tố cáo số 09/1998/QH10 ngày

02/12/1998, Hà Nội.

21. Quốc hội Khoá 10 (1998), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế

114

Xuất khẩu, Nhập khẩu số 04/1998/QH10, Hà Nội.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

22. Quốc hội Khoá 10 (2001), Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29/6/2001, Hà

Nội.

23. Quốc hội Khoá 11 (2005), Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung số 42/2005/QH11

ngày 14/6/2005, Hà Nội.

24. Quốc hội Khoá 11 (2005), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại

Tố cáo số 58/2005/QH11 ngày 29/11/2005, Hà Nội.

25. Quốc hội Khoá 11(2006), Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006

26. Quốc hội Khoá 9 (1997), Luật Thuế Giá trị gia tăng ngày 10/5/1997, Hà Nội

27. Thủ tướng Chính phủ (2010), Quyết định số 02/2010/QĐ-TTg ngày 15/1/2010

của Thủ tướng Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ

chức của Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính, Hà Nội.

28. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định 448/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính

phủ ngày 25/3/2011 Về việc Phê duyệt Chiến lược phát triển Hải quan đến năm

2020, Hà Nội.

29. Tổng cục Hải quan (1999), Quyết định số 199/1999/QĐ-TCHQ ngày 5/6/1999

của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan về việc Ban hành Quy chế kiểm tra sau

giải phóng hàng, Hà Nội.

30. Tổng cục Hải quan (2002), Báo cáo kết quả nghiên cứu khảo sát về hoạt động

kiểm tra sau thông quan tại Trung Quốc từ ngày 15/9 đến 22/9/2002, Tài liệu tham

khảo nội bộ, Hà Nội.

31. Tổng cục Hải quan (2006), Quyết định số 1092/QĐ-TCHQ ngày 26/6/2006 của

Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan về Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,

cơ cấu tổ chức và mối quan hệ công tác của Chi cục kiểm tra sau thông quan trực

thuộc Cục Hải quan tỉnh, Hà Nội.

32. Tổng cục Hải quan (2009), Quyết định Số 1383/QĐ-TCHQ ngày 14/7/2009 của

Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan về việc Ban hành Quy trình nghiệp vụ kiểm tra

sau thông quan, kiểm tra thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, Hà Nội.

33. Tổng cục Hải quan (2010), Quyết định Số 1166/QĐ-TCHQ ngày 9/6/2010 của

115

Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

cơ cấu tổ chức của Chi cục kiểm tra sau thông quan trực thuộc Cục Hải quan tỉnh,

liên tỉnh, thành phố, Hà Nội.

34. Tổng cục Hải quan, Báo cáo tổng kết công tác các năm từ 2006 - 2011, Hà Nội.

Tiếng Anh:

35. ASEAN PCA Manual (2004), Final drafl

36. Maki Kitaura – Osaka Customs (2005), Outline of valuation and PCA in Japan,

Osaka.

37. U.S. Customs and Border Protection Office of Strategic Trade Regulatory Audit

Division, October 2003.

38. WCO Commercial fraud enforcement techniques (2002); Risk management,

Profiling and selectivity; Commercial fraud; Investigative Procedures, Post

clearance Audit.

116

39. World Customs Organization, risk Management Guide.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

PHỤ LỤC 1: MẪU QUYẾT ĐỊNH VỂ VIỆC KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN, KIỂM TRA THUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Tên cơ quan quản lý cấp trên Tên cơ quan ban hành văn bản Số: QĐ-Cơ quan ban hành VB

Hà Nội, ngày tháng năm 20…

QUYẾT ĐỊNH Về việc kiểm tra sau thông quan, kiểm tra thuế

TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC HẢI QUAN/ CỤC TRƯỞNG CỤC HẢI QUAN TỈNH, TP……

Căn cứ Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29/6/2001 và Luật Hải quan

sửa đổi bổ sung một số Điều của Luật Hải quan số 42/2005/QH11 ngày

14/6/2005;

Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006;

Căn cứ Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ

Quy định một số Điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát

hải quan;

Căn cứ Thông tư số 79/2009/TT-BTC ngày 20/4/2009, Hướng dẫn về thủ

tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan, thuế xuất khẩu, nhập khẩu và quản lý

thuế đối với hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu;

Căn cứ Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định quản lý chuyên ngành liên

quan;

Căn cứ...……………………………………………………………………; Xét đề nghị tại ngày……….của…………….về kiểm tra sau thông quan,

kiểm tra thuế tại trụ sở Công ty…………………………..,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Kiểm tra sau thông quan, kiểm tra thuế đối với hàng hoá xuất nhập khẩu của Công ty ………………………..mã số thuế………………………

117

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Địa điểm kiểm tra:……………………………………………………………………

Thời hạn kiểm tra………………ngày làm việc, kể từ ngày……đến ngày…………..

Điều 2: Thành lập đoàn kiểm tra gồm các ông (bà) có tên sau đây:

1. Ông/bà………chức vụ hoặc ngạch công chức (nếu có)……….Trưởng đoàn;

2. Ông/bà………chức vụ hoặc ngạch công chức (nếu có)……….Phó đoàn;

3. Ông/bà………chức vụ hoặc ngạch công chức (nếu có)……….Thành viên;

4. Ông/bà………chức vụ hoặc ngạch công chức (nếu có)……….Thành viên;

Điều 3: Phạm vi, nội dung kiểm tra gồm:

-

Phạm vi kiểm tra

+ Phạm vi về lĩnh vực kiểm tra (ví dụ kiểm tra trị giá)……………………......

+ Phạm vi về thời gian kiểm tra (ví dụ: Kiểm tra việc nhập khẩu mặt hàng từ

tháng…..năm……đến tháng……năm……)………………………………………

+ Phạm vi về đối tượng kiểm tra: Theo quy định tại điều 142 Thông tư

79/2009/TT-BTC………………………………………………………………….

-

Nội dung kiểm tra: Căn cứ quy định tại điều 143 Thông tư 79//2009/TT-

BTC để ghi các nội dung cụ thể phù hợp yêu cầu của cuộc kiểm tra.

.................................................................................................................................. .................................................................................................................................. .................................................................................................................................. .................................................................................................................................. Điều 4. Đoàn kiểm tra có quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 80

Luật Quản lý thuế và Điều 70 Nghị định 154/2005/NĐ-CP. Đơn vị được kiểm

tra có quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 79 Luật Quản lý thuế và Điều 71

Nghị định 154/2005/NĐ-CP.

Điều 5. Đoàn kiểm tra và Công ty…….có trách nhiệm thực hiện Quyết

định này./.

TỔNG CỤC TRƯỞNG/CỤC TRƯỞNG

118

Nơi nhận: - Như Điều 5; - Cục KTSTQ: thay báo cáo (trường hợp do Cục trưởng Cục HQ tỉnh, TP. ra QĐKT); - Lưu: VT, KTSTQ.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

119

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

PHỤ LỤC 2: MẪU BẢN KẾT LUẬN KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN, KIỂM TRA THUẾ TẠI TRỤ SỞ DOANH NGHIỆP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hà Nội, ngày tháng năm 20…

Tên cơ quan quản lý cấp trên Tên cơ quan ban hành văn bản ĐOÀN KIỂM TRA THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ

BẢN KẾT LUẬN KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN, KIỂM TRA THUẾ TẠI TRỤ SỞ CÔNG TY…

1. Phần mở đầu:

Nêu các căn cứ pháp lý để lập, ví dụ:

Căn cứ Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29/6/2001 và Luật Hải quan

sửa đổi bổ sung một số Điều của Luật Hải quan số 42/2005/QH11 ngày

14/6/2005;

Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006;

Căn cứ Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ

Quy định một số Điều của Luật hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát

hải quan;

Căn cứ Thông tư số 79/2009/TT-BTC ngày 20/4/2009, Hướng dẫn về thủ

tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan, thuế xuất khẩu, nhập khẩu và quản lý

thuế đối với hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu;

Căn cứ Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định quản lý chuyên ngành liên

quan (ví dụ Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu; Luật thuế Giá trị gia tăng,

Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật Đầu tư nước ngoài…);

Thực hiện Quyết định số……ngày…../…./….. của …………………….về

việc kiểm tra sau thông quan, kiểm tra thuế tại Công ty…………Mã số

thuế…….

Địa chỉ……………..………………………………………………………………

Từ ngày …../…../….. đến ngày……/……………………….

120

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

Đoàn kiểm tra sau thông quan lập bản kết luận kết quả kiểm tra sau thông quan,

kiểm tra thuế như sau:

2. Phạm vi kiểm tra:

Ghi phạm vi về lĩnh vực kiểm tra (ví dụ: kiểm tra trị giá); phạm vi về thời

gian kiểm tra (ví dụ: Hồ sơ làm thủ tục hải quan từ ngày ….tháng…..năm…..đến

ngày…….tháng…..năm…..); phạm vi đối tượng kiểm tra.

3. Phần nội dung:

Ghi những nội dung đã kiểm tra và kết quả kiểm tra

4. Phần ghi các ý kiến của Công ty được kiểm tra

Ghi những ý kiến Công ty đã thống nhất và những ý kiến Công ty chưa thống

nhất với đoàn kiểm tra (nêu rõ lý do, căn cứ pháp luật mà Công ty chưa thống

nhất).

5. Phần kết luận:

- Kết luận về từng nội dung đã tiến hành kiểm tra;

- Kết luận về từng vi phạm, mức độ vi phạm của doanh nghiệp (nếu có);

- Các biện pháp xử lý theo thẩm quyền đã được áp dụng;

- Kiến nghị của đoàn kiểm tra về biện pháp xử lý.

Hồ sơ, tài liệu kèm kết luận này gồm:

1. .......................................................................................................................... 2. ..........................................................................................................................

TRƯỞNG ĐOÀN KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN

121

Nơi nhận: - Người ban hành QĐKT; - Công ty được kiểm tra; - Cục KTSTQ: thay báo cáo (trường hợp do Cục trưởng Cục HQ tỉnh, TP. ra QĐKT); - Lưu: VT, KTSTQ.

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

PHỤ LỤC 3: BẢNG SỐ LIỆU VỀ CÔNG CHỨC KTSTQ

Cục Hải quan

T T

Tổng số CBCC đã luân chuyển từ 2006 đến nay

Tổng biên chế các Cục HQ địa phương trong toàn ngành (năm 2012)

Tổng biên chế các Chi cục KTSTQ (năm 2012)

CBCC có thời gian công tác ngắn nhất tại Chi cục (tháng)

Số CBC C đã tham gia đào tạo

Số CBCC đã được đào tạo chuyên sâu về KTSTQ nhưng luân chuyển

A

B

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

(6)

12

11

1 An Giang 241 3 7 7 7

23

8

7

12

13

20

6

4

22

6

6

2 Bình Định 148 6 4 11 6

8

3 Bình Dương 4 Bình Phước 5 Cà Mau 6 Cần Thơ 7 Cao Bằng 8 Đà Nẵng 9 Đắc Lắc 10 Điện Biên 11 Đồng Nai 12 Đồng Tháp 13 Gia Lai 317 92 68 161 191 289 104 104 385 142 104 10 8 0 4 10 10 0 0 25 4 3 9 2 29 7 3 9 1 5 4 8 4 18 2 3 10 5 15 1 12 24 6 4 14 1 3 6 1 7 1 3 7 2 2

47

9

64

13

5

18

16

10

18

12

8

14 Hà Giang 117 7 2 8 4

122

15 Hà Nội 16 Hà Tĩnh 17 Hải Phòng 18 Khánh Hoà 19 Kiên Giang 20 Lạng Sơn 21 Lào Cai 22 Long An 23 Nghệ An 24 Quảng Bình 25 Quảng Nam 977 205 832 155 133 952 208 148 225 144 87 12 12 14 4 6 13 19 5 18 8 3 3 2 4 24 1 12 4 20 4 2 36 12 9 16 3 3 52 4 13 3 8 6 9 4 12 3 1 4 3 8 0 4 6

Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội

14

35

8

11

16

26 Quảng Ngãi 27 Quảng Ninh 28 Quảng Trị 29 Tây Ninh 136 531 223 185 7 29 6 8 3 8 1 6 8 32 5 5 4 15 2 5

30 Thanh Hoá 206 6 4 8 4

31 TPHCM 2.073 119 72 2 117 20

32 109 9 8 1 20 2

Ghi chú:

Số liệu cột (1): không bao gồm biên chế của các đơn vị thuộc khối cơ quan Tổng

cục Hải quan, trừ Cục KTSTQ.

123

Thừa Thiên Huế 33 Vũng Tàu 34 Cục KTSTQ Tổng cộng 323 109 10.429 18 114 722 9 14 363 6 3 240 11 109 570 5 6 181